Trong số 17,5 triệu người tử vong trên thế giới do bệnh tim mạch thì tăng huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong 7,1 triệu người.. Giả thuyết khoa học Dựa vào cơ sở thực tiễn và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.BS NGUYỄN NGỌC HÒA
PGS.TS NGUYỄN NGỌC HỢI
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó
Tôi xin cảm ơn phòng Đào tạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, khoa Sinh học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập
và thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.BS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi là người trực tiếp chỉ bảo, hưỡng dẫn chỉnh sửa cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bác sỹ, các cán bộ công nhân viên Bệnh viện đa khoa thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tại đây Xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị làm việc bệnh viện đã động viên về tinh thần và kiến thức thực tế cho tôi trong thời gian tại cơ sở
Xin cảm ơn sự động viên của gia đình, anh em, sự giúp đỡ chân thành của các bạn đồng môn trong thời gian học tập và hoàn thiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc những sự giúp đỡ quý báu đó
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Ngô Thị Thúy Vân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 4
1.1.1 Định nghĩa THA 4
1.1.2 Phân loại THA 4
1.2 Cơ chế bệnh sinh bệnh THA 6
1.2.1 THA nguyên phát 6
1.2.2 THA thứ phát 8
1.3 Nguyên nhân THA 9
1.4 Những yếu tố nguy cơ trong THA 10
1.5 Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA 18
1.6 Chẩn đoán THA 19
1.7 Gánh nặng của THA đối vói sức khỏe công cộng 20
1.8 Tình hình bệnh tim mạch trên thế giới và Việt Nam 22
1.8.1 Trên thế giới 22
1.8.2 Tại Việt Nam 23
1.9 Tình hình nghiên cứu bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam 24 1.9.1 Trên thế giới 24
1.9.2 Tại Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
Trang 52.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu 31
2.3.3 Cỡ mẫu nghiên cứu 31
2.3.4 Phương pháp điều tra 33
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa máu 33
2.4 Xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 37
3.1 Thực trạng bệnh cao huyết áp ở thành phố Hà Tĩnh 37
3.2 Mối liên quan của bệnh THA tới các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hoá máu ở người bị bệnh cao huyết áp tại thành phố Hà Tĩnh 51
3.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 51
3.2.2 Mối liên quan của bệnh cao huyết áp tới chỉ tiêu hình thái 53
3.2.3 Mối liên quan của bệnh cao huyết áp tới các chỉ tiêu sinh lý 57
3.2.4 Mối liên quan của cao huyết áp tới các chỉ tiêu sinh hoá máu 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HATTr Huyết áp tâm trương
HDL-C Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng cao
LDL-C Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng thấp
WC Waist Crircum Ference (Vòng bụng)
WHR Waist / Hip Ratio (Tỷ số vòng bụng / vòng mông) TBMMN Tai biến mạch máu não
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng
Bảng 1.1 Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003) 5
Bảng 1.2 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003) 5
Bảng 1.3 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay 6
Bảng 1.4 Các ngưỡng HA áp dụng để chuẩn đoán THA theo cách đo 20
Bảng 2.1 Đánh giá theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) và dành riêng cho người châu Á (IDI & WPRO) 34
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 37
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn và giới 40
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp và giới 41
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo nhóm tuổi và giới 42
Bảng 3.5 So sánh tỷ lệ THA giữa một số nghiên cứu 42
Bảng 3.6 Liên quan giữa nhóm tuổi với tỷ lệ THA 44
Bảng 3.7 Liên quan giữa giới với tỷ lệ THA 46
Bảng 3.8 Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh THA 47
Bảng 3.9 Đặc điểm chung của đối tương nghiên cứu 52
Bảng 3.10 Đặc điểm giới và tuổi của mẫu nghiên cứu 53
Bảng 3.11 Cân nặng của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 53
Bảng 3.12 Vòng eo của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 54
Bảng 3.13 BMI của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 55
Bảng 3.14 Huyết áp trung bình của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 57
Bảng 3.15 So sánh nồng độ trung bình của các thành phần lipid máu giữa 2 nhóm BN và ĐC 59
Bảng 3.16 Nồng độ CT của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 62
Bảng 3.17 Nồng độ TG của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 62
Bảng 3.18 Nồng độ HDL-C của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 63
Bảng 3.19 Nồng độ LDL-C của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 64
Bảng 3.20 Tỷ lệ CT/HDL-C của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 65
Bảng 3.21 Tỷ lệ LDL-C/HDL-C của nhóm BN và ĐC theo tuổi và giới 65
Trang 9Tăng huyết áp là bệnh phổ biến ở các nước phát triển, ở các nước đang phát triển bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, nhất là những người ở độ tuổi về già Gây ra một số biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não, thận mãn tính Năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA chiếm khoảng 10-15% dân số và ước tính đến năm 2025 là 29% Trong số 17,5 triệu người tử vong trên thế giới do bệnh tim mạch thì tăng huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây
tử vong 7,1 triệu người THA còn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%) cao hơn các nguyên nhân khác như
sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%) Tần suất THA trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển
Trang 10Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm 1960 tỷ lệ THA khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% Theo một điều tra gần đây nhất (năm 2008) của Viện Tim mạch Việt Nam thì tỷ lệ THA tăng lên 25,1% Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 88 triệu dân thì ước tính có khoảng 11 triệu người bị THA
Những số liệu trên đây đã đề cập đến thực trạng bệnh cao huyết áp trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang có xu hướng ngày càng gia tăng và để lại những hậu quả nặng nề cho mỗi cá nhân, cho gia đình và cho toàn xã hội
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm văn hóa, kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh với dân số gần 1.280.782 người, có sự chênh lệch về dân trí, đời sống kinh tế khác nhau… nên những hiểu biết về các bệnh cao huyết áp của người dân đang còn nhiều hạn chế Đồng thời chưa có các nghiên cứu toàn diện về vấn
đề này nhằm đưa ra giải pháp góp phần hạn chế căn bệnh thế kỷ này
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan nói trên, chúng tôi
chọn đề tài: “Thực trạng và một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa máu
của người bị bệnh cao huyết áp tại thành phố Hà Tĩnh”
2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá thực trạng bệnh cao huyết áp ở người dân sống trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
Xác định một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa máu ở người bị bệnh cao huyết áp ở Thành phố Hà Tĩnh
3 Giả thuyết khoa học
Dựa vào cơ sở thực tiễn và sự liên quan giữa bệnh tăng huyết áp với các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa ở người bị bệnh cao huyết áp, có thể là
số liệu để giúp các nghiên cứu sau này đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, điều trị có hiệu quả cho người bị bệnh cao huyết áp ở Thành phố Hà Tĩnh
Trang 114 Nội dung nghiên cứu
Điều tra thực trạng bệnh cao huyết áp của người dân sống trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh - tỉnh Hà Tĩnh
Mối liên hệ của bệnh cao huyết áp với các chỉ tiêu hình thái, sinh
lý, sinh hóa máu ở người dân sống trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh - tỉnh
Hà Tĩnh
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa THA
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tối
đa, HA tâm thu (HATT) > 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) > 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [7], [10], [87]
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành
Huyết áp tâm thu (HATT): là áp lực cao nhất khi tim co bóp tống máu trong thì tâm thu, người trưởng thành huyết áp khoảng 110-120 mmHg
Huyết áp tâm trương (HATTr): là áp lực thấp nhất của máu tác động lên thành mạch ở thì tâm trương, biểu hiện sức đàn hồi của động mạch vừa đủ thắng sức cản ngoại biên, ở người trưởng thành huyết áp khoảng 70-80 mmHg
Huyết áp trung bình:
HATB = HATT + 2 x HATTr
1.1.2 Phân loại THA
Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây Theo WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ [10], [15], [19], [87]:
Trang 13Bảng 1.1 Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
Trang 14Bảng 1.3 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn
1.2 Cơ chế bệnh sinh bệnh THA
Cơ chế bệnh sinh gồm THA nguyên phát và THA thứ phát [44]
1.2.1 THA nguyên phát
THA nguyên phát chiếm tới 90% các trường hợp [34], cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau đây có thể gây THA: tăng hoạt động thần kinh giao cảm sẽ làm tim ở trạng thái tăng động do tăng hoạt động của tim dẫn đến tăng dung lượng và tăng tần số tim Toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi để lại hậu quả cuối cùng là THA động mạch [10]
Sơ đồ cơ chế bênh sinh THA do tăng hoạt động thần kinh giao cảm và tăng cung lượng tim [44]:
- Tác dụng co mạch của adrenalin và noradrenalin: hai chất này do tuỷ thượng thận chế tiết ra, khi hệ giao cảm bị kích thích Adrenalin có tác dụng
Trang 15co mạch dưới da nhưng lại làm giãn mạch vành, mạch não, mạch cơ vân nên chỉ làm THA tối đa Noradrenalin làm co mạch toàn thân nên làm tăng cả HA tối đa và HA tối thiểu [20]
- Vai trò của hệ RAA: Renin - Angiotensin - Aldosteron [10], [44]: renin là enzym được tế bào của tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có yếu tố kích thích Yếu tố kích thích tiết renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ thể ß của adrenecgic Khi renin được tiết
ra sẽ chuyển a2 globulin (được tổng hợp từ gan) gọi là angiotensinogen thành angiotensin I (là peptid có 10 acid amin), theo máu đến tuần hoàn phổi được tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ coverting enzym ở phổi còn lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II có rất nhiều tác dụng [20]:
+ Trên mạch máu: Angiotensin II làm co các tiểu động mạch sát với mao mạch nơi mà thành tiểu động mạch còn cơ trơn Tác dụng co mạch của của angiotensin II mạnh gấp 30 lần so với noradrenalin
+ Kích thích lớp cầu của vỏ thượng thận làm tăng bài tiết aldosterol do tác dụng lên enzym 20 aa hydroxylase, là enzym chuyển cholesterol thành 20a hydroxy cholesterol, gây tăng giữ nước và giữ muối
+ Kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu natri
+ Kích thích vùng postrema (diện sau cùng ở nền não thất IV) là vùng
có những tế bào nhạy cảm với tác dụng của angiotensin II, do đó làm tăng trương lực mạch máu và làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến THA
+ Kích thích các cúc tận cùng thần kinh giao cảm tăng bài tiết noradrenalin và giảm sự tái nhập noradrenalin trở lại các cúc tận cùng
+ Làm tăng tính nhạy cảm của noradrenalin đối với mạch máu
Từ những hiểu biết trên ta thấy angiotensin II có tác dụng rộng khắp toàn bộ hệ thống động mạch, làm tăng sức cản noại vi và tăng thể tích dịch lưu hành là cơ sở THA
- Giảm chất điều hoà HA: prostaglandin E2 và kali krein ở thận có chức
Trang 16năng sinh lý là điều hoà huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này
bị ức chế hoặc thiếu gây THA
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: natri có vai trò trong bệnh THA cả trên thực nghiệm và trong điều trị Trong điều kiện bình thường các hormon và thận sẽ hiệp đồng để thải natri làm cho lượng natri trong máu ổn định Hiện tượng ứ natri xảy ra khi lượng natri sẽ tăng giữ nước,
hệ thống mạch sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin và noradrenalin [44]
Sơ đồ 1.1 Vai trò RAA trong tăng huyết áp
1.2.2 THA thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- Bệnh thận ở nhu mô thận đều có thể gây THA thứ phát Cơ chế gây THA do thận liên quan đến thể tích lòng mạch hoặc tăng hoạt động renin - angiotensin - aldosteron, giảm sản xuất chất giãn mạch cần thiết (có thể là prostaglandin hoặc bradykinin) giảm bất hoạt các chất giãn mạch hoặc kém thải trừ natri nên natri bị giữ lại làm THA [37]
- THA do dị dạng động mạch thận: có khoảng 75% bệnh nhân hẹp động mạch thận là do xơ vữa đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, 25% còn lại do dị dạng xuất phát từ lớp cơ (thường gặp ở đối tượng trẻ tuổi) THA do bệnh mạch thận là do giảm tưới máu nhu mô thận, do hẹp nhánh chính hoặc nhánh phụ động mạch thận dẫn đến hoạt hoá hệ R.A.A, angiotensin II được giải phóng gây co mạch trực tiếp [44]
Trang 17- U tuỷ thượng thận là nguyên nhân hiếm gặp gây THA (chiếm tỷ lệ 1 - 2% THA) Là khối u tế bào ưa crôm sản xuất và phóng thích ra lượng lớn catecholamin (norepinephrine hoặc epinephrin hoặc cả hai) [37]
- Do cường aldosteron và hội chứng cushing: Hậu quả angiotensin II kích thích làm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và kali ở ống thận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA Cường aldosteron có thể do khối u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên [44] Cường aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng số bệnh nhân THA
- Hẹp eo động mạch chủ: Chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh Đường kính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kỳ vị trí nào của động mạch nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới đòn trái Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại
hạ HA ở chi dưới, HA ở chi trên cao hơn HA ở chi dưới > 30 mmHg [37]
- THA ở phụ nữ có thai: Bệnh THA xuất hiện nặng lên trong thời kỳ có thai gây tử vong cho bà mẹ và thai nhi Tỷ lệ tử vong của mẹ là 10%, của con
là 33% [12]
- Sử dụng estrogen: Đây cũng là dạng phổ biến nhất của THA thứ phát
Cơ chế do tăng hoạt động hệ R.A.A do estrogen kích thích tổng hợp angiotensin và làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát Trường hợp này chỉ xảy ra ở 5% phụ nữ sử dụng thuốc và HA trở lại bình thường sau
6 tháng dừng thuốc [36]
- Các nguyên nhân khác: THA kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi, tăng canxi máu do cường tuyến cận giáp
1.3 Nguyên nhân THA
Phần lớn (>90%) các trường hợp THA là không có nguyên nhân gọi là THA nguyên phát; chỉ có một số nhỏ trường hợp (<10%) là có nguyên nhân
Trang 18gọi là THA thứ phát, thường gặp ở trường hợp trẻ tuổi [4], [10], [54]
Các nguyên nhân THA bao gồm:
(1) Bệnh thận: hay gặp nhất
(2) Bệnh lý nội tiết
(3) Nguyên nhân khác: Hẹp quai động mạch chủ, tăng áp lực nội sọ, ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn, thai kỳ, thuốc và hóa chất
Trong điều tra dịch tễ học tại cộng đồng, không có điều kiện để thăm
dò tìm nguyên nhân của THA, một việc làm rất khó khăn ngay cả khi thực hiện trong các bệnh viện nên THA xác định tại cộng đồng thực chất là THA nói chung mà không thể phân biệt được là nguyên phát hay thứ phát Tuy nhiên do phần lớn THA là không có nguyên nhân và phần nào loại trừ được một số nguyên nhân THA rõ ràng qua tiêu chí loại ra như đối tượng đang mang thai, uống rượu, thuốc nhỏ mũi
1.4 Những yếu tố nguy cơ trong THA
* Tuổi
Tuổi là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất ảnh hưởng đến tỷ lệ THA;
tỷ lệ THA gia tăng theo khi tuổi càng cao Ở người trưởng thành, các nghiên cứu cắt ngang và dọc theo thời gian đều cho thấy rằng HATT và HATTr đều gia tăng tiến triển theo tuổi Nghiên cứu WHO MONI CA thì mỗi năm HA tâm thu gia tăng khoảng 0,29-0,91 mmHg đối với nam và khoảng 0,6-1,3 mmHg đối với nữ; sự gia tăng này hằng định và có thế giảm xuống sau 50 tuổi đối với HA tâm trương mà thôi [64] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự gia tăng tỷ lệ THA theo tuổi đối với tất cả các dân tộc, cả hai giới và trong hầu hết các nước công nghiệp hóa
Tại Sao Luis, Maranhao, Braxin [54], tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi 18- 29; 30-39; 40-49; 50-59; > 60 với các tỷ lệ tương ứng là 7,8%; 19,3%; 25,7%; 49,1% và 70,7% Nghiên cứu tại Ba Vì [77], tỷ lệ THA gia tăng theo tuổi, đặc biệt là ở giới nữ Nghiên cứu THA tại Việt Nam năm 2008
Trang 19[24] cho thấy tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuối có ý nghĩa thống kê với OR=l,39; các nghiên cứu khác tại Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ THA tăng khi tuổi càng tăng, cho dù ở trong các nhóm tuối nghiên cứu khác nhau cũng như các phân nhóm lớp tuối trong các nghiên cứu của các tác giả cũng không giống nhau
* Béo phì
Béo phì là hậu quả của tình trạng mất cân bằng năng lượng, trong đó năng lượng ăn vào vượt quá năng lượng tiêu hao trong một thời gian dài Béo phì ngày càng phổ biến ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Hiện nay số người mắc béo phì trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng thành trên thế giới Các nước ở Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ tỷ
lệ béo phì đã lên trên 20% Ở các nước phát triển tỷ lệ người béo phì cũng đang
có xu hướng tăng nhanh Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân (BMI > 23) ở nam giới trưởng thành là 10,1% và ở nữ giới trưởng thành là 13,2% [7]
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA và xơ vữa động mạch, cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có tương quan thuận với huyết áp Tỷ lệ THA tăng theo mức độ béo phì, tỷ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới Người béo phì độ II có tỷ lệ THA từ 33% - 39% so với người tiền béo phì tỷ lệ THA chiếm 17% - 24% [23]
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998 đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu
là 20,09 + 2,72 Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA [21]
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố: trọng lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA (điều tra trên
431 sinh viên) Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bị tăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì (BMI > 30) và 26,8% giảm cân HA, BMI, WHR, WC đều tăng đáng kể cùng với tuổi Chỉ 1,6% sinh viên có THA, 1% hút thuốc
Trang 20lá và 4,4% nghiện hút Nghiên cứu cho thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088 người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazinl Tiêu chuẩn được gọi là béo bệu khi: hoặc BMI > 27 (cho cả hai giới); hoặc WHR > 0,95 (với nam) và > 0,80 (với nữ); hoặc WC > 96cm (với nam) và > 92 cm (với nữ) Kết quả nghiên cứu cho thấy: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới
Một số nghiên cứu khác cũng nhận thấy béo phì có mối liên quan với các mức HA Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp 2 lần so với người bình thường và cao gấp 3 lần so với người nhẹ cân [9], [21], [27]
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự, WHR > 0,80 có nguy cơ tương đối liên quan chặt chẽ (theo chiều thuận) với THA Điều này có nghĩa là: vòng bụng càng to thì nguy cơ THA càng cao [21] Ngoài ra, trên các đối tượng béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hoá như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [7] Ở những người béo phì có THA, chỉ cần giảm 5 kg là HA đã giảm nhiều Người ta tính rằng, nếu giảm 10 kg thì HA tâm thu có thể giảm từ
5 đến 20 mmHg, đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường, hạ lipid máu [34]
* Đái tháo đường
Đái tháo đường và THA thường phối hợp với nhau, đặc biệt tần suất cao ở đái tháo đường type 2
Tỷ lệ THA ở người đái tháo đường cao gấp 1,5-2 lần so với người bình thường (35% nam và 46% nữ bị đái tháo đường có kèm THA) THA và tăng đường máu là các yếu tố nguy cơ độc lập đối với các vấn đề bệnh lý mạch máu Các nghiên cứu gần đây cho thấy can thiệp tích cực nhờ kiểm soát huyết
Trang 21áp sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ và thậm chí có hiệu quả hơn việc kiểm soát đường huyết
Bệnh đái tháo đường hay đi cùng với bệnh tăng huyết áp Người ta thấy khoảng 30 -50% bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp, những bệnh nhân này thường béo Ngược lại, xét nghiệm glucose máu thấy tăng cao ở 1/3 số bệnh nhân tăng huyết áp [11]
Năm 1976, Berghen và cộng sự cũng nhận thấy sự gia tăng insulin khi đói và sau khi uống 100g glucose ở bệnh nhân THA chưa điều trị Năm 1987, Ferranini và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh ở người trẻ bị tăng huyết áp chưa điều trị với trọng lượng và sự dung nạp glucose bình thường có sự kháng insulin ở mô ngoại biên và liên quan đến mức độ tăng huyết áp Năm 1988, Shen và cộng sự so sánh sự đáp ứng glucose, insulin ở người huyết áp bình thường với người bệnh tăng huyết áp chưa điều trị và tăng huyết áp được điều trị Kết quả cho thấy ở các bệnh nhân THA này có tình trạng kháng insulin
Một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy bệnh đái tháo đường có
tỷ lệ cao hơn ở những người THA Huỳnh Văn Minh nghiên cứu 181 người tại Huế gồm 73 người huyết áp bình thường: 33 người dưới 40 tuổi (18%), 40 người trên 40 tuổi (22%) và 108 trường hợp bị THA (60%) Kết quả có sự gia tăng nồng độ insulin khi đói và nhất là 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose ở bệnh nhân THA Sự gia tăng này cao hơn so với nhóm chứng có huyết áp bình thường Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,001, trong khi nồng độ đường máu ở hai nhóm không có sự khác biệt (p> 0,05) Điều này cho phép kết luận rằng: có sự cường insulin máu, biểu thị sự kháng insulin, một yếu tố nguy cơ mới ở bệnh nhân THA Tần suất cường insulin máu và kháng insulin ở bệnh nhân THA nguyên phát là 41,7% trong đó 30,5% được phát hiện mà không cần nghiệm pháp dung nạp glucose [31]
Phạm Tử Dương điều tra 219 bệnh nhân THA trên 4693 người tại Hà Nội trong 5 năm (1994-1998) thì có 5 trường hợp đái tháo đường (2,3%) [11]
Trang 22Trương Thanh Hương nghiên cứu 38 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại Viện Tim Mạch từ tháng 6/1995 đến tháng 3/1996 thấy mức glucose máu lúc đói lớn hơn 7,77 mmol/l có 1/38 ca = 3% [17]
Năm 1998, Nguyễn Thị Dung nghiên cứu 1160 bệnh nhân THA tại bệnh viện Việt Tiệp, trong số 79,3% trường hợp xét nghiệm đường máu lúc đói có 14,5% số trường hợp bị đái tháo đường (glucose máu tĩnh mạch lúc đói
Nguy cơ bệnh lý mạch vành ở những người THA hút thuốc lá cao hơn khoảng 50-60% ở những người không hút thuốc lá Tỷ lệ hút thuốc lá nhiều (>8 điếu/ ngày) ở người THA cao hơn người bình thường (theo nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh về dich tễ học THA 1989-1992)
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc
Trang 23giảm tác dụng của các thuốc điều trị THA [26]
* Ăn mặn
Muốn sống được, cơ thể con người ta cần có muối, nhưng ăn quá nhiều muối sẽ làm ứ nước trong cơ thể, tăng khối lượng tuần hoàn và HA cũng tăng lên Một số nghiên cứu điều tra khẩu phần ăn từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì có tỷ lệ THA cao hơn Như vậy, lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THA trong các quần thể
Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% Nghiên cứu của Katz.A, Rosenthal T, Maoz C, tại Israel về hiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6 tháng Một máy đo HA tự động đo HA
cứ 20 phút một lần vào ban ngày và 30 phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầu chế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na
và tăng ăn cả K và Mg có thể có tác dụng trong việc khống chế THA [28]
Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA; trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch Theo WHO (1990) nên ăn dưới 6g/ngày [87] Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không phải dùng thuốc tốt nhất
Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen
ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa
Trong các nguyên nhân gây THA, trước hết người ta thường đề cập đến vấn đề ăn mặn Mỗi ngày, một người bình thường cần khoảng 6g muối mặn, nhưng do thói quen và khẩu vị nên có người sử dụng muối mặn có thể lên đến
Trang 2410g hoặc hơn trong một ngày Việc ăn quá nhiều muối dẫn đến tình trạng vượt quá khả năng điều chỉnh của các hormone và dẫn đến THA
* Uống bia rượu
Theo WHO năm 2001, có khoảng 140 triệu người trên thế giới nghiện rượu, 400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại, dẫn đến tai nạn và tử vong Ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là nghiện rượu [7] Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và đạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA Một số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu [7] Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý
về mạch máu
Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, ethanol có tác dụng
co mạch trực tiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uống trong ngày (30ml rượu) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị
Uống nhiều rượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu, nơi đó nhiều người bị THA [15] Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của những thuốc chữa THA
* Hoạt động thể lực
Những người có mức thế lực hợp lý thì có nguy cơ thấp hơn về sự phát triển các bệnh lý mãn tính; trái lại lối sống tĩnh tại làm gia tăng thừa cân, béo phì và nhiều bệnh lý mãn tính như bệnh mạch vành, THA, đái tháo đường typ
2 loãng xương và một số loại ung thư, ngoài ra hoạt động thế lực còn giúp điều trị chứng lo âu và trầm cảm từ mức độ nhẹ đến vừa [86]
Trong biện pháp trong điều trị THA không dùng thuốc, tham gia thế
Trang 25lực ngoài trời đều đặn như đi bộ nhanh (ít nhất 30 phút mỗi ngày, hầu hết các ngày trong tuần) giúp làm giảm HA tâm thu 4-9 mmHg [54] Để dự phòng tiền phát bệnh lý tim mạch, mức độ hoạt động thế lực phù hợp trong suốt đời là đi bộ nhanh tối thiểu 20 phút/ngày và từ 4-6 ngày/tuần, Tập thể dục nhịp điệu với mức độ vừa phải cũng làm giảm HA tâm thu và tâm trương lần lượt là 3,8 và 2,6 mmHg so với người hoạt động tĩnh tại nhờ vào các cơ chế: sự giãn mạch phụ thuộc nội mạc, gia tăng qua sự tăng sản xuất nitric oxide, giảm hoạt tính thần kinh giao cảm, giảm độ cứng động mạch, tăng tính nhạy cảm với insulin và giảm lớp mỡ ở bụng, độc lập với sự giảm cân [18] Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy hoạt động thế lực ít và người Mỹ gốc Phi là hai yếu tố góp phần quan trọng làm gia tăng tỷ lệ THA [53] Nghiên cứu trên 27.000 phụ nữ > 45 tuối cho thấy có mối liên quan nghịch giữa hoạt động thể lực và tỷ lệ THA
Theo WHO (2006), có hơn 60% dân số thế giới tĩnh tại ít hoạt động (sedentary) hay hoạt động không đủ đế nâng cao sức khỏe và ít hơn 1/3 người trẻ tuổi hoạt động đầy đủ để cải thiện lối sống khỏe mạnh [89] Theo WHO (2000), Indonesia và Thái Lan thuộc nhóm quốc gia có khoảng 15% người hoàn toàn không hoạt động thế lực, không hoạt động thế lực ở đây bao gồm những người không tập thế dục thế thao, thuộc những người làm bàn giấy, đi lại bằng phương tiện có động cơ Tỷ lệ này ở Malaysia, Philippines, và Việt Nam là 16% Tỷ lệ không hoạt động thế lực ở nữ giới nhiều hơn ở nam [5] Nghiên cứu tại cộng đồng người dân tộc Ê Đê tại Đăk Lăk, tỷ lệ các mức hoạt động thể lực ít, trung bình và mạnh lần lượt là 2,1%; 51,7% và 46,2%; trong
đó ít hoạt động thế lực không có sự khác nhau theo giới tính và nhóm tuối và cũng không có liên quan đến tỷ lệ THA [46]
* Tiền sử gia đình
Một số gia đình có khuynh hướng dễ mắc THA, nếu ba mẹ có mắc THA thì nguy cơ con cái mắc THA là 50% Nhiều nghiên cứu dịch tễ cho
Trang 26thấy không phải ai cũng mắc THA mà những người có yếu tố di truyền mới
có nguy cơ cao Người có đề kháng insulin có gen gây THA
Phân tích của Hajjar [64] về mối liên quan giữa yếu tố tiền sử gia đình
có THA với THA cho thấy có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc THA; có lẽ yếu tố di truyền và yếu tố môi trường chi phối vào mối liên quan này Nghiên cứu cắt ngang với 5.329 người trưởng thành, tiền sử gia đình THA làm tăng HA tâm trương, BMI, béo phì và cholesterol máu; một nghiên cứu tầm soát toàn quốc gia thì yếu tố tiền sử gia đình có THA làm tăng tỷ lệ THA gấp 2 lần so với người không có yếu tố này [64]
Tại Thái Lan [65], người có tiền sử gia đình THA có tỷ lệ THA gấp 2,3 lần; tại Philippines [84] thì tỷ lệ người có tiền sử gia đình THA chiếm 28,5%, gấp 2,4 lần so với người không có yếu tố này Tại Braxin [54], tỷ lệ người không có, không biết và có yếu tố nguy cơ này lần lượt là 25,6%; 30,7% và 27,4% và sự khác biệt tỷ lệ THA giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê
Một số nghiên cứu tại Việt Nam như tại một số tỉnh phía bắc [23], Thái Bình [24], Hà Nội [14] cho thấy tỷ lệ tiền sử gia đình có THA khoảng 8-11%
và yếu tố này liên quan với tỷ lệ THA không có ý nghĩa thống kê; trong khi
đó nghiên cứu tại Xuân Canh, Hà Nội [48] thì nguy cơ THA tăng lên 1,5 lần
có ý nghĩa thống kê
Ngoài ra còn nhiều yếu tố nguy cơ khác
1.5 Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA
* Tim
Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong hang đầu đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp… THA thường xuyên làm cho thất trái to ra, dần dần gây giãm thất trái, sức co bóp của tim từ đó cũng bị giảm dẫn đến suy tim, ban đầu là suy tim trái, rồi suy tim phải và cuối cùng là suy tim toàn bộ Biểu hiện lâm sàng là bệnh nhân mệt mỏi, khó thở khi gắng
Trang 27sức và nếu THA kéo dài tiếp tục thì sẽ khó thở cả khi nghỉ ngơi Ngoài ra da xanh, phù, tím tái… cũng là những biểu hiện của THA ảnh hưởng đến tim
* Não
Tai biến mạch máu não hay gặp trong chứng THA: nhũn não, xuất huyết não dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não thoáng qua nhưng có thể là bệnh não do THA với các triệu chứng lú lẫn, hôn me kèm co giật, đau đầu dữ dội…
* Thận
Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh có thể là tổn thương do THA Ngoài ra THA dẫn đến xơ thận gây suy thận dần dần
Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính
Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ Renin
và Angiotensin II trong máu tăng gây cường Andosteron thứ phát
có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt do THA
Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch
Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc nhưng chưa có phù gai thị
Giai đoạn IV: Phù lan tỏa gai thị
1.6 Chẩn đoán THA
Tiêu chuẩn chẩn đoán THA dựa vào ngưỡng HA tùy theo cách đo [4], [33], [75] được trình bày trong bảng 1.4
Trang 28Bảng 1.4 Các ngưỡng HA áp dụng để chuẩn đoán THA theo cách đo
Đo HA tại phòng khám/bệnh viện 140 mmHg 90 mmHg
Một người lớn được gọi là THA khi HA tâm thu >140 mmHg hoặc và
HA tâm trương > 90 mmHg hoặc và đang điều trị thuốc hạ HA hàng ngày [93], Trị số huyết áp được lấy trung bình của 2 lần đo chính xác ở tư thế ngồi
ở 2 thời điểm khám [87], Trong phần lớn nghiên cứu dịch tễ tại cộng đồng vì
là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ thực hiện ở một thời điểm khám, vì vậy tỷ lệ THA độ 1 có thể cao hơn thực tế [76], Atallah và cộng sự [52] đã cho thấy tỷ
lệ THA khi đo hai thời điểm khám thấp hơn có ý nghĩa so với chỉ một thời điểm khám; tuy nhiên trong nghiên cứu của Keamey [69] để tính tỷ lệ THA của toàn cầu, tập hợp tất cả các nghiên cứu thỏa mãn điều kiện từ năm 1980 đến năm 2002, chỉ có 3 nghiên cứu là thực hiện đo HA ở hai thời điểm khám, còn lại đều thực ở một thời điểm khám Một điều cần lưu ý trong chẩn đoán THA là bao gồm cả những đối tượng đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày cho
dù trị số HA là bao nhiêu và những trường hợp này được xếp một nhóm riêng
mà không thế phân độ THA được
1.7 Gánh nặng của THA đối vói sức khỏe công cộng
THA là một yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước công nghiệp cũng như các nước đang phát triển và là nguyên nhân chủ yếu cho gánh nặng bệnh tật của toàn cầu THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với tử vong với 7,1 triệu người tử vong do THA, chiếm khoảng 13% số người tử vong toàn cầu và là nguyên nhân đứng thứ ba, sau suy dinh dưỡng và tình dục không an toàn, gây ra gánh nặng bệnh tật trên thế giới với 64 triệu người sống trong tàn phế, chiếm 4,5% của gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu [57],
Trang 29Theo Keamey [69], ước tính tổng số người trưởng thành bị THA trên toàn cầu năm 2000 là 972 triệu người, bao gồm 333 triệu người ở các nước kinh tế phát triển và 639 triệu người ở các nước đang phát triển và dự đoán vào năm 2025 thì con số người trưởng thành bị THA sẽ lên đến 1,56 tỷ người, tăng khoảng 60% so với năm 2000; trong đó các nước kinh tế đang phát triển
có 1,15 tỷ người bị THA, gia tăng 80% Năm 2002, WHO ước tính ít nhất 50% trường hợp bệnh tim mạch và ít nhất 75% đột quỵ do nguyên nhân THA
và WHO cho rằng HA tăng hơn mức lý tưởng (HA tâm thu >115 imnHg) là nguyên nhân của 62% bệnh tim mạch và 49% bệnh tim thiếu máu cục bộ; ngoài ra HA cao hơn mức lý tưởng là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho mọi trường hợp tử vong trên toàn thế giới [61], Mới đây, theo thống kê của WHO năm 2009 [90], bệnh tim mạch chiếm >1/3 (36%) nguyên nhân tử vong trên thế giới và đang góp phần gia tăng gánh nặng bệnh tật của thế giới
Các nghiên cứu dịch tễ học dọc theo thời gian, đa trung tâm và số lượng đối tượng lớn cho thấy rằng ở những người 40-69 tuổi, khi gia tăng mỗi
20 mmHg HA tâm thu thì gia tăng gấp đôi tỷ lệ chết bởi đột quỵ và bệnh tim thiếu máu cục bộ [70], HA >140/90 mmHg tìm thấy khoảng 74% ở người suy tim, 69% người bị nhồi máu cơ tim lần thứ nhất và 77% người bị đột quỵ lần đầu tiên [72] Nghiên cứu ở người > 35 tuổi tại 6 nước ở châu Âu (Đức, Phần Lan, Tây Ban Nha, Anh, Thụy Điến, Italia) và hai nước bắc Mỹ (Mỹ, Canada) [91] cho thấy tỷ lệ THA liên quan mạnh với tỷ lệ chết do đột quỵ (r= 0,78) và liên quan hơn mức trung bình với bệnh tim mạch chung (r= 0,44)
Gánh nặng bệnh tật và tử vong của THA ở một số nước trên thế giới cũng biểu hiện khá nghiêm trọng như ở Mỹ; Canada; Anh và Wales; Nhật Bản; Singapore Tại Việt Nam [5], số liệu thống kê tại các bệnh viện cho thấy rằng, THA là nguyên nhân đứng thứ ba gây tử vong và nguyên nhân thứ 6 đối với gánh nặng của bệnh tật trong các bệnh viện Nghiên cứu tại
Ba Vì, Hà Nội từ năm 1999-2003 [77], tỷ lệ chết do nguyên nhân tim mạch
Trang 30đứng hàng đầu với 32,2%, trong đó hai bệnh tim mạch gây chết chủ yếu là đột quỵ và suy tim
1.8 Tình hình bệnh tim mạch trên thế giới và Việt Nam
1.8.1 Trên thế giới
THA là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng tại các nước trên thế giới vì nó chiếm tỷ lệ khá cao, có xu hướng ngày càng tăng và gây ra nhiều biến chứng gây tử vong và tàn phế Theo đánh giá của tổ chức Y tế Thế giới và Ngân hàng Thế giới có khoảng 25 triệu người trên thế giới sẽ chết do bệnh tim mạch vào năm 2025 Tức là 1/3 số người tử vong trên thế giới là do bệnh tim mạch, trong đó cứ 4 giây có 1 người nhồi máu cơ tim, cứ 5 giây có 1 một người bị tai biến mạch máu não và hiện nay có khoảng 1 tỷ người đang sống chung với THA
Theo ước tính của các trung tâm khoa học, hàng năm THA là nguyên nhân gây tử vong cho khoảng 7 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế) Ở những người lớn tuổi, tuổi càng cao thỉ số người bị THA càng nhiều, HA càng cao thì tỷ lệ tử vong càng lớn và trên 75% các trường hợp bệnh lý đều có liên quan tới HA cao Có sự liên quan chặt chẽ giữa trị số HA với nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước tuy có khác nhau nhưng đều rất cao: từ các nước châu Á như Đài Loan là 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan là 37%, Hoa Kỳ là 24%
Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ THA bình thường là 39%, 31% thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA Tỷ lệ mắc theo tuổi ở nam là 39% so với nữ là 23,1% Nhưng tỷ
lệ THA ở nam chỉ cao hơn nữ lứa tuổi trước tuổi 45 Ở độ tuổi 45 - 54 tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở
nữ cao hơn nam [47] THA được coi là nguyên nhân chủ yếu trong 11,4% các
Trang 31ca tử vong tại Mỹ năm 2003 Trong vòng 10 năm (1993-2003), tỷ lệ tử vong
do THA tăng 29,3%, số ca tử vong tăng 56,1% Kiểm soát huyết áp có hiệu quả cũng làm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng của các bệnh tim mạch Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40%
Tăng huyết áp ngày nay vẫn đang là vấn đề thời sự Theo ước tính của các nhà khoa học Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (tương đương 972 triệu người, riêng các nước đang phát triển chiếm 639 triệu) và sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh tăng huyết áp trên toàn thế giới khoảng 1,56 tỷ người mà 3/4 trong số đó là người thuộc nước đang phát triển [27]
1.8.2 Tại Việt Nam
Số ca tăng huyết áp ở Việt Nam tăng rất nhanh Năm 1960 toàn dân chỉ
có khoảng 1% tăng huyết áp, nhưng năm 1990 con số này là 8-9% người trưởng thành, đến năm 2008 con số này lên 25,5% và hiện ở mức 30% người trưởng thành, tương đương 10 triệu người Việt tuổi từ 25-64 bị huyết áp cao
Do áp lực cuộc sống và công việc, chế độ ăn quá nhiều muối, thịt và mỡ động vật, ít rèn luyện thể lực, ít rau xanh, trong đó lượng thịt bình quân sử dụng đã tăng gấp ba so với các thập kỷ trước, nhưng lượng rau xanh không đổi trong khoảng 20 năm gần đây và chỉ bằng 1/2 so với lượng sử dụng được Tổ chức
Y tế thế giới khuyến cáo Là những căn nguyên chính khiến số ca mắc tăng huyết áp tăng cao ở Việt Nam Người bệnh tăng huyết áp ngày càng trẻ hóa, rất nhiều người trẻ đang mắc bệnh tăng huyết áp Những bệnh nhân trẻ này không có kiến thức về dinh dưỡng
Ở Việt Nam tần suất THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển Các số liệu điều tra thống kê tăng huyết áp Việt Nam cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp năm 1960 chiếm 1,6% dân số, 1982 là 1,9%, năm 1992 tăng lên 11,79% dân số, 2002 ở Miền Bắc là 16,3%, riêng thành phố Hà Nội có tỷ lệ
Trang 3223,2%, còn năm 2004 thành phố Hồ Chí Minh là 20,5% [3] và năm 2007 tại Thừa Thiên Huế là 22,77% [32]
Tại Việt Nam, Thống kê của Bộ Y tế năm 2002 cho tỷ lệ tăng huyết áp
vô căn của dân Việt đứng hàng thứ 6 trong 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất sau nhóm bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm amidan cấp, viêm phế quản
1.9 Tình hình nghiên cứu bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
1.9.1 Trên thế giới
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới về bệnh THA
ở người trưởng thành: tại Canada (1995) tỷ lệ THA là 22%, Mêhicô (1998) 19,4%; Tây Ban Nha (1996) 30%; Cu Ba (1998) 44%; Trung Quốc (2001) 27%; Thái Lan (2001) 20,5%; Singapore (1998) 26,6%; Châu Phi (2007) 21,3% [73] Một nghiên cứu ở Brasil, với nhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [56]
Nhiều nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc THA trên khắp thế giới, từ các nước đã phát triển cũng như các nước đang phát triển, từ các dân tộc cũng như các chủng tộc khác nhau với đa dạng về nhóm tuổi và không giống nhau
về phương pháp nghiên cứu, do vậy tỷ lệ THA cũng rất khác nhau theo từng nghiên cứu Theo Kearney [68], [69] tỷ lệ THA trên thế giới thay đổi trong khoảng dao động rất lớn, tỷ lệ thấp nhất ở vùng nông thôn phía bắc Ấn Độ (5,2%), cao nhất ở Ba Lan (70,7%) Tỷ lệ THA toàn cầu năm 2000 ở người trưởng thành ≥ 20 tuổi là 26,4% Trong các nước công nghiệp phát triển thì tỷ
lệ THA dao động trong khoảng 20-50% (trung bình 37,3%) cao hơn so với các nước đang phát triển (22,9%), mặc dù ở các nước này có tính không đồng nhất lớn về tỷ lệ THA [69] Mặc dù số liệu quốc gia toàn thể về tỷ lệ THA không hiện hữu trong phần lớn các quốc gia trong thế giới đang phát triển nhưng tỷ lệ THA cao nhất được báo cáo từ các quốc gia châu Mỹ La tinh như Mexico, Paraguay và Venezuela với khoảng dao động từ 32-36,9%, trong khi
tỷ lệ thấp nhất là ở một số nước châu Phi vùng dưới sa mạc Sahara với tỷ lệ
Trang 33ước tính là 14% Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ THA ở mức trung bình khoảng 20-30%;
Ở một số quốc gia, các cuộc điều tra được lập lại theo thời gian cho phép ước tính sự thay đổi về tỷ lệ THA theo thời gian Nhìn chung tỷ lệ hiện mắc THA trên toàn cầu có xu hướng tăng theo thời gian, đang và sẽ trải qua;
tỷ lệ THA năm 2000 toàn cầu là 26,4% nhưng ước tính đến năm 2025 tỷ lệ này lên đến 29,2%; số liệu hiện tại của các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA vẫn duy trì hoặc giảm ở các nước kinh tế phát triển và gia tăng ở các nước kinh tế đang phát triển trong thập niên vừa qua [64], [68], [69], [85] Nghiên cứu tại Mỹ, Anh, Đức, Phần Lan, Bỉ, Hy Lạp và Úc cho thấy tỷ lệ THA không thay đổi hoặc có xu hướng giảm [64],[68] Ngược lại, ở các nước kinh
tế đang phát triển thì tỷ lệ THA có xu hướng tăng theo thời gian như tại Trung Quốc, Singapore
Feeman thấy rằng 71% số bệnh nhân nam và 54% số bệnh nhân nữ có chỉ số cholesterol (CRE = Cholesterol Retension Fraction) tăng cao [58] Tương tự, Fiandra và cs ở Viện lão học thuộc trường Đại học Turin (Italia) nghiên cứu trên 1.369 người (tuổi trung bình 76,1 ± 6,9, 686 nam, 451 người
có tăng huyết áp) cho biết rằng cholesterol toàn phần ở người tăng huyết áp cao hơn rõ rệt so với cholesterol toàn phần ở người có huyết áp bình thường với p < 0,001) [59]
Năm 1991, Yu - An Ding và cs ở Đài Loan đã thông báo kết quả nghiên cứu trên 71 bệnh nhân tăng huyết áp (tuổi từ 19 đến 84) và 37 người bình thường trong nhóm đối chứng (tuổi từ 22 đến 72), các tác giả thấy rằng những người tăng huyết áp thì lượng cholesterol toàn phần, LDL - C và TG cao hơn so với nhóm đối chứng có huyết áp bình thường; các bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn III có lượng TG cao nhất, các bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn I có lượng TG thấp nhất; ở các bệnh nhân tăng huyết áp thì TG là yếu tố cho phép đánh giá hoạt hoá của tiểu cầu trong cơ thể, sự hoạt hoá tiểu cầu này
Trang 34có vai trò thúc đẩy các biến chứng mạch máu do xơ vữa trong bệnh tăng huyết
CT thấp hơn, nguy cơ tương đối duy trì gần như hằng định Người ta cũng thấy rằng có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa TG với nguy cơ nhồi mãu não, TG tăng 1 mmol/l thì nguy cơ tương đối tăng 1,12 lần Người
ta còn thấy có mối tương quan nghịch tuyến tính giữa HDL - C và nguy cơ nhồi máu não [71]
1.9.2 Tại Việt Nam
Ngược với tình trạng THA ngày càng gia tăng, sự nhận thức, điều trị dự phòng và kiểm soát của nhiều người bệnh ở nhiều nước và Việt Nam còn chưa đầy đủ Điều đó dẫn đến biến chứng của bệnh đang ngày càng gia tăng, như trong nghiên cứu của Đào Duy An [22] chỉ có 17,8% bệnh nhân biết THA nhờ khám định kỳ
Tại Việt Nam Thư viện điện tử trực tuyến Việt Nam, thống kê cũng đã cho thấy tần suất THA cũng gia tăng Phạm Gia Khải và cộng sự nghiên cứu
tỷ lệ mắc bệnh THA ở cộng đồng năm 1998 là 16,09% [24], năm 2001-2002
là 16,32% [23] Tô Văn Hải và cộng sự năm 2002 tỷ lệ mắc bệnh THA ở cộng đồng là 18,69% [14] Tại Huế, thống kê cho thấy tỷ lệ THA tại bệnh viện Trung Ương Huế năm 1980 là 1%, năm 1990 là 10%, 2007 là 21%
Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thanh Tùng [19], tỷ lệ THA của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 20,5% Ngược với tình trạng THA ngày
Trang 35càng gia tăng, sự nhận thức, điều trị dự phòng và kiểm soát của nhiều người bệnh ở nhiều nước và Việt Nam còn chưa đầy đủ Điều đó dẫn đến biến chứng của bệnh đang ngày càng gia tăng, như trong nghiên cứu của Đào Duy
An chỉ có 17,8% bệnh nhân biết THA nhờ khám định kỳ
Về hậu quả của THA là TBMMN, Hoàng Khánh ghi nhận trong 1179 bệnh nhân TBMMN có đến 805 trường hợp do THA (68,28%), nhận thấy
tỷ lệ không biết THA ở thể xuất huyết và thể nhồi máu não tương ứng là 80,32% và 64,4%, biết nhưng điều trị không đúng cách tương ứng là 90,16
và 75% [25]
Theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60 tuổi tỷ lệ THA là 9,2% [28] Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ THA là 16,05% [22] Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ THA là 23,2% [22]
Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% [23] Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5012 người) cho thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%; trong đó THA độ 1, độ
2, độ 3 lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9% Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm 11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ chiếm 19,1% [23] Năm 1982, theo điều tra chung, tỷ lệ THA chung là 1,95%
và ở người trên 60 tuổi là 9,2% [27]
Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ THA ở Việt Nam là 16,05%[3]
Tỷ lệ hiện mắc của THA trong cộng đồng dân số tăng nhanh theo thời gian:
Năm 1960, tỷ lệ THA theo Đặng Văn Chung [9] chỉ chiếm 1%; đến năm 1992, nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh [47] tăng lên 11,7%; đến năm 2002,
Trang 36nghiên cứu của Phạm Gia Khải [23] tăng lên đến 16,32% và đến năm 2008 theo Phạm Gia Khải [24] tỷ lệ THA tại Việt Nam lên đến 27,2%; như vậy trong khoảng gần 50 năm mà tỷ lệ THA trong cộng đồng nước ta tăng gấp hơn 20 lần Xu hướng gia tăng tỷ lệ THA cũng xảy ra tại Hà Nội [45] [23], [14] và tại Ba Vì [77]
Năm 1999 Nguyễn Trung Chính và cs nghiên cứu rối loạn Lipoprotein
ở 43 bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi và cho biết: tăng từ 3 - 5 chỉ tiêu (TG, CT, LCL - C, HDL - C, CT/HDL - C) chiếm 73,08% Trong năm chỉ tiêu có 3 chỉ tiêu tăng nhiều là CT, LDL - C, TG: so sánh với trị số tối đa của người bình thường thì CT tăng 11%, LDL - C tăng 6,6%, TG tăng 27,2%, HDL - C giảm 10,66% [8]
Năm 1994, Trần Thanh Hà và Phạm Khuê đã nghiên cứu mối quan hệ giữa THA và tăng CT máu ở 543 người (281 nam) từ 45 tuổi trở lên và đã đưa
ra các nhận xét như sau [13]:
- Tỷ lệ người THA tăng dần theo nhóm tuổi, trong khi tỷ lệ người tăng
CT máu cũng như tỷ lệ có tăng cả hai giá trị giảm dần theo tuổi
- Khi đã có THA hoặc CT máu thì khả năng CT máu hoặc THA kèm theo cao hơn Vì vậy, ảnh hưởng của CT máu kéo theo THA khá cao (> 50%)
và đặc biệt ở nhóm tuổi 75 - 90 thì 98% nam và 85% nữ THA khi đã có tăng
CT [35]
Gần đây có một số nghiên cứu đề cập tới các rối loạn lipid máu ở người THA như nghiên cứu của Huỳnh Văn Minh và cs ở Huế (65 bệnh nhân THA trên 40 tuổi và 24 người trong nhóm chứng) Nguyễn Trường Sơn và cs ở Hải Phòng (80 bệnh nhân và 100 người bình thường); Chu Vinh và cs ở Quân Y Viện 121 Cần thơ (124 bệnh nhân và nhóm chứng 52 người); Cát Kim Ngọc
và cs ở Viện 175 (54 bệnh nhân THA và 59 người bình thường) Các tác giả
Trang 37đều có nhận xét là các rối loạn lipid máu hay gặp ở các bệnh nhân THA, chiếm tỷ lệ khoảng từ 46 - 75%, hay gặp các thể tăng CT máu đơn thuần và tăng lipid máu hỗn hợp, có tác giả thấy có hiện tượng hạ thấp HDL - C [30], [33], [38], [50]
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân đang sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh ít nhất là ba năm đã được chuẩn đoán mắc bệnh cao huyết áp Đánh giá thực trạng bệnh theo giới, tuổi, nghề nghiệp
Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu hệ thống để chọn ra các nhóm theo độ tuổi, giới và nghề nghiệp đối với người mắc bệnh cao huyết áp (BN) và người không bị cao huyết áp (ĐC) tổ chức khám, xét nghiệm lấy một số chỉ tiêu về hình thái, sinh lý, sinh hóa tại địa điểm khám: bệnh viện đa khoa thành phố
Hà Tĩnh
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Hà Tĩnh là một tỉnh ở dải đất miền Trung, nằm trong vùng du lịch Bắc Trung Bộ, phía bắc giáp Nghệ An, phía nam giáp Quảng Bình, phía tây giáp Lào, phía đông giáp biển Đông với bờ biển dài 137 km Địa hình đa dạng, có
đủ các vùng đồi núi, trung du, đồng bằng và biển Là tỉnh nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Hà tĩnh là tỉnh có dân số chủ yếu là người kinh chiếm tới 99% dân số Các dân tộc Thái, Mường, Chứt, Lào chỉ có vài trăm hoặc vài chục, thường sống ở một số xã thuộc huyện Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang Người dân sống tại thành phố Hà Tĩnh phần lớn theo đạo Phật, Công giáo
Thành phố Hà Tĩnh gồm 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 phường và 6 xã, Với dân số 1.280.782 người, có mật độ 207 người/km2
Diện tích 6.055,6 km2
Địa điểm chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Người dân sống trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh và Bệnh viện đa khoa thành phố Hà Tĩnh
Trang 392.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nhằm làm cơ sở lý luận khoa học để chứng minh các vấn đề nghiên cứu đưa ra
Thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo: Từ các thống kê của tổ chức Y tế Thế giới, từ các thống kê của các viện Tim mạch, từ các số liệu nghiên cứu trước đó về bệnh lý tim mạch…
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.3 Cỡ mẫu nghiên cứu
* Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
Z21-α/2: giá trị giới hạn tương ứng với độ tin cậy (Z21-α/2 = 1,96với độ tin cậy là 95%)
d: độ chính xác tương đối ước lượng, chọn d=0,02 với α=0,05 p: tỷ lệ mắc bệnh tim mạch từ các nghiên cứu trước Chọn p= 20%
Thay vào công thức trên ta có:
n = 1,962× 0,2×(1-0,2)/0,022= 1533 Chúng tôi chọn cỡ mẫu nghiên cứu trong điều tra thực nghiệm là
n = 1500 người dân, nhỏ hơn dân số tất cả 3 phường (17.400) là hoàn toàn phù hợp
Khoảng cách mẫu
k = N / n N: Số người bị bệnh THA sống tại 3 phường của thành phố Hà Tĩnh n: Cỡ mẫu
Trang 40Thay vào công thức ta có:
k = 17.400/1530 = 11
Khi tiến hành điều tra thực nghiệm để xác định mối liên quan của bệnh THA tới các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa máu ở người bị bệnh cao huyết áp tại thành phố Hà Tĩnh thì trong 1500 người dân tham gia điều tra chúng tôi chọn ra 300 người dân, gồm 150 bệnh nhân bị bệnh cao huyết áp (BN) và 150 ĐC (không bị bệnh cao huyết áp)
* Phương pháp chọn mẫu:
Thành phố Hà Tĩnh có 10 phường và 6 xã: phường Hà Huy Tập, phường Bắc Hà, phường Nguyễn Du, phường Trần Phú, phường Thạch Quý, phường Tân Giang, phường Đại Nài, phường Thạch Linh, phường Nam Hà, phường Văn Yên, xã Thạch Trung, xã Thạch Môn, xã Thạch Hưng, xã Thạch
Hạ, xã Thạch Bình, xã Thạch Đồng Việc chọn mẫu nghiên cứu được tiến hành như sau:
Giai đoạn 1: Trong 10 phường và 6 xã của thành phố Hà Tĩnh chúng tôi chia làm 3 khu vực: phía Bắc, phía Tây - Tây Nam, phía Đông - Đông Nam, rồi lấy ngẫu nhiên 3 phường trong 3 khu vực bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên: P Thạch Quý, P Hà Huy Tập, P Thạch Linh
Giai đoạn 2:
- Theo thống kê số dân sinh sống tại 3 phường (P Thạch Quý, P Hà Huy Tập, P Thạch Linh) là 17.400 nghìn người dân, chọn ngẫu nhiên 1.500 nghìn người tiến hành phát phiếu điều tra
- Từ 3 phường đã chọn lập danh sách người bị bệnh cao huyết áp và người không bị bệnh cao huyết áp Dựa trên danh sách này tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu
là k = 11
+ Xác định đơn vị mẫu đầu tiên (i) nằm giữa 1 và k bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn