Hội thảo “quản lý ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính bệnh viện” diễn ra ngày 29/11-3/12/2010, tại thành phố Hà Nội Hội thảo tổ chức nhằm tổng hợp ý kiến trao đổi, đề xuất và ch
Trang 1
NGUYỄN THỊ TUYẾT
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHỆ AN - 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ TUYẾT
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG BẰNG
TS ĐẶNG THÀNH CƯƠNG
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả tình cảm chân thành, xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám hiệu, quý thầy cô Khoa Kinh tế, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Hội đồng Khoa học & Đào tạo chuyên ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học Vinh đã quan tâm, giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như hoàn thành Luận văn
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đăng Bằng và TS Đặng Thành Cương, người đã hết sức quan tâm, đã đầu tư công sức, nhiệt tình hướng dẫn để học viên hoàn thành Luận văn
Xin chân thành cám ơn Phòng Tài chính - Kế toán, các đơn vị chức năng của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ việc khảo sát và cung cấp số liệu để học viên thực hiện công trình nghiên cứu của mình Cảm ơn sự quan tâm, động viên của bạn bè, gia đình, đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng Luận văn tốt nghiệp chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Với tinh thần nghiêm túc và cầu thị, rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Nghệ An, tháng 7 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 7
1.1 Quản lý tài chính của các bệnh viện công lập 7
1.1.1 Những khái niệm chung 7
1.1.2 Vai trò của quản lý tài chính 11
1.2 Nội dung quản lý tài chính của bệnh viện công lập 12
1.2.1 Quy trình quản lý tài chính của Bệnh viện công lập 12
1.2.2 Quản lý các nguồn thu của bệnh viện công lập 17
1.2.3 Quản lý các khoản chi của bệnh viện công lập 20
1.2.4 Quản lý các quỹ tài chính 23
1.3 Công cụ quản lý tài chính bệnh viện công lập 24
1.3.1 Hệ thống luật pháp, chính sách và các văn bản pháp quy của nhà nước liên quan đến quản lý tài chính bệnh viện 24
Trang 61.3.2 Công tác kế hoạch 25
1.3.3 Quy chế chi tiêu nội bộ 25
1.3.4 Hạch toán, kế toán, kiểm toán 25
1.3.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra 26
1.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 26
1.4 Các tiêu chí đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện 26
1.4.1 Các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính bệnh viện 26
1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện công lập 28
1.5 Kinh nghiệm của một số bệnh viện trong quản lý tài chính và bài học cho Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 34
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh 34
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính của Bệnh viện Bạch Mai 34
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 36
Kết luận chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 38
2.1 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, Nghệ An 38
2.1.1 Lịch sử thành lập Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, Nghệ An 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 39
2.1.3 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 42
2.2 Thực trạng quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 44
2.2.1 Hoạt động xây dựng dự toán thu chi của Bệnh viện 44
2.2.2 Thực hiện dự toán 46
Trang 72.2.3 Hoạt động quyết toán 60
2.2.4 Hoạt động thanh tra, kiểm tra 61
2.3 Nhân lực quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 62
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 62
2.4.1 Những kết quả đạt được 62
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 69
Kết luận chương 2 74
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 75
3.1 Định hướng phát triển Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 75
3.1.1 Định hướng phát triển ngành y tế ở Việt Nam 75
3.1.2 Định hướng phát triển Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 77
3.2 Phương hướng tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 79
3.2.1 Phương hướng tăng cường công tác xây dựng dự toán thu chi 79
3.2.2 Phương hướng tăng cường quản lý thực hiện thu chi 82
3.2.3 Phương hướng tăng cường quản lý tài chính trong quyết toán 83
3.2.4 Phương hướng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 83
3.3 Một số giải pháp tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 83
3.3.1 Chú trọng lập kế hoạch để huy động và sử dụng nguồn thu của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh một cách hiệu quả 84
3.3.2 Khai thác các nguồn thu tài chính 84
Trang 83.3.3 Xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn chế độ chi tiêu nội
bộ hợp lý 86
3.3.4 Tăng cường năng lực tổ chức bộ máy quản lý và kiểm tra, giám soát hoạt động của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 88
3.3.5 Xây dựng, hoàn thiện quy chế khen thưởng, kỉ luật, đánh giá kết quả lao động cá nhân của đơn vị 93
3.3.6 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào quản lý bệnh viện nói chung, quản lý tài chính nói riêng 94
3.4 Kiến nghị 95
3.4.1 Với Chính phủ 95
3.4.2 Với Bộ Y tế 96
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 9CNKTV Cử nhân kỹ thuật viên CNTT Công nghệ thông tin
DSCKI Dược sỹ chuyên khoa I
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa 4 chủ thể 8
Sơ đồ 1.2 Quy trình quản lý tài chính của bệnh viện công lập 12
Sơ đồ 1.3 Các nguồn thu của bệnh viện 17
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, Nghệ An 41
Bảng: Bảng 2.1 Hoạt động nhiệm vụ chuyên môn 43
Bảng 2.2 Dự toán nguồn thu bệnh viên đa khoa thành phố Vinh 45
Bảng 2.3 Dự toán sử dụng kinh phí cho hoạt động của Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh 46
Bảng 2.4 Nguồn kinh phí hoạt động của Bệnh viện 47
Bảng 2.5 Tổng nguồn thu trên một giường bệnh 47
Bảng 2.6 Cơ cấu nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp 50
Bảng 2.7 Nguồn thu viện phí, bảo hiểm y tế và thu khác 51
Bảng 2.8 Tổng hợp tình hình chi của bệnh viện 54
Bảng 2.9 Tình hình trích lập các quỹ tài chính 59
Bảng 2.10 Tình hình chi các quỹ tài chính 60
Bảng 2.11 Số lượng và trình độ nhân lực tham gia quản lý tài chính 62
Bảng 2.12 Cán cân thu chi của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 63
Bảng 2.13 Số lượng bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 64
Bảng 2.14 Tỷ lệ chi quỹ phát triển sự nghiệp của bệnh viện 66
Bảng 2.15 Thu nhập bình quân từ tiền lương tăng thêm 67
Bảng 3.1 Dự báo nguồn thu của bệnh viện năm 2016-2018 81
Trang 11Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu cán bộ công nhân viên Bệnh viện đa khoa thành phố
Vinh……… 40Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện đa
khoa thành phố Vinh 50
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế với phương châm:
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Chính phủ đã cho phép các bệnh viện công lập thực hiện thu một phần viện phí Giải pháp này đã giúp các bệnh viện công lập khắc phục được một phần về tài chính Song tình hình tài chính cho các bệnh viện công lập vẫn còn gặp khó khăn Trước tình hình đó, từ năm 1994, Nhà nước ta có chủ trương đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp nói chung, các cơ sở y tế công lập nói riêng, theo hướng tăng quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện công lập
Sau hơn 20 năm thực hiện các chủ trương tăng quyền tự chủ cho đơn vị
sự nghiệp công lập nói chung, các cơ sở y tế nói riêng, hoạt động của các bệnh viện công lập ngày càng đạt được những thành tựu Tuy nhiên vẫn còn
có những khó khăn, hạn chế đòi hỏi phải tăng cường quản lý tài chính để vừa đảm bảo các mục tiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khỏe
Bên cạnh đó sự ra đời của hệ thống y tế ngoài công lập theo cơ chế xã hội hóa y tế đã góp phần giảm tải và đáp ứng đáng kể được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân bởi tính chuyên nghiệp và đầu tư đúng hướng(Nghệ
An đứng thứ 3 toàn quốc về y tế tư nhân) Bệnh viên tư nhân ra đời, được đầu
tư trang thiết bị hiện đại, nhân lực đủ mạnh, thủ tục hành chính thông thoáng, nhanh gọn, sẵn sàng cung cấp dịch vụ y tế đến tận nhà cho bệnh nhân.v.v trong khi đó vào bệnh viện công lập thì xuất hiện tiêu cực và phiền hà… đã làm cho một số lượng không nhỏ người dân chấp nhận đóng tiền thêm để khám chữa bệnh Thực trạng đó báo động rằng, nếu như y tế công lập không
Trang 13có chiến lược đầu tư phát triển bền vững thì không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Muốn làm tốt điều này, quản lý tài chính bệnh viện công lập là một trong những vấn đề then chốt, là chìa khóa quyết định thành công hay thất bại của bệnh viện
Là một bệnh viện công lập, được thành lập tháng 10/1965, Bệnh viện
đa khoa Thành phố Vinh cũng nằm chung trong tình trạng trên Điều này đặt
ra yêu cầu cho Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh cần phải tăng cường quản lý tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Bệnh viện Vì thế việc
nghiên cứu vấn đề Tăng cường quản lý tài chính của bệnh viện đa khoa
Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An làm đề tài luận văn thạc sỹ là vấn đề có ý
nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về quản lý tài chính bệnh viện đã được một số nhà khoa học trong lĩnh vực kinh tế, y tế quan tâm Phổ biến các nghiên cứu này được công bố trong các tài liệu giảng dạy, hội thảo của ngành y tế Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu và các hội thảo khoa học chủ yếu như sau:
1 Trần Tấn Trâm: Quản lý tài chính bệnh viện tại thành phố Hồ chí
Minh, Tăng “vốn” và bảo toàn “trị giá vốn”, trong cuốn Quản lý bệnh viện
Bộ Y tế NXB Y học, năm 2001, đã phân tích các đặc điểm của tài chính bệnh viện, phân tích đầu vào, đầu ra tài chính bệnh viện các quy định, quy trình chi tiêu và đề xuất hướng quản lý tài chính bệnh viện
2 Trong cuốn Tổ chức và Quản lý y tế do NXB y học xuất bản năm
2012 đã nêu lên đặc điểm, nội dung, các nguyên tắc quản lý tài chính và vật
tư y tế
3 PGS.TS Phạm Trí Dũng Những vấn đề trong quản lý các bệnh viện công và tư nhân tại Việt Nam, Bài giảng, đã đề cấp đến những vấn đề quản lý bệnh viện, chỉ ra được những thành công của bệnh viện công được
Trang 14tăng quyền tự chủ như tăng quyền lực và trách nhiệm, thay đổi và sắp xếp lại
bộ máy, sử dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực, tăng nguồn thu tài chính đáng kể, chủ động huy động vốn, mở rộng đầu tư nâng cấp, tăng tính cạnh tranh trong hoạt động
4 Hội thảo “quản lý ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính bệnh viện” diễn ra ngày 29/11-3/12/2010, tại thành phố Hà Nội, sử dụng ngân sách, kinh phí và tài sản được giao cho đơn vị sự nghiệp cũng như những nhận đính sắc bén của các chuyên gia kinh tế có nhiều kinh nghiệm về xây dựng và phát triển Bệnh viện
5 Hội thảo “quản lý ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính bệnh viện” diễn ra ngày 29/11-3/12/2010, tại thành phố Hà Nội
Hội thảo tổ chức nhằm tổng hợp ý kiến trao đổi, đề xuất và chia sẻ kinh nghiệm quản lý, sử dụng ngân sách, kinh phí và tài sản được giao cho đơn vị
sự nghiệp cũng như những nhận định sắc bén của các chuyên gia kinh tế có nhiều kinh nghiệm về xây dựng và phát triển bệnh viện
6 Hội thảo “Xây dựng, thực hiện bản quy hoạch tổng thể bệnh viện và Cải thiện chất lượng” diễn ra ngày 4/04/2012 tại thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên
Hội thảo này do Bộ YTế và Quỹ hỗ trợ GIZ tổ chức tại thành phố Tuy Hòa với nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề:Làm thế nào để quản lý tổng thể bệnh viện hiệu quả tối đa, trong đó có quản lý tài chính bệnh viện
Tuy nhiên, những hội thảo này chỉ xoay quanh vấn đề lý luận về quản lý bệnh viện nói chung, mà chưa đi vào một thực tế một bệnh viện cụ thể nào
7 Trong nghiên cứu của Đặng Thị Lệ Xuân (2011) về “Xã hội hóa Y tế
tại Việt Nam: Lý luận - thực tiễn và giải pháp” - Luận án tiến sĩ Tác giả tập
trung vào phân tích, đánh giá các phương thức xã hội hóa y tế cơ bản hiện nay
và đáng giá toàn hệ thống y tế hay các bộ phận cấu thành của nó đặc biệt là tài
Trang 15chính y tề,từ đó chỉ ra được những hạn chế của phương thức xã hội hóa y tế Qua nghiên cứu tác giả đã đề xuất: bảo hiểm y tế là phương thức ưu việt nhất cần tập trung phát triển Viện phí là phương án tình thế cần duy trì trong điều kiện nguồn lực hiện nay có hạn nhưng từng bước thay thế bằng cơ chế bảo hiểm y tế toàn dân
8 Nghiên cứu của Phan Đình Hội (2011) trong đề tài về “Hoàn thiện
cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” - Luận văn thạc sĩ Tác giả đã tiến hành
đánh giá thực tiễn thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP tại trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Từ
đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao và hoàn thiện cơ chế
tự chủ tài chính đối đơn vị sự nghiệp có thu tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
9 Nghiên cứu của Lý Đình Sinh (2013) về “Hoàn thiện cơ chế quản lý
tài chính tại một số Bệnh viện trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa” Luận văn thạc
sĩ, đã xem xét những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính của một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh, luận văn đã đánh giá được thực trạng quảnlý tài chính tại các bệnh viện công lập và đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Nhìn chung các công trình đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản lý tài chính ở các Bệnh viện Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về vấn đề tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
3 Mục đích và nhiệm vụ đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là thông qua phân tích thực trạng quản lý tài
Trang 16chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh làm cơ sở xác định những vấn đề đặt ra và đề suất một số giải pháp phù hợp nhằm tăng cường quản lý tài chính
của bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý tài chính của bệnh viện công lập
- Phân tích thực trạng về quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quản lý tài chính của bệnh viện
- Đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần kinh phí)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Thời gian: Đề tài được nghiên cứu các chỉ tiêu và số liệu kinh tế tập trung trong 3 năm từ 2013 - 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin:
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình quản lý và sử dụng tài chính trong những năm gần đây của Bệnh viện đa khoa Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Nhận xét những hạn chế còn tồn tại trong quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An đồng thời tìm ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính của các
bệnh viện công lập Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính của Bệnh viện đa khoa
Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý tài chính
của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CỦA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP
1.1 Quản lý tài chính của các bệnh viện công lập
1.1.1 Những khái niệm chung
- Bệnh viện công lập
Là những bệnh viện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước Là một đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp dịch vụ công về y tế cho người dân, đồng thời thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về y tế
Theo quy chế bệnh viện ban hành theo quyết định số ngày 19-9-1997 của Bộ Y tế, bệnh viện có những nhiệm vụ như sau: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học về y học và
1895/1997/BYT-y tế; Chỉ đạo tu1895/1997/BYT-yến dưới về chu1895/1997/BYT-yên môn kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc
tế và quản lý kinh tế trong bệnh viện
- Tài chính công
Tài chính công là những hoạt động thu chi tiền tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội
- Tài chính bệnh viện
Tài chính là một hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng dưới hình thức giá trị nguồn của cải vật chất xã hội, thông qua đó các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và
sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu về tái sản xuất và thoả mãn nhu cầu đời sống của các cá nhân và cộng đồng
Với ý nghĩa đó, tài chính bệnh viện là hệ thống các quan hệ phân phối
và sử dụng dưới hình thức tiền tệ nguồn của cải vật chất của xã hội, thông
Trang 19qua đó hình thành các quỹ tập trung và không tập trung nhằm đảm bảo cho bệnh viện thực hiện được các chức năng nhiệm vụ của mình
Về cơ bản, tài chính bệnh viện là tài chính của đơn vị cơ sở, một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế Nó phản ánh mối quan hệ giữa 4 chủ thể cơ bản trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa 4 chủ thể
(Nguồn: Tổng hợp của các tác giả)
- Người cung cấp DVYT (Bệnh viện) Người cung cấp DVYT giữ vai trò đảm bảo các dịch vụ y tế cho nhân dân và nhận tiền từ người sử dụng dịch
vụ hay người thanh toán trung gian
- Người sử dụng dịch vụ y tế Người sử dụng dịch vụ y tế giữ vai trò nhận (hưởng) các dịch vụ và thanh toán trực tiếp hay gián tiếp cho bệnh viện, người cung cấp dịch vụ y tế Người sử dụng dịch vụ y tế có thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá thành của dịch vụ, phần còn lại có thể do Chính phủ,
Trang 20người thanh toán trung gian hoặc một quỹ nào đó khác thanh toán tuỳ theo quy định
- Người thanh toán trung gian Người thanh toán trung gian giữ vai trò nhận tiền người sử dụng dịch vụ y tế hay từ Chính phủ để thanh toán cho người cung cấp dịch vụ y tế
- Chính phủ: Chính phủ giữ vai trò ban hành luật pháp, giám sát và
điều hành tài chính giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ thông qua chính sách, nội dung chi của ngân sách quốc gia và các quy định về kiểm soát hoạt động chu chuyển và thanh toán tiền tệ trong hệ thống tài chính Chính phủ cũng có thể điều chỉnh cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính bệnh viện trong những trường hợp cần thiết Trong các bệnh viện, Nhà nước
là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là tài chính bệnh viện Tài chính bệnh viện như đã nói trên bao gồm các hoạt động và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong hoạt động của bệnh viện
Trong hoạt động tài chính, 4 bộ phận cơ bản này quan hệ với nhau một cách chặt chẽ
Quản lý tài chính bệnh viện
Quản lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện
Quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn (vốn do ngân sách của chính phủ cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác), tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học
Hiện nay, quản lý tài chính bệnh viện là một nội dung của chính sách kinh tế - tài chính y tế do Bộ Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các
Trang 21nguồn lực đầu tư cho ngành y tế để cung cấp các dịch vụ y tế một cách hiệu quả và công bằng Tính hiệu quả chú trọng đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y
tế bằng nhau cho những người có mức độ bệnh tật như nhau, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết
Cùng với chủ trương chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ năm 1989 đến nay, hệ thống tài chính y tế nước ta đã có những thay đổi đáng kể thông qua một loạt chính sách nhằm huy động nhiều nguồn lực khác nhau cho y tế Thực hiện chủ trương tăng cường phân cấp quản lý, thống nhất nguồn thu- chi tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp tăng thu, bảo đảm trang trải kinh phí hoạt động và khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ với NSNN
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị
sự nghiệp đặc biệt là các Bệnh viện công lập hoàn toàn được chủ động về nguồn thu - chi tài chính, được tự chủ trong việc trích lập các quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ Phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập và chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động Được phép sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đầu tư xây dựng mua sắm máy móc trang thiết bị phục
vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo quy định của pháp luật
Quản lý tài chính bệnh viện là sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để xây dựng dự toán thu, chi tài chính, tổ chức chấp
Trang 22hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước, quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện quyết toán thu, chi ngân sách của bệnh viện
1.1.2 Vai trò của quản lý tài chính
- Đối với bệnh viện
Quản lý tài chính trong bệnh viện đóng một vai trò quan trọng trong
công tác KCB vì thông qua quản lý tài chính bệnh viện mới phân bổ các nguồn kinh phí hợp lý tạo điều kiện cho bệnh viện tổ chức các hoạt động trong bệnh viện được tốt Chính điều này đảm bảo cho bệnh viện sẽ cung cấp được đa dạng các loại hình dịch vụ cho người bệnh
Đi đôi với nó bệnh viện sẽ có nhiều nguồn thu mới bổ sung cho các nguồn thu của bênh viện Quản lý tài chính thực hiện giám sát chặt chẽ các khoản chi tại bệnh viện theo qui định nhà nước sẽ giúp cho bệnh viện tránh thất thoát Nhờ có quản lý tốt tài chính bệnh viện sẽ có kinh phí để tái đầu tư,
để bổ sung cho nguồn nhân lực, thu hút được các thầy thuốc giỏi chuyên môn
có kinh nghiệm, có kinh phí đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại nên có thể thực hiện được công tác khám bệnh, chuẩn đoán và điều trị tốt hơn Đồng thời, nhờ đội ngũ cán bộ y tế giỏi chuyên môn và trang thiết bị tốt, bệnh viện còn có điều kiện để phát triển hoạt động nghiên cứu y học và đào tạo cán bộ y
tế cho Ngành Y tế
- Đối với người bệnh
Khách hàng của bệnh viện chính là những người có nhu cầu KCB
Mong muốn của người bệnh là làm sao khỏi bệnh với chi phí KCB hợp lý
Quản lý tốt bệnh viện nói chung và quản lý tài chính bệnh viện nói riêng sẽ góp phần tạo nên sự hài lòng của người bệnh Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đến bệnh viện ngoài việc KCB, mua thuốc và các vật dụng khác, họ còn cần có chỗ ngủ trọ, nơi ăn uống, Những dịch vụ trên nếu được
Trang 23bệnh viện cung ứng đầy đủ sẽ giúp cho người bệnh và thân nhân của họ có điều kiện sinh hoạt bình thường để KCB trong thời gian lưu lại ở bệnh viện
Trong điều kiện kinh tế thị trường, tất cả những dịch vụ trên do bệnh viện cung ứng đều phải được bù đắp chi phí mà người chi trả là bệnh nhân và những người thanh toán trung gian Quản lý tài chính bệnh viện tốt, tính toán hợp lý giá cả các dịch vụ mà bệnh viện cung ứng cho bệnh nhân sẽ giúp cho người bệnh thoát khỏi bệnh tật với khả năng kinh tế của mình Chính điều đó góp phần tạo nên sự hài lòng của người bệnh
- Đối với xã hội
Quản lý tài chính bệnh viện còn có tác động trở lại đối với các quỹ, người thanh toán trung gian Thông thường, trong điều kiện kinh tế thị trường, những chi phí KCB của người bệnh được người thanh toán trung gian, các quỹ bảo hiểm chi trả Việc quản lý tài chính bệnh viện tốt, tính toán hợp lý chi phí KCB sẽ giúp cho người thanh toán trung gian, các Quỹ bảo hiểm y
tế chi trả KCB theo chế độ, đồng thời có khả năng bảo tồn được quỹ
Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện giúp cho Bệnh viện ngày càng phát triển, giúp cho người bệnh thoát khỏi bệnh tật với chi phí hợp lý, giúp cho người thanh toán trung gian, các quỹ bảo hiểm chi trả KCB theo chế độ và bảo tồn được quỹ Điều đó mang lại lợi ích chung cho sự phát triển của xã hội
1.2 Nội dung quản lý tài chính của bệnh viện công lập
1.2.1 Quy trình quản lý tài chính của Bệnh viện công lập
Quy trình quản lý tài chính của Bệnh viện công lập gồm 4 bước:
Sơ đồ 1.2 Quy trình quản lý tài chính của bệnh viện công lập
(Nguồn: Giáo trình quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp)
Trang 24Lập dự toán
- Ý nghĩa của việc lập dự toán
Lập dự toán thu chi là khâu bắt đầu của một quy trình quản lý tài chính nói chung và quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện nói riêng Đây là quá trình phân tích đánh giá giữa khả năng thực tế của các nguồn tài chính trong bệnh viện và nhu cầu của bệnh viện để từ đó xác lập nên các chỉ tiêu thu, chi,
dự trữ hàng năm một cách đúng đắn có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó chúng ta có thể xác lập những biện pháp nhằm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu đề ra Việc lập dự toán này nếu được thực hiện một cách chính xác, có căn cứ khoa học, hợp thời gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo
- Các căn cứ lập dự toán thu chi của Bệnh viện:
+ Phương hướng, chủ trương nhiệm vụ của đơn vị
Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng kế hoạch có được một cái nhìn tổng quát nhất về những mục tiêu nhiệm vụ từ đó có kế hoạch động viên, khai thác các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hợp lý nhất
+ Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được
Để xây dựng được chỉ tiêu kế hoạch thu chi cho hàng năm thì ngoài các căn cứ nêu trên phải đặc biệt tuân thủ các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính của ngành y tế thông qua hệ thống pháp luật của nhà nước quy định
+ Kinh nghiệm thực hiện các năm trước
Các hoạt động tài chính thường diễn ra theo các quy luật nhất định, trong một thời kỳ nhất định Vì thế nên, các tài liệu phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch của các năm trước đây luôn tuân theo quy luật hoạt động của các năm trước đây
+ Khả năng ngân sách nhà nước cho phép
+ Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường
Trang 25+ Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị
- Phương pháp lập dự toán:
Việc lập dự toán được tiến hành theo phương pháp lập dự toán từ cấp
cơ sở từ dưới lên trên Theo phương pháp này thì các đơn vị cơ sở sẽ căn cứ vào số liệu để kiểm tra của cấp có thẩm quyền giao lập dự toán thu chi của đơn vị mình trong năm kế hoạch Sau đó thủ trưởng đơn vị có nhiệm vụ xét duyệt và gửi lên cơ quan chủ quản và tiến hành lập dự toán thu chi
Thực hiện dự toán
Thực hiện dự toán là khâu kế tiếp ngay sau khâu lập dự toán và là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnh viện Đây là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được đề ra và ghi trong kế hoạch thành hiện thực Thực hiện dự toán đúng đắn là cơ sở tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế ở bệnh viện Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, các ban, các bộ phận trong bệnh viện Vì thế đây là một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm trong công tác quản lý tài chính của bệnh viện Việc thực hiện dự toán này thường diễn ra trong một niên độ ngân sách nhất định (ở nước
ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm) Trong khâu này thì người ta thường tiến hành lập kế hoạch thu chi theo quý, trong đó người ta lại chia ra các tháng và tổ chức thực hiện kế hoạch của từng tháng đó Sở dĩ phải làm như vậy là bởi vì kế hoạch năm là lập cho cả năm, đó là cái khung lớn là cái tổng quát, còn kế hoạch thu chi của quý là lập cho các quý, gắn liền với các quý nên
sẽ xát thực hơn Và để thực hiện tốt các quý thì người ta lại đòi hỏi phải cụ thể hóa từng tháng Do đó với kế hoạch từng tháng các đơn vị sẽ đưa ra được các biện pháp tốt nhất để thực hiện các chỉ tiêu
- Căn cứ thực hiện dự toán
Dự toán thu chi của bệnh viện đã được các cấp trên có thẩm quyền cao hơn phê duyệt Đây là những căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong
Trang 26chấp hành dự toán của bệnh viện Trong điều kiện hiện nay, khi mà việc tăng cường thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện thì việc chấp hành dự toán thu chi ngày càng được luật pháp hoá, tạo điều kiện cho các đơn vị hành chính có thể chủ động thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình
Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng các nhu cầu hoạt động của bệnh viện
Chính sách và các chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước ban hành
- Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán
Đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng các nguồn kinh phí một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả
Đảm bảo cho giải quyết linh hoạt các vấn đề về kinh phí Do sự hạn hẹp của các nguồn kinh phí và những hạn chế về khả năng thực hiện dự toán nên giữa kế hoạch đề ra và thực tế diễn ra trong quá trình chấp hành
và thực hiện dự toán có thể có những sai khác nhất định đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý Nguyên tắc chung của thực hiện dự toán là chi theo dự toán nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì cần phải có một quyết định kịp thời, hợp lý đồng thời có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc
gì sau Sau khi được cấp có thẩm quyền cao hơn phê duyệt dự toán và nhận được thông báo cấp vốn hạn mức,các đơn vị nên chủ động sử dụng vốn đó để hoàn thành nhiệm vụ được giao.Tổ chức và thực hiện các khoản thu nhận của các nguồn tài chính được cấp theo kế hoạch và theo quyền hạn.Tổ chức thực hiện đúng các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức do Nhà nước ban hành quy định trên cơ sở đánh giá tính hiệu quả, chất lượng công việc
Trang 27Quyết toán
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của một quá trình sử dụng quản lý tài chính đây là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán của năm, sau khi năm ngân sách kết thúc Đây là quá trình phản ánh đầy đủ nhất về các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách năm theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu trong năm Trên cơ sở các
số liệu của báo cáo quyết toán đó ta có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnh viện, đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời từ đó
có thể rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản lý tài chính để làm cơ sở cho việc quản lý ở chu kỳ tiếp theo đặc biệt là làm cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý tài chính của năm sau Trong quá trình tổ chức các báo cáo quyết toán, phải đảm bảo yêu cầu: trong báo cáo không được xảy
ra tình trạng chi lớn hơn thu Nếu thực hiện công tác này tốt thì sẽ tạo được cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán
Muốn công tác quyết toán được tốt cần phải:
- Tổ chức được một bộ máy kế toán theo quy định nhưng vẫn phải đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả
- Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định
- Ghi chép cập nhật, thường xuyên phản ánh kịp thời và chính xác
- Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra sổ sách
Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp trái với chế độ theo đúng quy định
Thực hiện báo cáo quý sau 20 ngày và báo cáo năm sau 90 ngày theo đúng quy định của Nhà nước đề ra
Thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến Do vậy, đòi hỏi phải có sự thanh tra, kiểm tra thường xuyên để phát hiện sai sót,
Trang 28uốn nắn và đưa công tác quản lý tài chính đi vào nền nếp Việc kiểm tra giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư
Cùng với việc thanh tra, kiểm tra, công tác đánh giá rất được coi trọng trong quá trình quản lý tài chính Đánh giá để xem việc gì đạt hiệu quả, những việc gì không đạt gây lãng phí để có biện pháp động viên kịp thời cũng như rút kinh nghiệm quản lý Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá hiện nay chưa thống nhất và còn nhiều tranh luận và càng khó khăn do tính đặc thù của mình, hoạt động kinh tế của bệnh viện gắn bó hữu cơ với mục tiêu “công bằng trong cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân” Hiện nay người ta thường dùng ba nội dung để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của bệnh viện Đó là:
- Chất lượng chuyên môn: liên quan đến cơ cấu tổ chức, phương pháp tiến hành hoạt động và tình trạng bệnh nhân khi xuất viện
- Hạch toán chi phí bệnh viện: liên quan đến chi phí kế toán và chi phí kinh tế
- Mức độ tiếp cận các dịch vụ bệnh viện của nhân dân trên địa bàn
1.2.2 Quản lý các nguồn thu của bệnh viện công lập
Nguồn thu của Bệnh viện công lập được nhà nước cho phép hình thành từ các kênh sau:
Sơ đồ 1.3 Các nguồn thu của bệnh viện
Nguồn thu từ Ngân sách nhà nước cấp
Ngân sách nhà nước cấp
Nguồn tài trợ
và các nguồn thu khác
Nguồn thu viện phí và BHYT
Nguồn thu của bệnh viện công lập
Trang 29Nhìn chung, nguồn thu từ NSNN là các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện Theo đó hàng năm Quốc hội, Chính phủ, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính quyết định cấp một khoản cho ngân sách y tế, trong đó phần quan trọng
là cho các Bệnh viện (khối chữa bệnh), các viện có giường bệnh Tỷ lệ NSNN này căn cứ vào sự tăng trưởng NSNN hàng năm của quốc gia, căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch của ngành y tế, của các Bệnh viện, và kế hoạch hàng năm của ngành, khối chữa bệnh Việc cấp phát NSNN cho các Bệnh viện căn cứ theo luật ngân sách nhà nước
Đối với các nước đang phát triển, thì nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quan trọng nhất Ở Việt Nam hiện nay, hàng năm các bệnh viện công đều nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính phủ căn
cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường bệnh theo kế hoạch của bệnh viện Số kinh phí này thường đáp ứng được từ
20 đến 45% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
Đây là một nguồn thu quan trọng và lâu dài của Bệnh viện Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế chiếm một phần quan trọng trong ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường chiếm tỷ trọng gần 97% ở bệnh viện tự chủ toàn phần, 72% ở bệnh viện tuyến Trung ương, gần 82% tại bệnh viện tuyến tỉnh và gần 55% ở bệnh viện tuyến huyện
Đối với việc khám bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở hạch toán và được cấp có thẩm quyền duyệt Bệnh viện không được tùy tiện đặt giá
Trang 30Đối với người có thẻ BHYT thì cơ quan bảo hiểm phải thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện
Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của Đảng và Nhà nước, rất nhiều các bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và BHYT
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác
Nguồn viện trợ cũng được Chính phủ Việt Nam quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng Đây là một nguồn kinh phí khá quan trọng Có rất nhiều nguồn viện trợ: Chính phủ, Phi Chính phủ, các hội từ thiện, các cá nhân, các chương trình dự án nước ngoài Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ Nguồn kinh phí này tùy theo từng dự án được nhà nước đầu tư trong từng giai đoạn và thường không ổn định
Ngoài ra các Bệnh viện còn có các nguồn thu khác như sau:
- Thu do nhượng bán tài sản cố định: các Bệnh viện được phép thanh lý nhượng bán tài sản vật tư thuộc đơn vị mình quản lý nay không còn sử dụng nữa cho các đơn vị khác
- Dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu: Trong điều kiện hiện nay, ở một số bệnh viện có tổ chức một số họat động sản xuất kinh doanh có thu xuất phát từ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh và khu vực Bệnh viện đã hoạt động khám chữa bệnh theo yêu cầu tự nguyện để phục vụ nhân dân căn cứ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu và Thông tư 71/2006/TTBTC ngày 09/08/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4 /2006 của Chính phủ quy định về
Trang 31quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu
- Nguồn thu từ trông giữ xe đạp xe máy tại cổng bệnh viện
- Thu dịch vụ quầy quán căng tin, nhà thuốc Bệnh viện…
Các nguồn thu của Bệnh viện phải được quản lý chặt chẽ theo đúng quy định của Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước
Thủ quỹ phải có trách nhiệm trước trưởng phòng tài chính kế toán và giám đốc bệnh viện về bảo quản, thu, chi không để thiếu hụt ngân quỹ theo quy định
1.2.3 Quản lý các khoản chi của bệnh viện công lập
Chi là quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm duy trì
sự tồn tại và hoạt động của Bệnh viện nhằm thực hiện các chính sách và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng
Các khoản chi tại BVCL:
+ Chi thường xuyên
+ Chi nghiệp vụ chuyên môn
+ Chi đầu tư, xây dựng cơ bản
+ Các khoản chi khác
Nhóm I: Chi cho con người
Đây là khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách cấp cho Bệnh viện Bao gồm các khoản chi về lương, thưởng, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp khác Trong đó:
+ Tiền lương: Lương bậc ngạch, lương tập sự, lương hợp đồng
+ Phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm, chức vụ, phụ cấp làm thêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại và nguy hiểm(được tính theo chế độ hiện hành, kể
cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là khoản bù
Trang 32đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện
+ Tiền thưởng: Thưởng thường xuyên, đột xuất và các loại thưởng khác + Phúc lợi tập thể: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất và tiền tàu
xe và các phúc lợi khác
Nhóm II:: Chi nghiệp vụ chuyên môn
Nhóm này bao gồm thứ nhất: các khoản chi thanh toán dịch vụ công (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và các dịch vụ công khác ); chi vật tư văn phòng (văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ vật tư văn phòng khác ); chi thông tin liên lạc (điện thoại, fax, tuyên truyền, truyền thông và thông tin liên lạc khác), chi hội nghị, chi công tác phí… các khoản chi này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện Do đó, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ,chi kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
Trước đây trong cơ chế cũ các khoản chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước Tuy nhiên, khi đổi mới cơ chế làm việc Bệnh viện chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước
để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính của mình Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, các Bệnh viện cũng cần phải xây dựng một chính sách tiết kiệm
và quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoản chi tiêu của mình Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, và tăng thêm kinh phí sử dụng cho các nhóm khác
Thứ hai là các khoản chi mua hàng hoá, vật tư, trang thiết bị chuyên dụng dùng cho công tác chuyên môn và KCB; trang thiết bị kỹ thuật; sách, vở tài liệu chuyên môn y tế… Đây là khoản chi quan trọng nhất vì nó có tác động
Trang 33trực tiếp đến công tác KCB Có thể nói đây là các khoản chi quan trọng nhất đòi hỏi phải mất nhiều công sức về quản lý, phụ thuộc chủ yếu vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện
Đây là nhóm tiêu dùng thiết yếu nhất, thực hiện dựa theo nhu cầu thực
tế nên Nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí cho nhóm chi này Nhóm chi cho nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ và rất mật thiết với chất lượng chăm sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện
Vấn đề được đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không quá khắt khe của nhà nước đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng nguồn tài chính 1 cách linh hoạt đúng mức và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi nhưng vẫn giữ được chất lượng điều trị hiệu quả và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí như: chi thuốc không quá 50% nhóm chi chuyên môn
Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Đây là nhóm chi rất quan trọng và không thể thiếu được Có thể nói đây
là nhóm chi mà các nhà quản lý bệnh viện đều rất quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đổi cơ sở vật chất của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân Hàng năm, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động KCB cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu sử dụng kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản
cố định đã xuống cấp Với bốn mục tiêu chính:
- Duy trì và phát triển cơ sơ vật chất
- Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc
- Duy trì và phát triển trang thiết bị
- Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên
* Về sửa chữa
Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều đang trong quá trình xuống cấp và đòi hỏi phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng rất nhiều và đặc biệt
Trang 34là trong tình trạng quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện công như hiện nay Nhưng đây là nhóm chi được nhà nước quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Vấn đề đặt ra cho nhóm chi này là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh; điều này đòi hỏi phải phát huy năng lực quản lý tốt trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giá vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra
* Về việc mua sắm tài sản cố định
Bao gồm hoạt động mua sắm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn Do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trong bệnh viện đổi mới không ngừng và ngày càng hiện đại,
sử dụng kỹ thuật ngày càng cao để đáp ứng được nhu cầu KCB Nhưng hầu hết các trang thiết bị này lại được sản xuất ở nước ngoài, giá cả của chúng thì lại tương đối cao Vấn đề đặt ra là việc mua sắm các trang thiết bị này phải tính đến giá cả/ hiệu quả “Liệu cơm gắp mắm” là phương châm cho việc mua sắm trang thiết bị trong các bệnh viện Việc mua sắm này phải tuân thủ theo các quy định và thủ tục của Nhà nước đồng thời bệnh viện cũng phải có một chiến lược quản lý lâu dài để có thể sử dụng công nghệ một cách đạt hiệu quả nhất
Nhóm IV: Chi khác, đây là các khoản chi phát sinh không thường xuyên, đột xuất và không thuộc các khoản chi trên
1.2.4 Quản lý các quỹ tài chính
Các quỹ tài chính tại các bệnh viện công lập:
+ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: Dùng để đảm bảo thu nhập cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút
+ Quỹ khen thưởng: Dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể
cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị
+ Quỹ phúc lợi: Dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi,
Trang 35chi cho hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; Chi thêm cho cán bộ công chức viên chức trong biên chế thực hiện tinh giản biên
+ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ công chức viên chức đơn vị.; được sử dụng góp vốn liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị theo qui định của pháp luật
Quản lý các quỹ tài chính cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Trích lập các quỹ tài chính phải căn cứ vào kết quả chênh lệch thu chi của bệnh viên thực hiện trong từng năm từ đó căn cứ theo quy định theo quy chế chi tiêu nội bộ và tình hình thực tế để tiến hành trích lập các quỹ cho phù hợp
- Sử dụng các quỹ tài chính phải đúng theo quy định của quy chế chi tiêu nội bộ
- Cần có xây dựng kế hoạch cụ thể khi sử dụng quỹ phát triển của bệnh viện
1.3 Công cụ quản lý tài chính bệnh viện công lập
1.3.1 Hệ thống luật pháp, chính sách và các văn bản pháp quy của nhà nước liên quan đến quản lý tài chính bệnh viện
Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của bệnh viện Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở bệnh viện Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính
Trang 36cho bệnh viện thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của bệnh viện
1.3.2 Công tác kế hoạch
Công cụ này đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính, nó bảo đảm cho các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được đảm bảo Căn cứ vào quy mô hoạt động, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho các bệnh viện Dựa vào
số liệu chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn
và chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng cơ bản của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch
1.3.3 Quy chế chi tiêu nội bộ
Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính,
nó đảm bảo các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được thực hiện theo quy định Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong toàn bệnh viện, thực hiện chi tiêu tiết kiệm và hợp lý Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, bệnh viện công lập tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát chi
1.3.4 Hạch toán, kế toán, kiểm toán
Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của bệnh viện phải kịp thời, chính xác Thông qua công tác kiểm toán
Trang 37bệnh viện có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế
độ chính sách, kinh tế của Nhà nước và của bệnh viện
1.3.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra
Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của bệnh viện Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cho nên cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các bệnh viện quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả
1.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý Năng lực cán bộ là yếu tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng
Trình độ quản lý của lãnh đạo bệnh viện tác động rất lớn tới công tác quản lý tài chính tại bệnh viện Giám đốc là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định việc xây dựng
dự toán thu chi, quy định mức tiền lương, thu nhập tăng thêm, phúc lợi và trích lập quỹ của bệnh viện
Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác
để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của bệnh viện ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của nhà nước góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của bệnh viện
1.4 Các tiêu chí đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện
1.4.1 Các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính bệnh viện
Duy trì cán cân thu chi: Đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của
Trang 38quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong công tác quản lý mới tiến tới hạch toán chi phí Thể hiện thông qua chênh lệch thu chi của bệnh viện qua từng năm và chênh lệch thu chi tính trên một giường bệnh của bệnh viện
Chênh lệch thu chi = Thu - Chi
Cải thiện đời sống, nâng cao điều kiện làm việc cho cán bộ y bác sỹ,
nhân viên, Sử dụng chỉ tiêu:
+ Tiền lương tăng thêm bình quân = Tổng tiền lương tăng thêm/Tổng
số cán bộ công nhân viên
Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP Chỉ tiêu tiền lương tăng thêm được tính dựa trên kết quả của tăng thu, tiết kiệm chi, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn
vị, trong đó:
a) Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định này;
b) Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối
đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định này
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu
nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Trang 39Vậy chỉ tiêu tiền lương tăng thêm bình quân càng cao, chứng tỏ mức thu nhập của cán bộ công nhân viên bệnh viện ngày càng được nâng cao tạo điều kiện nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong bệnh viện
Tăng cường quy mô hoạt động của bệnh viện: Xây dựng thêm cơ sở hạ
tầng, các công trình, mở thêm các chuyên khoa mới để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân khám chữa bệnh Hiện nay, bệnh viện đều trích quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp để thực hiện việc nâng cấp, đầu tư mới các thiết bị, gường bệnh, phòng bệnh phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện Nên ta áp dụng chỉ tiêu Tỷ lệ trích quỹ phát triển sự nghiệp để đánh giá tiêu chí này
+ Tỷ lệ trích quỹ phát triển sự nghiệp = Quỹ phát triển sự nghiệp/tổng chi lập các quỹ
Chỉ tiêu này phản ánh đầu tư của bệnh viện trích từ quỹ hiện có của bệnh viện để nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ cho yêu cầu khám chữa bệnh, tỷ
lệ này càng cao chứng tỏ việc đầu tư cơ sở vật chất của bệnh viện càng cao và ngược lại
Khi sử dụng những chỉ tiêu này để đánh giá thông qua các năm, nếu các chỉ tiêu này qua các năm càng tốt chứng tỏ việc quản lý tài chính ở bệnh viện càng có hiệu quả Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh viện ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn
1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện công lập
1.4.2.1 Nhân tố bên ngoài
Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong tất cả các các lĩnh vực hoạt động của xã hội Quá trình đổi mới này đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống y tế nói chung và bệnh viện nói riêng
Trang 40Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống vật chất của đại
đa số nhân dân được cải thiện so với trước thời kỳ đổi mới Nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tăng lên Số lượt người đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh tăng vọt so với trước Do đó, nguồn thu viện phí cũng tăng
Mặt khác, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng tương đối mạnh song do xuất phát điểm thấp lại chưa thực sự vững chắc, các lĩnh vực xã hội còn phải chi quá nhiều dẫn đến đầu tư cho ngành y tế còn chưa tương xứng mặc dù trong tổng đầu tư cho y tế thì đầu tư phục vụ khám chữa bệnh cho các bệnh viện vẫn chiếm tỷ trọng lớn Khả năng thu phí để tái đầu tư mở rộng còn rất hạn chế Việc xác định các đối tượng nghèo không có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh để thực hiện các chế độ ưu đãi còn rất khó khăn
Về chính trị
Việt Nam từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ,
ổn định chính trị Chính sách ngoại giao “mở cửa” giúp Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng Những tiến bộ chính trị này tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh viện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ nước ngoài cũng như tiếp cận các tiến bộ của khoa học kỹ thuật Trong môi trường mở cửa, việc hợp tác với các tổ chức y
tế thế giới cũng như nhận các khoản viện trợ không hoàn lại của bệnh viện gặp nhiều thuận lợi và không ngừng tăng
Môi trường pháp lý
Nhà nước đã chú ý đến đầu tư phát triển văn hoá xã hội nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, cố gắng thực hiện công