1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong dạy học phân môn văn học ở trường thpt khảo sát và thực nghiệm trên địa bàn quận tân phú tp hồ chí minh

105 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHAN THỊ CÚC HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC VỀ TÁC GIA TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG THPT KHẢO SÁT VÀ THỰC NGHIỆM TRÊN ĐỊA BÀN QU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN THỊ CÚC

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC VỀ TÁC GIA TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN VĂN HỌC

Ở TRƯỜNG THPT (KHẢO SÁT VÀ THỰC NGHIỆM

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ TP.HCM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN THỊ CÚC

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC VỀ TÁC GIA TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN VĂN HỌC

Ở TRƯỜNG THPT (KHẢO SÁT VÀ THỰC NGHIỆM

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ TP.HCM)

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Ngữ văn

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Trí Dũng - người rất tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Sư phạm Ngữ văn trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện, đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình viết luận văn

Cuối cùng xin được cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm và khích lệ tôi hoàn thành luận văn này!

Tp.HCM, tháng 8 năm 2016

Phan Thị Cúc

Trang 4

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

ĐC : Đối chứng

HS : Học sinh

GV : Giáo viên Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở PPDH : Phương pháp dạy học

TN : Thực nghiệm Tp.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang đứng

sau Ví dụ: [25, 15] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 25, nhận định trích dẫn nằm ở trang 15 của tài liệu này

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi tài liệu khảo sát 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Quan niệm dạy học hiện đại và sự chi phối của nó đối với việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học 7

1.1.1 Những đổi mới trong quan niệm dạy học hiện đại 7

1.1.2 Sự chi phối của quan niệm dạy học hiện đại tới vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học 16

1.2 Vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong chương trình SGK Ngữ văn ở các trường THPT hiện nay 22

1.2.1 Khái niệm tác gia và tác giả văn học 22

1.2.2 Vai trò và vị trí của tri thức về tác gia trong dạy học phân môn Văn học 23

1.3 Thực trạng của vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong trường THPT hiện nay trên địa bàn Quận Tân Phú T.P HCM 26

1.3.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội Quận Tân Phú 26

1.3.2 Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nay ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú 27

1.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú 31

Trang 6

Chương 2 NHỮNG TRI THỨC VỀ TÁC GIA CẦN HÌNH THÀNH, CỦNG CỐ CHO HỌC SINH THPT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

THÍCH HỢP 33

2.1 Những định hướng của việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học 33

2.1.1 Củng cố tri thức về tác gia văn học là việc cần tích hợp trong quá trình dạy học 33

2.1.2 Lưu ý tính liên thông của các cấp học 35

2.1.3 Biết chọn lọc tri thức cần thiết, hợp lý về tác gia văn học 37

2.2 Những nội dung cần hình thành và củng cố cho học sinh 38

2.1.1 Những thông tin về quê hương, gia đình, người thân 38

2.1.2 Những thông tin về cuộc đời, cá tính, hoàn cảnh sáng tác 40

2.1.3 Đóng góp của tác gia đối với lịch sử văn học 42

2.2 Những phương pháp cần áp dụng trong dạy học về tác gia 54

2.2.1 Phương pháp thuyết trình 54

2.2.2 Phương pháp gợi mở, nêu vấn đề 55

2.2.3 Phương pháp tích hợp 57

2.2.4 Phương pháp hướng dẫn tự học (học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu từ các nguồn tài liệu khác) 59

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích, yêu cầu của hoạt động thực nghiệm 61

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 61

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 61

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 62

3.2.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 62

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 62

3.2.3 Quy trình thực nghiệm 63

Trang 7

3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 64

3.3.1 Bài dạy thứ nhất: Đại cáo bình Ngô (Phần 1: Tác giả) (SGK Ngữ văn 10, tập 2) 64

3.3.2 Bài dạy thứ hai: Chí Phèo (Phần 1: Tác giả) (SGK Ngữ văn 11, tập 1 76

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 87

3.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá 87

3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên 87

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh 88

3.4.4 Đánh giá chung 90

3.5 Kết luận thực nghiệm 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong chương trình dạy học môn Ngữ văn hiện nay ở các trường THPT, kiểu bài về tác gia chiếm tỉ lệ không nhỏ Có tất cả sáu bài rải đều ở cả

ba lớp, chương trình Ngữ văn 10 có hai bài về tác gia Nguyễn Trãi và Nguyễn Du; chương trình Ngữ văn 11 có hai bài là Nguyễn Đình Chiểu và Nam Cao; chương trình môn Ngữ văn 12 có hai bài là tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Tố Hữu.Trong các tác gia được học đó có tác gia củng cố tri thức học sinh đã từng được tìm hiểu ở các cấp học trước, nhưng cũng có những tác gia hoàn toàn mới đối với học sinh Họ đều là những tác gia lớn tạo nên những bước ngoặt cho quá trình hình thành và phát triển lịch sử văn học Việt Nam Ngoài ra, có những nhà văn không học như một tác gia nhưng được lồng ghép giới thiệu ở phần hướng dẫn đọc hiểu.Vì vậy chúng ta có thể thấy,

ở THPT hiện nay, việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia là một nội dung vô cùng quan trọng trong việc hình thành tri thức, kĩ năng cho học sinh

1.2 Một thực tế hiện nayở chương trình dạy học THPT môn Ngữ văn, phần đọc hiểu văn bản bao giờ cũng là phần quan trọng nhất vàtác phẩm là sản phẩm của một tác giả nhất định Những biến cố, những thăng trầm, những trăn trở, những suy tư, những dấu ấn của cuộc đời tác giả bao giờ cũng chi phối đến tác phẩm của họ và để lại dấu ấn trên mỗi trang viết Chính vì thế trong một tiết dạy học đọc hiểu bao giờ cũng có một phần để giới thiệu tác giả trước khi đi vào tác phẩm Hiểu được cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của tác giả sẽ giúp học sinh hiểu hơn về tác phẩm, hiểu hơn những trăn trở, suy nghĩ mà người viết muốn gửi gắm vào tác phẩm Vì lẽ đó mà việc giáo viên củng cố và hình thành tri thức về tác gia văn học trong mỗi giờ dạy sẽ giúp học sinh trang

bị cho mình những kiến thức cần thiết giúp hiểu sâu hơn văn bản Do đó, việc

Trang 9

hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học trong chương trình THPT cần được giáo viên đầu tư, tìm hiểu, giành thời gian tương xứng Đây cũng là một phần của nội dung tích hợp, có ý nghĩa thiết thực trong việc đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay

1.3 Theo chúng tôi tìm hiểu thì hiện nay, chưa có một công trình dài hơi, có tính hệ thống nào tập trung đi sâu tìm hiểu nội dung, phương pháp hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học Chính những lí do trên mà chúng

tôi quyết định chọn “Hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong dạy học phân môn Văn học ở trường THPT (khảo sát và thực nghiệm trên địa bàn Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)” làm đề tài nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những thập niên qua, bàn về đổi mới dạy học văn luôn được nhiều nhà giáo học pháp và rất nhiều các nhà nghiên cứu khác quan tâm Đặc biệt là qua những lần chỉnh lí, cải cách sách giáo khoa gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn về phương pháp dạy học văn trong nhà trường Nhưng chúng ta đều thấy rằng những công trình nghiên cứu của các nhà giáo học pháp và các công trình nghiên cứu trong nước chưa bàn nhiều về phương pháp hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học mà phần lớn chỉ đề cập đến vấn đề đọc hiểu các văn bản văn học Vì thế chúng tôi thấy cần thiết có một nghiên cứu hệ thống về vấn đề này Những năm 80 của thế kỷ XX, vấn

đề dạy học về tác gia văn học cũng đã được đề cập đến, đã được người đọc quan tâm nhưng do hạn chế về mặt lịch sử nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu Để khắc phục phần nào chỗ trống trong phương pháp dạy môn văn trong nhà trường Việt Nam, đã có nhiều tác giả dịch và xuất bản những công trình nghiên cứu về dạy học tác gia văn học của các tác giả nước ngoài

Năm 1978, Ngọc Toàn và Bùi Lê đã dịch và cho xuất bản cuốn Phương pháp

Trang 10

giảng dạy văn học ở trường phổ thông (tập 2) của tác giả người Nga A V

Nhinkônxki, trong đó đã trình bày một số phương pháp cho kiểu bài dạy tiểu sử của nhà văn Tác giả người Nga có nhận định: “nên trích dẫn tiểu sử của nhà văn do các nhà nghiên cứu văn học Xô viết nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Mác xít” [33, 53] Trên cơ sở đó ông đã đặt ra vấn đề: “những phương pháp nào được dùng để kể về tiểu sử của nhà văn cho học sinh ở các lớp cấp 3?” [33, 55] Có thể thấy, những ý kiến đề xuất của Nhinkônski vẫn còn dừng lại ở những định hướng mang tính khái quát và một số đề xuất khó

có thể thực hiện được trong điều kiện dạy thực tế học môn Ngữ văn ở trường THPT của nước ta hiện nay

Người có đóng góp to lớn cho chuyên ngành phương pháp dạy học bộ môn văn, phải kể đến đầu tiên là giáo sư Phan Trọng Luận Những công trình nghiên cứu của ông đã giúp rất nhiều cho các thế hệ giáo viên dạy văn tìm cho mình con đường dạy học đúng đắn, khoa học phù hợp với thực tiễn và mục tiêu của giáo dục và đào tạo

Năm 1987, các tác giả Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế

Phiệt đã cho ra đời cuốn Phương pháp dạy học văn, đề cập đến phương pháp

dạy học cho tất cả các phân môn, trong đó cũng có một số nội dung đề cập đến phương pháp dạy học kiểu bài về tác gia

Đến năm 2004, Phan Trọng Luận (chủ biên), Trương Dĩnh tiếp tục biên

tập lại cuốn sách Phương pháp dạy học văn để phù hợp với thực tế dạy văn

trong nhà trường hơn, nhưng cũng chưa có phần nào cụ thể bàn về phương pháp hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học, mà chỉ đề cập đến phương pháp dạy học kiểu bài tác gia nhưng so với trước cũng đã có nhiều thay đổi “Phát huy tối đa tác dụng đào tạo và giáo dục của bài học về tác gia đối với học sinh” [20, 103], “Kết hợp một cách sinh động phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong việc dạy tác gia văn học” [20, 103]

Trang 11

Có thể thấy đây là công trình nghiên cứu toàn diện nhất về phương pháp dạy học văn, trong đó có một phần đề cập đến tác gia văn học Mặc dù

đã chỉnh lí lại cho phù hợp với thực tế dạy học nhưng cuốn sách này cũng đã biên soạn cách đây hơn mười năm, chương trình sách giáo khoa THPT cũng

đã trải qua nhiều lần cải cách, vì vậy phần nào chưa bám sát thực tế chương trình.Những đề xuất, những phương pháp được đề cập trong cuốn sách sẽ giúp ích nhiều cho giáo viên trong dạy học, đặc biệt là vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia Đây cũng là tài liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo trong quá trình viết luận văn Mặc dù tài liệu này mới chỉ là chỉ dẫn có tính chất lí luận trong việc dạy học các kiểu bài về tác gia

Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn, vừa là công cụ dạy học đồng thời cũng là những cuốn tài liệu thiết thực, khoa học đối với chúng tôi

Bộ sách giáo khoa chương trình cơ bản do Phan Trọng Luận chủ biên, bộ sách giáo khoa nâng cao do Trần Đình Sử chủ biên, đã có những định hướng cho

cả giáo viên và học sinh tìm hiểu những tác gia văn học sử bằng hệ thống câu hỏi phần hướng dẫn học bài, phần mục đích cần đạt và phần ghi nhớ ở cuối bài Từ đó, phần nào đã giúp cho giáo viên có những phương pháp hình thành tri thức mới và củng cố những tri thức đã được học về tác gia văn học cho học sinh Đồng thời học sinhcũng trên cơ sở đó có thể kiểm tra được cách dạy của giáo viên và lĩnh hội được tri thức chuẩn nhất về tác gia văn học mà giáo viên truyền thụ

Luận văn Thạc sĩ dạy học kiểu bài tác gia văn học trong chương trình Ngữ văn THPT của tác giả Nguyễn Thị Bích Giao, Đại học Vinh định hướng

tìm hiểu kiểu bài dạy về tác gia văn học Ở luận văn này, tác giả cũng chỉ mới dừng lại việc định hướng dạy kiểu bài về tác gia, nhưng đây cũng là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Ngoài ra còn có thể kể đến một số sách tham khảo, hướng dẫn dạy học

văn như Dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng môn Ngữ văn 10,11,12 do

Trang 12

Phan Trọng Luận chủ biên; Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10,11,12 của Nguyễn

Văn Đường chủ biên,… Nhưng tất cả những công trình này đều chỉ dừng lại ở việc đề xuất cách dạy một bài tác gia văn học cụ thể chứ chưa đưa ra được những phương pháp chungnhất, cụ thể nhất về phương pháp hình thành và củng cố tri thức về tác gia

Tóm lại, dù các công trình nghiên cứu trên chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu vấn đề hình thành và củng cố tri thức dạy học tác gia văn học trong chương trình môn Ngữ văn THPT nhưng đối với chúng tôi, đó là những tài liệu tham khảo bổ ích, là những gợi ý vô cùng quý giá giúp chúng tôi thực hiện đề tài của mình

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học trong dạy học phân môn văn học ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú, Tp.HCM

3.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng việchình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học trong dạy học phân môn văn học ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú, Tp HCM

- Nghiên cứu và đề xuất những nội dung, kĩ năng, phương pháp cần cung cấp cho học sinh để hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học trong giờ dạy văn trên địa bàn Quận Tân Phú, Tp.HCM

- Thiết kế giáo án thử nghiệm và thực nghiệm sư phạm ở một số trường trên địa bàn Quận Tân Phú

4 Phạm vi tài liệu khảo sát

Phạm vi tài liệu khảo sát của luận văn là toàn bộ các bài liên quan tới vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong SGK Ngữ văn THPT,

Trang 13

cụ thể là trong SGK lớp 10,11 và 12 chương trình Cơ bản Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và đối chiếu cả với chương trình trong SGK Ngữ văn Nâng cao THPT và SGK Văn học cũ

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận văn được tiến hành với các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra - phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong dạy học phân môn văn học ở các trường THPT

- Luận văn đề xuất một số định hướng và phương pháp có tính khả thi

để hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong dạy học phân môn văn học

ở trường THPT trên địa bàn quận Tân Phú, Tp.HCM

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Những nội dung, phương pháp cần thiết để hình thành,

củng cố tri thức về tác gia văn học cho học sinh THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Quan niệm dạy học hiện đại và sự chi phối của nó đối với việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học

1.1.1 Những đổi mới trong quan niệm dạy học hiện đại

1.1.1.1 Đổi mới quan niệm về người học

Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp,…Trong xã hội hiện đại, việc phát triển kinh tế

- xã hội phải dựa chủ yếu vào tri thức con người Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Việc gia nhập WTO của Việt Nam trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao Từ những đòi hỏi trên của sự phát triển kinh tế xã hội, người ta thấy mô hình giáo dục hàn lâm kinh viện, đào tạo ra những con người thụ động, chú trọng việc truyền thụ kiến thức lý thuyết xa rời thực tiễn

đã không còn thích hợp với những yêu cầu mới của xã hội và thị trường lao động Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế Các thành tựu nghiên cứu giáo dục học và tâm lí học hiện đại đã cho thấy người học thay vì chỉ nghe giáo viên thuyết giảng, cần phải có cơ hội tham gia các hoạt động giáo dục có tính tương tác để phát triển các năng lực

Trang 15

còn yếu Những nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm trong lĩnh vực dạy học Ngữ văn, đặc biệt là lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ, cũng đã chứng minh năng lực ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn học và nhiều năng lực có liên quan khác chỉ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động nghe, nói, đọc, viết chứ không phải thông qua việc nắm các kiến thức lí thuyết về ngôn ngữ và văn học

Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nhiều quốc gia trong vài thập niên gần đây khẳng định: cách xây dựng chương trình theo định hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia

Thực tiễn dạy học Ngữ văn của Việt Nam trong thời gian gần đây và thực trạng hiện nay cho thấy, cách dạy học Ngữ văn theo lối bình giảng và cung cấp cho học sinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt, không đáp ứng được nhu cầu học tập của giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại Kinh nghiệm đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa các thể loại văn bản được đưa vào nhà trường trong chương trình hiện hành cũng đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng đó trong bối cảnh xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung Nhiều điểm tích cực, tiến bộ của chương trình hiện hành sẽ phải được

kế thừa và phát huy hơn nữa Để có thể làm tốt những vấn đề này, trước hết phải xác định vị trí, vai trò của người học trong thực tiễn dạy học

Chúng ta đang sống ở những thập niên đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ bùng

nổ của các phương tiện truyền thông Điều kiện thuận lợi đó, HS được tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều lĩnh vực của đời sống,

xã hội Vì vậy HS sẽ linh hoạt hơn, hiểu biết nhiều hơn và thực tế hơn rất nhiều so với các thế hệ cùng lứa tuổi cách đây mấy chục năm, đặc biệt là HS

Trang 16

phổ thông Các thế hệ học sinh trước đây thiếu thốn về mọi mặt đặc biệt là sách vở và các điều kiện học tập Có những vùng sâu, vùng xa, HS chỉ có ông thầy và cuốn sách giáo khoa là nguồn tri thức Vì vậy người ta tuyệt đối hóa vai trò của người thầy Và dĩ nhiên, trong học tập HS trở thành cái bình chứa

để cho thầy giáo cứ thế “rót” kiến thức vào Học tập dường như chỉ diễn ra một chiều mà thôi, điều này làm cho HS trở nên thụ động trong quá trình tiếp nhận tri thức

HS trong thời đại ngày nay, việc học ở trường với SGK và bài giảng của thầy chỉ là một trong những kênh thông tin khác nhau Chính vì vậy mà học sinh ngày càng không thỏa mãn với vai trò người nghe, người lĩnh hội tri thức một cách thụ động như vậy Thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, HS cũng quen làm nhiều việc cùng lúc, đồng thời dùng máy tính, nghe nhạc và nói điện thoại Vì thế học mang tính tự học, tự tìm hiểu nhiều hơn Nhưng tình trạng học sinh ít đọc tác phẩm ngày càng nhiều, HS học và chơi các trò chơi trên máy tính ngày càng nhiều, các em thích bày tỏ quan điểm trên facebook, blog ngày càng nhiều hơn Hơn nữa, HS ngày nay được nuôi dưỡng trong môi trường khá đầy đủ về vật chất, tiện nghi Tâm sinh lý có nhiều thay đổi do sự phát triển nhanh, đủ chất dinh dưỡng Vì vậy những quan điểm thẩm mỹ, sự nhận thức về tình yêu, cái thiện, cái cao cả, cái bi, cái hài, tính nhân đạo, niềm tin,… đã khác nhiều so với trước

Chính vì sự thay đổi đó về tâm sinh lý của HS cho nên đổi mới giáo dục trước hết phải bắt đầu từ sự đổi mới quan niệm về người học, về vai trò của người học Những năm gần đây, vấn đề dạy học luôn luôn hướng tới tính tích cực, chủ động của người học, lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động dạy học Người thầy chỉ là người tổ chức, hướng dẫn HS dưới sự hướng dẫn của thầy sẽ tự mình tìm kiếm, chiếm lĩnh và kiến tạo tri thức một cách chủ động, tự giác

Trang 17

Giáo dục ngày nay coi trọng vai trò của người học, người dạy phải luôn lấy học sinh làm trung tâm, phải luôn hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện, phát triển khả năng dám nghĩ, dám làm, năng động và sáng tạo trong học tập của HS Người dạy không đọc - chép, nhồi nhét kiến thức mà phải chuẩn bị tình huống, câu hỏi tư duy cho học sinh tự suy nghĩ và tự giải quyết vấn đề.Người dạy cũng không nên áp đặt học sinh một cách thô bạo, cứng nhắc trong cách suy nghĩ mà phải luôn tôn trọng, khuyến khích các em để các em có hứng thú hơn trong học tập và phải để học sinh tham gia tự đánh giá bản thân

Như vậy, với việc đổi mới vai trò của người học đã góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy học, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.1.1.2 Đổi mới quan niệm về người dạy

Hiện nay, khoa học - kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển đặc biệt

là sự bùng nổ của công nghệ thông tin Kiến thức GV truyền thụ không thể thâu tóm được hết mọi tri thức mà người học mong muốn Vì vậy phương pháp, cách dạy của GV đặc biệt quan trọng đối với HS Bởi vì xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường THPT mà còn có khả năng chiếm lĩnh, sử dụng tri thức một cách độc lập, khả năng đánh giá nhìn nhận vấn đề một cách sáng suốt trong cuộc sống Vấn đề đổi mới quan niệm người dạy trở thành vấn đề cốt lõi trong công cuộc đổi mới giáo dục Trên thực tế người dạy

Trang 18

đã có sự thay đổi về phương pháp, về cách dạy nhưng chưa thực sự mang lại hiệu quả cho HS

Ngay cả những giờ giảng được đánh giá là thành công thì tính chất

“độc diễn” của GV vẫn thể hiện khá rõ nét Thậm chí có những giờ dạy diễn

ra rất rôm rả, sôi nổi, nhưng thực chất tất cả đã được GV tập dượt trước kể cả những câu hỏi bài cũ và chỉ định luôn những học sinh nào sẽ phát biểu! Nhiều

GV được khen là “dạy hay”, song thực chất là “diễn thuyết” hay, và HS học xong là kiến thức cứ trôi đi tuồn tuột Tuy nhiên, để đổi mới phương pháp giảng dạy thành công, nếu chỉ có sự nỗ lực từ phía GV thì không đem lại kết quả gì, mà quan trọng là cần có sự hưởng ứng tích cực từ phía HS Thói quen học tập thụ động, đối phó của HS là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học

Hiện nay, HS phải học nhiều môn, các em không có điều kiện đầu tư thời gian thích đáng cho tất cả các môn, vì vậy mới sinh ra tình trạng học lệch Học theo phương pháp mới đòi hỏi các em phải đầu tư nhiều thời gian

để làm bài tập, tham khảo tài liệu, thu thập, xử lý thông tin khoa học…Đa số

HS không có đủ các tài liệu tham khảo cần thiết, và chưa hình thành được tư duy phản biện, độc lập trong học tập Những khó khăn từ hai phía thầy và trò khiến cho tình trạng đổi mới phương pháp dạy học ở nhiều môn rơi vào vòng luẩn quẩn, hình thức, ít có chuyển biến mạnh và hiệu quả cao Nguy hại nhất

là tư duy tự bằng lòng, an phận đã trở nên phổ biến trong cả GV và HS GV bằng lòng với việc HS làm bài giống với ý mình, càng giống càng tốt, và HS thì không coi việc chép tài liệu, quay cóp khi kiểm tra là xấu Mỗi lời giảng, cách giải thích của GV Văn vì thế cần tự nhiên, tinh tế, nhưng cũng phải chính xác Nhiều khi, một cắt nghĩa sai của GV đã để lại những hậu quả lâu dài Đôi khi chỉ một lời nói thiếu chính xác của người thầy cũng đã gây nên những hậu quả hết sức nặng nề Dạy Văn là dạy người Dạy người là mục

Trang 19

đích, nhưng phải thông qua văn chương, bảo đảm những quy luật đặc thù của văn chương Có một nguyên lý chung trong việc nâng cao hiệu quả của giờ dạy văn trong nhà trường là người thầy phải tạo ra những tình huống để học sinh hào hứng tham gia tích cực vào giờ học văn; dưới sự dẫn dắt khéo léo của người thầy, học sinh chủ động đóng góp vào việc khai phá những điều mới mẻ về nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm Tuy nhiên muốn đổi mới cách dạy và học môn văn trong nhà trường không thể chỉ

hô hào sự đổi mới của giáo viên mà còn cần đổi mới đồng bộ về chương trình sách giáo khoa; thay đổi những quy chế gò bó đối với giáo viên, cũng như cần

có sự chuẩn bị kĩ bài ở nhà của học sinh nhằm tham gia tích cực vào giờ học môn văn

Hiện tượng dạy học đọc - chép trong môn Ngữ văn rất phổ biến ở các trường phổ thông trước đây, đọc - chép trong giờ chính khóa và trong các lò luyện thi GV đọc trước, HS chép sau, hay GVvừa đọc vừa ghi bảng rồi HS chép theo Đối với các bài khái quát về giai đoạn văn học hay khái quát về tác gia, thầy cô cũng thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép Đối với bài “giảng văn” thầy cô cũng thường nêu “câu hỏi tu từ”, rồi giảng, sau đó đọc chậm cho

HS chép các kết luận, nhận định Trong cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, một chiều

Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do thầy cô sợ dạy không kĩ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của HS, cho nên dạy từ a đến z, không lựa chọn trọng tâm, không có thì giờ nêu vấn đề cho HS trao đổi, sợ “cháy” giáo

án Kết quả của lối dạy này cũng là làm cho HS tiếp thu một cách thụ động, một chiều

Phương pháp dạy học cũ chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng Dạy văn hầu như chỉ còn là “giảng”, “bình”, “luận”, “phân tích” Giáo án soạn ra là để cho GV “giảng”, biểu diễn trên lớp Giáo viên nào sa vào giảng thì thường

Trang 20

“cháy” giáo án Quan niệm giảng văn như thế có phần chưa đúng Văn học

sáng tác ra cho người đọc đọc, do đó học tác phẩm văn học phải dạy HS đọc văn, giúp HS hình thành kĩ năng đọc văn, trở thành người đọc có văn hoá, chứ

không phải là người biết thưởng thức việc giảng bài của thầy

Phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi vì bản chất học tập không phải là tiếp nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài vào, mà là sự kiến tạo tri thức mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh nghiệm đã được tích

lũy Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là tự biến đổi tri thức

thành cái của mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và hoạt động của người học Do đó việc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học xong là quên ngay, không để lại dấu ấn trong trí nhớ người học, không trở thành kiến thức hữu cơ của một bộ óc biết suy nghĩ và phát triển

Hơn nữa, chưa xem HS là chủ thể của hoạt động học văn, chưa trao cho các em tính chủ động trong học tập Coi HS là chủ thể của hoạt động học tập của mình thì HS phải là người chủ thể trong các hoạt động học tập, là người chủ động kiến tạo các kiến thức của mình mà GV chỉ là người tổ chức các hoạt động đó Giáo án của GV phải là kế hoạch hoạt động của HS để tự kiến tạo kiến thức, chứ không phải là Giáo án để GV giảng và bình ở trên lớp

Chưa xem dạy học tác phẩm văn học là dạy học đọc văn, một hoạt động

có quy luật riêng của nó, nhiều tài liệu thường nói dạy học văn là dạy cảm thụ văn học Nói như vậy là chưa thật chính xác, bởi vì HS không phải cảm thụ các dòng chữ in, mà trước hết phải đọc để biến các kí hiệu chữ thành nghĩa, thành thế giới hình tượng, trên cơ sở đó mới cảm thụ thế giới nghệ thuật bằng ngôn từ Cảm thụ văn học khác hẳn cảm thụ âm nhạc hay hội hoạ, là cảm thụ trực tiếp âm thanh và màu sắc, bố cục bức tranh Trong văn học chính người đọc phải tự kiến tạo bức tranh mà mình sẽ thưởng thức Đọc không hiểu thì

Trang 21

không có gì để cảm thụ cả Vì thế không thể bỏ qua hoạt động đọc và khái niệm đọc

Tất cả những biểu hiện nêu trên không chỉ là sản phẩm tiêu cực, thiếu hiệu quả cục bộ của hoạt động dạy học ở một số giáo viên hoặc địa phương nào đó, mà là hệ quả của sự lạc hậu về phương pháp tổng thể, kéo dài, chậm khắc phục Hậu quả của nó không chỉ làm giảm sút hiệu quả giáo dục, mà hơn thế, còn làm cho trí óc học sinh trơ lì, chán học, làm mòn mỏi trí tuệ Phải thấy rõ điều đó thì mới thấy nhu cầu đổi mới

Do đó muốn đổi mới phương pháp dạy học văn thật sự, phải thay đổi quan niệm về người dạy Vấn đề không chỉ là gợi ra một vài phương pháp, một vài biện pháp kĩ thuật, mà phải xây dựng lại một cách cơ bản quan niệm dạy học mới, để có sự đổi mới đích thực về phương pháp dạy học Ngữ văn

1.1.1.3 Đổi mới quan niệm về bản chất môn Ngữ văn

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam muốn hội nhập được với các nước trên thế giới, đặc biệt là vấn đề về giáo dục thì giáo dục phải đổi mới một cách căn bản, toàn diện Môn văn là môn học rất cần thiết và quan trọng trong nhà trường nhưng vẫn bị xem nhẹ, chính vì vậy trong công cuộc đổi mới ấy, cần quan tâm nhiều đến việc dạy môn văn trong nhà trường So với các môn học khác, môn văn cần đổi mới mạnh mẽ nhất Sự đổi mới ấy cần được bắt đầu từ sự thay đổi quan niệm về bản chất môn học

Trước đây, do nhận thức không đúng bản chất môn văn nên thường xảy

ra những khuynh hướng đối lập trong thực tiễn sư phạm Hoặc là thiên về chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thẩm mỹ trừu tượng, hoặc là quá thiên về một thứ chủ nghĩa nghiệp vụ tầm thường Chính vì vậy, sau khi học xong học sinh tiếp thu nguồn kiến thức thiếu hệ thống, thiếu chính xác, năng lực môn văn không vững chắc Cũng chính vì lẽ đó mà trong những thập niên gần đây, lý thuyết dạy học hiện đại đã có những đổi mới quan trọng trong việc nhận thức về bản

Trang 22

chất môn văn Sự thay đổi rõ rệt đó trong quan niệm về môn học được đánh dấu bởi sự hợp nhất của ba cuốn sách giáo khoa đó là cuốn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn thành một cuốn sách có tên là Ngữ văn Môn Ngữ văn trong nhà trường là một môn học hết sức quan trọng, môn Ngữ văn là một môn học vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật nhưng đồng thời cũng là một môn công cụ

Môn Ngữ văn trong nhà trường với tư cách là một môn khoa học có nhiệm vụ cung cấp các tri thức về văn học một cách hệ thống và khái quát Môn Ngữ văn cung cấp cho học sinh biết lịch sử hình thành và phát triển nền văn học của dân tộc, tri thức về tác giả và tác phẩm văn học, những vấn đề có tính chất lý luận của văn học, những tri thức về các thao tác lập luận, những tri thức về ngôn ngữ,…Bên cạnh đó để học sinh có thể tham gia tốt vào khâu kiểm tra, đánh giá, thi cử, môn Ngữ văn trong nhà trường vừa đem lại cho học sinh hệ thống kiến thức phong phú, đa dạng về văn học, về các thao tác lập luận vừa rèn luyện tư duy lô gíc như so sánh, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ,…

Môn ngữ văn trong nhà trường với tư cách là một môn học có tính chất nghệ thuật còn tác động đến người học những tình cảm thẩm mỹ, tạo ra những rung động từ trái tim của mỗi người học Dù tên gọi là môn Ngữ văn, nhưng nội dung quan trọng nhất trong chương trình môn học vẫn là các tác phẩm văn học, chính vì vậy khi giảng dạy cho học sinh thì người giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu và nắm bắt tác phẩm, mà còn giúp các em biết rung động, rung cảm với tâm hồn của nhà văn, biết đồng cảm, chia sẻ với những trăn trở của nhà văn, nhà thơ Nếu như dạy Ngữ văn mà không biết dạy cái hay, cái đẹp, những xúc cảm thẩm mỹ và các giá trị nhân văn cho người học thì như thế không thể gọi là dạy văn được Phần lớn các tác phẩm đưa vào giảng dạy trong nhà trường là những tác phẩm văn chương có giá trị nội dung và nghệ

Trang 23

thuật cao, đặc biệt tiêu chí nghệ thuật rất được chú trọng.Vì thế, mà chúng ta thấy rằng việc học môn Ngữ văn trong nhà trường không chỉ thu nhận về kiến thức mà còn là sự phát triển về tâm hồn, tình cảm, thẩm mỹ,….Đây chính là

ưu thế vượt trội của môn Ngữ văn trong nhà trường

Môn Ngữ văn là một môn học theo hướng tích hợp được tổ chức từ các phân môn cũ Tích hợp ở đây có nghĩa là liên kết các tri thức lại để chúng thúc đẩy nhau tạo thành tri thức mới Tích hợp ngôn ngữ với văn chương, ngôn ngữ, văn học với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ với lời nói… Chính vì lẽ đó mà môn Ngữ văn trong nhà trường còn được xem

là một môn học công cụ Trong chương trình giáo dục phổ thông có ghi:

“Môn Ngữ văn là một môn học công cụ Năng lực sử dụng tiếng Việt và tiếp nhận tác phẩm văn học mà môn học này trang bị cho học sinh là công cụ để học sinh học tập, sinh hoạt nhận thức về xã hội và con người” Tính công cụ của môn Ngữ văn thể hiện ở chỗ, dạy cho học sinh năng lực sử dụng ngữ văn như một công cụ để giao tiếp, bao gồm bốn kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết Những kỹ năng này học sinh phải biết vận dụng trong học tập và trong mọi lĩnh vực của đời sống

Từ những điều đó có thể thấy, môn Ngữ văn với tư cách là một môn học vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, vừa là môn học công cụ, vì thế trong nhà trường phổ thông hiện nay, nó có một vai trò, vị trí quan trọng

và thế mạnh rất to lớn trong việc giáo dục và đào tạo con người

1.1.2 Sự chi phối của quan niệm dạy học hiện đại tới vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học

1.1.2.1 Đặc điểm chương trình môn Ngữ văn và vấn đề hình thành, củng cố tri thức về tác gia văn học

Chương trình môn văn trong Sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất năm

2000 bao gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn Những phân môn

Trang 24

này được sắp xếp, bố trí một cách độc lập, tách rời nhau, mỗi một phân môn như vậy là một quyển Sách giáo khoa riêng ở cả ba khối lớp 10, 11, 12

Cấu trúc môn Ngữ văn hiện hành được thực hiện theo nguyên tắc tích hợp Môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông được cấu trúc theo ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn

Cấu tạo chương trình môn Ngữ văn, đặc biệt là phần Văn học đã coi trọng sự phát triển của loại thể Các văn bản theo loại thể đưa vào chương trình vẫn được sắp xếp theo giai đoạn và các thời kỳ phát triển của văn học dân tộc Về phương pháp dạy học phải phát triển năng lực tạo lập văn bản cho học sinh, phát triển năng lực đọc văn, năng lực tiếp nhận văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự học, tự đọc, tự tiếp nhận

Như vậy có thể thấy chương trình Ngữ văn sau chỉnh lý hợp nhất năm

2000 là chuyển từ phương pháp giảng văn sang phương pháp đọc hiểu văn bản Dạy văn thực chất là dạy cho học sinh biết cách khám phá, giải mã văn bản

Chương trình môn Ngữ văn trong sách giáo khoa tích hợp, nội dung đọc hiểu chiếm vị trí quan trọng nhất, nhiều thời lượng nhất với các thể loại phong phú, đa dạng Ngoài các thể loại đã có như chương trình cũ thì chương trình môn Ngữ văn hiện hành còn đưa vào một số thể loại mới như Tựa, Sử

kí, Văn bản nhật dụng,… Những văn bản nghị luận rất phong phú, bao gồm

cả văn bản nghị luận văn học và văn bản nghị luận xã hội, văn bản nghị luận trung đại và văn bản nghị luận hiện đại, văn bản nghị luận trong nước và văn bản nghị luận nước ngoài để nhằm giúp học sinh quan tâm, tìm hiểu những vấn đề gần gũi, bức thiết đang được đặt ra trong cuộc sống

Chương trình môn Ngữ văn trong sách giáo khoa tích hợp cũng có những mở rộng ở giai đoạn văn học sau 1975 Rất nhiều các tác phẩm văn học sau 1975 được đưa vào chương trình, đó là những tác phẩm đại diện cho văn

học thời đổi mới như: Đàn ghi ta của Lor ca (Thanh Thảo), Hồn Trương Ba,

Trang 25

da hàng thịt (Lưu Quang Vũ), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu),Ai

đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường),…

Môn học Ngữ văn trong nhà trường THPT có hai chương trình, thứ nhất là chương trình chuẩn (cơ bản), thứ hai là chương trình nâng cao Hai chương trình đó tương ứng với hai bộ Sách giáo khoa do hai nhóm khác nhau biên soạn Dành cho ban Khoa học tự nhiên và ban Cơ bản đó là chương trình

cơ bản Chương trình này nhằm giúp cho học sinh có những nhu cầu nắm nội dung để hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT Ở chương trình nâng cao ngoài những kiến thức cơ bản ra còn có thêm một số nội dung và yêu cầu nâng cao nhằm để phân hóa học sinh, nội dung và yêu cầu nâng cao này không chỉ đáp ứng nhu cầu cho học sinh thi tốt nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu cho học sinh thi vào các trường đại học các ngành khoa học Xã hội và Nhân văn Nhưng sau khi áp dụng hai chương trình này ở các trường THPT trên cả nước thì hiện nay các trường THPT chủ yếu vẫn sử dụng chương trình Cơ bản

Phần tiếng Việt trong chương trình sách giáo khoa tích hợp rất coi trọng phần ứng dụng để học sinh hiểu vai trò, tác dụng của tiếng Việt, từ đó giúp học sinh hiểu và tạo lập các văn bản Những tri thức về từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách,…luôn luôn được gắn chặt trong quá trình đọc hiểu văn bản để học sinh ôn lại, khắc sâu kiến thức hơn Bên cạnh đó cũng có một số vấn đề khái quát về tiếng Việt được học thành bài riêng

Nội dung của phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn tích hợp luôn bám sát các văn bản văn học để làm ngữ liệu, điều đó càng giúp học sinh hiểu kỹ hơn các văn bản Hình thành và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thao tác lập luận luôn luôn được coi trọng trong phần làm văn Chương trình Ngữ văn tích hợp ở phần làm văn luôn chú ý cân đối lại tỉ lệ văn nghị luận văn học với nghị luận chính trị - xã hội; đưa thêm vào loại văn thuyết minh ở khối lớp 10

Có thể thấy chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn tích hợp đã có những thay đổi Những thay đổi này luôn chú trọng việc hình thành kỹ năng, rèn

Trang 26

luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng tự học và gắn với thực tiễn đời sống Tuy nhiên chương trình vẫn còn nặng về kiến thức, học sinh tự học là rất khó, sự tích hợp liên môn, liên ngành, liên văn hóa vẫn còn những bất cập Vì thế, dự kiến năm 2018 sẽ có một chương trình sách giáo khoa mới thay thế chương trình sách giáo khoa hiện hành

Về phương diện cấu trúc, môn văn học sử ở trường THPT hiện nay được cấu trúc theo mô hình tổng - phân - hợp.Thông qua cách sắp xếp bài học

có thể dễ dàng nhận thấy môn văn học sử theo trình tự kiểu bài tổng quan về văn học đến kiểu bài khái quát thời kỳ văn học đến các văn bản văn học cụ thể và kiểu bài ôn tập văn học sử Ví dụ ở chương trình lớp 10, tập 1, chương

trình chuẩn học bài Tổng quan nền văn học Việt Nam, sau đó tới bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam rồi sau đó là các tác phẩm, trích đoạn cụ thể thuộc các thể loại khác nhau của văn học dân gian (sử thi: Chiến thắng Mtao Mxây; Truyền thuyết; Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy; Truyện cổ tích: Tấm cám; Truyện cười: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày, …) Sau cùng là bài ôn tập văn học dân gian Nhìn vào có thể thấy

cách kết cấu này vừa cung cấp cho HS vốn kiến thức về lịch sử văn học một cách có hệ thống, vừa giúp HS có điều kiện vận dụng tri thức đó vào hoạt động đọc - hiểu các văn bản văn học Đồng thời tri thức lịch sử văn học sẽ được củng cố, khắc sâu thêm một lần nữa ở kiểu bài ôn tập văn học sử

Về thời lượng, số tiết trong phân phối chương trình chuẩn của cả ba khối lớp 10, 11, 12 là 333 tiết Trong đó, phần văn học sử trong chương trình SGK lớp 10 là 9 tiết, trong chương trình SGK Ngữ văn 11 là 7 tiết, trong chương trình Ngữ văn 12 là 4 tiết Nội dung phần văn học sử trong chương trình môn Ngữ văn bậc THPT phân phối không đồng đều giữa ba khối lớp Số lượng bài văn học sử giảm dần từ lớp 10 tới lớp 12 (lớp 10 văn học sử nặng nhất, lớp 12 văn học sử nhẹ nhất) Cách phân phối như vậy gây ra một nghịch

Trang 27

lý, những HS bé hơn phải học nhiều kiến thức về văn học sử, còn HS lớn hơn thì học ít hơn, dễ tiếp thu hơn

Như vậy, phần văn học sử trong chương trình SGK Ngữ văn tích hợp chú trọng việc cung cấp cho HS những tri thức nền tảng, tri thức có tính định hướng để phục vụ cho phần đọc hiểu văn bản Dù phần văn học sử đã được giảm tải song vẫn còn nặng về kiến thức, khó tiếp thu đối với HS, do đó phần văn học sử vẫn còn nhiều bất cập

Vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học không có kiểu bài dạy cụ thể, nhưng lại là một vấn đề hết sức quan trọng đối với học sinh THPT Có những tác gia được học phân theo tiết trong phân phối chương trình, nhưng có những tác gia khi học được lồng ghép ở phần tiểu dẫn, hay phần đọc hiểu văn bản Ở sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao vẫn học chín bài khái quát về tác gia như chương trình cũ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân Còn ở chương trình Ngữ văn cơ bản các tác gia lớn gắn với bài học về tác phẩm: Học tác gia Nguyễn Du trong Truyện Kiều, học tác gia Nam Cao trong giảng dạy tác phẩm Chí Phèo,…

Ở chương trình Ngữ văn cơ bản THPT được học sáu tác gia lớn rải đều

ở cả ba khối lớp: Lớp 10 là tác gia Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, lớp 11 hai tác gia lớn là Nguyễn Đình Chiểu và Nam Cao, lớp 12 là Hồ Chí Minh và Tố Hữu Trong những tác gia đó có những tác gia hoàn toàn mới với học sinh nhưng cũng có những tác gia học sinh đã được tiếp cận ở cấp học dưới Hình thành và củng cố tri thức về tác gia chú trọng việc cung cấp cho HS những tri thức nền tảng, những tri thức có tính định hướng để phục vụ cho phần đọc hiểu Dù phần văn học sử đã được biên soạn theo tinh thần giảm tải song rõ ràng vẫn nặng về kiến thức, nặng về truyền tải, về cơ bản vẫn là bình cũ rượu mới Do đó vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học vẫn còn nhiều bất cập

Trang 28

1.1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn của vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong SGK Ngữ văn hiện nay

* Thuận lợi

Chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản chỉ tìm hiểu sáu tác gia lớn, với

số lượng như vậy không phải là nhiều so với HS, vì thế khi học các em sẽ dễ tiếp thu kiến thức hơn Hơn nữa các tác gia được học ở chương trình THPT cơ bản, phần lớn là các tác gia đã được tìm hiểu ở cấp học dưới, nên HS sẽ thuận lợi hơn trong quá trình tiếp nhận tri thức về tác gia thông qua gợi mở của GV Công nghệ thông tin phát triển, những giờ học về các tác gia đã có thêm những thuận lợi Giáo viên có thể cho các em tìm kiếm tư liệu, hình ảnh trên mạng, có thể phân chia nhóm học sinh tự soạn và trình bày qua những buổi thuyết trình bằng máy tính Sự phấn khởi tìm tòi và say mê của học sinh sẽ làm tăng hiệu quả giờ giảng lên rất nhiều.Tuy nhiên công nghệ thông tin không thể thay thế được người thầy, nó chỉ giúp giáo viên thay đổi để mỗi giờ học không đơn điệu, không dạy chay, nhưng nếu lạm dụng thì học sinh sẽ mất

đi khả năng cảm thụ vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương

Ngày nay, HS học không chỉ qua người thầy như trước mà có rất nhiều kênh thông tin để HS tự học, tự tìm hiểu, đặc biệt Google là kho tài liệu vô cùng phong phú, đa dạng để cho HS có thể lựa chọn bất kỳ tài liệu nào liên quan tới bài học

* Khó khăn

Trong bài viết: Văn học nhà trường - Ẩn số và đáp số, GS Phan Trọng

Luận đã đưa ra vấn đề rất phổ biến hiện nay: “Cái khuôn mẫu khô cứng của giờ giảng văn cần được phá vỡ để giải phóng cho sự tiếp nhận sáng tạo của học sinh, để tạo cho giờ văn thực sự là một giờ văn đúng nghĩa của nó và cũng để cho tác phẩm văn chương vào tay giáo viên không biến thành bát canh nhạt nhẽo” Đúng là hiện nay, giờ dạy văn đã và đang biến thành khuôn

Trang 29

mẫu mà hiệu quả văn chương và hiệu quả giáo dục chẳng có là bao Giáo viên lên lớp chỉ biết làm theo những công thức đã có sẵn: Kiểm tra sỹ số - Kiểm tra bài cũ - Dạy bài mới: Tìm hiểu chung- Đọc hiểu- Ghi nhớ, Giờ nào cũng như vậy sẽ gây sự nhàm chán cho người học mà hiệu quả tiếp cận và giáo dục ngoài tác phẩm văn học còn là điều đáng bàn

Do xu thế của xã hội nên học sinh xem nhẹ các môn KHXH trong đó

có môn Ngữ văn dẫn đến chất lượng học tập không cao Hơn nữa các em quan niệm học văn không cần phải tư duy nhiều chỉ cần đọc nhiều sách, nhiều tài liệu là có thể học giỏi văn, chính vì lẽ đó mà các em thụ động, không chịu tư duy, nên GV cũng phần nào mất hứng thú khi dạy

Hiện nay, phương pháp giảng dạy các bài về tác gia văn học nói chung

và vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia nói riêng giáo viên thực sự còn lúng túng và chưa tìm ra phương pháp giảng dạy hợp lý, chưa đáp ứng được phương pháp giáo dục hiện đại: lấy HS làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, HS là chủ thể tiếp nhận Do bài học có nội dung kiến thức lớn, phức tạp, vì thời gian có hạn, GV chưa tìm được phương pháp dạy hợp

lý, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng giờ học kém hiệu quả

Những khó khăn trên phần nào làm mất đi những giá trị đích thực của một giờ giảng văn Hơn nữa, việc giảng dạy môn văn theo hướng tích hợp giáo dục: Kiến thức - Kỹ năng - Thẩm mỹ hiện nay vẫn còn nhiều lúng túng với nhiều GV

1.2 Vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong chương trình SGK Ngữ văn ở các trường THPT hiện nay

1.2.1 Khái niệm tác gia và tác giả văn học

“Tác gia” hiện được hiểu theo hai nghĩa:

1 Người sáng tác ra tác phẩm (giống như tác giả)

2 Là tác giả lớn, quan trọng (như cách hiểu trong SGK trình bày 9 tác gia lớn)

Trang 30

Từ tác gia chúng tôi sử dụng trong đề tài luận văn nghiêng về cách hiểu thứ nhất.Vì thế, luận văn không chỉ khảo sát 9 (hoặc 6) tác gia lớn trong chương trình mà còn đề cập đến các tác giả được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Tuy nhiên, khi dẫn chứng chúng tôi lấy nhiều ở các tác giả tiêu biểu (tác gia) vì đây là những hiện tượng điển hình, được quan tâm trong SGK

1.2.2 Vai trò và vị trí của tri thức về tác gia trong dạy học phân môn Văn học

Hình thành và củng cố tri thức về tác gia là một vấn đề có vai trò và

vị trí hết sức quan trọng trong dạy học Muốn trở thành một tác gia văn học lớn thì nhà văn, nhà thơ phải có một vai trò và vị trí quan trọng trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc Vai trò vị trí đó được thể hiện ở thành tựu của tác gia để lại cho nền văn học dân tộc Thành tựu của một tác gia không phải chỉ ở số lượng để lại bao nhiêu tác phẩm và sự phong phú

về các thể loại, mà thành tựu đó còn thể hiện ở giá trị của tác phẩm Trong những tác phẩm đó, có tác phẩm góp phần đánh dấu sự thay đổi nền văn học dân tộc

Chính vì thế việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học có vai trò và vị trí quan trọng Nói đến tác gia là nói đến một sự nghiệp văn học

đã ổn định, chứng tỏ được tài năng và nổi lên như một nhà văn có bản sắc riêng và phong cách nghệ thuật độc đáo mới mẻ Để có phong cách riêng thì tác gia phải có tư tưởng nghệ thuật, đây được xem là tiêu chuẩn hàng đầu của một tác gia Tư tưởng của tác gia bao giờ cũng liên quan đến quan điểm sống,văn học luôn luôn phản ánh hiện thực đời sống, nhà văn luôn quan tâm đến vấn đề đời sống là gì, sống để làm gì và tìm hiểu ý nghĩa của đời sống đó

Từ cuộc sống, nhà văn quan niệm và tin tưởng, họ tìm cách phản ánh nó theo chiều sâu tâm lí cảm thụ, thị hiếu thẩm mỹ và cách tổ chức chất liệu ngôn ngữ

để sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình Dù gián tiếp hay trực tiếp, tác

Trang 31

gia nào cũng bộc lộ tư tưởng nghệ thuật của mình Tiếng nói của văn chương trong sáng tác của Hồ Chí Minh là tính chiến đấu, là tinh thần thép, của Nguyễn Du bao giờ cũng là nỗi đau đáu với đời

Ngoài tư tưởng nghệ thuật gắn liền với tài năng và nhân cách nhà văn, phải nói đến tiêu chuẩn khác đặc trưng cho tác gia văn học Đó là chất lượng những tác phẩm lớn do nhà văn sáng tạo Tác phẩm đó phải chứa đựng nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật nổi bật của một giai đoạn lịch sử và

có ý nghĩa lâu dài về nghệ thuật xây dựng con người và cuộc sống Chính tác phẩm nổi bật của mỗi tác gia sẽ bồi đắp sinh động cho bản sắc văn học dân tộc

Vì vậy, hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học cho HS có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp tri thức cụ thể về văn học, đồng thời cung cấp những tri thức mang tính công cụ, giáo dục HS về mặt nhân cách Hình thành tri thức về tác gia cho học sinh đem đến cho học sinh những kiến thức về quy luật của lịch sử văn học, về chặng đường sáng tác

Tiếp cận với một tác gia văn học là tiếp cận với những nhân cách lớn lao, cao đẹp, biết đến những thế giới tâm hồn sâu sắc, đến với cuộc đời như những tấm gương soi Hình thành tri thức về tác gia văn học cho HS phải cho

HS thấy được điều này, phải biết xúc động trước những tấm lòng luôn vì nước

vì dân của Nguyễn Trãi, sự hy sinh cả cuộc đời cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy hiểu được con người và sự nghiệp của một tác gia sẽ giúp các em cảm thụ tốt các tác phẩm của họ

Có thể xem những nội dung về tác giả trong mục Tiểu dẫn ở mỗi bài

đọc hiểu chính là mô hình thu nhỏ của kiểu bài học về tác gia văn học Chỉ

có điều các tác gia là những tác giả có tầm ảnh hưởng lớn đến tiến trình văn học của dân tộc, có tài năng vượt trội nên chương trình SGK Ngữ văn đã trình bày về cuộc đời, sự nghiệp văn học của họ dưới dạng một bài học với

Trang 32

đơn vị tri thức tương đối trọn vẹn, với cấu trúc bài học cũng tương đối trọn vẹn và với thời lượng trong phân phối chương trình thường là một tiết hoàn chỉnh Khi dạy một bài đọc hiểu, GV phải tận dụng những tri thức về tác giả

để tìm hiểu, soi sáng tác phẩm Ngược lại khi dạy về tác gia văn học, GV phải chú ý tích hợp với những bài đọc hiểu về tác phẩm của tác gia trong chương trình SGK để góp phần làm sáng rõ những thông tin về tác gia Khi

dạy về tác gia Nguyễn Du, để thấy được chữ tình là cảm hứng chủ yếu trong

sáng tác của ông, thấy được tài năng trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, thấy được tư tưởng mới mẻ thì cần sử dụng tri thức về một số đoạn trích

trong Truyện Kiều thì HS mới có thể thấy được điều đó Vì thế, cấu trúc của

tất cả các bài đọc hiểu trong chương trình dù là văn bản nghệ thuật hay văn bản nghị luận đều gồm hai nội dung cơ bản: Nội dung phần tiểu dẫn và nội dung phần đọc hiểu văn bản Phần tiểu dẫn thường trình bày rất ngắn gọn, cô đọng về cuộc đời, cá tính, sự nghiệp văn học của tác giả cùng một số thông tin về văn bản như hoàn cảnh sáng tác, thể loại,… dù thời lượng dành cho

việc dạy học phần Tiểu dẫn không nhiều, nhưng việc tìm hiểu về tác giả

trước khi học tác phẩm là một việc vô cùng cần thiết Những tri thức về tác giả được xem là những tri thức ngoài văn bản giúp GV và HS có thể rút ngắn con đường đọc hiểu tác phẩm

Có thể thấy, nhà văn và tác phẩm luôn có mối quan hệ soi chiếu lẫn nhau Hình thành và củng cố tri thức về tác gia cũng là để phục vụ cho việc đọc hiểu tác phẩm, tìm hiểu tác phẩm cũng là để hiểu thêm về tác giả

Chương trình môn ngữ văn THPT cơ bản HS được học sáu tác gia, được rải đều ở cả ba khối, lớp Đây là những tác gia có vai trò đặc biệt quan trọng trong chương trình, vì vậy cần cho HS thấy được vai trò, vị trí của tác gia đó qua bài học Đây là những tri thức cơ bản, cần thiết về tác gia văn học

để các em tiếp cận và hiểu sâu sắc hơn về những tác phẩm của họ

Trang 33

1.3 Thực trạng của vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia trong trường THPT hiện nay trên địa bàn Quận Tân Phú T.P HCM

1.3.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội Quận Tân Phú

Kể từ ngày 02-12-2003, trên bản đồ thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện một địa danh mang ý nghĩa vừa mới, vừa đẹp: đó là quận Tân Phú được tách ra từ quận Tân Bình

Năm năm trước, “cơ ngơi” của quận Tân Phú chưa hoàn thiện, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo khá đông; cơ sở hạ tầng thấp kém, 58% là đường đất còn lầy lội; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển tự phát; hệ thống trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa, khu vui chơi cho thanh thiếu niên còn nhiều thiếu thốn Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quận, phường rất non trẻ

Đứng trước những thách thức trên, Đảng bộ, chính quyền quận đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là phải hoàn thiện bộ máy tổ chức, củng cố đội ngũ cán bộ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…để từng bước tháo gỡ khó khăn, mở

ra hướng đi mới cho quận Vì vậy mà hiện nay quận không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực

Đặc biệt trên lĩnh vực Giáo dục - Y tế, Đảng bộ, chính quyền quận Tân Phú đã ưu tiên dành quỹ đất và ngân sách cho việc đầu tư xây dựng mạng lưới trường học Trong 5 năm quận đã xây mới, cải tạo mở rộng 25 trường và là 1 trong 4 quận, huyện đầu tiên của Thành phố đã phê duyệt quy hoạch mạng lưới giáo dục đến năm 2020 Chất lượng dạy và học cũng được quận quan tâm, đầu tư Hiện nay, quận có 03 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia (Nhiêu Lộc,Thiên Lý, Hoa Hồng) Năm 2007 quận được công nhận đạt chuẩn phổ cập bậc trung học của thành phố Ngành giáo dục được tặng bằng khen của giáo dục đào tạo về đổi mới chương trình giáo dục Phổ thông cấp Tiểu học

Trang 34

Bên cạnh những mặt thuận lợi, quận Tân Phú cũng có những mặt khó khăn đáng nói: dù mới được tách ra từ quận Tân Bình nhưng kinh tế quận phát triển rất nhanh, có nhiều Khu công nghiệp ra đời nên quận Tân Phú cũng thu hút nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc khác nhau như: Hoa, Chăm… và cũng

có nhiều tôn giáo khác nhau cùng sinh sống như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo… Mặc dù các đồng bào dân tộc, các tôn giáo luôn kề vai sát cánh cùng xây dựng quận Tân Phú phát triển nhưng cũng gây khó khăn cho việc quản lý

Tân Phú không phải là quận trung tâm của thành phố, nên những gia đình có điều kiện về kinh tế, có hộ khẩu thành phố đều xin cho con em mình học các trường ở những quận trung tâm thành phố Còn các trường học trên địa bàn quận Tân Phú, đặc biệt là các trường THPT học sinh chủ yếu từ các tỉnh khác, những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, điểm đầu vào của các trường trên địa bàn quận thấp hơn rất nhiều các quận trung tâm trên địa bàn Tp.HCM Vì thế kiến thức của HS mặc dù cùng lớp nhưng rất chênh lệch nhau nên gây khó khăn cho người đứng lớp

1.3.2 Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nay ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú

1.3.2.1 Về phía giáo viên

Chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản có sáu tác gia được đưa vào chương trình SGK ở cả ba khối, lớp, chiếm một thời lượng đáng kể và có mối quan hệ rất chặt chẽ với phần đọc hiểu tác phẩm Nhưng phương pháp cung cấp tri thức mới cho học sinh về tác gia và việc củng cố tri thức về tác gia hiện nay của GV còn có nhiều vấn đề cần được quan tâm Qua việc khảo sát thực tế dạy học của GV trường THPT Tây Thạnh, Quận Tân Phú và các trường THPT trên địa bàn quận trong các dịp thanh tra hoạt động sư phạm của

GV, chúng tôi nhận thấy nhiều GV trên địa bàn Quận Tân Phú chưa chú ý đến

Trang 35

nguyên tắc tích hợp Hình thành và củng cố tri thức về tác gia là một vấn đề mang tính chất tổng hợp nên rất dễ tích hợp với các bài đọc hiểu tác phẩm

Giáo viên mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Một số giáo viên vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã truyền đạt Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Nhiều giáo viên còn chưa thấy được tầm quan trọng của vấn đề hình thành

và củng cố tri thức về tác gia cho HS Họ cho rằng khi dạy về tác gia thì chỉ cần bám vào SGK giúp HS định hướng được các kiến thức trọng tâm của bài học là được Vì thế ít giáo viên đầu tư thời gian, tâm huyết cho việc soạn giáo án phần này Trong khi đó, họ chỉ giành thời gian, tâm huyết cho bài đọc hiểu, nhất là đọc hiểu tác phẩm văn học Chính vì lẽ đó mà nhiều giáo viên đã dạy quá giờ so với số tiết quy định trong phân phối chương trình Vì thế mà không ít GV đã cắt xén thời lượng dạy học về tác gia để chuyển cho thời lượng dạy bài đọc hiểu tác phẩm

Trong một lần dự giờ ở trường THPT ở Quận Tân Phú về tác gia Nam Cao thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11, ban cơ bản, tôi nhận thấy giáo viên chỉ hướng dẫn HS tóm tắt, hệ thống lại kiến thức theo SGK, GV luôn đặt câu

hỏi dạng trình bày, tái hiện kiến thức: Em hãy trình bày những đặc điểm quan trọng về cuộc đời của nhà văn Nam Cao? Trình bày quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao? Nam Cao chủ yếu viết về đề tài gì? Khi đặt những câu

hỏi như vậy HS chỉ cần nhìn vào SGK để trình bày chứ không cần phải tư duy, sáng tạo gì, có nhiều em còn cầm cuốn SGK đọc hết mục Gần như GV chưa đưa ra câu hỏi phát huy tư duy sáng tạo của HS Thiếu tích hợp với các

Trang 36

tác phẩm để làm rõ tri thức khái quát, để tăng tính hấp dẫn, truyền cảm của giờ học

Những giờ học không có đồng nghiệp dự giờ thì GV chỉ hướng dẫn HS đọc SGK và đánh dấu những tri thức quan trọng liên quan đến tác gia, vậy là giờ học cũng trôi qua mà chẳng để lại ấn tượng gì trong tâm hồn của các em với bài học đó, mà lẽ ra với bài học đó GV đã có thể đưa lại cho các em nhiều rung động, nhiều cảm xúc trước những nhân cách cao đẹp, những tấm lòng cao cả, lao động mệt mài và những nghị lực phi thường Mà tất cả những điều

đó có thể là những hành tranh vô giá cho các em bước vào đời

Ở mỗi bài đọc hiểu đều có mục tiểu dẫn, trong đó có mục giới thiệu tác giả Có thể xem mục giới thiệu về tác giả trong phần tiểu dẫn ấy như một bài học thu nhỏ về tác gia văn học Điều này chứng tỏ những tri thức về tác giả có

ý nghĩa định hướng rất quan trọng cho việc tiếp cận, đọc hiểu các tác phẩm của họ Do đó lẽ ra với mỗi bài học về tác gia, GV còn phải hình thành cho

HS phương pháp tìm hiểu tác gia trong mối quan hệ biện chứng với tác phẩm, với văn bản Hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học là những kiến thức công cụ, kiến thức phương pháp giúp cho HS tự mình tiếp tục nghiên cứu mở rộng tri thức Nhưng thật đáng tiếc, phần lớn GV đã quên mất mục tiêu cần thiết này khi hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học Vì thế, khi hình thành tri thức về tác gia cho HS, GV chủ yếu vẫn cung cấp tri thức

về cuộc đời và sự nghiệp của họ, chủ yếu vẫn nhồi nhét kiến thức

Trước thực trạng đáng buồn ấy của một số GV trên địa bàn quận Tân Phú về vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia văn học đã khiến chúng tôi không ít băn khoăn, trăn trở Và đây cũng chính là một trong những

lí do khiến chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này để nghiên cứu Chỉ mong

đề tài này một phần nào đó sẽ làm thay đổi chút ít diện mạo của việc dạy học

về vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia phân môn văn học trong đồng nghiệp

Trang 37

1.3.2.2 Về phía học sinh

Qua nhiều năm dạy học môn Ngữ văn, tiếp xúc với rất nhiều thế hệ HS, qua thực tế khảo sát, qua những cuộc trò chuyện với HS trong những lần đi giao lưu, học hỏi về chuyên môn ở nhiều trường THPT trên địa bàn quận Tân Phú, chúng tôi dễ dàng nhận thấy, nhìn chung rất ít em có hứng thú, có niềm yêu thích đối với môn Ngữ văn Số đông HS thừa nhận rằng mình chán học văn Vì vậy các em tìm mọi cách để đối phó với thầy cô giáo từ việc soạn bài

ở nhà, đến việc trả bài trên lớp,… và ngay kiểm tra cũng chỉ là đối phó Nếu được cho bài về nhà thì các em chỉ chép lại trong các tài liệu, có đầy ở thị trường sách Lên lớp thì đa số HS uể oải, ít có tính xây dựng bài, GV hỏi thì các em mở vở soạn ra đọc hoặc nhìn tài liệu để đọc Việc ghi chép bài trên lớp cũng rất hời hợt Thực trạng này khiến cho nhiều GV dạy Ngữ văn có tâm huyết với nghề không khỏi lo lắng

Phần lớn HS đều cho rằng con đường lập thân là phải vào được một trường đại học nào đó, để sau này ổn định hơn về cuộc sống Vì thế học đối với các em trước hết là để bước chân vào cổng trường đại học nào đó Trong

xã hội các trường đại học dành cho khối C thì quá ít, khối D thì lại khó Chưa

kể ra trường còn rất khó kiếm việc làm Nhiều ông bố, bà mẹ đã bắt ép con mình học theo yêu cầu của bố, mẹ Ép con bỏ môn Văn để tập trung cho Toán, Lí, Hóa,… Thậm chí có những phụ huynh biết con mình được các thầy

cô giáo dạy môn Văn chọn đi thi HS giỏi đã tìm mọi lý do xin thầy cô rút khỏi danh sách

Nhưng có lẽ, đó thực sự chưa phải là cốt lõi của vấn đề Thiết nghĩ nguyên nhân sâu xa nằm ở đội ngũ những thầy cô giáo dạy văn Khi thầy cô dạy học mà không có “lửa” thì làm sao khơi dậy được nhiệt tình, hứng thú học tập ở HS Khi thầy cô không thực sự tìm tòi, sử dụng các trực quan để dạy học thì HS tránh sao khỏi sự nhàm chán Khi thầy cô không thay đổi

Trang 38

không khí lớp học mà chỉ chăm chăm dạy đủ kiến thức thì làm sao HS không ngủ gật Thầy cô còn dạy theo kiểu đối phó thì làm sao HS học không đối phó được Nhiều HS nói rằng: Nếu giờ học nào mà thầy cô cũng dạy như có giáo viên tới dự giờ thì tốt cho chúng em quá

Học sinh quay lại với môn Ngữ văn như thế thì với vấn đề hình thành

và củng cố tri thức về tác gia HS càng ít hứng thú hơn Bởi vì đây là kiến thức khô khan hàn lâm, đã vậy khi dạy GV lại ít đầu tư, ít đổi mới PPDH mà chỉ hướng dẫn HS hệ thống lại luận điểm SGK Vì thế HS rất thờ ơ với vấn

đề này

Vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia là một vấn đề rất quan trọng để hiểu sâu hơn tác phẩm Tuy nhiên, đâu đó vẫn còn tình trạng GV ít quan tâm đến vấn đề này Thực trạng này buộc GV phải đổi mới mình, tích cực học hỏi, tìm tòi, đổi mới PPDH để giúp HS lấy lại hứng thú, có niềm yêu thích đối với môn Ngữ văn nói chung các bài dạy về tác gia nói riêng

1.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong việc hình thành và củng cố tri thức về tác gia ở các trường THPT trên địa bàn Quận Tân Phú

1.3.3.1 Thuận lợi

Hàng năm, các trường THPT trên địa bàn quận Tân Phú đều cử GV đi

học tập chuyên đề về đổi mới PPDH, đặc biệt là bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả cho hoạt động dạy học Vì thế, đa số GV các trường THPT trên địa bàn quận đã nhận thức được sự quan trọng và tính cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học

Sau khi được trang bị kiến thức về phương pháp dạy học tích cực, một

số GV đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp có hiệu quả Ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, GV đã tích cực sử dụng các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính, Power Point,…)

Trang 39

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường THPT trên địa bàn quận ngày hiện đại, đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho GV

Hiện nay trên địa bàn quận Tân Phú một số trường THPT điều trang

bị phòng máy, nối mạng Internet và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Chẳng hạn đã có những băng hình về cuộc đời, sự nghiệp nhà văn, các bài viết về chân dung văn học, hình ảnh nhà văn trên mạng, dùng CNTT để trình chiếu hình ảnh, nhà văn… Như vậy, việc chuyển từ

“lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Có thể nói, những thuận lợi trên đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của GV và HS trên địa bàn quận Tân Phú rất nhiều

1.3.3.2 Khó khăn

HS có thói quen thụ động trong học tập Trong các tiết học về vấn đề hình thành và củng cố tri thức về tác gia, hình ảnh người thầy thuyết trình một cách say sưa từ đầu đến cuối buổi, HS thì nghe giảng và chép bài một cách thụ động Hơn nữa, số tiết dạy tác gia ít, khó nói được kĩ càng.Việc chọn lọc cái gì trong tiểu sử, sự nghiệp tác gia tùy thuộc vào năng lực GV Phải biết chọn những gì đáng nói, có ý nghĩa trong việc hiểu hơn tác phẩm Có GV thiếu chọn lọc sẽ nói tràn lan những chi tiết không cơ bản, thậm chí sa vào đời

tư không cần thiết

Trang 40

Chương 2 NHỮNG TRI THỨC VỀ TÁC GIA CẦN HÌNH THÀNH, CỦNG CỐ CHO HỌC SINH THPT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Củng cố tri thức về tác gia văn học không có kiểu bài dạy cụ thể, vì vậy

HS không dễ dàng nắm bắt nếu không có sự định hướng của GV Tri thức về một tác gia văn học cũng không phải chỉ kiểu bài dạy về tác gia mới giới thiệu đầy đủ cho HS mà những tri thức về một tác gia được tích hợp trong quá trình dạy học

Khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là

sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau quy định lẫn nhau

là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên

sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc tác động một cách riêng rẽ không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề tình huống

Trong lí luận dạy học tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ

có hệ thống ở những mức độ khác nhau các kiến thức kĩ năng thuộc các môn

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w