Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An.... Học sinh tham gia học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN PHÚC TRƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN PHÚC TRƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH HUÂN
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các cấp lãnh đạo, anh chị
em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- Ban Giám hiệu và Phòng đào tạo sau Đại học, Hội đồng khoa học trường Đại học Vinh;
- Các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn;
- Đặc biệt, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
giáo - PGS TS Nguyễn Đình Huân - người hướng dẫn khoa học đã tận tâm
bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
- Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục thường xuyên Sở giáo dục và đào tạo Long An; Ban giám đốc, các giáo viên thuộc các trung tâm GDTX cấp huyện trên địa bàn tỉnh Long An, các
cơ quan đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn
Mặc dầu tác giả đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Phúc Trường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
KÍ HIỆU VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức 8
1.2.2 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 13
1.2.3 Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 17
1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 18
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức học sinh tại các giáo dục thường xuyên 19
1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 19
1.3.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của việc giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 22
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 23
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 24
1.4 Một số vấn đề về quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 26
1.4.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 26
1.4.2 Nội dung quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 27
1.4.3 Phương pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên 29
Trang 51.4.4 Các yếu tố chi phối đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các
trung tâm giáo dục thường xuyên 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN TỈNH LONG AN 36
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục thường xuyên tỉnh Long An 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Long An 36
2.1.2 Khái quát về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An 38
2.1.3 Khái quát về các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Long An 39
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 43
2.2.1 Mục đích khảo sát 43
2.2.2 Đối tượng khảo sát 43
2.2.3 Nội dung khảo sát 43
2.2.4 Phương pháp khảo sát 43
2.3 Thực trạng về công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Long An 44
2.3.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 44
2.3.2 Thực trạng về công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 45
2.3.3 Thực trạng sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 47
2.3.4 Thực trạng về sự tham gia của các lực lượng đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 48
2.3.5 Thực trạng về kết quả của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 50
2.4 Thực trạng về quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Long An 51
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 53
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 54
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An 56
Trang 62.5 Đánh giá chung về thực trạng 58
2.5.1 Những ưu điểm 58
2.5.2 Những hạn chế 58
2.5.3 Nguyên nhân của thực trạng 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN TỈNH LONG AN 62
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 62
3.2 Một số giải pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cấp huyện tỉnh Long An 64
3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và bồi dưỡng đội ngũ trực tiếp GD đạo đức học sinh 64
3.2.2 Đổi mới công tác lập kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 71
3.2.3 Tăng cường công tác giáo dục kỹ năng sống cho HS 74
3.2.4 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh giáo dục thường xuyên 80
3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho công tác giáo dục đạo đức học sinh giáo dục thường xuyên 84
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 87
3.4 Khảo sát sự cần thiết và khả thi của các giải pháp 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93 PHỤ LỤC
Trang 7GVTHPT Giáo viên trưng học phổ thông
Trang 8hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục, sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên hiện nay như:
có lối sống thực dụng, thiếu sự quan tâm đến cuộc sống tương lai, thiếu những
dự tính, những định hướng nghề nghiệp; khi làm việc thì chạy theo bằng cấp, chạy theo thành tích và dựa vào ai đó để tiến thân một cách tiêu cực Thêm vào
đó, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, của mạng Internet thì cũng có những mặt trái của nó, ảnh hưởng đến quá trình học tập và làm việc của thanh thiếu niên như: nghiện games online, nghiện các trang mạng xã hội, các loại phim ảnh xấu và những trang thông tin không lành mạnh
- Về mặt thực tiễn:
Các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Long
An cũng không đứng ngoài thực trạng đó Thời gian vừa qua, tỉnh Long An cũng có những chuyển biến về phát triển kinh tế, các khu công nghiệp xuất hiện càng nhiều, người dân nhận được số tiền từ sự bồi thường giải tỏa là tương đối lớn nhưng ý thức quản lý và sử dụng đồng tiền hợp lý thì chưa cao nên dẫn đến một bộ phận thanh thiếu niên trong tỉnh Long An sử dụng đồng tiền vào nhu cầu xa hoa không chính đáng và không có ý nghĩa
Những người trong độ tuổi lao động hầu như chuyển sang làm công nhân, thương mại, dịch vụ nên mất nhiều thời gian cho công việc, không có nhiều thời
Trang 9gian để quan tâm đến gia đình Từ đó, các bậc phụ huynh học sinh và nhất là phụ huynh của những học sinh hệ giáo dục thường xuyên thiếu đi sự quan tâm con cái từ miếng ăn giấc ngủ đến việc học hành, các em thiếu đi sự chăm sóc và tình thương của cha mẹ Nhiều em có hoàn cảnh gia đình không được suông sẽ, cha mẹ ly hôn các em phải sống với người thân khác như ông bà, cô dì chú bác nên việc dạy dỗ các em càng ít hoặc không có
Học sinh tham gia học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên ngoài vấn
đề năng lực học tập yếu kém thì ý thức học tập và đạo đức của các em cũng thấp, một bộ phận học sinh thiếu sự hợp tác với thầy cô giáo, thiếu sự kính trọng thầy cô và sẳn sàng phản ứng mạnh có khi đến mức vô lễ với thầy cô giáo trong các trung tâm giáo dục thường xuyên
Với một số lý do như vừa nêu trên, là người làm công tác quản lý trong trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tôi nhận thấy nhu cầu cấp thiết là cần phải có một số biện pháp nào đó nhằm giáo dục đạo đức học sinh thiết thực
và hiệu quả, từ đó tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản
lí công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khảo sát thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Long An
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các
trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
Trang 103.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An còn một số hạn chế và thực hiện chưa đồng bộ, người quản lý ở các trung tâm có khi chưa thật quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức học sinh Nếu phân tích và đánh giá được rõ ràng những nguyên nhân hạn chế và đề ra được những giải pháp quản lý sát hợp và
có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An
5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
5.1.2 Khảo sát, phân tích thực trạng và đánh giá việc quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Long An
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các tài liệu, các văn bản có liên quan đến đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin từ thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài, gồm có: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thống kê, xử lí số liệu
7 Đóng góp của luận văn
- Đóng góp về mặt lý luận: Sưu tầm và hệ thống lại những tài liệu, những văn bản có liên quan
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh; phân tích cụ thể các nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An; góp phần vào tài liệu tham khảo cho giáo viên và cán bộ quản lí tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyệntrong và ngoài tỉnh Long An
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyêncấp huyện
Chương 2 Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Long An
Chương 3 Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyệntỉnh Long An
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Từ khi loài người xuất hiện, trong cuộc sống con người không thể tránh khỏi một quy luật tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau
để sinh tồn và phát triển Những quan hệ đó giữa con người với con người, giữa
cá nhân và cộng đồng ngày càng vô cùng phức tạp, phong phú đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử, điểu chỉnh thái độ, hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của cộng đồng, của xã hội Trong trường hợp đó, cá nhân được tập thể, cộng đồng coi là người có đạo đức Ngược lại, có những cá nhân biểu hiện thái độ, hành vi của mình chỉ vì lợi ích của bản thân làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, của cộng đồng,… lập tức bị xã hội chê trách, phê phán thì cá nhân đó bị coi là thiếu đạo đức Vậy đạo
đức có lịch sử nghiên cứu như thế nào?
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử xã hội loài người Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học
đã hình thành hơn 20 thế kỷ trước đây trong triết học phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ, và triết học phương Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại… Nó được hoàn thiện và phát triển trên cơ sở các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, mà đỉnh cao nhất của nó là đạo đức mới: đạo đức cộng sản mà xã hội ta đã và đang xây dựng
Khổng Tử - nhà hiền triết thế kỷ VI trước công nguyên đã khuyên học trò của mình: “Tiên học lễ, hậu học văn” Ông mong muốn xã hội phát triển bình
ổn, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý Để thực hiện những ý
Trang 13tưởng đó, ông đề ra nguyên tắc vua tôi, ông bà, cha mẹ, con cháu đều phải theo luật nước, phép nhà Khổng Tử không phải là người đầu tiên bàn đến đạo đức nhưng công lao chính của ông là đã tổng kết được kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, trên cơ sở đó xây dựng nên các học thuyết về đạo đức Học thuyết này còn nặng về tư tưởng Nho giáo và ý thức hệ phong kiến nhưng chứa đựng nhiều vấn đề đạo đức xã hội Đó là ý thức đối với bản thân, với xã hội, cách ứng
xử và hành vi của con người
C.Mác có một luận điểm khoa học rất tuyệt vời: Ông coi con người là một
hệ thống những năng lực thể chất và năng lực tinh thần Theo cách hiểu của Mác, đạo đức của con người thuộc về những năng lực tinh thần và nhờ chúng
mà những năng lực thể chất có định hướng phát triển đúng đắn Chủ nghĩa Mác
đã khẳng định rằng: "Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người có sự tồn tại quy luật đạo đức Vì đạo đức được nảy sinh, tồn tại, phát triển như là một tất yếu" [27, tr 17] Đồng thời, chủ nghĩa Mác cũng khẳng định: "Cội nguồn của đạo đức là từ lao động, từ những hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội, sáng tạo ra những giá trị có ích cho con người, vì con người Đó là quy luật sinh thành và phát triển của những quan hệ đạo đức xã hội" [29, tr 17]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minhlà người Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác - Lênin và thật sự làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức, Người gọi đó là đạo đức mới, đạo đức Cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải
là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.” [29, tr 377]
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là mẫu mực kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với đạo đức Cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lênin Những tư tưởng đạo đức cũng
Trang 14như tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người Cho nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình phát triển tư tưởng đạo đức và việc xây dựng nền đạo đức cách mạng mà Người là tấm gương tiêu biểu, sinh động và trong sáng nhất của nền đạo đức cách mạng đó
Hồ Chí Minh xem đạo đức là cái gốc của nhân cách, Bác viết: “Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người Cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân…” Còn đối với thế hệ trẻ, phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” [28, tr 112] Điều đó cho thấy, đạo đức và tài năng là hai nội dung không thể thiếu được trong bồi dưỡng giáo dục, trong đó đạo đức là yếu tố gốc
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu như giáo trình của Trần Hậu Khiêm (NXB Chính trị quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng (NXB Giáo dục, 2001); Giáo trình đạo đức học (GS.TS Nguyễn Ngọc Long chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2000)…
GS.TS Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) trong quá trình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra một số định hướng cho GVCN trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp GDĐĐ cho học sinh trường phổ thông
PGS.TS Phạm Khắc Chương, trường Đại học sư phạm Hà Nội nghiên cứu: Một số vấn đề GDĐĐ ở trường THPT - Rèn ý thức đạo đức công dân
Đặc biệt, Tỉnh Long An hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề hết sức
Trang 15cần thiết, góp phần vào công cuộc xây dựng nền giáo dục toàn diện cho các Trung tâm Giáo dục thường xuyên nói riêng và tỉnh Long An nói chung
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức
1.2.1.1 Khái niệm về đạo đức
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mois - lề thói, một phương thức điều chỉnh hành vi con người Đạo đức đòi hỏi các cá nhân phải chuyển hoá những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hoá này là hành vi cá nhân tuân theo những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với đòi hỏi của xã hội Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các mối quan hệ xã hội Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định, phản ánh “Những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng nào” (Lê Nin) Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người và người Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội và ca ngợi cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn “Không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến
bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức của nhân loại” (Enghen) Vì vậy, quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn
Có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức:
Trang 16- Theo tự điển tiếng Việt (NXB Khoa học XH), định nghĩa: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [7, tr 211]
- Theo giáo trình: “Đạo đức học” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - Năm 2000) chỉ rõ: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [24, tr 8]
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [25, tr 31]
Theo PGS.TS Phạm Khắc Chương cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [12, tr 51]
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:
Góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích của người khác và của xã hội
Góc độ cá nhân: Đạo đức là những phẩm chất của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối
Trang 17quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội Khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn
Các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay
Đạo đức có ba chức năng cơ bản:
Chức năng giáo dục:
Chức năng giáo dục của ĐĐ là để hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ĐĐ cho con người Nó giúp con người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội vì trong đời sống tinh thần của bất cứ XH nào cũng tồn tại hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực ĐĐ để định hướng cho con người Hệ thống này hình thành để đáp ứng nhu cầu phát triển của XH, phù hợp với lợi ích chung và lợi ích riêng của mọi người Đồng thời, con người dựa vào đó để tự điều chỉnh mình Vì vậy, chức năng giáo dục đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên” [28, tr 20]
Chức năng điều chỉnh hành vi:
Chức năng điều chỉnh hành vi ĐĐ có tác dụng làm cho hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của XH, của cộng đồng Thực tế đời sống đa dạng, phức tạp nên chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi ĐĐ có
vị trí rất quan trọng và cần thiết trong đời sống XH
Trang 18Xã hội muốn ổn định và phát triển, đòi hỏi tính tự nguyện, tự giác của mỗi con người Xã hội càng văn minh thì tính tự giác của con người phải càng cao Những chuẩn mực ĐĐ giúp con người điều chỉnh ý chí và hành vi của mình nhằm đáp ứng yêu cầu chung của nền ĐĐ XH
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu:
- Xã hội và tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích chủ thể
có ĐĐ, có những hành vi tốt đẹp Đồng thời, cần phê phán nghiêm khắc và lên
án những biểu hiện không lành mạnh, gây tác hại cho con người
- Bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác, tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ của XH
Chức năng nhận thức:
Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã hội về mặt ĐĐ Các quan điểm, tư tưởng, những nguyên tắc, chuẩn mực ĐĐ vừa là kết quả phản ánh tồn tại XH của con người vừa tác động trở lại đời sống con người
Các chuẩn mực đạo đức là những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phù hợp yêu cầu phát triển của xã hội, tạo nên tính cách tốt đẹp của mỗi con người Nó được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu về mặt đạo đức để con người căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, điều chỉnh bản thân Chức năng nhận thức có vai trò định hướng cho mọi hành vi của chủ thể
ĐĐ Chức năng nhận thức đã trang bị cho con người những tri thức lí luận và thực tiễn ĐĐ để con người nhận thức được lẽ phải, tránh những cái xấu Để thực hiện tốt chức năng này, mỗi người cần phải rèn luyện mình trong đời sống để nhận biết những giá trị ĐĐ Đồng thời, xã hội cũng cần có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục cho mọi người có tri thức về ĐĐ, hiểu những chuẩn mực
ĐĐ trong xã hội
Trang 191.2.1.2 Khái niệm về giáo dục đạo đức
GDĐĐ cho học sinh là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội Trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan trọng
GDĐĐ cho học sinh còn là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất
ĐĐ, nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được
tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và vai trò chủ đạo của nhà giáo dục Từ đó, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên…
Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục
và yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS chuyển những chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc ĐĐ,…từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng mình mà mục tiêu cuối cùng là hành vi ĐĐ phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội GDĐĐ không chỉ là dừng lại ở việc truyền thụ những khái niệm, những tri thức ĐĐ,
mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của HS
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho HS những tri thức, ý thức ĐĐ, niềm tin, tình cảm ĐĐ và quan trọng nhất là hình thành ở
HS hành vi, thói quen ĐĐ phù hợp với các chuẩn mực xã hội Hay nói một cách khác, GDĐĐ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách có mục đích, có
kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở HS ý thức, tình cảm, hành vi và thói
quen ĐĐ
Trang 201.2.2 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản
lý
Sự xuất hiện của hoạt động quản lý trong xã hội dẫn đến mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý và những mối quan hệ qua lại của các nhân tố trong
hệ thống quản lý Những mối quan hệ phức tạp ấy người ta gọi là quan hệ quản
lý - một kiểu của quan hệ xã hội và là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản
lý Khoa học quản lý đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các mối quan hệ quản
lý và các quy luật vận động, phát triển của chúng, trên cơ sở đó đề xuất những con đường, phương pháp tối ưu cho sự quản lý hệ thống xã hội nhằm tạo điều kiện cho nó vận hành thuận lợi đạt tới mục tiêu xác định
Các học thuyết quản lý
Khoa học quản lý được hình thành, phát triển trên nền tảng của những tiến
bộ khoa học và công nghệ, thành tựu của những giá trị văn hoá - tinh thần, song đặc biệt nó gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp
- Thuyết quản lý khoa học của F.W.Taylor (1856-1915) - người Mỹ
Một trong những lý thuyết quản lý tiêu biểu phải kể đến đầu tiên là Thuyết quản lý khoa học của F.W.Taylor Taylor đã đề xuất ra những nguyên
Trang 21tắc cơ bản để quản lý một cách khoa học, cải tiến quy trình tuyển dụng, huấn luyện nhân viên và tìm kiếm một phương pháp hữu hiệu nhất để hoàn thành công việc.Tuy nhiên, trường phái quản lý khoa học trong khi đề cao vai trò trung tâm của công nghệ đã ít quan tâm đến khía cạnh con người trong sản xuất Họ cho rằng, nhân công là một yếu tố của hao phí sản xuất và cũng là một yếu tố bất định
tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra
- Thuyết quản lý bàn giấy
Đại biểu cho trường phái này là nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920)
Quản lý kiểu bàn giấy là một hệ thống dựa trên những nguyên tắc hệ thống thứ bậc, sự phân công lao động và quy trình sản xuất, kinh doanh Theo M.Weber, để quản lý tốt một tổ chức cần xác định rõ những vấn đề quy luật, chuẩn mực của tổ chức, phân định rạch ròi quyền hạn của mỗi cấp quản lý, có những cam kết ràng buộc mỗi thành viên với tổ chức và ngược lại
Trên đây là một số trường phái quản lý truyền thống tiêu biểu Nhìn chung, các lý thuyết đó đều nhấn mạnh đến những nguyên tắc quản lý, đề cập các mối quan hệ quản lý và đề cao vai trò của nhà quản lý Ngày nay, các quan điểm quản lý truyền thống đó vẫn được nghiên cứu, cải tiến và vận dụng Song các quan điểm quản lý hiện đại đã chú ý nhiều hơn đến việc tạo điều kiện để
Trang 22những nhà quản lý có ứng xử hợp lý khi động chạm đến khía cạnh con người trong một tổ chức (quan điểm hành vi); tiếp cận hệ thống trong quản lý (quan điểm hệ thống); coi trọng bốn chức năng quản lý chủ yếu: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra; coi trọng tính hiệu quả, xem con người là nguồn lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất (lý thuyết quản lý hiệu quả)…
1.2.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người
ta đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi
Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành
Trang 23theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
Chủ thể quản lý điều khiển các thành tố trong hệ thống quản lý thông qua hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống đó
Tính chất chỉ huy – chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản lý Tuy nhiên, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều có mục đích chung
Quản lý giáo dục có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi
để mỗi cá nhân có thể hoạt động đạt được hiệu quả cao trong quá trình đạt đến mục đích chung
Quản lýcấp độ vi mô
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất
Tiếp cận theo góc độ điều khiển học, có thể hiểu quá trình quản lý giáo dục là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo khái niệm trên, quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, phương pháp quản lý, mục tiêu quản
lý Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị,
xã hội chung quanh
Trang 24Như vậy, thuật ngữ “quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục ở tầm vi mô Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động bên trong nhà trường
Tác động từ bên ngoài nhà trường là tác động của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường
Tác động từ bên trong là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đặt ra
Đó là sự tác động của thủ trưởng, người chỉ huy cấp trên đối với các tổ chức cấp dưới thuộc quyền
Sự tác động đó phải có mục đích, có kế hoạch và phải tuân theo các nguyên tắc quản lý
Quá trình quản lý giáo dục là hoạt động của các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái mới về chất Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội (hiện tượng hoạt động, lao động, công tác), vừa là một loại quá trình xã hội (quá trình quản lý) đồng thời cũng là một hệ thống xã
Trang 25quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng động cơ thái độ tình cảm, hành vi và thói quen, đó là những nét tính cách của nhân cách, ứng xử đúng đắn trong xã hội
1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Giải pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể.” [37, tr 64]
Theo cuốn từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm: “Giải pháp
là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến một mục đích nhất định ”
Như vậy, nghĩa chung nhất của giải pháp là cách làm, thực hiện một công
việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra
Giải pháp quản lý GDĐĐ là một loại giải pháp hành chính nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong công tác GDĐĐ, chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Các giải pháp quản lý GDĐĐ đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý GDĐĐ của cán bộ quản lý Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở thực
tiễn của nhà trường nên nếu được vận dụng tốt sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao
Giải pháp quản lý GDĐĐ là cách làm, cách hành động cụ thể để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh
Trang 261.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức học sinh tại các giáo dục thường xuyên
1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
Các Trung tâm GDTX hiện nay trên địa bàn tỉnh Long An tập trung giảng dạy học sinh cấp Trung học phổ thông, các em có độ tuổi đa số từ 15 đến 18 tuổi, tuy nhiên cũng có một số em đã từng bước vào đời rồi quay trở lại tiếp tục việc học nên độ tuổi những em này đã trên 18 tuổi
Như vậy, đặc điểm tâm lý của học sinh trung tâm GDTX có những điểm giống và những điểm khác so với học sinh trung học phổ thông Thể hiện một số đặc điểm sau đây:
Lứa tuổi học sinh là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ
Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không
có cơ sở thực tế
Trí nhớ của học sinh cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ,
Trang 27trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng
có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc
ôn lại bài
Hoạt động tư duy của học sinh phát triển mạnh Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý
Nhìn chung tư duy của học sinh phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của người giáo viên
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm
Trang 28chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và
có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị
Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn
bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân
Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn
Ở tuổi này cũng đã xuất hiện môt loại tình cảm đặc biệt – tình yêu nam
nữ Tình yêu của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì cá em thường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu
Trang 29Một số đặc điểm khác giữa độ tuổi học sinh THPT và học sinh GDTX:
Do hoàn cảnh gia đình của các em học sinh GDTX không như các em học sinh THPT, các em học sinh GDTX ít được cha mẹ quan tâm về việc học, việc phát triển nhân cách; nhiều em có hoàn cảnh gia đình bị tổn thương, các em không được sống chung cha mẹ, thiếu đi sự chăm sóc của cha hoặc mẹ hoặc cả
2, một số em phải sống chung ông bà hoặc người thân nào đó Nên việc giáo dục các em để hình thành nhân cách các em có sự khác biệt Tâm lý các em sẳn sàng phản ứng trước những tình huống sư phạm, khi các em bị thầy cô nhắc nhỡ,
la rầy thì cơ chế tự bảo vệ các em trỗi dậy, các em sẳn sàng đối nghịch lại lời thầy cô, các em cũng không nhận thức được tầm quan trọng của việc học, thường xuyên vắng học, nghỉ học, thậm chí có những em vào học chỉ để được cha mẹ chu cấp tiền xài, bản thân khỏi phải làm việc khác vất vả còn kết quả việc học các em không quan tâm
1.3.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của việc giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
Giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trung tâm GDTX là nhằm cũng cố và tiếp nối GDĐĐ của cấp trung học cơ sở Công tác này được thực hiện thường xuyên và lâu dài trong mọi tình huống chứ không phải chỉ thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách, nhằm để hình thành nhân cách của các em theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tiến trình lịch sử cách mạng của dân tộc
Với tầm quan trọng và ý nghĩa như trên nên việc giáo dục đạo đức có những nhiệm vụ như sau:
* Giáo dục ý thức đạo đức: nhằm hình thành ở học sinh một hệ thống các tri thức ĐĐ mà các em cần phải có Cụ thể:
Trang 30- Hệ thống các khái niệm cơ bản của phạm trù ĐĐ XHCN: cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác
- Hệ thống các chuẩn mực ĐĐ được quy định cho học sinh
- Cách ứng xử trong các tình huống khác nhau phù hợp với các chuẩn mực ĐĐ đã quy định
* Giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức: Giáo dục tình cảm ĐĐ cho học sinh là thức tỉnh ở họ những rung động trái tim với hiện thực xung quanh, làm cho họ biết yêu, biết ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn với các hiện tượng trong đời sống xã hội và tập thể
* Giáo dục hành vi và thói quen đạo đức: Mục đích cuối cùng của GDĐĐ
là hình thành hành vi ĐĐ trong cuộc sống hằng ngày của trẻ Hành vi ĐĐ được thực hiện bởi sự chỉ đạo của ý thức và sự thôi thúc của tình cảm mới là hành vi đích thực, mới trở thành thói quen thành thuộc tính của con người Hành vi, đặc biệt là thói quen hành vi chỉ có thể hình thành thông qua tập luyện Trong cuộc sống sinh hoạt, cần giáo dục cho các em hành vi có văn hóa, tức là hành vi đó
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học
Trang 31tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo
vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáo dục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; biết kính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; đối với em nhỏ phải có
sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm, bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo
vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
Phương pháp GDĐĐ trong nhà trường là cách thức hoạt động gắn bó với nhau của người giáo dục và người được giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất theo mục tiêu giáo dục
Trang 32Phương pháp GDĐĐ là một thành tố quan trọng và tác động trực tiếp đến kết quả của quá trình GDĐĐ cho học sinh Có các nhóm phương pháp cơ bản sau đây:
* Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí nhằm hình thành ý thức cá nhân cho HS, nhằm cung cấp cho HS những tri thức về đạo đức
Đó là những chuẩn mực, những quy tắc, cách ứng xử giao tiếp, thái độ hành vi đối với con người, tự nhiên, xã hội về cái đúng - cái sai; cái chân - thiện - mỹ trong cuộc sống
Nhóm phương pháp này gồm có các phương pháp sau:
- Phương pháp đàm thoại: là trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài nào đó thuộc lĩnh vực đạo đức nhằm GDĐĐ cho HS Phương pháp này nhằm lôi cuốn
HS vào việc phân tích, đánh giá sự kiện, hành vi, các hiện tượng trong đời sống
xã hội Trên cơ sở đó, HS ý thức một cách sâu sắc thái độ đúng đắn của mình với hiện thực xung quanh và trách nhiệm về các hành vi, thói quen, lối sống của chính bản thân HS
- Phương pháp nêu gương: là nêu gương cụ thể những điển hình mẫu mực
về người tốt việc tốt, những lý tưởng sống đẹp Đây là phương pháp quan trọng GDĐĐ cho HS có hiệu quả nhất
- Phương pháp tổ chức hoạt động xã hội: Tham gia các buổi lao động công ích, tham gia thể dục thể thao chung cho toàn trường hoặc ở địa phương, tham gia giao lưu học tập, giao lưu văn hóa, tham gia tặng quà cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng,…Qua đó, hình thành và phát triển những hành vi, thói quen, phù hợp với chuẩn mực đạo đức
* Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử Nhóm này gồm có các phương pháp sau:
Trang 33- Phương pháp thi đua: đây là phương pháp không thể thiếu ở các trung tâm GDTX, là phương pháp kích thích HS thi đua để tự khẳng định mình Trong thi đua, mỗi tập thể lớp và cá nhân phải cố gắng vươn lên, có ý thức trách nhiệm, thực hiện đầy đủ nội dung thi đua, phấn đấu lập thành tích cao nhất
- Phương pháp khen thưởng - phê bình - động viên: Khen thưởng cá nhân và tập thể có quá trình phấn đấu, đạt thành tích cao, có những hành động và việc làm tốt Qua đó có tác dụng kích thích, tác động quá trình tu dưỡng đạo đức của mỗi
cá nhân Còn phê bình và động viên, vừa biểu hiện sự nghiêm khắc, vừa uốn nắn
điều chỉnh những hành vi đạo đức chưa chuẩn mực của học sinh
1.4 Một số vấn đề về quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
1.4.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thườngxuyên
Mục tiêu quản lý GDĐĐ cho HS thể hiện trên ba phương diện sau:
- Về nhận thức: giám đốc phải tuyên truyền, giáo dục để mọi người, mọi ngành, mọi cấp,… nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của đạo đức
và GDĐĐ cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS ở các trung tâm GDTX nói riêng
- Về thái độ: Bằng nhiều biện pháp tác động, giúp cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường đồng tình và ủng hộ những việc làm đúng cho công tác GDĐĐ cho HS ở các trung tâm GDTX, lên án, phê phán những hành vi trái đạo đức, vi phạm pháp luật của HS
- Về hành vi: Từ nhận thức và thái độ đồng thuận, thu hút mọi lực lượng cùng tham gia công tác GDĐĐ cho HS cũng như hổ trợ công tác quản lý GDĐĐ học sinh đạt kết quả cao nhất
Tóm lại, mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ tác động đến người học một cách đúng hướng, phù hợp với các chuẩn
Trang 34mực xã hội; Thu hút được các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham gia GDĐĐ cho HS Trên cơ sở đó, trang bị cho HS những tri thức về đạo đức, xây dựng cho các em niềm tin, tình cảm đạo đức để có được những hành vi đạo đức đúng đắn
1.4.2 Nội dung quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
1.4.2.1 Quản lý việc xây dựng nội dung, chương trình, hình thức, biện pháp GDĐĐ học sinh
- Cơ sở để xác định nội dung GDĐĐ là nội dung chương trình môn giáo dục công dân và một số môn khoa học xã hội, các chủ điểm của hoạt động ngoài giờ lên lớp, truyền thống văn hoá của dân tộc và địa phương… Nội dung quản lý thông qua các hoạt động của nhà trường như: học các môn văn hóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động của giáo viên chủ nhiệm, hoạt động của đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hoạt động kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm…Vì vậy, cần có kế hoạch xây dựng chương trình, hình thức GDĐĐ cho HS một cách đa dạng, sinh động, hấp dẫn với những mục tiêu, hình thức, biện pháp thực hiện cụ thể
- Yêu cầu của nội dung quản lý này là:
+ Đảm bảo mục tiêu GDĐĐ và mục tiêu giáo dục của nhà trường
+ Lựa chọn nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh
+ Có chỉ tiêu và giải pháp cụ thể, mang tính khả thi
- Quản lý công tác GDĐĐ cho HS của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm : ban giám đốc lập kế hoạch chung và chỉ đạo thực hiện GVCN căn cứ vào đó, tùy vào đặc điểm của từng lớp, từng học sinh để triển khai thực hiện có hiệu quả
Trang 35Mặt khác, ban giám đốc cần có các biện pháp kiểm tra, đánh giá để khen thưởng, phê bình, động viên kịp thời với đội ngũ GVCN lớp
- QL công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường để GDĐĐ cho HS, các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường bao gồm:
+ Chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể;
+ Hội cha mẹ học sinh…
Để hoạt động này có hiệu quả, nhà trường cần có mối quan hệ chặt chẽ, phân công cụ thể công việc và biện pháp thực hiện của từng bộ phận
- QL cơ sở vật chất, nguồn kinh phí phục vụ tốt nhất cho các hoạt động GDĐĐ cho HS, đồng thời động viên, thu hút các nguồn lực khác tham gia vào hoạt động GDĐĐ
- QL quá trình hình thành và rèn luyện đạo đức của HS, giáo dục HS phấn đấu và tu dưỡng tốt
- Triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra và thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức GDĐĐ
1.4.2.2 Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của đội ngũ cán
bộ, giáo viên, công nhân viên
Việc quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong hoạt động GDĐĐ cho HS được thể hiện thông qua các chức năng quản lý của Giám đốc Giám đốc lập kế hoạch chung của toàn đơn vị, tổ chức chỉ đạo thực hiện, ra quyết định phân công, kiểm tra việc thực hiện những quyết định đã đưa ra Các
bộ phận được phân công có nhiệm vụ đề ra kế hoạch thực hiện dựa trên kế hoạch chung của Giám đốc nhưng tùy theo tình hình thực tế mà có kế hoạch thực hiện cho phù hợp, đặc biệt chú ý GDĐĐ cho HS cá biệt Muốn vậy, giám
Trang 36đốc cũng cần có kế hoạch kiểm tra- đánh giá, khen thưởng - phê bình, động viên kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia QL và tổ chức GDĐĐ cho HS
1.4.2.3 Quản lý sự phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường
để GDĐĐ cho HS
Các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường gồm: chính quyền địa phương, các đoàn thể, hội Cha mẹ học sinh, hội đồng giáo dục ở địa phương,…Để cho sự phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường đạt kết quả tốt, Giám đốc cần có kế hoạch chặt chẽ, có sự phân công cụ thể và biện pháp thực hiện của từng bộ phận Các bộ phận cũng cần lập kế hoạch riêng một cách cụ thể hơn về biện pháp phối hợp, đây cũng là một trong những biệu hiện của công tác xã hội hóa về giáo dục
1.4.2.4 Quản lý về các hoạt động tự quản của các tập thể học sinh
Trong công tác này, vai trò của GVCN, giáo viên bộ môn, đoàn - hội rất quan trọng Do đó, Giám đốc phải chỉ đạo và quản lý các lực lượng này trong việc tổ chức, giáo dục hình thành tính tự quản của các em thông qua các nội dung cơ bản sau: Xác định tầm quan trọng trong công tác tự quản của học sinh, hướng dẫn HS xây dựng nội quy học tập, rèn luyện đạo đức; Bồi dưỡng năng lực
tự tổ chức, điều hành hoạt động của lớp,…
1.4.3 Phương pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên
Tổng thể các cách thức quản lý tác động có chủ đích của chủ thể QL lên đối tượng QL và khách thể QL để đạt được mục tiêu QL đề ra Do đó, trong công tác quản lý GDĐĐ người ta thường sử dụng những phương pháp sau đây:
* Phương pháp tổ chức hành chính: Là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể QL lên đối tượng QL bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý Phương pháp này, là phương pháp tối cần thiết trong công tác QL, nó được xem
Trang 37như những giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nề nếp duy trì kỷ luật trong nhà trường, buộc cán bộ giáo viên và học sinh làm tốt nhiệm vụ của mình
* Phương pháp kinh tế: Là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng
QL trên cơ sở những cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để đối tượng QL điều chỉnh hành động và tích cực tham gia hoạt động một cách có hiệu quả Tuy nhiên cũng cần chú ý:
- Việc thiết lập các chế độ, chính sách khuyến khích, kích thích vật chất cần kết hợp với phương pháp hành chánh tổ chức trong việc xác định các định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu
- Việc vận dụng phương pháp kinh tế cần thận trọng, một mặt để khuyến khích lao động của giáo viên, kích thích hoạt động bằng lợi ích kinh tế có nhiều
ý nghĩa thiết thực: “phát huy tính sáng tạo, độc lập, tự giác của mỗi người trong công việc Qua đó, phẩm chất, năng lực và kết quả lao động của mọi người được tập thể thừa nhận và đánh giá Đó là cơ sở cho việc đánh giá thi đua, khen thưởng”, nhưng mặt khác cũng phải đảm bảo uy tín sư phạm của giáo viên và nhà trường
* Phương pháp tâm lý - xã hội: Là phương pháp mà chủ thể QL tác động về mặt tâm lý, tinh thần vào đối tượng quản lý nhằm động viên họ tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người đảm bảo mối quan hệ thân ái hợp tác cùng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Tạo ra sự thỏa mãn tinh thần trong từng người và trong từng tập thể sư phạm Muốn như vậy, người Giám đốc phải đi sâu nghiên cứu đặc điểm tâm lý - nhân cách của giáo viên và học sinh, những yêu cầu về đạo đức, nghề nghiệp, hứng thú, những phẩm chất ý chí thuộc các lứa tuổi khác nhau,…để có những biện pháp tác động thích hợp đối với giáo viên Giám đốc cần chú ý các mối quan hệ trong nhà trường, xây dựng bầu không khí đoàn kết, thân ái
và cùng nhau thực hiện nhiệm vụ
Trang 38Trong các phương pháp trên, không có phương pháp nào có tính vạn năng, mỗi phương pháp đều có những ưu và khuyết điểm của nó Cho nên, Giám đốc không nên tuyệt đối hóa một phương pháp nào, người quản lý cần tùy theo tình huống cụ thể cần nắm vững và vận dụng ưu thế cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp, kết hợp vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt nhằm đạt kết quả cao nhất trong công tác giáo dục đạo
1.4.4.2 Yếu tố giáo viên
Chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường, trong đó có chất lượng GDĐĐ cho HS Do đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là việc hết sức cần thiết, đòi hỏi giám đốc có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng một cách toàn diện và đồng bộ Như luật giáo dục năm 2005, đã quy định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” [26, tr 16]
Trang 391.4.4.3 Yếu tố gia đình
Gia đình là tế bào của XH, là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, gia đình với những quan hệ mật thiết, là nơi nuôi dưỡng các em từ bé đến lúc trưởng thành và cũng là cội nguồn hình thành nhân cách HS: “nề nếp gia phong”; “truyền thống gia đình” Một gia đình có truyền thống, các thế hệ đối
xử với nhau có tôn ti trật tự, người lớn luôn có sự quan tâm chăm sóc đến con cái, thật sự là tấm gương cho con cái noi theo thì bản thân những học sinh đó bước đầu có được nền tảng hình thành ĐĐ tốt đẹp Vì vậy, một gia đình mẫu mực từ trên xuống dưới sẽ giúp các em hình thành nhân cách cơ bản đầu đời, góp phần cho giáo dục trong nhà trường sẽ tốt hơn “Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng quyền lực của sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào gây ấn tượng sâu sắc, bền chắc bằng tấm gương của bố mẹ và thầy giáo” (Ni-vi-cốp)
Gia đình giữ một vai trò rất to lớn, góp phần quyết định trong việc giáo dục ĐĐ cho HS Nghị quyết TW VIII đã xác định: “Xây dựng gia đình no ấm,bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người” Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội, trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn” [25, tr 306]
1.4.4.4 Yếu tố xã hội
Môi trường giáo dục rộng lớn đó là cộng đồng cư trú của HS, từ xóm giềng, khu phố đến các tổ chức đoàn thể XH, các cơ quan nhà nước… đều ảnh hưởng rất lớn đến việc GDĐĐ cho HS nói chung và HS ở các Trung tâm GDTX nói riêng Một môi trường XH trong sạch lành mạnh, một cộng đồng XH tốt đẹp, văn minh là điều kiện thuận lợi nhất GDĐĐ học sinh và hình thành nhân cách HS Cần phải có sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường, gia đình và XH
Trang 40đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN Sự phối hợp này tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để GDĐĐ học sinh
1.4.4.5 Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh
Tự giáo dục là một bộ phận của quá trình giáo dục, là hoạt động có ý thức, mục đích của mỗi cá nhân để tự hoàn thiện những phẩm chất nhân cách bản thân theo định hướng giá trị xác định Nhu cầu tự giáo dục nảy sinh theo từng giai đoạn phát triển của cá nhân Học sinh trung tâm GDTX có độ tuổi từ 15 đến 18 (tuổi mới lớn), ở lứa tuổi này đã hình thành mạnh mẽ năng lực, tự ý thức và nhu cầu tự giáo dục và đây cũng là yếu tố chi phối việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS Đồng thời, các em đã bắt đầu hình thành ý thức về nghề nghiệp, tự phấn đấu, nỗ lực trong học tập để thực hiện ước mơ, hoài bão của mình Quá trình tự giáo dục bao gồm 4 yếu tố cơ bản:
- Năng lực tự ý thức của học sinh về sự phát triển nhân cách bản thân
- Năng lực tổ chức tự giáo dục: Lập kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phương tiện thực hiện…
- Sự nỗ lực của bản thân để vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch tự giáo dục
- Tự kiểm tra kết quả tự giáo dục để rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
Từ chỗ là đối tượng của giáo dục dần dần trở thành chủ thể giáo dục tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ĐĐ Vì thế, HS ở các Trung tâm GDTX phải tích cực phấn đấu tu dưỡng thì quá trình GDĐĐ mới có hiệu quả cao
1.4.4.6 Yếu tố pháp luật nhà nước
Đạo đức và pháp luật có thống nhất với nhau ở mục tiêu của nó là điều chỉnh hành vi của con người để đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội nói chung và của học sinh nói riêng Một HS vi phạm đạo đức thường là vi