Một số đề án, luận văn, đề tài nghiên cứu các cấp liên quan tới công tác cán bộ nữ: Đề án “Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức Hội cơ sở” của Hội LHPN Việt Nam năm 2013; Luận văn “Vận
Trang 1LÊ THỊ NGỌC BÉ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ CÁC CẤP Ở TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM THỊ BÌNH
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Vinh, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía Nhà trường, Thầy cô và đồng nghiệp
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
TS Phạm Thị Bình, người đã định hướng đề tài và trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn
Cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào - Trường Đại học Vinh, Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Nghệ An, cùng gia đình
và bạn bè, đồng nghiệp đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện song luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy cô giáo, các anh chị và các bạn
Nghệ An, tháng 7 năm 2016
Lê Thị Ngọc Bé
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
A MỞ ĐẦU 5
B NỘI DUNG 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGĐỘI NGŨ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP 14
1.1 Hội liên hiệp phụ nữ và đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp 14
1.2 Yêu cầu và tiêu chí nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp hiện nay 24
1.3 Những nội dung cơ bản của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp 31
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP Ở NGHỆ AN HIỆN NAY 36
2.1 Những nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp ở Nghệ An 36
2.2 Cơ cấu và chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp ở Nghệ An hiện nay 46
2.3 Thực trạng công tác cán bộ và việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ các cấp ở Nghệ An hiện nay 59
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP Ở TỈNH NGHỆ AN 74
3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp ở tỉnh Nghệ An 74
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp ở tỉnh Nghệ An 79
C KẾT LUẬN 96
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử loài người từ trước đến nay đã ghi nhận phụ nữ bao giờ cũng
có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội Đối với xã hội, phụ nữ chiếm hơn một nửa lực lượng lao động sản xuất ra của cải, vật chất Phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền văn hoá nhân loại Đối với gia đình, phụ nữ vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con cái, là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Ngày nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy bình đẳng giới, đối ngoại nhân dân
Trong giai đoạn hiện nay, việc khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam càng được Hội liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam xác định là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của đất nước, tạo bình đẳng thực sự để chị em có cơ hội thể hiện, cống hiến năng lực của mình, đồng thời giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt của Hội trong công tác phụ nữ và công tác cán bộ nữ Trước yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, tình hình phụ nữ và công tác phụ
nữ có những thuận lợi đó là công nghệ khoa học hiện đại sức lao động của phụ nữ được giải phóng; nhận thức, trình độ phụ nữ ngày càng được nâng cao; cán bộ nữ ngày càng được tham gia vào các vị trí, chức danh quan trọng trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước; vị trí, vai trò của phụ nữ Việt
Trang 7Nam ngày càng được khẳng định, bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn
đó là phụ nữ thiếu việc làm, rời quê hương đi làm ăn xa; tình trạng phụ nữ bị lừa, bị buôn bán qua biên giới; tỷ lệ phụ nữ nghèo còn cao, vẫn còn phụ nữ
mù chữ ở vùng sâu, vùng xa; phụ nữ gặp khó khăn thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy tiên trong điều kiện xã hội, gia đình Việt Nam
có nhiều thay đổi; tỷ lệ ly hôn ngày càng gia tăng; Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực dụng có
xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ nữ Chất lượng phong trào phụ
nữ không đồng đều giữa các vùng miền; phương thức hoạt động của Hội phụ nữ chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phụ nữ trong tình hình mới và nhu cầu ngày càng đa dạng của các tầng lớp phụ nữ Trình độ chuyên môn, kỹ năng của một bộ phận cán bộ nữ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tất cả những vướng mắc, bất cập và những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức Hội phụ nữ trong tình hình mới, muốn giải quyết được, suy cho cùng đều phải bắt đầu từ công tác các bộ và trở về với công tác cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [49, tr.269], là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của tổ chức Hội Bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả cũng là do cán
bộ xây dựng nên, công việc chồng chéo, chậm triển khai, kém hiệu quả cũng bởi do cán bộ tham mưu Công tác vận động, tập hợp sẽ không thể “đúng, trúng và khéo” nếu không có những con người “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” [49, tr.699] Chính vì thế, để giải quyết mọi vấn
đề đang tồn tại phải xuất phát từ công tác cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [49, tr.273] Thực tế mọi chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước đều do cán bộ nghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay
Trang 8không đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, Hội LHPN các cấp luôn quan tâm đến công tác quy hoạch
và xây dựng đội ngũ cán bộ Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI nêu: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, đặc biệt
là cấp Trung ương và cơ sở là một trong ba khâu đột phá” [32, tr3.] Theo
đó, chương trình hành động xây dựng các mục tiêu, giải pháp cũng nhấn mạnh đến đối tượng là cán bộ Hội phụ nữ các cấp Chính vì vậy, trong những năm qua đội ngũ cán bộ Hội LHPN các cấp đã có sự chuyển biến về
số lượng, chất lượng; luôn đoàn kết, không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ năng lực; nhiệt tình, trách nhiệm, sâu sát cơ
sở, vượt qua khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của phong phong trào thi đua và các hoạt động của Hội
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận cán bộ Hội chưa nhận thức đầy đủ vai trò nòng cốt, cũng như yêu cầu trong công tác vận động phụ
nữ của tổ chức Hội trong tình hình mới; chưa thực sự nhạy bén, sáng tạo trước những vấn đề mới, còn lúng túng khi giải quyết vấn đề khó khăn, phức tạp; thiếu năng lực hoạt động thực tiễn, tinh thần tự học hỏi, rèn luyện còn hạn chế chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Để góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên và nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ hội các cấp hội LHPN Nghệ An hiện nay đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới,
tôi chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ
nữ các cấp ở tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sỹ, chuyên ngành Chính trị học
Trang 9Cán bộ và công tác cán bộ đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên đã có nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước, nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này
Các nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước về công tác cán bộ tiêu biểu như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công
tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nghị
quyết số 12-NQ/TW, ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay;
Kết luận số 37-KL/TW, ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành Trung ương
(Khóa X) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm
2020; Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc
hội Khóa XII; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính
phủ về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức; Quy định số 286-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành quy chế đánh giá cán bộ,
công chức
Ngoài những văn bản nêu trên Đảng và Nhà nước cũng có những văn bản riêng nhấn mạnh về công tác cán bộ nữ nói chung và cán bộ Hội phụ nữ
nói riêng, như: Nghị quyết 153-NQ/TW ngày 10/1/1967 của Ban bí thư về
công tác cán bộ nữ; Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 24/12/1993 của Ban Bí thư
về thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị về việc tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết số 04-NQ ngày 12/07/1993
của Bộ Chính trị Về đối mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong
tình hình mới Chỉ thị 37-CT/TW 1994 của Ban bí thư về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Đảng đã xác định các cấp Hội phụ nữ có trách nhiệm tổ
Trang 10chức quán triệt các quan điểm của Đảng về công tác vận động phụ nữ; Nghị
quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ chính trị Về công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Kết luận số
55-KL/TW ngày 18/1/2013 về tiếp tục đẩy mạnh Nghị quyết 11-NQ-TW của Bộ
chính trị Khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH; Nghị
quyết nêu lên thực trạng tình hình phụ nữ nói chung, cán bộ nữ nói riêng, những ưu điểm, hạn chế và đưa ra quan điểm, mục tiêu công tác cán bộ nữ;
Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ Quy định về
các biện pháp bảo đảm Bình đẳng giới Hội phụ nữ có trách nhiệm tham gia
đóng góp ý kiến vào chỉ tiêu nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân
Cán bộ và công tác cán bộ cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học, các
cơ quan, các tác giả nghiên cứu Trong số các đề tài, công trình nghiên cứu
đã công bố, các bài viết liên quan đến công tác cán bộ đã đăng có những đóng góp, kiến nghị hết sức sâu sắc, có giá trị thực tiễn cao như: Nguyễn
Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (Hà Nội,
2011) Cuốn sách đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước; Hoàng Chí Bảo (chủ biên), Hệ thống chính trị nông
thôn nước ta hiện nay Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (Hà Nội, 2011) Tác
giả đã nghiên cứu vấn đề từ quan điểm lý luận đến thực tiễn, đồng thời cũng đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới và nâng
Trang 11cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta; Cao Khoa Bảng
(chủ biên) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính
trị cấp tỉnh, thành phố Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật (Hà Nội - 2013) Cuốn sách đã trình bày những kinh nghiệm trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ quản lý, thực trạng, kinh
nghiệm và những yêu cầu đặt ra; PGS.TS Trần Đình Hoan (chủ biên) Đánh
giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhà xuất bản chính trị quốc gia (Hà Nội - 2009) Tác giả đã đưa ra các đánh giá và giải pháp trong quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Một số đề án, luận văn, đề tài nghiên cứu các cấp liên quan tới công tác cán bộ nữ:
Đề án “Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức Hội cơ sở” của Hội LHPN Việt Nam năm 2013; Luận văn “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
giải phóng phụ nữ và hoạt động thực tiễn của Hội LHPN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, của Đào Tố Uyên, 2003; Luận văn “Trung ương Hội LHPN Việt Nam xây dựng đội ngũ cán bộ hội thời kỳ đổi mới”, của Hoàng
Thị Hương Nhung, năm 2009
Những công trình trên tập trung nghiên cứu về quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác vận động phụ nữ, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận; nêu lên các yếu tố tác động đến phụ nữ trong thực hiện các vai trò của mình Đồng thời đánh giá hoạt động của cán bộ Hội phụ nữ các cấp, trên cơ sở đó nhằm đưa ra những giải pháp thiết thực góp phần phát huy vai trò, vị trí của tổ chức Hội phụ nữ
Các bài viết viết về cán bộ nữ:
- “Công tác cán bộ nữ - phải làm bằng cả tấm lòng và trách nhiệm” (Lê Hoa - Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng); Phát huy năng lực, trí tuệ đội
ngũ cán bộ nữ (Nguyễn Ngọc Lâm - Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương -
Trang 12Tạp chí Đảng Cộng sản); Hội LHPN Việt Nam với chính sách cán bộ nữ (Ths Đỗ Thị Hạnh - Tạp chí Cộng sản, số 8/2013); Củng cố tổ chức, cán bộ
Ban Dân vận, Mặt trận, đoàn thể nhân dân các cấp (Nguyễn Duy Việt - Tạp
chí Cộng sản, số 5/2014); Đổi mới quy trình bổ nhiệm cán bộ (Ngô Đặng Tuấn - Tạp chí Cộng sản, số 9/2014); “Xây dựng và phát triển tổ chức Hội
vững mạnh ở một số cấp Hội - đôi điều còn trăn trở”, Thông tin Phụ nữ, số
8.3/2009 của Mai Hoa; “Phụ nữ Nghệ An những chặng đường xây dựng và
phát triển”, Thông tin Phụ nữ Nghệ An (2010) của Lê Thị Tám, Chủ tịch
Hội LHPN Nghệ An; “Nhìn lại 10 năm hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở
Nghệ An” của Bùi Nguyên Lân, Giám đốc Sở Lao động Thương binh & Xã
hội, Thông tin Phụ nữ Nghệ An số 20.10/2011; “Thực hiện tốt khâu đột phá,
góp phần nâng cao chất lượng toàn diện trong hoạt động Hội”, Thông tin
Phụ nữ Nghệ An (2014) của Lê Thị Tám, Chủ tịch Hội LHPN Nghệ An Các bài báo đã đánh giá thực trạng về công tác cán bộ nữ, những quy định trong quá trình bổ nhiệm đề bạt cán bộ nữ Các bài báo cũng đã phản ánh được vai trò của đội ngũ cán bộ hội phụ nữ Nghệ An, các kết quả đạt được dưới các góc độ khác nhau và đưa ra một số giải pháp cho các hoạt động và công tác cán bộ trong thời gian tới
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã làm sáng tỏ quan điểm của Đảng, Nhà nước và một số nội dung cụ thể liên quan đến công tác cán bộ nữ, vai trò của tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam nói chung và Hội liên hiệp phụ nữ Nghệ An nói riêng Song hiện nay chưa
có công trình nào nghiên cứu cụ thể về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội LHPN các cấp ở Nghệ An Do vậy, đề tài chúng tôi nghiên cứu không trùng lặp với các công trình đã công bố
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp ở Nghệ An, luận văn đề xuất các quan điểm và giải
Trang 13pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ Hội phụ nữ của địa phương đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp hiện nay
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ các cấp ở Nghệ An; đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng này
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp của tỉnh Nghệ An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ ở Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu: Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp Tỉnh,
huyện, xã ở Nghệ An giai đoạn 2011 - 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp khảo sát, phương pháp điều tra xã hội học
6 Đóng góp khoa học của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và yêu cầu của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ các bộ nữ trong các cấp Hội ở tỉnh Nghệ An, đề tài đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp tỉnh, huyện, xã của địa phương
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ các cấp và
Trang 14còn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc tập huấn các chuyên đề về công tác cán bộ Hội phụ nữ các cấp ở Nghệ An
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Hội liên hiệp phụ nữ các cấp
Chương 2: Thực trạng và chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ
nữ các cấp ở Nghệ An
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp ở tỉnh Nghệ An
Trang 15
B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP
1.1 Hội liên hiệp phụ nữ và đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ
các cấp
1.1.1 Hội liên hiệp phụ nữ
Theo Điều lệ Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam “Hội LHPN Việt Nam là
tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới
Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) Từ những tổ chức tiền thân cho đến ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [30, tr 1]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam
đã trưởng thành và phát triển Hội đã trở thành tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh với hệ thống gồm bốn cấp, từ Trung ương đến cơ sở, với sự tham gia của đông đảo hội viên và đội ngũ cán bộ Hội nhiệt tình, năng động, sáng tạo, đã lãnh đạo phong trào phụ nữ từng bước phát triển và lớn mạnh
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một đoàn thể chính trị - xã hội có lịch sử 85 năm, với hơn 15 triệu hội viên, rộng khắp từ Trung ương đến cơ
Trang 16sở Cùng với sự phát triển của đất nước, trình độ, năng lực, vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng lên Trong 85 năm xây dựng và trưởng thành, Hội LHPN Việt Nam đã tổ chức thành công 11 kỳ Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc Trải qua từng thời kỳ cách mạng, Hội có nhiều tên gọi khác nhau như: Phụ nữ Liên Hiệp Hội (1930), Phụ nữ Giải Phóng (1930- 1931), Phụ nữ Dân chủ (1936-1939), Phụ nữ phản đế (1939-1941), Đoàn Phụ nữ cứu quốc (6.1941) Từ các tổ chức tiền thân, trước yêu cầu mới của cách mạng và phong trào phụ nữ cả nước, ngày 20/10/1946, Hội chính thức mang tên Hội LHPN Việt Nam cho đến nay Dù tên gọi có nhiều thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, nhưng trước sau vẫn là tổ chức kiên trung của Hội LHPN Việt Nam
Về hệ thống tổ chức Hội gồm 4 cấp: Trung ương, Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi chung là cấp cơ sở) Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên của cấp đó Đại hội đại biểu phụ nữ các cấp tổ chức 5 năm một lần Cơ quan chuyên trách Hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ban chấp hành, Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ cùng cấp
1.1.2 Đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp
1.1.2.1 Quy định về cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng trong phạm vi rất rộng, không hạn chế và không theo một quy tắc, quy định nào, như: cán bộ xã, cán bộ thôn, cán bộ y tế, cán bộ lớp học, cán bộ coi thi Theo Tô Tử Hạ, tác giả cuốn
sách Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay,
(1998) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội “cán bộ” là thuật ngữ được
du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, để chỉ những người nòng cốt, người
Trang 17chỉ huy được sử dụng để phân biệt với nhân dân Với cách hiểu này, người đọc sẽ hiểu đó là những người có chức vụ, có một vị trí “lãnh đạo” thì cũng
có những quyền hạn nhất định mà nhân dân là những người không có quyền hạn đó
Còn theo giải thích trong Từ điển tiếng Việt, “cán bộ là người làm
công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước” [57, tr.105] Theo cách giải thích này, người đọc có thể cho rằng cán bộ là “người của nhà nước” và làm những công việc cho Nhà nước Còn những người làm trong các tổ chức khác thì không được coi là cán bộ Nhưng theo Khoản 1 Điều 4
của Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [59, tr.105]
Theo quy định này, tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người
đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ được xác định là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước
và nhân dân Cán bộ Hội LHPN cũng nằm trong quy định ấy Cơ quan lãnh đạo Hội LHPN các cấp do bầu cử lập ra, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Trang 18Ngoài khái niệm chung về cán bộ, thì khái niệm cán bộ cấp xã được nhắc đến nhiều trong các văn bản của Nhà nước Chủ tịch Hội LHPN xã cũng được quy định tại Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 Cấp xã là cấp có mối quan hệ trực tiếp với nhân dân, là nơi đầu tiên giải quyết các yêu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời là nơi thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [48, tr.169]
Cán bộ Hội LHPN Nghệ An có 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Cán bộ Hội LHPN Tỉnh làm việc tại cơ quan Hội LHPN Tỉnh, chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế của Tỉnh ủy; sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Trung ương Hội LHPN Việt Nam Cán bộ huyện làm việc tại cơ quan Hội LHPN huyện chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế của Huyện ủy; sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Hội LHPN Tỉnh Cán bộ cấp cơ sở làm việc tại Hội LHPN cơ
sở chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế của Đảng ủy xã; sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Hội LHPN huyện Cán bộ Hội cấp cơ sở theo quy định hiện hành thì chỉ có Chủ tịch Hội LHPN cơ sở được công nhận là cán bộ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, còn Phó chủ tịch và Thường vụ đang hưởng trợ cấp từ ngân sách xã
1.1.2.1 Vai trò của cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp
Bàn về vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng,
C Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những người sử dụng lực lượng thực tiễn” [55, tr.184] Theo quan điểm của hai ông, cán bộ là những người tiêu biểu cho phong trào cách mạng; có tri thức và có trình độ nhận thức cao, biết kết hợp vận dụng lý luận cách mạng
Trang 19với thực tiễn để tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng, lãnh đạo quần chúng thực hiện cải cách có ý nghĩa cách mạng
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về Đảng của giai cấp công nhân, V.I Lênin đã đề ra những quan điểm quan trọng về cán bộ Theo V.I.Lênin, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ đảm bảo tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng Bởi vì, họ vừa là người xây dựng đường lối, vừa tiến hành lựa chọn phương pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra quá trình vận động cách mạng, hướng tới mục tiêu đề ra Với Lênin, việc lựa chọn con người là mấu chốt; rằng, trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào
Để có được đội ngũ cán bộ am hiểu nhiều lĩnh vực, V.I.Lênin coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, đề bạt cán bộ vào các cương vị công tác, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của họ, chú ý giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác cán
bộ, chống bệnh quan liêu, xa dân, kiêu ngạo, thoái hóa, biến chất Về vấn đề này, Hồ Chí Minh cũng đã từng nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo nhân dân” [49, tr.253]
Vai trò của cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một cách rõ ràng, cụ thể, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [49, tr.269] “Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [49, tr.273] Đánh giá rất cao vai trò của cán bộ, Người viết: “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn” [50, tr.46]
Trang 20Không những vai trò, tầm quan trọng của cán bộ nói chung được ghi nhận, khẳng định mà cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ nói riêng cũng được Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữ, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Người coi chăm lo xây dựng đội ngũ cán
bộ nữ là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến một nửa số dân, đến từng gia đình trong cộng đồng xã hội Người khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Chính vì vậy, Người luôn căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo” [49, tr.432]
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm tới các phong trào của phụ nữ Dù bận trăm công ngàn việc khác nhau, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc vẫn dành thì giờ tham dự, nói chuyện tại các hội nghị và đại hội của tổ chức phụ nữ, nếu không, ít nhất Người cũng gửi thư căn dặn với tấm lòng của một người Cha, người Bác thân yêu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ
nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Đó cũng là
sự khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức phải tạo
điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động Trong bài Phải thật sự
Trang 21tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người đã nhấn mạnh phụ nữ chiếm một nửa
tổng số nhân dân; Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ Hiến pháp và pháp luật của nước
ta đã quy định rõ điều đó
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đặc biệt đến Hội LHPN đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đồng bộ khẳng định vai trò to lớn của Hội phụ nữ trong hệ thống chính trị Nghị quyết số 17-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị cơ sở, trong đó nhấn mạnh: “Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân đóng vai trò nòng cốt xây dựng khối đoàn kết toàn dân và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở” [5, tr.3] Nghị quyết yêu cầu cán bộ Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân phải “Đổi mới nội dung và phương thức hoạt
động”, “sát hợp với nhu cầu và lợi ích của hội viên, đoàn viên; trên cơ sở
đó, tập hợp rộng rãi và nâng cao tính tự giác của hội viên, đoàn viên, xây
dựng tổ chức vững mạnh” [5, tr.3] Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính
trị xác định rất rõ nhiệm vụ xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “Hội cần mở rộng tính liên hiệp, tập hợp rộng rãi các đối tượng là phụ nữ trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện; đa dạng hóa các hình thức tập hợp để phát triển hội viên trong các
lĩnh vực” [9, tr.7] Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bổ sung, sửa đổi năm 2011 và các nghị
quyết sau đó của Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò của Hội LHPN Việt Nam và sự cần thiết phải xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đôi ngũ cán bộ hội
Vai trò của người cán bộ Hội thể hiện trong bốn mối quan hệ: một là với đường lối, chính sách, hai là với bộ máy (các cơ quan lãnh đạo, quản lý,
Trang 22Hội phụ nữ cấp trên), ba là với công việc, bốn là với quần chúng Chỉ khi nào hoàn thành sứ mạng do các quan hệ đó đòi hỏi thì thì người cán bộ Hội mới thực hiện đúng vai trò của mình
Đối với đội ngũ cán bộ Hội LHPN các cấp, vai trò của họ được thể hiện trên nhiều mặt như:
Thứ nhất: Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ Hội trong công tác cán bộ
nữ
Là một tổ chức chính trị xã hội, Hội LHPN Việt Nam có chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, phối hợp tham gia quản lý Nhà nước Chính
vì vậy, vai trò, vị trí và trách nhiệm của tổ chức Hội LHPN trong công tác cán
bộ nữ đã được xác định rõ trong pháp luật và các văn bản của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, thể hiện vị trí pháp lý của Hội
Khoản 3, Điều 30 Luật bình đẳng giới nêu rõ: “Hội LHPN Việt Nam
phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị” [58, tr.18]
Nghị quyết 153-NQ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác
cán bộ nữ xác định trách nhiệm của Đảng đoàn Hội LHPN Trung ương là “đề
xuất và tham gia ý kiến với các cơ quan có trách nhiệm và Ban tổ chức Trung ương những vấn đề cần chú trọng bổ sung trong các chính sách, chế độ đối với
cán bộ nữ” [1, tr.4] Chỉ thị 44-CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư về một số
vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ cũng nêu rõ trách nhiệm của Đảng
đoàn Hội LHPN các cấp là giúp cấp ủy Đảng tổ chức thực hiện Chỉ thị: “Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chính sách tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ” [3, tr.3]
Trang 23Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Hội LHPN các cấp, cán bộ, đảng viên nữ cần chủ động, tích cực tham mưu, giới thiệu, tạo nguồn cán bộ nữ và giới thiệu quần chúng là phụ nữ ưu tú cho Đảng” [7, tr.3]; “Hội có trách nhiệm tham gia đóng góp ý kiến vào chỉ tiêu nữ ứng cử
đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân” [17, tr.6]
Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011 - 2020 yêu cầu
Hội tham gia cùng Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, tỷ lệ nữ đã bổ nhiệm các chức danh trong các cơ quan nhà nước, rà soát, kiến nghị cơ quan
có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định
về tuổi bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng nữ cán bộ, công chức, viên chức
Địa vị pháp lý của Hội LHPN Việt Nam cũng được thể hiện qua Nghị định 56/2012/NĐ-CP ngày 16/7/2012 của Chính phủ quy định trách nhiệm của bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước (trước đây là Nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 7/3/2003 của Chính phủ) Theo đó, quan hệ giữa Hội LHPN Việt Nam với Nhà nước, các bộ, ngành, ủy ban nhân dân cùng cấp là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/1/2013 về tiếp tục đẩy mạnh Nghị quyết
11-NQ-TW của Bộ chính trị Khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhấn mạnh các chỉ tiêu đã đề ra
trong công tác cán bộ nữ và yêu cầu: “Hội LHPN các cấp cần chủ động hơn nữa trong việc tham mưu, giới thiệu, tạo nguồn cán bộ nữ và giới thiệu quần chúng cho Đảng” [6, tr.27]
Trang 24Các văn bản trên đã khẳng định địa vị pháp lý của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị cũng như góp phần tạo cơ chế để Hội LHPN thực hiện chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước Có thể thấy, trong công tác cán bộ nữ, các nhiệm vụ cơ bản của Hội LHPN Việt Nam bao gồm: Tham mưu đề xuất chính sách cho cán bộ nữ trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, chính sách nhằm đảm bảo tỷ
lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng, cơ quan dân cử và chính quyền các cấp; Tham gia giới thiếu cán bộ nữ cho Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trước kỳ đại hội Đảng và bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng và trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo
và cán bộ nữ tiềm năng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ; Tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân trong cộng đồng và đội ngũ lãnh đạo, quản lý; Phối hợp với các ban, ngành chức năng trong triển khai thực hiện, kiểm tra, sơ, tổng kết và đánh giá việc thực hiện công tác cán bộ nữ
Thứ hai: Vai trò của cán bộ Hội LHPN các cấp trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các phong trào thi đua, các nhiệm vụ công tác Hội và nhiệm vụ tại địa phương
Vai trò của cán bộ Hội LHPN các cấp trong công tác vận động phụ nữ
đã được Bộ Chính trị xác định: “Các cấp Hội phụ nữ có trách nhiệm tổ chức quán triệt các quan điểm của Đảng về công tác vận động phụ nữ, cụ thể hóa thành chế độ, chính sách, xây dựng chương trình hành động cụ thể và đôn đốc kiểm tra việc thực hiện, rút kinh nghiệm kịp thời” [3, tr.7] Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu: “Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam có trách nhiệm giúp Ban
Bí thư trực tiếp chỉ đạo phong trào phụ nữ, đổi mới nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN” [7, tr.6] Nghị quyết số 04-NQ/TW, Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư còn khẳng định Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam được trao trách nhiệm cùng Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ
Trang 25chức Trung ương và Văn phòng Trung ương theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, lãnh đạo cấp trên, cán bộ Hội LHPN các cấp cũng đã phát huy tốt vai trò chỉ đạo của mình, thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, điều hành hoạt động theo đúng quy chế, từ
đó xây dựng được nề nếp làm việc và sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ hệ thống cán bộ tổ chức Hội; duy trì nề nếp sinh hoạt định kỳ; lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện kịp thời các nhiệm vụ chính trị của ngành, của cấp uỷ; công tác chỉ đạo, điều hành có nhiều đổi mới đã nâng cao vai trò, chất lượng tham mưu, điều hành, chủ động sáng tạo của đội ngũ cán bộ hội từ tỉnh xuống đến cơ sở
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH,- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, nhìn chung đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Hội LHPN các cấp vẫn còn những mặt hạn chế Đó là, tình trạng không đồng đều về trình độ chuyên môn đào tạo, năng lực thực tiễn; Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn có biểu hiện chủ quan, tự mãn; một số tuy có tâm huyết với công tác hội, phong trào thi đua nhưng trình độ hạn chế, thiếu sáng tạo, v.v
1.2 Yêu cầu và tiêu chí nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp hiện nay
1.2.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hội các cấp hiện nay
Nâng cao chất lượng cán bộ hội các cấp nhằm xây dựng đội ngũ cán
bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, có năng lực hoạt động thực tiễn, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng yêu cầu công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 26Để thực hiện được điều đó yêu cầu cán bộ Hội phụ nữ các cấp đáp ứng các tiêu chuẩn chung trong Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước: gương mẫu về đạo đức, lối sống; có uy tín, gần gũi gắn bó, thông cảm, chia sẻ với hội viên, phụ nữ; lắng nghe, tôn trọng ý kiến của hội viên, phụ nữ; có tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; tận tụy nhiệt tình, tâm huyết với công việc; Có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác phụ nữ theo chuẩn chức danh; có kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn; có kiến thức chung về các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội; Có năng lực chỉ đạo, tham mưu, đề xuất,
tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; có kỹ năng lập kế hoạch, phát hiện, giải quyết vấn đề, xử lý tình huống; kỹ năng tạo lập mối quan hệ, làm việc theo nhóm, phối hợp hoạt động; có phương pháp vận động quần chúng, sâu sát, gần gũi cơ sở; tác phong làm việc dân chủ, khoa học
Ngoài yêu cầu chung nêu trên, trong Chương trình hành động thực hiện
khâu đột phá nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội LHPN các cấp của
Trung ương Hội LHPN Việt Nam có nêu rõ yêu cầu đối với cán bộ Hội ở từng cấp Đối với cán bộ Hội cấp tỉnh “Có năng lực cụ thể hóa chủ trương, nhiệm vụ của Hội cấp trên và cấp ủy cùng cấp phù hợp với thực tiễn phong trào phụ nữ và hoạt động Hội tại địa phương; năng lực tham mưu, đề xuất chính sách; năng lực chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; năng lực nghiên cứu tổng kết thực tiễn; năng lực hợp tác, phối hợp, lồng ghép các hoạt động; kỹ năng thương thuyết, giao tiếp, thông thạo địa bàn,
am hiểu văn hóa, phong tục địa phương” [15, tr.2]
Đối với cán bộ Hội cấp huyện yêu cầu: “Có năng lực tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; kỹ năng phát hiện, giải quyết vấn đề, xử lý tình huống; kỹ năng lập kế hoạch, thu thập thông tin, viết báo cáo; kỹ năng tuyên truyền, vận động, thuyết phục; sâu sát
Trang 27cơ sở, hội viên, phụ nữ, gắn bó với cộng đồng; có trình độ tin học; thông thạo địa bàn, am hiểu văn hóa, phong tục địa phương” [15, tr.2]
Đối với cán bộ Hội cấp cơ sở: “Chủ tịch Hội cấp cơ sở có trình độ nghiệp vụ công tác phụ nữ; có kỹ năng lập kế hoạch, viết báo cáo, tổ chức thực hiện, nắm tình hình tư tưởng, phát hiện vấn đề, phản ánh tham mưu, đề xuất với cấp trên và xử lý các tình huống; năng lực phối hợp hoạt động; kỹ năng giao tiếp vận động, thuyết phục” [15, tr.3]
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí ngày càng cao, không những đòi hỏi cán bộ Hội các cấp phải có trình
độ và các kỹ năng cần thiết mà cán bộ Hội là ủy viên Ban chấp hành, cán bộ chi tổ cũng phải uy tín, nhiệt tình với công việc, gần gũi với hội viên, phụ nữ; có năng lực tập hợp thu hút phụ nữ, quản lý hội viên; có kỹ năng vận động, thuyết phục, điều hành sinh hoạt nhóm, nắm bắt tình hình tư tưởng, thu thập thông tin, ghi chép sổ sách, viết báo cáo Hiện nay, một số cán bộ nhất là cán bộ cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu này
Đối với tổ chức Hội phụ nữ, công tác cán bộ luôn là một tâm điểm được quan tâm, được nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ
XI xác định là một khâu đột phá mà các cấp Hội cần phải tập trung nguồn lực để giải quyết nhằm tạo ra những chuyển biến mới về chất lượng hoạt động của tổ chức Hội cũng như phong trào phụ nữ
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ
Trong công tác cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ có vị trí đặc biệt quan trọng Để tiến hành các khâu trong công tác cán bộ, trước hết cơ quan quản lý cán bộ phải định ra tiêu chuẩn cán bộ Tiêu chuẩn cán bộ là những quy định đối với cán bộ
về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, năng lực trí tuệ, khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng,
lề lối làm việc, tác phong công tác và sức khỏe Chất lượng cán bộ Hội LHPN các cấp thể hiện qua những tiêu chí, cụ thể:
Trang 28Về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị:
Trình độ chuyên môn được thể hiện thông qua các loại văn bằng, chứng chỉ Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị là phần không thể thiếu đối với cán bộ, nhất là đối với cán bộ Hội phụ nữ - người làm công tác vận động, truyên truyền
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội LHPN cấp huyện phải đạt trình độ đại học
về chuyên môn; trung cấp lý luận chính trị và tương đương trở lên, cán bộ
có bằng chuyên môn đại học Cấp xã: Chủ tịch Hội LHPN cấp cơ sở nói chung phải đạt trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông, trung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị, trong đó có 70% Chủ tịch Hội LHPN cơ sở có bằng chuyên môn Đại học
Đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đặc thù thì phải có trình độ trung cấp chuyên môn hoặc trung cấp lý luận chính trị Một số cán bộ chủ trì tuy chưa đảm bảo các tiêu chuẩn như trên, nhưng xét thấy có năng lực thực tiễn, triển vọng phát triển, có tín nhiệm cao trong tổ chức Hội và hội viên, nhân dân địa phương, được cấp ủy cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp đồng ý thì có thể cơ cấu vào chức danh Chủ tịch Hội cơ sở nhưng sau đó phải tham gia đào tạo để đạt chuẩn chức danh theo quy định Trình độ kiến thức chuyên môn của cán bộ có tương xứng với bằng cấp hay không phụ thuộc vào điểm đánh giá học tập, nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, cần có sự kiểm nghiệm trong thực hiện công việc thực tế mới có thể thấy được đầy đủ năng lực chuyên môn thực sự của cán bộ
Trình độ lý luận chính trị là vấn đề đầu tiên cần được trang bị cho cán
bộ để cán bộ hiểu được quan điểm, chủ trương, đường lối cùa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, từ chỗ hiểu biết sẽ thực hiện theo đúng định hướng đã được hoạch định Điều này nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cán bộ trong mọi cấp, tạo cơ sở phát triển
và nâng cao chất lượng cán bộ
Trang 29Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và sự trải nghiệm trong công việc giúp cho cán bộ Hội phụ nữ vận dụng sáng tạo kiến thức, có phương pháp, khả năng tổ chức, vận động trong công tác tuyên truyền, thuyết phục nhân dân, phụ nữ thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ, phong trào thi đua của Hội Do đó, cán bộ phụ nữ có thời gian gắn bó với công tác Hội càng lâu dài thì càng có nhiều kinh nghiệm trong công việc, có kỹ năng vận động, giải quyết tình huống một cách linh hoạt, hiệu quả
Về trình độ quản lý Nhà nước: Đối với cán bội Hội các cấp, nhất là cán
bổ chủ chốt, cần có chứng chỉ Quản lý Nhà nước hệ chuyên viên
Trình độ tin học, ngoại ngữ:
Trình độ ngoại ngữ, tin học là yêu cầu không thể thiếu đối với bất cứ một cán bộ tại bất cứ vị trí nào trong đơn vị hành chính Cán bộ Hội phụ nữ cũng phải đáp ứng được yêu chung cầu đó Bởi trong môi trường toàn cầu hóa hiện nay, con người luôn phải tiếp nhận những kiến thức mới để bắt kịp với tình hình phát triển và hội nhập của đất nước, thế giới, đòi hỏi cán bộ hội phụ nữ cũng phải biết tin học, ngoại ngữ để có sự nhanh nhạy trong cập nhật thông tin trên mọi phương diện của cuộc sống, đặc biệt về thời sự trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương, trong và ngoài nước
Không những thế, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, đa phần công việc đều được soạn thảo, xử lý qua máy tính, internet, qua phần mềm
hệ thống thông tin điện tử giúp cho cán bộ hội nắm bắt công việc được chỉ đạo từ cấp trên để triển khai tổ chức, thực hiện cũng nhanh hơn, tiết kiệm thời gian, đồng thời báo cáo kết quả hay tháo gỡ những khó khăn vướng mắc một cách kịp thời
Cụ thể ở cấp tình, cấp huyện, cấp xã, cán bộ Hội LHPN cần phải có chứng chỉ tin học Đối với tin học, không quy định chứng chỉ loại trung
Trang 30bình, khá hay giỏi nhưng đòi hỏi khi thực hành người cán bộ phải sử dụng thành thạo máy vi tính, thao tác nhanh, hiệu quả
Ngoài có trình độ tin học, việc biết ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), giúp cho cán bộ Hội dễ dàng hơn trong sử dụng máy tính để làm việc như cập nhật, xử lý dữ liệu, thông tin qua các phần mềm; giao tiếp với người nước ngoài khi thực hiện các chương trình, dự án mà họ hợp tác với Hội phụ
nữ triển khai tại địa phương Ở cấp tỉnh, huyện cán bộ cần đạt trình độ B ngoại ngữ trở lên; cán bộ Hội cấp xã cần đạt trình độ A ngoại ngữ trở lên
Về kỹ năng tuyên truyền vận động, giải quyết, xử lý công việc
Nếu coi các kiến thức chuyên môn của nguồn nhân lực là “phần cứng”,
là những hiểu biết căn bản về một lĩnh vực hoạt động thì khả năng giải quyết công việc được coi là “phần mềm” trong xử lý công việc Việc ứng dụng phần mềm và phần cứng thuần thục, linh hoạt chính là thể hiện kỹ năng giải quyết công việc khéo léo và thành thạo, thể hiện việc vận dụng kiến thức thực sự có hiệu quả trong thực tế
Cán bộ Hội phụ nữ có trình độ như nhau, kiến thức như nhau nhưng có thể khả năng giải quyết công việc khác nhau Nếu cán bộ có kỹ năng mềm tốt thì khả năng giải quyết công việc vượt trội hơn so với cán bộ kém kỹ năng Tinh thần cầu tiến, thái độ nghiêm túc không ngừng học tập và rèn luyện là cơ sở để cán bộ Hội nâng cao kỹ năng giải quyết công việc Sự trải nghiệm thực tế trong công việc là môi trường rèn luyện kỹ năng tốt nhất, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Những người làm công tác dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ phải thật thà nhúng tay vào việc” (49 Tr.699)
Mỗi cán bộ Hội phải có năng lực thực sự, có kiến thức ở nhiều lĩnh vực, phương pháp, kỹ năng, tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, nói đi đôi với làm Cán bộ Hội phải sâu sát cơ sở, sống trong lòng dân, nắm bắt
Trang 31tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là phụ nữ, để giúp nhân dân, hội viên phụ nữ giải quyết các công việc cụ thể, đồng thời cán bộ hội phải am hiểu sâu sắc, toàn diện về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của địa phương nhằm vận động nhân dân thực hiện đúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định:
“Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [55, tr.184]
Cán bộ Hội có kỹ năng tuyên truyền, vận động sẽ có những phương pháp, hình thức tổ chức, thực hiện phù hợp với từng đối tượng phụ nữ ở vùng, miền và từng thời điểm cụ thể; có năng lực cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp trên vào thực tế phong trào phụ nữ của địa phương; có khả năng tổng kết, đúc rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đề xuất đóng góp ý kiến với cấp trên những vấn đề liên quan đến phụ nữ, từ đó sẽ “phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” [55, tr.184]
Về phẩm chất đạo đức, phong cách, thái độ làm việc
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành
xã hội mới, đây là nhiệm vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp Để hoàn thành nhiệm vụ đó đòi hỏi Đảng phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài, trong đó đức là quan trọng hàng đầu Người chỉ rõ, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người nhấn mạnh: “Cũng như sông có nguốn mới có nước, không có
Trang 32nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [49, tr.252-253] Đảng ta cũng đã khẳng định, phải “có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [20, tr.27]
Cán bộ Hội phụ nữ phải gương mẫu về đạo đức lối sống; có tác phong khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, quan tâm xây dựng khối đoàn kết, tương trợ lẫn nhau; có tinh thần yêu quê hương, đất nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trách nhiệm cao trong công việc, có
uy tín với chị em phụ nữ và nhân dân, được chị em tín nhiệm cao Tạo lòng tin là vấn đề quan trọng trong công tác vận động phụ nữ, muốn có niềm tin
và giữ được niềm tin phải “lấy dân làm gốc”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, đòi hỏi cán bộ phụ nữ phải “liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng Như thế thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ” [49, tr.275] Như vậy, đạo đức, thái độ, phong cách làm việc của cán bộ Hội là một yếu tố không thể thiếu trong công tác vận động phụ nữ Với đội ngũ cán bộ Hội có đạo đức trong sáng, có năng lực thực sự, thì phong trào thi đua, các nhiệm vụ của Hội sẽ ngày càng phát triển
1.3 Những nội dung cơ bản của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp
1.3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị cho đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ các cấp
Công tác đào tạo bồi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng
để nâng cao trình độ cán bộ Hội LHPN các cấp như Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: “Phấn đấu chậm nhất từ năm 2005 trở đi, nói chung
Trang 33những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi từ cấp huyện trở lên ít nhất phải có trình
độ đại học về chuyên môn, cao cấp về lý luận chính trị Đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt; khắc phục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo” [8, tr7] Hội LHPN Việt Nam cũng đã tham mưu Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội LHPN các cấp” giai đoạn 2013-2017, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Hội LHPN Việt Nam có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng; có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, lãnh đạo đáp ứng theo vị trí, nhiệm vụ công tác; đảm bảo đạt tiêu chuẩn chức danh ở cấp huyện và cấp xã; góp phần thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội các cấp và nâng cao hiệu quả chất lượng, hiệu quả công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
1.3.2 Công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí và sử dụng đội ngũ cán
cơ cấu hợp lý và sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ
Tầm quan trọng, vai trò của công tác quy hoạch cán bộ đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán
bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” Quan điểm này được rút ra từ thực tiễn và lý luận của công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi
Trang 34ra đời (năm 1930) đến nay, và xa hơn nữa là sự kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có những Nghị quyết,
Chỉ thị, những văn bản quan trọng về quy hoạch cán bộ, công chức Mục
đích và tư tưởng chủ đạo của các Chỉ thị, Nghị quyết là nhằm tạo ra sự đột
phá trong quá trình đổi mới công tác cán bộ của Đảng, trước hết là bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý; thực hiện đồng bộ các khâu của công tác cán bộ Công tác quy hoạch cán bộ, công chức thời kỳ đổi mới là làm cho công tác cán bộ của các cấp ủy có sự chủ động và nề nếp hơn, có tầm nhìn xa hơn Qua đó, tập hợp, đào tạo và bố trí sử dụng một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị cao hơn Hàng năm, Hội LHPN các
cấp đã xây dựng đề án quy hoạch nhân sự trình cấp ủy, một chức danh quy
hoạch nhiều người (3 đến 5 người); một người có thể được dự trù vào 2-3 chức danh, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của khóa trước với khóa sau để
có căn cứ luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm
Việc tuyển chọn cán bộ Hội cũng được thực hiện dân chủ, công khai trong bảo đảm tuyển chọn đúng những người có đủ tiêu chuẩn theo từng chức danh, phù hợp với chuyên ngành được đào tạo
1.3.3 Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ Hội phụ nữ các cấp
Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá là một trong những khâu quan trọng để làm rõ những ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu của phong trào thi đua, các hoạt động do người cán bộ chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện, cũng như đánh giá người cán bộ về năng lực công tác đồng thời đánh giá về mặt phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và triển vọng phát triển của cán bộ Hội; Đồng thời làm “căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ” [10, tr.1]
Trang 35Hàng năm, Hội LHPN cấp trên xây dựng nội dung chương trình công tác kiểm tra theo các nội dung hoạt động thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Hội đối với cấp dưới; Định kỳ kiểm tra trên hai phương diện qua văn bản chỉ đạo, hai là qua thực tế các phong trào, các mô hình cụ thể, tình hình đời sống của hội viên phụ nữ, từ đó có căn cứ xếp loại cán bộ, xếp loại các đơn vị để kịp thời khen thưởng, động viên, khích lệ
Như vậy, đòi hỏi trong công tác cán bộ Hội phụ nữ phải được tiến hành đồng bộ, không được coi nhẹ khâu nào, giữa các khâu có mối quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau, khâu này là tiền đề, là cơ sở của khâu kia Điều đó thể hiện ở các mối quan hệ sau: Không có các loại tiêu chuẩn cho các loại cán bộ thì không có cơ sở để đánh giá đúng cán bộ; từ đánh giá cán
bộ, mới xây dựng được quy hoạch cán bộ, trên cơ sở quy hoạch cán bộ, sẽ đưa đi đào tạo, bồi dưỡng, điều động luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ, khi
đã có đội ngũ cán bộ cần căn cứ yêu cầu nhiệm vụ chính trị, yêu cầu công tác để bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực của từng người Đồng thời phải có quan điểm và phương pháp xử lý tốt các mối quan hệ của các khâu trong công tác cán bộ, trong đó chú trọng mối quan hệ giữa đức và tài, quyền hạn và trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích, năng lực thực tế và bằng cấp
Kết luận chương 1
Cán bộ là cái gốc của mọi việc, công việc thành hay bại do cán bộ tốt hay kém Trong mọi lĩnh vực hoạt động, cán bộ có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả các công việc, là chìa khóa mở ra sự thành công Chính vì vậy, Hội LHPN Việt Nam xác định: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Hội là khâu đột phá, từ đó tạo ra những chuyển biến mới trong hoạt động của tổ chức Hội cũng như phong trào phụ nữ
Trang 36Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Hội phụ nữ các cấp hiện nay là việc làm cấp thiết xuất phát từ vai trò của cán bộ Hội trong công tác cán bộ nữ, vai trò của cán bộ Hội LHPN các cấp trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các phong trào thi đua, các nhiệm vụ công tác Hội và nhiệm vụ tại địa phương Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ các cấp dựa vào các tiêu chí cụ thể và bám sát các nội dung như: công đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ; công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí đội ngũ cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ Hội LHPN các cấp trong giai đoạn hiện nay
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP Ở NGHỆ AN HIỆN NAY 2.1 Những nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ các cấp ở Nghệ An
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Nghệ An
Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây bắc giáp tỉnh Huaphanh (Lào), phía tây giáp tỉnh Xiengkhuang (Lào), phía tây nam giáp tỉnh Bolykhamxay (Lào) Diện tích đất tự nhiên của Nghệ An rộng nhất đất nước 1.649.368,62 ha, địa hình phong phú, đa dạng, có biển, có đồng bằng, trung du và miền núi; có 82km bờ biển tiếp giáp với 5 huyện (Thị xã Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò); có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, di tích lịch sử - văn hóa lâu đời, có vị trí chiến lược quan trọng, là đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa Bắc - Nam, có các cửa khẩu sang Lào
Nghệ An có 17 huyện, 1 thành phố, 3 thị xã với 480 xã, phường, thị trấn; có 11/21 huyện miền núi, trong đó có 6 huyện giáp biên giới với nước bạn Lào (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong) với đường biên giới dài 419km
Dân số Nghệ An có trên 3,1 triệu người, trong đó phụ nữ chiếm khoảng 51,2% dân số và chiếm 52% lực lượng lao động Là địa phương đông dân thứ tư trong cả nước (sau thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Thanh Hóa) Tỷ trọng: dân số sống ở thành thị 13,1%; dân số phi nông nghiệp 31,1% Mật độ trung bình 178 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0% Tổng lực lượng lao động gần 1,8 người Trong đó, lực lượng lao động được đào tạo chiếm 44%, lực lượng được đào tạo nghề chiếm 36%
Trang 38Toàn tỉnh có 6 dân tộc cùng sinh sống: dân tộc Kinh, Thái, H’Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu
Trong những năm qua, trong điều kiện kinh tế khó khăn, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Nghệ An bình quân giai đoạn 2011 - 2015 vẫn đạt kết quả khá 7,89% GRDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 29 triệu đồng, tăng gần 2 lần so với năm 2010 Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp - xây dựng (tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 41,15 năm 2010 lên 43,3% năm 2015, công nghiệp - xây dựng từ 29,89% lên 32,5%), giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 28,96% xuống còn 24,2%) [16, tr1]
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 ước tăng 4,65%, đạt mục tiêu đề ra Cơ cấu kinh tế nội ngành có bước chuyển dịch tích cực Sản lượng lương thực vượt mục tiêu, đạt trên 1,2 triệu tấn/năm Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm đạt 10,71%/mục tiêu 15-16%; riêng công nghiệp tăng 15,95% mục tiêu 17-18%
Cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành có tiềm năng, lợi thế của tỉnh, như thủy điện, sản xuất đồ uống (bia, sữa chế biến), chế biến lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản, chế biến hải sản, may mặc [16, tr1-2]
Ủy ban nhân dân Tỉnh tiếp tục quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống
hạ tầng trong Khu kinh tế Đông Nam, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tiếp tục được quan tâm chỉ đạo phát triển
Giá trị sản xuất dịch vụ bình quân ước tăng 10% mục tiêu 10-11% Giá trị sản xuất ngành thương mại tăng bình quân 11%, đạt mục tiêu đề ra Hoạt động du lịch phát triển mạnh Các cơ sở du lịch tiếp tục thu hút và phục vụ tốt khách tham quan, du lịch Chất lượng dịch vụ và sản phẩm du
Trang 39lịch có nhiều chuyển biến Tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch bình quân đạt 10,5%/năm [16, tr2]
Nghệ An đã chủ động trong xây dựng và triển khai các quy hoạch ngành, lĩnh vực, mở rộng các hoạt động đối ngoại nên đã thu hút được nhiều
dự án có quy mô lớn, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến như dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng; vận động và triển khai thực hiện 533 dự án mới với 136.989,5 tỷ đồng vốn đăng ký, trong đó có 507 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đăng ký 131.870,8 tỷ đồng, 26 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng vốn đăng ký 5.118,7 tỷ đồng; triển khai thực hiện 31 chương trình, dự án ODA với tổng mức đầu tư 15.050 tỷ đồng, 58 chương trình, dự án phi chính phủ (NGO) với tổng số vốn cam kết tài trợ là 16,01 triệu USD Hệ thống doanh nghiệp tiếp tục được sắp xếp, chuyển đổi Có 5.391 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới [16, tr4]
Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển các mũi kinh tế trọng điểm và từng bước hình thành các vùng kinh tế trọng điểm
theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII xác định Nhiều sản
phẩm trọng điểm đã phát huy hiệu quả như mía đường, thủy điện, chế biến sữa, trồng rừng nguyên liệu Tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển khu vực thành phố Vinh, Khu kinh tế Đông Nam gắn với vùng Nam Nghệ - Bắc Hà Phê duyệt quy hoạch các khu chức năng của thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, các thị trấn, thị tứ, thành lập Thị xã Hoàng Mai; phê duyệt quy hoạch các khu chức năng thuộc các đô thị, khu công nghiệp trong vùng Hoàng Mai - Đông Hồi
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2355/QĐ-TTg về phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An đến năm 2020, là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của vùng Tân Kỳ - Đô Lương - Nghĩa Đàn
- Thái Hòa - Quỳ Hợp gắn với miền Tây, hình thành khu công nghiệp - nông nghiệp công nghệ cao tại Nghĩa Đàn, Thái Hòa
Trang 40Diện mạo đô thị và nông thôn ngày càng khang trang, đổi mới: Hệ thống hạ tầng giao thông được ưu tiên đầu tư Toàn Tỉnh có 09 dự án thủy điện phát điện, với tổng công suất là 688,5 MW, mạng lưới cung cấp điện được cải tạo, nâng cấp; hoàn thành bàn giao lưới điện nông thôn, cấp điện đến trung tâm xã cho 16 xã chưa có điện
Công tác giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển Công tác quy hoạch, xây
dựng mạng lưới trường, lớp được triển khai đồng bộ, có hiệu quả, chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 06 trường đại học, 10 trường cao đẳng và 14 trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, trong đó Trường Đại học Vinh được Chính phủ phê duyệt là
một trong 17 trường đại học trọng điểm quốc gia
Chất lượng giáo dục đại trà có nhiều tiến bộ Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp, số học sinh thi đậu cao đẳng, đại học, học sinh giỏi quốc gia, khu vực và quốc tế đứng tốp đầu cả nước Số lượng trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 41,9% năm 2010 lên 65% năm 2015, đạt mục tiêu đề ra
Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, phong trào thể dục thể thao diễn ra khá sôi nổi, rộng khắp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Công tác bảo tồn, tôn tạo, và phát huy giá trị di tích được quan tâm Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được tập trung chỉ đạo có hiệu quả Công tác xây dựng thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao có chuyển biến tích cực Năm 2015, toàn tỉnh có 82% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, 28,54% số xã có thiết chế văn hóa thể thao đạt tiêu chí quy định Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh và rộng khắp Toàn tỉnh có 21,7% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình thể thao [16, tr7]
Công tác thông tin truyền thông phát triển mạnh mẽ Các loại hình báo chí, thông tin phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin của các