1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn trần thùy mai, võ thị xuân hà, quế hương

132 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học 1930-1945, đã xuất hiện một dòng truyện ngắn trữ tình với những cây bút tiêu biểu như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh… Nguồn mạch ấy được nối tiếp trong văn học cách mạng 1

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN, 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục đích nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ XU HƯỚNG TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 12

1.1 Khái niệm 12

1.1.1 Trữ tình/ yếu tố trữ tình 12

1.2 Những biểu hiện của xu hướng trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại 14

1.2.1.Dòng truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945 14

1.2.2 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn cách mạng 1945 -1975 17

1.2.3 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn sau 1975 20

1.3 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn nữ sau 1975 21

1.3.1 Nhìn chung về truyện ngắn nữ sau 1975 21

1.3.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn nữ sau 1975 21

1.4 Nhìn chung về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương. 25

1.4.1 Hành trình sáng tác của Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương 25

1.4.2 Ba cây bút nữ giàu yếu tố trữ tình 29

Chương 2 YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI, VÕ THỊ XUÂN HÀ, QUẾ HƯƠNG THỂ HIỆN TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 32

2.1 Yếu tố trữ tình thể hiện trong cách khai thác đề tài 32

2.1.1 Đề tài lịch sử và những trớ trêu của số phận con người 32

2.1.2 Đề tài cuộc sống đương đại với những vui buồn muôn thuở 35

2.1.3 Đề tài tình yêu, hôn nhân với những ngọt bùi cay đắng 40

2.2 Yếu tố trữ tình thể hiện trong cảm hứng sáng tạo 47

2.2.1 Khái niệm cảm hứng 47

Trang 3

2.2.2 Cảm hứng ngợi ca 49

2.2.3 Cảm hứng xót thương 53

2.2.4 Cảm hứng về thiên nhiên 56

2.3 Yếu tố trữ tình thể hiện trong cách mô tả nhân vật 60

2.3.1 Nhân vật người nghệ sĩ đam mê, khắc khoải 61

2.3.2 Nhân vật người phụ nữ bất hạnh 67

2.3.3 Những người trẻ tuổi nhiều hoài bão và cô đơn 73

2.3.4 Những con người mang cốt cách tâm hồn Huế 76

Chương 3 YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI, VÕ THỊ XUÂN HÀ, QUẾ HƯƠNG THỂ HIỆN TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 80

3.1 Tổ chức kết cấu 80

3.1.1 Kết cấu theo mạch cảm xúc, tâm lí 81

3.1.2 Kết cấu dòng ý thức 84

3.1.3 Chú trọng tô đậm các biểu tượng 89

3.2 Sử dụng tình huống truyện giàu chất thơ và chất bi kịch 96

3.2.1 Tình huống giàu chất thơ 96

3.2.2 Tình huống giàu chất bi kịch 99

3.3 Kết hợp nhiều sắc thái giọng điệu 105

3.3.1 Giọng đằm thắm, tha thiết 105

3.3.2 Giọng xót xa ngậm ngùi 109

3.3.3 Giọng suy tư chiêm nghiệm 112

3.4 Ngôn từ nghệ thuật 116

3.4.1 Sử dụng nhiều tính từ, từ láy, từ cảm thán 116

3.4.2 Sử dụng các câu văn giàu hình ảnh, có nhịp điệu 121

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam sau 1975, sự góp mặt của hàng loạt cây bút nữ đã đem đến một không khí mới mẻ cho văn chương nước nhà Những tên tuổi Dạ Ngân, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Hiền Phương, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Ấm, Nguyên Hương…đã tạo ra những ấn tượng sâu sắc với bạn đọc Đặc biệt trong thể loại truyện ngắn, các nhà văn

nữ đã gặt hái nhiều thành công Vì vậy tìm hiểu truyện ngắn các nhà văn nữ nói chung, yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương nói riêng sẽ hiểu hơn bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1975

1.2 Trong văn chương, yếu tố trữ tình không phải là đặc quyền riêng của các nhà văn nữ Nhưng với họ, chúng ta bắt gặp một mạch ngầm trữ tình da diết như từ trong sâu thẳm tâm hồn nữ giới, thể hiện ra trên nhiều phương diện của nội dung và hình thức nghệ thuật Theo chúng tôi, đó là một trong những đóng góp nổi bật của các nhà văn nữ Vì thế đề tài của luận văn, từ góc độ yếu tố trữ tình, sẽ góp phần làm sáng

tỏ hơn đặc sắc của truyện ngắn nữ sau 1975

1.3 Trữ tình cũng là truyền thống của văn xuôi Việt Nam, ít nhất là từ 1930 đến nay Trong văn học 1930-1945, đã xuất hiện một dòng truyện ngắn trữ tình với những cây bút tiêu biểu như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh… Nguồn mạch ấy được nối tiếp trong văn học cách mạng 1945 -1975 với những cây bút như Thành Long, Đỗ Chu, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Minh Châu…Qua tìm hiểu yếu tố trữ tình trong truyện ngắn các nhà văn nữ từ sau 1975, ta có điều kiện nhìn rộng ra nét đặc thù của một xu hướng truyện ngắn Việt Nam hiện đại Đề tài vì thế có thể cung cấp thêm dữ liệu cho văn học sử

1.4 Luận văn chọn 3 nhà văn tiêu biểu để khảo sát là Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương Đây là ba cây bút nữ khá tiêu biểu của truyện ngắn nữ sau 1975

Ba cây viết nữ ấy (điểm đặc biệt là đều có gốc Huế) - mỗi người một phong cách, một

cá tính, song tựu trung đều sâu đậm thiên tính nữ; tâm hồn nhạy cảm đã kéo họ gần gũi lại với nhau và gặp nhau ở cách biểu hiện những tư tưởng, xúc cảm và cái nhìn về hiện thực đời sống Chính họ đã góp phần tô đậm thêm dòng mạch trữ tình trong văn xuôi

Việt Nam sau 1975 Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: “Yếu tố trữ tình trong truyện

ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương” cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn của ba tác giả nữ Trần Thùy Mai, Quế Hương, Võ Thị Xuân Hà luôn được độc giả quan tâm, đón đợi Đã có khá nhiều bài viết về các nữ nhà văn này

Trang 5

và những tác phẩm của họ, trong đó số lượng các bài viết, bài báo, các bài phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng chiếm một vị trí không nhỏ Tuy nhiên các bài viết ấy đa phần chỉ được thực hiện chủ yếu trên lĩnh vực báo chí hoặc dừng lại ở việc giới thiệu, nhận xét sơ lược hay bộc bạch ấn tượng, xúc cảm về một truyện ngắn, một tập truyện nào đó hay một bài viết về con người nhà văn Thỉnh thoảng cũng có những công trình nghiên cứu về những mảng riêng trong truyện ngắn của các chị, tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà và Quế Hương Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, thống kê, phân loại để chọn ra những công trình, những bài viết có liên quan ít nhiều đến nội dung đề tài cần khảo sát

Lúa hát với không khí truyện và cách dùng ngôn từ trong trẻo đã tạo nên một tác phẩm

về nông thôn Việt Nam điển hình.” Nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của

nhà văn là phải làm đẹp cho câu chữ của dân tộc Võ Thị Xuân Hà với Lúa hát đã làm

nên được kì tích đó” [14]

Hàn Thủy Giang trong bài Võ Thị Xuân Hà - người sống trên đất lặng lẽ ấn

tượng về một cá tính: “Nghĩ về chị tôi cứ hình dung ra một người sống trên đất mà như

đi trên mây, tất nhiên không phải làm xiếc Nếu đứng lại nhìn ngó xung quanh sẽ lộn

cổ Bởi vậy chị cứ đi, cứ phải đi một cách đầy chủ quan, nếu vì chị khách quan - đó sẽ

là một cú ngã Và có lẽ tôi yêu mến chị, yêu văn chị bởi chính nét chủ quan ấy” Cũng theo Hàn Thủy Giang: “có một điều, tôi nghĩ, đã giúp văn chị được người ta chú ý Đó

là cách chị đã tìm được cách thể hiện tình nhân ái qua những chi tiết nhỏ tinh tế, những chi tiết đôi khi nhiều người không chú ý tới.” [15] Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà không tô hồng cuộc sống, thậm chí văn chị đọc lên vẫn có cái nghiệt ngã đắng cay nhưng lan tỏa trên mỗi trang viết là tấm lòng của một người phụ nữ có niềm tin, biết tin và hết lòng yêu cuộc đời, con người

Trong bài viết Quả lắc Võ Thị Xuân Hà đăng trên Website

http://wwwtonvinhvanhoadoc.vn ngày 22/11/2010, tác giả Ngô Hương Giang đã nhấn

mạnh ở tính biến điệu, dao động, biện chứng của con mắt tư duy truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà Bài viết cho thấy: “Thế giới truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà phản ánh thế giới

Trang 6

của những náu ẩn tâm thức, không ngừng vận động, thôi thúc từ phía ý thức chủ thể sáng tạo Thế giới ấy không phản ánh đơn giản những kí ức vụn vặt, chắp nối từ quá khứ, đó là tập hợp số đông những ký ức không ngừng được tư duy lại và tự phản chứng với xã hội xuyen qua nhiều khoảnh khắc lấp chồng của thời gian, văn hóa” [16]

Nhà báo Nguyên Anh trong bài viết Người con của các dòng sông lấy đặc điểm

của hai dòng sông quê hương tác giả để gọi tên đặc điểm, cá tính, lối viết của tác giả:

“lớn lên bên dòng Hồng Hà, nhưng quê gốc của chị là bên dòng Hương Giang ( ) Văn

Võ Thị Xuân Hà vừa có sự mãnh liệt và bất ngờ của dòng Hồng Hà Văn của chị luôn luôn tựa như hai dòng nước, có khi đối lưu, có khi hòa lẫn, có khi hỗn mang, có khi thanh bình” [1]

Tác giả Bùi Việt Thắng trong Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn

thể loại đứng trên quan điểm: “Mỗi người viết truyện thường có một nẻo riêng” với

trường hợp Võ Thị Xuân Hà, tác giả cho rằng “việc tìm câu chuyện để kể và tài biến hóa một câu chuyện giản dị bình thường bay lên thành ước mơ hi vọng, từ nhiều điểm nhìn tạo thành khối không gian đa chiều là “nẻo riêng” có ý nghĩa nhất với chị” Cách tạo tình huống kết hợp với lối kể chuyện miên man theo dòng suy nghĩ của nhân vật giúp nhà văn nhìn sâu hơn vào thế giới tâm linh của nhân vật và những thế lực vô hình đeo bám con người “Nghệ thuật kể chuyện bằng ngôi trần thuật, cách xưng hô, câu chữ ngắn gọn, nhiều thông tin tạo nên kết hợp đan xen giữa sự xô bồ của cuộc sống hiện đại và thanh tịnh, li kì của thế giới ảo Đó chính là màu sắc riêng tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà” [61]

Sự quan tâm của bạn đọc không chỉ dành cho những sáng tác người lớn mà còn hướng tới những tác phẩm cho thiếu nhi Tác giả Lê Huệ trong phần giới thiệu về tập

truyện Tiếng gà gáy trong rừng hoa arui đã thật yêu mến tác phẩm viết cho đối tượng

bạn đọc nhỏ tuổi của Xuân Hà: “Cách kể chuyện tự nhiên, nhẹ nhàng, dễ hiểu, cùng với cốt truyện đơn giản, và sự thấu hiểu tâm lí trẻ con của tác giả khiến cho những câu chuyện gần gũi, dễ thương như chính các nhân vật đó” Lê Huệ cũng nhấn mạnh: “Nếu như người ta vẫn thường nói, mảnh đất văn học thiếu nhi của nước ta đang bị bỏ quên

thì Tiếng gà gáy trong rừng hoa arui của nhà văn Võ Thị Xuân Hà chính là một hạt

giống mà nhà văn kỳ công gieo trồng” [35]

Nhìn chung, tác phẩm của chị luôn được độc giả yêu mến, đón nhận Những bài nghiên cứu, giới thiệu bước đầu về tác phẩm của cây bút nữ này cho thấy tác giả đã tạo được ấn tượng trong lòng người đọc Nhiều bài viết đã cảm nhận được những đặc điểm riêng biệt của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, song với dung lượng của một bài báo, phần lớn, các ý kiến đều mới ở những nhận xét hoặc cảm nhận khái quát bước đầu

Trang 7

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu sâu hơn về truyện ngắn của

chị, đó thường là các luận văn luận án Chẳng hạn như luận văn thạc sĩ Ngữ Văn Chất

trữ tình trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà của Nguyễn Thị Lệ, trường Đại học Hồng

Đức (2014) đã quan tâm tới một thế giới hiện thực giàu chất thơ trong truyện ngắn của chị Tác giả cũng tập trung làm rõ kết cấu “phi cốt truyện” và cách xây dựng những nhân vật trữ tình giàu cảm xúc, thông qua một ngôn ngữ giàu chất biểu cảm và giọng điệu trữ tình

Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà

của Phạm Thị Hải, trường Đại học Vinh (2010) đã đặt nhà văn Võ Thị Xuân Hà trong bối cảnh chung của các tác giả cùng thời để thấy được nét riêng đặc trưng, đóng góp nổi bật của tác giả trên phương diện nội dung và nghệ thuật [32]

Như vậy tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà đã trở thành đối tượng nghiên cứu khá rộng rãi, chứng tỏ sức hấp dẫn của cây bút nữ này Điều ấy cũng tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình tham khảo, so sánh đối chiếu và có cái nhìn toàn diện hơn khi tìm hiểu truyện ngắn của chị

2.2 Trần Thùy Mai

Có thể nói, Trần Thùy Mai là nhà văn gặt hái được khá nhiều thành công trong

sự nghiệp sáng tác Với hơn 30 năm cầm bút, chị đã cho ra đời 12 tập truyện ngắn và nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình Trong lịch sử vấn đề này chúng tôi lựa chọn tiếp cận những ý kiến đánh giá nghiêng về chất trữ tình trong truyện ngắn của chị Tuy nhiên đó hầu hết là những ý kiến nhỏ lẻ, rời rạc trên một một số bài báo, còn những công trình nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai thì chưa có

Tác giả Mai Văn Hoan nhận định về phong cách nghệ thuật của truyện ngắn Trần Thùy Mai: “Cốt truyện của Trần Thùy Mai thường đơn giản Chị tập trung khai thác đề tài, thể hiện thế giới nội tâm nhân vật Phần lớn truyện ngắn của Trần Thùy Mai được kể theo ngôi thứ nhất Với cách kể này, tác giả có điều kiện nhập thân, hóa thân vào nhân vật “tôi” tạo nên chất giọng trữ tình, nhẹ nhàng, sâu lắng.” [34]

Phan Diễm Phương đã cảm nhận và phát hiện về sự chuyển biến trong tiếp cận hiện thực đời sống của ngòi bút Trần Thùy Mai: “Thoạt tiên, cuộc sống hiện ra có phần đơn giản và có tính chất bề mặt qua câu chuyện kể Nhưng rồi sau đó, một số truyện của Trần Thùy Mai có vẻ lắng vào chiều sâu hơn Chị đã cố gắng hướng ngòi bút của mình vào các trạng thái tâm tưởng của nhân vật” [54]

Qua bài viết Trần Thùy Mai với những hoài niệm đẹp như cổ tích Nguyễn Thế

Thịnh đã khẳng định: “Đọc những truyện ngắn của chị ( ) người đọc nhận ra chị vẫn

Trang 8

cái giọng tâm tình thủ thỉ, duyên dáng và quyến rũ nhưng ẩn chứa sự dữ dội ngầm ( ) Truyện ngắn của Trần Thùy Mai lôi cuốn người đọc bằng những chi tiết vừa ảo vừa thực, có rất nhiều điều dường như mong manh, sắp tan biến nhưng lại vĩnh hằng” [63]

Cũng nhận xét về sáng tác của Trần Thùy Mai, Lê Thị Mỹ Ý cho rằng: “Từ tập truyện đầu tiên cho đến bây giờ, Trần Thùy Mai bao giờ cũng giữ được cho mình một giọng văn, ngôn ngữ thật trong sáng Trong sáng đến mức tôi luôn có cảm giác như chị là người luôn đam mê, đắm đuối và đuổi theo một thứ ánh sáng kì ảo giữa cuộc đời” [64]

Viết về tập Trò chơi cấm, Lý Lan - người đã từng in chung với Trần Thùy Mai tập truyện Cỏ hát có bài viết Nữ tính trong “Trò chơi cấm” của Trần Thùy Mai đăng trên báo Sài Gòn giải phóng Ở bài viết này, Lý Lan đã khai thác nữ tính trong tập

truyện mà ở đó, người đọc như được thưởng thức những bữa tiệc “chế biến từ những nguyên liệu cuộc sống mà chị đã yêu, đã sống Khéo léo như người đầu bếp Huế, chị bày bối cảnh truyện ở những không gian khác nhau để tránh sự đơn điệu của một thành phố nhỏ” Tuy nhiên trong khuôn khổ một bài báo mang tính cảm nhận, bày tỏ cảm xúc thì chất nữ tính ấy chưa được phân tích, lí giải ở mức độ cần thiết để đánh giá sở trường cũng như nét riêng trong yếu tố trữ tình của truyện ngắn tác giả

Tác giả Hồ Thế Hà trong bài viết: “Truyện ngắn Trần Thùy Mai - những giấc

mơ huyền thoại” đã chỉ ra nét nổi bật trong truyện ngắn của Thùy Mai ở vẻ đẹp cổ tích,

thần thoại “Phần lớn truyện của Trần Thùy Mai đã được tư duy theo kết cấu bất ngờ, lôi cuốn người đọc ở những chi tiết vừa ảo vừa thực; cái khoảnh khắc, cái vĩnh hằng, những điểm mạnh và những điểm nhẹ đan xen nhau, có cảm giác như mọi tồn tại trên đời đều dễ vỡ Thế nhưng đọc xong nó lại có sức bền lâu trong tâm trí” Cũng trong bài viết này tác giả nhận xét: “Truyện ngắn Trần Thùy Mai thường là những ghi nhận đời thường với bao lo toan, dằn vặt, với những mâu thuẫn có lúc âm thầm, có lúc dữ dội giữa khát vọng tình yêu và khả năng không đạt được của con người, để rồi sau những va chạm “dễ thương”, niềm hi vọng, sự sẻ chia, lòng nhân ái bao dung lại được xoa dịu, thanh lọc” [17]

Báo Thanh niên (2001) và Quảng Nam chủ nhật (2002) cũng có đăng các bài

của các tác giả Ngô Thị Kim Cúc và Bảo Anh viết về những tư tưởng sâu kín đầy bao dung và nhân ái, về cái phần quỷ - phần người trong Quỷ trong trăng Vẫn là câu chuyện tình yêu giữa hai bờ thực - ảo, say đắm mong manh, khát khao và chạy trốn vẫn là những bi kịch cuộc đời, nhưng ánh sáng lấp lánh trong mỗi truyện ngắn của Trần Thùy Mai lại là sự cao thượng, đức hi sinh, tình nhân ái

Ngoài ra, còn có những tiểu luận, luận văn tốt nghiệp đại học và thạc sĩ cũng đã giải quyết được một phần trong quá trình đi tìm hiểu phong cách truyện ngắn Trần

Trang 9

Thùy Mai, tuy nhiên chưa có một công trình nào quy mô và hoàn chỉnh đi sâu tìm hiểu yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của chị

2.3 Quế Hương

So với Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, thì Quế Hương là người đến với văn chương muộn hơn chút, nhưng số lượng tác phẩm và giải thưởng thì lại đong đầy

Năm tập sách phát hành (Quán búp bê, Thư gửi thời gian, Bí đỏ, Đám cưới cỏ, 27

truyện ngắn) và 14 giải thưởng, tặng thưởng là những gì chị nhận được từ chính mình

Đó cũng là sự đáp trả tương xứng của người đọc cho người đã miệt mài văn chương Tuy vậy, nghiên cứu về Quế Hương đa phần chỉ là những bài viết nhỏ lẻ, rời rạc chưa xứng tầm với những sáng tác của chị

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba trong bài viết Đọc “27 truyện ngắn” của Quế Hương đã

nhận xét: “Đọc truyện của Quế Hương ta nhớ tới Thạch Lam, Nguyên Hồng, Kim Lân,

Vũ Trọng Phụng Đọc truyện chị ta sẽ làm giàu tâm hồn mình vì học hỏi được nhiều điều cao quý: biết trắc ẩn, biết quan tâm đến kẻ khác, biết buồn đau Vâng, cuộc sống hôm nay có nhiều điều đáng ca tụng nhưng cũng không thiếu chuyện đau lòng Không

ca tụng thì chưa chắc đã làm hại ai nhưng thiếu phẫn nộ xót xa trước những chuyện đau lòng thì quả là đáng trách Hãy theo chị mà chiêm nghiệm những bi kịch của kiếp

người, để làm giàu những mơ mộng một cõi người tốt đẹp hơn, cho “gió phù vân của

cõi người đỡ buốt thấu xương”” [6]

Lê Thị Hường là người có nhiều bài viết về Quế Hương đăng trên tạp chi Non

Nước (9-2013) với bài viết Truyện ngắn Quế Hương - thế giới của những nỗi buồn rực

rỡ phát hiện trong truyện ngắn của chị “Lời vô thức - mạch trữ tình trội lên ở bình

diện thứ nhất, mạch tự sự chìm khuất sau những ngổn ngang hoài niệm” [39] Điều ấy khẳng định mạch trữ tình vẫn là mạch chủ âm trong giọng văn của Quế Hương Trong

bài viết Quế Hương - người đàn bà viết, Lê Thị Hường cũng từng nhận định: Quế

Hương là “người phụ nữ mảnh mai của những câu chuyện mảnh mai, hơi buồn tủi và hay mơ mộng; người phụ nữ của những câu chuyện về thân phận bọt bèo, tuổi thơ bị ruồng bỏ, tình yêu như con nước dịu dàng chảy xiết” [40] Đó cũng là một cách nói khác đi về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Quế Hương ở những mảng đề tài của chị

Lê Thị Minh Hiền trong bài viết Tình yêu và hoài niệm xứ Huế trong truyện

ngắn Quế Hương, đăng trên Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72 A, số 3, năm 2012

đã đi tìm một mạch nguồn xứ Huế thẳm sâu trong những trang văn của Quế Hương ở không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và cả ở những số phận con người Minh Hiền cho rằng: “Một tâm hồn dịu dàng, mỏng manh thì những câu chuyện tình yêu cũng nhẹ nhàng và đằm thắm chừng ấy” Cách yêu của các nhân vật trong truyện ngắn của chị

Trang 10

thường “lặng và nặng hơn Đó không chỉ là tình yêu đơn thuần mà đôi khi còn là tình thương giữa người và người với nhau nữa Nhân vật của chị cũng thế, không chỉ là những người phụ nữ yêu lặng thầm mà còn là những người đàn ông miệt mài dõi theo hình bóng của tình yêu đã xa Truyện của chị thường là những mối tình đơn phương không dám ngỏ lời, không chỉ của riêng tuổi trẻ, mà của trọn kiếp người ” [33]

Trong lời tựa cho quyển sách Đóa hoa không gai và con cừu không rọ mõm của

Quế Hương, Đoàn Ánh Dương đã có những nhìn nhận tinh tế: “Nói văn Quế Hương giàu nữ tính là đúng nhưng chưa thật đầy đủ Văn chị có những cái xốn xang, những day dứt, những đam mê rất đàn bà nhưng lại có những niềm tin, những hi vọng, những ước mơ vô cùng thơ trẻ Trái tim đa cảm của người phụ nữ nếm trải bao sướng khổ đời người lại đã luyến quyện với đầu óc trong sáng, tinh khôi của bé thơ chưa hề vẩn bụi trần ai Văn Quế Hương rung động và thấm thía ở những điều tưởng như nghịch lí ấy Thiên tính nữ vút lên ở chỗ trong nhọc nhằn mà không bi ai, trong đau khổ mà không

bi lụy, trong cay đắng mà vẫn bao dung Đó là hiện thân của một thế giới tinh thần buồn mà đẹp, thẳm sâu và đầy ánh sáng” [9] Những nhận xét ấy đã cho người đọc thấy rõ thế giới truyện ngắn của Quế Hương thường ưu ái dành nhiều đất cho phụ nữ

và trẻ em Cũng bàn về trẻ thơ trong truyện của chị, trong bài viết Truyện thiếu nhi của

Quế Hương nhìn từ góc độ giáo dục học trẻ em, tác giả Trần Viết Nhi đã thấy được

chất cổ tích thẫm đẫm trong những trang văn của chị Để từ đó những bài học giàu chất nhân văn được cất lên, không chỉ cho riêng trẻ thơ mà còn với cả người lớn “Nhà văn là hai lần kĩ sư tâm hồn, là một nhà sư phạm và là người bạn của trẻ em, bà đã, đang và sẽ còn làm được nhiều hơn thế, sáng tạo nên những tác phẩm với ý nghĩa đầy

đủ của nó, không phải là những hình thức bên ngoài mà còn cả sự chứa đựng bên trong, là tất cả những cung bậc ý nghĩa tốt đẹp biến thành tình cảm tốt đẹp đằng sau mỗi chữ, mỗi câu” [18]

Có thể thấy truyện ngắn Quế Hương là những ấn phẩm dịu dàng, đẹp đẽ dễ đi vào lòng người Nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về chị Đó cũng là một mảnh đất màu mỡ cần chúng tôi khám phá, sẻ chia với bạn đọc

Như vậy, qua khảo sát, chúng tôi có thể khẳng định rằng chưa có công trình nào

đi nghiên cứu toàn diện, hệ thống về chất trữ tình trong truyện ngắn 3 nhà văn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà và Quế Hương Hi vọng ở luận văn này chúng tôi có điều kiện đi sâu khám phá và góp phần khẳng định thêm tài năng và đóng góp của các nhà văn nữ, nhất là ba tên tuổi: Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương trong dòng mạch truyện ngắn trữ tình đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần

Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sẽ khảo sát truyện ngắn của ba tác giả: Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương Trong trường hợp cần thiết, có thể mở rộng thêm với một số cây bút nữ khác sáng tác sau 1975 như Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyên Hương, Ý Nhi…

4 Mục đích nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là khám phá yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương, từ đó khẳng định những đóng góp của các chị vào bức tranh đa dạng của truyện ngắn Việt Nam đương đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hướng đến 3 nhiệm vụ sau

- Tìm hiểu yếu tố trữ tình trữ tình trong bức tranh đa dạng, phong phú của truyện ngắn Việt Nam nói chung, truyện ngắn các tác giả nữ nói riêng sau 1986

- Tìm hiểu yếu tố trữ tình biểu hiện trên nội dung và hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn của ba tác giả nữ: Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương

- Ở một mức độ nhất định, lý giải nguyên nhân làm xuất hiện xu hướng trữ tình trong văn xuôi Việt Nam sau 1986

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân loại thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn khảo sát một cách toàn diện yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương, từ đó góp thêm một tiếng nói trong việc khẳng định vị trí của ba nữ nhà văn trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam đương đại

- Đề tài cũng soi sáng xu hướng trữ tình như một dòng mạch trong tiến trình vận động của văn xuôi nói chung, truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Trang 12

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn gồm 3 chương

Chương 1: Nhìn chung về xu hướng trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Chương 2: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương thể hiện trên phương diện nội dung

Chương 3: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương thể hiện trên phương diện nghệ thuật

Trang 13

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ XU HƯỚNG TRỮ TÌNH TRONG

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

những trường hợp trên, “trữ tình” được dùng với tư cách là một định ngữ, chỉ một sắc

thái, một tính chất Vậy có thể hiểu nội hàm của hai chữ trữ tình này như thế nào?

Muốn hiểu điều này, có lẽ chúng ta phải đi tìm nguồn gốc của nó

Tính từ trữ tình trong tiếng Việt được dịch từ lyric/lyrical của tiếng Anh và một

số ngôn ngữ châu Âu Còn danh từ “tính chất trữ tình” là lyricalness xuất xứ từ lyre là

tên một loại nhạc cụ dây mà các nhà thơ và ca sĩ hát rong ở Châu Âu thời xa xưa dùng

để đệm cho các chuyện kể, bài hát, hay sử thi của họ

Trữ tình trong tiếng Việt lại là một từ gốc Hán Theo nghĩa Hán tự, trữ là kéo

ra, rút ra, bộc lộ, bộc bạch; tình là cảm xúc, tình cảm (tình cảm nói chung, không giới

hạn hay loại trừ sắc thái nào) Tuy nhiên, nguời Việt hiện tại thường dùng từ gốc Hán

trữ tình trong chất trữ tình như một tính từ chỉ sắc thái nhẹ nhàng, tha thiết…

Tóm lại, trữ tình trong đời sống thường được quan niệm như một sắc thái, tính

chất thuộc bản chất của sự vật tồn tại một cách khách quan mà con người có thể cảm nhận được

Trong văn học, trữ tình là thuật ngữ của lí luận văn học được sử dụng trước hết để

chỉ một loại hình văn học nhằm phân biệt với các loại hình văn học khác như tự sự, kịch

Theo từ điển Thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

(chủ biên), “Trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống… Nguyên tắc tái hiện của phương thức này là “nguyên tắc chủ quan”, nghĩa là “mục tiêu của phương thức này không phải là tái hiện hiện thực đời sống một cách khách quan mà tái hiện hiện thực theo chủ quan của cảm xúc chiêm nghiệm tư tưởng của người viết”… Cái

“tôi” trong phương thức trữ tình thường trực tiếp trình bày cảm xúc tâm trạng của chủ thể trữ tình Luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì “nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm” [30;373 -374]

Nhiều học giả đã nghiên cứu về thuật ngữ trữ tình trong văn học Hêghen, nhà triết học cổ điển Đức nhận xét: “Ở trữ tình có sự trùng hợp của chủ thể và khách thể

Trang 14

trong một ngôi… Ở tự sự, nhân vật tách rời tác giả, được dùng làm nội dung cho tác giả, thì nhân vật trung tâm của tác phẩm trữ tình lại chính là người tạo ra tác phẩm, trước hết là thế giới bên trong của anh ta” [3;346]

Như vậy, khác với chất trữ tình trong đời sống thường được quan niệm như một

cái gì tồn tại khách quan, chất trữ tình trong văn học là sự kết hợp thống nhất giữa

những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo, cái nhìn chủ quan của nhà văn Tính chất trữ tình được quy định bởi cái nhìn (quan điểm, điểm nhìn) trữ

tình của chủ thể sáng tạo và bút pháp trữ tình được sử dụng như là cách thức, phương tiện biểu hiện cái nhìn trữ tình ấy trong tác phẩm

Ở bất kì một tác phẩm nào có cái nhìn trữ tình của chủ thể sáng tạo chi phối, có nghệ thuật trữ tình được sử dụng như một phương tiện để bộc lộ thế giới chủ quan thì

ở tác phẩm đó có tồn tại yếu tố trữ tình Ở đây có hiện tượng giao thoa thể loại: thơ thâm nhập vào các thể văn xuôi Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm yếu tố trữ tình trong truyện ngắn (đôi khi tương đồng với chất trữ tình) như là sự biểu hiện của tình cảm, cảm xúc của chủ thể sáng tạo, là sự thâm nhập của các yếu tố thơ vào trong nội dung và hình thức của thể loại truyện ngắn

Giao thoa thể loại là một thực tế tồn tại từ xưa đến nay trong đời sống văn chương Đó là hiện tượng các thể loại “gần nhau”, “nhìn sang” nhau, “hợp nhất vào nhau” là sự hút hương nhụy một cách đầy khôn ngoan để tạo ra những hình thức thể loại mới, mà truyện ngắn trữ tình chính là một ví dụ điển hình Với người Việt Nam, trữ tình nói chung và thi ca nói riêng luôn là một mạch nguồn thẳm sâu cắm rễ trong tâm thức Việt Đó chính là cội nguồn của chất trữ tình đằm thắm trong một bộ phận truyện ngắn của các nhà văn nữ giai đoạn sau 1975, tạo thành một dòng mạch sâu lắng

và đầy xúc cảm

Truyện ngắn thuộc loại hình văn xuôi, song nó gần với thơ bởi tính ngắn gọn hàm súc Những truyện ngắn thiên về miêu tả tâm trạng, cảm xúc, suy tư, nội tâm của nhân vật thường rất giàu chất thơ, giống như những “bài thơ văn xuôi” Theo K

Pauxtôpxki, tác giả của Bông hồng vàng và Bình minh mưa, cũng khẳng định: “Cái

chính là ở chỗ, khi văn xuôi đạt tới mức hoàn thiện, toàn mĩ thì về thực chất, nó đã thực sự là thơ”[53] Đỗ Ngọc Thạch cho rằng: “Truyện ngắn là một dạng cấu trúc đặc biệt của thơ Cái được gọi là thơ ở đây là chất trữ tình sâu lắng của nhân vật chứ không phải là sự uốn éo cầu kì trong câu văn hay sự cầu kì của tả cảnh”[60]

Thực ra, sự xâm nhập của thơ vào văn xuôi có nhiều dạng Ở đây, chúng tôi không nói đến thể thơ văn xuôi như một loại hình thơ độc lập của tư duy hiện đại, hoặc

những tác phẩm truyện được triển khai dưới hình thức thơ như truyện thơ chẳng hạn

Trang 15

Chúng tôi cũng không đề cập đến những trường hợp tác phẩm văn xuôi mà ở đó, thơ được đưa vào như một bộ phận trong cấu trúc tổng thể và chứa đựng một giá trị thẩm

mĩ nhất định Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rất tiêu biểu cho hình thức này

Từ một phía khác, chúng ta có thể thấy được hiện tượng giao thoa giữa trữ tình

và tự sự không phải chỉ ở cấu trúc bề ngoài mà là từ “cái nhìn bên trong” Chính sự kết hợp, trộn lẫn, xuyên thấm giữa các yếu tố hình thức và “cái nhìn bên trong” của thể loại khác nhau đã làm gia tăng khả năng biểu đạt của thể loại Mỗi thể loại đồng thời là

nó, đồng thời không chỉ là nó mà giàu có hơn bản thân nó Tuy nhiên, sự giao thoa này

ở từng hiện tượng văn học, từng tác phẩm rất khác nhau ở mức độ Có sự kết hợp tạo

ra thể mới như truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945 với các tên tuổi như Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh… Có sự kết hợp chỉ tạo nên một màu sắc thẩm mĩ mới, chất mới cho tác phẩm, trường hợp như truyện ngắn Pauxtopxki, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Nguyễn Quang Thiều…

Luận văn của chúng tôi đề cập đến yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương - những nhà văn nữ của nền văn học đương đại Qua tác phẩm của các nhà văn này, chúng tôi thử nhận diện đặc điểm phong cách truyện ngắn của Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương như một biểu hiện của

sự tiếp nối dòng truyện ngắn trữ tình trong văn học đương đại Việt Nam

1.2 Những biểu hiện của xu hướng trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại

1.2.1 Dòng truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945

Văn học thế giới đã từng biết đến những tên tuổi lớn của dòng văn xuôi trữ tình như A Đô đê, Pauxtôpxki… Dòng truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945 được tạo nên bởi tên tuổi của nhà văn Thạch Lam, Thanh Tịnh , Hồ Dzếnh, Xuân Diệu Họ đã đem đến một nguồn mạch trong trẻo mềm mại trong bức tranh truyện ngắn đa sắc, đa diện thời

kì này

Thạch Lam là đại diện tiêu biểu của dòng truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945 Truyện của ông đem đến cho văn xuôi đương thời một cách cảm thụ tinh vi, bình dị, mới mẻ, đầy khám phá đối với thế giới nội tâm của con người Thạch Lam thường khai thác chất thơ trong đời sống hàng ngày Những sự kiện, biến cố bề ngoài hay những xung đột giàu kịch tính không phải là điều ta có thể gặp trong văn Thạch Lam Ông đặc biệt tinh tế khi phát hiện, phân tích những biến thái nhỏ nhất của tâm hồn

“Có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây, khiến chàng vương phải” (Dưới bóng hoàng

lan); “Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào

tâm hồn ngây thơ của cô; Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác

Trang 16

trước cái giờ khắc của ngày tàn” (Hai đứa trẻ) Hai đứa trẻ là câu chuyện nên thơ kể về

hai chị em Liên An ngồi trông một quầy hàng tạp hóa nhỏ trong một buổi chiều tối như bao buổi khác Thời gian dù có sự dịch chuyển nhưng lại ngưng đọng trong một không gian ngập đầy bóng tối Bóng tối - bầu trời và những ngọn đèn đó là điểm tựa khơi dậy trong tâm hồn Liên một chuỗi những liên tưởng, kỉ niệm Người đọc không chỉ thấu cảm được tâm hồn lãng mạn với những ước mơ đẹp đẽ của hai đứa bé nghèo ở phố huyện nhỏ, mà còn cảm nhận thấy hồn quê hương, đất nước tỏa ra từ cái không gian thanh bình thấm đẫm chất thơ của buổi chiều Truyện ngắn của Thạch Lam vì thế gần giống một bài thơ văn xuôi, ở đó thiên nhiên được miêu tả không chỉ qua thị giác, thính giác, mà còn ở cảm giác: “Trên con đường gạch Bát Tràng rêu phủ, những vòng ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhẩy múa theo chiều gió Một mùi lá tươi non phảng phất trong không khí Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ ở trong căn vườn, tựa như bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngưng lại trên bục cửa bóng tối dịu và man mác loáng

qua những màu sắc rực rỡ chàng đem ở ngoài trời vào” (Dưới bóng Hoàng lan)

Nhà phê bình Phong Lê nhận xét: “Ở thế giới nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam, tất cả đều hiu hiu, đạm đạm, không có sự chói gắt, không có những vang động mạnh, nhưng lại gợi bao ám ảnh về số phận con người” Thời gian nghệ thuật của ông

là hiện thực được kéo lùi về quá khứ Không gian nghệ thuật của ông thường là các phố

huyện, chợ huyện, phố ga (Cô hàng xén, Tối ba mươi, Nhà mẹ Lê) Nhân vật của Thạch

Lam phần nhiều không rõ tính cách, chỉ bộc lộ những tâm trạng, những nét tâm lí Đó là những con người nội tâm, thường tự cảm về mình, giàu xúc cảm và ít hành động.Với một giọng văn rất riêng, Thạch Lam đã đến với người đọc bằng những lời nói thủ thỉ, nhẹ nhàng, đôi khi gần như thầm thì “Chúng tôi nghe ngóng cái yên lặng của buổi trưa

hình như theo dòng nước trôi ánh nắng đi xa” (Nắng trong vườn) Với những truyện

ngắn mang một phong cách độc đáo riêng biệt, Thạch Lam quả đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam và đặc biệt ông đã để lại những ảnh hưởng rất rõ rệt cho những nhà văn khác như Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Ngọc Giao, Thanh Châu

Rất gần gũi và bị ảnh hưởng về phong cách viết từ Thạch Lam là nhà văn mang trong mình dòng máu Việt - Hoa, nhà văn Hồ Dzếnh Hồ Dzếnh đã để lại nhiều dư vị đặc biệt trong lòng độc giả bởi tấm lòng nhân hậu, giàu thương cảm, ở sự gắn bó với quê hương và ngòi bút trữ tình thấm đượm chất thơ Mỗi truyện ngắn của ông là một cảnh đời, một mảnh hồn gần gụi lấm lem, vất vả, đau thương của con người Việt Nam

- nơi quê ngoại mà tác giả gắn bó bằng cả máu thịt và tâm hồn mình Đó đôi khi là những người mẹ, người chị nuôi, “những người đàn bà chỉ biết chịu khó vì chồng con,

Trang 17

không bao giờ một lời phàn nàn hay oán hận, mà ước mong sung sướng nhất là chỉ

được hi sinh mãi” (Thạch Lam - Tựa Chân trời cũ)

Văn Hồ Dzếnh thường đượm buồn, song không phải thứ buồn thi vị ngọt ngào

mà là nỗi buồn của chính những “số phận bắt buộc phải buồn rầu”, “người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ” khiến nhà văn phải day dứt, xót xa Thiên nhiên trong truyện ngắn Hồ Dzếnh thật đa dạng trong sự liên tưởng đầy chất thơ: “nắng tắt dần dần chỉ còn ánh vàng pha sắc tím Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn của Giang

Tây, Hồ Bắc, hoàng hôn ở đây tựa hoài như một chinh phụ nhớ chồng” (Ngày gặp gỡ)

“Bầu trời sáng và rộng, luôn luôn thấy những buổi chiều hiền hòa, cây xanh gió mát

nhịp nhàng với nhau như một bài thơ cổ” (Trong bóng rừng) Hồ Dzếnh có một khả

năng diễn tả tâm trạng mơ hồ rất tốt, nhiều trang văn chứa đầy sự lung linh, huyền bí

xa xôi, lơ lửng như đoạn miêu tả cảm giác của nhà văn trước cái đẹp của Fin - bông hoa rừng thật đẹp nhưng xa lạ, một thứ hương thơm mà kẻ nhìn ngắm nó không thể cầm nắm được trong tay “Nhiều lúc Fin nghiêng đầu, lắng tai vào không khí, tựa hồ như nghe ngóng một tiếng gì huyền bí, trong cái dáng điệu lơ đãng rất đáng yêu”

(Trong bóng rừng)

Văn xuôi Hồ Dzếnh đã thật sự mở rộng khả năng của truyện ngắn trữ tình Phá

bỏ cái khung chật hẹp của thể loại, đưa vào đó cái kích thước tối ưu của sự tự biểu hiện Ông đã tạo nên sự giao thoa, nối tiếp giữa truyện và thơ, không cần cốt truyện hấp dẫn, không cần nhân vật có tính cách độc đáo Truyện của ông bộc lộ một thái độ riêng tư, niềm thương cảm xót xa của ông trước những cảnh ngộ, biến cố Vì vậy dấu

ấn của tình cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của người trần thuật thường lấn lướt hơn, được tô đậm hơn so với biến cố và sự kiện bên ngoài So với Thạch Lam, Hồ Dzếnh bộc lộ mình qua những dòng độc thoại nội tâm rộng răi, chủ quan và thống thiết hơn Do vậy, truyện ngắn của ông gần với tùy bút hơn thơ

Là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, Xuân Diệu cũng đồng thời là một

cây bút văn xuôi đặc sắc Hai tập Phấn thông vàng và Trường ca đã góp cho văn đàn

Việt Nam những truyện ngắn mang hương sắc riêng, những truyện không có cốt truyện mà chan chứa chất thơ

Xuân Diệu viết văn như làm thơ Cốt truyện chủ yếu như cái cớ khơi gợi và mở

ra những hướng liên hệ, suy tưởng Truyện ngắn của ông luôn có một dòng cảm nghĩ trôi chảy như con suối nhỏ róc rách đem đến sự trong trẻo tươi mát cho tác phẩm Điều ông quan tâm là sự tự bộc lộ, giãi bày tâm trạng Những trạng thái tâm hồn thay thế cho các sự kiện, biến cố li kì của truyện tự sự thông thường Điều này đã làm biến đổi chủ thể sáng tạo để biến người viết văn xuôi trở thành một thi sĩ trong khả năng cảm nhận và

Trang 18

tự biểu hiện mình, so sánh tạt ngang với những liên tưởng bất ngờ, đa chiều ở những đoạn trữ tình ngoại đề luôn được mở rộng trong truyện ngắn Xuân Diệu tạo nên sức hấp dẫn kỳ lạ “Tôi thương hai cô như hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh khi chiều giăng

lưới qua muôn gốc cây” (Tỏa nhị kiều) Đó là một giọng văn đầy lãng mạn, đầy thơ với

những cảm nhận bay bổng, chơi vơi, mơ màng “Không gian đã thành một điệu vàng mênh mông: nắng vàng nhuộm vàng những cây và phấn thông vàng lẫn vàng trong

nắng” (Phấn thông vàng)

Cũng giống như Thạch Lam, trong sáng tác của mình Thanh Tịnh chủ yếu quan tâm đến thế giới tinh thần, nội tâm của con người Trong khi các nhà văn hiện thực quan tâm chủ yếu đến tình trạng xã hội Nhân vật trong truyện ngắn của Thanh Tịnh thường được tác giả nhìn ở chiều sâu của tâm linh với các trạng thái tâm lí, cảm xúc, cảm giác Thanh Tịnh đi vào những cuộc đời hiền lành, lầm lụi mà đáng quý, đáng

thương của lớp người dân quê, đặc biệt là phụ nữ Họ là Phương trong Bến Nứa, Hương trong Quê bạn, Duyên trong Bên con đường sắt… Ai cũng có một số phận

buồn nhưng vẻ đẹp bình dị của tâm hồn họ lại đằm thắm vươn lên trên những thăng trầm của số phận Tình người, tình quê, nghĩa xóm thấm đẫm trong từng trang văn của ông Không phải ngẫu nhiên mà không gian trong truyện ngắn Thanh Tịnh phần lớn là những làng quê Ở đó có dòng sông, bến đò, có bờ sông xanh ngắt cỏ cây, có những con người bình dị với những hoài vọng âm thầm, những tình cảm ngập ngừng, những điệu hò mái nhì, mái đẩy Không gian thơ mộng huyền ảo của những lãng mạn thăng hoa thành ngôn ngữ Thạch Lam đã thật tinh tế khi viết về ông bằng một hình ảnh

“Thanh Tịnh đã muốn làm mục đồng dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây

và những làn gió lướt bay trên cánh đồng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê”

Trong sự thành công rực rỡ của truyện ngắn 1930 -1945, dòng truyện ngắn trữ tình tuy số lượng tác phẩm không đồ sộ, số lượng tác giả không đông đảo, nhưng bản thân sự tồn tại của các tác giả như một giá trị tất yếu đã khẳng định rõ ràng: Đất nước Việt Nam với cảnh sắc, hương vị riêng, bình dị và thân thuộc vô cùng, hình ảnh con người Việt Nam trong một thời kì nhiều gian nan thử thách mà vẫn mang vẻ đẹp tinh thần độc đáo, nhuần nhụy yêu thương và bền bỉ, gan góc, đầy sức sống

1.2.2 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn cách mạng 1945 -1975

Văn xuôi Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến 1975 đã đi qua một giai đoạn ba mươi năm của nền văn học mới ra đời và phát triển gắn liền với cách mạng

và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Bên cạnh dòng chủ âm phục vụ chính trị, đề cao, cổ vũ lòng yêu nước, ý chí chiến đấu của toàn dân tộc, vẫn có những truyện ngắn lãng mạn, trữ tình với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Thành

Trang 19

Long với Lặng lẽ Sapa, Nguyên Ngọc trong sáng và cổ điển trong Rẻo cao, Đỗ Chu với

Hương cỏ mật, Ma Văn Kháng với Khúc hát người Mèo

Ma Văn Kháng nói: “Truyện ngắn phải có cái gì bay bay một tí, không nên mơ màng quá, mà trần trụi quá cũng không ổn” (Dẫn theo Bùi Việt Thắng) Những truyện ngắn - thơ giai đoạn này được viết nên từ chất liệu, cuộc sống kháng chiến cung cấp về cái đẹp, cái nên thơ, cái anh hùng và cái phi thường với một ngôn ngữ trong sáng và thấm đẫm chất thơ

Không khí nghệ thuật bao trùm trong Lặng lẽ Sapa là một không khí lặng lẽ,

mơ màng, sâu lắng Sapa đẹp đến nao lòng người: “Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt rượi, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe” Chính trên đỉnh Yên Sơn - Sapa ấy, tác giả đã tìm thấy vẻ đẹp của chàng thanh niên trẻ làm khí tượng thủy văn cũng đang cống hiến thầm lặng mà hết mình cho công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Đỗ Chu cũng là nhà văn bắt đầu cầm bút trong hoàn cảnh đất nước đang xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, lúc người ta đang chan chứa niềm tin, sự lạc quan vào công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước Thứ nữa, nguồn sách báo ảnh hưởng lúc

bấy giờ là văn học Nga với những tên tuổi của Pauxtôpxki qua những tác phẩm Bông

hồng vàng và bình minh mưa, hay Lẵng quả thông đã đem đến cho người đọc một cái

nhìn lí tưởng về một xã hội hài hòa đang được hướng đến Bước đầu Đỗ Chu đã được chịu ảnh hưởng sâu sắc của những yếu tố ấy và những trang viết của Đỗ Chu đã tạo được tiếng vang và ấn định cho nhà văn một phong cách riêng - phong cách trữ tình

Phan Cự Đệ trong cuốn Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử, thi pháp - chân dung đã giới

thiệu cho độc giả một chân dung truyện ngắn Đỗ Chu, phát hiện ra sở trường của ông

là “nhà văn mạnh về trực giác” bởi lẽ Đỗ chu “có cái nhìn đời tươi xanh, lãng mạn, thơ mộng, biết rung động trước những biến thái nhỏ nhất, linh diệu nhất của đời sống” Vì thế khi đọc truyện ngắn Đỗ Chu, người đọc như được sống trong một không khí truyện đặc thù được tạo nên bởi cảm giác - cảm xúc rất mạnh của nhà văn Điều này tạo nên sắc điệu, giọng điệu trữ tình của truyện ngắn Đỗ Chu Khác với các cây bút văn xuôi đương thời tìm vào tuyến lửa phản ánh những khốc liệt của chiến tranh và sự sống - cái chết gần kề bên người lính, Đỗ Chu lại rẽ sang một nhánh sông nhẹ nhàng và êm ả hơn Nhà văn viết về tâm hồn nghệ sĩ bay bổng lãng mạn, tinh tế và nhạy cảm nhưng cũng đầy tinh thần nhiệt huyết chống giặc ngoại xâm Đỗ Chu ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn,

những nghĩ suy, trăn trở và thế giới tình cảm phong phú nhạy cảm của họ (Chiến sĩ

quân bưu, Ráng đỏ, Đường qua nhà) Đặc biệt, nhà văn hướng ngòi bút khai thác

những đề tài tình yêu thơ mộng và lãng mạn của những người lính trong chiến tranh

Trang 20

(Chuyện mùa hạ, Tiếng vang của rừng) Phảng phất nét nhẹ nhàng e ấp, trong sáng

như phong vị của tình yêu trong các sáng tác của Thạch Lam Thứ văn xuôi giàu chất thơ của Đỗ Chu chảy tràn trên từng câu chữ đã mang lại cho lòng người một thứ tình cảm ấm áp, tin yêu

Lê Minh Khuê cũng là một cây viết nữ đặc sắc thời kì này Truyện ngắn của bà thường thấm đượm chất trữ tình, chủ yếu là cốt truyện tâm lí, khó tóm tắt, đôi khi chỉ là sự đan dệt của cảm giác, cảm xúc mong manh, mơ hồ trong tâm hồn con người Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã nhận xét: “Truyện ngắn Lê Minh Khuê bộc lộ khả năng cảm nhận đời sống có những ấn tượng rất mơ hồ nhưng lại có căn cứ” Lê Minh Khuê đã thành công khi tái hiện những quá trình tâm lí với những chấn động tinh thần, những số phận cá nhân với những khát khao hạnh phúc đời thường, nhân bản, đặc biệt là phái nữ Đời sống nội tâm của phái nữ thường sống nhiều với những cảm xúc mơ hồ, những ý nghĩ thoáng qua, tất cả đều mong manh và rất khó nắm bắt Đó là xúc cảm của Mi trong giây phút gặp Bình

trên công trường (Cơn mưa mùa hạ) Cô như lần đầu tiên được sống với tình yêu với

những ước mơ, ảo vọng, khác hẳn cảm giác: “sống không ra người” của mình trước kia

Đi sâu vào khám phá những thế giới tâm lí phức tạp Lê Minh Khuê đã thể hiện một cái nhìn chân thực sâu sắc về con người Trong những tác phẩm của thời kì đầu cầm bút giữa bom đạn khốc liệt, thời đại mà chúng ta ra đi không hẹn ngày về như tác giả từng thừa nhận Nhiều khi gặp nhau đấy, quen nhau đấy, thân đấy nhưng chẳng bao giờ dám nghĩ đến ngày gặp lại Nhiều khi những con người ấy lướt qua mình như cổ tích, như huyền thoại làm nên sự bí ẩn về nhau của những con người Điều ấy giải thích vì sao các nhân vật trong sáng tác Lê Minh Khuê thời kì này lại đẹp đẽ đến vậy Những Nho, Thao, Định

(Những ngôi sao xa xôi) trong sáng, vô tư, dũng cảm trên chiến trường gian khổ, khốc liệt,

nguy hiểm nhưng vẫn giàu lãng mạn và mơ ước

Đối với các nhà văn Nam Bộ ở tuyến đầu tổ quốc, người đọc có thể thấy chất trữ tình lãng mạn xuyên suốt trong các tác phẩm của họ tạo nên một sắc màu lung linh

huyền thoại, hấp dẫn riêng như: Đất (Anh Đức), Bông cẩm thạch (Nguyễn Quang

Sáng) Phải chăng trong thời điểm bão lửa đạn bom ấy người ta cũng muốn cân bằng lại Đứng trước sự dữ dội khốc liệt của chiến tranh người ta muốn tìm đến một sự thăng bằng cho tâm hồn, tìm đến bến nước trong lành neo đậu cho trái tim Chính vì vậy mà bên cạnh những trang viết đầy hiện thực khốc liệt, người ta không quên khỏa lấp, xoa dịu bằng hình ảnh của thiên nhiên, của tiếng chim, của hương hoa bưởi, của mảnh trăng thượng nguồn hay những cử chỉ ân tình, ân nghĩa của con người Truyện ngắn 1945 - 1975 là một giai đoạn đặc biệt trong tiến trình phát triển nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

Trang 21

1.2.3 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn sau 1975

Sau năm 1975, văn học Việt Nam nói chung, truyện ngắn nói riêng trở nên hết sức đa dạng Xu hướng dân chủ từ sau 1975, đặc biệt từ 1986 tạo cho văn học một kiểu nhà văn mới Tiếng nói trữ tình nhạt đi rất nhiều, bởi từ 1975 đến những năm 1990 tiếng nói tố cáo hiện thực, nhìn lại vấn đề được bung mở, cởi trói Chiến tranh lùi xa nhường chỗ cho hiện thực sau chiến tranh với cơn lốc của nền kinh tế thị trường làm đổ vỡ bao giá trị Người ta có độ lùi của thời gian để nhìn lại, soi chiếu và phán xét bao điều khuất lấp dang dở của hiện thực Trong khoảng mười lăm năm đó, có thể nói theo quan sát của chúng tôi thì tính trữ tình trong văn chương có phần nhạt, cảm hứng giễu nhại phê phán nổi lên như một giọng điệu chủ đạo

Từ 1990 trở về sau, tiếng nói trữ tình lại bắt đầu tìm lại được vị trí của mình Có

lẽ bởi sau những nghi kị, ngờ vực chống tiêu cực, người ta cũng muốn tìm lại sự cân bằng, họ muốn tìm về những giá trị vĩnh cửu muôn thuở của con người Chính vì thế tiếng nói trữ tình lại có dịp trở lại Bên cạnh những truyện ngắn đào sâu vào hiện thực nghiệt ngã, hay tìm đến với kì ảo thâm trầm, hoặc lối viết trào lộng thâm thúy, dòng mạch trữ tình tha thiết vẫn như một dòng suối nhỏ miệt mài trôi chảy góp phần làm cho dòng văn học Việt Nam ngày một lớn mạnh, phong phú Những cây bút tiêu biểu cho mảng viết này có lẽ phải kể đến Nguyễn Quang Thiều, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thúy

Bên cạnh đó là những tên tuổi như Linh Vang, Lưu Quang Vũ Truyện ngắn Linh Vang thường có một nỗi buồn lan tỏa khắp mỗi câu mỗi chữ, nỗi buồn của tình yêu không thành, không tới hoặc có tới cũng ngậm ngùi, được viết với một phong cách trữ tình đằm thắm Truyện của chị giàu chất đời nhưng không chỉ đơn thuần là những truyện tả chân, ở đây, tác giả đã bứt lên được cái có thực đến tận cùng để tìm ra một cái gì đó cao hơn của con người, đó là đời sống tâm hồn vốn rất không rành mạch, vốn

bí ẩn khó giải thích rạch ròi bằng lí trí

Truyện ngắn Lưu Quang Vũ cũng mang đậm chất thơ, bởi chủ thể sáng tạo đã nhìn thế giới xung quanh qua lăng kính của thơ Trung thành với hồn thơ của mình, Lưu Quang Vũ tránh xa những cốt truyện gay cấn, những xung đột căng thẳng, đã từ chối việc kiên nhẫn lần theo sự hình thành các tính cách tuần tự, lớp lang mà thiên về nắm bắt những khoảnh khắc đáng nhớ của đời người Một cuộc gặp gỡ bất ngờ, một tình huống ngẫu nhiên, một sự vỡ lẽ, thức nhận, một trải nghiệm cay đắng, những giằng xé nội tâm, những trăn trở, lựa chọn, những hồi ức và kỉ niệm gợi thức những hoài vọng, nuối tiếc về quá khứ, những khát vọng sống thật nhân bản và có ích cho hiện tại và mai sau Chính từ những điều thoáng qua tưởng không đâu vào đâu đã âm thầm hiện hình,

Trang 22

mỗi lúc một sắc nét, gợi lên những ám ảnh, giăng mắc trong lòng người đọc (Hoa xuyến

chi, Tiếng hát, Mùa hè đang đến)

Nguyễn Quang Thiều là nhà văn trữ tình ngay từ tiêu đề tác phẩm, người đọc

nhận ra chất thơ thấm đẫm trong cách đặt tên truyện: Giấc mơ hoa cỏ trắng, Lời hứa

của thời gian, Khúc hát của dòng sông, Tiếng gọi cuối mùa đông… Dẫu “viết về làng

quê mộc mạc, hay viết về tình yêu và số phận những người phụ nữ, truyện ngắn của anh vẫn luôn hòa trộn tài tình cái ảo và cái thực, thể hiện sâu đậm chất cổ tích giữa đời thường.” [10] Đằng sau những ngổn ngang nghịch lí và mâu thuẫn của đời sống, tác phẩm của anh vẫn hướng tới niềm tin và sự hi vọng tràn đầy vào những điều tốt đẹp, níu giữ trái tim người đọc, neo lại hồn mình trên những cốt truyện pha màu cổ tích

Bên cạnh những cây viết nam là sự xuất hiện, đóng góp của các nhà văn nữ vào tiếng nói trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Điều này chúng tôi sẽ nói đến

ở mục tiếp theo Có thể nói, truyện ngắn ở giai đoạn này vừa mang dấu ấn truyền thống của thể loại truyện ngắn trữ tình, đồng thời vừa phát triển phong phú về số lượng tác phẩm và đề tài, đáp ứng nhu cầu và hiện thực xã hội Do đó, truyện ngắn trữ tình ở thời

kì này đã gặt hái được nhiều thành công, đem đến chất thơ cho văn xuôi, làm đậm thêm dòng mạch trữ tình, và đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ nhiều chiều của bạn đọc

1.3 Xu hướng trữ tình trong truyện ngắn nữ sau 1975

1.3.1 Nhìn chung về truyện ngắn nữ sau 1975

Ở Việt Nam, văn học sau 1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với những cây bút thực tài như: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đoàn Lê, Y Ban, Phạm Thị Hoài Họ đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, và giàu thiên tính nữ

Nằm trong mạch vận động chung của văn xuôi Việt Nam sau 1986, truyện ngắn với ưu thế nhỏ gọn của hình thức, sự chuyển tải nhanh nhạy những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội đang có nhiều khởi sắc Bàn về văn xuôi sau 1975, Nguyên Ngọc nhận định: “Đến đây bỗng thấy một quy luật rất thú vị về sự phát triển của thể loại văn học Truyện ngắn bỗng nổi bật lên hàng đầu Những năm trước truyện ngắn gần như lịm đi,

bị đè bẹp dưới những sức nặng của tiểu thuyết dã chiến ngồn ngộn Bây giờ len qua kẻ

hở của vô số tiểu thuyết ngổn ngang kia, nó ngoi lên và bừng nở Tôi có cảm giác chúng ta đang đứng trước một vụ được mùa truyện ngắn Truyện ngắn đông, nhiều và thật sự có một số truyện ngắn hay”[50]

Thời kì đổi mới, truyện ngắn đã có những mùa gặt bội thu, đã có cây sai, trái ngọt Bắt mạch rất nhanh vào sự vận động của văn xuôi đương đại, truyện ngắn nữ

Trang 23

phác họa nên một dung nhan đằm thắm, rực rỡ xuất phát từ sự mẫn cảm của bản thể nữ giới Dường như mọi sự biến đổi hình thức nghệ thuật của văn xuôi đương đại ta đều

có thể quan sát thấy ở hiện tượng này Điều quan trọng, truyện ngắn nữ “nhập cuộc” với một bản sắc riêng in đậm dấu ấn của giới tính sáng tạo nghệ thuật Gần như đồng loạt, có đến hàng chục nhà văn nữ xuất hiện, đem đến một không khí mới mẻ cho văn chương nước nhà Không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng gọi văn học đương đại là nền văn học “mang gương mặt nữ” Những Phạm Thị Minh Thư, Lý Lan, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Lập Em đã làm nên một bước ngoặt của dòng chảy văn học nữ Việt Nam Không có nhiều trải nghiệm chiến tranh nhưng lại sống trong không gian của những tái nhận thức về cuộc chiến ấy

Từ cái nhìn của người phụ nữ những vấn đề mà họ đặt ra trong những truyện ngắn: Có

một đêm như thế (Phạm Thị Minh Thư), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Tiếng rừng (Hiền Phương), Đàn sẻ ri bay ngang rừng (Võ Thị Xuân Hà) chắc chắn

là những tiếng nói không thể thiếu trong mọi nhìn nhận về văn học giai đoạn này Họ phản ánh thật thấm thía, xúc động, những bi kịch tinh thần của con người và xã hội những năm sau chiến tranh Đặc biệt, họ nghiêng hẳn sự đồng cảm, xót thương về “nỗi đau thời hậu chiến” ở những người cùng giới với mình, một nỗi đau âm ỉ, rất “đàn bà”

Đó là nỗi đau của tình yêu đầu đời với những người lính đã ra đi mãi mãi cứ khắc

khoải trong tâm hồn những người đàn bà sâu sắc (Người đàn bà với những bông bần

ly - Dương Thu Hương, Chuyện thời con gái - Nguyễn Thị Như Trang), nỗi đau đầy bi

cướp đi cả khả năng làm mẹ của người phụ nữ, đẩy họ lâm vào cảnh sống trong vai

người vợ hờ trước cuộc sống vợ chồng thật của người chồng với cô vợ bé (Phận đàn

bà - Thùy Dương) Sâu sắc hơn các nhà văn nữ còn cho ta thấy một bi kịch đầy chua

xót đầy những giằng xé nội tâm: bi kịch của những con người vỡ mộng, lạc lõng giữa cuộc đời Tiếng nấc nghẹn ngào vọng về quá khứ của Thảo: “Em là người sót lại của

rừng cười nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em” (Người sót lại của rừng cười -

Võ thị Hảo) có lẽ chính là tiếng kêu than của rất nhiều người phụ nữ bất hạnh vì chiến

tranh (Ngọa sinh - Võ Thị Xuân Hà)

Các nhà văn nữ cũng là người mở đường cho sự xuất hiện các không gian cá nhân (trong những mối quan hệ gia đình, bạn bè, và với chính bản thân), vừa như một vấn đề tự thân, vừa như một nỗ lực thay thế các không gian xã hội thời chiến (trong mối quan hệ dân tộc, cộng đồng) đang dần nhạt nhòa trước đời sống dân sự mới mẻ Xuất phát từ các trải nghiệm giới và tính dục, đời sống đương đại trong tác phẩm của họ thể hiện những cảm nhận khác lạ, khó tìm thấy trong văn học của nam giới, trong nền văn

Trang 24

học bị nam tính chi phối trước đó Dạ Ngân với Trên mái nhà người, Con chó và vụ li

hôn, Y Ban với I’m đàn bà, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Đoàn Lê với nhóm những sáng tác

về Xóm Chùa, Phan Thị Vàng Anh với Khi người ta trẻ, Kịch câm, Nguyễn Thị Thu Huệ với Hậu Thiên Đường là những sáng tác tiêu biểu từ những nhận thức mới ấy

Phải chăng vì “Phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới” (Vương Trí Nhàn), nên hiện thực cuộc sống với những mặt trái, những góc khuất được các cây viết

nữ thẳng thắn, trực diện miêu tả trong truyện ngắn của họ Chỉ có điều, trên những trang văn nữ, “tiếng vọng của thời thế, có khi chỉ là những va chạm nhỏ, những xao động khẽ” của cuộc đời Họ tìm thấy cảm hứng bất tận trong mảng đề tài tình yêu, hôn nhân và gia đình Bằng sự mẫn cảm bản năng, các cây bút nữ đã tung hoành “khai phá muôn mặt phức tạp của cái hiện thực ngồn ngộn những đa đoan, đa sự, đầy cái “lỉnh kỉnh dở dang” của đời sống thường nhật này Trong những trang đời ấy, dư âm niềm vui

ít hơn nỗi buồn, bi kịch nhiều hơn là hạnh phúc Nhưng ngay từ sâu thẳm nỗi đau, niềm tin vẫn ánh ỏi nhen lên, bởi có lẽ chính “thiên tính nữ” đã lưu giữ rất bền chặt tinh thần nhân văn trong mỗi một trang viết Tình yêu, dù ở bất cứ cung bậc nào vẫn tồn tại vĩnh

cửu trong sự bao dung vị tha (Cuối mùa nhan sắc - Nguyễn Ngọc Tư, Con sóng Đồng

tháp Mười - Nguyễn Thị Phước); người phụ nữ dù có những giây phút xao lòng, những

khao khát trần thế nhưng cuối cùng họ vẫn tìm lại, đứng vững trong cái thiên chức làm

vợ làm mẹ của mình (Lúa hát - Võ Thị Xuân Hà, Cánh cửa thứ chín - Trần Thùy Mai,

Sau chớp là giông bão - Nguyễn Ngọc Tư) Phải chăng thiên tính ấy đã giúp phái nữ tự

cân bằng mình, trong văn chương và trong cuộc đời

Đến với văn chương như một cách trải lòng, để giải tỏa những cảm xúc, ẩn ức, các nữ văn sĩ đã mang đến “bức chân dung tinh thần tự họa” rất ấn tượng về giới mình

Có thể nói, chưa bao giờ, mảng hiện thực của những “cái tôi rất đàn bà phong phú, phức tạp và sâu sắc” lại được khám phá một cách “tận cùng như vậy”

Tạo tác hình ảnh của mình bằng ngôn ngữ và trải nghiệm của mình, truyện ngắn

nữ sau 1975 đã rọi chiếu cái nhìn mới vào quá khứ dân tộc, vào hiện tại hỗn độn bất bình quyền vẫn còn trong bóng đổ của truyền thống được kiến tạo ấy Và cùng với đó cũng là lần đầu tiên, thân thế của người nữ được hiện diện tự thân, đẹp riêng màu nhục thể Tất cả làm nảy sinh một hình ảnh về người phụ nữ mới, nuôi giấc mộng bất tòng thuộc các quy chiếu của truyền thống nam quyền cũ và để thể hiện như chính họ mong muốn Chính họ tạo ra từ cái nhìn riêng thuộc về họ Người đàn bà viết về người đàn

bà, không chỉ dành cho đàn bà

Dẫu rằng, còn tồn tại những hạn chế thuộc về giới tính trong sáng tạo nghệ thuật (ở sự đa dạng của đề tài, ở tầm khái quát hiện thực xã hội rộng lớn) nhưng với một thế

Trang 25

mạnh khác (tư duy thiên về hướng nội), truyện ngắn nữ đương đại đã mở rộng phạm vi hiện thực phản ánh cho văn học bằng cách riêng của mình: đi sâu vào những số phận, cuộc sống, tâm hồn của những con người rất bình dị, nhỏ bé (thậm chí là cá biệt) xung quanh ta, đặc biệt là người phụ nữ Truyện ngắn của các chị chỉ là “lát cắt” cuộc đời, ghi lại một khoảnh khắc, một tâm trạng, xúc cảm, nhưng đó là một “lát cắt ” rất “ngọt”, đằm sâu, nhiều trắc ẩn, dư ba Sự xen cài giữa màu sắc nữ quyền và nữ tính trong sáng tác của thế hệ các nhà văn nữ này làm nên sức hấp dẫn riêng có của nó; mời gọi tiếp nhận

và đồng thời thách thức các nỗ lực diễn giải

1.3.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn nữ sau 1975

Có thể nói, cùng với hành trình của người phụ nữ khi bước chân vào văn đàn hiện đại là tiếng nói trữ tình tha thiết Dấu ấn của họ trong văn chương nói chung và trong truyện ngắn nói riêng là dấu ấn trữ tình, mặc dù trữ tình không phải là đặc quyền của họ Tuy nhiên trước 1975, để chất trữ tình ấy thành vệt, thành dòng chảy thật trong văn đàn thì chưa hẳn Như trên đã nói, chỉ từ sau 1986, người ta thấy sự tham gia ào ạt vào văn đàn của một loạt các nhà văn nữ có phần lấn át các đấng mày râu, tạo nên hiện tượng “âm thịnh dương suy Chính sự tham gia tích cực ấy đã tạo nên sự khởi sắc cho văn học đương đại, tạo nên sự đa dạng sắc màu cho bức tranh truyện ngắn đương thời với nhiều chân dung đậm nét Như các truyện ngắn gây sốc của Phạm Thị Hoài, Ðỗ Hoàng Diệu, sắc sảo, táo bạo như truyện ngắn Y Ban, thông minh tinh quái như truyện ngắn của Vàng Anh Nhưng rồi, dường như theo thời gian, cái đọng lại của những người phụ nữ viết ấy vẫn là tiếng nói trữ tình Ngay cả trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài, dù gây sốc nhưng đằng sau sự gây sốc ấy ta vẫn nhận thấy một sự khắc khoải đến

độ nhà văn không thể dùng một giọng điệu trữ tình bình thường để biểu đạt mà phải

dùng một giọng điệu trữ tình đầy tính chất nghịch lí Hoặc như khi đọc Người sót lại của

rừng cười (Võ Thị Hảo) dù đau đớn, xót xa cái bi kịch hậu chiến nhưng vút lên trên cả

vẫn là khát vọng đau đáu của con người về tình yêu và hi vọng Nếu khai thác sâu vào đời sống hiện thực thì những người cầm bút nữ không quyết liệt, rốt ráo đến tận cùng nhưng nếu như bước chân trữ tình thì họ càng thấm thía, sâu sắc trên từng con chữ

Mặt khác, theo những nhà nghiên cứu hiện nay, vấn đề giới trong văn học rất được quan tâm và họ đã từng chỉ ra điểm mạnh của các nhà văn nữ, đó là họ có tiếng nói riêng mang sắc màu khá khu biệt Dường như chúng ta có thể thấy, họ thường nghiêng về tình cảm, nghiêng về đời thường và có những đề tài đặc hữu của người phụ

nữ và ngoài phụ nữ khó ai có thể thay thế được Nhân vật trong truyện ngắn của các chị đa phần là những người phụ nữ, những mảnh đời của họ là những nốt nhạc trầm buồn, đẹp đẽ nhưng lẻ loi, cô độc trong tâm hồn, hay đau đáu một niềm riêng không

thế nào bày tỏ Trần gian có mưa, Câu hát tìm nhau (Quế Hương), Triết gia, Hoàng đế

một đêm (Nguyễn Hương), Nàng công chúa lạc loài, Trăng nơi đáy giếng (Trần Thùy

Trang 26

Mai) Chỉ những người cùng giới mới có thể “tự ăn mình” để phơi bày ra một “hệ lụy” rất riêng của phái nữ như thế

Trong xã hội đầy rẫy những lo âu bận rộn, người phụ nữ là những chủ thể trữ tình hết sức nhạy cảm, so với nam giới họ tiên cảm được nhiều điều hơn Từ sự mong manh của tình yêu, đến sự mỏng mảnh của hạnh phúc, sự diệu vợi của tình đời cho đến cảm

giác lo âu trước cuộc đời Mẹ con đậu đũa của Nguyên Hương khiến người đọc rưng

rưng cảm xúc trước tấm lòng của người cha đơn thân, nghèo khổ, dành hết tình yêu cho

đứa con thơ dại của mình Hai tiếng “Cải ơi ” trong tác phẩm cùng tên của nhà văn

Nguyễn Ngọc Tư đầy khắc khoải của người cha mang nỗi đau bị hiểu nhầm vì đứa con riêng của vợ bỏ đi khiến người đọc không thể không xót xa ngay cả khi trang sách đã

gấp lại Thuyền trên núi của Trần Thùy Mai lại khiến ta nhói lòng về một tình yêu đẹp

đẽ mà vô vọng như tạc vào thời gian hòn vọng phu thứ hai của văn học đương đại Có phải vì vậy mà những tình huống truyện bình dị, giản đơn được họ nắm bắt lấy và dệt nên những câu chuyện về tình người đằm thắm nên thơ đến bất ngờ: một buổi lên thành

phố đi chợ mua muối của một cô gái ở vùng quê hẻo lánh (Lúa hát - Xuân Hà), sự nhầm tưởng mình có thai của một cô gái trẻ chưa có gia đình (Có con - Phan Thị Vàng Anh), một chuyến về thăm quê ở vùng cao của một người con đi học xa nhà (Sau những

mùa trăng) Và hình như những cảm giác hoang mang, lo âu, thấp thỏm, trở trăn cũng

đến sớm hơn với người phụ nữ vốn là những con người sống bằng cả trái tim mẫn cảm

Hơn thế, trong xã hội thời bình, bên cạnh cái xô bồ nhộn nhạo của cuộc sống mưu sinh, người ta cũng cần những khoảng lặng trong trẻo và dường như lúc này người phụ nữ làm nhiệm vụ điều tiết không gian văn học tốt hơn cả Tất cả những điều

ấy có thể cho phép chúng ta tin rằng người phụ nữ có ưu thế trong việc làm đậm lên tính chất trữ tình vốn có của văn học đương đại Việt Nam mà tiêu biểu là Võ Thị Xuân

Hà, Trần Thùy Mai, Quế Hương

1.4 Nhìn chung về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương

1.4.1 Hành trình sáng tác của Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương

1.4.1.1 Trần Thùy Mai

Người Huế, nhưng Trần Thùy Mai lại được sinh ra ở Hội An, vào đúng năm có hiệp định chọn vĩ tuyến 17 ngăn đôi đất nước, 1954, khi mẹ chị làm hộ sinh tại đây So với bạn bè cùng trang lứa, Trần Thùy Mai phát lộ năng khiếu văn chương khá sớm, từ thời “em đi gót nhẹ xanh hồn cỏ” với e lệ áo dài, nón lá trường Đồng Khánh Hai thành phố cổ thơ mộng, hiền hòa với tất cả cảnh vật, con người, văn hóa đã đi vào trong những trang văn của chị dung dị, nhẹ nhàng, khó quên Một bên thì mơ màng

sương khói: Lên non ngậm ngãi tìm hương/ Em đây ở với người thương tới cùng Còn

Trang 27

một bên thì dữ dội: Tay em cầm con dao sắc, trao qua cái rổ, cắt cổ con kê/ Hai ta lên

miếu mà thề/ Cạn sông lở núi đừng hề bở nhau Có phải vậy không mà văn chị vừa

dịu dàng như dòng Hương vừa đằm sâu như Thu Bồn chảy mãi Những năm trước giải phóng (1975), chị học trường trung học Đồng Khánh Huế Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, chị được giữ lại làm giảng viên bộ môn văn học dân gian của khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Huế Từ năm 1987 đến nay, chị là biên tập viên Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

Năm 1975, 22 tuổi, Trần Thùy Mai có truyện ngắn đầu tiên đăng báo Văn nghệ

và sự nghiệp văn chương của chị bắt đầu từ đó Dẫu biết đa đoan, chị vẫn chìm đắm trong hạnh phúc được sống, yêu và viết Sau này, nhìn lại sáng tác của mình bấy giờ, chị nhận ra tuổi trẻ nhiều say mê nhiệt huyết nhưng “truyện mình còn dàn trải lắm”, khi đã qua nhiều trải nghiệm, thăng trầm trong cuộc đời, trang văn của chị đã sâu lắng,

cô đọng, dữ dội và quyết liệt hơn

Bản thân nhà văn là người phụ nữ rất nhạy cảm và tinh tế Chị luôn lo sợ sự cô độc vì nó đem đến cho chị cảm giác không yên ổn Cuộc sống không bình lặng khiến chị luôn khao khát kiếm tìm sự đồng cảm, sẻ chia để xua đi cảm giác cô đơn trống vắng trong lòng Với chị “viết văn là một cách để thương yêu”, nên trên từng trang viết của chị luôn hiện hữu tấm lòng thương yêu chan hòa với cuộc sống Toàn bộ các nhân vật trong truyện ngắn của chị đều mang dáng dấp riêng và được nhà văn gửi gắm những tâm sự, suy nghĩ của mình về cuộc đời, con người

Văn chương đã giúp chị vượt qua được những giới hạn chật hẹp của chính mình

để đến với những chân trời mới Không ồn ào, vội vã chạy theo những thị hiếu tầm thường, chị lặng lẽ, kiên trì tạo được những bước đi vững chắc trong làng truyện ngắn Những năm tháng làm giảng viên Đại học, chị cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay, tập

Bài thơ về biển khơi (1983) Sau đó một năm, Cỏ hát, tập truyện thứ hai của chị (in

chung với Lý Lan ra đời) Với ngọn lửa đam mê được yêu, được viết, được cùng sống với số phận mỗi nhân vật mình tạo ra, Thùy Mai liên tiếp cho ra đời các tập truyện ngắn để lại dấu ấn sâu đậm, có sức sống lâu bền trong lòng người đọc Năm 1994, tập

truyện ngắn Thị trấn hoa quỳ vàng ra mắt bạn đọc và sau đó, gần như đều đặn, hàng năm chị đều có tác phẩm xuất bản: Trò chơi cấm (1998), Gió thiên đường (2000), Quỷ

trong trăng (2001); Biển đời người (2002); Thập tự hoa (2003); Đêm tái sinh (2004), Mưa đời sau (2005), Lửa hoàng cung (2007), Mưa ở Strasbourg (2007), Một mình ở Tookyo (2008) Sự ra đời các tập truyện như là cách để chị nuôi dưỡng ngòi bút và tri

Trang 28

ân với độc giả Với văn chương, Trần Thùy Mai không ồn ào, rất tĩnh lặng, nhẹ nhàng nhưng lại có sức lan tỏa và luôn có một lượng độc giả ổn định

Cho đến nay, hơn ba mươi năm cầm bút với 12 tập truyện ngắn, 4 tác phẩm được chuyển thể thành phim và một số giải thưởng xứng đáng (Giải B của Hội nhà văn

Việt Nam năm 2002 cho tập Quỷ trong trăng, giải thưởng Văn học nghệ thuật năm

2003 của Ủy ban toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam cho tập Thập tự hoa và giải thưởng hàng năm của hội VHNT Thừa Thiên Huế năm 2008 dành cho tập truyện Một

mình ở Tôkyo) Nhà văn Trần Thùy Mai đã thực sự tìm được chỗ đứng trong lòng độc

giả Người ta biết đến truyện ngắn của chị bởi sự nhẹ nhàng, lặng lẽ, tinh tế, sâu sắc trong con người và sáng tác của một nhà văn “giàu tính nữ bậc nhất trong làng truyện ngắn hiện nay”

1.4.1.2 Võ Thị Xuân Hà

Võ Thị Xuân Hà sinh năm 1959, chị thuộc số nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Xuân Hà sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tuy nhiên quê gốc lại là Thừa Thiên Huế Xuân Hà mang trong mình đậm đà hai dòng văn hóa của hai vùng đất văn hiến Một Hà Nội - nghìn năm văn hiến, một Huế - cố đô trung tâm Phật giáo, thành trì cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Chị ăn và uống nước sông Hồng nhưng vẫn ngấm sâu trong từng mao mạch là sự dịu dàng bí ẩn của dòng Hương Bởi vậy văn chị vừa có cái mãnh liệt và bất ngờ của dòng Hồng Hà, vừa có cái thâm trầm bình thản, sâu thẳm và dữ dội của sông Hương xứ Huế Đó là điểm nổi bật mà người đọc dễ dàng nhận thấy trong những đứa con tinh thần của chị Trước khi đến với nghiệp văn, chị từng là một nhà giáo dạy toán, thế rồi, yêu văn, chị rẽ sang một hướng mới ít ai ngờ: thi vào Tổng hợp Văn, cho đến khi gần hết khóa học, chị bỏ dở rồi tiếp tục thi, vào học và đỗ tốt nghiệp thủ khoa trường viết văn Nguyễn Du Chị thuộc mẫu người thích “xê dịch” Từ năm 1993 đến 2000, Xuân Hà làm phóng viên ở các báo: Vì trẻ thơ, Thiếu niên Tiền Phong, và tiếp đó là Trưởng ban biên tập báo Điện ảnh kịch trường Từ 2000 - 2001 là trưởng phòng biên tập tổng hợp nhà xuất bản Văn học Hiện nay chị đang sống ở Hà Nội, và là một trong những cây bút sáng tác sung sức

Với Võ Thị Xuân Hà, văn chương là nỗi niềm, là thân phận, là lương tâm, là định mệnh, là những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy tư từ những năm tháng sống lặn lội mưu sinh Chị cầm bút vì luôn day dứt “Viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế”,

“viết để làm mặn cuộc sống” Chạm ngõ làng văn bằng tập truyện ngắn Vĩnh biệt giấc

mơ ngọt ngào, Nxb Văn học, 1992 Đến nay, cái tên Võ Thị Xuân Hà đã định hình

trong lòng độc giả bởi khả năng sáng tạo phong phú, đa dạng: hiện chị đã cho xuất bản

hai cuốn tiểu thuyết (Tường thành và Trong nước giá lạnh); hai tập truyện dài (Chiếc

Trang 29

hộp gia bảo và Chuyện ở rừng sồi); bốn kịch bản phim (Chiếc hộp gia bảo, Chuyện ở rừng sồi, Đất lặng lẽ và Trăng nơi đáy giếng); một tập khảo cứu (Gia đình Phật tử)

Nổi bật nhất là ở lĩnh vực truyện ngắn, với 15 tập truyện đã xuất bản, trong đó có nhiều tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc, người ta vẫn nhắc đi nhắc lại hàng chục năm nay

như: Đàn sẻ ri bay ngang rừng; Ngày hội lúa, Lúa hát, Cà phê yêu dấu, Bay lên miền

xa thẳm, Trôi trong sương mù, Nơi dòng sông chảy qua Đặc biệt, khi Đàn sẻ ri bay ngang rừng ra đời - tác phẩm đươc đánh giá là thành công nhất của Xuân Hà ở cả cảm

hứng, phong cách lẫn mức độ lôi cuốn cảm xúc ở người đọc Hàng loạt tác phẩm của

chị tiếp tục ra mắt người đọc sau đó như: Chuyện của người con gái hát rong; Làn

khói mong manh, Con đường vô tận, Thế giới tối đen, Không khóc ở Seoul Đam mê

cái đẹp, cái thiện, hướng đến cùng cho cái đẹp cái thiện, những trang văn của Võ Thị Xuân Hà giống như những bài ca về con người và tình yêu cuộc sống

1.4.1.3 Quế Hương

Quế Hương là bút danh của nhà văn Nguyễn Thị Thương Từ cô nữ sinh Đồng Khánh đến cô giáo dạy Việt văn trung học Thành Nội - Huế, văn chương như một nghiệp dĩ ngấm vào tâm hồn chị Để rồi, lúc vừa buông viên phấn, ngọn bút của nhà văn Quế Hương lại cho ra đời những trang văn đằm thắm, dịu dàng mà khắc khoải, da diết… Văn của chị lôi cuốn người đọc bởi “nỗi buồn ấm áp” được chưng cất từ bao điều bé mọn của cuộc sống thường ngày Đó là thứ văn như chắt ra từ sâu thẳm thương yêu Có thể nói rằng, chất trữ tình trong truyện ngắn Quế Hương không chỉ là một “dư vị” khó quên mà còn báo hiệu một phong cách đang được định hình

Quế Hương gia nhập làng văn khoảng chừng 15 năm nay Trong khoảng thời gian ấy, chị đã để lại trong trí nhớ người đọc một ấn tượng dữ dội bởi những mẩu chuyện rất xúc động Quế Hương từng tâm sự “có lần tôi buồn bã ngắm chân mẹ, chân

mình thế là Đôi chân biết khóc ra đời” Tập truyện đầu tay này đã mở ra cho Quế

Hương một khoảng trời mới Đến bây giờ chị đã cho ra đời 1 tập thơ, 1 tập tản văn và một số tập truyện viết cho người lớn và thiếu nhi Đặc biệt chị là một người rất có duyên với giải thưởng, với 13 tặng thưởng, giải thưởng về truyện ngắn Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Quế Hương quan niệm, văn chương dù thế nào vẫn là cõi ảo, muốn đến với sự thật phải băng qua hư cấu, tưởng tượng Văn chương là cõi tái tạo chứ không phải tái hiện cuộc đời Vì thế, truyện của chị “là những giấc mơ cuộc đời trên giấy” - những khát khao về người về đời Với Quế Hương cuộc đời vẫn vậy, tốt - xấu, thiện - ác song hành, ngổn ngang Chỉ có nhà văn mới có quyền thay đổi thực tại

ấy theo tâm thế, tâm cảnh của mình Và với trái tim lương thiện, đa cảm, tài nữ gốc Huế cần mẫn dệt nên những giấc mơ cuộc đời tuyệt đẹp trên những trang văn bay

Trang 30

bổng Truyện của chị vì thế là gieo cho người đọc những niềm ám ảnh, khát vọng vô

bờ Những truyện ngắn như: Chiếc lá hình giọt lệ, Phố Hoài, Đóa hoa không gai và

con cừu không rọ mõm mang hơi thở của những bản tình ca buồn, nhẹ nhàng mà sâu

lắng, như chính con người chị vậy Trong gia tài truyện ngắn của nữ văn sĩ ấy còn dành một góc rất lớn cho mảng đề tài thiếu nhi Đặc biệt là chị thường nhìn chúng ở một góc nhìn riêng, đó là những đứa trẻ đang lớn, và chúng không hoàn toàn trẻ con

theo cách nghĩ đơn giản của người lớn (Trốn tìm, Ả ìa âu, Cò gà, Vua lũ đồ chơi) Đồng cảm với trẻ nhỏ chị nói “Tập truyện này tôi dành tặng / Những đứa trẻ non tơ

như nụ trên cành/ Những đứa trẻ già trong thế giới người lớn/ Những người lớn sống với trẻ con” Và có lẽ vì vậy, dù là ai đi chăng nữa, cũng đều tìm thấy bóng dáng mình

trong thế giới truyện ngắn của chị

Đôi lần, Quế Hương có ý định buông bút vì tuổi tác, bệnh tật Chị viết chậm rãi, nhưng còn hơi thở là còn khao khát cầm bút Niềm đam mê văn chương đối với người đàn bà cầm bút ấy mang sức mạnh của nước, khắc khoải, len lỏi, kiếm tìm những khuất lấp, vụn vặt đời thường để dệt nên những áng văn đẹp và trĩu buồn - những nỗi buồn lung linh ấm áp của cõi nhân sinh

1.4.2 Ba cây bút nữ giàu yếu tố trữ tình

Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương là những nhà văn cùng thế hệ, họ cũng giống như Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc ra đời trong khoảng thời gian cuối những năm 1950 cho tới những năm 1960 Họ là những nhà văn nữ cầm bút đầu tiên sau chiến tranh Cả mênh mông khoảng trời hậu chiến mở ra, mời gọi các cây bút

nữ Có lẽ chính điều ấy đã cho họ có một sự đồng điệu trong cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhận thế giới và rồi gặp nhau ở hướng đi trữ tình trong cách viết truyện ngắn Đây là thế hệ nhà văn nhận được sự kì vọng lớn lao của xã hội cũng như những lớp nhà văn đi trước, với mong muốn tạo ra các thay đổi cơ bản trong nền văn học Việt Nam Và quả thực, sự có mặt của họ đã góp phần đem lại một sắc diện mới mẻ cho văn học đương đại lúc bấy giờ

Cả ba nữ văn sĩ đều có chung gốc Huế, từ trong huyết quản, họ đã mang hơi thở, văn hóa miền Trung - mảnh đất mưa nhiều, nắng lắm và con người ân nghĩa sắt son Nét trầm mặc, bí ẩn rất Huế ẩn sâu trong từng trang viết của họ, gợi nên một không gian bảng lãng u trầm giàu chất trữ tình từ hàng cây, nhà vườn, đến nhịp điệu chậm rãi,

từ tốn như vòng quay thời gian nhịp nhàng, như dòng chảy sông Hương lững lờ đi vào trong truyện ngắn của họ Chất Huế hiện lên tinh tế trong sáng tác của các chị còn gửi gắm ở những trang văn viết về ẩm thực Huế, hay đôi khi chỉ là ở một cách diễn đạt, một

Trang 31

giọng điệu dạ thưa nhỏ nhẹ như điệu Nam ai, Nam bình của vùng đất kinh kì thơ mộng Như nhà văn Hoàng Thị Huế từng nhận xét: “Người đọc có thể cảm nhận những âm vang của đất trời và lòng người qua một chút bảng lảng khói sương, hay những thanh

âm trầm mặc, u buồn của tiếng chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, chút mộng mơ trong đôi mắt buồn thương nhớ bâng quơ của người con gái Huế” [36] Họ là những họa sĩ trong trang văn Họ vẽ thần thái Huế chứ không cần vẽ phong cảnh, vì thế Huế hiện lên trong truyện ngắn của họ rất đẹp, nhưng tầm vóc cái đẹp không đo bằng chiều cao, chiều rộng mà ở chiều sâu, một chiều sâu của mấy trăm năm văn hóa Có thể nói, vẻ đẹp của những trang văn Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương chính là nằm ở con người các chị, tâm hồn các chị, tâm hồn của một người phụ nữ Huế

Trước khi đến với nghiệp văn chương, họ đều từng là những nhà giáo, cầm phấn rồi cầm bút, họ đều trăn trở đi tìm cách hướng cho con người bước tới một thế giới của Chân - Thiện - Mĩ Họ chọn những trang văn vì đó là cách dung dị và gần nhất để đến với trái tim người đọc Được mất của văn chương không thể tách bạch rõ ràng, nhưng những người “đã mang lấy nghiệp vào thân” đều cảm thấy mình đã có những hạnh phúc riêng mà người khác không thể có được Dạ Ngân coi nhà văn là “kẻ

cô đơn giữa bầy đàn của mình”, Phan Thị Thanh Nhàn từng lao đao vì những câu thơ trong trẻo bị hiểu nhầm Nhưng Xuân Hà hơn một lần thừa nhận, nếu “không có văn chương đời tôi còn bất hạnh hơn” [14] Còn nhà văn Quế Hương từng chia sẻ rằng, đọc và viết giúp chị bước ra khỏi khung cửa hẹp của đời mình, để thấy thế tục thẳm sâu hơn và cõi người lung linh bí ẩn hơn Hay như cách Trần Thùy Mai tự bạch: “Điều tôi ước mong là dựng lại sau những số phận nhỏ bé linh hồn mong manh và u uẩn của quê hương tôi Trên vùng đất mà tôi đã sống, đã thương yêu, tôi khơi những con giếng nhỏ, từ đó cố chạm mạch nguồn chung của cõi người” [41]

Không quyết liệt, rốt ráo, họ chọn cho mình một dòng mạch trữ tình để cùng nhau bước Chính vì thế, đọc văn của Thùy Mai, Xuân Hà, Quế Hương, người đọc ít thấy sự xô bồ, hỗn tạp của cuộc sống, hầu như chỉ thấy trong những trang viết của các chị sự thanh thoát, nhẹ nhàng, dẫu có bi kịch nhưng vẫn đầy tin yêu ở cuộc đời Trần Thùy Mai từng tâm sự: “Tôi luôn tâm niệm là giữ cho tâm hồn mình sự rung động trước cuộc sống và nuôi dưỡng niềm tin vào con người Vì con người rất đẹp và cho dù nó có mặt xấu xí tầm thường đi nữa thì mình cũng không thể sống mà không yêu thương” Với quan niệm như thế về cuộc sống và con người họ đã đề cập đến những số phận riêng lẻ, những khát vọng, những bi kịch nhân sinh từ góc quan sát khá hẹp: gia đình, tình yêu,

và những quan hệ đời thường Thực ra, tiếp cận hiện thực từ góc nhìn đời tư là cả đặc điểm của truyện ngắn sau 1975 chứ không riêng gì các chị Chỉ tính riêng các nhà văn

nữ ta có thể bắt gặp tư duy nghệ thuật này ở Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Nguyễn

Trang 32

Thị Thu Huệ với sự bàng hoàng trước cuộc sống, niềm trăn trở trước sự sa sút của nhân tính, sự băng hoại đạo đức ở một lớp người do mặt trái cơ chế thị trường; những cảnh bức bối ngột ngạt, những vết rạn nứt, những cơn sốc và sự khủng hoảng trong quan

hệ vợ chồng, cha con, anh em nhưng nét khác biệt của ba nhà văn này ở chỗ, họ viết

về gia đình với những câu chuyện bình thường giản dị mà chan chứa lòng thương yêu và

niềm tin, hi vọng Cũng có những Hoa hướng dương, Ở một nơi xa xôi, Thương lắm

ngoại ơi (Trần Thùy Mai), Lúa hát, Giấc mơ, Ngày hội lúa (Võ Thị Xuân Hà), Nhìn từ vĩnh cửu, Đáo bỉ ngạn (Quế Hương) là những câu chuyện như thế Có những truyện

họ đề cập đến mâu thuẫn gia đình dẫn đến sự chao đảo và nguy cơ đổ vỡ hạnh phúc, nhưng chị đã đặt nhân vật vào những day dứt, giằng xé giữa tình yêu, cuộc sống và nghệ thuật, buộc họ phải tự cân nhắc, đắn đo dể đưa ra lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quan

niệm đạo đức truyền thống Đọc các truyện ngắn Cánh cửa thứ chín, Cuốn sách, Một

chút màu xanh (Trần Thùy Mai), Trần gian có mưa (Quế Hương), Ngôi sao chiếu mệnh

(Võ Thị Xuân Hà) ta thấy rõ điều đó

Là những nhà văn trữ tình, một trong những nét nổi bật của truyện ngắn của các chị là sự thể hiện con người cá nhân với cái tôi nội cảm thiên về tâm hồn, tình cảm Có những truyện là những dòng chảy ý thức, hồi ức về tình yêu, cuộc sống thấm đẫm những khát vọng tốt đẹp về con người, cuộc đời nhưng cũng mang đầy vị mặn của

những đau khổ, mất mát (Lửa của khoảnh khắc, Thương nhớ Hoàng Lan - Trần Thùy Mai, Tre nở hoa, Câu hát tìm nhau - Quế Hương, Trôi trong sương mù, Chuyện của

người con gái hát rong - Võ Thị Xuân Hà) Với việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội

tâm, truyện ngắn của ba nữ văn sĩ luôn là nhịp thở của trái tim nồng nàn, say đắm Nhân vật của các chị sống bằng tâm hồn, nặng lòng với chữ tình, trái tim đập nhờ hơi

ấm tình yêu, dù đó là tình yêu bất toàn hay trọn vẹn của cả một đời người Nhờ đó, người đọc nhận thấy, tình yêu không chỉ đơn thuần là tình cảm nam nữ, mà còn là biểu tượng của khát vọng tuyệt đối, là sự níu giữ niềm tin, sự băn khoăn kiếm tìm lẽ sống

Bao năm rồi, chỉ lặng lẽ như thế họ đi, không dữ dội, ồn ào, không gây sốc, cũng chẳng làm ai giật mình Và cũng lặng lẽ như thế, với một giọng văn trữ tình, lãng mạn, giàu cảm xúc nhè nhẹ gõ vào lòng người đọc Một chút u buồn, một chút niềm vui, một chút đa cảm và rất nhiều liên tưởng về quê nhà, một dòng sông, một tuổi thơ lầm lụi, một tình yêu không thể lãng quên là những gì người đọc nhận được từ trang viết của các chị Gặp nhau ở những điều dung dị bé mọn ấy, họ nâng niu trân trọng từng khoảnh khắc đời sống và cho nó hóa thân thành vĩnh cửu trên trang viết Và gấp

trang sách lại, những khúc nhạc lòng trữ tình ấy còn chảy mãi trong ta

Trang 33

Chương 2 YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI,

VÕ THỊ XUÂN HÀ, QUẾ HƯƠNG THỂ HIỆN TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Yếu tố trữ tình thể hiện trong cách khai thác đề tài

Nằm trong phạm vi nội dung của tác phẩm văn học, đề tài là lĩnh vực cuộc sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản Mỗi một tác phẩm mang một đề tài, rộng hoặc hẹp, tùy vào lĩnh vực đời sống mà nhà văn lựa chọn Mỗi nhà văn thường chỉ lựa chọn những đề tài mà mình hiểu biết sâu sắc và

có cảm hứng mãnh liệt Lựa chọn đề tài là bước đầu thể hiện khuynh hướng và ý đồ sáng tác của nhà văn Tất nhiên, có rất nhiều nhà văn cùng chọn một hệ đề tài, nhưng không phải họ cùng có chung một ý đồ sáng tác, thể hiện chung một khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật Vấn đề là ở chỗ, trên đề tài ấy, tác giả bày tỏ thái độ và cách đánh giá như thế nào Xử lí đề tài mình lựa chọn như thế nào để đạt mục đích nghệ thuật luôn là sự quan tâm, trăn trở của các nhà văn

Khảo sát truyện ngắn ba nhà văn nữ Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Quế Hương, chúng ta phát hiện ra rằng, họ đã thử sức mình trên rất nhiều loại đề tài khác nhau, như: Đề tài lịch sử với những trớ trêu của số phận con người; đề tài cuộc sống đương đại với những vui buồn muôn thuở; đề tài tình yêu hôn nhân với những ngọt bùi cay đắng Xin lưu ý rằng, sự phân chia của chúng tôi về đề tài trong sáng tác của họ chỉ có tính chất tương đối, còn trên thực tế ranh giới của các đề tài nhiều lúc không dễ phân định

2.1.1 Đề tài lịch sử và những trớ trêu của số phận con người

Đề tài lịch sử là một trong những khuynh hướng rõ nét của văn xuôi Việt Nam nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng Theo đó, sự kiện, nhân vật lịch sử được các tác giả dùng làm chất liệu để sáng tạo và phản ánh hiện thực theo cái nhìn và cách kiến giải riêng của nhà văn “Nếu tiểu thuyết là sự mở ra trên chiều rộng, thì truyện ngắn

về lịch sử lại là những mũi khoan vào một số tầng vỉa của hiện thực, làm phát lộ những suy tư sâu sắc về con người và xã hội (xã hội của quá khứ nhưng luôn được soi chiếu ở hiện tại)” [11] Với đề tài này, nhiều nhà văn đã thực sự tìm được đất viết, tiêu biểu có Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo Nhưng khi tiếp cận đề tài này, nữ nhà văn của chúng ta có những cách khai thác và kiến giải rất riêng Nữ giới thường chọn những chân dung đa phức, cuộc đời vinh quang lẫn đắng cay để cảm nhận, luận bàn lịch sử từ “mỹ học của cái khác” Điểm gặp gỡ của các nhà văn nữ là chọn mỹ nhân lịch sử - những con người đôi lúc được huyền thoại hóa hoặc thông tục hóa - làm đối

Trang 34

tượng trung tâm của cảm hứng nghệ thuật Giai nhân - anh hùng, nhan sắc và quyền lực, hồng nhan bạc mệnh những motif quen thuộc được lưu giữ từ vô thức nhân loại, qua

cái nhìn nữ giới trở thành những khúc bi ca thân phận giàu tinh thần nhân bản (Nàng

công chúa té giếng của Trần Thùy Mai; Mây vờn trên đỉnh Mã Yên của Vũ Thanh Lịch, Ngày cuối cùng của dâm phụ, Sóng vỗ mạn thuyền, Sóng nhồi vào sóng của Trần Thị

Trường, Hương thôn dã, Nắng quái Tây Nam thành của Nguyễn Thị Kim Hòa v.v )

Tuy nhiên, trong truyện ngắn của Quế Hương và Võ Thị Xuân Hà, đề tài này nhạt hơn, còn riêng với Trần Thùy Mai thì đây vẫn là khoảng trời chị có thể tự do phóng bút và thể hiện cái nhìn riêng của mình ở những góc khuất lịch sử ít ai biết đến

Sinh ra ở mảnh đất kinh kì xứ Huế, nơi các vương triều Nguyễn đóng đô mấy trăm năm, bao thăng trầm của những triều đại gắn liền với những phận người vinh nhục, sướng khổ Lựa chọn đề tài này, Trần Thùy Mai không hề tái hiện lại lịch sử với những biến động xã hội lớn lao của nó, cũng không quan tâm nhiều đến những người anh hùng thời đại từng làm nên lịch sử một thuở như Nguyễn Huy Thiệp Chị chỉ tập trung đến số phận của những con người “bị cả lịch sử lẫn văn học bỏ quên” Đó

là Thể Cúc (Thể Cúc), Nàng Tấm (Thần nữ đi chân không), Quỳnh Thơ (Lửa hoàng

cung), Ngọc Bình (Nàng công chúa té giếng),Tống Nương (Tống Nương), Chăn Tha

(Chăn Tha), Cường Để (Nơi có những cây tùng xanh biếc) Đa phần đó là những

nhân vật nữ, những người đàn bà nhỏ bé trong lịch sử, họ là vương phi, quý phi, công chúa của vương triều Nguyễn Họ chỉ có cái tên rất nhỏ trong lịch sử, nhưng bi kịch của cuộc đời thì rất lớn Và bi kịch ấy không phải của riêng một thời nào Đó là bi kịch giữa khát vọng và hiện thực, bi kịch giữa tài sắc và sự nghiệt ngã của số phận, bi kịch bởi những xung đột và thành kiến xã hội, bi kịch của sự tự ý thức Trần Thùy Mai

“thường đi sâu thể hiện số phận bi kịch của những người phụ nữ tài sắc, bị vùi dập phũ phàng giữa những cơn biến động xã hội Nhà văn nữ này thường chọn một sắc giọng cảm thương pha chút ngậm ngùi, ẩn sâu bên trong là một sự đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc đối với con người nói chung, người phụ nữ nói riêng” [10] Trong truyện ngắn

Nàng công chúa té giếng, số phận của Ngọc Bình - nàng công chúa nhà Lê, vốn là vợ

Quang Toản - vị vua cuối cùng của triều Tây Sơn - trở thành chiến lợi phẩm và làm vợ thứ ba của vua Gia Long Mấy mươi năm bà phải làm vợ và sinh con cho một người đã

xé xác chồng mình, sống giữa những ánh mắt kì thị, ghẻ lạnh của hoàng cung Nàng được vua sủng ái còn vì nàng chính là một “ngôi mộ sống” khiến cho nhà vua hả hê tận hưởng chiến thắng nhiều lần Để rồi, trong giấc ngủ, ánh mắt Quang Toản cứ ám ảnh nàng hàng đêm Trần Thùy Mai vén bức màn xa hoa cung cấm, cho người đọc thấy những góc khuất chốn cung phi Nơi những người đàn bà phải sống trong một

Trang 35

“thế giới nhỏ nhặt, nhàm chán, lặng lẽ” Sự giam hãm trong bốn bức tường thành hết

năm này qua năm khác như con chim trong cái lồng son Công chúa Quỳnh Thơ (Lửa

hoàng cung ) đã phải sống cuộc đời đè nén, giam hãm như vậy và nàng khao khát biết

gương mặt một người đàn ông như thế nào Chính hành động nổi loạn ấy đã khiến nàng bị đày xuống lãnh cung tối tăm lạnh lẽo Nhưng sau đó hai năm, lại trở thành niềm hạnh phúc của nàng, trong một đêm bạo biến, nàng đã được giải thoát bởi một chàng dũng sĩ phóng ngựa trắng đi đón mặt trời Cái kết giàu chất thơ ấy phải chăng chính là những khát vọng sống mà nhà văn muốn gửi gắm tới độc giả? Phải chăng nhà văn muốn nói: Nếu sống hết mình với lí tưởng và đam mê của mình thì sớm muộn gì con người cũng sẽ có hạnh phúc

Viết về bi kịch lịch sử với những trớ trêu của thân phận con người nhưng qua

đó nhà văn Thùy Mai lại gửi gắm một tình cảm nhân đạo của một nhà văn hiện đại Chị chua xót cho phận người tài sắc như Tống Nương, mượn nhan sắc để sống dựa vào quyền thế, nhất là sau khi Chúa mất, nhưng kinh thành đổi chủ, họa phúc khôn lường Cuối cùng, để cho Tống Nương tự biết sai lầm của mình, dường như Thùy Mai muốn nhắn nhủ tới những con người hiện đại rằng: quyền uy không phải là tấm lá chắn vạn năng, một khi con người không tự làm chủ được cuộc đời của mình thì tiền bạc, danh vọng cũng chỉ là hư vô Cho nên khó có thể phân biệt rạch ròi rằng Trần Thùy Mai viết lịch sử để nhìn nhận lịch sử hay là dùng quá khứ để nói hiện tại

Viết về lịch sử không thể thiếu xung đột Bởi lẽ, không vương triều nào trong quá khứ lại không có tranh chấp, quyền bính, mưu mô Tuy vậy, với đặc trưng “lát cắt”, “giải cấu trúc” truyện ngắn nữ không thiên về xung đột bên ngoài Kịch tính chủ yếu được khai thác ở bình diện tâm lí nhân vật, với những mâu thuẫn nội tại, những ẩn mật che giấu Tham vọng và cô đơn, tình yêu và quyền lực, man trá và ngọt ngào, những mặt đối lập không ngoại trừ của bất cứ vương triều nào đều phát lộ từ góc nhìn bên trong Từ những cốt truyện dã sử, Trần Thùy Mai khoác cho những câu chuyện của mình một cái phông nền huyền thoại, lịch sử trở thành chất liệu để sáng tạo nghệ thuật Nhà văn không mô tả quan điểm chính sử mà mạnh dạn đi vào ngõ ngách tâm hồn nhân vật, khiến nhân vật hiện lên sống động, gần gũi với cuộc sống hôm nay Chính vì vậy, thay vì nương theo dòng thời gian sự kiện, cách kể chuyện có trước có sau kiểu biên niên, Thùy Mai chọn cho mình một cách viết men theo tâm trạng, hồi ức

nhân vật Trong truyện ngắn Tống Nương, mạch kí ức đứt nối, pha trộn hiện tại quá

khứ nhập nhòa tái hiện Khi thì hình ảnh chúa Phúc Lan với những yêu thương, sủng

ái Khi thì nhà ngục rùng rợn với những ngón đòn tra tấn dã man Khi thì hình ảnh của Thừa Nhi xuất hiện tất cả chảy tràn theo dòng ý thức của nhân vật Xuất phát từ một

Trang 36

cái nhìn sâu sắc về tâm lí, những nhân vật lịch sử của chị được miêu tả không phải giản đơn, một chiều từ phía người trần thuật, bằng điểm nhìn bên trong với việc vận dụng độc thoại nội tâm, chị đã để nhân vật mình tự bộc lộ, ý thức về bi kịch cuộc đời

họ.Trong truyện ngắn Nơi có những cây tùng xanh biếc, tác giả kể về Hoàng Thân

Cường Để - một ông hoàng yêu nước lạc loài lưu vong nơi đất khách, với niềm cô đơn

và khát vọng hồi hương đau đáu Miêu tả nỗi đau của ông, tác giả vừa thông qua điểm nhìn của AndoChie - người phụ nữ Nhật sống trọn bên ông bằng tình yêu thương những ngày lưu lạc, vừa để cho ông tự giãi bày niềm đau qua những dòng ý thức miên man về nỗi lòng cố quốc Xây dựng tác phẩm theo dòng tâm thức của nhân vật, nhà văn có điều kiện đi sâu vào những diễn biến tâm lí phức tạp, khiến cho nhân vật lịch

sử hiện lên rất người

Cách tạo dựng không khí lịch sử của nhà văn nữ thật ấn tượng Mỗi truyện ngắn

là một liên cảm giác của những âm thanh, mùi vị, màu sắc, biểu tượng gợi cảm Chị thường sử dụng biểu tượng như một chuỗi móc xích nối kết những mảnh ghép tâm trạng, những phiến đoạn ý thức và vô thức Lãnh cung, những ngọn đèn lồng; bóng tối, lửa, mùi hương…biểu trưng cho quyền lực, cho những chói lòa lịch sử thếp vàng sơn son, cho nhan sắc lẫn những tranh đoạt, hằn thù bí ẩn cung đình “Trẫm là vua, cả giang sơn này là của trẫm, tại sao lại không thể định đoạt số phận một người đàn bà?”

(Nàng công chúa té giếng)

Đó chính là điểm khác biệt khá độc đáo của chị Trong chính sử, các sử gia thường ghi chép khá sơ lược về những nhân vật này, thậm chí có những phần bị giấu nhẹm, nhưng qua những dòng chữ còn lại đó, ta có thể thấy những số phận, những tình cảm rất con người Trần Thùy Mai muốn dùng văn học phục dựng những chỗ bị lướt nhòa ấy bằng sự nhìn nhận con người lịch sử với những gì nó vốn có, riêng tư, góc khuất, những gì mà lịch sử không ghi lại, không muốn công nhận nó bởi một mục đích hay điều kiện nào đó Đây là thế mạnh của Trần Thùy Mai nói riêng và cũng là hướng tìm tòi đã được khẳng định bằng tác phẩm của văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975 nói chung Sự thức nhận lại các nhân vật lịch sử cho thấy các nhà văn nữ đã làm một cuộc đối thoại thẳng thắn với lịch sử Khơi mở một mảng đề tài, chọn một trường nhìn hướng tâm, các nhà văn nữ đã góp phần làm nên sự phong phú và chiều sâu của truyện ngắn 30 năm đổi mới

2.1.2 Đề tài cuộc sống đương đại với những vui buồn muôn thuở

Không còn tập trung quan tâm đến số phận, hạnh phúc của cả cộng đồng, dân tộc như trước, các tác phẩm văn học sau năm 1975 (đặc biệt sau 1986), hướng tới những con người đời thường trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp

Trang 37

Qua lăng kính của văn học, cuộc sống không giản đơn rạch ròi thiện - ác, cao cả - thấp hèn mà là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp “rồng phượng lẫn rắn rết” (Nguyễn Minh Châu) Các nhà văn trăn trở về những vấn đề gay gắt, gai góc nhất của cuộc sống đương đại Lúc này, văn học “thực hơn và đời hơn” Hiện thực cuộc sống phong phú, phức tạp được khúc xạ qua lăng kính của nhà văn, phản ánh cảm nhận cuộc sống của

họ Với trái tim đa cảm, họ xúc động trước những cảnh đời, cảnh người và thường mỗi nhà văn sẽ đặc biệt quan tâm đến những đề tài nhất định

Thế giới hiện thực không phải lúc nào cũng là những niềm vui, hạnh phúc như những vườn cây trái sum suê quả ngọt, mà nó còn có cả vị đắng cay và chua chát Tất

cả những sự tốt đẹp hay xấu xa đều có trong thế giới con người Với Quế Hương, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, hiện thực cuộc sống là tất cả những gì xung quanh mà tác giả chiêm nghiệm Họ đã trải qua thời gian dài để trải nghiệm, nhận thức, đúc kết cho mình những tư tưởng, tình cảm và thái độ riêng trong cách nhìn nhận con người, nhìn nhận xã hội Đọc văn của họ, ta cũng thấy rõ bức tranh thời đại mà mình đang sống nhưng dưới cái nhìn nhẹ nhàng, sâu lắng, ý vị và đầy xúc cảm hơn

Với truyện ngắn Con đường vô tận, Võ Thị Xuân Hà đã đưa lên trang giấy không

chỉ một gánh vui chơi có thưởng trong một hội chợ tỉnh lẻ, mà đó còn là một bức tranh

về một lớp người dưới đáy xã hội Trong gánh vui chơi có thưởng ấy, ông bà chủ xuất thân đều là trai gái bụi đời nay kiếm sống bằng cách lấy tiền thiên hạ qua trò bịp vui chơi có thưởng Theo gánh đó là cô em bà chủ, xuất thân cũng gái đứng đường và một đám cò mồi, mỗi đứa một số phận Hai chị em gái, cha sống bằng rượu, mẹ bất lực, “hai chị em lớn lên như cây nấm dại Đi bụi cũng là chuyện thường tình” [27;42] Yêu một

gã trai, nhà trai không chịu cưới, hai đứa tự đi đăng kí và ở với nhau có một đứa con, nhà gã trai gọi hắn về cưới vợ, cô em bế con đi theo chị gái, sống cuộc sống lang bạt kì

hồ Con bé người Quảng Ninh nom “gầy nhẳng”, nhưng vì để có việc làm mấy ngày giáp tết cũng muốn “đong đưa” với gã chủ để yên tâm việc làm Con bé theo thằng lam

“rau má” làm nghề gái gọi, bán dâm Bao mảnh đời nhỏ bé, nhem nhuốc đang cựa quậy

để kiếm sống, họ đang còn trẻ, và họ bước đi trên con đường vô tận, nhiều mây mù hơn ánh sáng Nhà văn không né tránh hiện thực, dù là hiện thực nghiệt ngã, nhưng sâu thẳm sau hiện thực là cái nhìn khắc khoải với đời sống đương đại ta đang sống Những trăn trở rất đời với những mảnh đời lam lũ ấy Không phải ngẫu nhiên mà nhân vật của Xuân Hà trong tác phẩm này lại ít có một cái tên cụ thể, nó chỉ là một cách định tính: “thể loại béo ngậy”, “thể loại tóc tém”, “đàn ông xương xẩu”, “thằng bị dọa cắt cơm”, “con bé Quảng Ninh” phải chăng đó là một cách viết phiếm chỉ, nhiều dụng ý, bởi những con người ấy

Trang 38

không chỉ là một số phận cá biệt, nó là hình ảnh đại diện cho biết bao con người như thế ngoài xã hội Cái nhìn nhân ái của nhà văn đã cất lên từ chính những điều nhỏ bé như vậy

Với ý thức của một người cầm bút “viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế”, Võ Thị Xuân Hà quan tâm nhiều đến những mặt trái của nền kinh tế thị trường Nơi con người bị cuốn theo đồng tiền và làm băng hoại bao giá trị tốt đẹp Kể cả tình yêu cũng bị đời sống

vật chất, thực dụng xói mòn Xin lỗi em là một truyện ngắn như thế Cương là một doanh

nhân thành đạt Cương yêu Huyền và ngược lại Thương trường là chiến trường, thế nên trong cuộc sống, trong công việc “anh đã phải giấu mình đi”, nhưng trong tình yêu anh lại không muốn thế Với người đàn ông, khi rũ bỏ cái áo khoác công việc để trở về nhà là lúc

họ muốn sống thật với chính mình Cương yêu Huyền và cần cô ở cái vẻ trong sáng, hồn nhiên Tình yêu thời mở cửa đến hưởng thụ rồi đi cũng chóng vánh trong chốc lát, con người không có thời gian để khát khao, chờ đợi, cảm nhận Thời gian đầu, họ cũng lãng mạn, mộng mơ, nhưng sau những lần vào nhà nghĩ chóng vánh, những ghen tuông vẩn

vơ, họ mệt mỏi, chán chường, dần dà không còn sự hấp dẫn với nhau nữa Hạnh phúc bắt đầu rạn vỡ Cả hai đều tự đánh mất mình, bởi họ dư thừa mọi thứ Bằng đồng tiền, Cương

có thể giải quyết mọi nhu cầu của mình “Huyền thấy rõ cuộc sống của Cương, cuộc sống này đâu cần có cô, anh vẫn cứ ngăn nắp và đầy đủ, vẫn sạch sẽ và mãn nguyện” [26;269] Thế giới của Cương thực sự đã chịu sự thống trị của vật chất Vật chất phục vụ con người

là tất yếu, song quá tuyệt đối hóa nó con người sẽ rơi vào tình trạng trống rỗng, thiếu cân bằng Thế giới luôn cần đến tình yêu, nhưng một khi con người không trân trọng và chăm chút, nó sẽ trở nên đơn điệu và nhàm chán Cuối cùng họ chia tay nhau, Huyền uống rượu

để tự hành hạ mình cho qua ngày, còn Cương vô cảm trước tình cảnh của Huyền và lao vào thương trường với những món lợi chớp nhoáng Họ được gì và mất gì, người đọc có thể hiểu được Nhưng điều nhà văn muốn gửi tới chúng ta là tại sao cuộc sống vô vị, nhàm chán, trống rỗng ấy lại nảy sinh từ cuộc sống quá đầy đủ của con người? Vậy đâu là giá trị thực của đời sống? Làm thế nào để con người không rơi vào cảnh tha hóa? Đó là những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc

Không chỉ mình Xuân Hà, Quế Hương cũng là nhà văn nhiều tâm huyết với

những mảnh đời dưới đáy xã hội Cái xóm Quậy của Lão nhà văn trong truyện ngắn Ngã

ba trần ai là một câu chuyện như thế Đó là một cái xóm “nghèo, ít học Nhậu cấp tá

Còn chửi thề phải cấp kiện tướng ồn như cái chợ, chợ họp ngay cái ngã ba xóm sát bên nhà lão Nhậu xỉn về đó Gây nhau đó Kể chuyện mánh mung, quậy phá, rủi ro đó Hẹn hò trai gái đó Đái đó Hết đám lớn đến đám choai choai, đàn ông đến đàn bà” [37;178.]” Dân xóm Quậy phần lớn đạp xích lô, phụ thợ nề, cạo sườn, bán hột vịt lộn,

đi xe thồ, bia ôm, dẫn mối, ăn cắp, ngồi không, cho thuê từng phân nhà nên ngã ba là

Trang 39

nơi thu gom mọi vẻ trần ai trong những câu chuyện” [37;179] Nhưng đó là vốn sống, là hơi thở cuộc đời, là xương cốt của những câu truyện lão viết Lão đã “rứt trộm những mảng tường sặc mùi nước tiểu, âm thanh quái dị, ngôn ngữ quái chiêu, những mảnh đời méo mó của cư dân xóm” [37;179] Nơi đó, những chuyện tình sặc mùi ngã ba của gã soi cua và cô gái con bà bán hột vịt lộn Rồi chuyện tình mụ ba bán bún giò Chuyện nhà hai đờ Vậy mà giờ xa nơi chốn ấy, “truyện của lão bắt đầu mất hồn vía Xác chữ ngổn ngang, ý tứ lẩy bẩy như âm binh chưa đủ ngày tháng” Lão chợt nhận ra “sự đời ở đó diễn ra hồn nhiên như thế giới vẫn đầy man rợ, dối lừa, xinh đẹp Dân xóm Quậy không hoài công chia cái thế giới nhỏ hẹp của họ thành hạnh phúc - đau khổ, thiện - ác, hữu hạn với vô cùng Họ để nguyên trạng và điềm nhiên dự phần Tiếng đời ở đó vọng đến khiến lão trở thành nhà văn” [37;188] Phải chăng đó cũng chính là những điều Quế Hương muốn nói thay cho những người cầm bút như chị Văn học chính là tấm gương phản ánh đời sống, và người nghệ sĩ chính là người thư kí trung thành của thời đại Cuộc sống hiện thực với bao hỉ nộ ái ố hãy tự để nó tươi ròng bước vào trang giấy, bởi văn cũng chính là đời và được xây đắp vì đời

Nhận chân những giá trị đời sống ngay từ những mảng hiện thực nóng hổi mà họ tìm được, Quế Hương viết truyện ngắn như một cách đưa người đọc đến với những triết

lí sâu sắc về cuộc đời Trong truyện ngắn Đáo bỉ ngạn, Quế Hương đặt nhân vật trong

lằn ranh sống - chết, những ngày cuối của cuộc đời mới có dịp nhìn lại bản thân, ngộ ra những sai lầm và nhận ra những điều tốt đẹp đã bỏ lỡ Nhân vật “ông” đối diện với

“lão”- gã thần chết rất gần và luyến tiếc “Còn mẩu thời gian bé tẹo này, nó vẫn là của ông, không phải của lão Ông sẽ mút nó như mút viên kẹo cuối cùng ” [37;229] Chính

từ khoảng thời gian này, ông nhìn lại bao trò chơi khốc liệt của cuộc đời phù vân Từ một anh lính thủ kho xanh rớt ngày nào sẵn sàng ăn sắn nhường cơm cho đồng đội, ông

đã biến tướng thành một “lão bụng phệ ăn đất và sắt thép”, quyền lực, tiền bạc, những mảnh đất đẹp như mơ ăn được từ các dự án, những em chân dài xinh như mộng rốt cuộc cũng chỉ là phù vân Giờ nằm trên giường bệnh, ông mới hối tiếc tất cả Nhưng cũng chính những ngày tháng ngắn ngủi này, ông nhận ra “Cái chết xâm chiếm ông hàng ngày, nhưng cũng theo từng ngày, một mầm sống khác lại quẫy cựa, trồi lên Dường như có một thằng bé chui ra từ hình hài mục ruỗng của ông, đái lên trái tim khô của ông làm nó ướt đẫm” Gần chết mới biết dịu dàng với người vợ hiền tận tụy Mới hiểu lòng trung thành của một con chó Mới thèm ăn một miếng bánh nậm đơn sơ vợ làm như ngày xưa “Đến cuối đời tôi mới nhận ra lương tâm là quyền lực lớn nhất” [37;235] Chỉ trong khoảng thời gian mấy ngày ngắn ngủi ấy, Quế Hương đã cho người đọc một thước phim quay chậm không chỉ về cuộc đời của một nhân vật mà cái nhìn

Trang 40

toàn cảnh về nhân tình thế thái, cuộc sống đời thực ngoài kia Tác phẩm gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh cho bao con người còn lầm lạc u mê theo tiền tài vật chất, bỏ quên những giá trị chân chính gần gũi gũi bên mình như gia đình, tình yêu thương, sự trong sạch, thanh liêm Nhưng dù cuộc đời có đắng cay đến đâu, truyện của chị cũng luôn gieo cho ta những mầm xanh hi vọng Chính vì thế truyện ngắn của Quế Hương

luôn có những cái kết giàu sức gợi Trong Đáo bỉ ngạn, người cha làm sai đã viết di

chúc xin trả lại những gì có được nhờ mưu ma chước quỷ khi sống Đứa con thôi tiếc rẻ, oán hận mà quay qua phụ mẹ làm quán bán bánh nậm Cuộc sống giản dị và thanh thản

vì bàn chân vững vàng ta bước là tự thân ta

Trần Thùy Mai từng bộc bạch: “Tôi thích viết để được tồn tại trong nhiều cảnh đời khác nhau, được sống những gì tôi mơ ước, được nói những điều không nói giữa đời thường Viết, như vậy là một cách để vượt thoát ra ngoài những giới hạn của một đời người nhỏ bé” Và chị đã thử đặt mình vào bao cảnh đời như thế trong cuộc sống để

hiểu hết những vui buồn trong cõi nhân sinh Truyện ngắn Nàng công chúa lạc loài tác

giả kể về Ái Duy, cô gái bé nhỏ anh gặp lại sau gần mười năm Mười năm trước anh là người dạy kèm cô bé Mười năm sau anh gặp cô trong một trường hợp oái oăm, khi cô

cô đơn và sụp đổ hình tượng người ba vĩ đại Thế giới người lớn với những trò bẩn thỉu, dối trá: Mẹ cô mất Ba lấy mợ Ba cô bị tố cáo chim chuột và có ý định cưỡng hiếp cô văn thư Cô tin ba, như mọi người chung quanh tin vào vị bồ tát là ba Mợ cô biết, nhưng im lặng làm chứng cho ông thoát tội Cho đến ngày cô văn thư thua trận bị thôi việc kia ném vào cô cái mảnh áo may ô của ba cô lúc giằng co bị ông cưỡng hiếp Cô

“chới với, rùng mình như vừa thụt chân xuống vực sâu”.[44;337] Nhưng khi cô hỏi mợ

“Hình ảnh mợ in lên những vật dụng đắt tiền trong gian phòng Mợ đã có đủ để không cần thắc mắc gì thêm cả Còn em, em không cần gì cả, em cần ba em Nhưng làm sao

em có lại ba em như em đã có? Làm sao sự phẳng lặng trở lại? Làm sao yên tâm và hi vọng? Làm sao ” [44;337] Cuộc sống thật giả lẫn lộn, những vụn vỡ của hạnh phúc, những giả dối, lừa mị tất cả đều được Thùy Mai lột tả qua dòng cảm xúc và câu chuyện kể của Ái Duy Thế giới thần tiên của tuổi thơ tan biến: một thế giới khác, nham nhở, ti tiện hiện ra Có những nỗi mất mát đến từ sự đổ vỡ niềm tin như thế Nó không đơn giản phản ánh cái thế giới nhơ nhuốc của người lớn, mà nó nói nhiều đến niềm đau của thế giới trẻ thơ Nhưng cũng như Quế Hương, bằng trái tim nhân ái, Thùy Mai để cho nhân vật mình tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia từ nhân vật Thắng - người gia sư năm nào của cô bé mà lúc cô đơn thăm thẳm nhất cô đã gặp lại Nhưng là một nhà văn, dù là nhà văn trữ tình, Thùy Mai không bao giờ tô hồng hiện thực Chị vẫn để cuộc đời trôi trong trang văn như nó vốn dĩ vẫn thế Cũng như điều thiện còm cõi của Thắng cũng

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w