Từ sau 1975 đến nay, văn học do người Việt sáng tác ở nước ngoài chủ yếu bằng tiếng Việt được xem là văn học hải ngoại và là một bộ phận của văn học Việt Nam đương đại, góp phần làm phon
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI 9
1.1 Một vài nét về bức tranh văn học Việt Nam đương đại ở hải ngoại 9
1.1.1 Khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại 9
1.1.2 Một cái nhìn lướt về văn xuôi đương đại Việt Nam ở hải ngoại 14
1.1.3 Sáng tác văn xuôi của người Việt ở hải ngoại (chủ yếu vùng Đông Âu và Tây Âu) 17
1.2 Nhìn chung về văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 23
1.2.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Văn Thọ 23
1.2.2 Con đường đến với văn chương và hành trình sáng tạo của Nguyễn Văn Thọ 24
1.3 Vấn đề “Miền đất hứa” và phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ 30
1.3.1 Vấn đề “Miền đất hứa” trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ 30
1.3.2 Vấn đề phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ 31
Chương 2 HIỆN THỰC “MIỀN ĐẤT HỨA” VÀ PHẬN NGƯỜI THA HƯƠNG TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ 34
2.1 Hiện thực “miền đất hứa” trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 34
2.1.1 “Miền đất hứa” và những khát vọng, mộng tưởng đổi đời 34
2.1.2 Các kiểu không gian hiện thực “Miền đất hứa” 40
2.1.3 “Miền đất hứa” và những đổ vỡ của mộng tưởng 47
2.2 Phận người tha hương nơi “Miền đất hứa” 57
Trang 3cực 60
2.2.3 Những số phận bi kịch 62
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HIỆN THỰC “MIỀN ĐẤT HỨA” VÀ PHẬN NGƯỜI THA HƯƠNG TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ 73
3.1 Đắc sắc trong cái nhìn hiện thực “miền đất hứa” và phận người tha hương của Nguyễn Văn Thọ 73
3.3.1 Một cái nhìn khách quan, nghiêm khắc, tỉnh táo 73
3.3.2 Một cái nhìn đầy nhân ái, cảm thông, chia sẻ 74
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 75
3.2.1 Đặt nhân vật trước những bối cảnh, tình huống khốc liệt, phức tạp 75
3.2.2 Đa diện, đa chiều hoá tính cách, tâm trạng nhân vật 77
3.3 Nghệ thuật trần thuật, tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ 82
3.3.1 Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 82
3.3.2 Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 84
3.3.3 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 88
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Từ sau 1975 đến nay, văn học do người Việt sáng tác ở nước ngoài (chủ yếu bằng tiếng Việt) được xem là văn học hải ngoại và là một bộ phận của văn học Việt Nam đương đại, góp phần làm phong phú văn học nước nhà, với những tên tuổi đáng chú ý như Nguyễn Mộng Giác, Minh Thuỳ, Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà, Thế Dũng, Nguyễn Văn Thọ, Đoàn Minh Phương, Phạm Hải Anh, Lê Thị Cẩm Phụng Sáng tác của họ là những trang viết về những con người xa xứ, những thăng trầm của cuộc đời tha hương Không ít tác phẩm văn học hải ngoại giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn những bi kịch đau đớn vì vỡ mộng, những mảnh đời khốn khổ, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, cũng như thân phận của người Việt xa xứ - một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc Văn học Việt Nam hải ngoại, vì thế, đang đòi hỏi phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu nghiêm túc, khoa học về nó
1.2 Nỗi ám ảnh về phận người xa xứ, tha hương với khao khát tìm kiếm
“miền đất hứa” nơi xứ người đầy xa lạ, bất an trở thành đối tượng trong sáng tác của các tác giả người Việt ở hải ngoại Họ là những nhà văn sống xa quê hương, cầm bút như một nhu cầu sẻ chia những nếm trải của đời và cũng là tâm sự về chính cuộc đời mình Và dù viết về vấn đề gì, ở đâu, từ đâu, thì cảm thức tha hương luôn là vấn đề khắc khoải, nhiều trăn trở trên trang văn của họ Các nhà văn hải ngoại “viết cái gì mình hiểu rõ, chia sẻ với những người muốn hiểu và cất tiếng nói cho những người có tâm thế giống mình mà không có điều kiện hay thời gian để nói” (Nguyễn Văn Thọ)
Chính vì thế, đây là bộ phận có nhiều thành tựu đáng kể, đáng trân trọng của Văn học Việt Nam hải ngoại
1.3 Nguyễn Văn Thọ - một trong những tác giả tiêu biểu với khá nhiều tác phẩm văn xuôi (truyện ngắn, kí, tiểu thuyết) được đông đảo công chúng độc giả trong và ngoài nước đánh giá cao, nhất là ở những cảm nhận, thể hiện
Trang 5“miền đất hứa” và số phận con người tha hương Nghiên cứu vấn đề “miền đất hứa” và phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ giúp chúng
ta hiểu thêm về nỗi đau thân phận của những người con lưu lạc nơi đất khách quê người, từ đó biết cảm thông, yêu thương, sẻ chia với những người cùng chung giống nòi
Với tất cả những ý nghĩa trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Miền đất hứa” và phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ làm đề
tài nghiên cứu luận văn của mình
nét trong sáng tác của họ: Quyên (Nguyễn Văn Thọ), Tìm trong nỗi nhớ (Lê Ngọc Mai), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phương) Tìm hiểu, nghiên cứu về văn học Việt Nam hải ngoại, đáng chú ý có các bài viết: Tiểu thuyết hải ngoại và
vấn đề thân phận tha hương của tác giả Lý Hoài Thu; cảm thức về nỗi đau thân phận trong tiểu thuyết Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ của tác giả Lê
Kim Thuỳ, Hoàng Nguyễn với Đôi nét về thi pháp và kết cấu của Chinatown, Đoàn Cẩm Thi với I`m yellow: khoái cảm văn bản - đọc Chinatown của
Thuận, hay Ngô Kim Cúc với Bí ẩn cuối cùng là Chinatown Đấy là những
Trang 6bài viết có chú ý tìm hiểu về thân phận người Việt tha hương trong văn học Việt Nam ở hải ngoại Tuy nhiên, vấn đề môi trường văn hoá tách bạch của văn học hải ngoại đã chi phối đến cảm quan thân phận con người như thế nào thì chưa được nói đến Một số luận văn thạc sĩ cũng tìm hiểu số phận con người xa xứ, tha hương trong văn học Việt Nam ở hải ngoại như luận văn của
Vũ Thị Hạnh với đề tài Nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết của nhà văn
Thuận, Lê Thị Hoàng Anh với đề tài Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại, Nguyễn Thị Thu Trang với đề tài Thân phận người Việt trong một số tiểu thuyết hải ngoại đương đại, Nguyễn Đức Quỳnh với đề tài Thân phận người Việt xa xứ trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ, Tuy nhiên vấn
đề “miền đất hứa” và phận người tha hương trong sáng tác văn xuôi Việt Nam hải ngoại thì chưa được nghiên cứu chuyên sâu Vì thế, đây là vấn đề còn mới
mẻ, cần được khám phá
2.2 Vấn đề nghiên cứu “miền đất hứa” và số phận con người tha hương trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
Sau hơn hai mươi năm bôn ba nơi xứ người, Nguyễn Văn Thọ thành
danh với ba tập truyện ngắn, một tập bút ký và tiểu thuyết Quyên Cùng chung
mạch nguồn viết về thân phận người Việt xa xứ, cảm thức tha hương về số phận con người ở “miền đất hứa” trở thành vấn đề nhức nhối trong văn xuôi
của ông Việc nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ ở nội dung “Miền
đất hứa” và phận người tha hương với cái nhìn tập trung và hệ thống còn là
một vấn đề mới mẻ Những bài báo, một số luận văn thạc sĩ, những cuộc phỏng vấn nhân dịp các nhà văn ra mắt tác phẩm mới của mình chỉ mới xoay xung quanh vấn đề giá trị hiện thực trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Văn Thọ
Giá trị hiện thực được nhắc đến trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Văn Thọ chính là những gì mà bản thân nhà văn đã từng trải qua Đó là quãng thời gian 11 năm ở chiến trường, hơn 25 năm bươn chải kiếm sống ở Đức, và nhiều
Trang 7đau khổ, dằn vặt của những lần đổ vỡ trong hạnh phúc hôn nhân Có thể xem Nguyễn Văn Thọ là nhà văn hiện thực viết về chính bản thân mình
Nguyễn Văn Thọ còn được đánh giá là nhà văn của sự chân thành Chân thành là một yêu cầu tất yếu đối với nhà văn Tuy nhiên, với Nguyễn Văn Thọ điều này được thể hiện một cách triệt để, có lúc bị lạm dụng, nhất là những trang văn viết về cuộc sống người Việt ở nước ngoài của ông Thu Hà đã rất có
lí khi cho rằng: “Còn khi viết về những thân phận tha hương, Nguyễn Văn Thọ dường như đã khiến người đọc ngập chìm trong nỗi nhục cơm áo và sự lạc loài của những đồng bào mình - trong đó có anh Sự thật thà đến mức thái quá của anh, sự trung thực nghiệt ngã của anh trong những truyện ngắn đầy yếu tố tự
truyện như Trong bão tuyết, Vườn Maria, Gửi ông đại tá chờ thư, Thật là giản
đơn không chỉ khiến người ta xót xa, thương cảm, mà còn phải tự vấn: tại
sao con người lại có thể có khả năng chịu đựng đến như thế, tại sao đồng bào của chúng ta phải chịu chấp nhận một cuộc sống như thế và họ sẽ còn phải
sống như vậy đến bao giờ?” [20]
Vấn đề Việt tính trong văn học được nhà văn Nguyễn Văn Thọ đặc biệt quan tâm Đọc văn của Nguyễn Văn Thọ, chúng tôi nhận thấy, toát lên trong tác phẩm là lòng nhân hậu, bao dung, dù cho cái hiện thực trong câu chuyện có nghiệt ngã đến đâu thì âm hưởng vẫn là tính nhân văn, ấm nóng tình người Bao nhiêu năm lăn lộn, sục sạo bươn chải trong một thế giới với không ít những mánh lới làm ăn chụp giật, không hiểu những trang văn đã cho ông giữ được thiên lương hay chính sự lương thiện giữ được giữa bão giông, giữa những điên đảo về nhân cách trong cuộc sinh tồn đã lan toả vào những trang văn của Nguyễn Văn Thọ
Với sáu tập sách đã xuất bản tại Việt Nam, trong đó có một tập thơ và năm tập truyện ngắn, cùng kha khá giải thưởng đã nhận được, giải thưởng
truyện ngắn trên báo Văn Nghệ (truyện ngắn Vườn Maria), hai giải thưởng trong hai cuộc thi truyện ngắn liên tiếp của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (truyện
Trang 8ngắn Cõi ảo và Phố cũ), tặng thưởng năm 2004 của Hội Nhà văn cho tập Vàng
xưa đủ thấy Nguyễn Văn Thọ cần mẫn và nghiêm túc trong việc viết lách,
trong việc xuất bản ở Việt Nam và trong việc gửi tác phẩm dự thi như thế nào
Đặc biệt Nguyễn Văn Thọ về nước với cuốn tiểu thuyết Quyên, viết về cuộc
đời phiêu bạt của người Việt tha hương, đã có rất nhiều ý kiến nhận xét về vấn
đề thân phận con người khi phải sống tha hương
Trong bài báo có tựa đề Thêm một góc nhìn về cuộc sống của người Việt
xa xứ trên báo Văn nghệ công an số 101, ra ngày 06/04/2009, Khánh Linh đã
có những đánh giá: “Đọc Quyên ta thấy thấm đẫm từng trang viết về nỗi đau,
tủi nhục về tinh thần cũng như thể xác không gì có thể bù đắp được của những con người đã trót lìa xa quê hương vì ảo mộng giàu sang Đó cũng là nỗi đau của người trong cuộc, của những người tha hương khi nhận ra cái giá phải trả
để đổi lấy những đồng Đôla, và sâu xa hơn đó cũng là sự va đập của những nền
văn hóa” [35] Bùi Việt Thắng cũng rất tâm đắc Quyên ở vấn đề thân phận con người: “Đọc lại Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, tôi lại thấy cái chủ
đề Thân phận và Thân xác nó hài hoà nhau” [57] Lê Kim Thuỳ đã không khỏi
xót xa ngẫm ngợi khi đọc Quyên: “Tiểu thuyết Quyên tựa bức tranh tái hiện
khốc liệt về cuộc đời, số phận của những người mưu sinh nơi xa xứ” [72] Từ cảm thức về nỗi đau thân phận, nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư cũng thương cảm Quyên vô hạn: “chỉ vì ngộ nhận một cuộc sống giàu sang hơn nơi xứ người mà Quyên đã theo chồng rời bỏ quê hương, Tổ quốc dấn thân vào cuộc vượt biên để rồi rơi vào một cơn lốc xoáy bi thảm của một kiếp sống lưu vong, biết bao bến thuyền Quyên đã rơi xuống trong số mười hai bến đa đoan trong kiếp sống đàn bà” [74] Nhà văn Nguyễn Văn Thọ cũng ngẫm ngợi về số kiếp người Việt xa xứ, tha hương nơi đất người trong tâm sự của người trong cuộc:
“Khi tôi sống cuộc sống của những thân phận tha hương nơi xứ người; khi chúng tôi phải giành giật từng cơ hội nhỏ nhất để kiếm tiền và để sống sót; khi mùa đông trong khu vườn chỉ có tuyết, trong ngôi nhà có sáu cửa sổ thì cả sáu
Trang 9đều phải đóng đinh để phòng cướp, ba cửa sổ khoét sẵn lỗ để chĩa súng bắn ra, còn mỗi cửa ra vào gác một thanh đao; khi vợ tôi đứng bán hàng ngoài trời mưa tuyết âm 10 độ đủ 18 tiếng mỗi ngày, chúng tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là sống được và kiếm đủ ăn đủ mặc Khi đó, bản năng sinh tồn giúp con người ta vượt qua những hiểm nguy và khốn khó nhất mà không kịp suy nghĩ gì Nhưng những đêm dài xa quê hương, những kỳ nghỉ hè mà đàn ông Việt Nam ngồi với nhau thì chỉ nghĩ đến chuyện nhà đất, hàng họ, còn đàn ông bản xứ nghĩ đến việc đưa vợ con đi nghỉ ở đâu và làm thế nào để yêu vợ được nhiều hơn; những mùa Giáng sinh, khi cả xã hội quanh mình quay theo vòng quay hội hè và sự hưởng thụ cuộc sống đích thực - một vòng quay mà mình bị văng ra ngoài - lúc ấy tôi thấm thía thế nào là nỗi buồn, là thân phận con người, là sự cách biệt thăm thẳm về văn hóa” [20]
Như vậy, vấn đề số phận con người tha hương trong các tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều mức độ Tiếp nối những ý kiến của người đi trước, chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên
cứu vấn đề: “Miền đất hứa và phận người tha hương trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ”
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
“Miền đất hứa” và phận người tha hương trong văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Đề tài bao quát các tác phẩm văn xuôi (thuộc các thể loại truyện ngắn,
ký, tiểu thuyết và tạp văn) của Nguyễn Văn Thọ (có tham khảo, liên hệ với các sáng tác của một số tác giả người Việt tiêu biểu khác ở Đức như: Thế Dũng, Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà, )
Văn bản chính dùng để khảo sát, luận văn dựa vào các cuốn:
Trang 10Nguyễn Văn Thọ, Gió lạnh (tập truyện ngắn), Nxb Hội Nhà văn, Hà
Nguyễn Văn Thọ, Quyên (tiểu thuyết), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009
(Nxb Thanh niên tái bản, 2015)
Ngoài ra luận văn còn tham khảo thêm: Thơ văn người Việt Nam ở nước
ngoài (nhiều tác giả), Nxb TP Hồ Chí Minh, 1990
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua tìm hiểu, khảo sát văn xuôi Nguyễn Văn Thọ, luận văn nhằm làm rõ những đóng góp của nhà văn trong cảm nhận và thể hiện “Miền đất hứa” và số phận con người tha hương, từ đây đề xuất một số vấn đề về nghiên cứu và tiếp nhận văn học Việt Nam hải ngoại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn khái quát về văn xuôi Nguyễn Văn Thọ trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam hải ngoại (giới hạn chủ yếu vùng Đông Âu, nhất
là Đức) từ sau năm 1975 đến nay
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định “sự thật” về “miền đất hứa”
và số phận con người xa xứ, tha hương trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá nghệ thuật thể hiện hiện thực
“miền đất hứa” và số phận con người xa xứ, tha hương trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
Cuối cùng rút ra một số kết luận về văn xuôi Nguyễn Văn Thọ trong nhận thức và phản ánh “miền đất hứa” và phận người xa xứ, tha hương
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong
đó có các phương pháp chính: Phương pháp liên ngành, Phương pháp thống
kê - phân loại, Phương pháp so sánh - đối chiếu, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương pháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đi sâu tìm hiểu “miền đất hứa” và số phận con người xa xứ, tha hương trong sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn Thọ với cái nhìn tập trung và hệ thống
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Văn Thọ, có thể cung cấp tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đề văn học hải ngoại và tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ viết về cuộc sống người Việt tại nước ngoài
6.2 Cấu trúc của luận văn
Tương ứng với các nhiệm vụ, mục đích đã đề ra, ngoài Mở đầu, Kết
luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm ba
chương:
Chương 1: Văn xuôi Nguyễn Văn Thọ trong bức tranh chung của văn
học đương đại Việt Nam ở hải ngoại
Chương 2: Hiện thực “miền đất hứa” và phận người tha hương trong văn
xuôi Nguyễn Văn Thọ
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hiện thực “miền đất hứa” và phận người
tha hương trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
Trang 12Chương 1 VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI
1.1 Một vài nét về bức tranh văn học Việt Nam đương đại ở hải ngoại
1.1.1 Khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại
Sự kiện giải phóng Miền Nam năm 1975 là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Việt Nam Nó đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam cộng hoà
ở miền Nam Việt Nam và mở ra một bước ngoặt mới cho đất nước, đó là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ hai miền Bắc - Nam Niềm vui, niềm tự hào của người chiến thắng hoà cùng niềm hạnh phúc được giải phóng khỏi ách đô hộ của Mỹ - nguỵ, đồng thời lại là nỗi buồn đau, tủi nhục của những người Việt từng làm việc cho chính quyền Mỹ - nguỵ Với kẻ chiến bại, đó là những ngày đen tối trong cuộc đời họ, là ngày “vong quốc”, ngày “quốc hận”, ngày “quốc nhục” như họ gọi Sự kiện đó đã dẫn tới những cuộc di dân lớn của người Việt
ra nước ngoài Song trên thực tế, có không ít người Việt là sĩ quan, công chức, văn nghệ sĩ rời Tổ quốc di tản ra nước ngoài định cư Trong số đó có những nhà văn, nhà thơ từng một thời cầm bút tại quê nhà Khi cuộc sống mới đã ổn định, họ sáng tác trở lại Chính những thế hệ nhà văn, nhà thơ này đã làm tiền
đề cho sự phát triển của văn học Việt Nam ở nước ngoài Nó không chỉ là nguồn cảm hứng được chuyển hoá thành đề tài, hình tượng mà còn là điều kiện quy định sự lựa chọn ngôn ngữ và các phương tiện nghệ thuật khác của các nhà văn
Văn học hải ngoại là danh xưng của một bộ phận văn học được viết bằng tiếng Việt của người gốc Việt đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài Hiện nay tên gọi bộ phận văn học này vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận Có người gọi là văn học di dân, văn học lưu vong, văn chương lưu đày, có người thì gọi là văn học miền Nam nối dài, hay văn học Việt Nam ở nước ngoài
Trang 13Xét về thời điểm ra đời cũng như phạm vi sinh tồn của văn học Việt Nam ở nước ngoài có thể thấy rằng, ban đầu nó thực sự là văn học lưu vong (còn có tên gọi là văn chương lưu đày, văn học miền Nam nối dài) Bởi vì, đó là bộ phận văn học chính của những người miền Nam lưu vong chính trị tại hải ngoại, và khi ra nước ngoài họ vẫn giữ phong cách như còn ở quốc nội
Khi di dân trở thành hiện tượng có tính toàn cầu thì khái niệm “văn học
di dân” được sử dụng phổ biến và đôi khi nó được hiểu như văn học hải ngoại Tuy vậy, khái niệm văn học hải ngoại mang tính chất địa lý còn văn học di dân mang khái niệm địa - chính trị Gọi văn học của người Việt ở nước ngoài là
“văn học di dân” cũng có phần thoả đáng, tuy xét về khởi nguồn, văn học Việt Nam ở nước ngoài từ sau 1975 có khởi nguồn khác Văn học di dân cũng là bộ phận văn học luôn biến động, đa dạng, phức tạp về thành phần, nhấn mạnh đến lòng hoài niệm quê hương và cảm thức lưu lạc Cần đặt văn học Việt Nam hải ngoại trong bối cảnh văn học di dân thế giới thì mới thấy được nét riêng cũng như sự hoà nhịp của nó với trào lưu văn học đang trở thành phổ biến trên thế giới từ hơn hai thập niên gần đây Trong khi đó, khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại vừa nói lên được vị trí địa lí của đối tượng sáng tác (nó lấy Việt Nam làm khởi điểm, đi đến các vấn đề “trong” và “ngoài” của chính Việt Nam; chứ không lệ thuộc những gì ngoài Việt Nam: “nước ngoài”) vừa không tạo ra mặc cảm tâm lí bi thảm, đồng thời nó trung hòa về mặt chính trị Lại phù hợp cho người trong nước dùng để gọi một bộ phận văn học của người Việt sinh sống ở nước ngoài Ngoài ra, nó còn hàm ý: giới hạn thể tài, chỉ xét các tác phẩm viết bằng tiếng Việt và xa gần có liên quan đến người Việt, đất nước Việt Nam [53]
Nhà nghiên cứu Thuỵ Khuê trong bài viết Thử tìm một lối tiếp cận văn
học sử về hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975 - 2000, luận
giải: "chữ nước trong danh từ đất nước của chúng ta, có hàm nghĩa nước là thủy, như nước sông, nước biển, mà chữ quốc của người Trung Hoa không có
Trang 14Và có lẽ ít ngôn ngữ nào trên thế giới diễn tả được hình ảnh đất nước với hai yếu tố xương thịt cơ bản tác thành nên nó: đất và nước như tiếng Việt Nếu không có đất và không có nước thì không có sự sống, không có vật và người […] Ngoài ra nước biển còn có liên hệ tử sinh với người vượt biển, thành phần chủ chốt của văn học Việt Nam hải ngoại Vậy nước trong chữ hải (biển) cũng là thành tố của đất nước Và hải ngoại chỉ là một cách nói khác, để chỉ những gì ngoài đất nước Do đó hải ngoại và ngoài nước là những từ tương
đương." [27] Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Đọc văn học Việt Nam hải
ngoại cũng đưa ra quan điểm cho rằng, tên gọi không quan trọng miễn là nó
phải có giá trị văn học: “Nếu như văn học di tản trước hết là văn học, văn học lưu vong trước hết là văn học, văn học hải ngoại trước hết là văn học… thì sự khác biệt giữa những tên gọi không đến nỗi quan trọng như ta nghĩ.” [23] Nguyễn Mộng Giác đề nghị “dùng cụm từ không hàm ý định tính để bao gồm càng nhiều càng tốt các khuynh hướng khác nhau của các nhóm người Việt định cư ở nước ngoài: Văn học Việt Nam hải ngoại” [16] Cùng quan điểm với Nguyễn Mộng Giác, Bùi Vĩnh Phúc cho rằng, dòng văn chương Việt ở hải ngoại “là hàm số thay đổi theo những biến cố thời gian và bối cảnh sống của người Việt trên khắp thế giới, đã mỗi ngày mỗi triển nở và trở nên sinh động, khởi sắc trên nhiều mặt” [47]
Có thể thấy rằng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhận thấy, văn học Việt Nam hải ngoại (hoặc cách gọi khác là văn học Việt Nam ở nước ngoài) là
bộ phận của văn học Việt Nam Nó bao quát rộng khắp các khuynh hướng, dòng mạch khác nhau của văn học người Việt ở nước ngoài Đồng thời, văn học Việt Nam hải ngoại là bộ phận của văn học nước ngoài, do người Việt Nam sống ở nước ngoài sáng tác nên chỉ có những tác phẩm viết bằng tiếng
mẹ đẻ mới thuộc về văn học Việt Nam hải ngoại Điều này khu biệt với những sáng tác viết bằng ngôn ngữ nơi người Việt ở nước ngoài sinh sống và những
Trang 15tác phẩm viết bằng tiếng Việt nhưng tác giả lại là người nước ngoài đang sinh sống ở Việt Nam, ví dụ như Mr.Joe (còn gọi là Dâu Tây), Trần Hùng John
Nhìn lại chặng đường phát triển của văn học Việt Nam đương đại ở hải ngoại từ năm 1975 đến nay, có ý kiến cho rằng văn học Việt Nam hải ngoại là
“cánh tay nối dài của văn học miền Nam” Cũng có người xác định văn học Việt Nam hải ngoại chỉ xuất hiện từ sau 1975, khi một số lượng lớn người Việt Nam di cư sau thất bại của chính quyền Việt Nam cộng hoà ngày 30/04/1975
Họ đã lập ra những cộng đồng người Việt ở nước ngoài, hoạt động sáng tác văn học bằng tiếng Việt Nhưng thiết nghĩ, những quan điểm này đã thu hẹp không gian và thời gian tồn tại, vận động của văn học Việt Nam ở nước ngoài, làm cho văn học có phần bị chế định bởi những “yếu tố ngoài văn học” Trong
bài viết: vấn đề văn học hải ngoại trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn
Phạm Hùng nhấn mạnh: “Văn học hải ngoại là một hiện tượng có tính rộng lớn
và phổ quát xuất hiện tất yếu trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay” [24] Tác giả bài viết còn khẳng định: “đứng trên quan điểm văn học sử,
đó là một bộ phận không thể chia cắt với “văn học quốc nội”, làm nên tính thống nhất và toàn vẹn của lịch sử văn học dân tộc” [24] Vừa mang tính khu biệt với văn học trong nước về không gian địa lý, văn hoá, kinh tế, chính trị, văn học hải ngoại vừa phải được đặt trong thế đối sánh, trong mối quan hệ tác động qua lại với văn học Việt Nam trong nước về tư tưởng thẩm mĩ, cảm hứng, đề tài, ngôn ngữ, thể loại và các phương diện nghệ thuật biểu hiện khác
Đặt trong tiến trình lịch sử văn học của dân tộc ta, văn học Việt Nam đương đại ở hải ngoại sau 1975 đến nay là sự tiếp nối những sáng tác văn học trước đó Bắt đầu từ những đợt di dân ra ngoài biên giới mà nguyên nhân chủ yếu là do tị nạn chính trị Hai tác phẩm đầu tiên của văn học Việt Nam hải
ngoại là An Nam chí lược của Lê Tắc (được soạn vào thế kỉ XIII và hoàn thành vào đầu thế kỉ XIV, thời Trần) và Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng
(được soạn vào đầu thế kỉ XV, thời hậu Trần) [48] Đến những năm đầu thế kỉ
Trang 16XX những người Việt yêu nước xuất dương tìm đường giải phóng dân tộc
Tiêu biểu là Phan Bội Châu (Hải ngoại huyết thư, Lưu cầu huyết lệ tân thư,
Ngục trung thư), Phan Châu Trinh (Xăngtê thi tập, Giai nhân kì ngộ diễn ca, Thất điều thư), Nguyễn Ái Quốc (Vi hành, Con rồng tre)… Những sáng tác
văn học ở ngoài nước thời kì này mang đậm cảm hứng yêu nước, bày tỏ tấm lòng thiết tha với vận mệnh của non sông và khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc Tuy nhiên những cuộc ra đi như thế này thường ở quy mô nhỏ lẻ của một số cá nhân hay một nhóm người nào đó, nó chưa thực sự đặt ra một vấn đề
xã hội lớn lao; đồng thời tác phẩm của họ chưa đủ gây dựng nên một dòng chảy tại hải ngoại Chỉ đến sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam, với một số lượng người rất lớn (ban đầu khoảng 130.000 người) di tản ra nước ngoài, nền văn học Việt Nam ngoài đất nước mới bắt đầu được khởi tạo Những sáng tác
đó phản ánh rõ nét hơn cả đời sống vật chất, tinh thần, thái độ thẩm mĩ của người Việt Nam ở các nơi trên thế giới Trong mối quan hệ với văn học trong nước, văn học Việt Nam hải ngoại phải là “sự bổ sung cần thiết những sắc màu riêng vào bức tranh văn học của Việt Nam vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp nhưng trên tinh thần thống nhất và toàn vẹn của văn hoá
và văn học dân tộc” [48]
Trong tiến trình vận động và phát triển, văn học Việt Nam hải ngoại từ
1975 đến nay đã đi từ khuynh hướng hoài niệm chính trị, lịch sử, sang khuynh hướng thích nghi hội nhập Những sáng tác ở giai đoạn đầu (từ 1975 đến 1988) được viết bằng những bức xúc chính trị, nên văn học mang tính thời sự và chưa
có giá trị nghệ thuật và sức sống lâu dài Những sáng tác ở giai đoạn sau (từ
1989 đến nay) phần lớn được viết bằng những trăn trở, chiêm nghiệm, trải nghiệm của bản thân nhà văn, phản ánh sâu sắc bi kịch về số phận con người nên văn học có giá trị nhân bản và sức sống lâu bền Đồng thời, cũng chú trọng hơn vào những tìm tòi, sáng tạo, đổi mới về nghệ thuật
Trang 171.1.2 Một cái nhìn lướt về văn xuôi đương đại Việt Nam ở hải ngoại
Đánh giá về tiềm năng, thành tựu của văn học đương đại Việt Nam ở hải ngoại vùng Đông Âu, Nguyễn Mộng Giác cho rằng, văn học hải ngoại có dấu hiệu “tốt” và “khoẻ”, bởi nhà văn có nhiều chất liệu để sáng tác, vì cuộc đời nhiều dữ dội, sóng gió, chỉ có nỗi đau của chính bản thân mình mới bắt được chính mình cầm bút Hơn nữa, người Việt sống tập trung khá cao ở một số khu vực Đông Âu, Bắc Mỹ cơ hội để nhà văn giới thiệu tác phẩm của mình với
người đọc dễ dàng hơn Từ những năm 80, 90 của thế kỉ XX, những cuốn Thơ
văn người Việt Nam ở nước ngoài (Nxb TP Hồ Chí Minh, 1990), tập truyện
ngắn Khi tàn nắng (Nxb Hội Nhà văn, 1994), chuyên mục “Giới thiệu chủ đề
người Việt nam ở nước ngoài” trên phụ san báo Văn nghệ số tháng 3/1993
đã giới thiệu cho công chúng trong nước hình dung và tiếp cận gương mặt văn
chương Việt Nam hải ngoại Bài viết của Lê Hoài Nguyên “Một cái nhìn mười
tám năm văn học Việt Nam ngoài nước” rất đáng chú ý ở việc tác giả mô tả và
đưa ra những nhận định khá sát với thực tế văn học Việt Nam ở ngoài nước
Nữ văn sĩ Mai Kim Ngọc trong bài Vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại đã cho
thấy rõ tâm trạng của người di tản: “ chúng ta sống như trong một khoảng chân không văn hoá và tình cảm Xung quanh chúng ta là một khung cảnh khác, luật pháp khác, phong tục khác, ngôn ngữ khác Những ngày đầu ra khỏi trại, tiếng mẹ đẻ của chúng ta chỉ còn dùng được giữa vợ chồng con cái Ra khỏi cái vòng phấn nhỏ ấy, tiếng Việt phải bỏ lại” và “ta nghĩ đến tâm sự riêng của mình Cái vui cái buồn, cái làng xưa với bờ tre xanh, với con sông nhỏ, với rừng dừa ven biển, với câu hát giọng hò Cuộc sống mưu sinh hằng ngày đã chiếm hết thời gian, tâm trí, cho nên không mấy ai quan tâm đến văn học, viết lại, sống bằng nghề văn” [62]
Ở những giai đoạn tiếp theo, khi cộng đồng người Việt lưu vong ở các nước Đông Âu càng đông đảo và có phần tập trung hơn thì đội ngũ nhà văn và công chúng độc giả cũng đông đảo hơn, đã đặt cơ sở vững chắc cho sự phát
Trang 18triển tương đối ổn định của văn học Việt Nam ở hải ngoại, một đời sống văn học thực thụ, phong phú và đa dạng Cuộc đời đã có sẵn biết bao chuyện để viết, là nguồn đề tài bất tận để nhà văn cầm bút mà “giải toả những uất ức, những hậm hực, những dồn nén trong tâm hồn” [78] Nhà nghiên cứu Hoàng
Ngọc Hiến trong công trình nghiên cứu có tên Đọc văn học hải ngoại, nhận
thấy “Văn học hải ngoại trước hết là văn học” ở nhiều tác phẩm có “tính nhân loại phổ biến của văn học” tức là tác phẩm đề cập đến “những vấn đề chung muôn thuở của nhân sinh” [42] Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Sơn thì cho rằng: “nét thú vị của văn học Việt Nam ở hải ngoại là những tương đồng của
nó với văn học trong nước Nó cung cấp một lăng kính để tìm hiểu những vấn
đề của văn học Việt Nam hiện nay” bởi “câu hỏi được đặt ra là: vì sao ngay cả khi được đặt trong một môi trường hoàn toàn khác, có điều kiện để tiếp xúc hàng ngày với tất cả những gì được coi là ưu tú của văn học thế giới, văn học Việt Nam cũng rất khó thay đổi? Vậy thì vai trò của môi trường sáng tác đối với nhà văn quan trọng đến đâu, và phải chăng có những vấn đề nằm trong ngôn ngữ và văn hoá của chúng ta?” Khi được hỏi về sự khác biệt giữa các cây bút trẻ trong và ngoài nước, tác giả phát biểu: “Văn học trẻ ở hải ngoại có cái nhìn điềm tĩnh hơn với những thử nghiệm mới trong phong cách và nghệ thuật nhưng lại dễ phấn khích với những vấn đề lịch sử, chính trị, văn hoá nhưng lại dễ phấn khích hơn với những thử nghiệm mà họ cho là mới Mỗi bên đều có những lợi thế và những thách thức riêng của họ” [86]
Văn xuôi đương đại Việt Nam ở hải ngoại tập trung thể hiện cảm hứng lịch sử; cảm hứng về dân tộc, quê hương; cảm hứng xa xứ; cảm hứng hội nhập Nếu thử nêu lên vắn tắt tình hình văn học Việt Nam ở hải ngoại thì đó là sự phân định rạch ròi của các nhà văn ra làm hai khuynh hướng mà quan điểm tư tưởng, nghệ thuật sáng tác được định hướng vào quá khứ hay vào hiện tại Trong những năm đầu tiên định cư trên đất người, hoài niệm đã trở thành chủ
đề chính trong nhiều tác phẩm của các tác giả Việt Nam hải ngoại mà nét nổi
Trang 19bật là nỗi đau ly tán với quê hương xứ sở, sự cô đơn và sự vô vọng đối với
tương lai Trong truyện ngắn và tuỳ bút của Võ Phiến (Thư gửi bạn, Nguyên
vẹn, ) và các tác giả khác như Tuý Hồng, Trùng Dương, Thanh Nam dần
dần, cuộc sống của họ nơi xứ lạ bắt đầu có ý nghĩa, niềm tin vào sức mình đã
trở lại với mọi người Tập truyện ngắn Quê nhà, quê người (1994) của Nhật
Tiến in chung với Nguyễn Nhật Tuấn Trong truyện ngắn của mình, tác giả thể hiện tâm trạng niềm vui, nỗi buồn, sự chiêm nghiệm, trầm tư và sự hào hứng lao động nơi xứ người Nhờ vậy, như nhận xét của một số nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học, thái độ đối với quá khứ được ý thức một cách hợp lý hơn, còn thái độ đối với hiện tại và tương lai thì trở nên điềm tĩnh hơn
Nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam ở hải ngoại là quá khứ vốn có thể được lý giải và được phản ánh thông qua số phận cụ thể của từng con
người riêng biệt dưới dạng các tác phẩm sử thi đồ sộ Tiểu thuyết Mùa biển
động và Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Người đi trên mây của
Nguyễn Xuân Hoàng, Giấc mộng của Nguyên Sa là những cống hiến không
thể phủ nhận của văn xuôi đương đại Việt Nam hải ngoại Cảm hứng về dân tộc, quê hương thể hiện rõ ở tình yêu và nỗi nhớ tiếng Việt của những kẻ ly hương Nói như Minh Đức Hoài Trinh “văn hoá, ngôn ngữ quy định cả một kiếp người” Ngôn ngữ của một dân tộc chứa đựng trong nó lịch sử dân tộc, thể hiện “căn cước văn hoá” dân tộc cũng như phản chiếu đời sống tinh thần, phong tục của dân tộc đó Ngôn ngữ xuất phát từ trái tim thì sẽ đến được với trái tim Đó là mong muốn, là khát khao của những người Việt tha hương Sự nâng niu, trân trọng tiếng mẹ đẻ ở các nhà văn là một biểu hiện đầy cảm động của niềm thiết tha với dân tộc, quê hương Cảm hứng về dân tộc, quê hương còn thể hiện ở niềm hoài niệm cảnh sắc quê hương, hương vị những phẩm vật quê hương và phong tục tập quán gia đình, quê hương Đối với người xa xứ, tình cảm thiết tha với những giá trị cội nguồn của dân tộc, quê hương cũng là một khoảng sáng đáng quý trong tâm hồn họ Có thể dùng hình ảnh “cuống rốn
Trang 20chưa lìa” trong một truyện ngắn của Kiệt Tấn để nói về tình cảm đó ở người Việt xa xứ Đó là một trong những giá trị đáng ghi nhận của văn học tiếng Việt
ở hải ngoại Còn ở cảm hứng xa xứ bắt nguồn từ tình trạng con người phải lìa
xa quê hương xứ sở, lưu lạc nơi đất khách Hệ quả là dẫn đến cảm thức lạc loài, cô đơn, bất an của kẻ tha hương Cảm hứng này trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại biểu hiện ở hai phương diện: xa lạ ngay trên quê hương và lạc loài trên đất khách Đối với cảm hứng hội nhập, dù định cư hay tạm cư nơi miền đất mới, di dân Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung, để tồn tại và phát triển, phải tìm cách thích nghi và hoà nhập vào môi trường mới Quá trình này diễn
ra không giống nhau và thường dẫn đến hai khuynh hướng: hội nhập không thành công và hội nhập thành công
Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, khi con người không chỉ sống ở một nơi nào đó trên trái đất này mà còn sống ở toàn thế giới, thì ngôn ngữ và văn hoá cội nguồn là sợi dây bền chặt kết nối con người ở những không gian, những thời đại, thế hệ lại với nhau, để cùng hướng đến những giá trị nhân văn cao đẹp của văn chương
1.1.3 Sáng tác văn xuôi của người Việt ở hải ngoại (chủ yếu vùng Đông Âu và Tây Âu)
Ở giai đoạn đầu, các tác phẩm bằng văn xuôi rất ít Âm hưởng chủ yếu
là “tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa, trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm, mơ ước ngày trở về
có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y
nguyên như thời hoàng kim cũ” [32] Các tác giả Thanh Nam, với hồi kí Hai
mươi năm Việt Nam làm báo, Lê Tất Điều với phiếm luận Một quả cười đểu mùa Xuân và một tập tùy bút in chung với Võ Phiến: Ly Hương (1977), Võ
Phiến với ba tập tùy bút: Ly Hương (1977), Thư gửi bạn (1976), Lại thư gửi
bạn (1979) và một quyển tiểu thuyết: Nguyên vẹn (1978), đã giữ lửa cho văn
học đương đại Việt Nam hải ngoại
Trang 21Từ những năm 1980 trở đi, văn học Việt Nam hải ngoại phát triển rầm
rộ, đội ngũ sáng tác đông đảo Nhiều nhà văn sáng tác ngay khi vừa định cư
xong như Hà Thúc Sinh với Đại học máu, Tạ Tỵ với Đáy Địa Ngục, Nguyễn Mộng Giác với tập truyện ngắn Ngựa nản chân bon, Xuôi dòng, tập 1, bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động Các thể loại văn xuôi phát triển mạnh, xuất hiện những tác phẩm dài hơi như Anh hùng Lĩnh Nam, Cẩm khê di
hận, Anh hùng Tiêu sơn của Trần Đại Sỹ, Người đi trên mây của Nguyễn Xuân
Hoàng, Giấc mơ của Nguyên Sa… Thể loại được xem là phát triển nhất giai đoạn này phải kể đến là kí và truyện ngắn Một số tác phẩm tiêu biểu như Ngày
N + (Hoàng Khởi Phong), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Đại học Máu (Hà Thúc
Sinh)… Nhìn chung những cuốn hồi ký này chủ yếu là những ghi chép, tường thuật lại các sự kiện, chưa có tính khái quát, và chủ yếu là viết bằng giọng văn hằn học, căm phẫn Truyện ngắn đã gặt hái được những thành tựu đáng kể
Ngoài những cây bút già dặn kinh nghiệm như Nguyễn Mộng Giác (Ngựa nản
chân bon, Xuôi dòng), Nhật Tiến (Tiếng kèn, Một thời đã qua, Cánh cửa), Mai
Thảo (Ngọn hải đăng mù)… xuất hiện các cây viết mới: Thế Giang, Trần Vũ,
Vũ Quỳnh Hương, Phan Thị Trọng Tuyến, Trần Diệu Hằng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Thị Kim Lan, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Ý Thuần Ngô Nguyên Dũng, Trân Sa, Dương Như Nguyện, Vũ Quỳnh N.H… Trong đó Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương được đánh giá rất cao, "sắc sảo trong cách nhìn, sự vững vàng trong kỹ thuật và sự tài hoa trong ngôn ngữ" [76] Thế hệ nhà văn sau này thường ít quan tâm đến vấn đề chính trị, họ cũng không có nhiều kí ức quê nhà như các thế hệ cha anh Vì thế
đề tài họ quan tâm là vấn đề hội nhập ngay tại đất nước họ sinh sống Đó là những cây bút Trần Vũ, Mai Ninh, Thuận, Thế Dũng, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Hoàng Ngọc Thư, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Tường Vy, Hoàng Long v.v… Ngoài tên tuổi của Thuận được ghi nhận như một trong những nhà văn cách tân táo bạo trong kết cấu, chú trọng đến nhạc tính trong câu văn, còn
Trang 22có thể biết đến Trần Vũ - một cây bút cá tính mạnh mẽ, sắc sảo, khai thác đến
tận cùng cảm xúc, cảm giác của con người Với tập truyện ngắn Ngôi nhà sau
lưng Văn Miếu (1988) ngay lập tức tạo được ấn tượng về một lối viết sắc lạ,
pha trộn giữa yếu tố hiện thực và tưởng tượng, phá vỡ kết cấu tự sự thông thường Kiệt Tấn với “những đam mê đời thường”, Lê Thị Thấm Vân “nổi loạn” trong sáng tạo lịch sử và khuynh hướng nữ quyền; Mai Ninh cẩn trọng, sắc cạnh, bản lĩnh trong lựa chọn từ ngữ, Phan Việt với lối viết gọn và chặt, dồn nén tối đa năng lượng thẩm mĩ, Khánh Trường với phong cách truyện
ngắn khá sắc sảo, mãnh liệt qua hai tập truyện Chỗ tiếp giáp với cánh đồng (1991), Có yêu em không (1977), Phùng Nguyễn với những trăn trở về căn cước, về thân phận di cư qua Tháp kí ức (1998), một Dương Như Nguyện, Mai
Kim Ngọc với những truyện ngắn về lối viết trữ tình sâu lắng Những nhà văn
nữ khác như Trần Mộng Tú, Trương Anh Thuỵ, Lệ Hằng, Phạm Thị Ngọc, Vũ Quỳnh Như, Trần Diệu Tam, Nhung Uyên mỗi người một vẻ, cũng mang đến tiếng nói riêng, tạo sự đa thanh, đa sắc cho văn học Việt ở nước ngoài Đề tài chủ yếu trong sáng tác của họ là cuộc sống và con người nơi trú xứ mới, cùng những ẩn ức và khao khát muôn đời của phụ nữ Có những câu chuyện mang nặng nỗi buồn thương do những ám ảnh về bi kịch cá nhân và sự đổ vỡ của gia đình trên đất mới Có những truyện nói đến sự thất bại trong nổ lực hội nhập vào nền văn hoá sở tại Nhưng cũng có những truyện mang đến màu sắc tươi sáng của quá trình hoà giải với quá khứ và thích ứng với hiện tại Về nghệ thuật, vẫn chưa thực sự tạo nên sự đột phá trong cốt truyện, nhân vật hay ngôn ngữ, giọng điệu Phần lớn tác phẩm vẫn theo kết cấu lô gic tuyến tính hoặc nhân quả, nhân vật chủ yếu được nhìn ở phương diện số phận, chưa đào sâu vào vi diệu của nội tâm và tâm lí, ngôn ngữ, giọng điệu vẫn mang sắc thái trữ tình, lãng mạn
Với mỗi người Việt xa xứ, khi đặt chân đến một miền đất mới, đa phần
họ đều rơi vào trạng thái hẫng hụt, cảm giác cô đơn, lạc loài do mất đi bầu khí
Trang 23quyển quen thuộc của gia đình, quê hương, xa lạ trước một môi trường văn hoá, ngôn ngữ hoàn toàn mới mẻ Và như một quy luật tâm lý tất yếu, họ vin vào những hồi ức, hoài niệm để đứng lên, phần nào với đi nỗi nhớ, để được nối dài hơi thở của mình với quê hương, bản quán Trong sáng tác của họ chủ yếu thể hiện những cảm hứng nổi bật: Cảm hứng lịch sử gần trong hoài niệm và tái hiện Họ tìm về quá khứ với một mong ước ghi khắc lại những sự kiện lịch sử,
những biến thiên thời cuộc với tư cách chứng nhân lịch sử Tiểu thuyết Mùa
(Hoàng Khởi Phong), Những ngày
cuối cùng của Việt Nam cộng hoà (Nguyễn Khắc Ngữ)
Cũng lấy cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam làm đề tài, các tác
phẩm Vàng xưa, Trong ngọn lửa, Lá bùa, ám ảnh Nguyễn Văn Thọ đã trình
bày những trải nghiệm máu thịt của một người lính từng trực tiếp xông pha trong lửa đạn với những cuộc đụng đầu khốc liệt giữa hai bên chiến tuyến, và ở
đó sự sống của con người treo trên sợi dây mỏng manh của số phận Chiến tranh gây ra những mất mát, đau thương, chết chóc, ám ảnh Một số tác phẩm
từ khoảng 1986 đến nay phản ánh cuộc sống của di dân nơi trú xứ Tuy nhiên, quá khứ vẫn âm thầm trở về trong tâm thức họ, trong những khoảnh khắc bi kịch của cuộc đời, nó vẫn âm ỉ, nhức nhối khôn nguôi Nó để lại di chứng trên
khuôn mặt (Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé của Trần Vũ, Xứ nắng của Lê Thị Thấm Vân ), trên những đôi chân què cụt (Thật là đơn giản, Làng ven sông của Nguyễn Văn Thọ, Chỗ tiếp giáp với cánh đồng của Khánh Trường ), hay những vết sẹo (Vết sẹo, Lá bùa của Nguyễn Văn Thọ ) Trong lớp sóng của
những cơn mơ triền miên, chập chờn, quá khứ đau thương lúc lúc lại trồi lên, sáng rõ như bất chợt ai đó rọi một luồng ánh sáng cực mạnh vào những mảnh
vỡ tan tác, âm u, xa mờ của kí ức (Thuyền của Bùi Bích Hà, Thiếu nữ chờ
trăng của Lê Thị Huệ, Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng ) Thậm chí,
những chấn thương tinh thần trong và sau chiến tranh đã phát triển thành một
Trang 24thứ bệnh tâm lý trầm trọng ở nhân vật (Hành lang tâm thần của Trần Vũ, Biến
cố trong rừng tràm của Khánh Trường )
Cảm hứng về dân tộc quê hương cũng đã chi phối mạnh mẽ đến cảm hứng sáng tạo trong văn chương, nghệ thuật của các nhà văn hải ngoại Bắt đầu
từ tình yêu và nỗi nhớ tiếng Việt của những kẻ ly hương (Truyện ngắn Khoảng
cuối của Phan Thị Trọng Tuyến) Họ không chỉ nhớ thương tiếng Việt, họ còn
gửi gắm tình yêu và ý thức gìn giữ, bảo tồn ngôn ngữ dân tộc qua việc giáo
dục con cái của những gia đình Việt tha hương (Chỗ trống để điền tên của Quỳnh Trang cindy Nguyễn, Gửi ông đại tá về hưu của Nguyễn Văn Thọ,
Chôm chôm yêu dấu của Trần Diệu Hằng ) Họ hoài niệm cảnh sắc quê hương
đất nước Với Võ Đình, Nguyễn Mộng Giác, thành phố Huế cổ kính, trầm mặc
muôn đời là không gian trở đi trở lại trong hồi ức và mộng tưởng (Paris có gì
lạ đâu em, Chiều trước giáng sinh của Võ Đình, Mùa biển động của Nguyễn
Mộng Giác) Với Phùng Nguyễn, Tháp kí ức đã lần giở những ngăn kéo của kí
ức về gia đình nhỏ ấm cúng, về quê hương Quảng Nam và mảnh đất Hội An, về ngọn tháp Chàm trầm mặc, thâm u Đến với sáng tác của Kiệt Tấn, Hồ Trường
An, Hoàng Mai Đạt, Võ Kì Điền, Võ Phiến độc giả lại lạc vào không gian miền Tây Nam Bộ với những miệt vườn sum sê cây trái, kênh rạch chằng chịt, mênh mang câu hò ví dầu, ầu ơ Hoài niệm hương vị phẩm vật quê hương, mỗi món ăn mang hương vị đất đai, khí hậu văn hoá của mỗi vùng đất, miền quê,
đồng thời chứa đựng sự tài hoa, tâm hồn, tình cảm của con người nơi đây (Giữa
hai miền mưa nắng của Hoàng Mai Đạt, Thương thế ngày xưa của Lê Minh
Hà ) Nỗi nhớ quê hương không chỉ gắn với nỗi nhớ cảnh mà còn gắn với nỗi nhớ người Đó là những người bà, người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, đức nhẫn nại, hi sinh, với tình yêu thương vô bờ bến, sự bao dung độ lượng Mẹ là nguồn sức mạnh tinh thần nâng đỡ những đứa con xa quê, là nơi trở về bình an
khi con gặp sóng gió bất trắc trên đường đời (Đi hết đương mưa của Phạm Hải Anh, Xứ Nắng của Lê Thị Thấm Vân) Đối với nhà văn xa xứ, tình cảm thiết tha
Trang 25với những giá trị cội nguồn của dân tộc, quê hương cũng là một khoảng sáng đáng quý trọng trong tâm hồn họ Cảm hứng xa xứ trong văn chương, trước hết, bắt nguồn từ tình trạng con người phải lìa xa quê hương, xứ sở, lưu lạc nơi đất khách, dẫn đến cảm thức lạc loài, cô đơn, bất an của kẻ tha hương
Cảm hứng xa xứ trong sáng tác của người Việt ở nước Đức biểu hiện ở hai phương diện: xa lạ ngay trên quê hương và lạc loài trên đất khách (Tiểu
thuyết Bụi và rác của Nguyễn Xuân Hoàng, truyện ngắn Xuôi dòng, Ngựa nản
chân bon của Nguyễn Mộng Giác, Đồi fanta của Duyên Anh, Chuyện kể trên đồi cam của Nguyễn Xuân Hoàng ) Ở mảng văn xuôi tiếng Việt khu vực
Đông Âu, cuộc sống vật chất của những di dân Việt được khắc hoạ với một màu sắc riêng qua sáng tác của Lê Minh Hà, Nguyễn Văn Thọ, Thuận, Mai Ninh, Trần Vũ, Phạm Hải Anh
Cảm hứng “về nguồn” được thể hiện khá rõ nét thông qua những cuộc trở về bằng cả tinh thần và hành động thực tế của các nhân vật trong văn học Thời gian dằng dặc, không gian xa xôi cùng những rào cản vô hình về tâm lý, chính trị, xã hội chưa hoàn toàn được phá bỏ càng làm cho khát khao được trở
về, được “tắm” mình trong bầu khí quyển, phong thổ quê hương, cội nguồn
thêm cháy bỏng, tha thiết (Truyện ngắn Đất Thánh, Cái vòng, Xứ sấm sét của
Võ Đình, Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng)
Có thể nói, các sáng tác của người Việt ở Đức đã đi từ cảm hứng hoài niệm lịch sử mang định kiến chính trị sang cảm hứng hoài niệm dân tộc, quê hương giàu tính nhân văn, từ cảm hứng về thân phận lưu vong sang cảm hứng
về thân phận “di dân toàn cầu”, từ thích nghi hội nhập nơi cư trú đến cảm hứng
“về nguồn”, văn chương viết bằng tiếng Việt làm phong phú hơn bức tranh văn học Việt Nam đương đại hải ngoại
Trang 261.2 Nhìn chung về văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
1.2.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Văn Thọ
Nguyễn Văn Thọ là một trong số ít nhà văn Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài Ông sinh năm Mậu Tý (1948), quê ở Thái Bình Xuất thân trong một gia đình có truyền thống lao động nghệ thuật, Nguyễn Văn Thọ được nuôi dưỡng và thừa hưởng những yếu tố văn hoá nghệ thuật từ người cha - vừa là hoạ sĩ đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương, vừa là nghệ nhân thông tỏ nhiều nhạc cụ dân tộc truyền thống Năm 1965, Nguyễn Văn Thọ nhập ngũ khi vừa tốt nghiệp học sinh phổ thông và ông đã làm trọn vẹn công việc của một người lính quả cảm Trải qua bao trận chiến khốc liệt, Nguyễn Văn Thọ trở thành một pho “truyện cổ tích hiện đại” Năm 1976, ông xuất ngũ trở về quê hương, làm đủ nghề để kiếm sống (làm bảo vệ, nhân viên chạy giấy tạp vụ, chụp ảnh, thợ hồ, ) Sau đó, ông tốt nghiệp Kĩ sư kinh tế, công tác tại Bộ Nội thương Năm 1988, Nguyễn Văn Thọ đi xuất khẩu lao động tại Đông Đức
Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Văn Thọ phải trải qua nhiều vất vả, lăn lộn, đau khổ, song cũng chính là lợi thế cho nhà văn có một vốn sống phong phú Dù viết về đất nước mình hay đất nước người, Nguyễn Văn Thọ đều viết với tâm thế của người trong cuộc, từng trải, quan sát và chiêm nghiệm, thể hiện cách nhìn cuộc sống một cách sâu lắng và trầm tĩnh Nguyễn Văn Thọ từng được nhận nhiều giải thưởng về văn học: giải Tư cuộc thi truyện ngắn của
Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1998 - 2000 (truyện ngắn Vườn Maria); giải Nhì cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2000 - 2001 (truyện ngắn
Cõi ảo); giải Tư cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2003 -
2004 (truyện ngắn Phố cũ); giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2004 (tập truyện ngắn Vàng xưa); giải Nhì cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 2006 - 2009 (tiểu thuyết Quyên)
Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Văn Thọ: thơ Mảnh vỡ (1988),
Cửa sổ (1999), Bên kia Trái đất (2002); truyện ngắn: Gió lạnh (1999), Vàng
Trang 27xưa (2003), Thất huyền cầm (2006), Sẩm Violet (2013), Vô danh trận mạc
(2013); tiểu thuyết: Quyên (2009); tạp văn, tùy bút: Đào ở xứ người (tùy bút, 2005), Mưa thành phố (2010 ), Vợ cũ ( tạp văn, 2013)
1.2.2 Con đường đến với văn chương và hành trình sáng tạo của Nguyễn Văn Thọ
1.2.2.1 Con đường đến với văn chương của Nguyễn Văn Thọ
Nguyễn Văn Thọ đến với văn chương khá muộn Ông đã có những năm tháng trong quân ngũ Năm 1984, Nguyễn Văn Thọ viết truyện ngắn đầu tay
Rồi chúng con sẽ trở lại quê hương, và sau đó đăng lên báo một số truyện
ngắn: Sương đêm, Muối mặn, ám ảnh nhưng chưa để lại dấu ấn trong lòng
độc giả Sau chiến tranh trở về với nghề muối, mộng văn chương dường như lụi tắt Trong khung cảnh đói khát bần cùng chung của toàn xã hội, vì cuộc sống mưu sinh, Nguyễn Văn Thọ đã tạm ngừng sáng tác để đi xuất khẩu lao động tại Đông Đức Mấy năm sau bức tường Berlin sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Nga và Đông Âu tan rã, đe doạ nghiêm trọng đến chế độ ở quê nhà Những biến động ấy như những nhát dao cứa vào tâm hồn, làm ông dằn vặt, đau khổ Lại một lần nữa nhà văn cầm bút Ông tâm sự: “tôi viết từ chính những gì diễn ra xung quanh tôi và cộng đồng người Việt xa xứ Viết ra để tâm sự, để giải toả chính mình” [3] Nguyễn Văn Thọ cũng từng là “thợ khách” ở Đông Đức, là người trong cuộc, ông hiểu hơn ai hết cuộc sống trên đất người với bao nhọc nhằn, tủi cực, ấm ức, bất an Trong sáng tác, Nguyễn Văn Thọ đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu, cảm thông với kiếp sống tha hương nơi miền đất lạ
Mặc dù đến với văn chương muộn mằn, lại trải qua nhiều chặng đường thăng trầm, song Nguyễn Văn Thọ lại có một bút lực dồi dào và dẻo dai Năm
1999, tập truyện ngắn Gió lạnh ra đời Bốn năm sau, Nguyễn Văn Thọ cho in tập thứ hai có tên Vàng xưa, sau khi đạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội Nhưng có lẽ, phải đến
Thất huyền cầm bạn đọc mới nhận ra Nguyễn Văn Thọ không chỉ là một cây
Trang 28bút sung sức mà còn là một cây bút thực sự tài năng Với Thất huyền cầm, ngòi
bút của Nguyễn Văn Thọ có phần đằm hơn, hầu như không có truyện nào non
lép Trong số mười hai truyện ngắn của tập truyện Thất huyền cầm, có những truyện từng đoạt giải thưởng trong các cuộc thi truyện ngắn trên tuần báo Văn
nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội như: Cõi ảo, Nhà ba hộ, Vườn Maria
Cũng có truyện không đoạt giải nhưng lại được bạn đọc yêu thích như: Một
người Đức, Lá bùa, Ám ảnh, Đặc sắc nhất là truyện Vàng Xưa, một truyện
ngắn có dung lượng lớn Lê Kim Thuỳ nhận xét: “Cũng là câu chuyện hậu chiến của người lính, song ở đây, từ vô danh trận mạc đến yêu sống, người ta đều nhận ra một Nguyễn Văn Thọ không chỉ từng trải mà qua những chi tiết gạn lọc của đời sống hôm qua và hôm nay, sự quan sát và chiêm nghiệm đã đến lúc chắt chiu, đọng lại, nhìn nhận cuộc sống một cách sâu lắng và trầm tĩnh” [106] Mỗi câu chuyện được viết ra dù ít hay nhiều cũng mang bóng dáng
về cuộc đời thực của nhà văn
Khi một tác phẩm - đứa con tinh thần ra đời là ông vơi đi một chút mắc
nợ Chính bằng sự trăn trở đau đáu đó, Nguyễn Văn Thọ đã đem đến cho người đọc những trang văn ngồn ngộn biến cố về cuộc sống mưu sinh của người Việt
di dân tới Đức qua tiểu thuyết Quyên Sự ra đời của tiểu thuyết Quyên (giải
Nhì cuộc thi tiểu thuyết 2006 - 2009 của Hội Nhà văn Việt Nam) đã gây được tiếng vang, thu hút sự chú ý của nhiều bạn đọc trong và ngoài nước (Đức), đồng thời khẳng định thêm một lần nữa đột phá của Nguyễn Văn Thọ trên con
đường văn chương, đúng như ông kì vọng về tiểu thuyết Quyên: “xin góp một
giọt nước hòa vào mạch chảy văn học sinh ra sau di dân, cụ thể hơn là của người Việt trên toàn cầu hôm nay đang viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, Pháp, Đức hòa trong thế giới toàn cầu làm thành con sông dòng văn chương đương đại Việt Nam” [106]
Trang 291.2.2.2 Hành trình sáng tạo của nhà văn Nguyễn Văn Thọ
Hành trình sáng tạo của nhà văn Nguyễn Văn Thọ khá phức tạp Ban đầu ông không có ý định trở thành nhà văn, nhưng chính từ cuộc đời đầy biến động, sóng gió, đắng cay, dằn vặt của mình, ông nhận thấy mình phải cầm bút Nguyễn Văn Thọ quan niệm: “Có gì đâu, tôi hay nghĩ, tôi sáng tác vì đau khổ,
vì muốn chia sẻ, tâm sự có tính đồng loại, chứ đâu phải chiến đấu vì cái giải Chả nhẽ sự vật vã hàng ngàn đêm trắng để có khi cắt máu ra mà viết chỉ để cho cái giải, thì tôi tầm thường thế ư?” [102] Với Nguyễn Văn Thọ, viết văn trước hết là để “giải toả nỗi cô đơn” để nói lên những uẩn ức đè nặng trong tâm hồn khi ly hương nhọc nhằn Đồng thời lấy cảnh ngộ của mình từng là một “thợ khách” lao động làm thuê nơi miền đất lạ, để cảm thông, thấu hiểu, sẻ chia, với những kiếp người lạc loài, đau khổ, thiếu thốn, đói rét, chịu cảnh lao động nặng nhọc nơi “xứ tuyết” như mình
Viết văn với Nguyễn Văn Thọ còn là “để thấy mình tử tế hơn” Khi
phóng viên Phi Hà, trong bài: “Nguyễn Văn Thọ: nỗi buồn của một nhà văn xa
xứ”, trên Vietbao.vn hỏi: “Thời buổi văn chương hạ giới rẻ như bèo thế này
mà anh vẫn nâng niu từng câu từng chữ một như thế, lại còn dành cho tất cả những người viết văn nói chung một thứ tình cảm sùng kính như thế liệu có hơi… lãng phí và lạc hậu quá không?” Nguyễn Văn Thọ trả lời: “Viết văn không mang lại tiền bạc, giải thưởng càng không có giá trị vật chất nhưng nếu tôi không viết, làm gì có tôi tử tế như thế này" [38]
Bàn về cách thức viết văn, mượn lời nhân vật ông Bổi trong truyện ngắn
Nuốt sách, Nguyễn Văn Thọ quan niệm: “viết văn cũng giống đóng thuyền Đây
là một công việc rất khó, đòi hỏi kinh nghiệm và sự lành nghề Tiêu chuẩn đầu tiên để khẳng định bản chất "thợ" của nhà văn là phải làm ra loại "thuyền" nổi được, chở được Nhưng đã là thợ giỏi phải biết "đóng" nhiều loại thuyền Cũng giống như nhà văn giỏi, phải viết được những tác phẩm có sức bao chứa nhiều tầng nghĩa Đối với Nguyễn Văn Thọ, nhà văn giỏi còn phải là người có tâm,
Trang 30có lòng chân thành, tuyệt đối không được dùng xảo ngôn để trí trá, lọc lừa Nhà văn phải là "người dùng chữ mà lay động, dung dưỡng tâm hồn kẻ khác"
Và "Muốn thế phải biết đau nỗi đau của đời, vui với hạnh phúc của người, giãi bày ngay thẳng tấm lòng tôi mà hợp với ta, san sẻ được với ta" [97] Trong
truyện ngắn Cõi ảo mượn lời nhân vật Nguyễn Thụ, nhà văn còn khẳng định
thêm: "Trước khi viết một điều nhân ái, phải biết tập sống nhân ái Khó lắm, nhưng phải thế!" [92;148] Ông đề ra các phương châm trong cách viết, tránh lối viết “uốn éo”, không nên lạm dụng "đại ngôn" theo kiểu "thùng rỗng kêu to" mà phải viết sao cho "bình nhiên, êm ả chảy" Ý tại ngôn ngoại vẫn là chủ trương trong cách viết của Nguyễn Văn Thọ Theo ông loại văn "siêu thặng, tuyệt chiêu trong thiên hạ" là loại không nói tới mà tới Còn loại văn nói tới mà không tới chỉ là loại vất đi" [97]
Sau mười một năm cầm súng, mười tám năm lao động kiếm sống ở nước ngoài, “hành trang” mà ông mang đến với văn học là những kỷ niệm mặn nồng
về quê hương, những vật lộn mưu sinh vất vả nơi xứ người Chân thực, sắc sảo
và giàu tình cảm, truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ để lại nhiểu ấn tượng trong lòng bạn đọc Nguyễn Văn Thọ tập trung khai thác các mảng đề tài: Chiến tranh, Hà Nội, cuộc sống nơi xứ tuyết, truyện dã sử (thời Quang Trung) Ở mỗi dạng đều thể hiện cảm nhận sâu sắc, thấm thía nhiều khi đến gai góc, dữ dội của một ngòi bút tinh nhạy, giàu khát vọng kiếm tìm, mổ xẻ và lý giải để phát hiện ra những giá trị nhân văn trong cuộc sống, những phức tạp trong tâm hồn, trong tính cách con người Dễ nhận thấy kỷ niệm về Hà Nội một thời tuổi trẻ
hồn nhiên đầy ước mơ của chính tác giả tràn đầy những trang viết trong Phố
cũ, Nhà ba hộ, Làng bên sông Đặc biệt, với Phố cũ (I và II) một Hà Nội "ba
sáu phố phường" cùng những khu phố cổ hiển hiện ấn tượng, đầy sức lay động
từ lối kiến trúc chật chội cổ xưa đến khung cảnh sinh hoạt, bán buôn gò bó, cọ xát vào tâm tư, nếp sống, nếp nghĩ vừa thuần phác, vừa biến động trong dòng chảy cuộc sống ở mỗi con người Cũ kỹ, ngột ngạt, bức bối, lại thật bình dị, êm
Trang 31đềm, quấn quýt tình người, nỗi đời Vừa muốn níu giữ, bảo tồn, vừa muốn vượt thoát vươn lên Không gian cuộc sống và tâm trạng trong Phố cũ rất thật,
rất động qua sự thể hiện của một ngòi bút tinh tế, sắc sảo, đậm trữ tình Nhà ba
ắp những kỷ niệm quá khứ và man mác với một hiện tại đầy biến động, đổi thay của cuộc sống hôm nay "Sông kia rày đã nên đồng " Âm hưởng hoài niệm trong Sông Lấp của Tú Xương khi xưa như phảng phất nơi những trang viết của Nguyễn Văn Thọ
Gần 20 năm lăn lộn ở nước ngoài, làm đủ mọi nghề kiếm sống, Nguyễn Văn Thọ thấm thía hơn ai hết thân phận người lao động nhọc nhằn, cam chịu nơi đất khách quê người Trong những truyện, ký trước đó và trong các truyện Trong bão tuyết, Thật là giản đơn ở tập này, cuộc sống, tâm tư những con người cùng cảnh được ông thể hiện chân thực, giàu chất tự truyện
Hình ảnh người đàn ông trong Trong bão tuyết có gì đó thật gần gũi với tác giả: "Khuôn mặt hắn có vết sẹo dài trên trán Đấy là vết thương của chiến tranh, ngày hắn đánh vào giải phóng thị xã Tuy Hòa Còn cái vết sẹo to như con giun ngoằn ngoèo chạy từ bả vai xuống tận cổ tay trái là nhát dao kỷ niệm của đám thợ hoàn kim tại Nga" [92;176], "Mười lăm năm xa quê, lang thang
ba bốn nước, bao nhiêu chuyện xảy ra Bao người thân yêu nhất mất đi mà hắn chẳng thể có mặt dẫu là chỉ để khóc" [92;166]
Và nỗi niềm của người phụ nữ vất vả, tảo tần trong truyện cũng chính là nỗi niềm chung của những con người xa xứ sống bằng chính mồ hôi nước mắt của mình, mải miết làm ăn, lo lắng cho gia đình nơi quê nhà mà không dễ dàng được sẻ chia, đồng cảm: "Ở quê, ai cũng nghĩ chị giàu có, tiền như nước Có
ai biết cái nỗi tha hương, gục mặt vào tuyết giá, nhịn ăn nhịn tiêu, nhịn cả tình cảm." [93;161]
Ký ức 11 năm cầm súng trên khắp các chiến trường ác liệt cho đến trận đánh cuối cùng vào ngày 30 - 4 - 1975, lịch sử đi vào những trang viết của
Trang 32Nguyễn Văn Thọ không ồn ào, dữ dội mà trầm tĩnh, sâu lắng ở những khía cạnh nhỏ bé, đời thường Trong Vô danh trận mạc, ông kể thật cảm động về
con chó khôn ngoan, trung thành rất mực đã sát cánh kiên cường bên những người lính suốt bao trận đánh khốc liệt, ngã xuống dưới làn đạn để cứu sống đứa trẻ như một "chiến binh" anh dũng
Bên cạnh đó, đề tài lịch sử được ông thể hiện bằng lối tư duy sắc sảo qua một bút pháp lãng mạn huyền ảo Những vấn đề của ngày hôm qua được soi chiếu bởi cách nhìn, cách cảm hôm nay Truyện vì thế cũ mà lại mới, gần gũi với tâm thức con người thời hiện đại Trong đó, Thất Huyền Cầm phảng phất phong vị liêu trai lại hàm ẩn những triết luận về vẻ đẹp của nghĩa khí, tâm hồn
và nghệ thuật Dựng lên một nhân vật dã sử độc đáo, kì dị cả tâm, tài, Nuốt
nói, truyện lịch sử là một thử nghiệm bước đầu khá thành công của Nguyễn Văn Thọ
Đọc Nguyễn Văn Thọ, thấy những chằng chịt, bề bộn nhiều khi đến mức hối hả, gấp gáp của sự kiện, tình huống, diễn biến tâm trạng góp phần đẩy nhanh tiết tấu, mạch truyện Người đọc đôi khi có cảm giác hơi "căng", tác giả hơi "tham" Song đó lại chính là phong cách riêng, là cái "chất" Nguyễn Văn Thọ đậm đặc không dễ trộn lẫn giữa nhịp điệu đều đều, uể oải có phần nhàm tẻ của không ít cây bút văn xuôi hôm nay Đặc biệt, sự mãnh liệt của cảm xúc qua giọng văn, cách khai thác xoáy sâu, đẩy đến tận cùng những tình tiết, sự kiện
để làm nổi bật ý tưởng mình gửi gắm làm những câu chuyện của ông có sức lôi cuốn người đọc Đó chính là cái tài kể chuyện của nhà văn Nhiều khi, chỉ là những nhân vật, sự việc rất đỗi bình thường, nhưng tác giả đã "thổi" vào đó cách nhìn, cách cảm sâu sắc, dữ dội của mình để cùng cuốn người đọc vào một trạng thái đồng cảm, sẻ chia
viết về những tình huống thật đơn giản, về tâm trạng của trẻ nhỏ, nhưng tác giả
Trang 33đã đẩy lên một tầng bậc ý nghĩa cao hơn, đưa chúng thành chuyện của người
lớn, những vấn đề cho mỗi người phải nghĩ suy Yêu sống và Vô danh trận mạc viết về những con chó nhưng lại cho con người day dứt về đời sống tình cảm, tâm hồn của chính mình, về ý thức, trách nhiệm trước cuộc đời Phải là người giàu trải nghiệm, nặng ưu tư mới có được những trang viết mà tình cảm
và trăn trở luôn ứa tràn trong từng câu chữ như vậy
Sinh năm 1948, với bề dày 20 năm cầm bút, Nguyễn Văn Thọ đã qua cái tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” để có thể ký thác vào văn chương mọi ân ưu về
"mệnh trời", lẽ đời Giờ đây ông vẫn sống hồn hậu, chân chất trong tình cảm yêu mến của người thân, bạn bè cộng đồng người Việt ở Đức, lao động kiếm sống và viết văn
Nguyễn Văn Thọ từng kể, có nhà báo nước ngoài hỏi rằng ông có thấy tủi nhục, xấu hổ không, khi một nhà văn như ông phải đứng bán hàng ngoài đường, kiếm từng xu lẻ Ông đã trả lời:" Đồng tiền nào kiếm được một cách lương thiện thì cũng cao quý như nhau, dù phơi mặt ra đường trong giá tuyết hay ngồi trầm ngâm trong sa-lông Quan trọng là tôi đã sống lương thiện, và đã viết đúng như mình sống, mình cảm nhận cuộc sống" Có lẽ chính sự thẳng thắn, chân thành cả trong cuộc sống và lương tâm người cầm bút đã giúp ông
có được những trang viết sâu xa, thấm đẫm tình nhân ái, tình cảm yêu thương con người
1.3 Vấn đề “Miền đất hứa” và phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ
1.3.1 Vấn đề “Miền đất hứa” trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ
Sau giải phóng khoảng mười năm, tức vào cuối thập niên 80, hàng triệu người Việt Nam nhận ra rằng, có hoà bình độc lập rồi, nhưng không có gì cho vào miệng rồi cũng chết Thế là một cuộc đào tẩu mới được thiết lập và mang tên bằng một mỹ từ “xuất khẩu lao động” sang các nước Đông Âu, với hi vọng rằng họ sẽ cưu mang cho hàng triệu cái dạ dày rỗng tuếch được đem đến từ
Trang 34một xứ sở anh hùng Đi Tây, đi xuất khẩu lao động để được đổi đời là mơ ước của biết bao người Vả lại, khi chứng kiến cảnh bà con láng giềng mình từ Tây trở về mang theo quà cáp, tiền bạc, áo quần, bàn là, quạt điện người ta mua sắm đủ thứ, xây nhà, tậu đất, có vốn liếng để kinh doanh tất cả như một sự cám dỗ kì lạ, hấp dẫn đối với những người quanh năm ở nhà đói nghèo Phương Tây trở thành một “miền đất hứa” cho những người ôm mộng làm giàu “Miền đất hứa” là chân trời của ước mơ, những trải nghiệm khác lạ để tìm thấy con người thực của mình, là những “giấc mơ”, những “kỳ vọng” đem lại cho con người một đời sống vật chất có thể nói là cao sang, vương giả,
“miền đất hứa” ở phía xa kia, cái nơi người ta vẫn thường nhắc đến như một
xứ địa đàng, một huyền thoại về hạnh phúc viên mãn
Trong sự ra đi đến với “miền đất hứa”, Nguyễn Văn Thọ là người trong cuộc, và từng là “thợ khách” ở Đông Đức, hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc về những ước mơ, khát vọng và cuộc sống của những người cùng cảnh ngộ Vì thế, nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ đều mang tâm lí chung: sang Tây đến với miền đất hứa để “xúc vàng” đưa về nước hưởng thụ
1.3.2 Vấn đề phận người tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ
Như đã nói ở trên, Nguyễn Văn Thọ là một trong số những người thuộc đối tượng đi xuất khẩu lao động hoặc sinh viên du học tập trung nhiều ở Đông
Âu, và được xem là nhà văn di dân Trong sáng tác của ông, vấn đề chính trị ít được quan tâm mà thường xoáy sâu vào thân phận con người xa xứ với cảm thức lạc loài, đối mặt với nỗi lo về vật chất, với sự nứt vỡ, rã nát về đời sống tinh thần, tình cảm Nhà văn Nguyễn Văn Thọ từng bộc bạch: “Khi tôi sống cuộc sống của những thân phận tha hương nơi xứ người; khi chúng tôi phải giành giật từng cơ hội nhỏ nhất để kiếm tiền và để sống sót; khi mùa đông trong khu vườn chỉ có tuyết, trong ngôi nhà có sáu cửa sổ, thì cả sáu đều phải đóng đinh để phòng cướp, ba cửa sổ khoét sẵn lỗ để chĩa súng bắn ra, còn mỗi cửa ra vào gác một thanh đao; khi vợ tôi đứng bán hàng ngoài trời mưa tuyết
Trang 35âm 10 độ đủ 18 tiếng mỗi ngày, chúng tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là sống được và kiếm đủ ăn đủ mặc Khi đó, bản năng sinh tồn giúp con người ta vượt qua những hiểm nguy và khốn khó nhất mà không kịp suy nghĩ gì Nhưng những đêm dài xa quê hương, những kỳ nghỉ hè mà đàn ông Việt Nam ngồi với nhau thì chỉ nghĩ đến chuyện nhà đất, hàng họ, còn đàn ông bản xứ nghĩ đến việc đưa vợ con đi nghỉ ở đâu và làm thế nào để yêu vợ được nhiều hơn; những mùa Giáng sinh, khi cả xã hội quanh mình quay theo vòng quay hội hè
và sự hưởng thụ cuộc sống đích thực - một vòng quay mà mình bị văng ra ngoài - lúc ấy tôi thấm thía thế nào là nỗi buồn, là thân phận con người, là sự cách biệt thăm thẳm về văn hóa Và tôi hiểu là nếu mình không viết thì sẽ chết mất Chết với một khối thạch khổng lồ đè nặng trong cõi lòng Vậy là viết, mà càng viết thì càng thấy có nhiều thứ để phải viết ra Có những lúc nhìn cái gì cũng ra cái nòng súng 12 ly 7 và thằng bạn cùng khẩu đội đã chết, có những khi nằm ở Posdam mà cả đêm cứ nghĩ về con ngõ nhỏ nhà mình ngày xưa, nhớ mùi hương hàng xóm thanh tân, vì cô bé mà mình say mê đầu đời tên là Hương Kinh khủng nhất là viết về những ngày mình vừa sống qua và đang sống, ngột ngạt, căng thẳng, lạnh giá, nhưng cũng thật là nhiều yêu thương Như là người vợ đang sống với mình vậy, từng chia sẻ, tin yêu, từng hạnh phúc, rồi từng cay đắng, nghi kị, từng phản bội, rồi lại cùng dựa vào nhau mà sống Tôi viết về tất cả những điều đó để thấy mình đã vượt qua nó như thế nào, để mọi người cùng yêu và ghét với tôi.” [107] Có thể nói, với mỗi nhân vật tha hương trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ, một nhúm đất, một dòng nước, một gốc cây hay một cơn mưa rừng ào ạt, dữ dội đều có thể mang chở
Trang 36nhiên càng về sau, cảm thức lưu vong càng mờ dần, chuyển thành màu sắc
“văn học di dân”, tìm đến hoà hợp vào dòng văn học di dân của các quốc gia khác trên thế giới Văn học đương đại Việt Nam hải ngoại không chỉ hướng đến những vấn đề nhân sinh rộng lớn mà còn chú trọng nỗ lực cách tân, làm mới nghệ thuật văn chương, đưa văn học Việt ở nước ngoài vượt thoát mặc cảm quá khứ, tìm tiếng nói chung với văn học nhân loại
Thứ hai, văn học Việt Nam hải ngoại, mặc dù được hình thành và phát triển ở nước ngoài nhưng đáng được xem là một bộ phận của văn học Việt Nam Trong số các nhà văn hải ngoại, Nguyễn Văn Thọ là nhà văn có những đóng góp đáng kể cho văn học Việt Nam đương đại ở hải ngoại
Thứ ba, có thể xem Nguyễn Văn Thọ là một trong những nhà văn Việt Nam hải ngoại suy ngẫm nhiều về “miền đất hứa” và phận người tha hương Cùng mạch nguồn với Nguyễn Văn Thọ, có không ít những nhà văn khác đã cảm thức về cội nguồn, gốc gác như một thứ huyết mạch âm thầm chảy trong suy tưởng và sáng tác của họ
Trang 37
Chương 2 HIỆN THỰC “MIỀN ĐẤT HỨA” VÀ PHẬN NGƯỜI THA HƯƠNG
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ 2.1 Hiện thực “miền đất hứa” trong văn xuôi Nguyễn Văn Thọ
2.1.1 “Miền đất hứa” và những khát vọng, mộng tưởng đổi đời
Nói đến “miền đất hứa”, người ta nghĩ nhiều đến miền đất phương Tây
(ở Mỹ, ở Canada, ở Đức ) giàu có, nơi có cuộc sống sang trọng, nơi dễ kiếm tiền, dễ “xúc vàng” để đổi đời Trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, mỗi một nhân vật đại diện cho một thân phận khác nhau trong thời khắc biến
cố những năm 80 Vào thời khắc ấy, hàng ngàn, hàng vạn lao động Việt Nam sang Liên Xô và các nước Đông Âu lao động nghề, sau là lao động xuất khẩu Rồi những biến động xã hội không thể lường được, Liên Xô và khối Đông Âu tan vỡ, thân phận họ bị xáo trộn, họ phải đi tìm chân trời mới để mưu sinh Và
sự kiện bức tường Berlin sụp đổ khiến nước Đức trở thành niềm hi vọng của
họ để tìm kiếm “miền đất hứa”
Viết về thân phận người Việt ở xa xứ, Nguyễn Văn Thọ tập trung đề cập đến sự cám dỗ của đồng tiền, đến sức mạnh của đồng tiền có ma lực ghê gớm khiến con người ta lao như một thiêu thân, bất chấp sống chết Khi mà đời sống của người Việt sau những năm chiến tranh còn nghèo khổ thì phương Tây, đi Tây là đến với “miền đất hứa”, là thiên đường của tự do và sung sướng,
là cảnh “xúc vàng” một cách dễ dàng để thoả mộng đổi đời, mộng giàu sang
Đây là lời tâm sự của nhân vật Minh trong tiểu thuyết Quyên: “Những cô gái
trẻ, nhất là đám chị em thiếu thông tin, ít va chạm, nhìn một thằng ở Tây về, [ ] khoác cái áo mác Việt Kiều [ ] lại mấy năm mới trở về rất hay xúng xính mũi áo, tiêu hoang như bắt được của [ ] bao cô gái bao điều ngộ nhận” [93;334] Vì tiền, vì mộng tưởng, vì tham lam khiến người ta ngộ nhận về một tương lai sán lạn đang chào đón mình ở xứ người Chính vì điều này mà Huệ
Trang 38(tiểu thuyết Quyên), một cô gái trẻ, bất chấp tất cả để nhắm mắt đưa chân sang
tận Ba Lan làm vợ “Việt Kiều”: “Năm em mười chín tuổi, anh ấy về nước Trong con mắt tụi em, những người ở nước ngoài trở về rõ là cực kì sung sướng Ai nấy ăn mặc thật đẹp, tiền tiêu như nước Có hai tháng, anh ấy xin cưới Bố mẹ em đồng ý ngay” [93;354] Vì gia cảnh làm nông, nhà đông miệng
ăn, học hành tốn bao nhiêu tiền, đào đâu ra tiền mà học, Huệ phải bỏ học giữa chừng Trong mắt người nghèo như Huệ, những người ở nước ngoài trở về rõ
là sung sướng, giàu có, cần gì quan tâm đến có tình cảm với nhau hay không, thời gian quen nhau dài hay ngắn, hình thức xấu hay đẹp, chỉ cần trong túi có tiền, nhiều tiền mà mỗi khi tiêu pha, “anh ấy cũng phẩy tay bảo: cứ vô tư đi! Bằng con trâu rụng một cái lông” [93;355] Thế nên, dù răng anh ta “hơi vâu vâu một tí”, mới quen nhau hai tháng, khi hỏi cưới, Huệ và cha mẹ cô đồng ý ngay, coi đó là sự may mắn quá, “còn gì bằng”, “hả hê ra mặt” [93;355]
Trong truyện ngắn Lá bùa, nhân vật Tám là người đi tìm giấc mộng đổi
đời ở “miền đất hứa” Theo lời kể của nhân vật “tôi” thì: “mợ tôi ở dưới quê, cái vùng chiêm trũng, nước đóng váng gạch cua tháng hạ, người nhiều hơn ruộng! Cậu tôi hy sinh trong chiến tranh biên giới để lại gánh nặng, bốn nách con cho mợ" [94;189] Do túng quẫn lại thấy cảnh "nhà tôi nghèo thế mà bỗng dưng có những mấy ngàn USD, lại ti-vi màu bóng nhẫy, chình ình trong cái nhà hẹp mười mấy mét vuông thì ai chả nghĩ, sang bên Đức có thể xúc ra tiền!" nên "muốn vay tiền để đứa con gái lớn của mợ, em tôi sang Đức", với một hi vọng mong manh "ngộ may có đổi đời như nhà các cháu.” [94;189]
Cũng có người đến với “miền đất hứa” không chỉ thoả mãn khát vọng đổi đời, giấc mộng đi kiếm tiền bạc mà còn thoả mãn lòng thèm khát công danh sự
nghiệp nơi xứ người Nhân vật Dũng, chồng Quyên (trong tiểu thuyết Quyên),
sang Nga học tiến sĩ, hết hạn anh vượt biên sang Đức, với hy vọng biết bao nhiêu về một vị trí xứng đáng chờ đợi anh ở thế giới phương Tây dầy hấp dẫn
Trang 39“sang bên này với cái bằng tiến sĩ, có ngày được Đức nó sử dụng” [93;98] Mơ ước vậy là chính đáng, đẹp đẽ, là lý tưởng thể hiện chí khí của kẻ làm trai
Cũng có những cuộc ra đi đến với “miền đất hứa” để sum họp gia đình, đoàn tụ với chồng con, để xoá nhoà khoảng cách chia ly ở hai thái cực trái đất
Đó là cuộc ra đi của Quyên, của Hùng, của Huệ, của Phi trong tiểu thuyết
Quyên Quyên là một cô gái Hà Nội có học thức, có nhan sắc trời cho và phẩm
chất cao đẹp Quyên hội tụ mọi đức tính tốt đẹp của một phụ nữ Hà thành: công, dung, ngôn, hạnh Ra trường Đại học, dự định của Quyên sẽ làm cô giáo dạy văn gần nhà (Hà Nội) Quyên có chồng là Dũng, một tiến sĩ từng học ở nước ngoài Cuộc sống đang rất hạnh phúc, chỉ vì ngộ nhận về một cuộc sống giàu sang hơn nơi xứ người, chỉ vì giấc mơ tìm kiếm danh vọng của Dũng nơi trời Tây hấp dẫn kia, buộc cô gái hai tư tuổi đời bỏ cả gia đình, quê hương, sự nghiệp đi theo tiếng gọi của tình yêu đến miền đất hứa : “Anh hãy cho em sang Đức tìm chồng Anh ấy rất yêu em Chúng em yêu nhau đã hơn ba năm và khi
xa nhau, tuần nào anh ấy cũng điện về Thậm chí hai, ba ngày một lần, có khi chỉ để nói một câu ngắn” [93;39]
Trong tiểu thuyết Quyên, nhà văn Nguyễn Văn Thọ quan tâm nhiều đến
cuộc ra đi của Hùng đến với “miền đất hứa”, đó là cuộc ra đi tìm đến với tình yêu, hạnh phúc gia đình Hùng là kĩ sư lâm nghiệp Sau khi tốt nghiệp Đại học lâm nghiệp xong, anh được phân công về bộ trong bộ phận nghiên cứu phát triển rừng đầu nguồn Công việc ổn định, không giàu sang nhưng bù lại gia đình anh rất hạnh phúc Vợ Hùng là diễn viên múa thuộc đoàn văn công, đẹp người và rất say nghề Hùng từng tự hào về vợ mình: “Suốt một thời, tôi nghĩ
và luôn tin rằng cô ấy là người đàn bà đẹp nhất trên đời Mà nói thực, thân hình vợ tôi cũng tuyệt lắm” [93;27] Hạnh phúc đối với Hùng là có vợ để được yêu thương và những đứa con để được cưng chiều Hùng khao khát được làm
bố, được nghe tiếng trẻ thơ bi bô gọi bố Nhưng vì miếng ăn, vì muốn có tiền,
vợ Hùng đã buộc anh phải đối mặt với những lựa chọn Đầu tiên là lựa chọn
Trang 40giữa những cái mình đang có trong tầm tay và cái mình có với một hứa hẹn:
“tôi muốn có một đứa con nhưng cô ấy chưa muốn Cô ấy nói, nghề của em
chủ yếu là trông vào thể hình Bây giờ còn múa được, có con thì ai dùng, lấy gì
mà ăn?” [93;27] Hùng phải công nhận cô ấy nói có lí Trong đoàn múa của vợ,
anh biết “một diễn viên cùng đoàn, sinh một con rồi nom như bà Phán Có
ai muốn xem “bà Phán” múa đâu Mà bản thân anh thì chưa nuôi được vợ
Chưa nuôi được vợ thì sao có thể thuyết phục cô ấy sinh con?” [93;27] Hùng
đành ngậm ngùi cho rằng lựa chọn nào rồi cũng có những hi sinh, anh không
thể tham lam muốn ôm trọn tất cả được Có khi cũng phải tiêng tiếc một cái gì
đó không được nằm trong sự lựa chọn của mình hay mình không có quyền lựa
chọn thêm nó Cuộc sống là thế, một sự bất toàn màu nhiệm chia đều cho tất cả
mọi người Nhưng rồi năm sáu năm trôi đi, vợ Hùng cũng chẳng khá hơn trong
nghề nghiệp tí nào Gia cảnh vẫn nghèo tàn, cái đói, cái khổ cứ đeo bám, vợ
chồng vẫn cứ hai cái bếp dầu, một cái giường phân phối và hai cái quạt con
cóc Bát đĩa cái sứt, cái mẻ Hùng chua chát: “Tôi đi công tác liên miên, nên
chẳng khi nào đưa vợ được một xu Cô ấy nạo thai tới bốn, năm lần trong hai
năm Lần cuối cùng, có một sự cố kĩ thuật, cô ấy vĩnh viễn không bao giờ được
làm mẹ Tuy thế, tôi chưa khi nào hao giảm tình yêu với vợ Đôi khi nghĩ lại,
tôi oán cái vô dụng của chính mình Năm ấy đoàn đi biểu diễn ở Tây Nguyên,
biên giới, hải đảo Ba tháng sau về cô ấy lăn ra ốm hơn hai tháng Tưởng chết
Khi ấy thương vợ lắm mà chẳng có cách nào thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn
đeo bám Lúng túng vô cùng” [93;27]
Để thoát ra khỏi sự túng bấn, bế tắc, khó khăn đeo bám, Hùng chấp nhận
sự lựa chọn không trọn vẹn của cuộc sống: để vợ đi xuất khẩu lao động:
“Thời gian ấy, người ta ào ạt tổ chức các đợt xuất khẩu lao động Đoàn văn
công của cô ấy có tới hai suất Bàn đi tính lại, tôi để cô ấy đi” [93;27]
Cái quý giá của đời sống con người là sự khoáng đạt và an bình của tâm
hồn Thật trống rỗng biết bao nếu mọi cố gắng của mình chỉ là sự chịu đựng để