Trong khi đó, ngành giáo dục – đào tạo của Huyện vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ về công tác này nên việc tìm ra các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm phù
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _
PHƯƠNG CƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 06/2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _
PHƯƠNG CƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn: PGS.TS NGÔ SỸ TÙNG
Nghệ An, 06/2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục trường Đại học Vinh, cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Sỹ Tùng đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở Gíáo dục và Đào tạo Tây Ninh, Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp ở 3 trường THPT, các cơ quan, ban ngành trên địa bàn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh và gia đình đã nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác, cung cấp dữ liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong nghiên cứu thực tế để làm luận văn
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, mặc dù bản thân đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Vinh, tháng 06 năm 2016
Tác giả
Phương Cương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1.Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 8
1.2.2.Giáo viên chủ nhiệm lớp 12
1.2.3.Quản lý công tác GVCN lớp 12
1.2.4.Biện pháp, Biện pháp quản lý công công tác GVCN lớp 13
1.3 Lý luận về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 13
1.3.1 Vị trí, vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp 13
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp 15
1.3.3 Nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 16
1.4 Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học phổ thông 17
1.4.1 Nội dung quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 17
1.4.2 Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 18
Trang 61.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của
hiệu trưởng trường trung học phổ thông 21
1.5.1 Yếu tố khách quan 21
1.5.2 Yếu tố chủ quan 24
Kết luận chương 1 25
Chương 2 26
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN 26
CHỦ NHIỆM LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH 26
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 26
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 26
2.1.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục - đào tạo huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 27
2.2 Thực trạng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 30
2.2.1 Về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên chủ nhiệm 30
2.2.2 Nhận thức và thái độ của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 32
2.2.3 Nhận thức và thái độ của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp 33
2.2.4 Nhận thức và thái độ của cán bộ quản lý và giáo viên đối với nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 35
2.2.5 Thực trạng thực hiện nội dung chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm 37
2.3 Thực trạng quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 39
2.3.1 Việc xây dựng kế hoạch quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 40
Trang 72.3.2 Công tác lựa chọn và giao nhiệm vụ cho giáo viên chủ nhiệm lớp 41
2.3.3 Việc tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức và nghiệp vụ công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho giáo viên chủ nhiệm 42
2.3.4 Việc xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các lực lượng giáo dục 43
2.3.5 Việc kiểm tra công tác giáo viên chủ nhiệm 45
2.3.6 Công tác thi đua, khen thưởng 48
2.3.7 Hiệu quả các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 51
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 52
2.4.1 Ưu điểm, hạn chế 52
2.4.2 Nguyên nhân 53
Kết luận chương 2 55
Chương 3 56
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH 56
3.1 Các nguyên tắc khi xây dựng các biện pháp 56
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục phổ thông 56
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa 56
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 57
3.1.4 Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 57
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi, hiệu quả 57
3.2 Hệ thống các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 58
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, nghiệp vụ cho giáo viên chủ nhiệm lớp 58
3.2.2 Biện pháp 2: Lập kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 63
Trang 83.2.3 Biện pháp 3: Chú trọng công tác lựa chọn và phân công giáo viên chủ
nhiệm lớp một cách phù hợp 67
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các lực lượng giáo dục để nâng cao hiệu quả công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 70
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp 75
3.2.6 Biện pháp 6: Phát huy tác dụng công tác thi đua, khen thưởng đối với giáo viên làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 79
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.4 Tổ chức thăm dò về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 85
3.4.1 Mục đích, phương pháp, đối tượng thăm dò 85
3.4.2 Kết quả thăm dò 86
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi CBQL các trường THPT 28
Bảng 2.2: Số lượng lớp và HS từ năm học 2013-2014 đến 2015-2016 29
Bảng 2.3: Số lượng và chất lượng GVCN năm học 2015-2016 30
Bảng 2.4: Cơ cấu giới tính, độ tuổi trung bình và thâm niên công tác của GVCN năm học 2015-2016 31
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL và GV về vai trò của GVCN lớp34 Bảng 2.6: Thực trạng về nhận thức và thái độ của CBQL và GV đối với nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 35
Bảng 2.7: Thực trạng việc thực hiện nội dung công tác GVCN lớp 38
Bảng 2.8: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch QL công tác GVCN 40
Bảng 2.9: Thực trạng về tổ chức bồi dưỡng GVCN 42
Bảng 2.10: Sự phối hợp của GVCN trường THPT với các lực lượng GD 43
Bảng 2.11: Số lần tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác GVCN 45
Bảng 2.12: Thời điểm tổ chức biểu dương, khen thưởng GVCN lớp 49
Bảng 2.13: Hiệu quả các biện pháp QL công tác GVCN lớp 51
Bảng 3.1: Kết quả thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp QL công tác GVCN lớp 86
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức và thái độ của CBQL và GV về tầm quan trọng của
công tác giáo viên chủ nhiệm lớp 33
Biểu đồ 2.2: Hình thức kiểm tra, đánh giá công tác GVCN 47
Biểu đồ 2.3: Hình thức khen thưởng GVCN lớp 50 Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý công tác GVCN lớp 87
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đã và đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trên con đường phát triển của nhân loại, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Các thành tựu của ngành giáo dục và đào tạo trong những năm qua đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt" và "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam"
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục học sinh ở nước ta nói chung và
ở tỉnh Tây Ninh nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tích đáng kể Song vẫn còn tình trạng một bộ phận học sinh chưa tích cực học tập, có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do học sinh chưa xác định được mục tiêu phấn đấu, chưa có động cơ, thái độ học tập đúng đắn Đồng thời, sự lỏng lẻo trong việc quản lý nền nếp, kỷ cương trường học và những tác động tiêu cực từ xã hội, các yếu tố không mong muốn từ nền tảng gia đình cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục học sinh
Ngoài ra, một nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nêu trên là do công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường còn nhiều hạn chế Trong khi đó, công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp trên suốt lộ trình từ nơi đào tạo (các trường có ngành sư phạm) đến nơi sử dụng (các trường trung học) còn
Trang 12gặp không ít khó khăn, bất cập mà chưa được quan tâm đúng mức, chưa có nhiều những giải pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động Thậm chí, có lúc có nơi, còn một số CBQL, GV ở trường THPT chưa nhận thức đầy
đủ, đúng đắn tầm quan trọng và những yêu cầu, nội dung của công tác chủ nhiệm lớp, dẫn đến việc quản lý và thực hiện công tác chủ nhiệm lớp diễn ra một cách hời hợt, qua loa Nguồn lực của trường chủ yếu được dùng để tập trung phục vụ cho việc giảng dạy chuyên môn, nâng cao tỉ lệ HS lên lớp và thànhtích thicử Điều này làm cho việc “dạyngười” không còn quantrọng bằng “dạychữ”
Do đó, việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đápứng yêu cầu đổi mới giáodục ở trường THPT vẫn còn hạnchế
Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nền nếp, kỷ cương trường học, góp phần vào việc giáo dục toàn diện học sinh Tuy nhiên trong thời gian qua, công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường THPT trên địa bàn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn còn nhiều tồn tại chưa được quan tâm đúng mức, công tác quản lý của hiệu trưởng chưa thật sự khoa học và năng lực đội ngũ giáo viên chủ nhiệm còn nhiều hạn chế Trong khi đó, ngành giáo dục – đào tạo của Huyện vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ về công tác này nên việc tìm ra các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm phù hợp với thực trạng các trường THPT ở địa phương nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh huyện Hòa Thành là vấn đề cấp thiết Vì vậy chúng tôi
lựa chọn vấn đề “Một số biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh” làm đề tài nghiên cứu cuối
khóa học thạc sĩ quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác GVCN lớp và biện pháp QL công
tác GVCN lớp của hiệu trưởng ở các trường THPT
4.2 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác GVCN lớp và biện pháp QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bao gồm 03 trường: THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Lý Thường Kiệt và THPT Nguyễn Chí Thanh
4.3 Phạm vi về thời gian
Số liệu tổng quan và khảo sát lấy từ năm học 2013-2014 đến năm học
2015-2016
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở các trường THPT trong huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
ở trường THPT
Trang 14- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
- Đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc và phân tích sách báo, tài liệu nghiên cứu, tạp chí liên quan tới nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về lý luận quản lý giáo dục, thực tiễn giáo dục,…
- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành giáo dục
về công tác GVCN lớp
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được biên soạn sẵn nhằm thu thập những thông tin cần thiết về vấn đề được nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: Tiếp cận, xem xét, thu thập dữ liệu thông tin từ thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Liên hệ, gặp gỡ với các thầy, cô giáo có trình độ và kinh nghiệm về lĩnh vực đang nghiên cứu để trao đổi, nghe
tư vấn, định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và phân tích các số liệu
từ các phiếu hỏi thu thập được nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học và xác định tính khả thi của đề tài
Trang 158 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng
tỏ thêm một số vấn đề về lý luận của việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT
- Về mặt thực tiễn: Phát hiện thực trạng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
và các giải pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đang sử dụng ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Từ đó, đề xuất được các biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; đồng thời góp phần vào việc phổ biến kinh nghiệm quản
lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong các trường THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, danh mục chữ viết tắt và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT;
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh;
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ thế kỷ thứ XVI, nhà GD Tiệp Khắc (nay là cộng hoà Séc) J.A.Cômenxki (1592 - 1670) là người đầu tiên đưa ra hình thức tổ chức dạy học
“lớp - bài” Theo đó, những HS có trình độ tương đương, lứa tuổi tương đương, tâm sinh lý tương đồng được tập hợp lại thành một đơn vị lớp; chương trình dạy học được phân ra bao gồm nhiều môn học, mỗi môn học có số bài học nhất định,
có thời gian mở đầu và kết thúc, năm học được chia ra thành nhiều học kỳ Lý thuyết về tổ chức dạy học theo hình thức “lớp - bài” vẫn còn nguyên giá trị và được duy trì cho đến ngày nay
Để giúp hiệu trưởng QL lớp học một cách hiệu quả, đội ngũ GVCN bắt đầu hình thành Ở Việt Nam, người GVCN xuất hiện trong cuộc cải cách GD lần thứ nhất năm 1950 trong các nhà trường vùng tự do GVCN là người thay mặt hiệu trưởng QL hoạt động học tập, sinh hoạt của lớp học, có vai trò đặc biệt trong việc GD HS Trong thời đại ngày nay, xã hội ngày càng đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực đối con người, GVCN lại càng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp GD nước nhà
Xuất phát từ tầm quan trọng của người GVCN, công tác GVCN và QL công tác GVCN luôn được Ngành GD - ĐT và các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm Các vấn đề có liên quan đến công tác GVCN được nghiên cứu, bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau Tại Hội thảo công tác GVCN ở trường phổ thông do Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở GD phối hợp với Dự án phát triển GD THCS tổ chức năm 2010, các nhà khoa học đã nêu lên một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về công tác GVCN, chẳng hạn như các tác giả: Hà Nhật Thăng có bài viết về “Một vài điểm mới trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”, Nguyễn Dục Quang đề cập về “Phương hướng nâng cao năng lực
Trang 17GD cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”, Đặng Quốc Bảo bàn về “Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông - quan niệm và một số kiến giải”, Mạc Văn Trang nêu lên “Sứ mệnh và vai trò của giáo viên chủ nhiệm”, Bên cạnh đó, nhiều CBQL GD tham gia báo cáo tham luận về chỉ đạo, QL công tác GVCN ở các địa phương khác nhau như Hà Nội, Lai Châu, Hải Phòng, Ninh Bình, Nghệ An, Bình Phước, Tiền Giang, Vĩnh Long, [6]
Một số công trình nghiên cứu đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học đối với công tác GVCN lớp Tác giả Hà Nhật Thăng đã giới thiệu rất
cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của GVCN lớp ở trường phổ thông, nội dung công tác chủ nhiệm và hướng dẫn thực hiện một số nội dung công tác chủ nhiệm lớp trong quyển sách “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”, NXB Giáo dục, năm 1998 Tác giả Nguyễn Thanh Bình chủ biên quyển “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay”, NXB Đại học
Sư phạm, năm 2011 Quyển sách đã giới thiệu rất cụ thể, chi tiết những vấn đề chung về GVCN lớp ở trường phổ thông và những nội dung cần quan tâm trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay Trong quyển “Lý luận giáo dục”, NXB Đại học Sư phạm, năm 2010, tác giả Phan Thanh Long (chủ biên) đã dành riêng một chương để trình bày về chức năng của người GVCN lớp, nhiệm
vụ, nội dung công tác GVCN lớp, các phương pháp tác động GD của người GVCN và những phẩm chất, năng lực sư phạm của người GVCN lớp
Trong những năm gần đây, một số tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ khoa học GD chuyên ngành QLGD về QL công tác GVCN lớp ở trường THPT tại các địa phương khác nhau như: Trần Châu Hoàn (2010), “Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp
ở trường THPT huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng”; Nguyễn Văn Thành (2011), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An”; Nguyễn Văn Chương (2012), “Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở
Trang 18trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”… Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ, khoa học về đề tài QL công tác GVCN lớp ở cấp THPT Việc nghiên cứu tìm ra những biện pháp phù hợp, khả thi để QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT trong huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện HS trên địa bàn Huyện trong thời gian tới
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Khi xã hội loài người xuất hiện, các nhóm người bắt đầu hình thành để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, QL xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực
cá nhân hướng tới những mục tiêu chung
C Mác coi quản lý (quản lý xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua QL Ông viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [17; tr.29]
Theo Từ điển Giáo dục học: “QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [14; tr.326]
Trang 19Theo Trần Quốc Thành, dưới góc độ hành động, QL được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành Chủ thể QL điều khiển hoạt động của thuộc cấp bằng cách tổ chức họ lại, đưa họ vào guồng máy bằng các quy định và điều khiển các đối tượng khác, có thể là các vật hữu sinh hoặc là các vật thể vô tri vô giác, nhằm để đạt được mục tiêu đã đề ra [30]
Theo Nguyễn Ngọc Quang, QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [26]
Theo Thái Văn Thành, QL là sự tác động có định hướng, có mục đích, có
kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [31]
William Henry Koontz cũng khẳng định, QL là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [16]
Các khái niệm trên tuy khác nhau nhưng có một số điểm chung trong quan niệm về QL Đó là hoạt động QL có sự tham gia của chủ thể QL và đối tượng QL; QL luôn hướng đến việc đạt được một hoặc một tập hợp mục đích
cụ thể thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Từ việc phân tích, tổng hợp và khái quát các nhận định về QL trong các khái niệm nêu trên có thể xác định: QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL lên đối tượng QL thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra điều chỉnh nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức đã đề ra
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ QLGD Thực sự thuật ngữ này có nhiều cấp độ, ít nhất là hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô Khái niệm QLGD cấp vĩ mô tương ứng với khái niệm về QL một nền GD (hệ thống
Trang 20GD) và khái niệm QLGD cấp vi mô tương ứng với khái niệm về QL một trường học hay một cơ sở GD
Ở cấp độ vĩ mô, QLGD được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể QL vào hệ thống GD quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển GD, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [29]
Theo Thái Văn Thành, QL hệ thống GD có thể xác định là tác động của
hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [31]
Ở cấp độ vi mô, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL vào hệ thống tổ chức GD của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình GD đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất [29]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường trung học phổ thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [26]
Đối với cấp độ vi mô, QLGD diễn ra trong phạm vi một cơ sở GD (một nhà trường) Vì thế, thuật ngữ “quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với QLGD ở tầm vi mô
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Trang 21Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ mức độ phát triển thấp lên mức độ phát triển cao để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục
Theo Phạm Minh Hạc, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.[15]
Theo Phạm Viết Vượng, quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[34]
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”[27]
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động sau: Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường (đó là những tác động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó); Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường (bao gồm các hoạt động: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường
Trang 22học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng)
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định,
đó là nhà trường (đơn vị giáo dục) Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế hệ trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội
Tóm lại, nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2.2.Giáo viên chủ nhiệm lớp
Lớp học là đơn vị cơ bản trong nhà trường được thành lập để tổ chức giảng dạy và GD học sinh Để QL, GD HS trong lớp, nhà trường phân công một trong những GV đang giảng dạy có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác QL, GD HS, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng nhiệt tình trong công tác, có uy tín với HS và đồng nghiệp làm chủ nhiệm lớp Đó là GVCN Những nội dung mà GVCN lớp phải thực hiện được coi là công tác chủ nhiệm lớp
1.2.3.Quản lý công tác GVCN lớp
Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT là một bộ phận trong công tác quản lý giáo dục ở trườngTHPT Quản lý công tác chủ nhiệm lớp bao gồm các hoạt động sau đây của người quản lý: xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ
Trang 23GVCN; lập kế hoạch hoạt động; tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá công tác chủ nhiệm lớp của đội ngũ GVCN theo các nội dung cụ thể, phù hợp với các qui định của ngành, đồng thời phát hiện và giải quyết những vấn đề về công tác chủ
nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện trong nhà trường phổ thông
1.2.4.Biện pháp, Biện pháp quản lý công công tác GVCN lớp
1.2.4.1.Biện pháp
“ Từ điển Tiếng Việt” NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1988 do Hoàng Phê
chủ biên nêu: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [24]
Biện pháp QL là cách thức điều khiển, tổ chức của nhà QL đối với các đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu QL
1.2.4.2.Biện pháp quản lý công công tác GVCN lớp
Biện pháp QL công tác GVCN lớp là cách thức điều khiển, tổ chức, tạo điều kiện của hiệu trưởng đối với đội ngũ GVCN và tổ chức hoạt động GD của GVCN
nhằm phát triển nhân cách HS và nâng cao chất lượng GD toàn diện
1.3 Lý luận về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
1.3.1 Vị trí, vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp
Người GVCN có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một tập thể lớp vững mạnh, từ đó góp phần xây dựng và phát triển nhà trường Thuật ngữ “giáo viên chủ nhiệm” được sử dụng thường xuyên trong các trường học, đặc biệt là ở các cấp học tiểu học, THCS, THPT
Quyển Sổ công tác GVCN trường tiểu học, THCS và THPT năm học 2012-2013 nêu rằng: GVCN là người đại diện cho hiệu trưởng QL toàn diện HS một lớp ở một trường phổ thông [28; tr.50]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường
và cha mẹ HS QL và chịu trách nhiệm về chất lượng GD toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp chủ nhiệm
Trang 24Đối với tập thể HS và tập thể lớp, GVCN là nhà GD và là người lãnh đạo gần gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi HS trong lớp
Trong quan hệ với các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường, GVCN là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách HS và là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội [1; tr.7]
Từ những quan niệm nêu trên có thể hiểu GVCN là người:
- Chịu trách nhiệm QL, GD toàn diện HS một lớp
- Vạch ra kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các nội dung theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện các nội dung GD đối với HS
- Có vai trò quan trọng trong việc góp phần hình thành, phát triển nhân cách HS và là cầu nối giữa các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường
Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của người GVCN lớp, đầu mỗi năm học hiệu trưởng phải căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường để lựa chọn, phân công một trong số GV giảng dạy của mỗi lớp đảm nhiệm công tác GVCN lớp đúng theo Điều lệ trường trung học Tuy nhiên, khi phân công GVCN, hiệu trưởng cần phải chú ý những yêu cầu cơ bản đối với người GVCN
Trang 25- Có điều kiện thuận lợi, đặc biệt là về thời gian và sức khỏe tốt nhằm giúp họ hoàn thành nhiệm vụ được giao
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
1.3.2.1 Chức năng của giáo viên chủ nhiệm lớp
GVCN cơ bản là GV bộ môn trực tiếp giảng dạy tại lớp được phân công làm công tác GVCN, thực hiện chức năng QL, GD toàn diện tập thể, cá nhân HS
ở lớp chủ nhiệm Theo các tác giả Phan Thanh Long, Trần Quang Cấn và Nguyễn Văn Diện, GVCN có các chức năng sau:
- GVCN lớp là người thay mặt hiệu trưởng QL, GD toàn diện tập thể HS một lớp học
- GVCN là người cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể HS
- GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng, ban giám hiệu, các tổ chức trong nhà trường, các GV bộ môn với tập thể HS lớp mình phụ trách
- GVCN có chức năng phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu GD ở lớp mình phụ trách [22; tr.203]
1.3.2.2 Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
Nhiệm vụ của GVCN được quy định cụ thể tại các văn bản pháp lý như:
- Công văn số 7092/BGDĐT-GDTrH, ngày 10/8/2006 của Bộ trưởng Bộ
GD và ĐT về việc hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và THPT năm học 2006-2007
- Điều 3 và Điều 4 của Quy định về chế độ làm việc đối với GV phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT, ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT
- Điều 30 và Điều 31 của Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT, ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT
Từ các văn bản pháp lý của Bộ GD và ĐT, có thể khái quát nhiệm vụ của GVCN bao gồm:
Trang 26- GVCN có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của GV bộ môn theo quy định tại Điều lệ trường trung học
- Tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức
GD sát với đối tượng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của từng HS và của cả lớp
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động GD thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp GD bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm HS, với hoàn cảnh
và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng HS
- Thực hiện các hoạt động GD theo kế hoạch đã xây dựng
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, chủ động phối hợp với các GV bộ môn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, các đoàn thể và các tổ chức xã hội khác có liên quan trong hoạt động giảng dạy và
GD HS của lớp mình chủ nhiệm
- Nhận xét, đánh giá xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật HS, đề nghị danh sách HS được lên lớp, danh sách HS phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ HS
- Tham gia hướng dẫn hoạt động tập thể, hoạt động GD và rèn luyện HS
do nhà trường tổ chức
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng -Theo dõi tình hình tổ chức dạy và học tự chọn của lớp mình phụ trách; theo dõi kết quả học tập tự chọn của HS; tổng kết, xếp loại và ghi kết quả học tập của HS theo quy định
1.3.3 Nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
- Tìm hiểu, phân loại học sinh lớp chủ nhiệm
- Lập kế hoạch chủ nhiệm
- Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện HS
- Liên kết với các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để GD HS
Trang 27- Đánh giá kết quả GD học sinh theo quy định hiện hành tại Thông tư số 58/2011/TT-BGDDT, ngày 12/12/2011 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT về việc ban hành Quy chế đánh giá xếp loại HS THCS và THPT
- Quản lý, giám sát việc ghi chép, bảo quản các loại hồ sơ của HS theo
quy định của trường
1.4 Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học phổ thông
1.4.1 Nội dung quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Quản lý đội ngũ GVCN và các hoạt động của GVCN lớp là nội dung quan trọng trong QL công tác GVCN lớp của hiệu trưởng trường THPT Dưới đây là
02 nội dung rất quan trọng trong quản lý công tác GVCN lớp của Hiệu trưởng trường THPT:
* Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Đội ngũ GVCN là một trong những nhân tố chủ đạo trong trong việc GD toàn diện HS nên việc QL đội ngũ GVCN trong các trường học phải được hiệu trưởng và CBQL GD quan tâm đúng mức
- Quản lý đội ngũ GVCN lớp bao gồm lựa chọn, giao nhiệm vụ, hướng dẫn, bồi dưỡng GVCN và đánh giá công tác GVCN Muốn làm tốt công tác này, hiệu trưởng phải căn cứ vào biên chế lớp, đội ngũ GV và tình hình thực tế của đơn vị để lựa chọn, giao nhiệm vụ GV làm công tác chủ nhiệm lớp Vào đầu năm học, nhà trường phải tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho GVCN
vì trong đơn vị không GV nào giống nhau về năng lực và kinh nghiệm chủ nhiệm lớp Việc bồi dưỡng đội ngũ GVCN lớp cần phải được thực hiện thường xuyên trong suốt năm học Định kỳ, hiệu trưởng phải tổ chức đánh giá công tác GVCN của nhà trường, rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm để làm cơ sở cho việc điều chỉnh hoạt động QL công tác GVCN
* Quản lý các hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp:
Trang 28Để thực hiện nhiệm vụ GD toàn diện HS, GVCN phải tác động bằng nhiều biện pháp khác nhau đến đối tượng HS Mỗi biện pháp tác động được thực hiện qua các hoạt động của GVCN Để đảm bảo hiệu quả công tác GVCN lớp, hiệu trưởng phải QL chặt chẽ các hoạt động của GVCN bao gồm:
- Việc xây dựng kế hoạch công tác GVCN lớp của từng GVCN
- Việc các GVCN lớp tổ chức thực hiện kế hoạch chủ nhiệm lớp đã được hiệu trưởng phê duyệt
- Việc các GVCN lớp chỉ đạo thực hiện cụ thể các nội dung GD toàn diện
HS theo kế hoạch chủ nhiệm đã được hiệu trưởng phê duyệt
- Việc các GVCN lớp kiểm tra, nhận xét và đánh giá kết quả GD HS như thế nào (cả nội dung và các hình thức, biện pháp đánh giá HS)
Về mặt lý luận, hiệu trưởng quản lý công tác GVCN, nhưng tùy hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở mỗi nhà trường THPT mà hiệu trưởng có thể phân công cho phó hiệu trưởng phụ trách công tác GD đạo đức trực tiếp QL công tác này Tuy nhiên, hiệu trưởng vẫn phải chịu trách nhiệm trước cấp trên và xã hội trong QL công tác GVCN lớp
1.4.2 Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Hiệu quả của QL công tác GVCN phụ thuộc vào sự lựa chọn các biện pháp QL đúng và phù hợp Không có biện pháp QL nào áp dụng chung cho công tác GVCN ở tất cả các nhà trường vì bản thân các biện pháp QL mang tính thực tiễn Cho nên khi xác định biện pháp QL công tác GVCN, hiệu trưởng phải căn
cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường Biện pháp càng sát với tình hình thực tiễn thì hiệu quả việc QL càng cao Song, các biện pháp QL không phải tồn tại một cách riêng lẻ, rời rạc, mà chúng mang tính hệ thống và luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Biện pháp này là tiền đề, là cơ sở cho việc thực hiện biện pháp kia Các biện pháp thúc đẩy, bổ sung cho nhau nhằm mang lại hiệu quả cho việc QL công tác GVCN của nhà trường
Trang 29Hiệu trưởng trường THPT QL công tác GVCN lớp bằng hệ thống các biện pháp sau:
* Coi trọng công tác lập kế hoạch của nhà trường và của giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Lập kế hoạch là một nội dung và là một chức năng quan trọng nhất của
QL trường học bởi vì đây là bước xác định trước phải làm gì, làm như thế nào, làm khi nào và ai sẽ làm
- Kế hoạch công tác GVCN là một trong những kế hoạch quan trọng của nhà trường, góp phần định hướng và nâng cao chất lượng GD HS Khi xây dựng
kế hoạch, hiệu trưởng phải căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học của nhà trường; đồng thời, phải thực hiện bước phân tích môi trường
GD (môi trường bên trong: tình hình HS, đội ngũ GV, điều kiện thực tế của đơn vị, và môi trường bên ngoài như: tình hình địa phương, sự quan tâm của các tổ chức đoàn thể, phụ huynh HS đến công tác GD HS, ) để thu thập thông tin cần thiết làm cơ sở đầu tiên cho việc đề ra mục tiêu trong kế hoạch công tác
- Hiệu trưởng phải luôn ý thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lập
kế hoạch công tác GVCN Nó là nền tảng, là cơ sở định hướng cho hoạt động
QL công tác GVCN của nhà trường Ngoài ra, việc lập kế hoạch giúp hiệu trưởng QL công tác GVCN một cách toàn diện, khoa học, có trọng tâm và mang lại kết quả cao
- Ngoài ra, Hiệu trưởng phải hướng dẫn GVCN làm kế hoạch chủ nhiệm lớp một cách chi tiết, cụ thể các công việc và các biện pháp tiến hành, thời gian hoàn thành công việc…
* Tổ chức hợp lý việc thực hiện kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác GVCN lớp là tiến trình chuyển các nội dung và biện pháp trong kế hoạch thành những hoạt động trên thực tế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra một cách có hiệu quả
Trang 30- Hiệu trưởng phải phân công GVCN vào các lớp một cách hợp lý; phải xác lập được các mối quan hệ giữa GVCN lớp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với các GV bộ môn và các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường; đồng thời cũng phải xác định được các yếu tố có liên quan cho việc tổ chức thực hiện kế hoạch như cơ sở vật chất, tài chính… Điều này có tầm quan trọng đặc biệt trong khâu tổ chức thực hiện kế hoạch, quyết định kế hoạch sẽ đạt được kết quả đến đâu so với mục tiêu đề ra
- Khâu giám sát thực hiện công việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch công tác GVCN Việc giám sát giúp người hiệu trưởng thu thập những thông tin cần thiết để điều chỉnh những vấn đề chưa phù hợp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch Đồng thời, những thông tin này là căn cứ để đánh giá, nhận xét và rút kinh nghiệm cho hoạt động QL và công tác GVCN của nhà trường
* Chỉ đạo sát sao việc thực hiện kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Chỉ đạo hay lãnh đạo thực hiện kế hoạch công tác GVCN lớp là biện pháp làm cho đội ngũ GVCN làm việc một cách tự nguyện, đúng theo tinh thần kế hoạch và hoàn thành tốt những nhiệm vụ được phân công; giúp khơi dậy động lực, kích thích sự năng động, tính sáng tạo của đội ngũ GVCN bằng những biện pháp cụ thể
- Ở bước này, người hiệu trưởng phải truyền cảm hứng, khơi dậy động lực, kích thích sự năng động, tính sáng tạo cho GVCN để họ biết như thế nào
là tốt nhất và làm thế nào để thực hiện có hiệu quả kế hoạch của nhà trường Lúc này chính người hiệu trưởng phải dùng mọi phương pháp để GVCN thực thi tốt nhất những nội dung trong kế hoạch bởi vì những ý tưởng nêu trong kế hoạch chủ yếu là do GVCN thực hiện chứ không phải những thành viên khác trong nhà trường
* Đặc biệt chú trọng khâu kiểm tra việc thực hiện kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp:
Trang 31Một kế hoạch dù được xây dựng hoàn hảo đến đâu, trong quá trình thực hiện vẫn có thể nảy sinh những vấn đề cần giải quyết, vì thế người hiệu trưởng phải thường xuyên theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch Nếu thực hiện tốt việc kiểm tra sẽ đảm bảo cho công tác GVCN nói riêng và tất
cả các mảng hoạt động của nhà trường nói chung đạt được mục tiêu với hiệu quả cao
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch công tác GVCN cần phải được làm một cách thường xuyên, số lần và nội dung kiểm tra phải được phân bố hợp
lý Khi kiểm tra, CBQL nhà trường phải dựa vào các tiêu chuẩn đã được xây dựng trước đó để kiểm tra, không nên thực hiện theo cảm tính và ý muốn chủ quan của người kiểm tra Công tác kiểm tra bao gồm: đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và điều chỉnh, sửa đổi những sai lệch trong hoạt động của
GVCN
* Ngoài ra, một biện pháp quan trọng giúp hiệu trưởng nâng cao hiệu quả QL công tác giáo viên chủ nhiệm lớp, đó là quản lý bằng hình thức thi đua, khen thưởng
- Có nhiều hình thức động viên, khích lệ GV làm việc tốt hơn Biểu dương, khen thưởng là một trong những biện pháp tạo động lực thúc đẩy đội ngũ GVCN làm việc một cách tận tụy, có tinh thần trách nhiệm Đây xem như
là sự xác nhận và đánh giá cao công sức đóng góp của GVCN trong việc thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng GD của nhà trường
- Tuy nhiên, việc biểu dương, khen thưởng phải hết sức thận trọng và có nghệ thuật; biểu dương, khen thưởng phải đúng người, đúng việc và đúng lúc Nếu thực hiện biện pháp động viên khích lệ này không hợp lý thì nó sẽ không mang lại hiệu quả, thậm chí có thể phản tác dụng
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học phổ thông
1.5.1 Yếu tố khách quan
Trang 32* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội:
Mỗi vùng miền, mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội hoàn toàn khác nhau Các đặc điểm về vị trí địa lý, diện tích, địa hình, và các đặc điểm về dân cư (số dân, dân tộc, mật độ dân số, trình độ lao động), cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đều có sự tác động đến công tác GVCN lớp Điều kiện kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi hay khó khăn ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả thực hiện các nội dung công tác chủ nhiệm của người GV Cho nên việc quản lý công tác GVCN lớp của hiệu trưởng cũng chịu sự ảnh hưởng nhất định bởi yếu tố này Nếu nắm vững các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương sẽ giúp QL công tác GVCN lớp hiệu quả hơn
* Bối cảnh lịch sử - xã hội:
- Sự bùng nổ của việc sử dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực đã tác động không nhỏ đến công tác QL Chính sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã hỗ trợ đắc lực cho việc QL nhà trường nói chung và QL công tác GVCN nói riêng Hiện nay nhiều trường THPT đã sử dụng các phần mềm QL các nguồn lực như quản lý học sinh, giáo viên, tài chính, cơ sở vật chất, Điều này đã góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả QL trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà trường, đặc biệt là công tác GVCN lớp
- Bên cạnh đó, sự hội nhập quốc tế của đất nước có ảnh hưởng nhất định đến công tác QL ở các trường THPT Sự giao lưu với các nền văn hóa trong thời kỳ mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ CBQL đổi mới tư duy trong QLGD, nâng cao chất lượng GD toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và bắt kịp sự phát triển từng ngày của thế giới Hội nhập mang lại các điều kiện hỗ trợ nâng cao chất lượng QL trường học, bao gồm cả trong QL công tác GVCN lớp ở trường THPT như: tài liệu, phương tiện, kinh nghiệm QL từ các nền giáo dục quốc tế, các mô hình QL mới, tiên
Trang 33tiến, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước ta Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế và các ảnh hưởng tiêu cực của môi trường xã hội cũng tạo ra những ảnh hưởng không mong muốn đến việc QL công tác GVCN lớp Khi CBQL học tập kinh nghiệm một cách rập khuôn, máy móc, không có sự chọn lọc và không làm tốt công tác định hướng thông tin, dư luận thì sẽ rất dễ dẫn tới đi chệch hướng so với mục tiêu GD ĐT con người Việt Nam
* Cơ chế chính sách:
- Quyền hạn, trách nhiệm của hiệu trưởng đã được quy định rõ trong các văn bản pháp lý; tuy nhiên, hiện nay ở nhiều địa phương vẫn còn phổ biến tình trạng hiệu trưởng trường THPT chưa thể sử dụng hết quyền hạn của mình trong thực thi nhiệm vụ, mà trước hết là việc phân quyền tự chủ tuyển dụng
GV Chỉ khi hiệu trưởng thực sự chủ động trong việc tuyển dụng GV thì nhà trường mới có điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng đội ngũ GV Từ đó, nhà trường sẽ quy hoạch, đào tạo và lựa chọn những GV giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm để đảm nhận nhiệm vụ GVCN lớp, bởi vì GVCN lớp là người đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện HS của nhà trường Thêm vào đó, chính sách thu hút nhân tài, chế độ đãi ngộ đối với GV nói chung và đặc biệt là GVCN giỏi nói riêng ở nhiều địa phương chưa được quan tâm thỏa đáng đã ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ
GV đứng lớp và GVCN ở các trường THPT
- Quy định về chế độ đối với GV làm công tác GVCN lớp cũng ảnh hưởng đến QL công tác GVCN Đối với nhiều GV, số tiết tiêu chuẩn dành cho GVCN theo quy định hiện hành (4 tiết/ tuần) và công tác thi đua - khen thưởng chưa thật sự đủ sức tạo động lực thúc đẩy người GV đầu tư đúng mức cho công tác Vì thế, việc QL công tác GVCN lớp của hiệu trưởng ở các trường THPT cũng gặp khó khăn
* Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp:
Cơ cấu về số lượng, tuổi đời, tuổi nghề, giới tính, kinh nghiệm và trình
Trang 34độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GV làm công tác chủ nhiệm không đồng đều dẫn tới việc tổ chức thực hiện các nội dung công tác chủ nhiệm lớp của một số GVCN không đạt hiệu quả như mong muốn, từ đó cũng gây ảnh hưởng đến hoạt động QL công tác GVCN lớp của người hiệu trưởng
1.5.2 Yếu tố chủ quan
* Nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục:
Để nâng cao chất lượng GD toàn diện HS, hiệu trưởng cần có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác GVCN lớp ở trường THPT,
từ đó có quan điểm chỉ đạo tập trung, ưu tiên cho công tác GVCN lớp Nhận thức đúng đắn của đội ngũ CBQL đối với công tác GVCN là yếu tố đầu tiên dẫn đường cho hoạt động QL công tác GVCN một cách hiệu quả Cho nên,
có thể nói rằng nhận thức của người hiệu trưởng có ảnh hưởng lớn đến QL công tác GVCN lớp ở trường THPT
* Phẩm chất, năng lực của hiệu trưởng:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống người của người hiệu trưởng
có ảnh hưởng nhất định đến việc QL công tác GVCN ở trường THPT Khi người hiệu trưởng hội tụ đủ các phẩm chất cần thiết của một nhà QL thì
họ sẽ đáp ứng được các yêu cầu trong công tác QL về mọi mặt trong nhà trường
- Quản lý là hoạt động mang tính khoa học, nên người hiệu trưởng phải nắm vững các quy luật có liên quan đến quá trình QL hoạt động của nhà trường, hay nói khác hơn là nắm vững hệ thống lý luận về QL, QL nhà trường và QL công tác GVCN lớp Hiệu trưởng phải được trang bị đầy đủ kiến thức về khoa học QL và có khả năng vận dụng chúng trong quá trình
QL để biến mục tiêu của công tác GVCN trở thành hiện thực
- Ngoài ra, kinh nghiệm của hiệu trưởng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
QL công tác GVCN lớp
* Uy tín của người hiệu trưởng:
Hiệu trưởng là người đứng đầu, chịu trách nhiệm QL tất cả các mặt hoạt
Trang 35động của nhà trường Việc thực hiện mục tiêu và sứ mệnh của nhà trường có mang lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn người hiệu trưởng Nếu hiệu trưởng có uy tín, sự tín nhiệm cao đối với phụ huynh HS và đội ngũ GV thì việc thực hiện các chức năng QL công tác GVCN lớp ở đơn vị mình sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu lý luận, đề tài đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về các vấn đề quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường THPT, quản lý công tác GVCN lớp; đã khẳng định được QL trường THPT là quản lý giáo dục ở tầm vi mô; đã xác định được quản lý công tác GVCN lớp là một trong các nhiệm vụ quan trọng của quản lý trường học nói chung, trường THPT nói riêng; đã khái quát được các nội dung và biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của hiệu trưởng trường THPT Trong luận văn này, tác giả đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của hiệu trưởng trường THPT theo tiếp cận các chức năng quản lý; đồng thời đã nêu được các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến việc quản lý công tác GVCN lớp của hiệu trưởng các trường THPT
Những kết quả nghiên cứu lý luận ở chương 1 sẽ là nền tảng lý thuyết cho việc điều tra, phân tích thực trạng ở chương 2 và đề xuất các biện pháp QL công tác GVCN lớp ở các trường THPT trên địa bàn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh ở chương 3 tiếp theo
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
Huyện Hòa Thành nằm ở trung tâm tỉnh Tây Ninh với tọa độ khoảng 1060
06’ - 106029’ kinh độ Đông và 11025’ - 11046’ vĩ độ Bắc có diện tích 8.311,84m2, phía Bắc giáp thành phố Tây Ninh và huyện Dương Minh Châu, Đông giáp huyện Dương Minh Châu, Nam giáp huyện Gò Dầu, Tây giáp huyện Châu Thành và Bến Cầu Dân số 142.800 người, mật độ dân số 1.718 người/km2
gồm
7 xã và 01 Thị Trấn, với 35 ấp và 04 khu phố
Hòa Thành có địa hình tương đối bằng phẳng, mẫu đất hầu hết là phù sa
cổ hình thành ra các loại đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng chịu phèn tốt Ngoài ra, còn có nhóm đất phèn, đất phù sa, đất than bùn có tiềm năng phát triển cây trồng các loại, khí hậu mang tính gió mùa nhiệt đới, ít bão lụt, thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình 27,50c, lượng mưa trung bình 65,5mm, độ ẩm tương đối 79,70% Điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi và trồng trọt
Hòa Thành có nhánh sông Vàm Cỏ Đông chảy qua, có tuyến quốc lộ 22B
đi cửa khẩu quốc tế Xa Mát, ngoài ra có các tuyến đường giao thông liên huyện,
liên xã rất thuận tiện cho giao thông đường bộ và đường thủy nội địa
Với vị thế khá thuận lợi, Hòa Thành là huyện trọng điểm phát triển kinh
tế văn hóa xã hội của tỉnh Tây Ninh, địa bàn hành chính tập trung, cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, có trung tâm thương mại Long Hoa là đầu mối phân phối hàng hóa của Tỉnh, có mạng lưới dịch vụ đa dạng phong phú, có nhiều ngành
Trang 37nghề truyền thống như: sản xuất hàng mây tre xuất khẩu, gạch ngói, làm bánh tráng, may mặc, đúc đồng nhân dân có tinh thần lao động cần cù, có tay nghề, tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú cung cấp cho thị trường
Hòa Thành có Tòa thánh Tây Ninh là cơ quan trung ương của tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, gần 90% dân số là tín đồ Cao Đài (phái Tây Ninh), đồng thời
là điểm dừng chân trên tuyến du lịch Núi Bà - Tòa Thánh đây là tuyến du lịch nổi tiếng hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách tham quan
- Tổng sản phẩm trong huyện (GDP) năm 2015 đạt 3251,792 tỷ đồng, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 725,269 tỷ đồng, tổng diện tích gieo trồng được 5.738,53 ha Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 2.003,234 tỷ đồng Tổng giá trị các ngành thương mại - dịch vụ đạt 3.124,887 tỷ đồng
- Chương trình giải quyết việc làm, giảm nghèo, chăm lo các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội tiếp tục được quan tâm tổ chức thực hiện Năm 2015 tạo điều kiện và giải quyết việc làm mới cho 3.886 lao động, tổ chức đào tạo nghề cho 470 lao động Vận động quỹ “Vì người nghèo” được 2,225 tỷ
đồng
(Nguồn: UBND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, 2015)
2.1.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục - đào tạo huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
* Giáo dục mầm non:
- Trong 05 năm gần đây, số lượng và quy mô trường mầm non, mẫu giáo của Huyện phát triển khá mạnh Tổng số trường mầm non, mẫu giáo là 14 trường (mầm non: 6, mẫu giáo: 8); có 02 trường đạt chuẩn quốc gia Tổng số HS của bậc học này là 4515 em
- Tổng số cán bộ, GV, nhân viên là 433 người (CBQL: 32, GV: 250, nhân viên: 151) Tỷ lệ bố trí GV là 2,0%, đủ so với nhu cầu
Trang 38- Tỷ lệ phổ cập mầm non trẻ 5 tuổi theo Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị đạt 99,20%
* Giáo dục tiểu học:
- Mỗi xã, thị trấn trên địa bàn Huyện đều có từ 02 đến 05 trường tiểu học Tổng số trường tiểu học hiện nay là 24 trường (09 trường đạt chuẩn quốc gia) với 11.364 HS 100% các xã, thị trấn đều hoàn thành chương trình phổ cập GD tiểu học
- Tổng số cán bộ, GV, nhân viên của bậc học này là 719 người; trong
đó, CBQL: 53, GV: 559, nhân viên: 107 Tỷ lệ bố trí GV là 1,5%, đủ GV so với nhu cầu
* Giáo dục trung học cơ sở:
- Mạng lưới trường THCS được phủ khắp các xã, thị trấn của Huyện với tổng số là 09 trường (có 06 trường đạt chuẩn quốc gia)
- Số lượng HS THCS là 8099 em; số lượng cán bộ, GV và nhân viên là người 493 người (CBQL: 22, GV: 414, nhân viên: 57) Tỷ lệ bố trí GV: 1,9%,
đủ GV so với nhu cầu
- Năm 2015, có 6/8 các xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập bậc THCS Hiện nay, Huyện vẫn đang duy trì được tỷ lệ phổ cập là 8/8 xã, thị trấn
(Nguồn: Phòng GD và ĐT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, 2015)
* Giáo dục trung học phổ thông:
Huyện Hòa Thành có 03 trường THPT, gồm: trường THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Chí Thanh Trong đó có 01 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia (THPT Nguyễn Chí Thanh) Tổng số CBQL 03 trường THPT trong Huyện là 09 người (mỗi trường 03 người) Độ tuổi CBQL các trường được phân bố chủ yếu trong khoảng từ 39-53 tuổi
Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi CBQL các trường THPT
Trang 39Trường THPT
Độ tuổi 35-40
Độ tuổi 41-45
Độ tuổi 46-50
Độ tuổi 51-60
Lý Thường Kiệt 0 0,0 0 0,0 2 66,67 1 33,33 Nguyễn Chí Thanh 0 0,0 0 0,0 1 33,33 2 66,67
Cộng 1 11,15 1 11,15 4 44.44 3 33.33
Số GV trực tiếp giảng dạy là 192 người (THPT Nguyễn Trung Trực: 54 người, THPT Lý Thường Kiệt: 76 người, THPT Nguyễn Chí Thanh: 62 người) Các trường đều đảm bảo đủ tỷ lệ giáo viên trực tiếp giảng dạy ở tất cả các môn
Do diện tích đất tự nhiên của Huyện không lớn nên các trường được phân
bố chủ yếu ở trung tâm của Huyện thuận tiện cho các em HS đến trường Trường THPT Lý Thường Kiệt tọa lạc ở thị trấn (trung tâm của Huyện), trường THPT Nguyễn Trung Trực ở xã Long Thành Trung và THPT Nguyễn Chí Thanh ở xã Trường Tây Các trường cách nhau từ 2 đến 4 km
Nhìn chung, mạng lưới trường THPT trên địa bàn Huyện cơ bản đáp ứng được yêu cầu về mặt địa lý; quy mô của các trường đủ lớn để đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong địa bàn
Bảng 2.2: Số lượng lớp và HS từ năm học 2013-2014 đến 2015-2016
Năm học Trường
Trang 40Về cơ sở vật chất, tất cả các trường đều được xây dựng đảm bảo đầy đủ
về cơ sở vật chất như: phòng học, phòng vi tính, phòng thí nghiệm-thực hành, các trang thiết bị, nhà tập luyện và thi đấu thể dục thể thao, đồ dùng phục vụ tốt cho việc dạy và học Số lượng và chất lượng đội ngũ GV ở bậc học này đảm bảo phục vụ tốt cho công tác Có 100% GV trực tiếp giảng dạy đạt trình độ đại học
và sau đại học, không có trường hợp chưa đủ chuẩn theo quy định của Bộ GD và
ĐT Các trường đều có đủ GV ở tất cả các bộ môn Đây là điều kiện thuận lợi cho các trường trong việc bố trí công tác, đào tạo, bồi dưỡng GV nâng chuẩn
(Nguồn: Các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, 2015)
2.2 Thực trạng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
2.2.1 Về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
Số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ GVCN các trường THPT huyện
Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh được thể hiện qua Bảng 2.3 và 2.4 dưới đây
Bảng 2.3: Số lượng và chất lượng GVCN năm học 2015-2016
Cao đẳng Xuất sắc Khá
Trung bình Kém
Trực 23 4 17,39 19 82,61 0 0,0 11 47,83 12 52,17 0 0,0 0 0,0
Lý Thường
Kiệt 34 6 17,65 28 82,35 0 0,0 19 55,88 15 44,12 0 0,0 0 0,0 Nguyễn Chí
Thanh 25 3 12,00 22 88,00 0 0,0 14 56,00 11 44,00 0 0,0 0 0,0
Tổng cộng 82 13 15,85 69 84,15 0 0,0 44 53,66 38 46,34 0 0,0 0 0,0
(Nguồn: Các trường THPT huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, 2015)