1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng dạy học khám phá để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học phần học sinh tế bào, sinh học 10

140 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy trình sử dụng hoạt động khám phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho hs khi dạy - học phần sinh học tế bào bậc trung học phổ thông.. Trước đây luật giáo dục coi SGK là pháp lệnh, điều đó

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

NGUYỄN GIA ĐĂNG

VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ

ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC

PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO, SINH HỌC 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

NGUYỄN GIA ĐĂNG

VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ

ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC

PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO, SINH HỌC 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Sinh học

Mã số: 60140111

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Phan Đức Duy

VINH 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin

số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn được rút ra từ thực tế nghiên cứu, khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Vinh, tháng 09 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Gia Đăng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Phan Đức Duy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh Trường Đại học Vinh

đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài

Đồng thời, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng Sau Đại học của Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập và nghiên cứu

Cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô trong Tổ Sinh và học sinh Trường Nghi Lộc 2, Trường THPT Nghi Lộc 5 đã tạo điều kiện và hợp tác cùng với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tác giả

Nguyễn Gia Đăng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU viii

1 Lý do chọn đề tài - 1 -

2 Mục đích nghiên cứu: - 3 -

3 Đối tượng nghiên cứu: - 3 -

4 Giả thuyết khoa học: - 3 -

5 Nhiệm vụ nghiên cứu: - 3 -

6 Phương pháp nghiên cứu: - 3 -

7 Những đóng góp mới của đề tài: - 5 -

8 Cấu trúc của luận văn: - 5 -

9 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề - 5 -

NỘI DUNG - 9 -

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - 9 -

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài: - 9 -

1.1.1 Khái niệm hoạt động và hoạt động khám phá trong học tập - 9 -

1.1.2 Đặc điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá - 10 -

1.1.3 Ưu, nhược điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá - 11 -

1.1.4 Những yêu cầu khi thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá - 12 -

1.1.5 Các dạng hoạt động và các hình thức tổ chức hoạt động khám phá - 12 -

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài - 20 -

1.2.1 Thực trạng về việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học - 20 -

1.2.2 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng tự học ở học sinh - 24 -

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO - 27 -

2.1 Đặc điểm nội dung phần sinh học tế bào - 27 -

2.1.1 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học bậc Trung học phổ thông - 27 -

2.1.2 Cấu trúc và nội dung phần Sinh học tế bào lớp 10 bậc Trung học phổ thông - 28 -

Trang 6

2.1.3 Đánh giá về cấu trúc, nội dung phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông - 28 -

2.2 Hệ thống các hoạt động khám phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh phần sinh học tế bào bậc trung học phổ thông - 30 -

2.2.1 Hoạt động dạng trả lời câu hỏi - 30 -

2.2.2 Hoạt động dạng thiết lập, phân tích bảng biểu, sơ đồ - 39 -

2.2.3 Hoạt động dạng dạng giải quyết tình huống - 49 -

2.2.4 Hoạt động khám phá dạng giải bài tập thực nghiệm - 55 -

2.3 Quy trình sử dụng hoạt động khám phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho hs khi dạy - học phần sinh học tế bào bậc trung học phổ thông - 58 -

2.3.1 Quy trình chung - 58 -

2.3.2 Sử dụng dạy học khám phá để dạy học phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông - 60 -

2.3.3 Soạn giáo án theo hướng vận dụng các hoạt động khám phá - 76 -

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM - 77 -

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm - 77 -

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm - 77 -

3.3 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm - 77 -

3.3.1 Đối tượng - 77 -

3.3.2 Nội dung - 77 -

3.4 Bố trí thực nghiệm sư phạm - 78 -

3.5 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm - 78 -

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm và đánh giá - 78 -

3.6.1 Phân tích định lượng - 78 -

3.6.2 Phân tích định tính - 83 -

3.7 Kết luận chương 3 - 84 -

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 85 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 87 -

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

ĐC : Đối chứng

TN : Thực nghiệm HĐKP : Hoạt động khám phá NST : Nhiễm sắc thể

SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên

KT : Kiến thức

KN :Kỹ năng

SH : Sinh học THPT : Trung học phổ thông TTDT : Thông tin di truyền

GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về việc hướng dẫn HS tự học và tình hình thiết kế và sử

dụng các hoạt động khá phá trong dạy học sinh học của GV THPT - 21 -

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPT - 24 -

Bảng 3.1 Bảng thống kê các bài TN - 77 -

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả các lần tổ chức rèn luyện KN tự học - 78 -

Bảng 3.3 Bảng điểm xác định mức độ đạt được của các tiêu chí TN - 79 -

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp mức độ đạt được trong từng tiêu chí về việc rèn luyện KN tự học của HS (Mức 1 < Mức 2 < Mức 3) - 80 -

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Các dạng và hình thức tổ chức các hoạt động khám phá - 13 -

Hình 1.2 Sơ đồ các hình thức tự học [1] - 20 -

Hình 2.1 Cấu trúc của ty thể - 31 -

Hình 2.2 Mô hình cấu trúc của phân tử ADN - 32 -

Hình 2.3 Cấu trúc của đơn phân - Nuclêôtit - 32 -

Hình 2.4 Cấu trúc Tế bào động vật và tế bào thực vật - 34 -

Hình 2.5 Sự trao đổi chéo của cặp NST tương đồng - 35 -

Hình 2.6 Cấu trúc ADN và ARN - 36 -

Hình 2.7 Sơ đồ các pha trong quang hợp - 37 -

Hình 2.8 Dòng di chuyển của vật chất - 37 -

Hình 2.9 Chu kì tế bào - 40 -

Hình 2.10 Các giai đoạn hô hấp - 42 -

Hình 2.11 Tế bào động vật - 43 -

Hình 2.12 các hình thức vận chuyển qua màng sinh chất - 44 -

Hình 2.13 Cấu trúc của tế bào Vi khuẩn - 47 -

Hình 2.14 Cấu trúc của Ti thể - 47 -

Hình 2.15 Cấu trúc của lục lạp - 48 -

Hình 2.16 Các bậc cấu trúc của prôtêin - 49 -

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được về KN tự học của HS qua các lần tổ chức rèn luyện - 79 -

Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 1 qua 3 lần TN - 80 -

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 2 qua 3 lần TN - 81 -

Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 3 qua 3 lần TN - 81 -

Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 4 qua 3 TN 82

Trang 9

-MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tình hình xã hội hiện nay, sự bùng nổ của thông tin, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão đã tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Trước yêu cầu đổi mới của thời đại, trong giáo dục cũng đòi hỏi phải đổi mới, quá trình đổi mới phải đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là khâu đột phá đồng thời cũng là bước quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu của thời đại mới Trước đây luật giáo dục coi SGK là pháp lệnh, điều đó đã buộc giáo viên chỉ truyền thụ một chiều rập khuôn SGK, nên việc tìm ra các phương pháp dạy học để phát huy được tính tích cực, tự học và chưa rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh, nên kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh còn nhiều hạn chế từ đó tạo sự nhàm chán, học sinh thụ động và quá phụ thuộc vào giáo viên trong từng tiết học Hiện nay, nội dung và chương trình của SGK cũng đã được thay đổi để phù hợp với yêu cầu của thời đại, SGK, SGV và Chuẩn KT- KN là phương tiện dạy học, nên việc tổ chức dạy học của giáo viên nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự học của học sinh, làm cho học sinh làm việc nhiều hơn, suy nghĩ tập trung hơn, đồng thời phải tác động đến tâm lí hứng thú học tập của học sinh từ đó tạo môi trường học tập, thi đua thông qua các hoạt động học tập

Như vậy, đổi mới phương pháp trong dạy học không chỉ đơn thuần là dạy những kiến thức có sẵn trong SGK mà còn phải dạy như thế nào để phát huy tính tự học của học sinh, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, phải hướng dẫn tổ chức cho học sinh cách học, cách tiếp cận kiến thức, các

kỹ năng cơ bản để học sinh có thể chủ động lĩnh hội, diễn đạt được ý mình hiểu và vận dụng kiến thức ngay cả khi không có thầy, đó là vấn đề cấp thiết và hoàn toàn phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Đảng, nhà nước ta cũng như ngành GD & ĐT quan tâm chỉ đạo Từ đó đào tạo ra những con người thực sự làm chủ, năng động, linh hoạt trong ứng xử với tinh thần hợp tác trong lao động, những con người biết tự học để thường xuyên tự đổi mới kiến thức, có thể bắt kịp sự đổi mới của khoa học và công nghệ đang diễn ra thường ngày Vì vậy đổi mới giáo dục để phù hợp với tiến trình phát triển của

xã hội là điều thiết yếu hiện nay

Trang 10

Sinh học vốn là môn học khoa học thực nghiệm với một lượng kiến thức lớn, thời gian ngắn và có tính ứng dụng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong giáo dục nhân cách học sinh góp phần vào nhiệm vụ giáo dục toàn diện vì vậy việc thiết kế các hoạt động học tập phát huy tính tích cực chủ động, gợi sự tò mò và thích khám phá, phát huy được hoạt động độc lập của từng cá nhân và hoạt động tập thể, hướng dẫn cách tự học cho học sinh, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo và xử lý linh hoạt cho người học vấn đề này đặt ra cho giáo viên phải tìm ra các phương pháp tối ưu phù hợp với đối tượng học sinh Một trong những phương pháp để phát huy tính chủ động tích cực, rèn luyện kỹ năng cho học sinh là đưa học sinh vào các hoạt động Việc giải quyết các hoạt động đó sẽ giúp cho học sinh vừa củng cố được kiến thức cũ, vừa khám phá ra được những nguồn tri thức mới Đồng thời qua đó rèn luyện cho các em kỹ năng tư duy logic như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh

Thực hiện công cuộc cải cách giáo dục, nội dung sách giáo khoa đã có sự thay đổi nhiều, được thiết kế có tính hệ thống từ sinh học tế bào lớp 10 đến sinh học cơ thể lớp 11, với nhiều nội dung kiến thức mới và khó Phần Sinh học tế bào đây kiến thức nền tảng, cơ bản làm cơ sở để tiếp cận với các nội dung kiến thức ở lớp cao hơn Phần sinh học tế bào được biên soạn theo cách tiếp cận mới là dựa vào các hoạt động học tập, tuy nhiên các hoạt động trong tài liệu chưa đủ để tổ chức cho học sinh tự mình chủ động khám phá tìm ra nguồn tri thức mới Do đó, việc thiết kế các hoạt động để tổ chức cho học sinh học tập phần Sinh học tế bào nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh là vấn đề thiết thực

Từ những điều đã phân tích trên, xuất phát từ đặc thù môn sinh học và phần kiến thức sinh học tế bào 10 – THPT tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và chọn đề tài

“Vận dụng dạy học khám phá để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học phần Sinh học tế bào, Sinh học 10”

Hy vọng qua đề tài này, chúng tôi sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học môn Sinh học nói riêng

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu thiết kế các hoạt động khám phá để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học phần Sinh học tế bào, Sinh học 10, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Sinh học cấp Trung học phổ thông

3 Đối tượng nghiên cứu:

Các hoạt động khám phá để rèn luyện các kỹ năng tự học cho học sinh phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu thiết kế được các hoạt động khám phá và có các hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 thì không những rèn luyện cho học sinh các kỹ năng tự học mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Sinh học cấp Trung học phổ thông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

- Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông làm cơ sở cho việc thiết kế các hoạt động khám phá

- Thiết kế, cải tiến và vận dụng các hoạt động khám phá để dạy học phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông để rèn kỹ năng tự học cho HS

- Nghiên cứu quy trình sử dụng hoạt động khám phá trong dạy học để reng cho học sinh kỹ năng tự học

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả vận dụng các hoạt động khám phá

đã xây dựng được

6 Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học, các tài liệu lý luận dạy học, đặc biệt là dạy học bằng các hoạt động khám phá, các phương pháp tự học làm cơ

sở cho việc vận dụng vào dạy học phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông

6.2 Phương pháp điều tra cơ bản:

Trang 12

Điều tra về thực trạng, từ đó phân tích nguyên nhân hạn chế chất lượng dạy và học Sinh học nói chung và Sinh học tế bào nói riêng ở trường Trung học phổ thông

- Đối với giáo viên:

+ Dùng phiếu điều tra để lấy số liệu về thực trạng giảng dạy bộ môn Sinh học nói chung, phần Sinh học tế bào nói riêng

+ Tham khảo giáo án, dự giờ của một số giáo viên và trao đổi với đồng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn

- Đối với học sinh:

Dùng phiếu điều tra để điều tra thực trạng dạy - học bộ môn Sinh học ở trường Trung học phổ thông

6.3 Phương pháp chuyên gia:

Gặp gỡ, trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực mình đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn, góp ý của các chuyên gia để định hướng cho việc triển khai đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá việc rèn luyện KN tự học

- Đánh giá kết quả của TNSP dựa trên các tiêu chí đã xây dựng

6.5 Phương pháp thống kê toán học:

- Thu thập và thống kê số liệu từ kết quả của tất cả các lần tổ chức TN

- Tính tỉ lệ phần trăm số liệu thu được theo từng tiêu chí

Trang 13

7 Những đóng góp mới của đề tài:

- Nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học khám phá, thiết kế các hoạt động khám phá để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học môn sinh học của học sinh THPT

- Đề xuất quy trình sử dụng hoạt động khám phá để dạy học phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông

- Xây dựng các tiêu chí để đánh giá KN tự học trên lớp của HS

8 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Vận dụng dạy học khám phá để rèn luyện cho HS kỹ năng tự học phần Sinh học tế bào

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

9 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS là một trong những nhiệm

vụ hàng đầu của người GV trong quá trình dạy học Hiện nay, dạy học ngoài việc chú ý đến nội dung bài học thì việc rèn luyện KN cho HS là việc làm không thể thiếu Trong đó,

KN tự học luôn được sự quan tâm, thu hút và chú ý của các nhà giáo dục trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau

9.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

PPDH lấy người học làm trung tâm bắt đầu phát triển từ những năm 20 và phát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỉ XX Việc vận dụng và thiết kế các hoạt động khám phá nhằm kích thích tính tích cực, chủ động, tự tìm tòi sáng tạo của HS đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, năm 1903 lí thuyết hoạt động của A.N Leonchev - nhà tâm lý học người Nga - ra đời đặt nền móng cho quan niệm dạy học bằng các hoạt động khám phá Lí thuyết hoạt động đã được vận dụng để giải quyết hàng loạt vấn đề lí luận và thực tiễn dạy học, trong đó chủ yếu là việc thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập cho người học Vận dụng lí thuyết hoạt động vào dạy học được nhiều nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu B Skinner (1904-1990) trong hai tác phẩm chính của mình: “Hành vi của sinh vật” (1938) và “Công nghệ dạy học” (1968) đã cho rằng: Học là quá trình tự điều chỉnh hành vi để dẫn tới hành vi mong muốn, dạy là tạo thuận lợi cho học Vào những năm 1920, ở Anh “PPDH tích cực” bắt

Trang 14

đầu được quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong trường học Ở Pháp các “nhà trường mới” được hình thành với mục tiêu dạy học phát triển năng lực ở trẻ em và học tập tự quản Tương tự, đổi mới PPDH cũng diễn ra ở Ba Lan, Đức, Liên Xô (cũ), Pháp, Tiệp Khắc… Như vậy, PPDH thời kỳ này đã chú ý tới vai trò tích cực của HS và GV có vai trò cố vấn trong hoạt động tích lũy tri thức, phát triển năng lực tư duy của HS [14], [24]

Vào những năm 1970, Mỹ đã vận dụng PP học tập theo nhóm kết hợp với việc cung cấp các phiếu hướng dẫn để HS tiến hành hoạt động học tập tự lực, theo nhịp độ phù hợp với năng lực [28]

Ở Hàn quốc từ thập niên 90 đến nay, giáo dục hướng vào xã hội công nghiệp luôn tập trung vào phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tính sáng tạo Chính vì vậy, Hàn Quốc có quyền tự hào là một trong những quốc gia có nền giáo dục phát triển mạnh trên thế giới về cả chất lượng lẫn số lượng [23]

Ở Nhật, Thái Lan cũng đang tiến hành cải cách giáo dục với mục tiêu là giảm giờ lên lớp, sách giáo khoa (SGK) viết theo lối chú trọng vào giải quyết vấn đề, chú trọng thực hành, giảm thời lượng dành cho các môn chính, các trường tự chọn nội dung và

PP dạy cho “môn học tổng hợp” nhằm giảm bớt căng thẳng, tạo không khí học tập nghiên cứu tự nguyện, thoải mái không gò bó cho HS [20],[28]

Ở Anh, năm 1920 đã hình thành những nhà trường mới nhằm phát huy năng lực trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động tự lực, tích cực của học sinh Ở Pháp, sau đại chiến thế giới thứ hai đã hình thành một số trường thí điểm lấy hoạt động sáng kiến, hứng thú nhận thức của học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh hướng vào việc hình thành nhân cách của các em Trong những năm 1970-1980, Bộ Giáo dục - Đào tạo Pháp đã khuyến khích tăng cường vai trò tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập.[18][28][31]

9.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, vào những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề phát huy tính tích cực học tập của HS bắt đầu được quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm đổi mới PPDH, phát huy trí tuệ của người học như: Đinh Quang Báo, Trần Bá Hoành, Nguyễn

Sỹ Ty, Lê Nhân, Nguyễn Ngọc Quang, Lê Đình Trung, Vũ Đức Lưu, Nguyễn Đức Thành, Vũ Đức Thâm Các phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu, áp dụng

Trang 15

nhiều trong đó phương pháp dạy học bằng các hoạt động khám phá là một hướng dạy học thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà giáo dục Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học này như: Tác giả Nguyễn Thị Dung - Trường Cao đẳng

sư phạm Hà Nội có bài viết: Nâng cao năng lực tư duy của học sinh thông qua dạy học

khám phá (Tạp chí phát triển giáo dục, số 6 - Tháng 6 năm 2005); tác giả Nguyễn Thị

Hồng Nam - Đại học Cần Thơ có bài: Vận dụng hình thức dạy học khám phá vào dạy

học Văn ở trường Đại học (Tạp chí dạy và học ngày nay, số 9, tháng 7/2003) Trong

số đó nổi bật là những bài viết của tác giả Trần Bá Hoành trên các báo, tạp chí chuyên

ngành như: Đổi mới cách viết sách giáo khoa bậc trung học (Tạp chí giáo dục, số 89, năm 2004), Học bằng các hoạt động khám phá (Tạp chí Thế giới trong ta, số 35 + 36,

tháng 1 + 2 năm 2005); Những bài viết này đã được tác giả tập hợp lại trong cuốn

sách: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học

sư phạm, năm 2006; Hoạt động hóa người học trong dạy học sinh học của tác giả

Phan Đức Duy Trong các bài viết đó, tác giả nêu bật bản chất của dạy học khám phá, phương pháp tổ chức các hoạt động khám phá, ưu nhược điểm và những điều kiện áp dụng phương pháp dạy học bằng các hoạt động khám phá

Năm 2006, tác giả Đặng Thị Bé Trang với đề tài: "Thiết kế các hoạt động để tổ

chức học sinh học tập phần Cơ sở di truyền học bậc trung học phổ thông" đã cho thấy

hiệu quả của việc thiết kế các hoạt động nói chung, hoạt động khám phá nói riêng trong dạy học Sinh học [1] [5] [19] [9] [11] [21] [15] [16] [14] [22] [20]

Gần đây có nhiều tác giả đã nghiên cứu về tổ chức rèn luyện KN tự học cho HS bằng nhiều cách khác nhau như:

Trần Bá Hoành, Phan Đức Duy đã nghiên cứu về khái niệm PHT, vai trò của PHT, các dạng PHT, thiết kế PHT và cách sử dụng PHT trong dạy học để phát huy tính tích cực tự học của HS [1],[7]

Có thể nói, càng về sau các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến vấn đề rèn luyện KN tự học cho HS bằng nhiều cách khác nhau trong quá trình dạy học Nhưng hầu như các tác giả chưa đi sâu vào vấn đề sử dụng các hoạt động khám phá để rèn luyện cho HS các KN tự học khi dạy học sinh học nói chung hay phần Sinh học tế bào nói riêng Vì vậy, đây là vấn đề khá mới cần đi sâu và nghiên cứu

Trang 16

Tóm lại, đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học, tổ chức các hoạt động học tập tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới

và trong khu vực Với những hình thức dạy học mới, việc thiết kế các hoạt động khám phá để tổ chức học sinh học tập là hết sức cần thiết và cần phải tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào thực tế dạy học góp phần đổi mới phương pháp giáo dục toàn diện cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài:

1.1.1 Khái niệm hoạt động và hoạt động khám phá trong học tập

1.1.1.1 Hoạt động là gì

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:

Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình [8] [23]

Quan niệm triết học cho rằng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (đối tượng) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và con người [8]

Về mặt tâm lí học, hoạt động là tính tích cực bên trong (tâm lí) và bên ngoài (thể lực) của con người Hoạt động được sinh ra từ nhu cầu và được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được Hoạt động gắn liền với nhận thức và ý chí, dựa hẳn vào chúng và không thể xảy ra nếu thiếu chúng [8] [23]

1.1.1.2 Hoạt động khám phá trong học tập

- Hoạt động học tập là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp hướng

tới mục tiêu xác định của bài học

- Nét bản chất của dạy học khám phá trong học tập là học sinh phải giành lấy kiến thức qua tư duy độc lập, sáng tạo hoặc hoạt động thực hành

Trong dạy học khám phá, đòi hỏi người giáo viên gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của học sinh Hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển tư duy cho học sinh, lựa chọn nội dung vấn đề đảm bảo tính vừa sức với học sinh; tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm trên lớp; chuẩn bị các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết… Hoạt động chỉ đạo của giáo viên như thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực Đó là việc làm không dễ dàng đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công phu vào nội dung bài giảng

Học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành thi thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; giáo viên kết luận cuộc đối thoại, đưa ra nội dung

Trang 18

vấn đề làm cơ sở cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại

Học sinh có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học Đó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học

- Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài đã tích lũy được Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải

"khám phá" ra những điều mới đối với bản thân

Hoạt động khám phá trong học tập không phải là một quá trình mò mẫm như trong nghiên cứu khoa học mà là một quá trình có hướng dẫn của giáo viên, trong đó giáo viên khéo léo đặt người học vào vị trí người khám phá lại những tri thức trong di sản văn hóa của loài người, của dân tộc Giáo viên không cung cấp những kiến thức mới thông qua phương pháp thuyết trình giảng giải mà bằng phương pháp tổ chức hoạt động khám phá để học sinh tự lực chiếm lĩnh tri thức mới [18] [5] [4]

1.1.2 Đặc điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá

Dạy học bằng các hoạt động khám phá là một phương pháp hoạt động thống nhất giữa thầy và trò để giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung tiết học Trong

đó giáo viên là người nêu vấn đề, học sinh hợp tác với nhau giải quyết vấn đề

Dạy học khám phá là một hướng tiếp cận mới của dạy học giải quyết vấn đề mà chúng ta đã được làm quen trước đây với những đặc điểm nổi bật như sau:

- Đặc trưng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và hoạt động tích cực hợp tác theo nhóm, lớp để giải quyết vấn đề

- Dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài Dạy học giải quyết vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề lớn, có liên quan logic với nội dung kiến thức cũ

- Dạy học khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh, chưa hoàn chỉnh khả năng tư duy logic trong nghiên cứu khoa học như trong cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề

- Tổ chức dạy học khám phá thường xuyên trong quá trình dạy học là tiên đề thuận lợi cho việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

Trang 19

Dạy học khám phá có thể được sử dụng lồng ghép trong khâu giải quyết vấn đề của kiểu dạy học giải quyết vấn đề

- Mục đích cuối cùng của các hoạt động khám phá là hình thành kiến thức, kĩ năng mới, xây dựng thái độ niềm tin và rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề cụ thể nào đó ở học sinh [8]

1.1.3 Ưu, nhược điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá

- Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của mình là cơ sở hình thành phương pháp tự học

- Giải quyết vấn đề nhỏ, vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập là phương thức để học sinh tiếp cận với kiểu dạy học hình thành và giải quyết vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn

- Đối thoại thầy - trò, trò - trò tạo ra bầu không khí sôi nổi, tích cực góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng [8]

- Nếu không có kinh nghiệm tổ chức hoạt động khám phá sẽ đưa lại những ấn tượng sai lầm trong tư duy, gây bất lợi cho học sinh về sau này [8] [5]

Trang 20

1.1.4 Những yêu cầu khi thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá

Để nâng cao hiệu qủa dạy và học GV cần khai thác, thiết kế và tổ chức được các hoạt động nhận thức cho HS Những hoạt động nhận thức phải dựa trên mục tiêu và nội dung bài học Thông qua các hoạt động HS sẽ có nhận thức tốt hơn, nhớ lâu hơn Theo Kant nói “Cách tốt nhất để hiêủ là làm” Vậy để thiết kế các hoạt động giúp HS lĩnh hội kiến thức mới có hiệu quả cần đảm bảo những yêu cầu sau:

- Thiết kế các hoạt động khám phá phải đảm bảo tính lôgic, đặt trong mối quan

hệ với bài trước, bài sau và mang tính vừa sức, kích thích được sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh

- Sự hướng dẫn của giáo viên cho mỗi hoạt động phải ở mức cần thiết mới lôi cuốn được học sinh

- Giáo viên phải giám sát các hoạt động của học sinh, biết gần gũi học sinh, phát hiện sớm những nhóm đi chệch hướng để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo kế hoạch thời gian Biết khuyến khích hoạt động của các nhóm bằng cách cho điểm cộng, bằng những lời nhận xét, khen ngợi

- Để hạn chế tình trạng những học sinh khá, giỏi thường đảm nhận việc báo cáo kết quả khám phá, giáo viên có thể yêu cầu bất kì thành viên nào của nhóm lên trình bày hoặc mỗi thành viên trình bày một ý kiến

- Trong quá trình tổ chức hoạt động khám phá cần tránh hai xu hướng, thứ nhất là

xu hướng hình thức (tức là chỗ nào dễ để học sinh khám phá mới tổ chức hoạt động), thứ hai là xu hướng cực đoan (tức là muốn biến toàn bộ nội dung bài học thành các hoạt động khám phá) [5] [8] [10]

1.1.5 Các dạng hoạt động và các hình thức tổ chức hoạt động khám phá

Hoạt động học tập là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp hướng tới mục tiêu xác định Hoạt động khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ trình độ thấp lên trình độ cao tùy theo năng lực của người học và được tổ chức theo hình thức cá nhân, nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn tùy theo mức độ phức tạp của vấn đề cần khá

Trang 21

Có thể trình bày tóm tắt như sau: [8] [18]

Hình 1.1 Các dạng và hình thức tổ chức các hoạt động khám phá

Trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi tiến hành xây dựng hoạt động khám phá ở 4 dạng: trả lời câu hỏi; lập và phân tích bảng, biểu, đồ thị; giải quyết tình huống; giải bài tập thực nghiệm Đây là những dạng hoạt động theo tôi sẽ được sử dụng nhiều trong dạy học phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông

1.1.5.1 Câu hỏi:

CH là dạng cấu trúc ngôn ngữ dễ dàng diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh

đề cần được giải quyết CH được sử dụng vào những mục đích khác nhau của quá trình dạy học [8]

Dạng hoạt động

- Trả lời câu hỏi

- Điền từ, điền bảng, điền tranh câm

- Lập bảng, biểu, đồ thị, sơ đồ, bản đồ,

đọc và phân tích

- Làm thí nghiệm, đề xuất giả thuyết,

phân tích nguyên nhân, thông báo kết

quả

- Thảo luận, tranh cãi về một vấn đề

- Giải bài toán nhận thức, xử lí tình

huống

- Nghiên cứu ca điển hình, điều tra thực

trạng, đề xuất và thực nghiệm phương

- "Kim tự tháp" (hợp 2 nhóm 2 người

thành nhóm 4 người, hợp 2 nhóm 4 người thành nhóm 8 người)

- Hình thành kiến thức, kĩ năng mới

- Xây dựng giá trị, thái độ, niềm tin

- Rèn luyện tư duy, năng lực xử lý tình huống, giải quyết vấn đề

Trang 22

Theo Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy là CH đặt ra trước HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, qua đó lĩnh hội kiến thức mới và được tập dượt được phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề, có được niềm vui của sự khám phá [16]

1.1.5.2 Bài tập tình huống trong dạy học

Là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình daỵ học,

là dạng bài toán ơrictic chứa đựng mâu thuẫn nhận thức Mâu thuẫn này phải có tác dụng kích thích được tính tích cực nhận thức của học sinh, học sinh chấp nhận nó như

là một nhu cầu và có khả năng tự giải quyết được hoặc giải quyết dưới sự hướng dẫn của giáo viên [8] [36]

1.1.5.3 Bài tập thực nghiệm

Là những nhiệm vụ cho học sinh thực hiện trong đó có chứa đựng nội dung thực nghiệm, khi giải các bài tập này học sinh không chỉ lĩnh hội được tri thức mới mà còn phát triển được tư duy, trau dồi kĩ năng thực hành [10]

1.2.1 Kỹ năng tự học của HS

1.2.1.1 Kỹ năng

Hiện nay có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm Kỹ năng:

Theo Trần Bá Hoành: KN là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn KN đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo trở thành kỹ xảo [22]

Theo Xavier: Tích giữa kỹ năng với nội dung bằng mục tiêu (Kỹ năng Nội dung

= Mục tiêu) hay nói cách khác KN chỉ biểu hiện thông qua một mục tiêu

Kĩ năng: hoạt động có tính lặp lại trong một bối cảnh quen thuộc (tính quen thuộc, lặp lại)  thành thạo dần qua thời gian [33]

Như vậy KN có thể được hiểu là khả năng thu nhận, lĩnh hội kiến thức thông qua hoạt động và muốn có KN cần phải được rèn luyện dựa trên nội dung kiến thức nào

đó Để thật sự có được một KN nào đó cần phải được tiến hành một cách thường xuyên và lâu dài

Trang 23

1.2.1.2 KN học tập

Học tập là loại hình hoạt động cơ bản, một loại hoạt động phức tạp của con người Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống KN chuyên biệt gọi là KN học tập Theo quan điểm tâm lý học, KN học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra [3]

Từ đó ta có thể phân loại KN học tập như sau:

* Các KN học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập, xử lý thông tin và sử dụng thông tin bao gồm: KN làm việc với SGK, KN quan sát, KN tiến hành thí nghiệm, KN phân tích – tổng hợp, KN so sánh, KN khái quát hoá, KN suy luận, KN áp dụng kiến thức đã học

* Các KN học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình học tập liên quan đến việc quản lý PT học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng: KN

tự kiểm tra, tự đánh giá, KN tự điều chỉnh

* Các KN phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: KN học nhóm [21]

Có thể nói việc thiết kế các hoạt động khám phá nhằm phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến thu thập, xử lý, diễn đạt thông tin và các KN phục vụ việc rèn luyện

KN tự học trong dạy học Sinh học là vấn đề mới, cấp thiết và có tính khả thi cao

Việc đưa ra khái niệm tự học đã được nhiều tác giả đề cập đến:

Theo N.Arubakin: “Tự học có nghĩa là tự tìm lấy kiến thức, là quá trình lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong hoạt động thực tiễn, hoạt động cá nhân… biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, KN của chủ thể” [26]

Trang 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời rất quan tâm đến vấn đề tự học – tự đào tạo Người đã chỉ ra rằng: “Tự học là sự nỗ lực của chính bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập, lại còn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và quản lý chỉ đạo giúp vào”

Việc tự học không phải là nhiệm vụ riêng biệt của mỗi HS mà nó phải được gắn kết chặt chẽ với người dạy, không loại bỏ vai trò của người dạy, người dạy phải có nhiệm vụ rèn luyện cho HS KN tự học, tự làm việc một cách khoa học nhất

Theo từ điển giáo dục học "Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học

và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của GV và sự quản lí trực tiếp của

cơ sở đào tạo" [13]

Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học được hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi sử dụng cả cơ bắp, tình cảm … để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại về cho bản thân [28]

Như vậy, tự học là quá trình đòi hỏi người học phải nỗ lực tối đa, tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính mình nhằm đạt được mục đích đã đề ra từ trước

- KN thu thập và xử lý thông tin

- KN vận dụng tri thức vào thực tiễn

- KN trao đổi và phổ biến thông tin

- KN kiểm tra đánh giá

1.2.1.5 Một số KN tự học cần rèn luyện cho HS THPT

Hoạt động tự học rất đa dạng, dạng phổ biến nhất là làm việc với SGK Có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân loại KN làm việc với SGK

Trang 25

Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành, trong tài liệu PP giảng dạy Sinh học đã nêu ra một số KN cơ bản của HS khi làm việc với SGK:

- KN tách nội dung bản chất từ tài liệu đọc được

- KN phân loại tài liệu đọc được

- KN trả lời câu hỏi dựa trên tài liệu đọc được

- KN lập dàn bài khi đọc SGK

- KN soạn đề cương

- KN làm tóm tắt tài liệu đọc được

- KN đọc và phân tích bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ trong SGK [1] [8] Theo Nguyễn Duân đã xác định các KN làm việc với SGK bao gồm:

- Nhóm KN làm việc với kênh chữ: KN tìm ý chính, KN tóm tắt, KN lập dàn ý,

KN lập bảng, KN lập sơ đồ

- Nhóm KN làm việc với kênh hình trong SGK: KN khai thác thông tin tranh ảnh trong SGK, KN khai thác thông tin sơ đồ trong SGK, KN khai thác thông tin đồ thị trong SGK, KN khai thác thông tin từ bảng trong SGK, KN vận dụng thông tin từ SGK [6]

Thông qua nghiên cứu việc phân loại các KN trên và mục tiêu giáo dục hiện nay, trong đề tài này chúng tôi sẽ tập trung rèn luyện cho HS các KN sau:

- KN thu nhận thông tin

Tự học còn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao hoạt động trí tuệ của HS trong việc tìm hiểu và tiếp thu tri thức mới, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho HS Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo

đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân

Trang 26

lý Trong quá trình tự học, người học sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất kích thích hoạt động trí tuệ Nếu thiếu đi sự

nỗ lực tự học của bản thân thì kết quả không thể cao dù có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay) Theo Aditxterrec “Chỉ có truyền thụ tài liệu của

GV mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của HS Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó HS phải

tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân” Điều này khẳng định thêm vai trò của việc

tự học

Tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho người học Việc tự học rèn luyện cho người học thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong học tập, trong công việc, trong cuộc sống giúp cho học tự tin hơn trong cuộc sống của mình Hơn thế nữa, tự học thúc đẩy HS ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ

Do vậy, mỗi HS phải xây dựng cho mình một thói quen, một phương thức tự học thích hợp nhất [22]

1.2.1.7 Bản chất của việc tự học

Mỗi chúng ta đều nhận thấy rằng muốn làm tốt một việc gì dù nhỏ, đơn giản cũng cần có sự nổ lực, phấn đấu của bản thân Việc học tập cũng vậy, HS sẽ trở thành cái máy ghi âm lời thầy cô và cũng chóng quên nếu không biến những tri thức ấy thực sự

là của mình

Bản chất của quá trình tự học là không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV nên tất yếu đòi hỏi sự nỗ lực, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS Sự kiềm chế đối với những ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp lẽ trong tư tưởng là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học Nếu thiếu sự kiên trì, những yêu cầu cao,

sự nghiêm túc thì bản thân người học không bao giờ thực hiện được kế hoạch học tập

do chính mình đặt ra [22]

1.2.1.8 Các hình thức tự học

* Tự học hoàn toàn (không có GV): Người học tự mài mò, tự học qua tài liệu,

thực tiễn, tự rút kinh nghiệm một cách độc lập không có sự hướng dẫn của GV Hình thức học tập này đòi hỏi người học phải có sự say mê khám phá tri thức mới, phải có

Trang 27

một vốn kiến thức nhất định Trong tự học hoàn toàn người học gặp phải khó khăn do

có nhiều kiến thức mới, dễ chán nản hoặc không có kế hoạch học phù hợp…

* Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Người học tự tìm hiểu thông tin qua sách, báo,

giáo trình, từ đó hình thành tư duy và KN Đây là cách học mà chúng ta cần chú ý vì cách học này giúp ta xây dựng cách học tập suốt đời Cách học này cũng gặp phải nhược điểm là trong lúc tự nghiên cứu gặp khó khăn, vướng mắc bản thân không tự giải quyết được

* Tự học có GV ở xa hướng dẫn qua PT truyền thông: Đây là cách học mà người

học có sự trao đổi, hướng dẫn của GV từ xa trong việc giải quyết tình huống, làm bài, kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, người học cũng gặp khó khăn là không tiếp xúc trực tiếp được với GV để trao đổi những thông tin, kiến thức vướng mắc

* Tự học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV (hay còn gọi là tự học có hướng dẫn): Người học học theo tài liệu hướng dẫn GV đưa trước và có sự hỗ trợ trực tiếp

hoặc gián tiếp của GV Hình thức tự học có hướng dẫn GV có thể tổ chức dạy học ở hai hình thức:

- Tự học ở nhà: GV định hướng một cách gián tiếp về PP tự học và nội dung

kiến thức nghiên cứu HS chủ động sắp xếp kế hoạch, phát huy tính chủ động, tích cực

để hoàn thành những yêu cầu mà GV yêu cầu

- Tự học trên lớp: GV hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho nghiên cứu HS tự

chiếm lĩnh tri thức mới HS là chủ thể của quá trình nhận thức, tự giác, tích cực sáng tạo tham gia vào quá trình học tập [13]

Trang 28

Hình 1.2 Sơ đồ các hình thức tự học [1]

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng về việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học

1.2.1.1 Phương pháp xác định thực trạng

Để xác định thực trạng rèn luyện kỹ năng tự học cho HS trong dạy học sinh học nói chung và trong dạy học phần sinh học tế bào nói riêng chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

+ Sử dụng phiếu điều tra: Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với

32 GV sinh học đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT của tỉnh Nghệ An năm học

2014 - 2015

Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với đối tượng là HS khối 10 của

2 trường ở tỉnh Nghệ An năm học 2014 - 2015 là Trường THPT Nghi Lộc 2, THPT Nghi Lộc 5

Chúng tôi đã thiết kế và sử dụng 2 phiếu điều tra (Phụ lục 1):

Phiếu số 1: Điều tra về phương pháp hướng dẫn HS tự học và tình hình thiết kế các hoạt động khám phá trong dạy học sinh học của GV THPT (Phiếu dành cho GV)

Tự học bài mới

Tự học khi kết thúc tiết học

Tự học khi kết thúc chương

Tự học khi kết thúc phần

Hình thành

kiến thức mới

Tự học khi kết thúc môn học

Củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến

thức

Các hình thức tự học

Trang 29

Phiếu số 2: Điều tra về phương pháp tự học SGK môn sinh học của HS THPT (Phiếu dành cho HS)

+ Dự giờ dạy: Chúng tôi đã dự giờ của các GV dạy sinh học ở 2 trường thực

nghiệm nói trên

Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trao đổi, tham khảo bài soạn với GV bộ môn ở

cả 2 trường thực nghiệm Kết quả điều tra được tóm tắt như sau:

1.2.1.2 Việc hướng dẫn HS tự học của GV:

Qua điều tra việc sử dụng các phương pháp hướng dẫn HS tự học và tình hình thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá trong dạy học sinh học với 32 GV sinh học đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT của tỉnh Nghệ An năm học 2014 - 2015, kết quả thu được như sau:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về việc hướng dẫn HS tự học và tình hình thiết kế

và sử dụng các hoạt động khá phá trong dạy học sinh học của GV THPT

Số

xuyên

Không thường xuyên

Không sử dụng

1

Trong quá trình soạn

giáo án, giảng dạy thầy

cô đã thiết kế các hoạt

26 81.25 5 18.25 1 3.13

+ Bảng, sơ đồ 20 62.5 12 37.5 0 0 + Tình huống 16 50.0 14 43.75 2 6.25 + Bài tập thực

nghiệm

10 31.25 20 62.5 2 6.25

3

Trong khâu nghiên cứu

tài liệu mới, các thầy cô

sử dụng các hoạt động

khám phá nhằm đạt các

+ Định hướng HS

tự học ở nhà qua nghiên cứu SGK

15 46.88 17 53.12 0 0

+ Để tổ chức HS 19 59.38 11 34.38 2 6.25

Trang 30

mục đích sau ở mức độ

nào?

thảo luận nhóm trên lớp

+ Định hướng, hướng dẫn HS tự nêu và giải quyết các vấn đề trong quá trình phát hiện, lĩnh hội kiến thức mới

14 43.75 15 46.88 3 9.38

5

Những loại kiến thức sau

đây khi thầy cô sử dụng

hoạt động khám phá gây

khó khăn cho việc tự học

cuả HS ở mức độ nào?

+ Khái niệm 22 68.75 6 18.75 4 12.5 + Cơ chế của quá

trình

22 68.75 10 31.25 0 0

+ Giải thích hiện tượng

HS

26 81.25 6 18.75 0 0

+ Gợi ý bằng tranh, hình, mô hình, mẫu vật, đoạn video và tiếp tục cho HS suy nghĩ trả lơì

18 56.25 13 40.63 1 3.13

+ Giải thích qua và

để HS tiếp tục suy nghĩ

16 50.0 14 43.75 2 6.25

+ Dừng lại và trả lời toàn bộ đáp án 4 12.5 26 81.25 2 6.25

thảo luận nhóm 6 18.75 20 62.5 6 18.75

Trang 31

mục đích sau ở mức độ

nào?

+ Để HS vận dụng kiến thức đã học vào việc trả lời câu hỏi, giải bài tâp

18 56.25 13 40.63 1 3.13

+ Để HS giải quyết một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn

13 40.62 17 53.13 2 6.25

8

Trong quá trình giảng

dạy theo phương pháp

này thầy cô thường rơi

vào tình trạng thiếu thời

gian ở mức độ nào?

25 78.13 6 18.75 1 3.13

Qua kết quả bảng 1.1 cho thấy:

+ Hầu hết GV khi soạn bài cũng đã thường xuyên chú ý đến mục tiêu rèn kỹ năng

tự học cho HS Điều này chứng tỏ đa số các GV đã nhận thức được việc phải đổi mới phương pháp và đang có những chuyển biến mới trong cách dạy, hướng tới việc rèn luyện cho HS phương pháp học, đặc biệt là tự học

+ Tuy nhiên khả năng thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá của GV vẫn chưa hiệu quả, còn mang tính hình thức, không chú ý tới rèn luyện, kĩ năng tư duy logic, bồi dưỡng KNTH cho HS Vì vậy chưa phát huy được khả năng tư duy sáng tạo, chưa kích thích hứng thú, chủ động tìm tòi, chưa phát huy năng lực tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo của HS

+ Các hoạt động khám phá để hướng dẫn học sinh tự học khi giảng dạy trên lớp, được GV sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học Tuy nhiên chủ yếu là định hướng HS tự đọc và thu nhận thông tin từ SGK, còn việc tổ chức HS thảo luận nhóm,

để HS tự lực nghiên cứu đơn vị kiến thức trên lớp, kỹ năng diễn đạt và vận dụng kiến thức còn chưa thường xuyên, thậm chí còn có một số GV không sử dụng các hoạt động khám phá theo các mục đích nói trên

+ Trong giảng dạy thì các kiến thức về khái niệm thường không khó đối với HS,

do các khái niệm thường được in sẵn trong SGK vì thế GV lại sử dụng các hoạt động

Trang 32

khám phá nhiều, trong khi đó kiến thức cơ chế của quá trình, giải thích hiện tượng, vận dụng GV ít sử dụng vì HS thường khó trả lời điều này đã tạo sự nhằm chán và không kích thích tính tích cực chủ động sáng tạo của HS Do đó, các GV thường hướng dẫn

HS tự học loại kiến thức về khái niệm nhiều hơn là các kiến thức về cơ chế, hiện tượng, quá trình…

+ Việc hướng dẫn HS hoàn thành các hoạt động khám phá khi học sinh gặp khó khăn thì nhiều GV cũng đã đưa ra các CH phụ để gợi ý ra từng vấn đề nhỏ giúp các em

dễ dàng trong việc tìm ra đáp án Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tình trạng các GV giải thích một phần, thậm chí giải thích toàn bộ luôn đáp án CH, không để HS tiếp tục động não, điều này sẽ hạn chế khả năng tự lĩnh hội kiến thức ở các em

Qua thực nghiệm chúng tôi nhân thấy ảnh hưởng của lối dạy truyền thống lên các

GV vẫn còn nhiều, các GV còn gặp khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá đặc biệt là dạng hoạt động bài tập tình huống, bài tập thực nghiệm nhằm để phát triển tư duy, bồi dưỡng KNTH cho HS Nhiều GV còn lúng túng khi sử dụng các hoạt động khám phá vào các khâu của quá trình DH nên các phương pháp tích cực được dùng còn hạn chế hoặc mang tính hình thức, ít hiệu quả, tốn nhiều thời gian Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là các GV cần nắm vững cơ sở lí luận, các nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá để rèn luyện KNTH cho HS

1.2.2 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng tự học ở học sinh

Qua điều tra tại 2 trường THPT thu được kết quả thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPT STT

Các nội dung điều tra

Thường xuyên Không

thường xuyên

Chưa bao giờ

190 59.38 122 38.13 8 2.4

+ Tham khảo, trao đổi với bạn bè

126 39.38 157 49,06 37 11.56

Trang 33

và phần giải đáp của thầy cô

203 63.44 112 35.00 5 1.56

Qua kết quả bảng 2 cho thấy:

+ Khi dạy trên lớp các thầy cô ra các hoạt động khám phá để tìm hiểu kiến thức mới thì phần lớn các em vẫn còn thụ động chờ câu trả lời của các bạn tích cực hơn hoặc là chờ câu trả lời của GV Nhưng cũng có đa số HS tập trung suy nghĩ để tự mình trả lời, đa số các em chưa tích cực trao đổi thảo luận trong các hoạt động nhóm Như vậy, các hoạt động khám phá mà GV sử dụng chưa thực sự gây hứng thú học tập, chưa phát huy tính tích cực chủ động và khả năng tìm tòi sáng tạo của HS

+ Trong giờ học khi GV đưa ra các hoạt động khám phá nhiều HS vẫn chưa rõ hoặc không hiểu yêu cầu của hoạt động đặc biệt là khả năng diễn đạt theo ý hiểu của

Trang 34

mình còn nhiều hạn chế Điều này cho thấy, một mặt do các em chưa có ý thức tìm hiểu kiến thức nhưng mặt khác cũng do chất lượng các hoạt động mà GV đưa ra chưa cao, do kỹ năng thiết kế các hoạt động khám phá của GV chưa cao hoặc do phương pháp rèn KNTH cho HS cũng chưa đạt yêu cầu Do đó, năng lực diễn đạt của các em còn ở mức rất thấp, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức đã học luôn đạt ở mức thấp, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục

Qua đó chúng ta thấy HS hiện nay ít đầu tư thời gian cho việc học, mang tính đối phó, nhiều em chưa biết cách học, chỉ quen học thuộc lòng, thụ động, chưa tích cực sáng tạo trong việc tìm kiến thức mới Với các em có ý thức tự giác, yêu thích môn học thì lại không có phương pháp học đúng cách nên chưa khai thác triệt để nội dung SGK một cách chủ động, sáng tạo, kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh đặc biệt kĩ năng trình bày, thể hiện trước tập thể vẫn còn nhiều hạn chế Do đó việc hướng dẫn HS tự học hiện nay là một việc hết sức quan trọng để các em tự tin, chủ động và sáng tạo trong khám phá tri thức

1.3 Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học bộ môn Sinh học chúng tôi nhận thấy: Việc tổ chức rèn luyện KN tự học cho học sinh chưa đi vào thực chất; chỉ dừng ở bề nổi của hình thức, chưa đi vào chiều sâu của chất lượng, chưa thường xuyên

và liên tục, chưa đều tay giữa các GV Trong khi đó yêu cầu của việc rèn luyện bất cứ một KN nào cũng cần có thời gian và diễn ra thường xuyên, liên tục chứ không mang tính hình thức Đồng thời trong quá trình giảng dạy, GV chưa thường xuyên chú ý việc thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho HS Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chất lượng bộ môn cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về vấn đề “Vận dụng các hoạt động khá phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh” nhằm hình thành và phát triển năng lực theo định hướng phát triển năng lực

Trang 35

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ ĐỂ RÈN LUYỆN CHO

HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO

2.1 Đặc điểm nội dung phần sinh học tế bào

2.1.1 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học bậc Trung học phổ thông

Chương trình Sinh học bậc Trung học phổ thông có cấu trúc như sau :

Chuẩn Nâng cao

về những cơ chế, quá trình sinh học ở cấp độ tế bào Đó là tiền đề, là cơ sở để tiếp thu các kiến thức về sinh trưởng, phát triển, sinh sản, cảm ứng ở sinh học lớp 11; di truyền

và tiến hóa ở lớp 12 Có thể coi Sinh học tế bào lớp 10 Trung học phổ thông là nền tảng kiến thức, đặt nền móng vững chắc cho việc lĩnh hội toàn bộ chương trình sinh học bậc Trung học phổ thông

Trang 36

2.1.2 Cấu trúc và nội dung phần Sinh học tế bào lớp 10 bậc Trung học phổ thông

Phần Sinh học tế bào lớp 10 Trung học phổ thông gồm 4 chương có nội dung cụ thể như sau:

học của tế bào Bài 3 - 6 Bài 7 - 12

Giới thiệu các thành phần hóa học cấu tạo nên tế bào gồm các chất vô cơ, hữu

2 Cấu trúc của tế

Nghiên cứu hình thái, cấu trúc của từng loại tế bào vi khuẩn, động vật, thực vật Tìm hiểu về các loại bào quan và vai trò của chúng trong tế bào, đồng thời nghiên cứu một số phương thức vận chuyển các chất qua màng tế bào

4 Phân bào Bài 18 - 20 Bài 28 - 31

Nghiên cứu về các hình thức phân bào trực phân, nguyên phân, giảm phân là cơ

sở cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của cơ thể được học ở sinh học lớp

11

2.1.3 Đánh giá về cấu trúc, nội dung phần Sinh học tế bào bậc Trung học phổ thông

- Bố cục phần Sinh học tế bào lớp 10 Trung học phổ thông so với các phần khác trong toàn cấp học cũng như bố cục các phần, chương, các bài về mặt tổng thể là tương đối hợp lí, tuân theo lô gic phát triển năng lực nhận thức của HS, đảm bảo nguyên tắc hệ thống đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cái bộ phận đến cái chung, khái quát Điều này phù hợp với đặc điểm của sinh học hiện đại là dựa trên lý thuyết về các

Trang 37

cấp độ tổ chức của sự sống, xem giới hữu cơ như những hệ thống có cấu trúc, gồm những thành phần tương tác với nhau và với môi trường, tạo nên khả năng tự than vận động, phát triển của hệ thống Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn, giữa các hệ có những mối tương tác phức tạp, tạo nên những đặc trưng của mỗi cấp tổ chức

- Nội dung phần Sinh học tế bào lớp 10 có tính khoa học và cập nhật cao

Phần Sinh học tế bào có sự sắp xếp các kiến thức về thành phần hóa học của tế bào, cấu tạo của các bào quan của tế bào theo hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ cấu trúc đến chức năng Cách sắp xếp này đảm bảo trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản trước khi các em nắm bắt, khám phá, lĩnh hội những kiến thức khó, phức tạp Tuy nhiên, một số bài còn đi sâu vào nghiên cứu các cơ chế phức tạp như quang hợp, hô hấp, hóa tổng hợp Đó là những cơ chế khó đòi hỏi học sinh không chỉ nắm kiến thức sinh học mà phải nắm vững kiến thức hóa học, vật lí nhưng những kiến thức này chưa được học ở lớp 10 Sự chênh lệch về kiến thức liên môn này gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong dạy học

- Cấu trúc từng bài gồm cả kênh hình và kênh chữ, phần củng cố cũng như hệ thống hoạt động (các lệnh) đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên, hệ thống các hoạt động trong sách giáo khoa phần Sinh học tế bào lớp 10 chủ yếu là các hoạt động minh họa, chứng minh kiến thức, số lượng các hoạt động chưa nhiều, các hoạt động để tổ chức học sinh tìm tòi, khám phá còn ít, một số kiến thức về cơ chế, quá trình hình ảnh tĩnh trong sách giáo khoa không thể hiện được Điều

đó gây khó khăn cho giáo viên trong việc tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo các phương pháp sư phạm khác nhau

Những đặc điểm cấu trúc, nội dung phần Sinh học tế bào lớp 10 Trung học phổ thông

đã định hướng cho tôi thiết kế, bổ sung thêm các hoạt động khám phá để tổ chức học sinh học tập, giúp các em nhận thức, lĩnh hội kiến thức tốt hơn, rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng tự học, tạo cho các em lòng say mê và hứng thú trong học tập

Trang 38

2.2 Hệ thống các hoạt động khám phá để rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh phần sinh học tế bào bậc trung học phổ thông

Dựa vào những phân tích về cấu trúc, mục tiêu và nội dung của phần sinh học tế bào chúng tôi thấy: để hình thành được những khái niệm theo logic phát triển các khái niệm thì cần rèn luyện cho HS kĩ năng khái quát hóa, sơ đồ hóa và hệ thống hoá Đối với các kiến thức về mối liên hệ giữa cấu trúc và chức năng, kiến thức về cơ chế của một số hiện tượng, quá trình thì cần rèn luyện cho HS kĩ năng lập dàn ý, lập bảng, vẽ

đồ thị, vẽ hình và kĩ năng trình bày trước tập thể

Hơn nữa, cách biên soạn của SGK mới hiện nay theo hướng giúp HS tự học, tự

tìm tòi khám phá với sự trợ giúp của GV, cụ thể:

+ Hệ thống các chương, các bài, các phần trong bài tương đối hợp lí, bảo đảm nguyên tắc hệ thống, đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cái riêng đến cái chung, khái quát giúp HS có một cái nhìn tổng thể, HS sẽ dễ dàng hình thành được năng lực hệ thống hoá kiến thức

+ Các tranh, ảnh, hình vẽ được in màu, dễ quan sát, có tính thẩm mĩ cao làm tăng tính hấp dẫn của môn học góp phần giúp HS học tốt hơn

+ Phần chủ yếu của các bài học là các hoạt động đề ra cho HS, nêu nhiệm vụ nhận thức hoặc hành động nhưng chưa có lời giải Do đó, có điều kiện để sử dụng các hoạt động khám phá để tổ chức cho HS hoạt động để các em tìm tòi, phát hiện, khám phá những điều phải học, nhằm lĩnh hội kiến thức bài học

Vì thế, phần sinh học tế bào là một trong những nội dung của chương trình môn

sinh học THPT có khả năng sử dụng các hoạt động khám phá để rèn luyện KNTH cho

HS ở mức độ là diễn đạt được những điều đã thu nhận, xử lí và vận dụng những thông tin đã thu nhận

2.2.1 Hoạt động dạng trả lời câu hỏi

Với những kiến thức đòi hỏi phải vận dụng kiến thức trước đó để giải thích cấu trúc phù hợp với chức năng, nguyên nhân, cơ chế, suy ra mối quan hệ, phân tích tìm ra dấu hiệu bản chất hoặc phải khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức thì GV cần hướng dẫn HS tự nghiên cứu SGK trong giờ học ở trên lớp cũng như ở nhà thông qua các hoạt động khám phá dạng trả lời câu hỏi Từ các dạng CH như: Vì sao …? Quá trình

đó được diễn ra theo cơ chế nào? Bản chất của hiện tượng (sự kiện… ) là gì? Cấu trúc

Trang 39

đó phù hợp với chức năng như thế nào? Thông qua các hoạt động GV sẽ định hướng

cho các em HS rèn luyện các kỹ năng thu nhận thông tin, KN xử lý thông tin, KN diễn

đạt thông tin, KN vận dụng thông tin Vấn đề cốt lõi ở đây là việc lựa chọn phần nội dung kiến thức, là mục lớn hay mục nhỏ trong một bài, là một chương thông qua một hoạt động lớn nhằm tăng cường sự hoạt động của HS

2.2.1.1 Hoạt động dạng trả lời câu hỏi rèn luyện kỹ năng thu nhận và xử lý thông tin

Để thu nhận thông tin GV thiết kế các hoạt động khám phá, tổ chức cho HS hoạt động tìm ra câu trả lời từ đó lượng thông tin cần thu nhận là từ câu trả lời của HS

Hoạt động 1 Khi dạy bài 9 – Tế bào nhân thực, phần V GV tổ chức cho HS lĩnh hội kiến thức thông qua hoạt động sau:

1 Mục tiêu:

- Nêu được cấu trúc của ty thể, hiểu được chức năng của ty thể

- Giải thích sự phù hợp giữa cấu trúc và chức năng của ty thể

- Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích hình vẽ phát hiện kiến thức

2 Phương tiện hoạt động:

Hình 2.1 Cấu trúc của ty thể

3 Hoạt động:

- Nghiên cứu hình 2.1 về cấu trúc của ty thể và đọc thông tin SGK mục 5 trang

40, em Hãy:

- Phân tích cấu trúc của ty thể phù hợp với chức năng như thế nào? Qua đó cho

biết chức năng của ty thể

Trang 40

- Từ chức năng của ty thể, em hãy cho biết các tế bào sau: Tế bào thần kinh, Tế bào bạch cầu, Tế bào cơ tim, Tế bào gan, Tế bào lông ruột, Tế bào tế bào biểu mô Loại tế bào nào có nhiều ty thể nhất? Giải thích

Hoạt động 2 Khi dạy bài Axit nuclêic, GV tổ chức dạy học thông qua hoạt động

khám phá sau:

1 Mục tiêu: - Khám phá cấu trúc hoá học, chức năng của ADN

- Phân tích cấu trúc ADN phù hợp với chức năng của nó

- Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích hình vẽ phát hiện kiến thức

2 Phương tiện dạy học

Hình 2.2 Mô hình cấu trúc của phân tử ADN

Hình 2.3 Cấu trúc của đơn phân - Nuclêôtit

Ngày đăng: 27/08/2021, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w