1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các loài động vật trong tục ngữ việt nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

84 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 742,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các câu tục ngữ nói đến các loài động vật, đặt chúng dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận để hiểu được đặc điểm tư duy và cách biểu đạt bằng ngôn ngữ của

Trang 2

NGUYỄN HỮU ĐIỂM

C¸C LOµI §éNG VËT TRONG TôC NG÷ VIÖT NAM D¦íI GãC NH×N NG¤N NG÷ HäC TRI NHËN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐẶNG LƯU

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.2 Ngôn ngữ học tri nhận 5

1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ học tri nhận 5

1.2.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 9

1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận 13

1.3.1 Ý niệm - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 13

1.3.2 Ý niệm - đơn vị nội dung của bức tranh thế giới được phản ánh bằng ngôn ngữ 18

1.3.3 Ý niệm cơ sở và ý niệm hệ thống 22

1.3.4 Phân biệt hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm 22

1.4 Biểu trưng hóa 23

1.4.1 Biểu trưng hóa vật thể 23

1.4.2 Biểu trưng hóa ngôn ngữ 24

1.5 Vài nét về tục ngữ Việt Nam 24

1.5.1 Khái niệm 24

1.5.2 Nhận diện tục ngữ 25

1.5.3 Những đặc trưng cơ bản của tục ngữ 28

1.5.4 Phân loại tục ngữ 30

Tiểu kết chương 1 33

Trang 4

2.1 Hệ thống các con vật được phản ánh trong tục ngữ 35

2.1.1 Vật nuôi gắn với cuộc sống con người 36

2.1.2 Các loài động vật hoang dã trong thiên nhiên 38

2.2 Về cách thức mô tả đặc điểm 39

2.2.1 Mô tả chính thể 39

2.2.2 Mô tả bộ phận 46

2.3 Về cách thức tri nhận đặc điểm, thuộc tính của các loài động vật 48

2.3.1 Đặc điểm bên ngoài 48

2.3.2 Thuộc tính bên trong 50

Tiểu kết chương 2 52

Chương 3 Ý NIỆM VỀ CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 53

3.1 Nguyên tắc “dĩ nhân vi trung” trong xây dựng ý niệm về các loài động vật 53

3.2 Những ý niệm về các loài động vật trong tục ngữ 55

3.2.1 Ý niệm về vẻ đẹp thể chất 56

3.2.2 Ý niệm về vẻ đẹp tâm hồn 57

3.2.3 Ý niệm về sự xấu xí của ngoại hình 59

3.2.4 Ý niệm về sự xấu xa của tính cách 60

3.2.5 Ý niệm về sức mạnh 62

3.2.6 Ý niệm về sự yếu ớt 65

3.2.7 Ý niệm về sự khôn ngoan 66

3.2.8 Ý niệm về sự ngu dốt 69

3.2.9 Ý niệm về sự phản kháng 70

3.2.10 Ý niệm về sự cam chịu 71

Tiểu kết chương 3 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tục ngữ nói riêng, thành ngữ, ca dao nói chung là kho tàng văn

học dân gian quý báu của người Việt Nó thực sự là một tài sản vô giá, nơi lưu giữ “những hòn ngọc quý” không dễ gì nhạt phai giá trị dù phải trải qua

sự sàng lọc khắt khe của thời gian và thị hiếu của người thưởng thức Đến với tục ngữ của người Việt là đến với địa chỉ lưu giữ cái đẹp, đến với kho tàng lưu giữ trải nghiệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ

1.2 Vì vậy từ đầu thế kỉ XIX đến nay, tục ngữ là một đối tượng được

nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên các tác giả chỉ dừng lại tiếp cận đối tượng trên bình diện văn học dân gian, thi pháp, cấu trúc hoặc ngữ nghĩa học Ngữ nghĩa học cấu trúc, ngữ nghĩa học hình thức đã làm nhiệm vụ như những tia sáng soi rõ các lớp nghĩa, giúp người đọc hiểu tường tận các lớp nghĩa trong tục ngữ Nhờ vậy, người tiếp nhận không chỉ hiểu những nội dung ý nghĩa mà còn yêu thích, quý trọng hơn vốn di sản quý báu của dân tộc mình, càng tha thiết yêu hơn vẻ đẹp tâm hồn của người dân đất Việt

1.3 Phát huy cách nhìn nhận trên, ngôn ngữ học tri nhận tiếp tục công

việc nghiên cứu, tìm hiểu ngôn ngữ ở một góc nhìn mới Đây là một khuynh hướng mới trong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỉ XX Humboldt cho rằng, ngôn ngữ phải được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với ý thức và tư duy, với văn hóa và cuộc sống tinh thần con người

Theo ông, ngôn ngữ không phản ánh trực tiếp thế giới bên ngoài mà nó cho thấy cái cách thức riêng của mỗi dân tộc trong việc giải thích thế giới Ngôn ngữ khác nhau thì thế giới khác nhau, các ngôn ngữ khác nhau không phải là những cách biểu đạt khác nhau về thế giới mà là những cách nhìn thế giới khác nhau

Trang 6

Cũng theo ông, cần phải phân biệt giữa “hình thức bên trong” và “hình thức bên ngoài” của ngôn ngữ, của từ; trong đó “hình thức bên trong” gắn với thế giới quan của cộng đồng bản ngữ, còn “hình thức bên ngoài” thì gắn với ngữ âm, ngữ pháp

Công việc nghiên cứu “hình thức bên trong” này thường chỉ tập trung vào các từ, chứ không nhằm tới những kết cấu lớn hơn Chính vì thế, chúng tôi muốn dùng ngữ liệu tục ngữ Việt để mở ra một hướng mới trong nghiên cứu về “định danh” và “hình thức bên trong” của ngôn ngữ

Để minh chứng cho những lập luận nêu trên, chúng tôi mạnh dạn tìm

hiểu đề tài Các loài động vật trong tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngôn

ngữ học tri nhận nhằm lí giải và khám phá nét độc đáo của tư duy và cách

biểu đạt bằng ngôn ngữ của người Việt

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bộ phận tục ngữ có đề cập đến các loài động vật trong các câu tục ngữ

Việt Nam

2.2 Phạm vi khảo sát

Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát tư liệu ở bộ Kho tàng

tục ngữ Việt Nam tập 1 và tập 2 của nhóm soạn giả do GS Nguyễn Xuân

Kính chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các câu tục ngữ nói đến các loài động vật, đặt chúng dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận để hiểu được đặc điểm tư duy và cách biểu đạt bằng ngôn ngữ của người Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, khảo sát bộ phận tục ngữ nói về các loài động vật trong tục ngữ Việt Nam

Trang 7

- Vận dụng ngôn ngữ học tri nhận để lý giải các lớp ý nghĩa của bộ phận tục ngữ nói về các loài động vật trong kho tàng tục ngữ Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Với nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sẽ sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp lý thuyết được dùng để nêu và luận giải một số vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận làm cơ sở cho việc xử lý tư liệu

- Phương pháp khảo sát, thống kê được dùng để xác lập tư liệu nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp miêu tả dùng để làm rõ một số đặc điểm của bộ phận tục ngữ nói về các loài động vật

- Phương pháp phân tích diễn ngôn được dùng nhằm làm rõ các lớp ý nghĩa và cách biểu đạt bằng ngôn ngữ của bộ phận tục ngữ dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được

triển khai trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Cách thức tri nhận các loài động vật trong tục ngữ Việt Nam Chương 3: Ý niệm về các loài động vật trong tục ngữ Việt Nam

dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có thể nói, từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tục ngữ với những quy mô và hướng tiếp cận khác nhau Qua tìm đọc các công trình của các tác giả trong nước về tục ngữ, chúng tôi thấy tục ngữ đã được nghiên cứu dưới các góc độ: folklore, Thi pháp học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học Như vậy, nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học không còn là một vấn đề mới Trên thực tế, đã có rất nhiều thành tựu có giá trị liên quan đến hướng tiếp cận này Đó là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên, Nguyễn Thái Hòa, Hoàng Văn Hoành, Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp và nhiều công trình chuyên luận, luận án Những năm gần đây, có một số tác giả đã tiếp cận tục ngữ, ca

dao người Việt từ góc độ tri nhận ngôn ngữ học như Ý niệm của người Việt về

hôn nhân và quan hệ vợ chồng trong ca dao từ bình diện tri nhận của thạc sĩ

Lê Thị Thắm (Đại học Vinh, 2008), Ý niệm của người Việt về tình yêu lứa đôi

trong ca dao từ bình diện tri nhận của Nguyễn Thị Hà (Đại học Vinh, 2008), Quan niệm của người Nghệ về tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh của Vương

Thị Hồng Sâm (Đại học Vinh, 2010)

Ở Việt Nam “tri nhận” được biết đến trong những năm cuối thế kỉ XX, tuy nhiên hướng nghiên cứu này chỉ rộ lên vào những năm gần đây Nổi bật

và đi tiên phong phải kể đến Lý Toàn Thắng với Ngôn ngữ học tri nhận - từ lí

thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt (2005); Trần Văn Cơ với Khảo luận

ẩn dụ tri nhận (2007), Ngôn ngữ học tri nhận - Ghi chép và suy nghĩ (2009),

Từ điển - Tường giải và đối chiếu (2011) Đây là những cuốn sách tiếng Việt

cần thiết cho những ai bước đầu muốn tiếp cận và đi vào tri nhận luận Bên

Trang 9

cạnh còn có những đề tài nghiên cứu, những bài báo vận dụng lý thuyết tri

nhận giải quyết một vấn đề cụ thể, ví dụ: Võ Thị Mỹ Dung với Tìm hiểu tiếng

Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Luận văn thạc sĩ, 2003), Lê Đình

Tường với Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ học

tri nhận (Ngôn ngữ, số 9, 2008), Phan Thế Hưng với Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Luận án tiến sĩ, 2008), Trần Bá Tiến với Dạy thành ngữ tiếng Việt cho người nước ngoài theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận (Tạp chí khoa học trường Đại học Vinh, số 2B, 55-60, 2010), Ngoài ra, còn một

số công trình nghiên cứu khác tuy không nhắc đến ngôn ngữ học tri nhận, nhưng tinh thần và vật chất nằm trong trung tâm chú ý của ngôn ngữ học trin

nhận Chẳng hạn Nguyễn Đức Tồn với Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc

của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002), Trần Ngọc

Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Nxb TP Hồ Chí Minh, 2004)

Đó là những gì chúng tôi có thể kế thừa, tiếp thu để đi vào giải quyết

những yêu cầu đặt ra ở đề tài Các loài động vật trong tục ngữ Việt Nam dưới

góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

1.2 Ngôn ngữ học tri nhận

1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ học tri nhận

Khái niệm tri nhận (từ Latinh), có hai nghĩa: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Như vậy, nó biểu hiện một quá

trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) - tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất

cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người

Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính

được сải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh

Trang 10

thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh v.v ) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người

Tri nhận bao quát cả tri thức và tư duy được thể hiện bằng ngôn ngữ

Vì vậy, tri nhận, tri nhận luận liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ học [Мaslova (Маслова 2005)] Như vậy, ngôn ngữ và các dạng hoạt động của con người

có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau; ngôn ngữ, văn hoá và xã hội luôn là chìa khoá để hiểu hành vi của con người

Schwars 1992 cho rằng, quá trình tri nhận cần được khảo sát không chỉ trên cấp độ cao - tư duy, lời nói - mà còn cả trên cấp độ cảm tính - tri giác, cảm giác - vận động thường xảy ra trong những hành động tiếp xúc đơn giản với thế giới Với nghĩa đó, tri nhận là quá trình liên quan đến cả sự nhận thức khoa học về thế giới, cả sự nhận biết đơn giản (đôi khi vô thức, tiềm thức) hiện thực bao quanh con người

Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán (computation), nghĩa là xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác - thành mã khác, thành cấu trúc khác (Rickheit, Strohner 1993)

Nhận thức, tri nhận - cùng được dịch từ một từ tiếng Anh là cognition

Từ này lại có nguồn gốc từ tiếng La tinh bao gồm hai phần hợp lại cognitio có nghĩa là nhận thức và cognitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Cả hai thuật

ngữ này đều liên quan đến quá trình nhận thức, quá trình tư duy của con người, nghĩa là quá trình con người phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình Bản chất của vấn đề được thể hiện ở mấy khía cạnh sau:

Thứ nhất: thuật ngữ nhận thức chỉ quá trình chung của việc con người

tìm hiểu thế giới, bao gồm thế giới tự nhiên, xã hội và con người, đó là cái đích chung mà tất cả các khoa học hướng tới, nó không riêng gì cho một khoa học nào Vì tính chất chung đó, tính chất khái quát mang tính mục đích đó của thuật ngữ nhận thức, nên không thể dùng nó như một định ngữ cho các khoa học

Trang 11

Thứ hai: nhận thức và tri nhận có nội hàm, đối tượng, phương pháp và

phương tiện nghiên cứu riêng

Nếu khoa học nhận thức hướng tới chân lí trong khi nghiên cứu thế giới hiện thực bằng phương pháp và phương tiện khoa học, đó là nhận thức khoa học, thì ngôn ngữ học tri nhận định hướng nghiên cứu tới quá trình tinh thần của con người nhờ vào ngôn ngữ tự nhiên của con người Quá trình tinh thần của con người được nhắc đến ở đây là quá trình hình thành và phát triển tri thức (sự hiểu biết) và ở cấp độ cao hơn - trí tuệ - trong não của con người bằng những phương tiện ngôn ngữ: âm, từ vựng, ngữ pháp Do đó, ngôn ngữ được xem là công cụ của tư duy Quá trình tinh thần liên quan mật thiết với quá trình thu nhận, xử lí, chế biến và lưu trữ thông tin trong não

Tri nhận là đối tượng nghiên cứu không chỉ của ngôn ngữ học, mà của các khoa học tri nhận Ngôn ngữ học nghiên cứu mối liên hệ giữa các hệ thống ngôn ngữ với sự hiểu biết

Thuộc các bình diện nghiên cứu vấn đề tri nhận còn có khả năng tri nhận của con người - khả năng nói, nét điển hình khu biệt con người không chỉ với các loài động vật, mà với cả máy móc Cùng với khả năng nói, con người còn có những khả năng tri nhận khác như là khả năng học tập, khả năng giải quyết vấn đề, suy đoán, kết luận, lập luận, nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, nếm, hành động theo ý chí của mình

Ngày nay các nhà tri nhận luận cho rằng cần thiết phải lôi cuốn vào phạm vi nghiên cứu vấn đề tri nhận những nhân tố tiến hóa của con người, những nhân tố văn hóa học và cả các quan hệ xã hội

Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu tri nhận có những vấn đề sau đây: (1) Những quá trình tâm lí nào có liên quan đến tri nhận và xác tín tất

cả những bình diện của nó bắt đầu từ việc xử lí tín hiệu cảm giác đến những quá trình cực kì phức tạp như giải quyết vấn đề, phân tích vai trò của cảm xúc trong tri nhận

Trang 12

(2) Trả lời câu hỏi: tri thức được tổ chức như thế nào, và có thể hình dung nó dưới dạng những hệ thống gì? Tri nhận có thể đưa đến những kết quả

và những đối lập nào? Cần làm rõ sự khác nhau giữa hai loại tri thức: biết cái

gì và biết như thế nào?

(3) Những mô hình nào và những phương pháp nào mới có thể đề xuất

để giải thích tri nhận?

Nghiên cứu tri nhận như là một sức mạnh đang được hình thành và đang hình thành ra một cách hiểu thế giới; nghiên cứu thuộc tính đa chức năng của tri nhận, mối liên hệ của nó với ý chí và hoạt động sáng tạo của con người

Ngôn ngữ học tri nhận (Congnitive Linguitics) là một khuynh hướng ngôn ngữ học ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX, gắn liền với những tên tuổi đã trở nên quen thuộc như: G Lakoff và M Johnson, R Langgaker, L.Talmy, A Parchin, Cũng như các phân ngành khoa học khác, ngôn ngữ học tri nhận cũng có mối quan hệ với những ngành học khác thuộc khoa học tri nhận Khoa học tri nhận bắt đầu phát triển ở Mỹ vào những năm 60-70 của thế kỳ XX, nghĩa là song song với một khuynh hướng rất mới của ngôn ngữ học thế giới lúc đó là ngữ pháp cải biên - tạo sinh của Chomsky Hai xu thế này có ảnh hưởng lẫn nhau và chính vì thế Chomsky được coi là một trong những nhà sáng lập khoa học tri nhận Bản thân Chomsky từng thừa nhận rằng lý thuyết ngữ pháp tạo sinh của ông được thực hiện trong khuôn khổ của cuộc cách mạng tri nhận vốn đưa lại một cách hiểu mới về bản chất và hành

vi của con người, ông viết: “ Cuộc cách mạng tri nhận thể hiện sự quan tâm đến các trạng thái của trí não, đến việc chúng biểu hiện ra sao trong hành vi của con người, đặc biệt trong các trạng thái tri nhận của nó: tri thức, sự thông hiểu, sự giải thích, niềm tin Cách tiếp cận với tư duy và hoạt động của con người trong những thuật ngữ như trên làm cho tâm lí học và một phân môn

Trang 13

cấu thành nó - ngôn ngữ học biến thành một bộ phận của khoa học tự nhiên vốn nghiên cứu bản chất của con người và các biểu hiện của nó, mà điều chủ yếu là bộ não”

1.2.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh ngiệm và sự tri giác của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó Tuy nhiên, để có được sự hình dung đầy đủ về ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi xin trình bày một số nguyên lí và quan điểm cơ bản của ngôn ngữ học tri

nhận dựa trên các công trình nghiên cứu: Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết

đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của tư duy và ngôn ngữ ở người Việt (Nguyễn Đức Tồn), Về khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận (Lê Quang Thêm), Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ (Nguyễn Hòa), Ngôn ngữ học tri nhận là gì?

(Trần Vă Cơ)

1.2.2.1 Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị

Ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trị hay là một “module” biệt lập với các khả năng tri nhận phi ngôn ngữ; nó thừa nhận rằng sự biểu hiện của tri thức ngôn ngữ về cơ bản giống nhau y như sự biểu hiện của cấu trúc ý niệm khác, rằng các quá trình trong đó tri thức được

sử dụng không khác về cơ bản với khả năng tri nhận mà con người sử dụng ngoài lĩnh vực ngôn ngữ Nói cách khác, không nên coi khả năng ngôn ngữ là

bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chế ngôn ngữ chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát

Ở nguyên lí này, ta thấy có hai hệ luận quan trọng là:

- Tri thức ngôn ngữ (tức là tri thức về ý nghĩa và hình thức) về cơ bản

là cấu trúc ý niệm, và biểu hiện ý niệm Hơn nữa, theo các nhà ngôn ngữ học

Trang 14

tri nhận, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm vị học cơ bản cũng mang tính ý niệm; bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh ở đầu ra

và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói viết và sự nghe đọc - vốn là hai quá trình đều liên quan tới trí não

- Các quá trình tri nhận, vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là

sự thành tạo và chuyển tải ý nghĩa bằng ngôn ngữ) về nguyên lý là giống như các khả năng tri nhận khác Điều này có nghĩa là sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não và những khả năng tri nhận mà chúng ta khi ứng dụng nói và hiểu cũng không khác gì nhiều những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng cho những nhiệm vụ tri nhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động Do đó, ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người và theo quan điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực và sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập, được cấu trúc hóa

1.2.2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hóa

Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng, không thể quy cấu trúc ý niệm vào sự tương ứng đơn giản về điều kiện chân ngụy với thế giới, rằng một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hóa kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hóa các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta có được Cho nên cần phải nghiên cứu tất cả các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức, và đặc biệt là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hóa ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa và ẩn dụ và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác Chính vì vậy, ý kiến, quan niệm của con người về những vấn đề trừu tượng thường được biểu đạt bằng ngôn ngữ thông qua các phương thức ẩn dụ và so sánh

Trang 15

1.2.2.3 Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ việc sử dụng ngôn ngữ

Ngôn ngữ học tri nhận là một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng (ngôn ngữ), bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tương tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng

Nếu đi vào những luận điểm chi tiết hơn, chúng ta còn có thể nêu thêm một số quan điểm sau của ngôn ngữ học tri nhận:

- Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát

và toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Theo cách tiếp cận này, ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người

- Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm ngôn ngữ mở ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan, thì bây giờ, ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cánh của để đi vào thế giới tinh thần, trí tuệ của con người, là phương tiện để đạt đến những bí mật của các quá trình tư duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, các phạm trù, ) cần phải được nghiên cứu trong các mối tương quan của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích manh tính tri nhận Đồng thời cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ý thức trong cách hiểu ý thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích lũy được trong suốt đời mình và nó phản ánh những ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng

và những hình ảnh dưới dạng các ý niệm của một hệ thống ý niệm thống nhất

Ý thức ngôn ngữ như là một một bộ phận của ý thức nói chung, giống như tư duy chỉ là một bộ phận bao hàm các quá trình tinh thần được thực hiện trong

ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức, người ta phải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này Nói cách khác, người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan - là những lĩnh vực được nghiê cứu kỹ lưỡng nhất và thành công nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng

Trang 16

- Ngữ nghĩa không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiện khách quan có giá trị chân ngụy, nó không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại trong ý thức và đồng thời nó có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước tính trong đó Sự hình thành các cấu trúc ý niệm này có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người

- Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ

mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thống niềm tin của con người, vì thế, trong nghiên cứu ngữ nghĩa, không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữ nghĩa “đời thường” với tri thức bách khoa

- Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý nghĩa, nên những

sự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ nghĩa

Ngôn ngữ học tri nhận phân ra ba hướng chính trong cách tiếp cận nghiên cứu những vấn đề trên

Cách tiếp cận thứ nhất, thường được coi là có tính “kinh nghiệm”,

người ta chủ yếu tìm hiểu xem khi người nói tạo sinh (và nghe hiểu) các từ và

câu thì cái gì xảy ra trong trí óc anh ta, anh ta sẽ miêu tả ra sao các thuộc tính

của sự vật và những liên tưởng, những ấn tượng của anh ta về sự vật ấy Người ta nhận thấy rằng, những thuộc tính được người nói miêu tả dường như

có phản ánh cái cách thức mà anh ta tri nhận về thế gới xung quanh và tương tác với thế giới, những kinh nghiệm tích lũy được của chúng ta về thế giới cũng được tàng trữ trong ngôn ngữ hàng ngày và những kinh nghiệm ấy có thể thu lượm được từ cái cách mà chúng ta diễn đạt các tư tưởng của mình

Cách tiếp cận thứ hai, chủ yếu quan tâm đến mức độ “nổi trội” của các

cấu trúc ngôn ngữ, cụ thể là việc các thông tin được lựa chọn và sắp xếp trong câu như thế nào

Trang 17

Cách tiếp cận thứ ba, chủ yếu quan tâm đến mức độ “thu hút sự chú ý ”

của các yếu tố và các bình diện khác nhau của sự tình

Sự thống nhất cao độ của ngôn ngữ và con người đang hành động trong thế giới hiện thực, con người suy nghĩ và nhận thức là vấn đề trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận Nếu ngôn ngữ học trước đây, trong việc nhận thức ngôn ngữ, đã xuất phát từ những đối tượng ngôn ngữ như từ, câu, văn bản thì dụng học ngôn ngữ dựa vào ngôn ngữ học tri nhận xuất phát từ con người với những nhu cầu, động cơ, mục đích, ý định của nó; từ những hành động giao tiếp thực tiễn, từ những tình huống giao tiếp trong đó con người phát huy vai trò chủ thể của mình

1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận

1.3.1 Ý niệm - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

1.3.1.1 Khái niệm "ý niệm" thời Trung cổ

Theo tư tưởng của các tác giả thời Trung cổ, “ý niệm” là một tập hợp những khái niệm nằm sâu kín trong tâm hồn và sẵn sàng được biểu hiện thành lời, nó liên kết các phát ngôn thành một cách nhìn sự vật, khác với vai trò quyết định của trí tuệ, nó biến phát ngôn thành tư tưởng gắn liền với Thượng Đế

Các nhà nghiên cứu di sản của Abélard khẳng định rằng, ý niệm là kết quả của tinh thần, của trí tuệ cao cả có khả năng tái tạo một cách sáng tạo, hoặc tập hợp những ý nghĩa với tư cách là những phổ quát được hiểu như mối liên hệ giữa vật và lời nói Ý niệm chứa đựng suy nghĩ vốn là một bộ phận của nó Ý niệm là lời nói được phát ngôn ra, do đó nó không đồng nhất với khái niệm

Trí nhớ và óc tưởng tượng là những thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm Một mặt, ý niệm hướng tới sự thấu hiểu ở đây và bây giờ, mặt khác, nó là sự tổng hợp của ba khả năng của tâm hồn: với tư cách là trí nhớ, ý niệm định hướng về quá khứ, với tư cách là hành động của óc tưởng tượng,

Trang 18

nó hướng về tương lai, còn với tư cách là hành động phán đoán - nó hướng về hiện tại

1.3.1.2 Khái niệm "ý niệm" thời hiện đại

Ngày nay người ta không chấp nhận hành động được coi là chân lí tuyệt đối tạo ra ý niệm là Thượng Đế Tư tưởng chỉ đạo của ngôn ngữ học tri nhận là khẳng định nguyên tắc "dĩ nhân vi trung" (con người là trung tâm của tất cả những hiện tượng văn hoá và ngôn ngữ) Chính ý thức của con người đóng vai trò kẻ trung gian giữa văn hoá và ngôn ngữ, còn ý niệm hoạt động với tư cách là đơn vị của những tiềm năng tinh thần hoặc tâm lí của ý thức con người S Kh Liapin nhận xét rằn, khi con người sống, giao tiếp, hành động trong thế giới những khái niệm, những hình ảnh, những khuôn mẫu hành vi, giá trị, tư tưởng v.v., thì đồng thời cũng là sống, suy nghĩ, giao tiếp trong thế giới của những ý niệm

1.3.1.3 Ý niệm - đơn vị cơ bản của tinh thần

Trong ngôn ngữ học tri nhận (kể cả trong một số khoa học khác như nhân chủng học, ngôn ngữ - văn hoá học, dân tộc - ngôn ngữ học v.v.), các nhà nghiên cứu định nghĩa ý niệm theo những quan điểm khác nhau

“Ý niệm” và “khái niệm” không đồng nhất với nhau

Về mặt nguồn gốc của thuật ngữ, khái niệm và ý niệm đều xuất phát từ

một từ tiếng Anh: concept Trong quá trình phát triển của khoa học tri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, nội hàm của từ concept được tách

làm đôi: một phần được hiểu là khái niệm, một phần là ý niệm

Khái niệm là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính cơ

bản, những mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong sự mâu thuẫn và phát triển của chúng Khái niệm không chỉ trừu suất cái chung, mà còn phân xuất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm cơ sở cho việc phân loại phù hợp với những nét khu biệt của chúng Chẳng hạn, khái

Trang 19

niệm “con người” phản ánh cả nét chung cơ bản (cái vốn có ở tất cả mọi người) và cả những nét khu biệt người này với tất cả những người khác Khái niệm phản ánh cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất của sự vật

Khái niệm được hình thành qua một quá trình biện chứng phức tạp nhờ những phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, lí tưởng hóa, khái quát hóa, thí nghiệm v.v Khái niệm là sự phản ánh hiện thực không mang tính hình ảnh và được biểu hiện trong từ Sự tồn tại hiện thực của

nó được bộc lộ thông qua các định nghĩa, trong các phán đoán, trong thành phần của lí thuyết

So với khái niệm, ý niệm có những đặc điểm riêng

Trước hết ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận là quá trình tạo ra

các biểu tượng tinh thần (mental representation) Cấu trúc của biểu tượng tinh thần gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí Cả ba thành tố này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ: trong ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (trong ba thành tố này, thì từ vựng đã và đang được nghiên cứu nhiều hơn cả)

Khái niệm (thuật ngữ) khoa học không mang tính ẩn dụ Còn những cách nói bóng bẩy, có tính ẩn dụ không thể hiện khái niệm, mà là phản ánh đặc trưng của ý niệm

Nói rộng ra, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta,

là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các

ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng

Trang 20

về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới

Theo một số nhà nghiên cứu, chính ngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và xác định bản chất của ý niệm Những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một từ, những ý niệm phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ và câu

Một số người thì cho rằng, một phần của thông tin ý niệm có cái “đuôi” ngôn ngữ, nghĩa là những phương thức biểu hiện chúng, nhưng cái phần thông tin này được biểu hiện trong tâm lí hoàn toàn khác, nghĩa là bằng những biểu tượng tinh thần loại khác - những hình tượng, những bức tranh, những sơ

đồ v.v

Quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: cảm tính (bao gồm cảm giác

và tri giác) và lí tính (bao gồm biểu tượng và khái niệm) Đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức là khái niệm Trong khi đó, quá trình tri nhận không chia giai đoạn rạch ròi như thế Nó là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người để rồi cuối cùng tạo ra những ý niệm - đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận

Stepanov cho rằng "ý niệm" là thuộc về logic toán học và văn hóa học Ông định nghĩa ý niệm như sau: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới

ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người - người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hoá” - chính con người đó đi vào văn hoá, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá” [Dẫn theo 34, tr 185]

Slyshkin nghiên cứu những quan điểm khác nhau đối với ý niệm và nhận định rằng đặc điểm nổi bật có tính nguyên tắc của ý niệm là ở chỗ nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hoá, song bản

Trang 21

thân nó không trực tiếp nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằm trong phạm vi văn hoá, và cũng không đồng thời nằm trong cả hai lĩnh vực này Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứu mối quan

hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hoá sẽ không đầy đủ nếu thiếu cái khâu trung gian này Thông tin văn hoá đi vào ý thức, ở đây nó được sàng lọc, được chế biến

Trần Trương Mĩ Dung nghiên cứu tổng hợp ý kiến của nhiều tác giả về

sự khác nhau giữa "ý niệm" và "khái niệm" như sau:

a) Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra Do đó

nó khác với khái niệm

b) Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm

c) Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc

d) Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Ý niệm là một hành động đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hướng về quá khứ, nếu là hành động của trí tưởng tượng, thì nó hướng tới tương lai, còn nếu là hành động phán đoán, thì nó hướng về hiện tại

e) Ý niệm, khác với “khái niệm”, không chỉ mang đặc trưng miêu tả,

mà còn có cả đặc trưng tình cảm - ý chí và hình ảnh Ý niệm không chỉ suy nghĩ, mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị

Ý niệm tạo ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập

Trang 22

quán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thành viên của xã hội

Tóm lại, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc

1.3.1.4 Ý niệm cơ sở và hệ thống ý niệm

Để cấu tạo hệ thống ý niệm cần phải giả định sự tồn tại một số ý niệm xuất phát, hoặc những ý niệm cơ sở từ đó sẽ phát triển tất cả những ý niệm còn lại Những ý niệm cơ sở này tổ chức một không gian ý niệm và hoạt động như những chuẩn để phân chia không gian Đó là những ý niệm đối tượng và các bộ phận của nó, sự vận động, những hành động, vị trí hoặc không gian, thời gian, thuộc tính v.v Tổng hoà tất cả những ý

niệm có trong trí tuệ của con người, sự tổ hợp chúng lại được gọi là hệ

tộc Đối tượng của bức tranh ngôn ngữ về thế giới là ý niệm với cấu trường trung tâm - ngoại vi Nằm ở trung tâm của cấu trúc ý niệm là khái niệm,

nằm ở ngoại vi là những đặc trưng văn hóa - dân tộc bao quanh khái niệm

Phương thức ý niệm hoá hiện thực (cách nhìn thế giới) một phần có tính phổ quát, một phần có tính đặc thù dân tộc, bởi thế những người nói những thứ tiếng khác nhau có thể nhìn thấy thế giới hơi khác nhau, thông qua lăng kính ngôn ngữ của mình

Trang 23

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới phản ánh bức tranh thế giới tồn tại cho tất cả mọi người và cho mỗi người Theo Iakovleva, "bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một sơ đồ tri giác hiện thực được ghi lại trong ngôn ngữ và là đặc trưng cho một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Do đó bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một cách nhìn thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ" Hình ảnh thế giới được ghi lại trong ngôn ngữ trong nhiều trường hợp rất khác với bức tranh khoa học về thế giới Bức tranh ngôn ngữ về thế giới được phản ánh trong vốn từ vựng của ngôn ngữ có in đậm dấu vết của lối tư duy "dĩ nhân vi trung" Trong nhiều trường hợp, nó không kém phức tạp, không kém thú vị so với cách nhìn khoa học, bởi lẽ, cách nó thuyết giải những hiện tượng của hiện thực khác với cách thuyết giải của khoa học về cùng hiện tượng đó Tuy vậy, những quan niệm ngây thơ tuyệt không phải là sơ đẳng, thô thiển, vô lí

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới còn được một số nhà nghiên cứu gọi là

"mô hình (hoặc bức tranh) ngây thơ về thế giới" Bức tranh ngây thơ không phải là một tập hợp những mảng lộn xộn, ô hợp, vô trật tự, vô tổ chức, mà là một sự sắp xếp các biểu tượng ngôn ngữ một cách có hệ thống Cách sắp xếp

(tổ chức) như vậy gọi là ý niệm hoá thế giới Miêu tả và thuyết giải các ý

niệm trong tính hệ thống của nó là nhiệm vụ của ngôn ngữ học tri nhận

Iu D Aprexjan đã tiến hành miêu tả và thuyết giải bức tranh ngây thơ

về con người (ý niệm hoá thế giới con người) theo 8 hệ thống chính sau đây:

(1) Tri giác vật lí bao gồm thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác Hệ thống tri giác này định vị trong các giác quan: (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) Nét nghĩa tối giản: "tri giác"

(2) Trạng thái sinh lí: đói, khát, đau, mong muốn, những nhu cầu sinh lí v.v… chúng định vị ở những bộ phận khác nhau của thân thể Nét nghĩa tối giản: "cảm nhận"

(3) Phản ứng sinh lí đối với những tác động bên trong và bên ngoài (tái

mặt, lạnh, kiến bò, đỏ mặt, nóng, đổ mồ hôi, tim đập v.v.) là phản ứng của

Trang 24

những bộ phận khác nhau của thân thể (mặt, trái tim, họng) hoặc của thân thể nói chung Nét nghĩa tối giản - không có

(4) Hành động và hoạt động vật lí: làm việc, nghỉ ngơi, đi, đứng, nằm,

ném, vẽ, dệt, chặt, cắt, đâm, bẻ v.v… chúng được thực hiện nhờ tứ chi và thân

thể Nét nghĩa tối giản: "làm"

(5) Mong muốn: muốn, vươn tới, thèm, không chịu nổi, nén lòng, buộc

phải, cám dỗ, quyến rũ v.v… chúng định vị hoặc là trong thân thể, hoặc là

trong lòng Nét nghĩa tối giản: "muốn"

(6) Tư duy, hoạt động trí tuệ: tưởng tượng, hình dung, cho (rằng), hiểu,

ý thức, biết, tin, nghi, nhớ, quên… là hoạt động trí tuệ định vị trong ý thức

(trong đầu, trong bộ não) và được thực hiện cũng chính nhờ những cơ quan này Nét nghĩa tối giản: “biết”, “cho (rằng)”

(7) Cảm xúc: sợ, sung sướng, giận, yêu, căm thù, hi vọng, thất vọng

v.v ở con người, tất cả những cảm xúc đều định vị trong lòng, tim hoặc ngực Nét nghĩa tối giản: "cảm thấy"

(8) Lời nói: thông báo, hứa, yêu cầu, đòi hỏi, ra lệnh, cấm, cảnh báo,

khuyên, tuyên bố, chửi, khen, kêu ca, khoe khoang …: lời nói được thực hiện

nhờ cái lưỡi Nét nghĩa tối giản: "nói"

Trong ngôn ngữ học tri nhận, các nhà nghiên cứu định nghĩa ý niệm theo những quan điểm khác nhau: ý niệm là biểu tượng (Askoldov); là khái niệm, là đơn vị tổng hợp của tư duy, là sự phản ánh trọn vẹn không chia cắt được một hiện tượng của hiện thực (Tsesnokov); là ý nghĩa, biểu thức “đại số” của ý nghĩa (Likhatsov); là đồng ý nghĩa mang bản sắc dân tộc (Kolexov);

ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người, dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người,

và mặt khác ý niệm là cái mà nhờ đó con người bình thường, không phải là

“người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” và trong một số trường hợp nhất

Trang 25

định có tác động đến văn hóa (Ju.X Xtepanov) Còn theo Trần Văn Cơ, ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận gắn kết với tri giác thực tại với ngôn

ngữ và văn hóa của một cộng đồng Ông phân biệt ý niệm với khái niệm, trong đó, ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức với hai thuộc tính

quan trọng là trí nhớ và sự tưởng tượng, nó được xem như cơ sở để nghiên

cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hóa, còn khái niệm là một tư tưởng phản ánh

dươi dạng khái quát sự vật và hiện tượng của hiện thực bằng cách cố định những thuộc tính và quan hệ của chúng Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của bức tranh thế giới, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc chứa đựng ba thành tố: khái niệm, cảm xúc - hình tượng và văn hóa (Trần Trương Mỹ Dung, 2005) Ý niệm không mang tính khách quan trong tự nhiên mà là kết quả của khả năng tưởng tượng của con người bao gồm: mô hình tri nhận liên quan đến ẩn dụ và hoán dụ, các phạm trù và các ý niệm được xã hội kiến tạo có tính đặc thù văn hóa cộng đồng

Tóm lại, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và ngôn ngữ bộ não, toàn bộ bức tranh thế giới phản ánh trong tâm lý con người

Ý niệm là một phạm trù lịch sử có khả năng biến đổi do hoạt động tri nhận của con người Hoạt động tri nhận là một quá trình thiết định giá trị (nghĩa) của biểu thức ngôn ngữ, nghĩa là tính thông tin của chúng Nó là một

bộ phận cấu thành của ý thức con người Nó không đồng nhất với hoạt động (quá trình) nhận thức Nếu quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: cảm tính (cảm giác, tri giác) và lí tính (biểu tượng, khái niệm), thì hoạt động tri nhận với tư cách là quá trình xử lý thông tin có nhiệm vụ thu thập mọi dữ kiện do hoạt động nhận thức cung cấp để biến chúng thành tri thức Do chỗ hoạt động tri nhận của con người có quan hệ trực tiếp với môi trường sống của con

Trang 26

người là cộng đồng dân tộc và văn hóa của cộng đồng ấy, nên hoạt động tri nhân mang đặc thù văn hóa - dân tộc Nếu hoạt động nhận thức cho ra thành phẩm cuối cùng là khái niệm mang tính phổ quát (chung cho toàn nhân loại) thì hoạt động tri nhận cho ra thành phẩm cuối cùng là ý niệm vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù văn hóa - dân tộc

1.3.3 Ý niệm cơ sở và ý niệm hệ thống

Ý niệm không tồn tại riêng lẻ, chúng liên kết lại với nhau tùy theo lĩnh vực tri nhận của con người và tạo thành một hệ thống ý niệm Mỗi một hệ thống ý niệm có một số ý niệm được coi là những ý niệm xuất phát hay những

ý niệm cơ sở Những ý niệm cơ sở này tổ chức một không gian ý niệm và hoạt động như những chuẩn để phân chia không gian Đó là những ý niệm đối tượng và các bộ phận của nó, sự vận động, những hành động, vị trí hoặc không gian, thời gian, thuộc tính, Tổng hòa tất cả những ý niệm có trong trí

tuệ của con người, tổ hợp chúng lại gọi là hệ thống ý niệm

Hệ thống ý niệm của con người bao gồm tri thức về thế giới làm nền

tảng cho việc phạm trù hóa, kết hợp ý niệm và thực hiện những hoạt động tri nhận cơ bản như tri giác, ghi nhớ, ngôn ngữ, và tư duy Theo Lakoff, hệ thống

ý niệm không đơn giản là tập hợp các ý niệm, mà là những tổ chức hoạt động của ý niệm Do vậy, khi cùng một khái niệm được sử dụng một cách khác nhau thì hệ thống ý niệm đó cũng biến đổi Nói cách khác, cách thức mà người ta sử dụng ý niệm quyết định tính chất của hệ thống và dẫn đến việc hiểu kinh nghiệm một cách khác nhau Cũng theo Lakoff, một số bình diện của một hệ thống ý niệm có thể quan trọng hơn những yếu tố khác, và chính những yếu tố

đó làm cơ sở quan trọng cho quá trình ngữ pháp của một ngôn ngữ

1.3.4 Phân biệt hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm

Một trong những luận thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận là sự ý

niệm hóa Các đơn vị ngôn ngữ (từ, ngữ, kết cấu) đều biểu đạt những ý niệm

Trang 27

và những ý niệm này đều tương ứng với các ý nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ đó Do vậy, ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải được xác định có tính đến

cả hình bóng lẫn hình nền ý niệm

Hình bóng ý niệm là ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho

Hình nền ý niệm là tri thức hay cấu trúc ý niệm được tiền giả định bởi ý

niệm hình bóng

1.4 Biểu trưng hóa

Biểu trưng hóa là một trong những phương pháp mà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm nghiên cứu Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, con người bộc

lộ những nhu cầu nhận thức của mình dưới dạng cảm nhận những sự vật khách quan thông qua hình ảnh của chúng Đó là thế giới của những cảm nhận và tưởng tượng hay có thể gọi là “thế giới trung chuyển” Cơ chế của phương pháp này thể hiện ở chỗ con người đưa lên bề mặt những cảm nhận

có ý nghĩa nhất liên quan đến quá trình ý thức hiện thực và làm cho nó tương đồng với chính mình

Ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt quan tâm đến hiện tượng biểu trưng hóa

là bởi: đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận, ngoài những sự kiện, hiện tượng có thể quan sát trực tiếp được, còn có cả những sự kiện, hiện tượng không thể quan sát được

Biểu trưng hóa có hai loại: biểu trưng hóa vật thể và biểu trưng hóa ngôn ngữ

1.4.1 Biểu trưng hóa vật thể

Biểu trưng hóa vật thể là khi con người dùng một vật cụ thể để biểu trưng cho một sự cảm nhận, tình cảm, hoặc thái độ đánh giá nào đó Chẳng hạn: con cáo biểu trưng của sự tinh ranh, khôn ngoan; con lừa biểu trưng của

sự ngu ngốc, bướng bỉnh; đại bàng biểu trưng cho lòng kiêu hãnh, dũng cảm; con chó biểu trưng của lòng trung thành; con dã tràng biểu trưng của sự cố

Trang 28

gắng; con ong biểu trưng của sự cần cù lao động, Hòn Vọng Phu là một vật

cụ thể, biểu trưng cho lòng chung thủy vợ chồng; ông táo biểu trưng cho việc quản gia,

1.4.2 Biểu trưng hóa ngôn ngữ

Biểu trưng hóa ngôn ngữ là quá trình con người sử dụng ngôn ngữ (từ ngữ của một ngôn ngữ cụ thể) để biểu hiện nghĩa biểu trưng Những biểu thức ngôn ngữ chứa đựng nghĩa biểu trưng thường là cái biểu hiện những khái niệm trừu tượng, những sự kiện không quan sát được Chẳng hạn, “sư tử Hà Đông” biểu trưng cho những người phụ nữ hay ghen dữ; “cáo giả oai hùm” chỉ ai đó mượn danh người có chức có quyền để dọa dẫm người khác, “văn võ song toàn” biểu trưng cho những con người có tài trí toàn diện; “liễu yếu đào tơ” chỉ người con gái trẻ, mảnh dẻ, yếu ớt; “lá lành đùm lá rách” trưng cho tinh thần tương thân tương ái,

1.5 Vài nét về tục ngữ Việt Nam

1.5.1 Khái niệm

Từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ Vũ

Ngọc Phan trong công trình Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam (1965) đã định

nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán” Trong bài

viết “Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên tạp chí Văn học số 5, năm 1985,

Nguyễn Đức Dân nêu quan niệm: “Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” Hoàng Tiến Tựu

trong công trình Văn học dân gian Việt Nam, tập 2 năm 1990 đã cho rằng:

“Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền”

Trang 29

Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong Văn học dân

gianViệt Nam (Nxb Giáo dục, 1998), “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có

ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ”

Từ những luận giải trên, ta có thể khẳng định: tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von

là "trí khôn dân gian" Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng, được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác Tục ngữ thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội với nhiều ngữ cảnh khác nhau

1.5.2 Nhận diện tục ngữ

Để nhận diện chính xác về tục ngữ, ta cần phân biệt tục ngữ với thành ngữ và tục ngữ với ca dao

1.5.2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Trong cuốn Khảo luận về tục ngữ người Việt (Nxb Giáo dục, 2006),

Triều Nguyên cho rằng, có hai quan niệm được đưa ra khi phân định tục ngữ

và thành ngữ: đó là quan niệm dựa trên nội dung và quan niệm dựa trên chức

năng Còn tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn

ngữ nghĩa - ngữ dụng, (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006) thì phân

biệt tục ngữ với thành ngữ trên các tiêu chí: hình thức, cấu trúc, chức năng,

ngữ nghĩa

Tiêu chí hình thức biểu hiện rõ nhất ở số lượng âm tiết Tục ngữ có số

lượng chủ yếu là 6 âm tiết, loại nhiều nhất là 23 âm tiết Thành ngữ có cả 3

âm tiết, nhưng chủ yếu là 4 âm tiết Trong 478 thành ngữ (cuốn Kể chuyện

Trang 30

thành ngữ, tục ngữ của tác giả Hoàng Văn Hoành) thì có 243 thành ngữ 4 âm

tiết, chiếm tỉ lệ 43,7% Còn trong 9000 tục ngữ (cuốn Tục ngữ chọn lọc của

tác giả Vương Trung Hiếu) thì số lượng câu tục ngữ có 6 âm tiết trở lên là

6643 câu, chiếm tỉ lệ 66,4% Ta có những câu tục ngữ loại 4 âm tiết: Tiền oan

túc trái, Lụt lút cả làng, Nòi nào giống ấy, và thành ngữ 4 âm tiết: chuột sa chĩnh gạo, ếch ngối đáy giếng, đầu tắt mặt tối,

Tiêu chí cầu trúc thể hiện trước hết ở tính chất quan hệ trong nội bộ

các thành tố Trong tục ngữ, giữa các thành tố có quan hệ tự do nên có thể chuyển thành một số thành tố, thêm thành tố hoặc tỉnh lược các thành tố khi

có sự bù đắp của các phương tiện khác trong những ngữ cảnh cụ thể Ngược lại, trong thành ngữ giữa các thành tố lại có quan hệ cố định chặt chẽ nên các

khả năng cải biến, thêm, tỉnh lược lại hạn chế hơn rất nhiều Ví dụ: Lời nói

đọi máu có thể có các cách nói khác: một lời nói, một đọi máu; lời nói là đọi máu; lời nói ngang bằng đọi máu

Tiêu chí chức năng thể hiện rõ nhất ở sự tham gia với tư cách là đơn vị

cấu thành trong hệ thống ngôn ngữ Tục ngữ khác với thành ngữ không chỉ thể hiện trên trục ngang (trục tuyến tính) mà còn thể hiện trên trục tôn ti tầng bậc (trục dọc) - trục hệ thống gắn với chức năng mỗi đơn vị khi tham gia vào

hệ thống Do vậy, tục ngữ tồn tại với tư cách là câu hướng đến chức năng thông báo, có đích tác động đến người nghe, còn thành ngữ là cụm từ cố định

có giá trị tương đương từ, thực hiện chức năng cấu tạo

Tiêu chí ý nghĩa cũng được xem là một tiêu chí quan trọng nhằm phân

biệt tục ngữ với thành ngữ Nghĩa của tục ngữ thường thuộc một trong ba nhóm nghĩa: nghĩa tường minh (nghĩa đen), nghĩa gián tiếp và đa nghĩa Những nghĩa này được nhận diện vào ngữ cảnh sử dụng cụ thể, phản ánh một

kiểu quan hệ Chẳng hạn, ta có câu tục ngữ: Đời cha đắp nấm đời con ấm mồ

có nghĩa trực tiếp về công việc cụ thể, nhưng mang nghĩa gián tiếp là làm việc

Trang 31

gì đó tốt thì sẽ để lại kết quả tốt cho thế hệ trong tương lai Còn nghĩa của thành ngữ là nghĩa từ điển, nghĩa định danh (một sự vật, một trạng thái, một quá trình, một thuộc tính)

Tiêu chí tác động thể hiện ở chỗ tục ngữ được chia thành hai nhóm:

nhóm có đích tác động trực tiếp (nhóm tục ngữ phản ánh thời tiết, kinh

nghiệm sản xuất, như: Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa; Cá ngoi mặt

nước là trời sắp mưa, ) và nhóm có chức năng tác động gián tiếpnhư: Múa rìu qua mắt thợ; Mèo khen mèo dài đuôi Chức năng tác động ở đây là chức

năng hướng đến người nghe, người tiếp nhận chứ không phải chủ thể phát ra câu tục ngữ Còn thành ngữ lại tác động đến người nghe một khi nó đi vào lời nói, được vận dụng trong lời nói, là bộ phận cấu thành lời nói tương đương từ

Do vậy, ở khía cạnh này không thể xem thành ngữ tác động đến người nghe là trực tiếp hay gián tiếp

Ví dụ, có người xếp đơn vị 4 âm tiết sau: đo bò làm chuồng là tục ngữ,

nhưng dựa trên đích tác động, chúng chưa đạt là trực tiếp hay gián tiếp Muốn hiểu được đích của đơn vị này ta phải đặt nó trong chỉnh thể: Anh ta khi nào

cũng đo bò làm chuồng nên đơn vị này là thành ngữ

Tóm lại, về hình thức: tục ngữ là một câu, dù ngắn đến đâu cũng diễn

tả một ý trọn vẹn; thành ngữ chưa phải là một câu mà chỉ là một phần câu,

một tập hợp từ bền vững Về nội dung: tục ngữ là kinh nghiệm, tri thức

được diễn đạt theo lối khẳng định, tổng kết quy luật, chân lý của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội; còn thành ngữ mới chỉ dừng lại ở mức độ so sánh, ví von, nhận xét, diễn đạt một cách hình ảnh về sự vật, hiện tượng nào đó mà thôi

1.5.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên, có thể phân biệt tục ngữ với ca dao trên các tiêu chí: hình thức, cấu trúc, ý nghĩa, chức năng, đích tác động

Trang 32

Tiêu chí hình thức thể hiện ở số lượng âm tiết Tục ngữ có số lượng

lớn nhất là 20 âm tiết, thậm chí là 23 âm tiết (rất ít), ít nhất là 4 âm tiết như:

Cha già con cọc, Nồi nào vung nấy (4 âm tiết); Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, hoài hạt ngọc cho ngâu vầy, Hoài bánh dày cho thằng méo miệng ăn (20

âm tiết); Một giỏ sinh đồ, một bồ ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Tiến

sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn (23 âm tiết) Còn ca dao

thường đề cập đến tâm trạng, cảm xúc cá nhân

Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Về cấu trúc hoàn chỉnh: Tục ngữ có cấu trúc Đề - Thuyết đơn: Miệng

rộng tay dài; Ai biết được ma ăn cỗ, hoặc cấu trúc Đề - Thuyết sóng đôi, kiểu: Người là vàng, của là ngãi; Vai nồi đồng, mông cối lỗ Còn ca dao (trữ tình)

có cấu trúc hoàn chỉnh gồm hai phần: nêu hoàn chỉnh và ngụ tình:

- Còn trời còn nước còn non / Còn cô bán rượu anh còn say sưa

- Anh ơi cờ bạc nên chừa / Rượu cho anh uống, rượu mua anh đừng

Về ý nghĩa: ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng,

nghĩa đa nghĩa, còn ý nghĩa của ca dao là ý nghĩa biểu cảm

Về chức năng: tục ngữ và ca dao đều có chức năng thông báo

Về đích tác động: tục ngữ chỉ gồm một hành động nói hoặc có thể hai

hành động nói tác động đến nhận thức, còn ca dao thường gồm ít nhất hai hành động tác động đến người nghe nhằm bộc lộ tâm trạng, cảm xúc

Từ những sự khác biệt nêu trên, ta thấy giữa tục ngữ và ca dao có một điểm khác nhau cơ bản: tục ngữ thiên về lí trí, ca dao thiên về tình cảm Vì vậy, tục ngữ mang tính khách quan, còn ca dao nghiêng về tính chủ quan

1.5.3 Những đặc trưng cơ bản của tục ngữ

1.5.3.1 Đặc trưng về nội dung

Quá trình lao động là quá trình phát triển khoa học và văn nghệ Trong lao động, lý trí của con người phát triển, cảm quan thẩm mỹ được tôi luyện;

Trang 33

những sáng tác dân gian truyền miệng sản sinh trên cơ sở của lao động sản xuất Lao động nhằm biến thiên nhiên phục vụ cho mình, nên con người phải

có những hiểu biết tối thiểu về quy luật của thiên nhiên Thời xưa, khoa học tuy chưa phát triển, nhưng bằng kinh nghiệm, tổ tiên chúng ta cũng nắm được trong một chừng mực nhất định quy luật của thiên nhiên Những kinh nghiệm

ấy thông qua tập thể được đúc kết bằng những câu xuôi tai hoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian Đó là những câu tục ngữ về thời tiết, cày cấy, trồng trọt, chăn nuôi Trong quan hệ xã hội, giữa người với người, xuất hiện những câu tục ngữ rút ở sinh hoạt có tính chất nhận xét, giải thích, khuyên răn theo một luân lý và một thế giới quan nhất định

Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý lấn át cảm xúc, tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng sắc bén được đúc rút ở cuộc đời Như vậy,

về nội dung, tục ngữ là những nhận định của con người về lao động, sản xuất;

về cuộc sống gia đình, cuộc sống xã hội Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó được đúc kết qua nhiều thế hệ

Những nhận xét, những kinh nghiệm trên cũng không thể đúc kết trong ngày một, ngày hai, mà phải sau một thời gian dài mới ổn định thành một thứ phương châm Có những câu tục ngữ chỉ có ý nghĩa ở một địa phương, nhưng lại có những câu được lưu truyền ở phạm vi rộng rãi

1.5.3.2 Hình thức nghệ thuật

Tục ngữ là những câu được nhiều người sửa chữa, truyền đi nhiều địa phương và được chọn lọc qua nhiều thế hệ, nên mới đầu nó có thể chỉ là những câu xuôi tai, hợp lí, sau mới trở nên những câu gọn gàng, cân đối hay

có vần vè Ở tục ngữ, những câu không vần vè là số ít, còn lại đa số là đều có vần và vần cũng rất phong phú Với những câu tục ngữ ngắn, vần thường là vần lưng (vần ở giữa câu) và vần cách

Khi phân đoạn thành những câu riêng lẻ, người ta thấy vần ở tục ngữ rất phong phú, có khi vần ở chữ đầu câu dưới, vần ở chữ thứ hai, thứ ba câu

Trang 34

dưới Lối gieo vần ở tục ngữ đã làm khuôn mẫu cho nhiều thể thơ Cả những lối đối chữ, đối nghĩa, tục ngữ cung cấp cho các nhà thơ những hình thức phong phú có thể làm cho nội dung câu thơ nổi hơn hết Như vậy thể thơ lục bát và song thất lục bát (hai thể thơ truyền thống) của ta đã bắt nguồn từ lối gieo vần của tục ngữ và ca dao

Vì vậy, xét về cả hai mặt nội dung và hình thức thì tục ngữ là một loại văn học dân gian đã phát triển trước ca dao Bởi những lí do sau đây: tục ngữ là những câu ngắn; có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè, thậm chí có những câu có thể xuất hiện vào thời điểm tiếng nói của ta chưa mấy phát triển

1.5.4 Phân loại tục ngữ

Triều Nguyên trong cuốn Khảo luận về tục ngữ người Việt (Nxb Giáo

dục, 2006) cho rằng, tục ngữ được phân định dựa theo 3 yếu tố: kết cấu (cấu

trúc), nội dung và phương thức tạo nghĩa Trần Hoàng trong Giáo trình văn

học dân gian Việt Nam (Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008) thì phân loại

tục ngữ dựa vào nguồn gốc và nội dung

Về nguồn gốc của tục ngữ, có thể quy vào ba nhóm chính sau:

- Những câu tục ngữ do nhân dân sáng tác từ sự đúc rút những kinh nghiệm trong đời sống (sản xuất, đấu tranh, ứng xử, )

- Những câu tục ngữ tách ra từ những thể loại dân gian khác (như: ca

dao, truyện kể dân gian, ) Chẳng hạn, những câu tục ngữ dân gian: Bụng

làm dạ chịu, Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho, có thể được rút từ những truyện

cổ tích cùng tên Tuy nhiên cũng có những câu tục ngữ là sự gợi ý, là xuất phát điểm của một sáng tác văn học dân gian thuộc những thể loại khác

- Những câu tục ngữ được rút ra từ những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ, nững lời phát biểu của các nhà hiền triết, các lãnh tụ, Ví như một số câu thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đi vào dân gian đã biến

Trang 35

thành những câu tục ngữ thông dụng Chẳng hạn: Dễ trăm lần không dân

cũng chịu / Khó vạn lần dân chịu cũng xong được rút ra từ bài thơ Dân no thì lính cũng no của Thanh Thịnh sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp

Về nội dung, tục ngữ là một sản phẩm của hoạt động nhận thức, đồng

thời cũng là một công cụ để nhận thức Ở lĩnh vực nào có hoạt động của con người và sự vật, hiện tượng thì ở đó đều có khả năng nảy sinh các câu tục ngữ Do vậy, đề tài của tục ngữ rất phong phú, có thể chia thành các loại sau: Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất; Tục ngữ về các hiện tượng lịch sử

- xã hội và Tục ngữ nói về con người (triết lí sống, cách đối nhân xử thế, )

- Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất

Tục ngữ về lao động sản xuất biểu đạt những kinh nghiệm của con người trong hoạt động lao động sản xuất, trong quá trình đấu tranh, cải tạo và chinh phục thiên nhiên, trong xử thế của con người với môi trường tự nhiên

Nó thể hiện sự nhận thức của họ về môi trường

Từ sự quan sát các hiện tượng gió, mưa, sấm, chớp, sự chuyển dịch của các tinh tú, sự thay đổi của muôn loài (động, thực vật,) người lao động rút ra những nhận xét, những kết luận đặc điểm và sự biến dịch của thời tiết ở từng vùng, từng mùa

Ví dụ: Trăng quầng thời hạn, trăng tán thì mưa

Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão,

Tục ngữ về các hiện tượng tự nhiên, chủ yếu xoay quanh những tri thức

về khí tượng Trong điều kiện khoa học còn chưa phát triển ở một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thời phong kiến, những tri thức ấy có giá trị thiết thực đối với đời sống và hoạt động sản xuất, giúp cho con người chủ động

trong công việc làm ăn và trong sinh hoạt hàng ngày: Mây bạc mà quấn mũi

đao / Thuyền câu thuyền lưới chèo vào cho mau (Tục ngữ của ngư dân Hà

Tĩnh, Quảng Bình)

Trang 36

- Tục ngữ về các hiện tượng lịch sử - xã hội là bộ phận tục ngữ đề cập đến nhiều vấn đề của lịch sử xã hội và các mối quan hệ giữa các giai cấp đối kháng Có câu nói về thời kì bình minh của lịch sử dân tộc, với nững nét phác

học về một cuộc sống hoang dã như: Ăn lông ở lỗ, ăn bốc ở hốc; Con dại cái

mang Có câu ghi lại một hiện tượng lịch sử, một kinh nghiệm đánh giặc hoặc

một nhân vật lịch sử nào đó: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi; Lê tồn, Trịnh

tại, Lê bại, Trịnh vong Đặc biệt có nhiều câu tục ngữ nói về cảnh quan, sản

vật, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa, tinh thần của các địa

phương khắp ba miền Bắc Trung Nam: Nhất kinh kì, nhì Phố Hiến; Trống

làng nào ấy đánh, thánh làng nào ấy thờ

Tục ngữ đồng thời cũng ghi lại nhiều nét thực trạng của đời sống, của giai cấp và đấu tranh xã hội thời phong kiến Sự đối lập giữa hai cuộc sống

đói nghèo và giàu sang của hai giai cấp bị trị và thống trị trong xã hội: Kẻ ăn

không hết, người lần không ra; Cá lớn nuốt cá bé

Tuy nhiên cũng có không ít những câu chứa đựng những nội dung tiêu cực (tư tưởng định mệnh, duy tâm, trông chờ vào sự phù trợ của thánh thần,

thủ tiêu đấu tranh): Cây khô xuống nước cũng khô

- Tục ngữ nói về con người (triết lí sống, cách đối nhân xử thế, ) là bộ phận quan trọng nhất trong bộ phận tục ngữ nói về con người Đó là những câu nói về đạo đức, triết lí sống, về cách ứng xử của nhân dân

Con người là tinh hoa của đất trời Qua tục ngữ, các tác giả dân gian đã

đề cao con người và giá trị cao quý của con người: Con người như hoa ở đâu

thơm đấy; Một mặt người bằng mười mặt ruộng Đồng thời họ lại phê phán

những ai coi của nặng hơn người, hạ thấp giá trị con người, làm phương hại

đến mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người: Chị em hiền thật là

hiền/ Lâm đến đống tiền mất cả chị em; Có tiền vợ vợ chồng chồng/ Hết tiền chồng Đông vợ Đoài

Trang 37

Yêu thương đùm bọc, che chở, bảo vệ, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, khó

khăn bao giờ cũng là điều nên làm, nên có ở mỗi người: Thương người như thể

thương thân; Lá lành đùm lá rách Trong quan hệ gia đình cũng như quan hệ

xã hội, người Việt Nam luôn coi trọng sự yêu thương, nhường nhịn nhau và coi

trọng sự ân nghĩa, thủy chung: Chị ngã em nâng; Kính già già để tuổi cao

Đặc biệt, trong kho tục ngữ dân gian có nhiều câu thể hiện một cái nhìn tiến bộ, và đề cao một lối “đối nhân xử thế” mang tính chất dân chủ, bình

đẳng, vượt lên trên những giáo lí phong kiến vốn rất khắt khe: Con hơn cha là

nhà có phúc; Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

Tuy nhiên, bên cạnh những câu tục ngữ thể hiện một đạo lí sống tốt đẹp cũng còn có những câu đề cập tới một lối sống khác, ngược lại với sự tích

cực, tiến bộ: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau; Đèn nhà ai nấy rạng

Sự mâu thuẫn này phản ánh sự không thuần nhất về tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, đồng thời cũng nói lên rằng: tục ngữ chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm và mang tính kinh nghiệm - những kinh nghiệm này đều có điểm xuất phát là thực tế, là hiện thực khách quan, mà hiện thực khách quan thì vô cùng phức tạp và có bao nhiêu mâu thuẫn, đối lập nhau

Tục ngữ còn có một bộ phận đề cập đến những khía cạnh trong tâm lí, tính cách của con người Đó là một kho tư liệu giúp cho việc tìm hiểu dân tộc, con người Việt Nam, các tầng lớp nhân dân xét trên bình diện xã hội học, dân

tộc học và cả ngôn ngữ học tri nhận: Có mới nới cũ; Ăn cây nào rào cây ấy;

Khôn nhà dại chợ; Nể quá hóa sợ

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận Đây là một lĩnh vực mới mẻ, phong phú, giàu tính gợi mở Với yêu cầu xác lập cơ sở lý thuyết cho đề tài, chúng tôi chú trọng vào những

nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận; vấn đề ý niệm (gồm ý niệm cơ

Trang 38

sở và ý niệm hệ thống) và biểu trưng hóa (gồm biểu trưng hóa vật thể và biểu trưng hóa ngôn ngữ) trong ngôn ngữ học tri nhận Đây sẽ là tiền đề cho sự

khảo sát cụ thể mà chúng tôi sẽ tiến hành ở hai chương tiếp sau

Cũng trong chương 1, luận văn giới thuyết một cách ngắn gọn thể loại tục ngữ và phân biệt thể loại này với những thể loại văn vần dân gian có quan

hệ gần gũi Mặc dù đây là những vấn đề đã được đề cập nhiều ở các công trình nghiên cứu về tục ngữ, nhưng những gì được nêu và luận giải ở đây là cần thiết để khu biệt đối tượng nghiên cứu tránh những nhầm lẫn có thể xảy ra trong quá trình triển khai đề tài

Trang 39

Chương 2 CÁCH THỨC TRI NHẬN CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM

2.1 Hệ thống các con vật được phản ánh trong tục ngữ

Trong tổng số 16.098 câu tục ngữ ở cuốn Kho tàng tục ngữ Việt Nam,

chúng tôi đã thống kê được 1920 câu tục ngữ nói về con vật (không kể những

câu giống nhau, khác dị bản) Con vật có số lần xuất hiện nhiều nhất là chó (284 lần) và ít nhất là thỏ, cừu, dã tràng, sò, tê tê, tắc kè, kỳ nhông, diệc,

bướm chỉ xuất hiện một lần (bảng 2.1)

Bảng 2.1 Thống kê số lần xuất hiện của tên các con vật

trong tục ngữ Việt Nam

Tên con vật Số lần xuất hiện (lần) Tên con vật Số lần xuất hiện (lần)

Hà bá, Diệc

1 lần

Trang 40

Với số lượng 119 con vật hiện diện trong tục ngữ nêu trên, chúng tôi tạm chia thành hai loại chính sau:

2.1.1 Vật nuôi gắn với cuộc sống con người

Cuộc sống của người Việt nói chung từ trước đến nay luôn gắn bó với nghề lúa nước và chăn nuôi nên những con vật được con người thuần chủng

đã trở thành người bạn thân thiết và gắn bó Chúng được con người tư duy qua tri giác, đã đi sâu vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt Trong tục ngữ, số lượng con vật gắn với cuộc sống con người chiếm một số lượng

khá lớn như: trâu, bò, lợn, gà, vịt, chó, mèo, dê, lừa, cừu, ngựa, v.v

Đặc biệt, trong số những vật nuôi ấy, có những con vật không chỉ xuất hiện một lần mà xuất hiện theo từng cặp trong mỗi câu tục ngữ Sau đây chúng tôi xin dẫn một số câu tục ngữ kiểu này, ví dụ:

Cặp “gà - chó”

- Ráng mỡ gà thời gió, ráng mỡ chó thời mưa

- Nắng tháng ba chó gà lè lưỡi

- Chó giữ nhà, gà gáy năm canh

- Chó quen nhà, gà quen chuồng

- Chó liền da, gà liền xương

- Cơm đâu no chó, thóc đâu no gà

- Chó già, gà non

- Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng

“Gà” và “chó” là tên hai con vật nuôi trong gia đình: “chó” được nuôi để giữ nhà, “gà” được nuôi để cung cấp thực phẩm (thịt, trứng) Đây là hai con vật rất gần gũi và quen thuộc đối với người Việt Mỗi con mang một tập tính, đặc điểm riêng Những đặc tính ấy đã được khái quát trong những câu tục ngữ

Để nói về các hiện tượng tự nhiên, theo quan sát và liên tưởng của nhân dân lao động thì: khi chân trời có ráng vàng (mỡ gà) thì trời sẽ có gió, ngược lại khi chân trời có ráng trắng (mỡ chó) thì chắc chắn trời sẽ mưa

Ngày đăng: 27/08/2021, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w