Tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các từ ngữ, hình ảnh đó trong thành ngữ giúp chúng ta thấy được cách nhìn nhận đánh giá sâu sắc về hiện thực cuộc sống của người dân Việt Nam, thấy được phầ
Trang 1
NGUYỄN HỮU HIẾU
NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ
TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2016
Trang 2NGUYỄN HỮU HIẾU
NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ
TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH
NGHỆ AN - 2016
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.2 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 11
1.2.1 Những vấn đề chung về thành ngữ 11
1.2.2 Một số nét cơ bản về nghĩa của từ và thành ngữ 19
1.2.3 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ 24
1.2.4 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua nghĩa của từ và thành ngữ 27
1.3 Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 BIỂU HIỆN NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 33
2.1 Dẫn nhập 33
2.2 Nghĩa biểu trưng của các thành tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” trong quan hệ tương tác tạo nghĩa với các yếu tố khác trong thành ngữ 34
2.2.1 Biểu hiện nghĩa của thành tố “trâu” trong thành ngữ 34
2.2.2 Biểu hiện nghĩa của thành tố “bò” trong thành ngữ 39
2.2.3 Biểu hiện nghĩa của thành tố “ngựa” trong thành ngữ 42
Trang 42.2.6 Biểu hiện nghĩa của thành tố “mèo” trong thành ngữ 562.2.7 Biểu hiện nghĩa của thành tố “gà” trong thành ngữ 612.2.8 Biểu hiện nghĩa của thành tố “vịt” trong thành ngữ 662.3 Một vài nhận xét bước đầu về biểu hiện nghĩa của các thành tố
“trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” trong thành ngữ 692.4 Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 CƠ CHẾ HÌNH THÀNH NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA
CÁC THÀNH NGỮ CHỨA THÀNH TỐ TRÂU, BÒ, NGỰA, LỢN, CHÓ, MÈO, GÀ, VỊT 72
3.1 Các nhân tố tạo nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chứa các thành tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”,“vịt” 723.1.1 Hình ảnh về sự vật được gọi tên với những đặc điểm được
tri nhận một cách tinh tế là cơ sở tạo nên sự chuyển nghĩa biểu trưng 723.1.2 Mối liên tưởng chuyển nghĩa biểu trưng dựa trên quan hệ
giữa hình ảnh “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”,
“gà”, “vịt” với các đặc điểm tâm lí, tính cách con người 773.1.3 Sự khái quát hóa, biểu trưng hóa nghĩa biểu trưng của các
yếu tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” tạo nghĩa chung của các thành ngữ 833.2 Tổ chức các thành tố chỉ động vật nuôi theo các quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa khác nhau tạo nên sự khái quát hóa, biểu trưng hóa về nghĩa của thành ngữ 893.2.1 Quan hệ kết hợp tương đồng giữa các yếu tố trong thành ngữ 893.2.2 Quan hệ kết hợp tương phản giữa các yếu tố trong thành ngữ 91
Trang 5của thành ngữ có chứa các thành tố chỉ động vật nuôi 95
3.3.1 Sự tri nhận tinh tế và liên tưởng phong phú của người Việt 95
3.3.2 Văn hóa ứng xử gắn kết giữa đời sống vật chất với tinh thần của người Việt 97
3.4 Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thành ngữ là đơn vị dùng quen thuộc trong lời ăn tiếng nói của nhân dân, nó là sản phẩm văn hóa dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Thành ngữ là đối tượng được các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học cũng như các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Thành ngữ không chỉ đơn thuần là lời ăn tiếng nói, cách sử dụng hình ảnh mà nó còn mang trong mình nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân dân Sở dĩ thành ngữ có giá trị nhiều mặt là do nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến đầu tiên là vai trò của ngữ nghĩa, đặc biệt là nghĩa biểu trưng của từ ngữ, hình ảnh trong đơn vị ngôn ngữ này Tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các từ ngữ, hình ảnh đó trong thành ngữ giúp chúng ta thấy được cách nhìn nhận đánh giá sâu sắc về hiện thực cuộc sống của người dân Việt Nam, thấy được phần nào diện mạo của nền văn hóa lúa nước có bề dày của người Việt, đặc biệt trong cách giao tiếp thông qua năng lực sử dụng ngôn ngữ của người Việt
1.2 Cho tới nay, nói tới nghĩa của thành ngữ, các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng, ý nghĩa đó toát ra từ chỉnh thể thành ngữ Nhưng vấn đề đặt ra là, với tư cách là một cụm từ cố định, sẵn
có, ý nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ đã được hình thành bằng cơ chế - quy tắc tạo nghĩa như thế nào, theo cách thức ra sao, nghĩa và vai trò của các thành tố trong cơ chế tạo nghĩa biểu trưng chung cho thành ngữ là gì Đó còn
là những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu Do vậy, việc nghiên cứu nghĩa các thành tố trong cơ chế tạo nghĩa chung của thành ngữ là một sự cần thiết
để hiểu sâu hơn nghĩa của thành ngữ nói chung
1.3 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ đem lại cho chúng ta những phát hiện lí thú về cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, về nếp sống, nếp nghĩ của cộng
Trang 7đồng người Việt Việc tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các thành tố trong đơn vị ngôn ngữ này nói chung và nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng Việt nói riêng sẽ góp phần cho chúng ta một cái nhìn rộng hơn, một cái nhìn mới hơn về cách sử dụng ngôn ngữ của người Việt, về văn hóa của người Việt, cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Việt
1.4 Thành ngữ là đối tượng được đưa vào giảng dạy ở các cấp học nên việc nghiên cứu tìm hiểu chúng ở phương diện, khía cạnh nào cũng có ý nghĩa thực tiến to lớn, cung cấp tư liệu phục vụ cho việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường mà trọng tâm là việc giảng dạy tiếng Việt
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghĩa biểu trưng của
các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng Việt” làm đề tài
nghiên cứu của luận văn
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng Việt Như vậy, các thành ngữ có chứa
những hình ảnh vật nuôi trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt sẽ được thu
thập khảo sát, chọn lọc, nghiên cứu
Để tiến hành đề tài, chúng tôi thu thập thành ngữ từ các từ điển sau:
- Thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Nxb KHXH, 1997
- Thành ngữ học tiếng Việt, Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH, 2004
- Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (Chủ biên),
Trang 83.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích nghiên cứu như trên, luận văn đề ra nhiệm vụ nghiên cứu là:
3.2.1 Khảo sát, thống kê và phân loại các thành ngữ có chứa thành tố chỉ các loài vật nuôi trong gia đình
3.2.2 Phân tích, chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng thể hiện qua hình ảnh chỉ các loài vật nuôi trong thành ngữ
3.2.3 Bước đầu lí giải cơ chế tạo nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ
từ ý nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp, thủ pháp chính sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
- Thống kê các thành ngữ có chứa các yếu tố trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt
- Phân loại các thành ngữ đã thống kê theo từng tiểu loại
4.2 Phương pháp phân tích, miêu tả nghĩa
Phương pháp này được dùng để phân tích ngữ liệu, miêu tả các thành ngữ để thấy được ngữ nghĩa của các yếu tố và cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ
5 Đóng góp của luận văn
Thành ngữ là đối tượng được nghiên cứu từ lâu và có nhiều công trình khoa học viết về nó Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần
bổ sung, làm rõ về cơ chế tạo nghĩa biểu trưng thành ngữ nói chung và nghĩa biểu trưng của hình ảnh loài vật nuôi trong gia đình người Việt nói riêng Qua đó luận văn góp phần vào việc làm rõ cách người Việt quan sát, tri nhận hiện thực khách quan, liên tưởng và lĩnh hội nghĩa biểu trưng Đồng thời kết quả nghiên cứu góp phần vào việc giảng dạy thành ngữ ở nhà trường hiệu quả hơn
Trang 96 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và một số giới thuyết liên
quan đến đề tài Chương 2: Biểu hiện nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật
nuôi trong thành ngữ tiếng Việt Chương 3: Cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của các thành ngữ
chứa thành tố trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Thành ngữ là sản phẩm dân gian, là đơn vị quen thuộc nhưng có giá trị đặc biệt trong giao tiếp do đó loại đơn vị ngôn ngữ này đã được nghiên cứu rất từ nhiều lĩnh vực, bình diện khác nhau
Công trình nghiên cứu đầu tiên về thành ngữ là cuốn “Về tục ngữ và ca dao” của học giả Phạm Quỳnh, công bố năm (1921) Tiếp đến là công trình
“Tục ngữ và phong dao” của tác giả Ngô Văn Ngọc (1928) Tác phẩm được
xem là hợp tuyển thành ngữ tiếng Việt đầu tiên, tác phẩm thu thập một số lượng lớn thành ngữ Tuy nhiên, ở công trình này thành ngữ được nghiên cứu với tư cách là đối tượng của văn học chứ không phải là đối tượng của ngành ngôn ngữ học
Thành ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học thực sự từ những thập kỷ 70 của thể kỷ XX với những tên tuổi lớn: Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Nguyễn Lực, Lương Văn Đang Những công trình của các tác giả này chủ yếu đi vào nghiên cứu những thuộc tính của thành ngữ và khu biệt thành ngữ với những đơn vị khác của ngôn ngữ (tục ngữ, cụm từ tự do, từ ghép…), hoặc đi vào nghiên cứu, phân xuất các thành ngữ
Với việc chỉ ra một khối lượng lớn, trên 3000 thành ngữ tiếng Việt và
đi sâu nghiên cứu các tiêu chí lựa chọn thành ngữ thì công trình “Thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1979) đã đánh dấu một mốc
lịch sử lớn trong việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt từ trước tới thời điểm lúc bấy giờ Tác phẩm tuy không bao quát hết được thành ngữ tiếng Việt nhưng đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và cho những ai quan tâm đến
Trang 11thành ngữ một tài liệu bổ ích Tác phẩm không chỉ cung cấp một khối lượng lớn thành ngữ, mà còn nêu những luận điểm khái quát về tình hình sưu tập, nghiên cứu thành ngữ và đặc biệt là tiêu chí xác định lựa chọn thành ngữ Các tác giả đã nêu lên được những đặc tính quan trọng của thành ngữ về kết cấu cũng như ngữ nghĩa
Năm 1981, Với công trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” (Nxb Giáo
dục), Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra đặc điểm cố định hóa mang tính thành ngữ, tính tương đương với từ về chức năng và sử dụng Trên cơ sở phân loại ngữ cố định, tác giả đã căn cứ theo thành phần trung tâm để chia nhỏ các kết cấu cụm từ trong ngữ cố định và tổng kết ra những giá trị ngữ nghĩa của ngữ
15.000 đơn vị thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam thuộc các lĩnh vực khác nhau Qua đó đưa ra những kiến giải về thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca của Việt Nam Hai tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu vốn văn hóa văn nghệ cổ truyền, trong đó có văn hóa dân gian của người dân Việt Nam được chuyển tải trong những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca
Giáo sư Hoàng Văn Hành trong “Thành ngữ học tiếng Việt” (Nxb Khoa
học xã hội, 2004), đã chỉ ra nguồn gốc của thành ngữ tiếng Việt, miêu tả các đặc điểm của thành ngữ Ông phân thành ngữ tiếng Việt thành các loại: Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng, và thành ngữ so
Trang 12sánh Tác giả cũng chỉ rõ giá trị và nghệ thuật sử dụng của thành ngữtừ đó cho thấy được đặc trưng văn hóa của người Việt
Về nghĩa của thành ngữ, cho tới nay hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ học khi bàn về thành ngữ đều thừa nhận thành ngữ có nghĩa biểu trưng Nghĩa của thành ngữ toát ra từ chỉnh thể, không phải là nghĩa đen do phép cộng nghĩa của các yếu tố Song vấn đề đặt ra là, nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ được hình thành theo cách nào? Cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ ra sao? Nghĩa của các yếu tố trong cơ chế (quy tắc) tạo nghĩa chung của thành ngữ như thế nào? Có thể nói, các công trình nghiên cứu đi vào những vấn đề cụ thể của nghĩa thành ngữ nhằm lí giải cho vấn đề nêu trên còn rất ít Các nhà nghiên cứu của Bùi Khắc Việt [37], Hoàng Văn Hành [9], [10] và Nguyễn Văn Mệnh [22], trong các công trình của mình, ở những mức độ khác nhau đã trực tiếp hoặc lưu tâm bàn
về vấn đề cấu trúc nghĩa của thành ngữ, cơ chế tạo nghĩa của thành ngữ tiếng Việt Khi phân tích các đặc điểm của thành ngữ để đi đến xác định khái niệm thành ngữ, nói về nghĩa của thành ngữ, Nguyễn Văn Mệnh cho rằng nghĩa chung của thành ngữ được hình thành trên cơ sở khái quát và
tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố Ông viết: “ý nghĩa của thành ngữ không phải là số cộng giản đơn và trực tiếp ý nghĩa các thành tố như ở trường hợp các ngữ tự do hoặc quán ngữ mà hình thành dựa trên cơ sở khái quát và tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố” [22; 13] Trong
bài viết “Về tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt”, Bùi Khắc Việt cho
rằng “nghĩa của thành ngữ được cấu tạo bằng các phương thức chuyển nghĩa như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Tính biểu trưng của hình ảnh, của sự vật miêu tả trong thành ngữ hoặc của từ ngữ, với những mức độ khác nhau
có liên quan đến những hiện tượng trong đời sống xã hội, trong lịch sử phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân” [37, tr.1] Căn cứ vào mức
Trang 13độ biểu trưng hóa, tác giả chia thành ngữ làm hai loại: 1) Thành ngữ biểu
trưng hóa toàn bộ, thí dụ: giẫm chân tại chỗ, bật đèn xanh,… (…) 2)
Thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận, trong đó một số yếu tố có nghĩa biểu
trưng rõ rệt, một số không có nghĩa biểu trưng Thí dụ quyền rơm vạ đá, nợ như chúa chổm (rơm, đá, chúa chổm có nghĩa biểu trưng) [37, tr.2] Cùng
quan điểm, cách nhìn như Bùi Khắc Việt, trong một loạt công trình về thành ngữ tiếng Việt, Hoàng Văn Hành không những thừa nhận nghĩa biểu trưng của các thành ngữ mà ông còn nghiên cứu cơ trình tạo nghĩa biểu trưng của thành ngữ, trong đó ngữ nghĩa của các yếu tố và vai trò, quan hệ tạo nghĩa chung của nó đã được ông chỉ ra Ông đã so sánh từ trong tổ hợp
từ tự do và từ trong tổ hợp cố định (như thành ngữ) về ngữ pháp và ngữ nghĩa và chỉ ra trong thành ngữ nghĩa đen của từ bị nhược hóa nhưng lại nảy sinh nghĩa từ vựng mới, có tính biểu trưng, ý nghĩa quan hệ biểu trưng bậc hai Tác giả viết: “Ngược lại, trong thành ngữ, các yếu tố cấu tạo tuy vốn có nguồn gốc là từ, nhưng các thuộc tính của từ (như có ý nghĩa từ vựng, có chức năng cú pháp) đã nhược hóa hoàn toàn Ở đây, ý nghĩa từ vựng của các yếu tố đã tan biến đi, thay vì nó là ý nghĩa quan hệ biểu trưng bậc hai, quan hệ cú pháp giữa các yếu tố bị đứt gãy, mờ nhòa, thay vào đó
là các mối liên hệ nội tại giữa các yếu tố bên trong một chỉnh thể Như vậy,
từ tổ hợp từ tự do đến thành ngữ là quá trình chuyển từ quan hệ cú pháp thành quan hệ hình thái Hệ quả của quá trình này là hiện tượng cố định hóa thành phần và cấu trúc của tổ hợp tự do, hiện tượng nhược hóa ngữ nghĩa của các thành tố, từ nghĩa đen, nghĩa sự vật - từ vựng đến nghĩa bóng, nghĩa liên đới, khái quát và hiện tượng nảy sinh nghĩa từ vựng mới
có tính biểu trưng, vốn không có trong các thành tố của nó trong tổ hợp từ
tự do - tiền thân của thành ngữ” [10, tr.44] Không chỉ phân tích cơ trình tạo nghĩa biểu trưng chung trên cơ sở khái quát hóa biểu trưng từ nghĩa
Trang 14biểu trưng của các yếu tố mà tác giả còn phân tích minh họa bằng một số ví
dụ cụ thể
Một khuynh hướng khác, cũng phân tích con đường hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ, chú ý tới nghĩa của các yếu tố trong sự hình thành nghĩa chung của thành ngữ nhưng tác giả chủ yếu nhìn từ góc độ tri nhận, theo phép liên tưởng chuyển nghĩa Có thể lấy công trình của Nguyễn Đức
Tồn: Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (2015) [34] đại
diện cho hướng nghiên cứu này Ông cho rằng hình ảnh trong thành ngữ là miền Nguồn và nghĩa biểu trưng của chúng là miền Đích Tác giả viết: “các thành tố cấu tạo nên thành ngữ là ẩn dụ hóa cũng chủ yếu là tên gọi của các loại sự vật, hiện tượng nói trên Đây chỉ là những đối tượng thuộc miền Nguồn của các ẩn dụ tri nhận hay ẩn dụ ý niệm trong thành ngữ tiếng Việt Còn miền Đích được quy chiếu chính là các phạm trù trừu tượng, tức các ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ” [34, tr.627] Cũng trong công trình này, tác giả đã phân tích và dẫn thêm phân tích của các tác giả khác về miền Nguồn
đối với một loạt yếu tố trong thành ngữ là các hình ảnh chỉ động vật (như rắn, chim, chó,…), miền Nguồn thực vật (như tre, liễu, chanh, khế,…),… mang
nghĩa biểu trưng [34, tr 627- 634]
Như vậy, có thể thấy rằng thành ngữ là một đơn vị được các nhà nghiên cứu quan tâm, đầu tư nghiên cứu từ rất sớm và có nhiều thành công Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đề cập đến nhiều vấn
đề, nhiều khía cạnh của thành ngữ, trong đó có vấn đề nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ và nghĩa biểu trưng của các thành tố trong quan hệ tạo nghĩa chung Song trong các công trình đó, các tác giả chưa có điều kiện
mở rộng nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các thành tố theo hệ thống từng nhóm (trường nghĩa) và cũng chưa đi sâu nghiên cứu nghĩa của các thành
tố trong cơ chế tạo nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ Cho tới nay,
Trang 15trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt” của Trịnh Cẩm Lan (Đại học quốc gia Hà Nội, 1995), tác giả ít nhiều đã đặt ra và cho thấy vai trò của các thành tố trong việc hình thành nghĩa biểu trưng chung của thành ngữ Cho nên, tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các thành tố trong thành ngữ còn là một điều mới, cần tiếp tục
Nhận thấy vấn đề nghiên cứu nghĩa chung của thành ngữ không thể không chú ý đến nghĩa biểu trưng của các thành tố (hay là hình ảnh) trong thành ngữ, gần đây, dưới sự hướng dẫn của Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, một số luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Vinh đã được thực hiện, như:
- Ý nghĩa biểu trưng của hệ thống con số trong ca dao người Việt,
(Trần Thị Lam Thủy, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh), 2006
- Hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt, (Bùi Thị Thi
Thơ, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh), 2006
- Nghĩa biểu trưng của các thành tố đất, trời, sông, núi trong thành
ngữ (so sánh với ca dao) (Trần Thị Huyền Trang, Luận văn thạc sĩ, Đại học
Với đề tài nghiên cứu “Nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật
nuôi trong thành ngữ tiếng Việt”, chúng tôi tiếp tục hướng nghiên cứu này, hy
vọng chỉ ra được các nghĩa biểu trưng cụ thể của các thành tố trên, qua đó
góp phần tìm hiểu cơ chế tạo nghĩa biểu trưng của thành ngữ nói chung
Trang 161.2 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Những vấn đề chung về thành ngữ
1.2.1.1 Khái niệm thành ngữ
Thành ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, nó là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn ngữ Thành ngữ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của văn hóa, văn học mà nó còn là đối tượng quan trọng của ngôn ngữ học Qua các công trình nghiên cứu đã công bố có thể thấy tiếng Việt có một khối lượng thành ngữ rất lớn, phong phú và đa dạng Thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt ở nhiều phương diện, nhất
là ở phương diện tu từ
Các nhà ngôn ngữ khi nghiên cứu về thành ngữ đã mổ xẻ tìm hiểu nó từ nhiều góc cạnh khác nhau và trong mỗi công trình nghiên cứu các tác giả đều nêu ra cách hiểu về thành ngữ, định nghĩa nó một cách cụ thể Nội dung khái niệm thành ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, mỗi nhà nghiên cứu tìm cho mình một khái niệm riêng, phù hợp
Năm 1976, với công trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tác giả
Nguyễn Văn Tu đưa ra định nghĩa nghiêng về khẳng định ý nghĩa và tính chất
cố định, chặt chẽ trong cấu tạo của thành ngữ: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng cũng có thể không
có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của các từ trong đó nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [36]
GS Đỗ Hữu Châu lại xác định thành ngữ ở đặc tính tương đương với
từ của chúng Ông viết: “Cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chì vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc…
Trang 17như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” [2]
Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao đã phân biệt thành ngữ và tục ngữ ông cho rằng “thành ngữ là hoa còn tục ngữ là quả”, nghĩa là:
thành ngữ là một phán đoán chưa hoàn chỉnh còn tục ngữ thì đã là một câu,
một phán đoán trọn vẹn Ông nêu lên định nghĩa: “Thành ngữ là những đơn vị
có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động” [15; 47] Như vậy, theo tác giả thì khái niệm thành ngữ khá
ngắn gọn và đơn giản nhưng xét trong quan hệ với từ thì định nghĩa này ta thấy chưa có sự khác biệt rõ giữa hai đơn vị này
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, khái niệm thành ngữ được định nghĩa như sau: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu” [22]
Từ góc độ ngôn ngữ học, chú ý tới đặc trưng cơ bản của thành ngữ,
cố GS Hoàng Văn Hành đã từng đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn
chỉnh: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với chức năng như từ” [10; 148]
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về thành ngữ
như: Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt (1974) của Trương Đông San; Thành ngữ tiếng Việt (1987) của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang; Từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (1989) của Nguyễn Lân; Dù tiếp cận đối tượng ở những
góc độ khác nhau và với mục đích không như nhau nhưng trong các công trình của mình, các tác giả cũng đều đưa ra hay ủng hộ một quan niệm, một định nghĩa về thành ngữ
Trang 18Trong nghiên cứu đề tài, luận văn không bàn sâu về khái niệm thành ngữ mà chỉ dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu tạm nêu lên một định nghĩa ngắn gọn để tiện cho quá trình nghiên cứu đề tài này
“Thành ngữ là một cụm từ cố định có kết cấu vững chắc, mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ”
1.2.1.2 Đặc trưng thành ngữ
Thành ngữ là đơn vị định danh có chức năng sử dụng tương đương như từnhưng hiệu quả tác động của nó thì rất lớn Thành ngữ được xem là nghệ thuật ăn nói của nhân dân, nó được cô đúc thành những đơn vị ngắn gọn, súc tích, bền vững, có ngữ nghĩa cao, đa dạng về nghĩa Vì vậy mà thành ngữ được nhân dân sử dụng thường xuyên trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Có được điều đó là nhờ đặc trưng của thành ngữ mang lại Đã có nhiều ý kiến phân tích, nghiên cứu về thành ngữ cũng nhằm tìm ra đặc trưng của nó
Theo GS Hoàng Văn Hành thì thành ngữ có hai đặc trưng cơ bản: [8; 25]
- Tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc do thói quen
sử dụng của người bản ngữ
- Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa
Một số nhà nghiên cứu khác, như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… lại cho rằng thành ngữ có ba đặc trưng cơ bản sau:
- Thành ngữ có tính hài hòa - điệp đối
- Thành ngữ giàu hình ảnh
- Thành ngữ mang ý nghĩa khái quát, biểu trưng
Hiện nay, khi nói đến đặc trưng của thành ngữ các nhà ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các đặc trưng cơ bản sau
Thứ nhất, là tính hài hòa, điệp đối của thành ngữ, đó là đặc trưng được thể hiện rõ nhất ở lớp thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng (thành ngữ đan chéo bốn âm tiết) Chúng ta có thể thấy tính điệp đối ngay từ mô hình cấu trúc: Ax - Ay như:
Trang 19Ăn bớt/ ăn xén Sức dài/ vai rộng Lên thác/ xuống ghềnh Bữa đực/ bữa cái Cháy gan/ cháy ruột Hoặc những thành ngữ đối xứng theo kiểu như: bán nước/ buôn dân, hương tàn/ khói lạnh, cuối đất/ cùng trời, năm nắng/ mười mưa
Loại thành ngữ này được tạo thành bởi hai vế đối xứng nhau về ý và lời thông qua một trục hài hòa về âm thanh, vần điệu
Thứ hai, là đặc trưng hình ảnh, thành ngữ là nơi thể hiện rõ nhất thói quen, lối nói ưa sử dụng hình ảnh của người Việt Hình ảnh hay nói đúng hơn tính hình tượng trong thành ngữ là một đặc trưng nổi bật Từ những hình ảnh
cụ thể: Ăn chắc mặc bền, Da bọc xương, Ngày một ngày hai, Ruộng cả ao kề,… cho đến những hình ảnh trừu tượng: Chuột sa lọ mỡ, Bán nước buôn dân, Chích ảnh cô thân… Hầu hết các hình ảnh được chọn lựa là kết quả của lối nói khoa trương: Bầm gan tím ruột, Rán sành ra mỡ, Ngáy như sấm… Nói
đến thành ngữ người ta nghĩ ngay đến hình ảnh như một lẽ tự nhiên Chính ở đặc trưng này, nhiều người đã ngộ nhận nghĩa của thành ngữ là hình ảnh Điều đó tất nhiên là không đúng vì có những thành ngữ không gợi nên một
hình ảnh nào: Lòng tham không đáy, Khoa chân múa tay nhưng nó vẫn
được xem là thành ngữ
Sự độc đáo khác của hình ảnh trong thành ngữ là nó vừa có tính khách quan vừa có tính cá biệt Một hình ảnh trong thành ngữ được nhân dân vận dụng từ trong cuộc sống, từ trong hiện thực khách quan nhưng khi đi vào lời nói nó mang những nét cá biệt về ý nghĩa Chẳng hạn như hình ảnh con trâu
trong thành ngữ “Trâu buộc ghét trâu ăn” biểu trưng cho kẻ ganh tị, kèn cựa, tức tối vì người khác hơn mình, còn trong thành ngữ “Trâu chậm uống nước”
hình ảnh trâu lại chỉ sự thua kém, thua thiệt hơn người khác vì sự chậm trễ
Trang 20Rõ ràng hình ảnh chỉ có một nhưng ý nghĩa thì nhiều hơn một, có những nghĩa thậm chí trái ngược nhau Như vậy, hình ảnh có một nhưng ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào cách vận dụng kết hợp của người nói, tùy thuộc vào hoàn cảnh sử dụng
Thứ ba, là về nghĩa của thành ngữ Nghĩa của thành ngữ là vấn đề còn tồn tại nhiều quan điểm Có ý kiến đồng nhất nghĩa và hình ảnh, một số nhà nghiên cứu khác lại quan niệm khác
GS Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Đối với thành ngữ, cần phân biệt hai phương diện ý nghĩa, ý nghĩa từ nguyên là ý nghĩa hình thành từ nghĩa riêng của các thành tố theo qui tắc cú pháp và ý nghĩa thực tại (…) căn cứ vào hình thái bên trong người ta có thể giải thích lý do ngữ nghĩa của các ý nghĩa thực tại” [6; 187]
Trong các công trình nghiên cứu của mình các nhà nghiên cứu như: Bùi Khắc Việt (1978), Nguyễn Văn Mệnh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Đức Dân (1986) đều khẳng định thành ngữ có hai loại nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng, hay còn gọi là nghĩa khái quát và nghĩa biểu trưng Tác giả Bùi
Khắc Việt trong bài Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt có viết:
“Do sự vật hoặc hình ảnh có một số phẩm chất nào đó chung với điều nó biểu hiện nên biểu trưng gợi cho ta một ý niệm về nội dung biểu hiện” [37]
Trong quá trình xác định khái niệm thành ngữ, tác giả Nguyễn Văn
Mệnh cũng đã nêu quan điểm: “ý nghĩa của thành ngữ không phải là số cộng giản đơn và trực tiếp ý nghĩa các thành tố như ở trường hợp các ngữ tự do hoặc quán ngữ mà hình thành dựa trên cơ sở khái quát và tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố” [22; 13]
Tác giả Đỗ Hữu Châu xem tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa quan
trọng nhất của thành ngữ: “ ( ) biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định,
mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn
Trang 21một khái niệm đơn” ( ) [2; 82] Cần khẳng định rằng, nghĩa của thành ngữ
không phải là nghĩa đen hay nghĩa hình ảnh Có thể lấy một ví dụ: câu thành
ngữ “Bật đèn xanh” nó không còn là biểu hiện của tín hiệu giao thông cho
phép phương tiện đi qua mà còn là hành động ngầm cho phép tự do làm một
việc gì đó Hay thành ngữ “Giẫm chân tại chỗ” không còn chỉ hành động cụ
thể của một người đang đứng giẫm chân trong hàng ngũ theo lệnh mà còn có nghĩa chỉ tình trạng trì trệ bế tắc, đứng nguyên chỗ cũ, không tiến lên được Những nghĩa này gọi là nghĩa bóng, hay còn gọi là nghĩa biểu trưng
1.2.1.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ và ca dao
a Về nội dung ý nghĩa
- Nội dung của thành ngữ là biểu thị một khái niệm, tương đương với
từ Chẳng hạn, thành ngữ: Mẹ tròn con vuông có nghĩa là tốt đẹp, may mắn (trong sinh đẻ), Mặt trơ trán bóng chỉ sự bướng bỉnh, Ba chân bốn cẳng chỉ
sự vội vã… Nghĩa của thành ngữ là nghĩa khái quát, nghĩa bóng (còn gọi là
nghĩa biểu trưng) toát ra từ toàn bộ kết cấu Chẳng hạn, các thành ngữ: Công
dã tràng, Nước đổ dầu vịt, Nước đổ lá khoai đều biểu thị nội dung khái
niệm: sự phí công, hoài công cho việc làm nào đó không có hiệu quả như
mong muốn; hay các thành ngữ: Ăn đói mặc rách, Nhà tranh vách đất, Nghèo rớt mồng tơi đều biểu thị nội dung khái niệm: cảnh nghèo, đói khổ
- Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, con người và
xã hội ), được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hàng ngày
Ví dụ:
+ Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa Đây là câu tục ngữ thể hiện kinh
nghiệm về tự nhiên Nghĩa của câu tục ngữ là ngày nào đêm trước trời có nhiều sao, hôm sau sẽ nắng; trời ít sao sẽ mưa Tuy nhiên cần chú ý, không
Trang 22phải hôm nào trời ít sao cũng mưa Phán đoán trong tục ngữ, do dựa trên kinh nghiệm, không phải lúc nào cũng đúng Câu tục ngữ này giúp con người có ý thức biết nhìn sao để dự đoán thời tiết, sắp xếp công việc
+ Đói cho sạch, rách cho thơm Đây là câu tục ngữ thể hiện kinh
nghiệm của con người trong cuộc sống hằng ngày Nghĩa của câu tục ngữ
là dù đói vẫn phải ăn uống sạch sẽ, dù rách vẫn phải ăn mặc sạch sẽ, giữ gìn cho thơm tho Từ nghĩa đen suy luận ra nghĩa bóng là dù nghèo khổ, thiếu thốn vẫn phải sống trong sạch, không vì nghèo khổ mà làm điều xấu
xa, tội lỗi
- Nội dung của ca dao là một thông điệp được diễn tả đầy đủ, rõ ràng (tương đương một câu hay một văn bản, bằng văn vần), đề cập đến tâm trạng, tình cảm, tình yêu trai gái, tình yêu quê hương, làng xóm, gia đình Bởi thế
ca dao được xem là thơ ca dân gian đích thực, là điệu hồn dân tộc:
+ Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này;
+ Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…
b Về hình thức
- Thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp theo kiểu cụm từ cố định (có giá trị tương đương từ), có kết cấu bền vững Thành ngữ chủ yếu là 4 âm tiết (số thành ngữ có số lượng âm tiết lớn rất ít)
Do có cấu tạo là cụm từ cố định nên thành ngữ mang chức năng định danh (gọi tên sự vật, khái niệm, hình ảnh, thuộc tính ) và chỉ là bộ phận cấu tạo nên câu
Ví dụ:
+ Bà cô ấy được cái là hay ba hoa chích chòe; Nó là một đứa chỉ biết
há miệng chờ sung thôi Hai thành ngữ vừa dẫn đều nằm trong bộ phận vị ngữ của câu
Trang 23+ Quân đầu trộm đuôi cướp, đứa trời đánh thánh vật đã ăn trộm gà của nhà bà Hai thành ngữ vừa dẫn đều thuộc bộ phận chủ ngữ của câu
- Mỗi câu tục ngữ là một câu nói diễn đạt một ý trọn vẹn Câu tục ngữ
có đặc điểm là rất ngắn gọn, hàm súc, có kết cấu bền vững Tục ngữ thường
có vần nhất là vần lưng: Ráng mỡ gà có nhà thì giữ; Một mặt người bằng mười mặt của Các vế thường đối xứng nhau cả về hình thức và cả về nội
dung Lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh
- Ca dao là những câu - bài hoàn chỉnh, có số lượng âm tiết lớn, từ 2 dòng trở lên, sử dụng thể lục bát là chủ yếu, ngoài ra còn có thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn, song thất lục bát Lời ca dao ngắn nhất gồm hai dòng thơ:
- Cơm ăn mỗi bữa một lưng Uống nước cầm chừng để dạ thương em
- Phải chi sông cái có cầu
Em qua em giải cơn sầu cho anh
Có khi là 4 dòng hay nhiều hơn:
- Phải duyên em nhất định theo Nào ai có quản khó nghèo chi đâu
Đời này ai muốn chuốc lấy thảm sầu Cầu dừa mà vững nhịp, còn bằng vạn cầu Bông Miêu
- Ngồi đêm trông thấy trăng tròn Muốn toan hỏi nguyệt mà đoan mấy lời
Nguyệt rằng vật đổi sao dời Thân này sẽ để cho người soi chung
Làm cho tỏ mặt anh hùng Ngàn năm sương tuyết một lòng thanh quang
Ca dao có thể bao chứa cả thành ngữ:
- Mẹ già ở cạnh lều gianh Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con…
Trang 24- Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
Tóm lại, thành ngữ là tổ hợp cố định, biểu thị khái niệm, có chức năng tương đương như từ; tục ngữ là câu nói ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, giàu hình ảnh, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt; còn ca dao là tổ hợp
tự do, biểu thị thông báo, có chức năng của một câu, một văn bản
1.2.2 Một số nét cơ bản về nghĩa của từ và thành ngữ
1.2.2.1 Nghĩa của từ
Từ bao gồm hai mặt: âm và nghĩa Như ta đã biết, từ là một loại kí hiệu đặc biệt, chứa trong nó nhiều mối quan hệ hơn tất cả các loại kí hiệu lấy âm thanh làm cái biểu đạt Do vậy nghĩa của từ, cái được biểu đạt trong từ là một phức thể có được nhờ sự tổng hợp các mối liên hệ của nhiều yếu tố bên trong
và bên ngoài ngôn ngữ Nhân tố bên trong là toàn bộ các quan hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp diễn ra trong lòng hệ thống ngôn ngữ Nhân tố bên ngoài
là toàn bộ sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Theo Đỗ Hữu Châu “…
Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ Các thực thể tinh thần đó hình thành từ một nhân tố không đồng nhất với những nhân tố đó nhưng không có những nhân tố này thì không có nghĩa của từ Các nhân tố tự mình chưa phải là nghĩa, ở bên ngoài nghĩa nhưng để lại những dấu vết trong nghĩa, góp phần nhào nặn nên nghĩa của từ Nói cách khác, nghĩa của từ là hợp điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong
số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ” [2, 166]
Từ không phải là một đơn vị biệt lập, nghĩa của từ không phải là một khối đơn nhất Nghĩa của từ là một phức thể gồm nhiều thành tố, có thành tố nằm trong nội bộ của từ, có thành tố nằm trong mối quan hệ phức tạp của hoạt
Trang 25động ngôn ngữ Mối liên hệ giữa tín hiệu với tư duy làm nên nghĩa biểu niệm của từ; mối liên hệ giữa tín hiệu với hệ thống từ vựng, với các từ khác trên hình tuyến làm nên nghĩa cấu trúc của từ; mối liên hệ giữa tín hiệu với người dùng nó làm nên nghĩa ngữ dụng của từ Các thành phần nghĩa của từ nói trên, không hiện hữu như nhau trong các từ loại khác nhau của một ngôn ngữ
và được bộc lộ rất khác nhau trong hoạt động Khi nói về nghĩa của từ, người
ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau:
- Nghĩa biểu vật: là sự phản ánh mối quan hệ của từ với sự vật Nghĩa biểu vật là hình ảnh về sự vật nhưng không trùng khít lên sự vật (mang tính khái quát) nên được xem là cái ánh xạ của sự vật, thuộc tính vận động ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ Ánh xạ có nghĩa là không hoàn toàn đồng nhất, có sự sáng tạo lại, nói tổng quát là có sự ngôn ngữ hóa, sự cấu trúc hóa bởi ngôn ngữ đối với những cái có trong thực tế ngoài ngôn ngữ Ý nghĩa biểu vật trước hết được biểu hiện trong các danh từ (có tính khách quan cao, tính khái quát cao) Tuy nhiên không phải chỉ có các danh từ mới có ý nghĩa biểu vật
Ý nghĩa biểu vật của các tính từ là các thuộc tính, của các động từ là các quá trình, các hoạt động Sự vật, thuộc tính, quá trình, hoạt động có tính khách quan nhưng nghĩa biểu vật về các sự vật, thuộc tính, quá trình, hoạt động đã trải qua nhận thức chủ quan của con người, cho nên nó không hoàn toàn đồng nhất Sự can thiệp của yếu tố con người (nhận thức) đối với nghĩa cũng có những mức độ khác nhau
Ví dụ như: cao, dài, rộng, cứng, mềm, dẻo, vuông, tròn, là những đặc
tính về hình dáng, về kích thước, về thể trọng của sự vật Vì vậy những từ
này có tính khách quan cao Song những từ như: nóng, ẩm, lạnh, nặng, nhẹ, bóng, mượt, dịu, thô, ráp, đẹp, xấu, là những thuộc tính mà con người qua các giác quan đem lại cho sự vật, do vậy nó có tính khách quan thấp
Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất hoặc phi bản chất
Trang 26Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh, thần, ma, quỷ, thiên đường, địa ngục,…
- Nghĩa biểu niệm: là sự phản ánh mối quan hệ của từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh của thuộc tính vào trong ý thức của con người) Ý nghĩa biểu niệm của từ là hợp thể những hiểu biết được đưa vào hệ thống ngữ nghĩa của một ngôn ngữ về ý nghĩa biểu vật của từ đó Nói cách khác, ý nghĩa biểu niệm của
từ là một cấu trúc gồm các nét nghĩa phản ánh các đặc điểm, thuộc tính cơ bản của sự vật hiện tượng, nghĩa là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Ta có sơ đồ sau:
TƯ DUY NGÔN NGỮ Khái niệm Ý nghĩa biểu niệm
Hiện thực ngoài ngôn ngữ Ý nghĩa biểu vật
Ngoài hai phần nghĩa trên, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân
ra hai thành phần nghĩa nữa, đó là: nghĩa dụng học và nghĩa cấu trúc
- Nghĩa dụng học còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ, là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói (liên cá nhân, con người gán cho sự vật, tính chất qua sự cảm nhận, qua tri giác, nhận thức của con người, không có con người thì không thể có nét nghĩa đó)
Ví dụ: nhẹ và lạnh
Nhẹ: tính chất về trọng lượng Lạnh: tính chất về nhiệt độ
Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là bao nhiêu kilogam được xem là nhẹ, bao nhiêu độ được xem là lạnh? Điều này tùy thuộc vào người đánh giá, vật được
Trang 27đánh giá Cho nên nhất thiết phải có hai nét nghĩa dụng học: so với mức chịu đựng trung bình của từng loại người; theo đặc tính trung bình của từng loại sự vật được con người quy định cho sự vật đó
- Nghĩa cấu trúc là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống
từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và trục ngữ đoạn Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt giữa từ này với từ khác Còn quan hệ ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ vị - khả năng kết hợp của từ
1.2.2.2 Các thành phần nghĩa và cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ
Thành ngữ - với tư cách là một đơn vị đặc biệt của từ vựng - ngữ nghĩa,
về bình diện ngữ nghĩa của thành ngữ luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Trước hết nghĩa của thành ngữ được xác nhận như là một chỉnh thể định danh, tương đương với từ Tuy nhiên, định danh của thành ngữ lại là định danh bậc hai, được khái quát trên cơ sở kết hợp các từ ngữ tạo nên thành ngữ,
mà ngụ ý điều gì đó lại suy ra từ chúng [7; 28]
Cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thường được diễn giải thành một cụm từ tự do trong đó có một trung tâm (hoặc một cụm từ trung tâm) và những thành phần phụ bổ sung những sắc thái phụ cho ý nghĩa của thành phần trung tâm [1; 79]
Ngữ nghĩa của thành ngữ cũng được nhắc đến với những đặc điểm như: Tính biểu trưng, tính hình tượng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc Đây
là những đặc điểm làm nên giá trị ngữ nghĩa độc đáo của thành ngữ trong các hoạt động
Tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng nhất của thành ngữ tiếng Việt, làm nên nét khu biệt quan trọng giữa thành ngữ với đơn vị tương đương nó là từ Thành ngữ tiếng Việt lấy những vật thực, việc thực để biểu
Trang 28trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế,… phổ biến khái quát Đặc điểm nổi bật trong nghĩa của từ là tính võ đoán, còn đặc điểm nổi bật trong thành ngữ là tính biểu trưng Vấn đề biểu trưng hoá làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩa của thành ngữ Như vậy, có nghĩa là nghĩa của thành ngữ được hình thành bằng cơ chế biểu trưng hóa
GS Hoàng Văn Hành cho rằng: “Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả của hai hình thái biểu trưng hóa so sánh và ẩn dụ” [8; 29] Với thành ngữ so sánh, ta có những thành ngữ như: Đau như cắt; Đẹp như tiên; Đen như quạ; Khỏe như trâu đất; Lạnh như tiền; Đông như kiến,… với thành ngữ ẩn dụ, ta có những thành ngữ như: Ăn đất nằm sương; Bán thân nuôi miệng; Chó tha đi mèo tha lại; Chuột sa chĩnh gạo; Chửi mèo quèo chó;
Cá mè một lứa; Đơn thương độc mã;…
Trên thực tế, ta còn thấy có một bộ phận thành ngữ tiếng Việt dùng
hình ảnh hoán dụ để biểu trưng hóa ngữ nghĩa cho mình Ví dụ: Mồm năm miệng mười; Tai to mặt lớn; Má phấn môi son; Chân lấm tay bùn,… Như vậy
có thể nói rằng hoán dụ cũng là một phương thức biểu trưng hóa ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Ngoài ra, còn có một phương thức biểu trưng hóa ngữ nghĩa của thành ngữ dựa trên cơ sở các điển tích, điển cố Đối với loại này thì giá trị nghĩa biểu trưng của thành ngữ được toát lên từ chính nội dung ngữ nghĩa mà các điển tích
điển cố đã xây dựng VD: Bá Nha Tử Kỳ; Ngưu Lang Chức Nữ; Nợ như chúa Chổm; Vắng như chùa Bà Đanh, Đến nay, các thành ngữ tiếng Việt vẫn đang
tiếp tục được hình thành bằng cả bốn hình thái biểu trưng hóa nói trên
Cùng với tính biểu trưng, tính dân tộc cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của nghĩa của thành ngữ Thật ra, tính dân tộc không phải là đặc điểm riêng của thành ngữ mà là đặc điểm chung của một ngôn ngữ cụ thể, song nó lại được thể hiện đậm nét hơn ở thành ngữ Có thể tìm thấy trong
Trang 29thành ngữ tiếng Việt những hình ảnh quen thuộc, những hình ảnh đặc trưng
của quê hương xứ sở Việt Nam như hình ảnh con mèo, con chuột, con voi, con đỉa, con ngựa, con trâu, con bò, con chó, cái khố, tấm áo, và có thể tìm
thấy trong thành ngữ những cảnh sinh hoạt quen thuộc, thể hiện rõ nét văn
hóa Việt trong xã hội xưa như cảnh ông Từ vào đền; Chân lấm tay bùn; Bát cơm sẻ nửa; Chia ngọt sẻ bùi; Chung lưng đấu cật,…
Một đặc trưng nữa về nghĩa của thành ngữ đó là tính hình tượng và tính
cụ thể Theo Đỗ Hữu Châu, tính hình tượng của thành ngữ là kết quả tất yếu của tính biểu trưng Thật vậy, các hình ảnh được sử dụng trong thành ngữ đều
là những sự vật, sự việc cảm giác được, quan sát được, do đó những hình ảnh này thường gây ấn tượng mạnh mẽ đến nhận thức của người đọc Cần lưu ý rằng, mặc dù nghĩa của thành ngữ luôn vượt ra khỏi ý nghĩa trực tiếp của các
sự vật, hiện tượng được nói đến trong thành ngữ, thế nhưng điều đó không có nghĩa là nó làm mất đi tính cụ thể, tính hình tượng của thành ngữ
Đặc trưng cuối về nghĩa của thành ngữ là tính biểu thái Mỗi thành ngữ được sử dụng luôn đi kèm theo thái độ, cảm xúc, tình cảm của người nói Đó
có thể là sự kính trọng, lòng khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định,… của chúng ta đối với con người, sự vật, sự việc được nói tới
Cuối cùng, cần đặt từ ngữ vào trong các ngữ cảnh sử dụng của chúng
để thấy được những đặc trưng ngữ nghĩa vượt trội của nó trong các hoạt động ngôn ngữ phong phú của người Việt Khi hành chức, ngoài chức năng định danh (nghĩa từ vựng) thông thường với đặc điểm ngữ nghĩa hết sức ưu việt của mình, thành ngữ còn đóng những vai trò quan trọng trong cấu trúc ngữ cảnh mà nó tham gia
1.2.3 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ
1.2.3.1 Khái niệm nghĩa biểu trưng
Theo GS Nguyễn Đức Tồn, biểu trưng là “cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác
Trang 30mang tính trừu tượng Một sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó (kèm theo là tên gọi của nó) sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Nghĩa biểu trưng có thể được hình thành dựa trên những đặc điểm tồn tại khách quan ở đối tượng, đồng thời còn có thể có được dựa trên cả sự “gán ghép” theo chủ quan của con người” [34; 378]
Các tác giả cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên) cho rằng: “Nghĩa biểu trưng là nghĩa bắt nguồn từ nghĩa đen, hoặc một nghĩa bóng khác nhờ kết quả của việc sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị sự vật, không phải nhờ vào qui chiếu tự nhiên, thường xuyên Một từ có được nghĩa bóng khi nó định danh sự vật không phải trực tiếp mà là qua một sự vật khác theo phép ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ” [39; 144]
Như vậy, nghĩa biểu trưng không chỉ được hình thành trên cơ sở quan
hệ tương đồng hay tương cận của chính sự vật, hiện tượng đó tồn tại trong thực tế khách quan mà còn mang tính chủ quan, trừu tượng Những từ có nghĩa chỉ đặc điểm, thuộc tính nổi trội của sự vật và có khả năng chuyển nghĩa hoặc mang tính qui ước của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận thì mới có thể mang nghĩa biểu trưng
1.2.3.2 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ
Một số tác giả như Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân, Bùi Khắc Việt… coi nghĩa biểu trưng là ngữ nghĩa số một của thành ngữ Theo Bùi Khắc Việt trong bài viết “Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt” (1987), muốn xác định, lí giải nghĩa biểu trưng thì phải xem xét mối quan hệ giữa sự vật hoặc hình ảnh với ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, và chia nghĩa biểu trưng của thành ngữ làm hai loại: thành ngữ biểu trưng hóa toàn bộ và thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận Thực tế cho thấy quá trình liên tưởng dẫn đến các nghĩa bóng, nghĩa chuyển thông qua các phương thức ẩn dụ, hoán dụ, cải dung cũng là quá trình hình thành nghĩa biểu trưng
Trang 31Khi ta tiếp cận thành ngữ, nghĩa là ta đang tìm hiểu thành ngữ trên hai phương diện Phương diện tiếp xúc trực tiếp trên câu chữ theo kết hợp từ, theo các hình ảnh trong thành ngữ cho ta nghĩa gốc (còn gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa định danh sự vật); và phương diện tiếp nhận: lớp nghĩa ẩn sau các từ ngữ, hình ảnh chính là nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng) - ý nghĩa quan trọng nhất mà người nghe cần lĩnh hội được
Ví dụ: Thành ngữ Như hạn mong mưa Nghĩa gốc ban đầu: chỉ thời tiết
(hạn: hiện tượng nắng lâu ngày, không có mưa, khô nẻ, còn mưa: nước đổ xuống) Nghĩa này sau trở thành nghĩa bóng thông qua hiện tượng nhân hóa (hạn mong mưa) Nghĩa bóng đó là cơ sở tạo ra nghĩa biểu trưng Khi nghe thành ngữ này, người ta không chỉ hiểu nghĩa là thành ngữ biểu thị hiện tượng trời nắng lâu ngày dẫn đến hạn hán, vạn vật đều héo úa, khô cằn cần có mưa, mong mỏi có trận mưa để tìm lại sự sống, mà thành ngữ này còn gợi ra những liên tưởng nhiều hơn thế Chẳng hạn: để chỉ sự mòn mỏi chờ đợi, rất mong mỏi gặp lại, khát khao chờ đợi… tạo thành một ấn tượng so sánh (Anh mong
em như hạn mong mưa)
Nghĩa biểu trưng của thành ngữ được hình thành trên cơ sở khái quát hóa nghĩa biểu trưng của các thành tố - các hình ảnh biểu trưng trong thành
ngữ Ví dụ thành ngữ “Đầu voi đuôi chuột” mang nghĩa biểu trưng chỉ kế
hoạch, chủ trương đề ra lúc đầu thì rất lớn nhưng kết quả thực hiện được lại rất nhỏ, thậm chí bỏ dở, không làm đến nơi đến chốn Nghĩa này được khái quát hóa từ nghĩa biểu trưng của hai thành tố - hai hình ảnh chủ yếu trong
thành ngữ, đầu voi - biểu trưng cho kế hoạch, chủ trương lớn, trong đó voi biểu trưng cho cái to lớn và đầu biểu trưng cho cái mở đầu; đuôi chuột - biểu
trưng cho việc kết quả đạt được rất nhỏ với chuột biểu trưng cho sự nhỏ bé và
đuôi biểu trưng cho cái cuối, cái kết thúc Hay như thành ngữ “Cáo mượn oai hùm” mang nghĩa biểu trưng chỉ người nào đó mượn quyền uy của kẻ mạnh
Trang 32để ức hiếp, dọa dẫm người khác Nghĩa này được khái quát hóa từ nghĩa biểu
trưng của hai thành tố - hai hình ảnh chủ yếu trong thành ngữ, cáo - biểu trưng chỉ kẻ yếu, hùm (hổ) - biểu trưng chỉ kẻ mạnh
Như vậy, ta có thể khái quát về nghĩa biểu trưng của thành ngữ là toàn
bộ ý nghĩa, ý niệm khái quát suy ra từ hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả, đề cập, gọi tên trong thành ngữ Nội dung của thành ngữ là sự thống nhất của hai ý nghĩa đó, trong đó nghĩa gốc, nghĩa đen là cơ sở để tạo nên nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng Muốn lí giải nghĩa biểu trưng phải xuất phát từ nghĩa gốc ban đầu, ngược lại, nghĩa gốc là cơ sở để tạo nên các liên tưởng, tạo thành nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng của thành ngữ là sự khái quát từ nghĩa biểu trưng của các thành tố trong thành ngữ
1.2.4 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua nghĩa của từ và thành ngữ
1.2.4.1 Khái niệm văn hóa
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm văn hóa bao gồm những nghĩa sau:
1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử: Kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phương Đông
2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống
tinh thần (nói khái quát): Phát triển văn hóa, công tác văn hóa
3 Tri thức biểu thức khoa học (nói khái quát): Học văn hóa, Trình độ văn hóa
4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh: Sống có văn hóa, Ăn nói thiếu văn hóa
5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ
sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau
văn hóa gốm màu: Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh [26]
Trang 33Tác giả Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam định nghĩa:
“Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc của một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện bằng một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [23]
Frederic Mayor, nguyên Tổng thư ký UNESCO định nghĩa: “Văn hóa
là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu, những yếu
tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [dẫn theo Nguyễn Hữu Thọ - Một
số suy nghĩ về nội dung văn hóa trong giảng dạy tiếng Pháp]
Còn tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [32]
Các định nghĩa trên khác nhau về nhiều điểm nhưng có điểm chung là nói đến văn hóa là nói đến những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
1.2.4.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã được bàn đến từ cuối thế kỷ XIX Bắt đầu từ công trình của nhà ngôn ngữ học người Đức Withelm Von Humboldt Về sau, hàng loạt tác giả đều đề cập đến, xây dựng tương đối hoàn chỉnh về khung lý thuyết cho mối quan hệ phức tạp nhưng không kém phần lý thú này Người ta đã phân xuất ra hàng loạt các đặc điểm của văn hóa và cách thức diễn đạt văn hóa qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Dù bằng cách nào, khi
Trang 34lí giải mối quan hệ này nhất định phải nói đến bộ ba: Văn hóa - Ngôn ngữ -
Mác cho rằng: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện tư duy, truyền đạt, lưu giữ truyền thống văn hóa, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Những thông tin của ngôn ngữ truyền đạt không chỉ là những thông tin mang tính xã hội mà cả những thông tin phản ánh tâm sự, nỗi niềm của những cá nhân riêng lẻ Ngôn ngữ đã giúp con người biểu đạt tư duy, tư tưởng, không có tư duy trần trụi thoát khỏi vỏ ngữ liệu”
Có thể hiểu tư duy như là một hoạt động trí tuệ của con người Như vậy, ngôn ngữ còn đảm nhận chức năng làm công cụ hoạt động trí tuệ Để thực hiện hành động này, con người phải có một tổng thể tri thức đạt được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan Ngôn ngữ chính là phương tiện chủ yếu để tàng trữ những tri thức ấy và nhờ ngôn ngữ mà con người có thể truyền thụ tri thức từ đời này sang đời khác, đến tận từng cá thể Không phải
Trang 35ngẫu nhiên mà một số nhà nghiên cứu gần đây nói đến những chức năng như: chức năng bảo tồn các kinh nghiệm lịch sử, xã hội, chức năng phản ánh những đặc thù văn hóa dân tộc… của ngôn ngữ
Ngôn ngữ còn được loài người dùng làm phương tiện duy nhất để xây dựng hiện tượng ngôn từ Trong quá trình tư duy, con người đối diện với thế giới thực tại, nhận biết thế giới ấy theo cách biểu trưng hóa bằng những thao tác liên tưởng, tưởng tượng của trí tuệ đã sáng tạo ra một thế giới ảo trong đầu
óc - thế giới ý niệm, rồi cũng bằng phương pháp biểu trưng đã diễn đạt như thật và hấp dẫn bằng thế giới biểu tượng - thế giới của sáng tạo văn hóa Con đường đó được thực hiện nhờ ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò lưu giữ và bảo tồn văn hóa, có khả năng lưu giữ lớn nhất và lâu dài nhất Ngôn ngữ có vai trò sáng tạo và phát triển văn hóa (là chất liệu để tạo ra các tác phẩm văn học, là yếu tố thứ nhất của tác phẩm văn học, là chất liệu tham gia vào sáng tạo nghệ thuật khác) Ngôn ngữ còn thúc đẩy nền văn hóa xã hội phát triển: pháp luật, đạo đức, các lĩnh vực liên quan đến con người, là động lực cho xã hội phát triển và ngày càng tiên tiến, văn minh Ngôn ngữ làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, thế giới ngày càng gần với nhất thể hóa, nó là trung tâm trong đời sống văn hóa nhân loại Ngôn ngữ giúp con người lương thiện sống gần nhau hơn
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngôn ngữ lên hàng đầu trong các yếu tố
cấu thành văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, văn nghệ, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
Văn hóa đi vào ngôn ngữ và làm thành các giá trị cho ngôn ngữ (văn hóa là nội dung bên trong, ngôn ngữ là hình thức bên ngoài) Nói cách khác,
Trang 36giá trị của ngôn ngữ một phần rất quan trọng được làm thành từ các giá trị văn hóa Văn hóa làm cho ngôn ngữ có tính biểu trưng, tính đa nghĩa
Văn hóa (văn hóa sinh hoạt tinh thần và sinh hoạt vật chất) góp phần làm ngôn ngữ trở thành một chất liệu để sáng tạo nghệ thuật và đồng thời nhờ có văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng làm cho ngôn ngữ giữa các vùng dân cư mang bản sắc, đặc trưng của từng vùng và tính đa thanh, đa nghĩa của ngôn ngữ
1.2.4.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua thành ngữ
Người dân lao động không chỉ làm ra của cải, vật chất mà còn sáng tạo
ra các giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có các sáng tác dân gian Thành ngữ, tục ngữ, ca dao là lời ăn tiếng nói của nhân dân, ra đời từ lao động và sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động Theo các nhà nghiên cứu thì các sáng tác dân gian, trong đó có ca dao, tục ngữ, thành ngữ là hình thức sinh hoạt văn hóa cổ xưa nhất của nhân dân Ca dao, tục ngữ, thành ngữ là nơi lưu giữ văn hóa dân tộc, vì vậy muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc thì ta có thể tìm đến ca dao, tục ngữ, thành ngữ
Theo cách nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ở trên, ngôn ngữ được coi là yếu tố đầu tiên cần nói đến trong số các yếu tố tạo nên văn hóa Như vậy bản thân ngôn ngữ là văn hóa Mặt khác, ngôn ngữ còn có vai trò là phương tiện quan trọng và hữu hiệu nhất để chuyển tải và lưu giữ những di sản văn hóa của dân tộc Khi nói đến chức năng của ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải
và lưu giữ những di sản văn hóa dân tộc, người ta thường tìm thấy những biểu hiện cụ thể trong từ vựng - ngữ nghĩa là chủ yếu, và một phần trong cách diễn đạt, nói năng Cụ thể hơn, các trầm tích “văn hóa đặc sắc của dân tộc thường được khám phá ra trong kho tàng thành ngữ và ca dao vốn là những đơn vị định danh từ vựng và đơn vị câu, lớn hơn câu trong ngôn ngữ
Có thể nói rằng, những biểu hiện văn hóa dân tộc thể hiện trong ngôn ngữ thành ngữ là rất phong phú và đa dạng:
Trang 37- Đó là các ứng xử văn hoá trong thân tộc (gia đình, họ hàng): Vợ bìu con ríu, con ông cháu cha, mẹ tròn con vuông…
- Là tình yêu con người, quê hương đất nước: Trăm nhớ ngàn thương, chín đợi mười chờ…
- Là quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, quan hệ đối xử của con người với thế giới loài vật; quan hệ ứng biến của con người với thế
giới tự nhiên: một nắng hai sương, đầu ghềnh cuối bãi, mạnh như hổ, khỏe như trâu…
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi nói về lịch sử nghiên cứu và một số khái niệm, giới thuyết có liên quan đến đề tài, gồm: Khái niệm thành ngữ; đặc trưng thành ngữ; phân biệt thành ngữ với ca dao, tục ngữ; nghĩa và nghĩa biểu trưng của thành ngữ; mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ; việc tìm hiểu thành ngữ từ góc độ văn hóa- ngôn ngữ… Những vấn đề lí thuyết này làm cơ
sở để thực hiện việc khảo sát, phân tích nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ
động vật nuôi (trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt) trong thành ngữ ở
chương 2 và chương 3
Trang 38Chương 2 BIỂU HIỆN NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ
CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
2.1 Dẫn nhập
Như đã biết, nghĩa nói chung và nghĩa biểu trưng nói riêng, là một khái niệm đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học Cho đến nay, nghĩa biểu trưng còn có nhiều cách hiểu khác nhau Qua phân tích ở chương 1, có thể đã khẳng định thành ngữ có nghĩa biểu trưng Tuy nhiên, trong chương 2 này chúng tôi chỉ tìm hiểu nghĩa biểu trưng của một số thành tố trong thành ngữ mà không đi sâu nghiên cứu nghĩa biểu trưng của tất
cả các yếu tố trong thành ngữ
Như nhiều tác giả đã giải thích, xét theo cách sử dụng biểu trưng có thể được vận dụng theo hai cách:
+ Biểu trưng được dùng như một động từ, với nghĩa biểu hiện một cách
tượng trưng và tiêu biểu nhất (Ví dụ: Con cò trong ca dao Việt Nam biểu trưng cho hình ảnh người nông dân suốt đời làm việc thầm lặng, lam lũ)
+ Biểu trưng cũng có thể dùng như một danh từ đồng nghĩa với biểu tượng (Ví dụ: Con chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình)
Trong hai quan niệm trên, chúng tôi theo quan niệm thứ hai, tiếp nhận khái niệm này như một danh từ, biểu tượng ở đây không phải theo cách hiểu của triết học và tâm lí học mà hiểu theo thuật ngữ của ngôn ngữ học Nghĩa là xét biểu trưng với tính chất là một loại nghĩa
Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt, tác giả Bùi Khắc
Việt đã bàn về tính biểu trưng trong bài Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt, ông cho rằng từ cơ sở hình ảnh gọi tên sự vật nhờ liên tưởng
sẽ tạo ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ với 2 loại:
Trang 391 Thành ngữ biểu trưng hóa toàn bộ, VD: Giẫm chân tại chỗ; Bật đèn xanh
2 Thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận, trong đó một số thành tố có nghĩa biểu trưng rõ rệt, một số thành tố không có nghĩa biểu trưng VD:
Quyền rơm vạ đá; Nợ như chúa Chổm (rơm, đá, chúa chổm có nghĩa biểu
trưng) [37; 2]
Như vậy, khi đề cập đến các thành tố trong thành ngữ, chẳng hạn thành
tố ngựa trong một số thành ngữ và chúng ta tìm biểu hiện nghĩa của chúng
chính là chúng ta đang đề cập đến hình ảnh biểu trưng Hình ảnh biểu trưng là hình ảnh tạo nên giá trị biểu trưng của yếu tố, cơ sở tạo nghĩa của thành ngữ theo con đường ý niệm khái quát hoá, biểu trưng hoá từ hình ảnh, sự vật hay
sự việc được mô tả, đề cập, gọi tên trong thành ngữ Nghĩa biểu trưng của các thành tố (từ) chỉ có được khi các thành tố đó được tổ chức trong quan hệ tương tác tạo nghĩa cùng với các thành tố khác trong thành ngữ cũng như khi
từ xuất hiện trong hoạt động ngôn ngữ
2.2 Nghĩa biểu trưng của các thành tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”,
“chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” trong quan hệ tương tác tạo nghĩa với các yếu
tố khác trong thành ngữ
2.2.1 Biểu hiện nghĩa của thành tố “trâu” trong thành ngữ
2.2.1.1 Nghĩa của từ “trâu” trong “Từ điển tiếng Việt”
Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, từ trâu có nghĩa
như sau:
Trâu là động vật nhai lại, sừng rỗng và cong, lông thưa và thường đen,
ưa dầm nước, nuôi để lấy sức kéo, ăn thịt hay lấy sữa [26; 1276]
2.2.1.2 Biểu hiện nghĩa của thành tố “trâu” trong thành ngữ
Chúng tôi tiến hành khảo sát cuốn Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, tổng số thành ngữ được khảo sát là 3245 thành ngữ Trong đó có 14 thành ngữ có yếu tố trâu Các thành ngữ này chiếm
Trang 40tỉ lệ 0,4% tổng số thành ngữ được khảo sát Xuất phát từ nghĩa gốc, khi gắn với
từng ngữ cảnh, đi vào hành chức, trâu mang theo nhiều nghĩa khác nhau Theo thống kê sơ bộ, chúng tôi thu được các nghĩa của thành tố trâu như sau:
(1) Trâu biểu trưng cho của cải, vật chất, những thứ có giá trị Hình ảnh trâu được sử dụng với nghĩa biểu trưng như trên xuất hiện trong ba
thành ngữ:
+ Ruộng sâu trâu nái: Con trâu (trâu nái) và ruộng đất là những thứ rất
quan trọng đối với người nông dân, thế nên đi vào thành ngữ chúng đều mang
nghĩa biểu trưng cho của cải vật chất Theo quan niệm của người xưa, ruộng sâu không phải tát nước làm cỏ, công sức đổ ra ít hơn nên canh tác nhàn, còn trâu nái ngoài việc cày kéo nó còn có chức năng sinh sản Thành ngữ nói lên cuộc sống sung túc, giàu có ở nông thôn “Người ta ruộng sâu trâu nái người
ta tiếc thì tiếc, nhà mình dăm sào chiêm khê mùa thối, chửa nắng đã cạn, chửa
mưa đã đầy, chị tính còn gắn bó nỗi gì” (Thanh Hương, Cô Tím)
+ Chín đụn, mười trâu (đụn: kho thóc): Trâu được hiểu là tài sản có giá trị, đụn cũng được hiểu là của cải Thế nên cha ông ta thường mượn hình ảnh của kho lúa, của con trâu để biểu trưng cho của cải, những thứ có giá trị trong
gia đình Thành ngữ khái quát lên sự giàu có, lắm thóc, nhiều trâu, cuộc sống khá giả, có của ăn của để
+ Trâu, bò không chỉ có bề ngoài to lớn, khỏe mạnh, nó còn là tài sản
có giá trị lớn Thế nên mượn cái chết của trâu, của bò, thành ngữ Đến đâu chết trâu, chết bò đến đấy mang nghĩa biểu trưng phê phán những người thô
bạo, vụng về hễ đi đến đâu hay làm bất cứ việc gì là gây tai họa, đổ vỡ ở đấy
(2) Trâu được dùng để biểu trưng cho sức mạnh, sức khỏe vô địch hay
sự to lớn về ngoại hình
+ Trâu là vật nuôi to nhất trong các loài vật nuôi trong gia đình và cũng
vô cùng khỏe mạnh Vì vậy, trâu biểu trưng cho sức mạnh, sự khỏe khoắn và