BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGÔ NGỌC HUỲNH HÂN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT TRONG VIỆC GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC HỮU CƠ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG TIẾNG ANH LUẬN VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ NGỌC HUỲNH HÂN
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT TRONG VIỆC GIẢI
BÀI TẬP HOÁ HỌC HỮU CƠ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
BẰNG TIẾNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ NGỌC HUỲNH HÂN
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT TRONG VIỆC GIẢI
BÀI TẬP HOÁ HỌC HỮU CƠ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
BẰNG TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS CAO CỰ GIÁC
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ của mọi người Nay tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Cao Cự Giác, đã giúp đỡ em rất nhiệt tình,
tận tâm chỉ dạy về chuyên môn lẫn các phương pháp thực hiện luận văn này Thầy luôn quan tâm cũng như chú ý theo dõi tiến trình thực hiện
Xin gửi lời chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo ở các trường phổ thông tiến hành thực nghiệm sư phạm đã giúp đỡ và tạo điều kiện rất nhiều để tôi thực hiện tốt luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô ở trường Đại học Vinh, những người
đã truyền đạt kiến thức làm nền tảng cho em thực hiện luận văn của mình
Xin cảm ơn những người bạn đã động viên giúp đỡ tôi về mặt vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 3 năm 2016
Học viên
Ngô Ngọc Huỳnh Hân
Trang 4Danh mục chữ viết tắt
BGH: Ban giám hiệu CTCT: Công thức cấu tạo CTPT: Công thức phân tử ĐC: Đối chứng
ĐH: Đại học GD: Giáo dục
GD – ĐT: Giáo dục – Đào tạo GV: Giáo viên
HS: Học sinh HSG: HSG KNLNN: Khung năng lực ngoại ngữ Nxb: Nhà xuất bản
PGS: Phó Giáo sư PPDH: Phương pháp dạy học SGK: Sách giáo khoa
SL: Số lượng THPT: Trung học phổ thông TL: Tỷ lệ
TN: Thực nghiệm TNSP: Thực nghiệm sư phạm Tp: Thành phố
TS: Tiến sĩ
Trang 5Mục lục
Bìa phụ
Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh 5
1.1.1 Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập 5
1.1.2 Tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh 11
1.1.3 Hội nhập với giáo dục thế giới 12
1.2 Rèn luyện kĩ năng viết các chủ đề khoa học bằng tiếng Anh 16
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa 16
1.2.2 Biện pháp thực hiện 16
1.3 Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường phổ thông của Bộ Giáo dục và đào tạo 17
1.3.1 Giới thiệu tóm tắt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008– 2020” (Số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008) 17
1.3.2 Đánh giá thực trạng triển khai đề án về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT 19
1.3.3 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT tại Tp Hồ Chí Minh 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT TRONG VIỆC GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC HỮU CƠ CHO HỌC SINH THPT BẰNG TIẾNG ANH 26
2.1 Phân loại bài tập hóa học hữu cơ nhằm rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh 26
2.1.1 Dạng bài tập 1 - Vẽ công thức – gọi tên theo yêu cầu đề bài 26
2.1.2 Dạng bài tập 2 – Viết phương trình phản ứng 29
2.1.3 Dạng bài tập 3 - Nối các từ, cụm từ, câu phù hợp lại với nhau 31
2.1.4 Dạng bài tập 4 - Điền khuyết 32
2.1.5 Dạng bài tập 5 - Tính toán 34
2.1.6 Dạng bài tập 6 - Giải thích hiện tượng thí nghiệm 36
2.1.7 Dạng bài tập 7 - Trả lời các câu hỏi ngắn 39
2.1.8 Dạng bài tập 8 - Trình bày hiểu biết về một vấn đề hoá học hữu cơ trong thực tiễn 40
2.2 Biện pháp phát triển kĩ năng viết trong việc giải bài tập hoá học hữu cơ ở trường THPT bằng tiếng Anh 43
Trang 62.2.1 Sử dụng một số cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh thường dùng 43
2.2.2 Sử dụng hệ thống thuật ngữ và mẫu câu sử dụng trong giải bài tập hóa học hữu cơ 56
2.3 Áp dụng dạy học một số chủ đề bài tập hóa học hữu cơ 68
2.3.1 Đại cương về hóa hữu cơ 68
2.3.2 Hiđrocacbon no 73
2.3.3 Hiđrocacbon không no 80
2.3.4 Hiđrocacbon thơm – Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên 85
2.3.5 Dẫn xuất Halogen – Ancol – Phenol 92
2.3.6 Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic 98
2.3.7 Este – Lipit 103
2.3.8 Cacbohiđrat 108
2.3.9 Amin – Amino axit – Amit – Protein 111
2.3.10 Polime và vật liệu polime 114
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 119
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 121
3.1 Mục đích thực nghiệm 121
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 121
3.3 Đối tượng thực nghiệm 121
3.4 Nội dung thực nghiệm 121
3.5 Tiến trình thực nghiệm 122
3.6 Kết quả thực nghiệm 123
3.6.1 Kết quả đánh giá về mặt định tính 123
3.6.2 Kết quả đánh giá về mặt định lượng 125
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 129
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời kỳ đất nước hội nhập quốc tế, chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của tiếng Anh Ngày nay, một nhân viên có thể thông thạo càng nhiều ngoại ngữ sẽ càng được các nhà đầu tư ưu tiên tuyển dụng hơn, trong đó ngoại ngữ thông dụng nhất là tiếng Anh Đặc biệt là học sinh ở các trường THPT chuyên còn có nhiều cơ hội tiếp cận với chương trình học quốc tế (đi du học hoặc dự định học tập ở các trường Đại học hợp tác quốc tế có chương trình được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh) Chính vì vậy, giảng dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục cấp THPT là một nhu cầu thiết yếu
Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang triển khai thí điểm chương trình dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh, đây là một trong những nội dung của Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020", thực hiện theo quyết định
số 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/9/2008 Qua các năm thực hiện dạy học hoá học bằng tiếng Anh, chương trình đã bước đầu đáp ứng nhu cầu học các môn khoa học bằng tiếng Anh của học sinh phổ thông, tạo điều kiện cho các em dễ dàng hội nhập khi du học quốc tế Một khó khăn của việc dạy học hoá học bằng tiếng Anh là tài liệu dùng để dạy ở một số trường thí điểm đều chọn hình thức dịch lại kiến thức từ sách giáo khoa, kết hợp một số nguồn tài liệu sẵn có của nước ngoài nhưng chưa có một định hướng phát triển kỹ năng nào cụ thể cho học sinh Đa phần chỉ là giúp học sinh tiếp cận với nội dung kiến thức hoá học với ngôn ngữ tiếng nước ngoài Điều này chưa thật sự hiệu quả trong công tác giảng dạy
Khi tham gia các kỳ thi thẩm định chất lượng quốc tế đòi hỏi các em vừa phải có kỹ năng viết, phải hiểu rõ vấn đề hoá học và trình bày một cách khoa học câu trả lời của mình Đây còn là một trong những kỹ năng mà học sinh chưa được rèn luyện nhiều trong chương trình dạy học hoá học bằng tiếng Anh hiện nay
Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài "Phát triển kỹ năng viết trong việc giải bài tập hoá học hữu cơ cho học sinh Trung học phổ thông bằng tiếng Anh"
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường phổ thông, đáp ứng nhu cầu của học sinh, gia đình và xã hội cũng như theo đúng
định hướng của Bộ đã đề ra
Thành công của đề tài sẽ mang lại nguồn tư liệu quý cho giáo viên tham gia công tác thực hiện chương trình dạy học hoá học bằng tiếng Anh, cho học sinh có thêm tư liệu rèn luyện để tự tin hơn khi bước vào các cuộc thi quốc tế và có thể đạt kết quả như các
em mong muốn
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về việc phát triển kỹ năng viết trong việc giải bài tập hoá học bằng tiếng Anh cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy hoá học bằng tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài, xây dựng hệ thống từ chuyên môn, ngữ pháp và các bài tập hoá học theo chủ đề bằng tiếng Anh; TNSP để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hệ thống từ chuyên môn, ngữ pháp, kỹ năng viết trong việc giải bài tập hoá học bằng tiếng Anh ở trường THPT
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy hoá học bằng tiếng Anh phần hoá hữu cơ ở trường THPT
2 Cao Cự Giác, Tạ Thị Thao, La Thanh Ngà, Nguyễn Thùy Linh Đa (2014), "Một
số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường THPT" Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt 3/2014 tr.171-173
3 Cao Cự Giác, Phạm Ngọc Tuấn (2014), “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học lớp 10 trung học phổ thông trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh” Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt 6/2014 tr.207-209
Trong thời gian vừa qua, tại Bộ môn Lí luận và PPDH Hóa học (Khoa Hóa học trường Đại học Vinh) đã bảo vệ thành công một số luận văn cao học:
1 Nguyễn Thùy Linh Đa - Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học vô cơ lớp 12), Tp Hồ
Trang 9Nhìn chung, các đề tài đã bước đầu đặt nền móng cho việc nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh, đi sâu vào việc thiết kế nội dung lý thuyết dạy học cũng như hệ thống bài tập vận dụng Tuy nhiên, việc dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh vẫn đang là một thử thách lớn đối với nhiều trường học, cần phải có thêm những nghiên cứu vi mô, mổ xẻ chi tiết các kĩ năng dạy học bằng tiếng Anh và các biện pháp áp dụng
có hiệu quả
5 Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu về việc phát triển kỹ năng trình viết trong việc giải bài tập hoá học bằng tiếng Anh sẽ nâng cao hiệu quả dạy học bằng tiếng Anh ở trường phổ thông, học sinh phát huy được tính tích cực, tư duy sáng tạo, phát triển năng lực bản thân
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu lí luận phương pháp dạy học tiếng Anh và phương pháp dạy học hóa học
Nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh thường gặp trong việc giải bài tập hóa học
Nghiên cứu các tài liệu, sách bài tập, sách tham khảo về hoá học của nước ngoài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra cơ bản: Tìm hiểu quá trình giảng dạy hoá học bằng tiếng Anh ở trường phổ thông, từ đó đề xuất vấn đề nghiên cứu
Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi, tổng kết kinh nghiệm trong dạy hoá học bằng tiếng Anh
Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả và tính khả thi của nội dung đề xuất
- Tiếp tục hoàn thiện về lý luận dạy hoá học bằng tiếng Anh
- Áp dụng các kĩ năng dạy học tiếng Anh vào dạy học hóa học bằng tiếng Anh
7.2 Về thực tiễn
- Đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh trong việc giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường THPT
Trang 10- Đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng viết trong việc giải bài tập hoá học hữu
cơ ở trường THPT bằng tiếng Anh
- Xây dựng hệ thống từ vựng, thuật ngữ và mẫu câu nhằm phát triển kĩ năng viết tiếng Anh trong giải bài tập hóa hữu cơ ở trường THPT
- Xây dựng hệ thống bài tập và lời giải hóa học hữu cơ bằng tiếng Anh nhằm rèn luyện kĩ năng viết tiếng Anh trong dạy học hóa học ở trường THPT
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh [6, tr 4-16]
1.1.1 Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực khoa học kỹ thuật và giáo dục Chính vì vậy, tiếng Anh là một công cụ cho chúng ta tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến và khoa học công nghệ hiện đại Việt Nam là một đất nước đang phát triển, hội nhập quốc tế giúp chúng ta nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, trao đổi và áp dụng được các công nghệ tiên tiến thế giới từ những lý do nêu trên đòi hỏi chúng ta cần có nhiều các nhà khoa học, các chuyên gia cũng như học sinh, sinh viên những thế hệ tương lai của đất nước có một vốn tiếng Anh để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc
Việc dạy học cho học sinh THPT môn hóa và các môn khoa học bằng tiếng Anh là một hướng đi đúng có tính chiến lược, giúp giải quyết nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong những năm sắp tới Để thực hiện việc dạy hóa bằng tiếng Anh trong những năm sắp tới có hiệu quả, việc tăng cường tiếng Anh cũng như kinh nghiệm dạy cho giáo viên THPT là cần thiết
Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nghe
- Tiến trình của một tiết dạy nghe trải qua 3 giai đoạn: Pre – Listening, While – Listening và Post – Listening Tiến trình dạy học này không những giúp học sinh nắm hiểu bài mà còn giúp các em sử dụng kĩ năng nghe trong giao tiếp thực tế
Rèn luyện kĩ năng nghe trong dạy học hóa học
Trang 12+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, đoán sơ bộ nội dung sắp nghe thông qua tranh hay tình huống bài nghe Có thể các em nói không chính xác với những gì các em sắp nghe nhưng vấn đề đặt ra làm các em hứng thú trước khi nghe
+ Cuối cùng, giáo viên nói rõ cho học sinh biết các em sẽ được nghe bao nhiêu lần và hướng dẫn yêu cầu nhiệm vụ khi nghe (chọn đúng, sai, trả lời câu hỏi,…)
- While – Listening
+ Đây là giai đoạn mà ở đó học sinh có cơ hội luyện tập Ở giai đoạn này giáo viên đưa ra các dạng bài tập, yêu cầu học sinh thực hiện Học sinh có thể mắc lỗi ở giai đoạn này, vì vậy giáo viên nên chú ý cần sữa lỗi cho học sinh và đưa ra các phương án trả lời đúng
+ Giáo viên bật băng hay đọc bài nghe 2 đến 3 lần (nếu nội dung khó có thể cho các em nghe 4 lần) Lần đầu có thể giúp học sinh làm quen với bài nghe, hiểu bao quát nội dung bài nghe (pendown) Lần thứ hai, nghe thông tin chính xác để làm bài tập Lần thứ ba, nghe và kiểm tra bài tập đã làm Mục tiêu chính của nghe hiểu là học sinh nghe lấy nội dung chính hay lấy thông tin chi tiết đồng thời hiểu được thái độ, quan điểm của tác giả
+ Do đó giáo viên cho học sinh nghe cả bài để các em nắm được ý chung cũng như bố cục cả bài và làm bài tập, sau đó có thể cho nghe lại từng đoạn để nắm kết quả hoặc nghe lại những chỗ khó để khẳng định đáp án Nên hạn chế cho học sinh nghe từng câu, hoặc từng từ một vì làm như vậy sẽ khiến người học có thói quen phải hiểu nghĩa từng từ, từng câu khi nghe
- Post – Listening
+ Đây là giai đoạn luyện tập sau khi nghe Ở giai đoạn này học sinh sử dụng những kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ đã được luyện tập ở giai đoạn “While – Listening” vào các tình huống giao tiếp thực tế, có ý nghĩa Sau khi nghe học sinh cần thực hiện một số bài tập như: báo cáo trước lớp hay nhóm về kết quả bài tập, các học sinh khác nghe cho ý kiến nhận xét hoặc chữa bài cho bạn Giáo viên cần phát triển các kĩ năng khác để phát triển, mở rộng thêm bài nghe như recall, write-it-up, discussion,…
1.1.1.2 Kĩ năng nói
Mục đích và ý nghĩa
- Kĩ năng nói là kĩ năng khó đối với học sinh và đây là kĩ năng giao tiếp quan trọng chúng ta có thể nghe, viết ra được nhưng không diễn đạt thành lời một cách trôi chảy được
Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nói
Trang 13- Đa số học sinh ngại nói vì sợ sai, nội dung nói không được các bạn đồng tình hoặc bản tính các em rụt rè, ít nói,… Vì vậy trước khi dạy phần nói, giáo viên phải lập kế hoạch
- Tiến trình của một tiết dạy nói trải qua 3 giai đoạn: Pre – Speaking, While – Speaking và Post – Speaking Tiến trình dạy học này không những giúp học sinh nắm hiểu bài mà còn giúp các em sử dụng kĩ năng nói trong giao tiếp thực tế
Rèn luyện kĩ năng nói trong tiết dạy học hóa học
- Pre – Speaking
+ Trước khi vào bài nói bước đầu giáo viên thường hướng dẫn các em khai thác bài nói mẫu Đây là nhiệm vụ đầu tiên: bài nói mẫu có thể là những phát ngôn riêng lẻ, một đoạn hội thoại hay một đoạn lời nói ngắn, giáo viên có thể tiến hành như sau + Đọc to bài mẫu một lần, chú ý cách phát âm, trọng âm, từ mới, nhịp điệu câu, nghĩa từ mới…
+ Sau khi đọc bài mẫu cho học sinh, giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại theo mình, đọc to và đọc đồng thanh, khi các em đọc giáo viên sửa lỗi phát âm và hướng dẫn các em phát âm cho đúng, bên cạnh đó giảng, giải thích từ mới có trong bài cho các em
+ Để giới thiệu mẫu câu, cách sử dụng từ trong bài nói giáo viên nên đặt ra một
số câu hỏi gợi mở cho học sinh trả lời và từ đó các em tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc câu, giáo viên sửa lỗi và điều chỉnh lại cho đúng những ý kiến của các em trong phần này và cho các em làm việc theo đôi hoặc theo nhóm nhằm nói thành bài mẫu
- While – Speaking
+ Trong giai đoạn này sau khi được hướng dẫn, học sinh sẽ dựa vào tình huống gợi ý như tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội thoại mẫu để luyện nói theo yêu cầu
+ Giai đoạn này giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập nói theo cá nhân, theo cặp hoặc nhóm để tiết kiệm thời gian Lúc này chúng ta nên hạn chế việc chúng ta cùng tham gia nói với các em như hỏi – trả lời
+ Khi học sinh luyện tập, ta cần đến các nhóm nhằm quan sát, nhắc nhở học sinh không nên dùng tiếng Việt, phải nói bằng tiếng Anh và khuyến khích mọi đối tượng học sinh trong lớp từ yếu đến khá, giỏi có cơ hội được nói
+ Sau khi các em luyện tập theo nhóm, cặp với nhau ta cho vài em tiêu biểu lên bảng trình bày bài nói của mình, giáo viên nhận xét, sửa lỗi, khi cần thiết chúng ta cho điểm để động viên các em
+ Trong quá trình luyện nói, giáo viên cần chú ý đến khả năng nói của mọi đối tượng học sinh và có thể đưa thêm yêu cầu cao hơn cho học sinh khá khi các em hoàn thành bài nói xong trước các bạn khác
Trang 14+ Cần phối hợp thường xuyên các hình thức luyện tập nói theo cặp (pair) hoặc theo nhóm (groups) để các em có nhiều cơ hội sừ dụng tiếng Anh trong lớp, từ đó các
em cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp
+ Cần hướng dẫn cách tiến hành, làm rõ yêu cầu bài tập hoặc gợi ý hay cung cấp
dữ liệu trước khi cho học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm Việc hướng dẫn và gợi ý cho phần luyện nói chúng ta cần sáng tạo cho phong phú hơn
1.1.1.3 Kĩ năng đọc
Mục đích và ý nghĩa
- Giúp học sinh phát triển kĩ năng đọc hiểu, có khả năng đọc hiểu sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ và lứa tuổi học sinh, giúp học sinh có điều kiện để thu nhận thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh và có hiểu biết thêm
về xã hội
Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc
- Đa số các em ngại đọc, vì sợ đọc sai, nên khi dạy phần đọc giáo viên phải đọc mẫu trước lớp
- Tiến trình của một tiết dạy đọc cũng trải qua 3 giai đoạn: Pre – Reading, While – Reading, Post – Reading
Rèn luyện kĩ năng đọc trong dạy học hóa học
- Pre – Reading
+ Mục đích các hoạt động trước khi đọc mà giáo viên cần quan tâm
+ Lôi cuốn sự hứng thú của học sinh
+ Tạo ra nhu cầu muốn đọc cho học sinh
+ Khuyến khích học sinh suy nghĩ về chủ đề mà họ sẽ học
+ Chính vì những mục đích thiết thực đó nên giáo viên cần phải sử dụng các hoạt động khác nhau để tránh sự trùng lắp nhàm chán Đối với học sinh nông thôn, khi động cơ, thái độ của các em chưa đúng đắn thì các hoạt động trong giai đoạn này cần luôn thay đổi theo nội dung của từng bài Hoạt động được thực hiện đầu tiên là giới thiệu chủ đề bài đọc, giáo viên thường dùng nhiều thủ thuật khác nhau như:
Dùng tranh hoặc đặt câu hỏi để học sinh đoán nội dung
Đặt câu hỏi để kiểm tra nhận thức chung của học sinh về chủ đề đó
Trang 15Đưa một số câu nhận định yêu cầu học sinh làm bài tập đúng, sai dựa vào kiến thức có sẵn
Tổ chức một số trò chơi liên quan đến chủ đề bài học,…
+ Sau khi giới thiệu chủ đề bài học, giáo viên hướng đặt ra một số câu hỏi gợi ý, dần nhập vào bài khóa để học sinh thảo luận theo cặp hoặc nhóm đoán câu trả lời Hiệu quả nhất là khi học sinh đoán câu trả lời kết quả luôn được bảo lưu đến phần While – Reading lấy kết quả đúng đối chiếu với dự đoán trước đó
+ Tiếp sau là giới thiệu từ vựng và ngữ pháp mới (nếu có) Giáo viên chỉ giới thiệu cho học sinh những từ mới cơ bản, còn một số từ khác học sinh có thể đoán nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh
+ Khi giới thiệu từ mới, giáo viên nên dùng nhiều thủ thuật khác nhau để gợi mở
từ và dạy từ nhằm gây sự chú ý của học sinh như: tranh ảnh, dụng cụ trực quan, vật thật, hình vẽ phác họa, cử chỉ điệu bộ
- While – Reading
+ Đọc hiểu bài đọc để trả lời các câu hỏi dẫn nhập hay kiểm tra các phán đoán ở phần Pre – Reading là rất cần thiết vì nó khắc sâu hơn những gì mà các em làm được, đồng thời giúp các em nhận biết những điều chưa hoàn thành
+ Hoạt động tiếp theo là yêu cầu học sinh đọc lại bài đọc để hiểu nội dung kĩ hơn, và trả lời các bài tập trong sách giáo khoa Giáo viên phải chú trọng tới việc hướng dẫn cụ thể yêu cầu bài tập, cũng như đưa ra một số câu ví dụ (nếu cần) để học sinh không bị lúng túng khi làm
+ Để kiểm tra mức độ đọc hiểu được kĩ hơn, ngoài những bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên cần chuẩn bị những bài tập để học sinh luyện tập thêm như:
Complete the sentences
True/ False statement
Check / Tick the correct answers
Fill in the chart
Matching
Answer the questions on the text
Học sinh làm việc theo cặp, giáo viên kiểm tra kết quả và sau đó đưa ra đáp
án đúng
- Post – Reading
+ Các hoạt động sau khi đọc giúp cho giáo viên có thể kiểm tra được mức độ hiểu bài, khả năng vận dụng bài vào thực tiễn cuộc sống; cũng như khả năng tưởng tượng của học sinh Vì vậy giáo viên nên áp dụng nhiều thủ thuật khác nhau để tránh
sự trùng lắp nhàm chán Các hoạt động thực hiện trong bước này là
Summezine the text
Trang 16Arrange the event in order
Give comments, opinions on the characters in the text
Role-play basing on the text
Develop another story basing on the text
Giáo viên chia học sinh thành 4 nhóm
Photo bài học thành 4 bản, mỗi bản cắt thành 4 đoạn nhỏ tách rời
Yêu cầu 4 nhóm sắp xếp thứ tự các đoạn để tạo thành bài học hoàn chỉnh (không nhìn vào sách giáo khoa) Nhóm nào hoàn chỉnh sớm nhất sẽ đọc to bài
cụ thể
Nguyên tắc chung cho một tiết dạy viết
- Tiến trình của một tiết dạy viết trải qua 3 giai đoạn: Pre – Writing, While – Writing, và Post – Writing
Rèn luyện kĩ năng viết trong dạy học hóa học
- Pre – Writing
+ Nghiên cứu bài mẫu về ba vấn đề: chủ đề - nội dung – dữ liệu
+ Giới thiệu mục đích, ý nghĩa của chủ điểm sắp viết Thu thập tài liệu trong đó
có những dữ liệu liên quan và sát thực với chủ điểm sắp viết để có mặt bằng chung về kiến thức cho tất cả học sinh
+ Xây dựng một khung mẫu cho bài viết
+ Có thể cho học sinh viết theo nhóm, nhóm phân công mỗi người viết một đoạn hoặc một ý, sau đó cử một người viết tập hợp lại cả bài
Trang 17+ Các thủ thuật mà giáo viên làm trong khi viết là
Giáo viên hướng dẫn học sinh viết theo cấp độ: Câu – Từ/số - Đoạn văn Những bài viết thường được thực hiện sau khi nghe, đọc, sau khi học các cấu trúc ngữ pháp và đặc biệt là sau khi nói
Những bài tập này có thể thực hiện tại lớp, hoặc về nhà sau khi giáo viên hướng dẫn kĩ
Giáo viên gọi vài học sinh (đại diện nhóm) trình bày bài viết trước lớp Giáo viên sửa lỗi và đưa ra đáp án gợi ý
- Post – Writing
+ Chữa bài là bước quan trọng Ở bước này, bài viết của học sinh phải được sửa sang để không những đạt được độ chính xác về nội dung ngôn ngữ mà còn phải đạt được một văn phong trong sáng, mạch lạc và có tính thuyết phục
+ Các vấn đề cần chú ý khi chữa bài
Nội dung: đủ, thiếu hay thừa?
Từ, cụm từ, câu đã sử dụng đúng hay sai, phù hợp chưa?
Cách diễn đạt: rõ ràng, bố cục
+ Sau khi giáo viên đưa ra các tiêu chí về các mặt của bài viết, có thể tiến hành chữa bài cho học sinh theo các hình thức: chữa bài theo nhóm hoặc cá nhân Cuối cùng, giáo viên nhận xét và nêu những lỗi cơ bản mà học sinh mắc phải khi viết
Tóm lại trong quá trình dạy viết tiếng Anh, giáo viên luôn là người hướng dẫn, tổ chức, đánh giá các hoạt động của học sinh khi viết Qua việc thực hiện nhiệm vụ ở nhà và trên lớp, học sinh rất tích cực chuẩn bị bài, xây dựng bài trên lớp và hợp tác với giáo viên
để rèn luyện khả năng tự lập,tự chủ sáng tạo và các em cũng tự tin, phấn khởi học tập trong phần viết
1.1.2 Tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh
1.1.2.1 Ý nghĩa của tự tin
Tự tin là yếu tố có ý nghĩa nhất trong học ngoại ngữ Lòng tự tin sẽ giúp cho người học có thêm động lực và sức mạnh để có thái độ tích cực đối với quá trình học tập của bản thân Trung tâm của toàn bộ quá trình học là niềm tin của người học vào khả năng của bản thân sẽ hoàn thành mục tiêu học tập Lòng tự tin của người học sẽ được tăng thêm một khi người học đạt được kết quả trong học tập và thấy hài lòng và khi
họ được học tập trong môi trường mà các quan hệ cá nhân thực sự thân thiện
1.1.2.2 Tự tin trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh
Để có được sự tự tin trong việc dạy và học hóa học bằng tiếng Anh, chúng ta nên
tổ chức một số hoạt động sau cho học sinh:
+ Kế hoạch hoạt động của câu lạc bộ
Trang 18+ Để duy trì và phát huy một cách hiệu quả thì câu lạc bộ phải có kế hoạch hoạt động
+ Sinh hoạt định kỳ theo các chuyên đề
+ Hóa học và đời sống (Chemistry to life)
+ Biểu diễn, thí nghiệm, ảo thuật hóa học (Magic chemistry)
+ Lịch sử Hóa học và tiểu sử các nhà Hóa học (History of chemistry and biographies of chemists)
+ Bảng tuần hoàn và các vấn đề liên quan (The periodic table and related issues) + Tổ chức thảo luận, mời các chuyên gia báo cáo, phổ biến kiến thức theo chuyên đề
1.1.3 Hội nhập với giáo dục thế giới
Hiện nay hợp tác quốc tế về giáo dục đã chuyển sang một giai đoạn mới, cao hơn và phức tạp hơn Đó là hội nhập quốc tế về giáo dục Các thách thức và cơ hội của tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đã được phân tích nhiều trong các diễn đàn, hội thảo và tài liệu nghiên cứu quốc tế cũng như trong nước
Vấn đề là từ những phân tích đó, mỗi quốc gia cần tìm ra cho mình các chính sách
và chiến lược cần thiết để giáo dục đại học thực hiện tốt nhất
a) Thuận lợi
Thứ nhất , quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu
tư vào nền kinh tế
Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia nhờ việc hợp tác giáo dục với các nước
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát riển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa
Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Trang 19Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở , dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì
an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển
Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới
Hai là, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài nên nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế
Ba là, hội nhập không phân phối công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoản cách giữa giàu và nghèo
Bốn là, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển có nguy cơ đối mặt với
cơ cấu chuyển dịch kinh tế bất lợi, do hướng tập trung vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp Do vậy dễ trở thành bãi rác thải công nghiệp, công nghệ thấp và bị cạn kiệt nguồn tài nguyên, hủy hoại môi trường
Năm là, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước và phức tạp đối với việc duy trì an ninh và ổn định các nước đang phát triển
Sáu là, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài
Bảy là, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp
c) Hiện trạng hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập giáo dục, nước nào đứng ngoài sẽ bị tụt hậu và khó có cơ may tham gia vào việc hoạch định chính sách giáo dục quốc tế cũng như không kịp chuẩn
bị cho nguồn nhân lực của mình cho việc hội nhập kinh tế toàn cầu Trên hành trình hội nhập, giáo dục Việt Nam mấy năm gần đây có những cố gắng nhất định, nhưng giáo dục Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị khó hòa nhập với các trào lưu giáo dục lớn trên thế giới bởi các nguyên nhân:
Trang 20Một là, ngôn ngữ ngữ dạy chính là tiếng Việt Đây là ngôn ngữ có tính chất riêng biệt của người Việt Ngôn ngữ Việt không có khả năng hội nhập
Hai là, chương trình và giáo trình giảng dạy hầu hết là do giáo viên, giảng viên trong nước biên soạn, chưa được tiêu chuẩn hóa và công nhận trên trường quốc tế Dẫn đến việc bằng cấp từ phổ thông đến đại học cũng chưa được công nhận và đánh giá cho chuẩn, đúng mức
Ba là, giáo dục Việt Nam chưa có một bộ quy tắc đánh giá chất lượng đào tạo, cũng như tiêu chí xếp loại các trường, các ngành học để nước ngoài dựa vào đó để hợp tác với các trường trong nước Dẫn đến việc một số tổ chức quốc tế tự xếp hạng các trường Đại học Việt Nam một cách không khách quan
Bốn là, chúng ta chưa có các cơ quan, tổ chức trung gian làm việc độc lập, khách quan với các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục để có các ý kiến phản biện, kịp thời chấn chỉnh cũng như góp ý cho các dự thảo hoặc luật giáo dục
Năm là, đầu vào của các trường đại học Sư phạm chưa cao, chưa có loại ưu tiên thỏa đáng về chính sách cho các loại trường này, chế độ lương bổng cho giáo viên khiến loại hình sư phạm chưa có sức hút nhân tài Hệ thống các phòng thí nghiệm, nghiên cứu còn nghèo nàn, không hút được các nhà nghiên cứu khoa học trẻ
Sáu là, hệ thống thi cử, đánh giá thực lực, khả năng của học sinh còn bất cập, mặt khác lại gây tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian của học sinh, gia đình và xã hội Bảy là, bệnh thành tích đang trở thành một bạo bệnh Nguyên nhân cơ bản là cách tuyển chọn nhân sự của nhà nước, hoặc tiêu chuẩn hóa cán bộ dựa trên bằng cấp chứ không dựa vào thực tài,…
d) Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo
Tiếp tục thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đem lại từ hợp tác quốc tế cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học Ưu tiên nguồn vốn ODA cho các cơ sở giáo dục, vùng còn nhiều khó khăn, các trường/đại học, viện nghiên cứu và đào tạo trọng điểm Ưu tiên các chỉ tiêu cho các trường/đại học, viện nghiên cứu và đào tạo trọng điểm
đi học tại nước ngoài theo các đề án sử dụng ngân sách nhà nước và các chương trình học bổng của nước ngoài, đào tạo tiến sĩ cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài
Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề; Đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Chủ động hội nhập với khu vực và thế giới; tăng cường các hoạt động giao lưu, trao đổi học thuật với các tổ chức, hiệp hội giáo dục khu vực và quốc tế
Tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, thông tin với các hiệp hội giáo dục khu vực và quốc tế nhằm tăng cường chất lượng đào tạo, đổi mới công tác quản lý,
Trang 21nghiên cứu khoa học, tiếp tục đàm phán và ký kết thỏa thuận tương đương bằng cấp với các nước trong khu vực và trên thế giới
Thực hiện tốt các chương trình học bổng cho sinh viên nước ngoài đến học tập tại Việt Nam; quy định về việc tiếp nhận chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam giảng dạy nghiên cứu và gửi chuyên gia Việt Nam sang giảng dạy, làm việc ở nước ngoài, hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong việc thực hiện trao đổi giảng viên nước ngoài đến Việt Nam tham gia giảng dạy/nghiên cứu, góp phần xây dựng môi trường giáo dục quốc tế tại Việt Nam
e) Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2 (2016 - 2020) [52,
án nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học trong hệ thống giáo dục quốc dân Tiếp tục thực hiện đề án quy hoạch phát triển nhân lực của các bộ, ngành, địa phương và đề án quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giáo dục; tiếp tục thực hiện Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011 đến năm
2020 và đào tạo giáo viên phục vụ triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015; đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng
Tham mưu Chính phủ, Quốc hội xây dựng Luật Nhà giáo Tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần tạo động lực cho các nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục Chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức, trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp Đổi mới cách xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo lại, chương trình bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục Đổi mới cách thức tuyển dụng, đánh giá, sử dụng và bổ nhiệm nhà giáo, cán bộ giáo dục Rà soát và đưa ra khỏi ngành hoặc bố trí công việc khác đối với những người không đủ năng lực, phẩm chất
Thực hiện chế độ học phí mới nhằm đảm bảo sự chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, người học và xã hội
Xây dựng và triển khai các đề án, chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn vốn ODA để tăng cường cơ sở vật chất, phát triển giáo dục và đào tạo
Trang 22Phát triển mạng lưới cơ sở nghiên cứu khoa học giáo dục, tập trung đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu trong các trường sư phạm trọng điểm
Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập; tiếp tục xây dựng xã hội học tập; hỗ trợ và ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo
1.2 Rèn luyện kĩ năng viết các chủ đề khoa học bằng tiếng Anh
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa
Luyện viết Tiếng Anh là một trong những kỹ năng thú vị mà bất kì người học tiếng Anh nào đều muốn chinh phục tuy nhiên không phải ai cũng có những phương pháp tập viết phù hợp với trình độ cũng như nguyện vọng của mình Việc rèn luyện kĩ năng viết các chủ đề khoa học bằng tiếng Anh sẽ giúp chúng ta có thể trình bày được một nội dung hay một chủ đề, ý kiến hay một nhận định bằng tiếng Anh một cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu Ngoài ra, nếu không có kĩ năng này, thì việc tham gia vào các kỳ thi quốc tế cũng sẽ gặp khó khăn trong việc trình bày bài làm của mình một cách khoa học và chính xác
1.2.2 Biện pháp thực hiện
Trước khi có thể viết được những bài luận mang tính học thuật bất kì ai cũng phải
có những bước đi đầu tiên vững chãi Tức là cần phải có một nền tảng kiến thức tiếng Anh căn bản Điều đầu tiên mà các bạn cần trang bị đó là vốn cấu trúc câu và am hiểu ngữ pháp sâu sắc Những cuốn sách ngữ pháp hay các clip học tiếng Anh trên mạng sẽ giúp làm tăng nguồn cấu trúc câu của bạn cũng như tiết lộ những cách dùng mới của chúng đầy thú vị Hơn thế nữa, khi ngữ pháp và cấu trúc câu vững chắc nguồn từ vựng của bạn cũng được cải thiện rất nhiều Trên thực tế, việc học cấu trúc câu và từ vựng luôn song hành cùng nhau Trong quá trình học cấu trúc câu qua các bài đọc hay bài nghe bạn cũng sẽ biết thêm được rất nhiều từ mới Ngữ pháp, cấu trúc câu và từ mới làm một trong những yếu tố căn bản giúp bạn diễn đạt được ý kiến của mình trong các bài viết Sau khi
đã có vốn liếng từ vựng và cấu trúc câu, thay vì trăn trở xem mình nên viết về những chủ
đề gì
Hãy bắt đầu từ những gì là căn bản và bình thường nhất, bước những bước đi thật chậm và chắc bạn sẽ gặt hái được rất nhiều thành công không chỉ trong việc rèn luyện kỹ năng viết Tiếng Anh mà còn trong tất cả các lĩnh vực khác
Khi học tiếng Anh, nhiều người chú trọng kĩ năng, nghe, nói, đọc hơn là viết tiếng Anh Vậy làm sao để cải thiện kĩ năng viết tiếng Anh của bạn
Bước một: “Đọc, đọc và đọc” Bất cứ kĩ năng hay tài năng nào, chỉ cần luyện tập đi luyện tập lại bạn mới có thể dẫn đến thành công Như vậy, chỉ có đọc nhiều, bạn mới có
Trang 23thể nâng cao trình độ viết của mình thông qua những bài văn của các tác giả, tác phẩm bạn đã đọc trước đó
Bước thứ hai: "Viết, viết và viết " Tương tự như trên, chỉ có viết nhiều thì bạn mới
có thể viết nhanh, viết đẹp được Luyện tập hàng ngày hàng đêm, nhưng việc làm đó có thể mất nhiều thời gian và công sức của bạn
Bước thứ ba: Lưu giữ một danh sách các từ khó bạn thường xuyên quên và hãy ôn luyện chúng ở bất kì mọi lúc, mọi nơi
Bước thứ tư: Tra từ điển những từ bạn không chắc chắn về ngữ nghĩa hay cách phát
âm Hãy nhớ rằng, bạn càng gặp các cách viết chính tả đúng thì việc viết chính tả của bạn cũng tốt theo
Bước thứ năm: Đọc các quy tắc chính tả trong các bản in nhỏ của từ điển hoặc trong phần giới thiệu
Bước thứ sáu: Nhận biết các quy tắc viết chính tả hiện có Ví dụ, các viết chính tả được ưa chuộng trước kia là chữ “i” đứng trước chữ “e” trừ khi đứng sau chữ “c” khi chữ
“i” này được phát âm giống chữ “a” như trong ví dụ: “neighbor” hay là “weigh” Tương
tự, trong tiếng Anh ‘u’ luôn đi với ‘q’
Bước thứ bảy: Thiết lập kiểm tra chính tả cho chính mình Viết chữ ra, kiểm tra lại
trong từ điển và tự chấm điểm
1.3 Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh
ở trường phổ thông của Bộ Giáo dục và đào tạo
1.3.1 Giới thiệu tóm tắt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008– 2020” (Số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008) [1, tr 1-3]
a) Quy định môn ngoại ngữ
Được dạy và học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác
b) Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực ngoại ngữ
Thống nhất, chi tiết, gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ ngoại ngữ quốc tế thông dụng để làm căn cứ biên soạn chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy và xây dựng tiêu chí đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học
Khung năng lực ngoại ngữ (viết tắt là KNLNN) cần xác định rõ yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các
tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6
là bậc cao nhất
c) Xây dựng và triển khai chương trình
Trang 24Đào tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ như sau: tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học đạt trình độ bậc 2 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN
Tổ chức xây dựng các chương trình ngoại ngữ phổ thông 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu học tập, giảng dạy, phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp học Khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng, thực hiện các chương trình song ngữ, bồi dưỡng nâng cao trong các cơ sở của mình
Ngoài chương trình đào tạo môn ngoại ngữ bắt buộc (ngoại ngữ 1), học sinh có thể
tự chọn học thêm một ngoại ngữ khác (ngoại ngữ 2) Việc bố trí dạy môn ngoại ngữ 2 chỉ thực hiện từ lớp 6 đến lớp 12 với trình độ đạt tương đương bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
Xây dựng và triển khai các chương trình dạy và học bằng ngoại ngữ cho một số môn như: Toán và một số môn phù hợp ở các trường trung học phổ thông
d) Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại ngữ đối với giáo dục chuyên nghiệp
Đối với giáo dục chuyên nghiệp (trung cấp và dạy nghề) với mức trình độ tối thiểu đạt được bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trường nghề và bậc 3 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp
Đối với giáo dục chuyên nghiệp, chương trình đào tạo ngoại ngữ có thể áp dụng theo một số chương trình khác nhau, phù hợp với các đối tượng người học có kiến thức phổ thông hoặc trình độ khác nhau
e) Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại ngữ đối với giáo dục đại học
Đối với giáo dục đại học Nội dung chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục đại học có thể áp dụng cho hai nhóm đối tượng chính: một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm ở phổ thông và một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học theo chương trình ngoại ngữ 10 năm ở phổ thông
Đối với các cơ sở giáo dục đại học không chuyên ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ tối thiểu là bậc 3 theo KNLNN sau khoá tốt nghiệp Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ bậc 4 sau khoá tốt nghiệp cao đẳng và bậc 5 sau khoá tốt nghiệp đại học và bắt buộc người học phải đồng thời được đào tạo hai ngoại ngữ trong một khoá đào tạo, một ngoại ngữ chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2), trong đó thời lượng đào tạo ngoại ngữ phụ không quá 1/2 thời lượng dành cho việc đào tạo ngoại ngữ chính
Trang 25Xây dựng và triển khai chương trình dạy bằng ngoại ngữ một số môn cơ bản, cơ sở, chuyên ngành và tự chọn ở một số ngành trọng điểm trong chương trình đại học ở năm cuối bậc đại học
f) Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo ngoại ngữ đối với giáo dục thường xuyên
Chương trình đào tạo ngoại ngữ áp dụng trong các cơ sở giáo dục thường xuyên phải phù hợp nhu cầu đa dạng phong phú về hình thức, đối tượng, trình độ đào tạo, đáp ứng như cầu người học, có tác dụng tích cực khắc phục những hạn chế của giáo dục chính quy
Chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên phải đảm bảo yêu cầu nội dung, chất lượng Trình độ năng lực ngoại ngữ của người học sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục thường xuyên phải đạt tương đương với trình độ đào tạo theo hình thức chính quy tương ứng ở các cấp học, trình độ đào tạo
g) Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong đào tạo ngoại ngữ
Xây dựng các dữ liệu ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá trình
độ ngoại ngữ của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo môn ngoại ngữ; nâng cao hiệu quả công tác khảo thí và kiểm định chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ
1.3.2 Đánh giá thực trạng triển khai đề án về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
a) Mục đích điều tra
Khảo sát việc thực hiện các hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh và việc phát triển kỹ năng viết trong môn hoá học bằng tiếng Anh tại trường THPT
b) Nội dung điều tra
Tìm hiểu việc dạy học, các yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy học môn hóa học bằng tiếng Anh, phát triển kỹ năng viết và việc quan tâm tạo hứng thú học tập cho HS
Thực trạng phát triển kỹ năng viết trong môn hoá học bằng tiếng Anh
Tìm hiểu thái độ, phương pháp học tập, mức độ vận dụng những kiến thức của HS vào giải quyết một bài tập cụ thể
c) Đối tượng điều tra
Tiến hành khảo sát, thu thập thông tin qua phiếu phỏng vấn 8 giáo viên,42 học sinh
Trang 26d) Phương pháp điều tra
Tìm hiểu đặc điểm, cơ sở vật chất của một số trường THPT trên địa bàn Tp.HCM Liên hệ trao đổi với giáo viên giảng dạy môn hoá học bằng tiếng Anh và học sinh
e) Kết quả điều tra
Qua khảo sát bằng phiếu phỏng vấn giáo viên về việc thực hiện các hoạt động dạy học môn hoá học bằng tiếng Anh tại một số trường THPT trên địa bàn TP.HCM, nhận thấy:
- Trong tổng số 8 giáo viên được phỏng vấn có 8 giáo viên tốt nghiệp đúng chuyên ngành sư phạm hoá học, kinh nghiệm giảng dạy thấp nhất là 4 năm; có 3 giáo viên được đào tạo giảng dạy bộ môn hóa học bằng tiếng Anh, nhưng được phân công giảng dạy kiêm nhiệm thêm môn hoá học bằng tiếng Anh, kinh nghiệm giảng dạy thấp nhất là 2 năm Chỉ có một số giáo viên được cử đi học lớp giảng dạy bộ môn hoá học bằng tiếng Anh Như vậy giáo viên được phân công giảng dạy môn hoá học bằng tiếng Anh có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy không đồng đều
- Cảm nhận của giáo viên khi được phân công giảng dạy môn hoá học bằng tiếng Anh: có 4 giáo viên yêu thích công việc giảng dạy, 3 giáo viên cảm thấy bình thường vì
đã quen với việc giảng dạy, còn lại 1 giáo viên cho biết chỉ dạy một cách miễn cưỡng và không hứng thú, tập trung ở các giáo viên giảng dạy không đúng chuyên môn và không được đào tạo chuyên nghiệp để dạy bộ môn hoá học bằng tiếng Anh
- Các giáo viên cho rằng: tài liệu hướng dẫn là yếu tố chủ yếu gây khó khăn cho việc giảng dạy môn hoá học bằng tiếng Anh
Trang 27- Khảo sát cho thấy phần lớn học sinh cho biết môn này cần cho cuộc sống vì có thể nâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng Anh trong việc đọc thêm các tài liệu nước ngoài, giúp tìm kiếm các thông tin trên mạng được dễ dàng, có thể làm hoặc tham gia các kỳ thi quốc tế
- Đa số các em tham gia lớp học hoá học bằng tiếng Anh đều có ý thức học tập tốt, các em có sự cố gắng trong học tập và nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tập bộ môn này với mình trong tương lai
Mục đích học môn hoá học bằng tiếng Anh Mức độ hứng thú khi học môn
hoá học bằng tiếng Anh
do đó việc học của học sinh thường diễn ra thụ động trên lớp
- Học sinh xác nhận giáo viên dạy chủ yếu theo các bài học trong tài liệu tự biên soạn trước và có liên hệ thực tế với phần kiến thức có liên quan; thỉnh thoảng có tích hợp thêm các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vào bài học
Cách thức để hiểu biết kiến thức môn
hoá học bằng tiếng Anh
Phương thức giảng dạy của giáo viên do học
sinh nhận xét
Tự học, tự nghiên cứu
tài liệu
12 28,57% Giao nhiệm vụ, sau đó gọi
học sinh lên bảng và sửa những chỗ sai
34 80,95%
Học nhóm với bạn 16 38,09% Giao nhiệm vụ, cung cấp từ
vựng, các mẫu câu sử dụng , sau đó gọi học sinh lên bảng
Trang 28Nhận xét mức độ thực hành kỹ năng viết của học sinh và trách nhiệm giảng dạy của giáo viên
- Hầu hết các em cho rằng biết ít hoặc không chắc chắn khi vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề cụ thể trong học tập, do đó khả năng viết còn khó khăn với các
em Giáo viên giảng dạy trên lớp đa phần truyền đạt kiến thức lý thuyết, còn nặng về học thuộc lòng hơn áp dụng thực hành
- Dạy học chủ yếu vẫn là giảng giải và ghi chép; tổ chức dạy tích cực của môn học
ít được thực hiện; sự luyện tập lại những kiến thức mới hầu như không có
- Học sinh cho biết giáo viên chủ yếu bám tài liệu để giảng dạy và cũng có nhiệt tình tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình giảng dạy
Khả năng vận dụng kỹ năng viết vào
Biết khá nhiều 11 26,19% Thỉnh thoảng 8 19,05%
Thời lượng thực hành kỹ năng viết như
kỹ thuật
10 23,81%
Hầu như không được
rèn luyên kỹ năng viết 7 16,67%
Trang 29học tập bộ môn hoá học bằng tiếng Anh, vì kỹ năng này sẽ giúp ích các em rất nhiều trong việc tham gia các kỳ thi quốc tế
f) Đánh giá và thảo luận
Từ thực trạng trên đây, người nghiên cứu nhận thấy cách dạy và học đã hạn chế tính chủ động, tích cực của học sinh; việc phát triển kỹ năng đặc biệt là kỹ năng viết chưa thực sự hiệu quả Từ đó cho thấy nếu bồi dưỡng giáo viên và có tài liệu tốt, cải tiến nội dung giảng dạy, thì phát triển kỹ năng viết cho học sinh sẽ thuận lợi và thành công hơn
1.3.3 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT tại Tp Hồ Chí Minh
a) Thuận lợi
Hầu hết các trường, đặc biệt là những trường chuyên trọng điểm đều bày tỏ sự đồng tình với chủ trương này và cho rằng đó là những môn học rất cần thiết để giáo dục Việt Nam có thể hòa nhập với quốc tế Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM) là trường đầu tiên chủ động tổ chức giảng dạy các môn Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh Đến nay, trường đã thực hiện đến năm học thứ tư Theo lãnh đạo của trường thì đây là một nhu cầu lớn của cha mẹ học sinh của trường, nhưng vì mới bắt đầu thực hiện trong giai đoạn rút kinh nghiệm nên chưa đáp ứng hết nhu cầu của học sinh
b) Khó khăn
Thực hiện đề án nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông của TPHCM là định hướng của Bộ GD-ĐT, trong năm học qua TPHCM đã triển khai chương trình thí điểm dạy các môn toán, khoa học tự nhiên ở 45 lớp với trên 1.600 học sinh theo học Thế nhưng, họ phải tự mày mò tìm hướng đi nên nhiều trường THPT cảm thấy đuối sức Số lượng học sinh rơi rụng dần Sau khi thí điểm dạy các môn toán, khoa học tự nhiên ở 5 trường, năm học 2012 - 2013, Sở GD-ĐT TPHCM mở rộng thêm 5 trường khác, nâng tổng số lên 10 trường triển khai chương trình này Việc ngành giáo dục thành phố đặt mục tiêu nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh, giúp học sinh tự nghiên cứu, tham khảo thêm tài liệu các môn khoa học tự nhiên - Toán, Lý, Hóa trên internet là cần thiết, phù hợp với xu thế hội nhập, tiếp cận chuẩn giáo dục tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, sau 1 năm thí điểm, chương trình mang lại kết quả không như mong đợi và
đa phần các hiệu trưởng đều có tâm trạng ngổn ngang, thậm chí cảm thấy “hụt hơi” nếu tiếp tục đi tiếp vì nhiều lý do Lúc đầu học sinh lớp 10 (năm học
2012 – 2013) đăng ký học tương đối đông nhưng đến cuối năm học rơi rụng dần Như Trường THPT Lương Thế Vinh khối lớp 10 có 40 em theo học nhưng đến lớp 11 này chỉ còn 30 em đăng ký học tiếp Tương tự, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai có trên 30 em lớp 10 theo học nhưng đến lớp 11 chỉ còn lại 13 em và chưa biết năm nay có bao nhiêu học sinh mới vào lớp 10 đăng ký học (vì chưa họp bàn với phụ huynh) Tại Trường chuyên Trần Đại Nghĩa, tình hình cũng không khả quan hơn với môn toán được
Trang 30khoảng 20 học sinh, còn môn lý vỏn vẹn 8 em theo học Ở các trường còn lại, tình hình học sinh giảm dần vì lý do như đi du học hoặc không muốn học tiếp cũng trở thành nỗi băn khoăn của ban giám hiệu Có thể nói chỉ duy nhất Trường THPT Nguyễn Công Trứ - đơn vị thực hiện mô hình giáo dục tiên tiến, vẫn duy trì ổn định sĩ số của 3 lớp 10 đầu khối A và lên lớp 11 của năm học mới này Sở dĩ số học sinh ở đây không hao hụt là
do việc tổ chức dạy chương trình theo nguyên lớp, phần đông học sinh có mục tiêu đi du học Những trường khác tổ chức lớp học theo sự tự nguyện nên nguồn học sinh phải gom
từ nhiều lớp, cộng thêm phải học giờ ngoại khóa và đóng thêm chi phí khoảng 100.000 - 150.000 đồng/ học sinh/ tháng nên khó duy trì sĩ số
Thiếu giáo viên và chương trình chuẩn Nhiều trường còn bộc bạch cái khó khác là phải tự mày mò cách làm để triển khai chương trình thí điểm này Hai cái khó lớn nhất là thiếu giáo viên có trình độ tiếng Anh đạt chuẩn và thiếu chương trình chuẩn, thống nhất
Do không được Sở GD-ĐT TPHCM cung cấp giáo trình chuẩn nên mỗi trường tự liên
hệ với đối tác nước ngoài, tự tìm chương trình, sách tham khảo để biên soạn giáo án giảng dạy Chính vì thế, mỗi trường một kiểu và dạy theo đủ loại giáo trình của Úc, Canada hoặc Cambridge Tuy giáo trình của ĐH Cambridge được xem chuẩn nhất nhưng chi phí mua lại quá cao nên nhiều trường không kham nổi Về giáo viên, các trường đều
bị động, phải tự đào tạo, tự bồi dưỡng hoặc tìm nguồn thuê, hợp đồng từ bên ngoài là chính Trừ một số ít trường có điều kiện, đưa giáo viên đi nước ngoài đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn việc dạy môn Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh như Trường THPT Nguyễn Công Trứ, Trần Đại Nghĩa, số còn lại đều gặp khó khăn như nhau
Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM, dù đã triển khai việc dạy Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh nhiều năm qua, nhưng theo đại diện nhà trường, từ thực tiễn triển khai nhà trường cũng phải rút kinh nghiệm giảm thời lượng Lý do phải điều chỉnh thời lượng các môn học bằng tiếng Anh, theo ban giám hiệu trường là để học sinh không bị quá tải và đảm bảo chất lượng cần thiết cho các môn chuyên
Do đó, cần có cơ chế đãi ngộ phù hợp để giữ chân giáo viên giỏi Bởi khi họ giỏi ngoại ngữ thì không tránh khỏi lời mời của những môi trường làm việc tốt hơn, lương cao hơn, mà họ sẽ “nhảy việc”
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Trong chương 1 chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, chúng tôi nghiên cứu mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh Trong phần này, nêu bật được tầm quan trọng và phương pháp rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập cũng như cách thức tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh
Trang 31Thứ hai, chúng tôi đưa ra các bước giúp rèn luyện kĩ năng viết các chủ đề khoa học bằng tiếng Anh
Thứ ba, chúng tôi tìm hiểu thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường phổ thông của Bộ Giáo dục và đào tạo Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát sự phát triển kĩ năng viết cho học sinh khi dạy môn hóa học bằng tiếng Anh tại các trường phổ thông hiện nay
Trang 32CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT TRONG VIỆC GIẢI BÀI TẬP
HOÁ HỌC HỮU CƠ CHO HỌC SINH THPT BẰNG TIẾNG ANH
2.1 Phân loại bài tập hóa học hữu cơ nhằm rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh
Để rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh trong việc giải bài tập hoá học hữu cơ ở trường THPT, trước hết giáo viên cần cho học sinh làm quen với việc trả lời các câu hỏi bài tập đơn giản, không cần viết nhiều, từ từ nâng dần mức độ khó lên
Có thể sắp xếp mức độ khó nâng dần của các dạng bài tập viết theo thứ tự như sau:
- Dạng bài tập vẽ công thức – gọi tên theo yêu cầu đề bài
- Dạng bài tập viết phương trình phản ứng
- Dạng bài tập nối các từ, cụm từ, câu phù hợp lại với nhau
- Dạng bài tập điền khuyết
- Dạng bài tập tính toán
- Dạng bài tập giải thích hiện tượng thí nghiệm
- Dạng bài tập trả lời các câu hỏi ngắn
- Dạng bài tập trình bày hiểu biết về một vấn đề hoá học thực tiễn
Đối với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần cung cấp cho học sinh một số kiến thức, kỹ năng cần thiết để học sinh hiểu được câu hỏi, yêu cầu của bài tập để có câu trả lời đúng
2.1.1 Dạng bài tập 1 - Vẽ công thức – gọi tên theo yêu cầu đề bài
Để trả lời các bài tập yêu cầu vẽ công thức cấu tạo hoặc gọi tên, GV cần hướng dẫn
HS theo các thứ tự thao tác sau:
Bước 1: GV xây dựng hệ thống từ vựng và thuật ngữ liên quan đến dạng bài tập vẽ công thức – gọi tên theo yêu cầu đề bài
- Tên tiếp đầu ngữ tương ứng với số nguyên tử C, tên gọi các nhóm thế, tên gọi các nhóm chức, tên các liên kết đặc biệt bằng tiếng Anh
Trang 33- Nếu có nhiều nhóm chức (liên kết =, ) cùng xuất hiện, thì sắp xếp gọi theo thứ
tự giảm dần các hậu tố của -COOH, -CHO , -CRO, -OH, -NH2, =,
- Xác định các nhóm thế gắn vào mạch chính
- Xác định vị trí nhóm chức và nhóm thế gắn vào mạch chính
Bước 3: Hướng dẫn trình bày tên gọi bằng tiếng Anh
Trang 34- GV lưu ý HS cách sắp xếp trong tên gọi
- GV lưu ý một số vấn đề khi gọi tên
+ Các ký hiệu: giữa các số chỉ vị trí được ngăn cách bởi dấu ‘,’ ; giữa số chỉ vị trí với tên được ngăn cách bởi dấu ‘-’ ; giữa các tên không có khoảng trống
+ Nếu có nhiều nhóm giống nhau xuất hiện nhiều hơn 1 lần thì thêm tiền tố di- , tri-, tetra-, etc
+ Các nhóm thế khác nhau được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái
Bước 4: HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
Bước 5: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
Ví dụ: Write IUPAC name for the following compound
Đánh số từ trái qua để vị trí nối đôi nhỏ nhất
Có 1 liên kết đôi => ene
Ví trí liên kết đôi là 2
Nhóm thế là CH3 => tên nhóm thế là methyl
Trang 35Vị trí gắn nhóm thế CH3 là 3
Bước 3: Hướng dẫn trình bày tên gọi bằng tiếng Anh
- GV lưu ý HS cách sắp xếp trong tên gọi
1 Vị trí nhóm thế
2 Tên nhóm thế
3 Vị trí liên kết đặc biệt
4 Tiếp đầu ngữ
5 Tên của liên kết đặc biệt
- GV lưu ý các ký hiệu: giữa số chỉ vị trí với tên được ngăn cách bởi dấu ‘-’ ; giữa các tên không có khoảng trống
Bước 4: HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
5-methyl-2-heptene
Bước 5: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
2.1.2 Dạng bài tập 2 - Viết phương trình phản ứng
Để trả lời các bài tập yêu cầu viết phương trình phản ứng, GV cần hướng dẫn HS theo các thứ tự thao tác sau:
Bước 1: Yêu cầu HS ôn lại tên gọi các chất hoá học bằng tiếng Anh
Bước 2: GV xây dựng hệ thống các động từ, thuật ngữ thường dùng để hỏi trong dạng bài tập viết phản ứng
- Các động từ thường dùng trong đề bài yêu cầu viết phương trình phản ứng (write, write down )
- Thuật ngữ các loại phương trình, các loại công thức, các loại phản ứng bằng tiếng Anh:
Addition polymerisation Phản ứng trùng hợp
Chemical equation Phương trình hoá học
Condensation polymerisation Phản ứng trùng ngưng
Elimination reaction Phản ứng tách
Empirical formula Công thức đơn giản
Hydrohalogenation Phản ứng cộng HX (X là halogen)
Molecular formula Công thức phân tử
Trang 36Neutralisation Phản ứng trung hoà
Structural formula Công thức cấu tạo
Substitution reaction Phản ứng thế
Lưu ý: Cần đọc kỹ các yêu cầu của bài tập :
- Đề bài yêu cầu viết phương trình chữ hay phương trình dạng công thức hoá học
- Có yêu cầu thêm nào không (gọi tên sản phẩm )
Bước 3: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
- Các phản ứng có điều kiện phải ghi rõ điều kiện (chất xúc tác, heat, )
- Cân bằng phản ứng nếu là phương trình hoá học
Bước 4: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
Ví dụ: Write chemical equation and name any organic products formed in the reaction between phenol and sodium
chemical equation => phương trình hóa học
name any organic products formed in the reaction => gọi tên sản phẩm hữu cơ Bước 3: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
Trang 37Lưu ý HS cân bằng phản ứng
Gọi tên sản phẩm hữu cơ sau phản ứng
sodium phenolate Bước 4: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
2.1.3 Dạng bài tập 3 - Nối các từ, cụm từ, câu phù hợp lại với nhau
Bước 1: Yêu cầu HS ôn lại một số kiến thức
- Tên gọi các chất bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại công thức bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại phản ứng bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại phương trình bằng tiếng Anh
- Các kiến thức hoá học (tính chất vật lý, tính chất hoá học, ứng dụng của các chất)
- Các khái niệm, định nghĩa trong hoá học
Bước 2: GV xây dựng hệ thống các động từ, thuật ngữ thường dùng để hỏi liên quan đến dạng bài tập yêu cầu nối các từ, cụm từ, câu phù hợp lại với nhau (match … with …, match each word with the correct definition )
Bước 3: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
- Có thể dùng viết kẻ đường nối các ý phụ hợp lại với nhau
- Có thể viết lại nội dung (đã nối) thành một câu hoàn chỉnh
Bước 4: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
Ví dụ: Match each word on the left with its description on the right
Trang 38Bước 3: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh
Monomer is a simple molecule from which a polymer is made
Addition is a reaction where two or more molecules combine to form only one product
Polymer is a molecule made by combining monomers
Condensation is a reaction where compounds combine and a small molecule is eliminated
Bước 4: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
2.1.4 Dạng bài tập 4 - Điền khuyết
Bước 1: Yêu cầu HS ôn lại một số kiến thức
- Tên gọi các chất bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại công thức bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại phản ứng bằng tiếng Anh
- Thuật ngữ các loại phương trình bằng tiếng Anh
- Các kiến thức hoá học hữu cơ (tính chất vật lý, tính chất hoá học, ứng dụng của các chất)
- Các khái niệm, định nghĩa trong hoá học hữu cơ
Bước 2: GV xây dựng hệ thống ngữ pháp thông dụng trong các bài tập học học hữu cơ Bước 3: Tìm hiểu nghĩa của các từ đề cho sẵn (nếu có)
Bước 4: Tìm hiểu từ loại của các từ cần điền để có thể điền đúng ngữ pháp
Monomer a reaction where compounds combine and a small molecule
is eliminated Addition a molecule made by combining monomers
Polymer a simple molecule from which a polymer is made
Condensation a reaction where two or more molecules combine to form
only one product
Trang 39Bước 5: Yêu cầu HS đọc lướt qua cả đoạn câu hỏi, sau đó thực hiện theo các bước sau ngoài nháp:
- Chọn từ, cụm từ có ý nghĩa thích hợp đề điền vào chỗ trống
- Kiểm tra lại ngữ pháp đã đúng chưa (từ vựng, ngữ pháp )
Bước 6: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh Điền các từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống hoặc viết lại thành đoạn hoàn chỉnh
Bước 7: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
Ví dụ: Copy and complete using the words from the list below
alcohols alkanes alkenes ethane functional homologous
Methane and (1) belong to the (2) series called the (3)_ A homologous series is a family of similar compounds with the same (4) group For example, (5) always have the-OH functional group and (6) have the C=C functional group
Hướng dẫn:
Bước 1: Yêu cầu HS ôn lại một số kiến thức
Bước 2: GV xây dựng hệ thống ngữ pháp thông dụng trong các bài tập học học hữu cơ Bước 3: Tìm hiểu nghĩa của các từ đề cho sẵn (nếu có)
alcohols => ancol (số nhiều)
alkanes => ankan (số nhiều)
alkenes => anken (số nhiều)
ethane => etan
functional group => nhóm chức
homologous => đồng đẳng
Bước 4: Tìm hiểu từ loại của các từ cần điền để có thể điền đúng ngữ pháp
Danh từ gồm: alcohols, alkanes, alkenes, ethane, homologous
Dự kiến điền từ theo nghĩa của đoạn
Bước 6: Hướng dẫn HS trình bày bài giải bằng tiếng Anh Điền các từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống hoặc viết lại thành đoạn hoàn chỉnh
Trang 40Methane and ethane belong to the homologous series called the alkanes A homologous series is a family of similar compounds with the same functional group For example, alcohols always have the-OH functional group and alkenes have the C=C functional group
Bước 7: GV sửa chữa các lỗi về nội dung bài giải và cách trình bày bằng tiếng Anh
2.1.5 Dạng bài tập 5 - Tính toán
Bước 1: Yêu cầu HS ôn lại một số kiến thức
- Tên gọi các chất bằng tiếng Anh
- Cách viết các phương trình hoá học
Bước 2: GV xây dựng hệ thống từ vựng và cấu trúc câu liên quan đến chủ đề bài tập
- Các đơn vị, đại lượng dùng trong hoá học bằng tiếng Anh: trong hoá học, có một
hệ thống các đại lượng, đơn vị được sử dụng, một trong số đó là hệ thống SI và một hệ thống nữa là hệ thống thường dùng Hai hệ thống này được liệt kê theo bảng sau
unit
SI symbol
Common unit
Common symbol
Đại lượng
Amount of
substance (n)
Concentration
(C)
mole per cubic metre
mol m-3 mole per
Molar charge coulomb
kg mol-1 gram
per mole
g mol-1 Khối lượng của 1
mol chất Molar volume
(V)
cubic metre per mole
m3 mol-1 litre per
mole
L mol-1 Thể tích phân tử
atmosphere atm 1 atm = 101.3 kPa millimetres mm Hg 1 atm = 760 mmHg