1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội việt nam đầu thế kỷ xx trong văn xuôi nguyễn vỹ qua tác phẩm tuấn, chàng trai nước việt

131 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xã Hội Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX Trong Văn Xuôi Nguyễn Vỹ (Qua Tác Phẩm Tuấn, Chàng Trai Nước Việt)
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn: “Cuộc cách mạng” Thơ mới; Cuộc cách tân văn xuôi nghệ thuật của nhóm Tự lực văn đoàn, của các nhà văn hiện thực phê phán… Đây là một giai đoạn văn học có giá trị, với những tê

Trang 1

(QUA TÁC PHẨM TUẤN, CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VỸ

(QUA TÁC PHẨM TUẤN, CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn đã tận tình giảng dạy, dìu dắt, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này Xin cảm ơn các thầy cô giáo của Trung tâm thư viện Nguyễn Thúc Hào đã tạo điều kiện cho tôi được phép sử dụng các tài liệu tham khảo liên quan đến luận văn Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Lê Thị Hồ Quang, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi giải quyết các vấn đề trong đề tài; định hướng, gợi mở, truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu và tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn

bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi, quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Với trình độ và kiến thức còn hạn chế, luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét từ phía quý thầy cô và bạn bè về những vấn đề thực hiện trong luận văn này!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 8 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

TÁC GIẢ NGUYỄN VỸ (1912 - 1971)

Trang 5

Nxb : Nhà xuất bản

Tr : Trang XHVN : Xã hội Việt Nam

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước,

số trang đứng sau Ví dụ: [40, 12] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục

Tài liệu tham khảo là 40, nhận định trích dẫn nằm ở trang 12 của tài liệu này

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Đóng góp của luận văn 14

7 Cấu trúc luận văn 14

Chương 1 NGUYỄN VỸ TRONG THẾ HỆ NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 15

1.1 Khái lược về bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX 15

1.1.1 Về bối cảnh lịch sử - chính trị 15

1.1.2 Về tình hình văn hóa - xã hội 17

1.1.3 Về đời sống văn học nghệ thuật 19

1.2 Nguyễn Vỹ - một gương mặt đáng chú ý của thế hệ nhà văn tiền chiến 22

1.2.1 Cuộc đời, con người Nguyễn Vỹ 22

1.2.2 Hành trình sáng tạo và những thành tựu chính của Nguyễn Vỹ 27

1.2.3 Đặc điểm thể loại và vị trí của tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt trong văn nghiệp của Nguyễn Vỹ 29

1.3 Những quan niệm về văn chương của Nguyễn Vỹ 33

1.3.1 Quan niệm về văn chương như một cách ghi lại hiện thực 33

1.3.2 Quan niệm về văn chương như cách để khẳng định sự tồn tại cá nhân 36

1.3.3 Quan niệm về văn chương như một nghề nghiệp đặc thù 37

Chương 2 ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VỸ (QUA TÁC PHẨM TUẤN, CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT) 40

2.1 Đặc trưng cái nhìn của Nguyễn Vỹ về XHVN đầu thế kỷ XX qua tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt 40

Trang 7

2.1.3 Cái nhìn trẻ trung, đầy xúc cảm của một thanh niên thế hệ mới 50

2.2 Đặc điểm đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX qua con mắt Nguyễn Vỹ 54

2.2.1 Những nét đẹp truyền thống còn được lưu giữ 54

2.2.2 Sự giao thoa văn hóa Pháp - Việt và những xô bồ, hỗn loạn của đời sống đô thị 57

2.2.3 Bức tranh đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX 62

2.3 Đặc điểm con người trong XHVN đầu thế kỷ XX qua con mắt Nguyễn Vỹ 67

2.3.1 Những hình tượng con người nổi bật 67

2.3.2 Tuấn - chân dung tự họa của nhà văn Nguyễn Vỹ 74

Chương 3 NGHỆ THUẬT MÔ TẢ ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VỸ (QUA TÁC PHẨM TUẤN, CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT) 79

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 79

3.1.1 Đặt nhân vật trong bối cảnh lịch sử - xã hội đầy biến động của đất nước giai đoạn đầu thế kỉ XX 79

3.1.2 Dùng hình thức “thuật chuyện” khách quan, chân thật để khắc họa chân dung nhân vật 82

3.1.3 Thường mô tả nhân vật qua hành động, đối thoại hơn là đi sâu khắc họa những phức tạp tâm lý 85

3.2 Nghệ thuật sử dụng giọng điệu 91

3.2.1 Giọng điệu khách quan hóa 91

3.2.2 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 94

3.2.3 Giọng điệu chân chất, chân thành 97

Trang 8

3.3.2 Nghệ thuật sử dụng phương ngữ, từ lóng, từ nước ngoài 104 3.3.3 Nghệ thuật sử dụng các thông tin, số liệu điều tra, khảo sát từ

các nguồn tài liệu khoa học và báo chí đương thời 110

3.4 Tuấn, chàng trai nước Việt - ưu thế và hạn chế của thể loại tiểu thuyết -

tự truyện trong việc tái hiện, mô tả hiện thực đời sống 113

KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thời kì tiền chiến - thời kì trước khi diễn ra cuộc chiến tranh Việt - Pháp (1945 - 1954) là một thời kì đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam Đây là thời kì đánh dấu bước phát triển, chuyển đổi từ nền văn học cũ sang nền văn học mới và đã đạt được những thành tựu lớn, trên mọi phương diện Chẳng hạn: “Cuộc cách mạng” Thơ mới; Cuộc cách tân văn xuôi nghệ thuật của nhóm Tự lực văn đoàn, của các nhà văn hiện thực phê phán… Đây là một giai đoạn văn học có giá trị, với những tên tuổi tác giả tiêu biểu, đặc sắc, đã được độc giả biết đến rộng rãi như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… Thế nhưng, bên cạnh đó, giai đoạn này cũng có những tài năng văn chương do vô tình hay cố ý vẫn còn xa lạ hoặc bị khuất lấp đối với độc giả Sự hiểu biết về họ chưa tương xứng với những đóng góp của

họ cho văn học tiền chiến nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung Tiêu biểu là trường hợp nhà thơ, nhà văn Nguyễn Vỹ (1912 - 1971)

1.2 Dù được nhắc đến như một thi sĩ lãng mạn, thực tế Nguyễn Vỹ đã

để lại cho hậu thế những tác phẩm có giá trị cả về thơ ca lẫn văn xuôi Những tác phẩm văn xuôi của ông đã góp phần lớn trong việc tạo nên những màu sắc mới cho bức tranh thể loại văn học Đi sâu tìm hiểu về những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Vỹ sẽ giúp chúng ta có những cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về thời đại văn học tiền chiến cũng như tài năng và những đóng góp của ông cho nền văn học

1.3 Sức hấp dẫn của một tác phẩm văn học không chỉ ở giá trị văn

chương mà lớn hơn đó là mối quan hệ giữa lịch sử - văn hóa - xã hội và văn

học Văn xuôi của Nguyễn Vỹ, tiêu biểu là tác phẩm Tuấn, chàng trai nước

Việt đã tái hiện lại một cách sinh động, chân thực bức tranh xã hội Việt Nam ở

Trang 10

một giai đoạn đầy những rối ren, biến động qua thế giới hình tượng trong tác phẩm Khám phá văn xuôi Nguyễn Vỹ trong mối quan hệ với lịch sử - văn hóa

- xã hội là góc nhìn hữu ích, có tính khả thi

Từ những nhận thức trên đây, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: Xã hội

Việt Nam đầu thế kỷ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ (qua tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt) làm đề tài nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về tác giả Nguyễn Vỹ

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Vỹ có lẽ đã gây ấn tượng đầu tiên bởi lối thơ 12 chân trong sáng tác của mình Một lối thơ mới trên thi đàn Việt Nam nhưng lại là thể thơ thường thấy ở Tây phương Chính từ những sáng tác bằng lối thơ này đã gây ra những cuộc tranh cãi, những ý kiến trái chiều

về ông

Trong Thi nhân Việt Nam, hai tác giả Hoài Thanh - Hoài Chân phê bình

Nguyễn Vỹ một cách gắt gao như sau: “Nguyễn Vỹ đến giữa làng thơ với chiêng trống xập xòeng inh cả tai Chúng ta đổ nhau ra xem Nhưng chúng ta tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì Táo bạo thì táo bạo thực, nhưng trong thơ văn táo bạo không đủ đưa người ta ra khỏi cái tầm thường Khi Nguyễn Vỹ hô hào:

Ta hãy truyền một thi hứng mới cho thế kỷ hai mươi / Ta hãy ký thác trong văn thơ những tình sâu ý hiếm; người có biết rằng trong hai câu này không có lấy

một chút “tình sâu ý hiếm” và mặc dầu cái lốt mới rềnh ràng của chúng, chúng vẫn nằm xếp hàng với những câu sáo nhất xưa nay mà không chút… ngượng Tránh tầm thường mà lại rơi vào tầm thường là thế” [57, 116] Đó là những lời phê phán gay gắt nhưng chưa hoàn toàn chính xác Sau đó cũng chính Hoài

Thanh phải nhiệt tình thừa nhận thành công của Nguyễn Vỹ ở hai bài Sương

rơi và Gửi Trương Tửu: “Một bài như “Sương rơi” được rất nhiều người thích

Trang 11

Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để diễn tả một cái gì đương rơi Cái gì đó có thể là những giọt sương, cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đều, chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ buồn ta đứng một mình trong lặng lẽ Nhưng “Sương rơi” còn có vẻ một bài văn “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ Trong lúc say, Nguyễn Vỹ đã quên được cái tật cố hữu của người, cái tật lòe đời Người đã quên những câu thơ hai chữ và những câu thơ mười hai chữ Người dùng một lối thơ rất bình dị, rất xưa, lối thất ngôn tràng thiên liên vận và liên châu Lời thơ thống thiết, uất ức, đủ dãi nỗi bi phẫn cho cả một hạng người Một hạng người nếu có tôi với xã hội thì cũng có chút công, một hạng người

đã đau khổ nhiều lắm, hạng sống bằng nghề văn […] Nguyễn Vỹ đã làm bài thơ này trong một lúc vô cùng buồn giận vì cái nghiệp văn chương Những ai cùng một cảnh huống xem như tưởng có thể khóc lên được Trong lời văn còn chút nghênh ngang từ đời xưa lưu lại Nhưng ta đã xa lắm rồi cái kiêu ngạo phi thường của Lý Thái Bạch chỉ biết văn chương còn khinh hết thảy […] Với Nguyễn Vỹ, chúng ta đã mất hẳn cái cười kiêu ngạo ấy và ngơ ngác thấy xếp hàng cùng với… chó Cái lối xếp hàng kì quái ấy đã làm phật ý Tản Đà Một hôm say rượu, Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à? Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi

có ví như thế thì chó xấu hổ chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?”” [57, 117-118]

Sau Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, một trong những

công trình được xem là đã quan tâm và chú ý tới thơ văn tiền chiến ở mức độ

sâu rộng nhất đó là công trình Việt Nam thi nhân tiền chiến của Nguyễn Tấn

Long Sách giới thiệu đến người đọc 64 tác giả (trong đó có Nguyễn Vỹ), với dung lượng 1685 trang đã cho chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về một thời

kì văn học rực rỡ - thời kì văn học tiền chiến Những điều này đã được khẳng

định ngay ở lời đầu sách: “Nhà xuất bản Văn học lần này cho ra bộ Việt Nam

Trang 12

thi nhân tiền chiến của Nguyễn Tấn Long là trên tinh thần thêm một tiếng nói,

thêm một công trình cho sáng rõ hơn những gì mà các thi nhân thời tiền chiến

đã để lại cho hậu thế” [32, 4] Về Nguyễn Vỹ, Nguyễn Tấn Long đã có những lời nhận xét xác đáng về tâm hồn con người lẫn thơ văn của chính ông Không chỉ vậy, ông còn đưa ra những lời nhận định, đánh giá của những tác giả khác và ông cũng không quên bình phẩm những lời nhận định đó Để rồi cuối cùng ông

đi đến khẳng định: “Chúng ta thấy Nguyễn Vỹ là một nhà thơ thực có tài Ông giám trình bày một cách trung thực tư tưởng của mình, nói lên nỗi uất ức, bất công của kiếp người Nguyễn Vỹ có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc chịu nhiều thảm họa, hòa lẫn vào đấy tình thương yêu đồng loại, tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương” [32, 367]

Với công trình Nhà văn hiện đại (tập 2), Vũ Ngọc Phan đã nghiên cứu

về Nguyễn Vỹ cả về thơ và văn xuôi Nhìn chung đều là những lời đánh giá về mặt hạn chế, và ông cũng đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể Tiêu biểu nhất là

cuốn Đứa con hoang và Chiếc bóng Nếu Đứa con hoang ông cho rằng khuyết

điểm của Nguyễn Vỹ ở chỗ tả kỹ càng, tỉ mỉ nhưng giọng văn lại thiếu sự chân

thật thì Chiếc bóng lại cẩu thả trong việc dựng người, dựng cảnh [45, 392 -

393] Còn về thơ, Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng: “Nguyễn Vỹ đã có những cái lầm kì quặc Ông đề xướng một lối thơ bắt chước thơ Tây và gọi là “thơ Bạch Nga” Ông là người đặt ra những câu thơ hai chữ và những câu thơ “mười hai

chân” Ông đã từng “làm ồn” lên một độ trong Tiểu thuyết thứ năm, một tạp

chí xuất bản ở Hà Nội cách đây sáu bảy năm, về những cái mới ấy; Nhưng với thời gian, không một ai có thể bị cám dỗ mãi về những cái tầm thường, chỉ cầu

kỳ có bề mặt [45, 394] Để rồi cuối cùng, Vũ Ngọc Phan đi đến kết luận: “Về tiểu thuyết cũng như về thơ, Nguyễn Vỹ tỏ ra một người giàu tình cảm Nhưng mối tình của ông diễn ra trong lúc thành thực, trong lúc ông trút bỏ hết những

Trang 13

tính cầu kỳ, bao giờ cũng cảm động Nhưng người ta lấy làm tiếc rằng trong những lúc viết văn hay làm thơ, ít khi Nguyễn Vỹ lại thành thực được như lúc ông choáng váng hơi men” [45, 397]

Trương Tửu là một tác giả cùng thời đại với Nguyễn Vỹ, trong bài viết

Cái buồn lãng mạn và các thi sĩ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Vỹ… với cái nhìn phê phán, ông đã phê bình thế hệ các nhà văn lãng

mạn với những cái buồn vô cớ và chỉ ra những nguyên nhân của cái buồn lãng mạn đó Nguyễn Vỹ cũng không nằm ngoài danh sách mà ông dành những lời nhận xét như vậy Ông viết: “Cặp mắt họ lờ đờ vẩn vơ có vẻ nhớ tiếc một cái

gì, thương yêu một cái gì mà họ chưa có hoặc đã để mất đi Gò trán họ quầng thâm một bóng mây, nó điểm trên khuôn mặt họ một vẻ uể oải, nhợt nhạt Ở môi họ nở non những nụ cười héo hắt, bị táp úa bởi một vài nếp nhăn mờ chạy vòng từ kẽ mép xuống cằm Toàn thân họ bộc lộ một tâm trạng bạc nhược Và hình như ở chân trời đen tối của đời họ, sự thất bại đã được viết bằng chữ máu

Họ là những tên lính hèn yếu trước khi ra mặt trận đã tính đến sự đầu hàng” [50, 727]

Trên trang web: www.4phuong.net, Lê Ngọc Trác đã có những khẳng định có ý nghĩa về tài năng của Nguyễn Vỹ Ông cho rằng: “Nguyễn Vỹ là nhà thơ, nhà văn, nhà báo lão thành trong làng báo miền Nam Ông được người đời công nhận là nhà báo giám nói lên sự thật Về văn, Nguyễn Vỹ chuyên viết tiểu thuyết xã hội” [63] Để kiểm chứng cho những đánh giá của mình, Lê Ngọc Trác cũng trích lời nhận định của Vũ Ngọc Phan: “Nhà văn - nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan nhận định về tiểu thuyết của Nguyễn Vỹ như sau:

“Ông là một người giàu tình cảm, nhìn đời bằng con mắt bi quan, trái tim ông rung động khá nhiều” Cuối cùng, ông khẳng định “cùng với tiểu thuyết và các thể tài khác, Nguyễn Vỹ trước sau vẫn là một nhà thơ Ông thật sự nổi tiếng về thơ Từ năm 1941, mặc dù có những nhận định có phần khắt khe về Nguyễn

Trang 14

Vỹ, nhưng cả Hoài Thanh - Hoài Chân và Vũ Ngọc Phan đều phải công nhận:

“Nguyễn Vỹ là người có tài về thơ” [63]

Trước những đánh giá khắt khe của Hoài Thanh - Hoài Chân về Nguyễn

Vỹ, tác giả Lam Giang trong quyển Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX đã lên tiếng

bênh vực bằng nhận định như sau: “Phê bình Nguyễn Vỹ, Hoài Thanh phát biểu một ý kiến võ đoán: “Nguyễn Vỹ chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thật sự

có ít thành tích văn chương” Tôi thiết tưởng cái công du nhận đầu tiên lối thơ nhạc vào thi đàn Việt Nam giữa lúc rất nhiều người chỉ chăm lo đả kích Luật Đường, chứ chưa sáng tạo được một thể điệu gì mới, cũng đáng cho chúng ta

nhìn tác giả với một nhãn quan nhiều thiện cảm hơn” [14]

Viết Về Nguyễn Vỹ, tác giả Sa Giang - Trần Tuấn Kiệt đã có hai bài

đăng trên trang http://cafevannghe.wordpress.com, đó là: Nguyễn Vỹ với thơ

và báo và Tao đàn Bạch Nga của Nguyễn Vỹ

Trong bài thứ nhất, tác giả với cái nhìn khách quan đã nêu ra những thành tựu và hạn chế trong sáng tác của Nguyễn Vỹ: “Bên cạnh những tập

sách biên khảo có giá trị như Văn thi sĩ tiền chiến, Tuấn - chàng trai nước

Việt… Nguyễn Vỹ còn viết nhiều bộ tiểu thuyết, nhưng được đánh giá là

không thành công Riêng về thơ, ông nhận được nhiều lời khen chê Trong

Tập thơ đầu (1934), Nguyễn Vỹ có đăng vài bài theo lối 12 chân

(elaxandins), một lối thơ mới trên thi đàn Việt Nam, nhưng không lạ gì đối với thi đàn Phương Tây” [15] Tác giả cũng dẫn ra một loạt những đánh giá trái chiều của các học giả dành cho Nguyễn Vỹ: “Ông bị Thế Lữ cho rằng:

“Ông có ý định toan lòe và bịp mọi người”, còn Vũ Ngọc Phan thì viết: “Với thời gian, không một ai có thể bị cám dỗ mãi về những cái tầm thường, chỉ

cầu kì có bề mặt” […] Khác với những ý trên, Lan Khai trong báo Đông

Phương, Phạm Huy Thông trong báo L’Annam nouveau (báo của Nguyễn

Văn Vĩnh), Lê Tràng Kiều trong Hà Nội báo (số 23, ngày 10 tháng 6 năm

Trang 15

1936) lại hết sức khen ngợi thơ Nguyễn Vỹ Và trong quyển Hồn thơ nước

Việt thế kỷ XX có ghi lời của Lam Giang (tác giả Khảo luận thơ mới, Nxb Hà

Nội, 1940) như sau:

“Năm 1962, tập thơ thứ nhì mang tên Hoang vu ra đời Bình luận về tập thơ này, nhà văn Thiết Mai trong Sáng dội miền Nam viết: Nguyễn Vỹ đã nếm

mùi tân khổ gian lao… lại ở vào cảnh giao thời của hai thế hệ, trong tình trạng

bi đát nhất của lịch sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ đã trở thành con người rắn rỏi, yếm thế… rồi đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo, khắt khe, chua chát… Nhưng lúc trở lại với bẩm tính vốn có, chũng ta thấy ông hiền dịu, đa tình, đa cảm, thiết tha với một số đời sống êm đềm […] Về tài thơ, ta thấy thơ của ông được cấu tạo dễ dàng, không gò ép […] Về ý thơ, Nguyễn Vỹ đã có nhiều ý

tưởng, nhiều câu văn táo bạo (Hai người điên; Hai con chó; Trăng, chó, tù;

Đêm trinh…) Điều này khiến thơ ông thoát ra khỏi lối thường tình, cổ điển và

cũng chứng tỏ ông là người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng” [15]

Tao Đàn Bạch Nga cũng như tài năng của Nguyễn Vỹ, đều là những số

phận hẩm hiu, khó để độc giả và giới văn chương đón nhận Trong bài viết Tao

đàn Bạch Nga của Nguyễn Vỹ, tác giả Trần Tuấn Kiệt nhớ lại: “Công tâm nhận

xét thì ông Nguyễn Vỹ đã cố gắng phổ biến Tao Đàn Bạch Nga, cổ súy cho thơ

từ 2 chữ đến 12 chữ theo Âu châu cũng là ý kiến tốt, muốn đổi mới nghệ thuật

thơ mới vì thơ cũ ở Việt Nam thời đó đã khá nhàm Thi phẩm Hoang vu của ông

có giá trị ngang hàng với tất cả những thi nhân đương thời và cả ngày nay

Phong cách Âu châu, tư tưởng cấp tiến của ông thời đó đã làm xốn con mắt của nhiều người đương thời nhất là Hoài Chân, Hoài Thanh trong khi

quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân tái bản luôn mà

không sửa đổi gì cả Thế là cái án Văn chương này vẫn còn tiền lệ tạo ra sự coi thường nhà thơ Nguyễn Vỹ bất công đến bao giờ” [15] Và cuối cùng điều

Trang 16

không trông chờ nhất cũng đã đến “Nguyễn Vỹ và Tao đàn Bạch Nga như đóa hoa héo dần, sau này Phổ Thông in một ngàn số mà cũng rất khó bán…” [15]

Kỉ niệm 100 năm ngày sinh của thi sĩ Nguyễn Vỹ và 41 năm ngày mất,

tác giả Lê Xuân Quang đã có bài viết đăng trên trang web: http://trannhuong.net với tựa đề Nguyễn Vỹ: nhà văn An Nam khổ như chó (gửi Trương Tửu) Bài viết

có đoạn: “Thơ - là tiếng lòng của người nghệ sĩ khi cảm xúc đã đến đỉnh điểm, thi sĩ chắt lọc ngôn từ, từ chọn phương pháp trình bày để diễn đạt Thơ mới ra đời, bởi người viết hoàn toàn tự do, không bị các quy tắc gò bó, ảnh hưởng, ràng buộc Như vậy, đã mang lại cho Thi đàn Việt Nam luồng gió mới, sản sinh nhiều cây bút trở thành những ngôi sao sáng trên bầu trời văn chương nước nhà Thi sĩ Nguyễn Vỹ là một trong số những ngôi sao đó Ông góp phần tô điểm diện mạo thi ca Việt trong buổi đầu chuyển mình Sự hiện diện của Nguyễn Vỹ đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Việt Nam ở những năm

30 của thế kỉ XX và tiếp tục trải dài cho đến hôm nay” [48] Bài viết đã góp phần khẳng định sức sống mãnh liệt của tài năng Nguyễn Vỹ

Tiểu luận Hình thức gắn bó với nội dung trong thơ Nguyễn Vỹ, Thanh

Tâm Tuyền, Nguyên Sa của Trần Văn Nam được đăng tải trên trang web http://www.vanchuongviet.org một lần nữa khẳng định tài năng của Nguyễn Vỹ

với những điều mà trước đây chưa có nhà văn, nhà thơ nào làm được Tác giả viết: “… Nguyễn Xuân Sanh và Đoàn Phú Tứ cũng đã “sáng tạo nhạc điệu riêng” trong thơ mà không đưa ra một đồng bộ giữa nội dung và hình thức như Nguyễn Vỹ: Cứ hai chữ xuống dòng giống như từng giọt sương rơi; Ý thơ là niềm đau rơi rụng, cảm thức nỗi hiu hắt lạnh lùng […] Nguyễn Vỹ thấy sương rơi từng giọt thì tạo ra thể thơ cứ một hai chữ xuống hàng, nhưng còn phối hợp

ý tưởng từng giọt thấm vào lòng lạnh lùng, từng giọt rơi trên mồ hoang; Đó là

do liên tưởng, không phải chỉ đơn thuần do cảm giác đem lại Nhưng sự cách tân của Nguyễn Vỹ không phải là dễ dàng đạt tới cơ cấu gắn bó hình thức và nội

Trang 17

dung […] Phải chăng có ý thức sáng tạo để cách tân như Nguyễn Vỹ thì mới được văn học kể đến như một người chủ trương sự phối hợp chặt chẽ giữa nội

dung và hình thức” [39] Với bài Sương rơi, với những cách nhìn nhận đầy cảm

thức nghệ thuật, Nguyễn Vỹ đã được đánh giá đúng tầm với tài năng mà mình

có, với những đóng góp không nhỏ cho nền văn học

Nguyễn Vỹ là một tác giả rất sôi nổi trong hoạt động văn học nghệ thuật, thế nhưng ông luôn phải mang trên mình những ý kiến đánh giá trái chiều Và cho đến bây giờ, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tương xứng với sự nghiệp văn chương mà ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà Những nghiên cứu về tác giả Nguyễn Vỹ vẫn chủ yếu là những bài viết nằm rải rác trên các tờ báo và tạp chí

2.2 Lịch sử nghiên cứu về vấn đề hiện thực đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ qua tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt

Nguyễn Quang Thắng trong công trình Từ điển tác gia Việt Nam với mục từ Nguyễn Vỹ đã dành sự quan tâm hơn cả cho tác phẩm tự truyện Tuấn,

chàng trai nước Việt Ông viết “tác phẩm là những chứng tích của thời đại mà

văn hóa Việt Nam chuyển từ văn minh cổ truyền đến nền văn minh hiện đại Tây phương nhất là văn hóa Pháp […] Với tư cách một nhân chứng vô tư của thời đại, Tuấn thuật lại rất khách quan và chân thật, không màu mè, chải chuốt, tất cả những biến đổi phi thường ấy, về lịch sử, xã hội, phong hóa, tập tục, kinh tế, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân Việt Nam từ 1900 đến

1945 Một đời sống dồi dào sinh lực, đầy thử thách và kinh nghiệm” [58]

Trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), Nguyễn Huệ Chi đã có những

đánh giá khác nhau về những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Vỹ Có những

tác phẩm ông chỉ trích như Đứa con hoang, Chiếc bóng Tuy nhiên ông lại dành những lời khen ngợi cho cuốn tự truyện Tuấn, chàng trai nước Việt và

Trang 18

Văn thi sĩ tiền chiến Đó là những tác phẩm “cung cấp nhiều tư liệu đáng kể về

sinh hoạt xã hội cũng như hoạt động của làng thơ làng văn ở Việt nam những năm 1920 - 1945, với giọng văn linh hoạt, dí dỏm, cách kể chuyện tỉ mỉ, cuốn hút, nhất là thiên tự truyện, làm sống lại không khí lịch sử và phong tục tập quán của một thời chưa xa chúng ta là mấy nhưng ít ai còn hình dung được” [19, 1230]

Nghiên cứu về Nguyễn Vỹ, Đỗ Lai Thúy cũng đã có bài viết được đăng

tải trên trang web: www.bichkhe.org với tiêu đề Nguyễn Vỹ - nhân tích của một

vùng đất và một thời đại Tác giả đã có những nhận định sâu sắc về Nguyễn

Vỹ và những sáng tác của ông cả về thơ lẫn văn xuôi, trong đó có tác phẩm

Tuấn, chàng trai nước Việt Tác giả viết: “Viết Tuấn, chàng trai nước Việt”,

Nguyễn Vỹ không viết theo thể loại hồi kí Bởi viết theo thể loại hồi kí, tuy nói lên được những cảm nhận cá nhân trước cuộc đời, trước thời cuộc, nhưng dễ bị

bó hẹp vào câu chuyện cái tôi Mà Nguyễn Vỹ thì không muốn thế Ông muốn nói về cả thế hệ mình, thế hệ trước mình và sau mình Tóm lại, xã hội Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 Và những vấn đề của nó Nhưng ông cũng không muốn viết theo thể tự truyện, tuy được tự do hư cấu vì nó là truyện, nhưng vẫn đảm bảo được tính chân xác của sự kiện do nhân vật kể về mình Đi giữa hồi kí và tự truyện, Nguyễn Vỹ vừa đảm bảo được tính chân xác của tư liệu, sự trải nghiệm bên trong chủ quan của người kể chuyện, vừa đủ khách quan để dựng lại chân dung các thế hệ người Ông gọi tác phẩm của mình bằng cái tên có thể hiểu như là thể loại cũng được và như là nội dung

cũng không sai: Chứng tính thời đại (Tuấn, chàng trai nước Việt), Chứng dẫn thời đại (Văn thi sĩ tiền chiến)

Ai muốn lấy tư liệu về một xã hội Việt Nam quân chủ Nho giáo nông nghiệp cổ truyền đang từng bước chuyển sang hiện đại Tây hóa như thế nào,

tưởng không đâu hơn ở Tuấn, chàng trai nước Việt Ở đó sẽ thấy những do dự

vừa bi vừa hài của việc thay đổi trang phục, đầu tóc, học chữ ta (tức chữ Hán)

Trang 19

hay chữ Tây (không chỉ chữ Pháp mà ban đầu cả chữ quốc ngữ nữa); rồi bao giờ thì xuất hiện chiếc xe đạp, chiếc đồng hồ, lần đầu tiên dân chúng được nhìn thấy máy bay; rồi ông đồ đi xe ô tô cảm hứng làm thơ, người thanh nữ đầu tiên đi xe đạp từ Sài Gòn ra Hà Nội là ai và vì sao tổ chức chuyễn đi này; rồi vân vân và vân vân Đó là những chứng tích cụ thể, sống động xảy ra ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn - Bình Định, miền Trung và toàn cõi Việt Nam Đó là những chứng tích của một chàng trai lớn lên, đổi thay cùng với đất nước nhìn thấy, trải nghiệm và kể lại Nhưng điều hay hơn ở Nguyễn Vỹ là xuyên qua rừng tư liệu ấy, người đọc có thể rút ra sự hình thành một thế hệ thanh niên của đất nước tiêu biểu cho thời đại bấy giờ Đó là thế hệ Nguyễn Vỹ, thế hệ của

Tuấn mà ông định danh là chàng trai nước Việt

Những người học tiếng Pháp đầu tiên, lứa đầu của tiểu học Pháp - Việt thì sớm ra đời làm thầy thông, thầy phán Chữ Pháp cũng như học thức của họ chưa đủ để cho đầu óc khỏi lệ thuộc Còn những con cái của gia đình có công với cuộc chinh phục Pháp được đi du học nước ngoài về thì đa phần trở thành những “ông Tây An Nam” Họ “thừa” chữ Pháp nhưng lại thiếu một căn bản dân tộc Bởi thế, chỉ có lứa của Tuấn, đang học trung học vào những năm

1925, 1926 khi Phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh lan rộng toàn quốc, là hội tụ đủ điều kiện để trở thành một thế hệ tri thức mới Họ có đủ tiếng Pháp để tiếp thu văn hóa Pháp từ chính quốc và quan trọng hơn, được tài bồi một lòng yêu nước, một tư tưởng chống thực dân Pháp, cuối cùng họ đủ đông để trở thành một thế hệ Tôi tạm gọi họ là tầng lớp Tây học bản địa Họ sẽ trưởng thành vào đầu năm 1930, thay thế xứng đáng cho tầng lớp tri thức Nho học để xây dựng một nền văn hóa mới, văn hóa đô thị hiện đại kiểu phương Tây” [61] Với bài viết ngắn gọn nhưng Đỗ Lai Thúy đã gom hết những đặc sắc về nội dung và hình thức, góp phần cho chúng ta có những cái nhìn đầu tiên về tác phẩm

Trang 20

Trên trang web: www.nuiansongtra.com, với bài viết Nguyễn Vỹ, nhà văn

nước Việt, Trần Quang Á cũng đã công bố những tư liệu cũng như những nhận

định đánh giá về Nguyễn Vỹ và tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt Tác giả viết về Tuấn, chàng trai nước Việt như sau: “Viết theo dạng hồi ký biến thể, vẫn

lối văn thẳng thắn và giản dị quen thuộc nhưng có tính xác thực cao vì ông có ghi chú rõ ràng từng thời gian địa điểm, kèm theo phụ bản về cảnh và người liên quan đến các sự kiện và biến cố trong mọi lãnh vực ông kể lại […] Tác phẩm

Tuấn, chàng trai nước Việt, chứng tích thời đại từ 1900 đến 1970”, Nguyễn Vỹ

đã có chủ ý không những thuật lại mà còn dẫn dắt các sự kiện liên quan từ quá khứ, sang hiện tại và đến tương lai Thật vậy, Nguyễn Vỹ qua nhân vật Tuấn hầu như lúc nào cũng có mặt, đã viết thật và rõ về những điều ông nghĩ, biết và thấy về các ý đồ đen tối của những kẻ sâu dân mọt nước và các thế lực chính trị với các nhân vật đã, đang hoặc sắp nắm cái quyền cai trị không ngại triệt hạ bất

cứ ai có hành động hoặc tư tưởng chống đối Như vậy, Nguyễn Vỹ đã cùng lúc nhận cả hai bản án nặng nhất của hai quan tòa không ra mặt, vốn ngịch nhau nhưng đều có quyền sinh quyền sát” [1]

Lê Ngọc Trác trong bài viết Nguyễn Vỹ, nhân chứng của một thời được đăng tải trên trang web: www.4phuong.net, cũng đã có những đánh giá cao về tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt Bài nghiên cứu có đoạn viết: “Có một

tác phẩm của Nguyễn Vỹ được nhiều người yêu thích và đánh giá cao, đó là

tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt Tác phẩm này trước khi in thành sách trọn bộ hai tập được đăng tải từng kỳ trên Tạp chí Phổ thông đã thu hút được

đông đảo người đọc Hình minh họa trong tác phẩm là một người thanh niên khôi ngô, tuấn tú, mặc chiếc áo dài cổ truyền, đầu đội mũ cối rộng vành đã trở thành thân thuộc với người đọc thời bấy giờ Theo Nguyễn Vỹ thì tác phẩm

Tuấn, chàng trai nước Việt không phải là tiểu thuyết, không phải là hồi kí,

cũng không phải là tự truyện Nguyễn Vỹ đã viết về những con người, những

sự kiện chân thật với tư cách là nhân chứng khách quan của thời đại Chính vì

vậy, ông gọi tác phẩm của mình là “chứng tích thời đại” Ông viết về xã hội

Trang 21

Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945, viết về chân dung cuộc

sống của một thế hệ cũng thời với ông, mà ông gọi là “thế hệ Tuấn - chàng

trai nước Việt” Nguyễn Vỹ đã ghi chép một cách đầy sáng tạo các sự kiện;

phải nói là ngồn ngộn sự kiện, đầy hấp dẫn, phong phú và đầy chân thật trong

“Tuấn, chàng trai nước Việt” Ông trở thành người kể chuyện tài hoa, hấp

dẫn Từ chuyện ăn mặc, thời trang, tóc tai, học hành, thi cử, chuyện làng xã, chính trị… Từ đời sống sinh hoạt của một vùng đất, của một đất nước chuyên sống bằng nông nghiệp lạc hậu, tiếp xúc với những phương tiện hiện đại, cơ giới, máy móc tự động của phương Tây; đến tình cảm và suy nghĩ của một thế

hệ đối với đất nước và dân tộc [63]

Tóm lại, theo những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tập hợp, khảo sát, đọc tác phẩm này của Nguyễn Vỹ, chúng ta thấy rõ hoàn cảnh, cuộc sống của Việt Nam từ thời phong kiến, thuộc địa đến thời kỳ bùng nổ dân chủ, giành độc lập Chúng ta hiểu rõ tình hình kinh tế, văn hóa xã hội, cũng như những tập quán

xã hội của nước ta trong thời kỳ đầu thế kỷ XX Tác phẩm Tuấn, chàng trai nước

Việt đã trở thành nguồn tư liệu quý giá giúp rất nhiều cho những nhà nghiên cứu,

biên soạn, trích dẫn những phong tục tập quán, những sinh hoạt trong đời sống, những chuyển biến lịch sử của đất nước Việt Nam trong thời kỳ đầu của thế kỷ

XX Thế nhưng chưa có một công trình nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc về phương diện nội dung lẫn hình thức của tác phẩm này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Xã hội Việt Nam đầu thế

kỷ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ (qua tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt)

3.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Văn bản chính mà luận văn khảo sát là Tuấn, chàng trai nước Việt, tiểu

thuyết - tự truyện của Nguyễn Vỹ, tái bản năm 2006, Nxb Văn học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định cho luận văn những nhiệm vụ chính sau đây:

Trang 22

Thứ nhất, nhận diện về vị trí của Nguyễn Vỹ và những sáng tác văn xuôi

của ông trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945 (còn gọi là giai đoạn văn học tiền chiến)

Thứ hai, đi sâu khảo sát, phân tích những đặc điểm của bức tranh xã hội

Việt Nam đầu thế kỷ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ

Thứ ba, đi sâu khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật mô tả hiện thực

xã hội Việt nam đầu thế kỉ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp:

- Phương pháp so sánh - đối chiếu;

- Phương pháp phân tích - tổng hợp;

- Phương pháp xã hội - lịch sử;

- Phương pháp thống kê - phân loại…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên tập trung tìm hiểu một cách hệ thống về vấn đề xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công việc tìm hiểu và nghiên cứu văn học tiền chiến nói chung và văn xuôi Nguyễn

Vỹ nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Nguyễn Vỹ trong thế hệ nhà văn tiền chiến

Chương 2: Đời sống và con người Việt Nam đầu thế kỷ XX trong

văn xuôi Nguyễn Vỹ (qua tác phẩm Tuấn, chàng trai

nước Việt)

Chương 3: Nghệ thuật mô tả đời sống và con người Việt Nam đầu

thế kỷ XX trong văn xuôi Nguyễn Vỹ (qua tác phẩm Tuấn,

chàng trai nước Việt)

Trang 23

Chương 1 NGUYỄN VỸ TRONG THẾ HỆ NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN

1.1 Khái lược về bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.1.1 Về bối cảnh lịch sử - chính trị

Tác động sâu sắc và ảnh hưởng nhất tới bối cảnh lịch sử - chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX chính là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của tư bản Pháp kéo dài từ 1897 đến năm 1914 Sau khi đã hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự Các phong trào vũ trang khởi nghĩa từ phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Hương Sơn, khởi nghĩa Yên Thế… như là những

nỗ lực cuối cùng của nghĩa quân Việt Nam yêu nước, nhưng tất cả đều bị bao vây, o ép và dần lụi tàn Khi đó, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác và bóc lột kinh tế một cách triệt để

Để phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chính quyền Pháp

đã thực hiện những âm mưu chính trị thâm độc đó chính là “chia để trị” và

“dùng người Việt trị người Việt” nhằm chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc Việt Nam hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị

Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế

độ cai trị khác nhau Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm cùng với Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp hợp thành Liên bang Đông Dương

Ở Nam Kì, dù là thuộc địa hoàn toàn nhưng để giúp việc cho bộ máy hành chính cai trị của Pháp, thực dân Pháp vẫn giữ hệ thống chính quyền phong kiến ở dưới làng xã, có xã trưởng, hương trưởng và hội đồng kì hào Ở Trung Kì và Bắc Kì, hầu hết các quan viên nắm quyền cai trị từ cấp xã trở lên đều thuộc giai cấp địa chủ phong kiến, câu kết với thực dân Pháp, làm tay sai

Trang 24

cho chúng, tiếp tục áp bức bóc lột nhân dân Còn từ cấp tỉnh, xứ và liên bang Đông Dương thì quyền lực tập trung vào tay những quan chức người Pháp Vua tôi nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn được hưởng một số phụ cấp lương bổng do thực dân Pháp chi trả

Như vậy, bộ máy hành chính cai trị được thực dân Pháp tổ chức rất chặt chẽ, cùng với những chính sách cai trị thâm độc đã tạo nên sự thuận lợi cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

Cùng với bộ máy hành chính, bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù cũng được tăng cường hơn nhằm để bảo vệ quyền lợi của Pháp ở thuộc địa và

mở rộng thuộc địa Lực lượng vũ trang của thực dân Pháp ở Đông Dương ngày một mạnh, súng ống trang bị cho quân lính được tăng cường Lực lượng quân đội chính quy được củng cố bằng cách tăng thời hạn nghĩa vụ, tổ chức lực lượng dự bị người bản xứ Bên cạnh đó, còn có đội lính khố xanh, lực lượng cảnh sát đặc biệt, lực lượng dân vệ, đội thân binh… Tại các phủ, huyện, châu còn có lính cơ và lính lệ Ở các làng xã còn có những tuần phu… Tất cả nhằm củng cố sức mạnh cho thực dân Pháp và khủng bố nhân dân, đàn áp các cuộc khởi nghĩa, các vụ nổi loạn…

Hệ thống tòa án, nhà tù cũng được Pháp xây dựng dày đặc khắp Việt Nam Người Việt Nam và người Pháp đều do tòa án Pháp xét xử nhưng theo hai thứ pháp luật, phân biệt công dân Pháp và không phải công dân Pháp Gắn liền với tổ chức tòa án là cảnh sát, nhà tù và các trại giam Tất cả đều phục vụ cho âm mưu tối thượng là biến Việt Nam thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất, đảm bảo siêu lợi nhuận cao nhất cho đế quốc Pháp Đó là sự bất lợi cho người dân và cho phong trào yêu nước của Việt Nam

Với những chính sách cai trị tàn bạo, thâm độc, với những sưu cao thuế nặng, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược càng trở nên sâu sắc hơn, quyết liệt hơn dẫn đến cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp

Trang 25

ngày càng phát triển mạnh mẽ Chúng ta có thể kể đến những phong trào đấu tranh, yêu nước đầu tiên như: Duy Tân hội (1904), Phong trào Đông Du (1908) của Phan Bội Châu; Phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh; Phong trào chống sưu thuế Trung Kì (1908) - cuộc đấu tranh công khai tự phát của nông dân miền Trung nhằm đòi chính quyền thực dân thực hiện những cải cách dân chủ; Thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục - một tổ chức cách mạng dưới lớp vỏ của một trường học; Vụ đầu độc binh linh Pháp ở Hà Nội diễn ra vào 26-7-1908; Hội Việt Nam quang phục hội (1912)…

Mặc dù những phong trào đấu tranh cách mạng ấy không giành được thắng lợi nhưng vì đi đúng xu thế phát triển của lịch sử, đường lối bạo động cách mạng đó đã phát động mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta

1.1.2 Về tình hình văn hóa - xã hội

Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa trên quy mô lớn từ đầu thế

kỷ XX đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng Trong bối cảnh đó, xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cũng thay đổi khá nhanh Nhân dân lao động bị bần cùng hóa ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị đều có những biến chuyển rõ rệt

Những giai cấp, tầng lớp mới ra đời, gồm: giai cấp công nhân; tầng lớp

tư sản, tiểu tư sản

Giai cấp công nhân ra đời khi công thương nghiệp phát triển Họ là những người vô sản làm thuê ăn lương Khác với phương Tây, công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nông dân, đã từng gắn bó với ruộng đất Trong quá trình lao động, họ phải chịu nhiều áp bức, bất công, bị bóc lột nặng nề Họ sớm

có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống lại kẻ thù chung Họ đã đứng lên đầu tranh bằng nhiều hình thức: bỏ trốn tập thể, công khai bỏ việc, đấu tranh bạo lực phối hợp với các phong trào yêu nước, đưa đơn tố cáo; phát động đình công, bãi công…

Trang 26

Tầng lớp tư sản, tiểu tư sản ra đời muộn hơn so với giai cấp công nhân

Vì bị thực dân chèn ép nặng nề nên tầng lớp này phát triển chậm về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành nên một giai cấp Nhưng họ cũng đã ý thức được nỗi nhục của người dân mất nước Và đây là tầng lớp quan trọng trong việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng nước ngoài vào Việt Nam

Cùng với sự xuất hiện của các giai cấp, tầng lớp mới là sự phân hóa của các giai cấp cũ: nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt; địa chủ cũng bị phân hóa sâu sắc

Triều đình Huế lúc bấy giờ đã không còn làm đúng vai sứ mệnh mà lịch

sử giao phó Thực dân Pháp đã thâu tóm hầu hết những quyền lợi ở xứ An Nam từ tay của triều đình Huế trong đó có quyền khai thác đất hoang và phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong Luật pháp Phong kiến Chính điều này càng giúp tư bản và Pháp và bè lũ phong kiến tay sai trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn Thêm vào đó, nạn sưu thuế ngày một nặng, nạn cho vay nặng lãi và cầm cố vẫn duy trì càng làm cho nông dân xơ xác, cuối cùng bị tước đoạt tất cả

Thợ thủ công cũng bị chèn ép bởi chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Pháp Chính sách ấy đã bóp nghẹt, chặn đứng con đường lao động, sản xuất của họ Tất cả đều bị đình trệ Họ chỉ còn có hai sự lựa chọn: Hoặc ở lại làm tá điền cho bọn ăn cướp đất; Hoặc ra thành phố, các khu công nghiệp, vùng mỏ làm thuê hay làm công trong các đồn điền… Cuộc khai thác của tư bản Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân và thợ thủ công ở nông thôn càng nhanh chóng bấy nhiêu

Khác với những giai cấp trên, giai cấp địa chủ được sự nâng đỡ của thực dân Pháp, ưu thế kinh tế và chính trị tăng lên Vì ảnh hưởng, phân hóa của các tầng lớp trong xã hội, nên giai cấp địa chủ cũng được phân ra thành nhiều lớp khác nhau: Địa chủ Pháp, địa chủ Nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường… Giai cấp này ngày càng vững mạnh và không ngừng phát triển về con số Bởi

Trang 27

một số người có nguồn gốc là địa chủ từ lâu đời nhưng cũng có một số khác là những người kinh doanh thương nghiệp, họ thu mua ruộng đất, phát canh thu

tô như là cách để đề phòng công việc kinh doanh bị ngưng trệ… Địa chủ phong kiến Việt Nam với những ưu thế đó đã trở thành chỗ dựa đắc lực cho thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội có lợi cho chúng

Tình hình sinh hoạt văn hóa xã hội có ít nhiều biến đổi, phát triển chủ yếu ở các đô thị Ở nông thôn, “văn hóa làng xã” vẫn tồn tại trong chính sách

“bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” Thực dân Pháp chủ trương dung dưỡng những thói hư tật xấu, chẳng hạn như: Nạn cờ bạc không bị cấm mà còn được khuyến khích bằng cách cho mở các sòng bạc để thu thuế; Tệ uống rượu không bị hạn chế, mà dân ta còn bị bắt phải uống một loại rượu cồn độ nặng

do hãng rượu độc quyền của Pháp Thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện để lập quỹ cho Phủ toàn quyền, chính là trực tiếp khuyến khích nạn nghiện hút Cùng với đó, vấn đề giáo dục không được chú trọng, trường học chỉ được mở nhỏ giọt Hơn 95% dân số bị mù chữ Chính sách ngu dân là công cụ đắc lực cho quá trình khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

Nhìn chung, tới đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến mới, các mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược càng trở nên sâu sắc hơn, quyết liệt hơn dẫn đến cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ngày càng phát triển mạnh mẽ

1.1.3 Về đời sống văn học nghệ thuật

Với những tiền đề lịch sử và xã hội đó, đời sống văn học nghệ thuật cũng từng bước có nhiều đổi thay, đó là một nền văn học đang bước đầu đi vào hành trình hiện đại hóa

Trang 28

Không phải bước sang thế kỉ XX mà ngay từ cuối thế kỷ XIX, chúng ta đã

thấy xuất hiện những dấu hiệu của văn học hiện đại Chẳng hạn như: Chuyến đi

Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), Kiếp phong trần (1882) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (1880 - 1885) của Huỳnh Tịnh Của; Truyện thầy Lazaro Phiền

(1887) của P.J.B Nguyễn Trọng Quản… Đó là những tác phẩm có thể chưa thoát

ly hẳn nhưng bước đầu đã có những đổi mới so với nền văn học cũ

Nền văn học hiện đại hình thành trên cơ sở của sự phát triển các đô thị lớn, sự hình thành giai cấp tư sản và giai cấp công nhân cùng một lớp công chúng tiểu tư sản trí thức thành thị đã tiếp thu ít nhiều văn hóa phương Tây Hơn nữa, điều kiện tiên quyết trong quá trình hiện đại hóa văn học chính là một đội ngũ nhà văn mới với quan điểm thẩm mĩ mới, thi pháp mới khác với văn học Trung đại Họ là những trí thức Tây học, tiếp xúc và chịu ảnh hưởng

của văn học, văn hóa phương Tây Họ đã ý thức được sự xuất hiện của cái tôi

cá nhân trong từng tác phẩm của mình Chính điều đó đã giúp họ thoát khỏi lối

mòn trong sự sáng tạo văn học kéo dài hàng thế kỷ nay

Trong những năm đầu thế kỷ XX, có điều đáng chú ý hơn cả là sự ra đời của chữ Quốc ngữ Sự ra đời của chữ Quốc ngữ gắn liền với ý thức và tinh thần dân tộc của người dân đất Việt Lần đầu tiên, hình thức chữ viết đã được Việt hóa một cách triệt để Nó đã “trở thành một công cụ thuận tiện và lợi hại cho việc chuyên chở tri thức, phổ cập khoa học, phát triển văn chương, học thuật; và đặc biệt ở buổi giao thời hai thế kỷ, đóng vai trò một vũ khí tuyên truyền yêu nước và canh tân xã hội, tóm lại, khi lợi ích của nó được giác ngộ

và khẳng định, thì chữ Quốc ngữ trong không đầy hai chục năm đã nhanh chóng thay thế chữ Hán, và thâm nhập dần vào mọi hoặt động của giao tế xã hội Cũng chưa đầy hai chục năm, bước vào những năm 20, nó đã giữ vị trí độc tôn trên đàn văn chương, và góp phần đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo văn chương hiện đại” [31, 54]

Trang 29

Một điều đặc biệt nữa trong giai đoạn này chính là sự gắn bó giữa báo chí và văn học Báo và tạp chí là nơi thử thách ngòi bút của nhiều người trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp Nhiều bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết đã được đăng tải trên các báo và tạp chí, trước khi được xuất bản thành sách

Những tờ báo nổi tiếng lúc bấy giờ phải kể đến đó là: Lục tỉnh tân văn (1907 - 1944), Phụ nữ tân văn (1929), Đông Dương tạp chí (1913 - 1918), Nam Phong

tạp chí (1917 - 1934), An Nam tạp chí (1926 - 1933), Trung Bắc tân văn (1915

- 1945), Thực nghiệp dân báo (1920 - 1933), Tiếng dân (1927)… Và từ năm

1930 đến 1945, xuất hiện những tờ báo và tạp chí giành hẳn cho văn học như

báo Ngày nay, Tiểu thuyết thứ ba, Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bảy,

Tương lai, Hà Nội báo, Tao đàn, Hà Nội tân văn… Báo chí đã đóng góp một

phần không nhỏ trong việc xã hội hóa văn học, hiện đại hóa văn học, đưa công chúng độc giả lại gần hơn với tác phẩm và tác giả văn học

Một yếu tố nữa làm cho đời sống văn học nghệ thuật thời điểm này trở nên sôi động hơn chính là sự xuất hiện, du nhập của các tân thư, tân văn; cùng

với đó là sự xuất hiện của các tùng thư như Tản Đà tùng thư, Tản Đà thư cục,

Nam Phong tùng thư, Quan hải tùng thư; các nhà in Mạc Đình Tư, Thụy Ký, Trung Bắc tân văn… Nhờ vào các tân thư, tân văn, các tầng lớp trí thức Nho

học đã tiếp cận được với ánh sáng văn hóa phương Tây với những tác gia thế

kỷ Ánh sáng như: Rouseau, Montesquieu, Voltaire…; và các triết gia và bác học Phương Tây từ cổ đến cận đại: Aristote, Socrate, Platon, Darwin… Cùng với việc dịch thuật, những tên tuổi đó và các triết luận của họ như một dòng chảy mới được một bộ phận trí thức Việt Nam đón nhận đầy hứng khởi Chính điều đó góp phần làm cho quá trình hiện đại hóa văn học trở nên sâu rộng và mạnh mẽ hơn

Trong những năm đầu thế kỷ XX (1900 - 1945), văn học Việt Nam đã phân hóa thành hai trào lưu chính đó là: Trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa

và Trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa

Trang 30

Sự xuất hiện của trào lưu văn học lãng mạn đã tác động lớn tới văn học dân tộc “Văn học lãng mạn ra đời mang theo một cái tôi cá nhân Trước kia, trong văn học trung đại chủ yếu chỉ có cái ta, bây giờ mới có cái tôi Sự xuất hiện cái tôi là trên cơ sở hình thành hệ tư tưởng tư sản và tư tưởng cá nhân từ phương Tây ảnh hưởng vào văn hóa Việt Nam Trước kia, trong xã hội phong kiến Trung Hoa và Việt Nam, cái tôi cá nhân hầu như không có địa vị trong đời sống văn học

và đời sống xã hội Cá nhân bị hòa tan trong cái chung, trong cộng đồng” [9, 27]

Những tác giả văn học lãng mạn có thể kể đến như: nhóm Tự lực văn

đoàn, Xuân Diệu, Thạch Lam, Huy Cận, Nguyễn Nhược Pháp, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương…

Văn học hiện thực phê phán ra đời khi xã hội xuất hiện những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX với chế

độ thực dân nửa phong kiến đã nổi lên những ung nhọt không thể nào che dấu được Với những chính sách thâm độc, tàn bạo nhằm bóc lột về kinh tế, khủng

bố chính trị, đầu độc tinh thần của nhân dân làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng trầm trọng Chính lúc đó, trào lưu văn học hiện thực phê phán xuất hiện nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc lúc bấy giờ Các nhà văn đi đầu trong trào lưu này đó là Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…

Như vậy, trong bối cảnh xã hội phức tạp đầu thế kỉ XX, dưới tác động của các cuộc khủng bố tàn bạo của kẻ thù, sự thất bại của các phong trào yêu nước, đã gây nên một bầu không khí u ám cho toàn xã hội Văn thơ, trở thành nơi giãi bày, kí thác tâm sự của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ

1.2 Nguyễn Vỹ - một gương mặt đáng chú ý của thế hệ nhà văn tiền chiến

1.2.1 Cuộc đời, con người Nguyễn Vỹ

1.2.1.1 Cuộc đời

Nguyễn Vỹ (1912 - 1971) là nhà báo, nhà thơ, nhà văn Việt Nam thời tiền chiến Các bút hiệu khác của ông là: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền

Trang 31

Nguyễn Vỹ sinh tại làng Tân hội (sau đổi là Tân Phong, năm 1945 lại đổi là Phổ Phong), thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Cha ông tên là Nguyễn Thuyên, từng làm quan ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nhưng sau từ chức để chống Pháp Mẹ ông là bà Trần Thị Luyến

Ngoài ra ông có người bác là Nguyễn Tuyên, từng bị nhà cầm quyền Pháp đày đi Côn Đảo, anh họ là Nguyễn Nghiêm, thủ lĩnh phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi, năm 1930, sau bị giết hại tại tỉnh nhà

Ông từng theo học trường Trường học Pháp - Việt ở Quy Nhơn 1924 -

1927, rồi gián đoạn vì tham gia các cuộc vận động chống thực dân, sau đó ông

ra Bắc theo học ban tú tài tại Hà Nội

Năm 1934, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, mang tên Tập thơ đầu, gồm

hơn 30 bài thơ Việt và thơ Pháp Thi phẩm này in ra không được nhiều thiện cảm, bị cho là rườm rà, “nhiều chân” và là đối tượng chê bai chính của Lê Ta (Thế Lữ) trên các báo

Năm 1937, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ báo Việt - Pháp lấy tên là Le Cygne,

tức Bạch Nga Báo này ngoài Nguyễn Vỹ còn có nhà văn nổi tiếng bấy giờ là Trương Tửu cộng tác Nhưng do Nguyễn Vỹ có viết nhiều bài viết chỉ trích đường lối cai trị của người Pháp nên tờ báo bị đóng cửa, bị rút giấy phép vĩnh viễn Còn bản thân ông bị kết tội phá rối trị an và phá hoại nên an ninh quốc gia, bị tòa án thực dân tuyên phạt 6 tháng tù và 3.000 quan tiền

Năm 1938, Nguyễn Vỹ mãn tù, cũng là thời điểm Pháp thất trận, quân Nhật vào chiếm đóng nước Việt Nguyễn Vỹ lại tranh đấu chống Nhật, bằng

cách soạn và cho xuất bản hai quyển sách chống chế độ quân phiệt Nhật là: Kẻ

thù Nhật Bản, Cái họa Nhật Bản Lần này, Nguyễn Vỹ lại bị nhà cầm quyền

bắt giam tại ngục Trà Khê

Năm 1945, Thế chiến thứ hai chấm dứt, Nguyễn Vỹ ra tù, sáng lập tờ

báo Tổ quốc tại Sài Gòn, trong ấy có những bài công kích chính quyền đương

thời nên chỉ ít lâu sau, báo này bị đóng cửa

Trang 32

Sau đấy, Nguyễn Vỹ lại cho ra tờ Dân chủ xuất bản ở Đà Lạt, chống

chính sách quân chủ lập hiến của Bảo Đại Tồn tại chẳng bao lâu, đến lượt tờ báo trên cũng bị đình bản

Năm 1952, một tờ báo khác cũng do Nguyễn Vỹ chủ trương là tờ Dân

ta, sống được một thời gian, cuối cùng cũng bị đóng cửa như các tờ báo trước

Mãi đến năm 1958, ông đứng ra chủ trương Bán nguyệt san Phổ Thông, chú

trọng về nghệ thuật và văn học, tạp chí này được có nhiều uy tín đối với làng

báo miền Nam Ngoài ra, ông còn cho ra tuần báo Bông lúa, tuần báo thiếu nhi

sự thật, là một cây bút chính luận sắc sảo trên các tờ báo thời bấy giờ như: Le

Cygne, L’ami du peuple, La patre Annamite… hay trên Tạp chí Văn học, Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội báo, Phụ nữ… Ông còn là người sáng lập và làm chủ

bút của các tờ báo như Ly Cygne, Tổ quốc, Dân chủ, Dân ta, bán nguyệt san

Phổ thông, tuần báo Bông Lúa, tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm Về văn, ông

thiên về tiểu thuyết xã hội với những cái nhìn sắc nét và nhạy bén nhất Những trang biên khảo của Nguyễn Vỹ cũng mang đậm chất lịch sử Ông cũng

Trang 33

thật sự nổi tiếng về thơ Hai mươi bốn tuổi cho ra đời tập thơ đầu tiên bằng hai thứ chữ Quốc ngữ và Pháp

Về sự nghiệp thơ văn, Nguyễn Vỹ cũng như những đồng nghiệp cùng thời đều phải chịu cuộc sống “nghèo kiết xác” Chính Nguyễn Vỹ đã phải thốt lên rằng:

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó Nhà văn An Nam khổ như chó Mỗi lần cầm bút nói văn chương Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương

(Gửi Trương Tửu)

Nguyễn Vỹ ý thức được sự nghiệt ngã của công việc viết văn, làm báo, không chỉ khổ về vật chất, ông còn mang trên mình những cái án của nghề văn

chương khi những nhà phê bình đánh giá ông là “con người không có gì” “chí

lớn mà tài nhỏ”, “ông có ý định toan lòe và bịp mọi người… Các tờ báo lần

lượt ra đời cũng phải chịu số phận ngắn ngủi, hết lần này đến lần khác Thế nhưng ông vẫn rắn rỏi, vẫn kiên định với sự nghiệp mình đã lựa chọn, rồi mọi người phải thừa nhận Nguyễn Vỹ là điển hình cho lớp nghệ sĩ, của thế hệ trí thức đầu thế kỉ đầy tâm huyết, giàu tài năng, với những sáng tạo, hiện đại hóa văn học, giúp văn học thoát khỏi sự gò bó trong khuôn khổ

Nguyễn Vỹ, người con đất Việt giàu lòng yêu nước Thừa hưởng truyền thống yêu nước của gia đình, dòng họ, Nguyễn Vỹ đã thể hiện tư tưởng chống Pháp, chống phong kiến và chống cả Nhật Bản ngay từ thời học sinh trung học Trong những bài viết của mình, đặc biệt là báo chí, cái tư tưởng ấy được thể hiện một cách rõ ràng nhất Chính vì vậy, năm 1937, ông bị nhà cầm quyền bắt giam 6 tháng tù ở Hà Nội vì một bài báo chống Pháp Năm 1938, ông lại bị Nhật Bản cầm tù ở Phú Yên Năm 1945 mới được tự do Những năm tháng lao tù đó là minh chứng cho quá trình đấu tranh của ông cho độc lập, tự do của dân tộc

Trang 34

Với vũ khí là cây bút, qua những trận bút chiến trên báo chí hay những

cuốn sách lột trần bộ mặt bọn xâm lược như Kẻ thù là Nhật Bản, Cái họa Nhật

Bản Nguyễn Vỹ bằng tài năng của mình, đã trở thành một chiến sĩ dũng cảm,

không hề nao núng tinh thần trong cuộc chiến đấu chống bọn xâm lược và chính quyền phong kiến thực dân, đòi cơm no, áo ấm cho nhân dân lao động

Dù Nguyễn Vỹ phải trải qua những năm tháng cực nhọc, lao khổ trong ngục tù nhưng chưa một lần ông bị khuất phục Những câu thơ từ trong tâm thức của Nguyễn Vỹ vẫn hào sảng vang lên một cách chân thật và não nề Những ngôn từ “quá chân thật” nhưng mang nặng nỗi niềm đau xót vì quê hương, đất nước:

Bao giờ chúng mình gạch một chữ Làm cho đảo điên pho lịch sử!

Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa Hất mồ ngồi dậy cười say sưa

Để xem hai chàng trai quắc thước Quét sạch quân thù trên đất nước?

Để cho toàn thể dân Việt Nam Đều được tự do muôn muôn năm

Để cho muôn muôn đời dân tộc Hết đói rét lầm than tang tóc

(Viết trong lúc say)

Là người con xứ Quảng, mảnh đất gắn liền với tên tuổi và cuộc đời của tác giả cũng được hiện hình trong những vần thơ Lời thơ tha thiết, ý thơ hùng hồn, Nguyễn Vỹ đã khắc họa được những nét đặc trưng tiêu biểu về đất và người quê hương núi Ấn, sông Trà:

Quảng Ngãi - quê hương tôi Dòng sông rạo rực

Lưng Rồng uốn khúc

Trang 35

Rực rỡ ánh dương ngời Trùng trùng gấm vóc Huyết lệ sử dân Hời

Từ Chiêm thành khai quốc Trọn ân tình Chúa, Tôi Quảng Ngãi - quê hương tôi Dân tình bất ly

Dân trí bất nhược Dân đức bất suy Dân tâm bất khuất Khí thiêng nung đúc Văn chương kiệt phách hào hoa Bất chấp cường quyền, uy vũ…

(Quảng Ngãi - quê hương tôi)

Quảng Ngãi chính là một phần của hồn thiêng sông núi, tinh thần của người dân Quảng Ngãi cũng chính là tinh thần của con dân đất Việt, đầy anh hùng, bất khuất Phải là người yêu tha thiết quê hương mới có thể phác họa nên bức tranh hùng vĩ về cảnh vật và con người như thế

Con người của Nguyễn Vỹ là vậy Một cuộc đời nhiều sóng gió, gian truân, một con người nhiều tài năng và nhiệt huyết nhưng số phận hẩm hiu cứ quần lấy Tài năng và nhiệt huyết ấy đã bao lần bị chối bỏ thế nhưng chí khí của ông vẫn không hề nao núng

1.2.2 Hành trình sáng tạo và những thành tựu chính của Nguyễn Vỹ

Hành trình sáng tạo của Nguyễn Vỹ là hành trình gian khổ, tài năng thế nhưng phải mất rất nhiều thời gian, qua nhiều cảnh khốn cùng, phải chịu bao nhiêu lời “dè bỉu” của đồng nghiệp, tài năng ấy mới được kiểm chứng và đón nhận

Nguyễn Vỹ bước vào làng văn làng báo khi tuổi đời còn rất trẻ, và cái cách để lại dấu ấn cũng thật khác người Nguyễn Vỹ được bạn đọc biết đến

Trang 36

không phải từ những lời ca tụng mà bằng những lời nhận xét không mấy thiện cảm của những nhà phê bình nổi tiếng thời bấy giờ như Hoài Thanh, Hoài Chân, Thế Lữ… Nhưng thời gian đã chứng minh điều ngược lại, chính từ cái xuất phát điểm như vậy nên hành trình sáng tạo của Nguyễn Vỹ, những thành tựu chính trong sự nghiệp văn học lại càng được mài dũa, càng ghi dấu đậm nét trong lòng độc giả và trường tồn mãi với thời gian Đúng như Lê Tràng Kiều đã từng nhận xét về Nguyễn Vỹ: “Người ta công kích ta, chỉ chứng tỏ là

ta sống” [32, 357]

Nguyễn Vỹ bước vào làng văn trong khoảng những năm 1930, khi mà văn học lãng mạn đang ở thời kì phát triển rực rỡ với những tiểu thuyết lãng mạn, với những câu chuyện tình ái đẫm lệ… Thế nhưng con đường mà Nguyễn

Vỹ chọn hoàn toàn khác biệt Với đôi mắt tinh anh, với tấm lòng yêu tha thiết quê hương đất nước, dường như ông nhìn xuyên thấu cái thực trạng xã hội đầy đen tối, bí bức Chúng ta có cảm tưởng như ông đang muốn khai mở, phá vỡ những cái uất ức đang bị dồn nén Nỗi thống khổ của kiếp người là những điều

mà Nguyễn Vỹ hướng tới trong các tác phẩm văn xuôi của mình, như một mong ước về tương lai tươi sáng hơn cho những người con của quê hương

Số lượng tác phẩm của Nguyễn Vỹ có thể kể đến như sau:

- Tập thơ đầu - Premieres Poesies (Thơ Việt và Pháp), tác giả xuất bản,

Hà Nội, 1934;

- Đứa con hoang (tiểu thuyết), Nxb Minh Phương, Hà Nội, 1936;

- Grandeures et Servitudes de Nguyễn Văn Nguyên (tập truyện ngắn

Việt Nam bằng Pháp văn), Nxb Đông Tây, Hà Nội, 1937;

- Kẻ thù là Nhật Bản (Luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938;

- Cái họa Nhật Bản (Luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938;

- Đứng trước thảm kịch Việt Pháp - Devant le drame Franco

Vietnamien (Luận đề chính trị bằng Việt và Pháp văn), tác giả xuất bản, Đà

Lạt 1948;

Trang 37

- Hào quang Đức Phật (luận đề tôn giáo), tác giả xuất bản, Đà Lạt 1948;

- Chiếc áo cưới màu hồng (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sài Gòn 1957;

- Giây bí rợ (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sài Gòn 1957;

- Hai thiêng liêng I (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sài Gòn 1957;

- Hai thiêng liêng II (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sài Gòn 1957;

- Hoang vu (thơ), Nxb Phổ Thông, Sài Gòn 1962;

- Mồ hôi nước mắt (tiểu thuyết), Nxb Sống Mới, Sài Gòn 1965;

- Những đàn bà lừng danh trong lịch sử (biên khảo), Nxb Sống Mới, Sài

- Văn thi sĩ tiền chiến (ký ức văn học), Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1970;

- Buồn muốn khóc lên (thơ), 1970;

- Mình ơi (văn hóa tổng quát), 1970;

- Thơ lên ruột (thơ trào phúng), 1971

1.2.3 Đặc điểm thể loại và vị trí của tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt trong văn nghiệp của Nguyễn Vỹ

1.2.3.1 Tuấn, chàng trai nước Việt, một tiểu thuyết - tự truyện

Tiểu thuyết - tự truyện là một hình thức có sự giao thoa giữa hai thể loại: tiểu thuyết và tự truyện Muốn hiểu được khái niệm của nó phải hiểu từng yếu tố cấu thành nên nó

Trong văn học Việt Nam, tiểu thuyết là một trong những thể loại được

hình thành muộn nhưng nó có sức sống tiềm tàng nhất Trong Từ điển thuật

ngữ văn học, tiểu thuyết được định nghĩa như sau: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn, có

khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian

Trang 38

Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [18, 328]

Cũng theo Từ điển văn học thì “tự truyện là một hình thức thuộc loại

truyện do các nhà văn viết về cuộc đời thực của mình nhằm những mục đích khác nhau Các nhà văn khi viết về tự truyện thường chỉ chọn lấy một hay vài quãng đời nào đó để lại cho mình những ấn tượng sâu sắc nhất, có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đối với hướng đi của mình và dựng lại cả một bức tranh toàn cảnh, sinh động, chân thực về cuộc sống mà trong đó bản thân con người tác giả là nhân vật hoạt động chính Trong tác phẩm tự truyện, những biến cố,

sự việc, nhân vật đều được lấy từ cuộc đời thực của tác giả, không hư cấu thêm, nói cách khác là không có sự hư cấu tự do như các tác phẩm khác thuộc loại truyện Trong tác phẩm tự truyện, tác giả thường đặt ra qua cuộc đời mình

và bằng ngôn ngữ nghệ thuật những vấn đề xã hội rộng lớn, sâu sắc Vì vậy, ý nghĩa của tác phẩm tự truyện thường vượt ra ngoài phạm vi của một bản tự thuật đơn thuần và có tầm khái quát nghệ thuật rộng lớn” [19, 43]

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “Tác phẩm

tự truyện thường có thiên hướng lý giải cuộc sống đã qua của tác giả như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình Người viết tự truyện có khi cũng vận dụng hư cấu, “thêm thắt” hoặc

“sắp xếp lại” các chi tiết của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lý, nhất quán Tự truyện luôn là cái hành vi khắc phục cái thời gian đã lùi xa, là mưu toan quay về cái thời tuổi thơ, tuổi trẻ, làm sống lại những đoạn đời quan trọng nhất, nhiều kỉ niệm nhất như là “sống lại” cuộc đời mình từ đầu Tự truyện, do vậy thường được viết vào thời tác giả trưởng thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường đời” [2, 29]

Với thể loại tự truyện, ta có thể thấy ở các tác phẩm như: Những ngày

thơ ấu - Nguyên Hồng; Tô Hoài với bộ tự truyện gồm 4 tập Cỏ dại, Tự truyện, Những gương mặt, Cát bụi chân ai…

Trang 39

Nghiên cứu sự giao thoa giữa hai thể loại tự truyện và tiểu thuyết, Đỗ

Hải Ninh cũng đã có bài viết Mối quan hệ giữa tự truyện – tiểu thuyết và một

số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại được đăng tải trên trang

web http://khoanguvan.com.vn của trường Đại học Thủ Dầu Một – Bình Dương Chúng ta có thể lược thuật một số điểm như sau: Mục đích của tự truyện là tìm hiểu con người thật với lịch sử hình thành nhân cách; Còn tiểu thuyết, mặc dù cũng sử dụng nhân vật, cốt truyện đó nhưng được hư cấu hóa, hoặc được cấp một lớp vỏ hư cấu Tự truyện được coi là một thể loại phi hư cấu, có tính tham chiếu, ở đó tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính chịu trách nhiệm trước độc giả về tính chân thật của sự kiện; Còn tiểu thuyết, vì bản chất hư cấu của nó nên cái thật ở đây chỉ là giống / tựa như thật Nghĩa là tự truyện không phải là một sáng tạo nghệ thuật của tác giả mà là tư liệu báo cáo về cuộc đời và cá nhân anh ta Tuy vậy, là một thể loại đặc biệt trong loại hình tự sự, tự truyện luôn biến đổi trong quá trình phát triển Nó có thể tương tác với nhiều thể loại khác, chẳng hạn kết hợp với hư cấu tưởng

tượng để thành tiểu thuyết tự truyện hoặc những biến thể khác như giả tự

truyện, bán tự truyện… Bởi vậy rất khó tránh khỏi sự nhờ mờ ranh giới thể

loại cũng như sự phân hóa trong chính bản thân mỗi thể loại

Tiểu thuyết tự truyện được nói đến khá nhiều trong văn học phương Tây, nhưng ở Việt Nam còn nhiều dè dặt, đường viền có phần khá mờ nhạt Có

lẽ Nguyễn Vỹ là người đầu tiên khởi xướng cho hình thức văn học này Đó là

sự pha trộn giữa hai thể loại tiểu thuyết và tự truyện, nhưng tiểu thuyết là thể loại giữ yếu tố chủ đạo Tự truyện bị thu hút vào trong cấu trúc của thể loại tiểu thuyết, được sắp xếp và biện giải theo cách của thể loại này Tuy có sự pha trộn giữa sự thật và hư cấu nhưng sự thật và tính chân thực được đặc biệt chú trọng, trong đó, tỷ lệ cái thật trội hơn so với hư cấu, thậm chí là bộ xương

để kiến tạo cốt truyện Những yếu tố tự truyện được đưa vào tác phẩm một cách có hệ thống, có ý nghĩa trong sự hình thành nhân cách nhân vật Khi viết

Trang 40

tiểu thuyết tự truyện, dù có tuyên bố hay không, nhà văn vẫn ngầm chịu trách nhiệm với độc giả về tính chân thực của chi tiết, sự kiện Từng chặng đường đời hoặc các sự kiện của một quãng đời được thuật lại chi tiết, có tính xác thực cao

Tuấn - chàng trai nước Việt có thể xem là hình thức sơ khai của thể loại

tiểu thuyết - tự truyện khi nó mang những đặc điểm trên Ngay từ Lời mở đầu

cuốn sách, tác giả đã khẳng định: “Bộ sách này không phải là một tiểu thuyết Cũng không phải là một ký ức cá nhân” mà nó là sự giao thoa giữa hai thể đó Hay nói khác đi, ký ức cá nhân được viết theo dạng tiểu thuyết

Nhân vật Tuấn là nhân vật chính của tác phẩm Dù không hiện lên một cách rõ rệt nhưng những gì Tuấn trải nghiệm cũng chính là những trải nghiệm của bản thân tác giả Không chỉ là của riêng tác giả nữa mà còn là của cả thế hệ chàng trai Việt Nam sinh trưởng trên đất nước từ đầu thế kỉ XX Ký ức của Tuấn không chỉ giới hạn vào một cá nhân nữa mà là đại diện cho cả một thế hệ

1.2.3.2 Vị trí của tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Việt trong văn nghiệp của Nguyễn Vỹ

Tuấn, chàng trai nước Việt được xuất bản năm 1970 Tác phẩm có 45

chương và được viết theo dòng lịch sử từ 1900 - 1945, những năm tháng đầy biến động của xã hội Việt Nam với sự khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

và sự xâm lược của phát xít Nhật

Về thể loại, như chúng tôi đã nói ở trên, đây chính là hình thức sơ khai của thể loại tiểu thuyết - tự truyện Tác phẩm là điều dự báo cho sự hỗn dung, giao thoa giữa các thể loại mà sau này, sự cách tân về thể loại đang hướng tới Như vậy, không chỉ với thơ, mà với cả văn xuôi, Nguyễn Vỹ đã có những bước chân đầu tiên, khai mở cho quá trình hiện đại hóa văn học Bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX nhưng phải đến cuối thế kỷ XX, nó mới trở thành một khuynh hướng sáng tác phổ biến, và đã gặt hái được nhiều thành công, với

những tác phẩm ghi dấu ấn như: Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán),

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quang Á (2006), “Nguyễn Vỹ, nhà văn nước Việt”, http://nuiansongtra.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Vỹ, nhà văn nước Việt”
Tác giả: Trần Quang Á
Năm: 2006
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học (tái bản), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo (1995), Nhà văn Việt Nam chân dung tự họa, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam chân dung tự họa
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
4. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
5. Nguyễn Văn Dân (2004), “Tiếp cận văn học bằng văn hóa học”, Nghiên cứu Văn học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học bằng văn hóa học”," Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
6. Phan Cự Đệ (1984), Tác phẩm và chân dung, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
7. Phan Cự Đệ (2001), “Những bước tổng hợp mới trong VHVN thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước tổng hợp mới trong VHVN thế kỷ XX”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
8. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2004), Văn học Việt Nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1930 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
11. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức (2007), “Gía trị văn hóa, nhận thức và chuyển đổi”, Nghiên cứu Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gía trị văn hóa, nhận thức và chuyển đổi”", Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2007
13. Hà Minh Đức (2011), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
14. Lam Giang Nguyễn Quang Trứ (1967), Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX, Nxb Quang Sơn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX
Tác giả: Lam Giang Nguyễn Quang Trứ
Nhà XB: Nxb Quang Sơn
Năm: 1967
15. Sa Giang - Trần Tuấn Kiệt (2010), “Nguyễn Vỹ với thơ và báo”, http://www.quehuong.org.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Vỹ với thơ và báo”
Tác giả: Sa Giang - Trần Tuấn Kiệt
Năm: 2010
16. Tăng Đình Giang, (2012), Văn thi sĩ tiền chiến và một thời đại văn học qua cảm nhận của Nguyễn Vỹ, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thi sĩ tiền chiến và một thời đại văn học qua cảm nhận của Nguyễn Vỹ
Tác giả: Tăng Đình Giang
Năm: 2012
17. Nguyễn Văn Hạnh (2007), “Văn hóa như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương”, Nghiên cứu Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 2007
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học (tái bản), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên, 2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới
20. Nguyễn Văn Hoàn (2000), “Chữ Quốc ngữ và sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Quốc ngữ và sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w