1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn phan thị vàng anh

93 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 778,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các truyện ngắn, Phan Thị Vàng Anh sử dụng từ ngữ và câu văn có nhiều nét độc đáo, thể hiện một lựa chọn riêng không thể lẫn vào ngôn ngữ truyện ngắn của các nhà văn khác.. - Chỉ

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

Tôi xin cảm ơn các thầy cô tổ Ngôn ngữ, khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Nguyễn Hoài Nguyên, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn một cách có hiệu quả

Xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Nghệ An, tháng 09 năm 2015

Tác giả

Phạm Thị Bảo Quỳnh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận văn 4

6 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Văn xuôi, ngôn ngữ văn xuôi 5

1.1.1 Vài nét về văn xuôi 5

1.1.2 Ngôn ngữ văn xuôi 7

1.2 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 10

1.2.1 Thể loại truyện ngắn 10

1.2.2 Ngôn ngữ truyện ngắn 14

1.3 Truyện ngắn Việt Nam đương đại 16

1.3.1 Những nét khái quát về nội dung truyện ngắn Việt Nam đương đại 16

1.3.2 Xu hướng đổi mới ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại 17

1.4 Tác giả Phan Thị Vàng Anh và truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 19

1.4.1 Vài nét về tác giả 19

1.4.2 Về tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh 19

1.4.3 Đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 21

1.5 Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH 25

2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong văn chương 25

2.1.1 Từ trong ngôn ngữ 25

2.1.2 Từ trong văn chương 26

Trang 5

2.2.2 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt cấu tạo 41

2.3 Tiểu kết chương 2 58

Chương 3 CÂU VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH 59

3.1 Khái quát về câu và câu trong văn bản nghệ thuật 59

3.1.1 Khái quát về câu 59

3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật 61

3.2 Câu văn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 63

3.2.1 Câu đơn 63

3.2.2 Câu ghép 74

3.3 Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

Bảng 2.1 Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo 26

Bảng 2.2 Từ khẩu ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 28

Bảng 2.3 Từ mượn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 37

Bảng 2.4 Từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 42

Bảng 2.5 Từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh và Trần Thuỳ Mai 44

Bảng 2.6 Từ ghép trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 52

Bảng 3.1 Câu đơn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 63

Bảng 3.2 Số lượng câu ghép so với câu đơn và câu đặc biệt 74

Trang 7

Không khí đổi mới đã thổi bùng biên độ nghĩa của nó, cấp cho nó nội hàm về khát vọng đổi mới của các văn nghệ sĩ: tự do và trách nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật Người nghệ sĩ đã nhanh chóng lĩnh xướng cho cả một tư trào có ý nghĩa trong xã hội lớn lao Thời đại đổi mới này đã thúc giục nhà văn dấn thân vào cuộc đời và cuộc viết

Thập niên đầu của thế kỷ XXI, truyện ngắn được mùa lên hương và khởi sắc Có thể khẳng định, làm nên diện mạo truyện ngắn hôm nay là thế hệ trẻ Hàng loạt các cây bút tiêu biểu được nhiều độc giả chú ý đến như: Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt

Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, v.v Mỗi người một vẻ, không ai giống ai trong bút pháp thể hiện, nhưng họ lại có điểm chung ở lối viết “phá cách rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển” Trong các gương mặt góp nhần quan trọng làm nên diện mạo văn học đương đại Việt Nam, Phan Thị Vàng Anh là cây bút truyện ngắn nổi trội Nhà văn Nguyễn Khải từng khen Phan Thị Vàng Anh một câu ngắn

gọn nhưng đầy ý nghĩa: Nguyễn Huy Thiệp mặc váy

Phan Thị Vàng Anh là một cây bút trẻ nhưng đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đổi mới ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 8

Do đó, cần có những nghiên cứu truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh từ góc nhìn

ngôn ngữ Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu Từ ngữ và câu

văn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm làm nổi bật những nét đặc sắc trong ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, từ đó, góp phần sáng tỏ xu hướng phát triển của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại Việt Nam Các kết quả của luận văn góp thêm tư liệu bổ ích trong giảng dạy các tác phẩm truyện ngắn trong nhà trường phổ thông và đại học

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Các tập truyện ngắn của Vàng Anh đã xuất hiện vào đầu những năm

90 Khi nhắc nhà văn này, người ta không thể nào không nhắc đến hai tác

phẩm truyện ngắn xuất sắc: Khi người ta trẻ (1993), Hội chợ (1995) Sau này, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh tập hợp lại, in thành Truyện ngắn

Phan Thị Vàng Anh (2013) Trong các truyện ngắn, Phan Thị Vàng Anh sử

dụng từ ngữ và câu văn có nhiều nét độc đáo, thể hiện một lựa chọn riêng không thể lẫn vào ngôn ngữ truyện ngắn của các nhà văn khác

Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh đã được một số nhà nghiên cứu phê

bình giới thiệu và đánh giá Tác giả Huỳnh Như Phương, trong bài Sân chơi

Vàng Anh (trong cuốn Khi người ta trẻ, Nxb Hội nhà văn, H.1994) đánh giá

Phan Thị Vàng Anh có giọng văn trong trẻo, giàu chất thơ nhưng rất sắc sảo

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài viết Phan Thị Vành Anh

(www.vuongdangbi.blogspot.com) cũng khẳng định Phan Thị Vàng Anh là

một trong vài gương mặt nổi trội những người viết trẻ Với bài viết Đặc sắc

truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (www.qdnd.vn, ngày 30/10/2014), Hồ Thế

Hà đã làm nổi rõ những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị

Vàng Anh, khẳng định loại truyện ngắn của chị có cốt truyện ngầm

Trang 9

Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh cũng đã được một số sinh viên, học viên cao học chọn làm đề tài khóa luận, luận văn tốt nghiệp Chẳng hạn,

Trương Thị Hà với Đặc điểm ngôn ngữ với cá tính sáng tạo trong truyện

ngắn Phan Thị Vàng Anh, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học

Vinh, 2004; Nguyễn Thị Phương Hồng với Đặc sắc truyện ngắn Phan Thị

Vàng Anh, Luận văn Thac sỹ, Trường Đại học Vinh, 2012, v.v Các công

trình này mới chỉ khảo sát một vài khía cạnh ngôn ngữ truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh

Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh một cách đầy đủ, có hệ thống Do

đó, đề tài của chúng tôi có ý nghĩa thời sự khoa học và có tính thực tiễn

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh qua khảo sát từ ngữ và câu văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Xác lập lý thuyết về thể loại truyện ngắn, ngôn ngữ truyện ngắn, đánh giá truyện ngắn đương đại Việt Nam

- Tìm hiểu những nét đặc sắc về từ ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

- Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về câu văn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, từ đó, khái quát cá tính ngôn ngữ truyện ngắn của tác giả trẻ này

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Tư liệu khảo sát là 45 truyện ngắn trong Truyện ngắn Phan Thị Vàng

Anh, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Trang 10

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để thu thập, phân loại và

xử lí tư liệu cho luận văn

- Dùng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp với các thủ pháp miêu tả, tổng hợp để làm nổi rõ những nét đặc sắc về từ ngữ, câu văn và hình thức diễn đạt trong ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu, tiến hành đối chiếu ngôn ngữ truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh với các tác giả cùng thế hệ như Ý Nhi, Nguyễn Ngọc Tư, v.v

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh một cách có hệ thống Các kết quả của luận văn góp phần làm nổi rõ cá tính ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh: trong trẻo, giàu chất thơ nhưng cũng rất sắc sảo, góc cạnh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn triển khai thành 3 chương

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Từ ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

Chương 3: Câu văn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Văn xuôi, ngôn ngữ văn xuôi

1.1.1 Vài nét về văn xuôi

Văn xuôi là một thể loại có nhiều đặt trưng rõ nét Văn xuôi bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, ký, v.v Tuy không có cấu trúc vần điệu tạo nên hình ảnh gợi cảm, không tổ chức âm thanh có tính thẫm

mỹ cho người đọc như thơ ca nhưng nó chỉ hướng cho người đọc thấy được hình ảnh cuộc sống thực tại với những mô tả, phân tích hiện thực về các nhân vật khác nhau tùy vào từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau trong lich sử

Theo A.A Potebnhia: “Văn xuôi là lời nói trực tiếp hiểu heo nghĩa, nó là lời

nói hoặc chỉ có mục đích thực tiễn hoặc phục vụ cho việc biể đạt khoa học Lời văn xuôi là lời biểu đạt một cái gì đó trực tiếp, không có biểu tượng, và nhìn chung là lời nói không tạo ra hình ảnh mặc dù những từ ngữ riêng lẻ cũng mang tính hình tượng” /Dẫn theo Bakhtin [3, 52]/ Như vậy, văn xuôi

không đem lại cảm giác thẩm mỹ, bay bổng đưa người đọc thả hồn mình vào thế giới ảo, mà đem lại cảm giác bình dị, thực tế với lối viết đơn giản về quan niệm con người, cuộc sống trong cộng đồng

Giai đoạn từ năm 1930-1945, đây là thời kỳ văn xuôi có bước phát triển mới trên tinh thần tư duy sáng tác hiện đại hơn Phá bỏ hệ thống ước lệ của văn học cổ điển cũ, trào lưu văn học phê phán phát triển mạnh mẽ cùng với văn học lãng mạn trăm hoa đua nở Các tác giả của hiện thưc phê phán với nghệ thuật trào phúng và sự khắc họa đậm nét nhân vật điển hình cùng với sự phán tích tâm lí nhân vật một cách tài tình tạo ra sự châm biến sâu sắc là Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Dưới ngòi bút nhân đạo của mình, thế giới nội tâm của con người được các nhà văn chú trọng phân tích và khám phá để miêu tả

Trang 12

thông qua cuộc sống cá nhân, những nhỏ nhoi vụn vặt, “Đó là những chuyện

không muốn viết” [Nam Cao] Nhóm Tự lực văn đoàn là tập hợp các nhà văn

đại diện tầng lớp tri thức tiểu tư sản mới đã đóng góp vào việc đổi mới thể loại văn xuôi trong nền văn học Việt Nam chống lại lễ giáo phong kiến, đề cao hạnh phúc cá nhân

Giai đoạn 1945 - 1975, đất nước ta có nhiều biến cố, nhân dân ta từ Bắc chí Nam đứng lên kháng chiến chống thực dân pháp và chống Mỹ cứu nước Văn xuôi Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không nhỏ Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãn mạng chiếm vị trí đáng kể Đề tài về đời tư, thế sự, đạo đức ít được các tác giả chú ý đến Đó cũng xem như là một vài sự hạn chế trong đề tài văn học ở thể loại văn xuôi Mục tiêu của đề tài là hướng đến mục đích của tổ quốc ca ngợi cách mạng, công cuộc xây dựng đất nước và cổ vũ tinh thần đấu tranh giai phóng miền Nam, thống nhất đất nước một cách trọn vẹn, tiến lên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Văn xuôi chủ yếu mang đến cho người đọc khát vọng, niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, từ đó, góp phần thúc đẩy công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước

Trong giai đoạn này, tính dân chủ ngày càng được nâng cao, đội ngũ

sáng tác văn học đông đảo và đa dạng Đây là giai đoạn văn học công nông

binh nên người viết đủ các thành phần, các lứa tuổi; đề tài là yêu (nước), căm

(thù), chiến (đấu), lạc (quan) Các sáng tác muôn màu muôn vẻ ở giai đoạn

này đã đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn xuôi hiện đại Các nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn này gồm có Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Minh Châu, Xuân Quỳnh,… và hàng loạt cây bút mới như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Trần Đăng Khoa, v.v Với các tác phẩm liên quan đến những con người anh hùng cách mạng,

con người mới trong giai đoạn đấu tranh giữ nền độc lập chủ quyền

Từ năm 1975 đến nay, đất nước đã giành được thống nhất trọn vẹn; cả nước chung tay xây dựng phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội

Trang 13

chủ nghĩa cùng với hội nhập quốc tế Văn xuôi sử thi hoàn toàn biến mất Để phù hợp với tình hình mới của đất nước, quan niệm nghệ thuật về con người

có sự đổi mới dẫn đến bút pháp, đề tài, giọng điệu của từng nhà văn cũng thay đổi theo Nhất là từ năm 1986 về sau, cuộc sống con người ngày càng phong phú cùng với các mối quan hệ trong xã hội ngày càng phức tạp Do đó, tiểu thuyết và truyện ngắn đã tập trung phản ánh những đề tài thể hiện tính nhân văn sâu sắc qua những nhân vật, những số phận gắn với các tình huống đa chiều, éo le trong cuộc sống Cảm hứng bi kịch thời hậu chiến rất được các nhà văn chú trọng, vì đó là hiện thực mà nhân dân ta đang phải gánh chịu Đây được xem là thời kỳ khắc phục những khiếm khuyết mà thời kỳ trước không vượt qua được

1.1.2 Ngôn ngữ văn xuôi

Ngôn ngữ văn học bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân nhưng được gọt giũa, chọn lọc qua thời gian dài để tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật Mỗi nhà văn hình thành cá tính sáng tạo riêng, tìm cách vận dụng ngôn ngữ theo ý đồ riêng

để hướng đến mục đích tạo nên tính thẩm mỹ riêng cho tác phẩm của mình

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: Ngôn ngữ nghệ thuật - tức ngôn ngữ,

trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - là một mã phức tạp được cấu tạo nên

từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (ngôn ngữ tự nhiên) [24, 140] Như vậy, ta có

thể thấy rằng ngôn ngữ tự nhiên là yếu tố làm chất liệu để hình thành ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai, được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên)

Mỗi tác phẩm nghệ thuật thì “Ngôn ngữ là hệ thống thứ nhất của văn học”,

“ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật” [3, 117]

Để một ngôn ngữ trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật thì điều không thể thiếu đó là những quy tắc về cách sử dụng; mỗi tác phẩm đều là những sản

Trang 14

phẩm tinh thần, thể hiện tình cảm sâu sắc, mang tính thẩm mỹ cao cho từng nội dung, ý nghĩa mà chính tác giả muốn truyền tải Chức năng của ngôn ngữ nghệ thật là tín hiệu thẩm mỹ (có đặc trưng về nghĩa và đặc trưng âm thanh)

là yếu tố tạo thành hình tượng Các nhà văn có phong cách ngôn ngữ đặc sắc thì các nhân vật sẽ mang tính hình tượng rất cao Tức là làm cho người đọc sau khi tiếp nhận nội dung thông điệp có cùng nhận thức với người phát ra nhận thức đó

Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của văn học Mỗi nhà văn sẽ có những cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau hình thành nên cá tính sáng tạo riêng, phong cách ngôn ngữ riêng Ngôn ngữ nghệ thuật vừa thể hiện tư duy sáng tạo của nhà văn, vừa là phương tiện truyền tải nội dung, ý nghĩa của các hình tượng trong tác phẩm văn học

Trần thuật là dạng ngôn ngữ nghệ thuật ở thể loại văn xuôi Đó là toàn

bộ lời giới thiệu, khái quát, thuyết minh, mô tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh,

sự vật theo cái nhìn của một người trần thuật (người kể chuyện) nhất định Lời văn trần thuật có nhiệm vụ dẫn dắt người đọc đi vào thế giới của tác phẩm, qua đó, gợi dẫn những cách hiểu về nhân vật và khơi nguồn những cảm xúc, tình cảm

Trần thuật gắn bó chặt chẽ với cấu trúc, chủ yếu nghiên cứu văn bản tự

sự và tất cả những vấn đề nhằm đi đến một bước tiếp cận tác phẩm từ phương diện cấu trúc Chủ thể trần thuật giữ vai trò trung tâm trong tất cả các yếu tố

văn bản tự sự Theo Từ điển văn học: “Người trần thuật là nhân vật hư cấu

hoặc có thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ anh ta tạo thành, nó bị trừu tượng hóa trở thành một nhân vật hoặc ẩn hiện trong tác phẩm tự sự”

[32, 221] Theo quan niệm này, chủ thể trần thuật được coi là hình tượng do nhà nhà văn sáng tạo nên và nó chi phối về vị trí ngôi, điểm nhìn, tiêu điểm, lời văn trong các tác phẩm

Trang 15

Chủ thể trần thuật thường có thể ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba hay là nhân vật trần thuật Trước năm 1945, văn xuôi được tác giả trần thuật ở ngôi thứ ba số ít Đây là dạng trần thuật phổ biến của thể loại văn xuôi truyền

thống Nhân vật tôi nguười trần thuật thường có thể nắm bắt được mọi vấn đề

xảy ra nhưng lại có được tầm nhìn bao quát Trong thời kỳ này, tác giả Nguyễn Trọng Quản không giống như các tác giả nổi tiếng sau này như Nam

Cao, Thach Lam hay Nguyễn Công Hoan, vì ở tác phẩm Thầy Lazora phiền

có sự xuất hiện trần thuật thuật ngôi thứ nhất với sự khám phá đời tư nhân vật, đi sâu vào nội tâm nhân vật Đến những năm năm 1945, trần thuật theo một điểm nhìn của tác giả như Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn làm cho tác phẩm văn xuôi có sự thay đổi hơn trước Lối trần thuật theo kiểu phương Tây, tiếp cận dòng ý thức của nhân vật theo cùng một điểm điểm Đến sau năm 1945, nghệ thuật trần thuật mới thực sự trở nên đa dạng, theo nhiều điểm nhìn khác nhau hướng từ ngoài vào trong nội tâm của nhân vật

Ngôi thứ nhất - nhân vật xưng tôi là người kể chuyện chiếm tỷ lệ lớn Lời kể

hòa mình vào nhân vật làm cho người đọc cảm thấy hiện thực được phản ánh một cách sống động và trực tiếp Sự hòa mình vào thế giới nội tâm của nhân vật giúp cho người đọc thấu hiểu hơn về đời sống nội tâm, có nhiều cảm

thông sâu sắc hơn đối với nhân vật Với nhân vật xưng tôi sẽ đảm nhiệm được

nhiều chức năng khác nhau như vừa là người dẫn chuyện vừa là nhân vật và vừa có thể bình luận được các vấn đề khác nhau, làm cho bức tranh hiện thực sống động hơn với nhiều điểm nhìn mới lạ, thu hút được sự chú ý, quan tâm của độc giả Ngoài ra, một số tác phẩm nhà văn giữ vai trò tổ chức, trao quyền cho nhân vật nói, đáp và kể

Văn xuôi thường là tác phẩm tự sự có phạm vi rộng lớn, miêu tả hiện thực khách quan và được thể hiện nhiều trong các mối quan hệ Lời trần thuật

có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khác quan vật chất, sự

Trang 16

việc, con người, ; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác Nhân vật được khắc họa chi tiết về chân dung, ngoại hình, tâm sinh lý, đời sống tôn giáo, chính trị, v.v Lời văn chủ yếu trong các tác phẩm là lời văn

kể chuyện, miêu tả

Tác giả trần thuật theo hai dạng: trần thuật gián tiếp một giọng hoặc theo hai giọng; ngoài ra, còn có lời trực tiếp của nhân vật, ngôn ngữ là của tác giả nhưng người giải bày tâm sự là chính nhân vật Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là độc thoại hay đối thoại Như vậy, lời văn chủ yếu trong các tác phẩm là lời văn kể chuyện, miêu tả Thông qua ngôn từ bình dị trong đời sống, không xuất hiện vần điệu nhưng có khả năng thực hiện chức năng tự sự của tác phẩm văn xuôi, đó là khă năng diễn tả con người, môi trường sống xung quanh con người; những cử chỉ, hành động, lời nói khác nhau của con người

Để bộc lộ những quan niệm, cách đánh giá khác nhau về con người, các nhà văn sẽ có những cách thức lựa chọn vị trí trần thuật và sử dụng từ ngữ khác nhau Đó chính là nét riêng và phong cách sáng tạo của mỗi nhà văn Ngoài ra, yếu tố vùng miền cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển phong cách đó Với các từ ngữ chỉ có riêng ở mỗi vùng miền được nhà văn đưa vào trong các tác phẩm cũng chính tố yếu mang nét đặc trưng cho mỗi nhà văn Nó góp phần làm tăng sự phong phú trong nội dung các tác phẩm văn xuôi và giúp độc giả hiểu thêm nét văn hóa tiêu biểu của mỗi vùng miền

1.2 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn

1.2.1 Thể loại truyện ngắn

Thể loại là phạm trù về chỉnh thể tác phẩm Bất cứ tác phẩm nào đều

thuộc về một thể loại nhất định “Thể loại là hình thức điển hình của toàn bộ

tác phẩm, của toàn bộ sự biểu hiện nghệ thuật” [13] Với chức năng là xây

dựng các mô hình hình tượng về thế giới, trong đó, những gì tồn tại đều có

Trang 17

mục đích, có trật tự, hòa trộn thành một bức tranh hoàn thành về tồn tại, phù hợp với một số quy luật chung của đời sống Do đó, chúng ta phải thừa nhận

rằng, thể loại văn học là một phạm trù lịch sử Theo H.R Jaus: “Thể loại là

không thể diễn dịch, không thể định nghĩa, mà chỉ có thể là xác định một cách lịch sử, miêu tả, và giới thuyết Về mặt này thể loại và ngôn ngữ lịch sử tương

tự nhau Chẳng hạn, người ta không thể định nghĩa tiếng Đức hay tiếng Pháp,

mà chỉ có thể miêu tả chúng về mặt đồng đại hay lịch đại” /Dẫn theo Đào

Thản [38, 12]/ Đó là phương thức giúp người sáng tác dùng nó để lựa chọn

và thể hiện những quan hệ thẫm mỹ khác nhau đối với đời sống hiện thực

Theo các kết quả nghiên cứu, “thể” ý nghĩa rộng hơn “loại” Ở “thể” chia ra thành ba “loại”: tự sự, trữ tình và kịch Tự sự có có dạng như: tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, v.v

Xung quanh thể loại truyện ngắn, có rất nhiều ý kiến, những lời giải

thích khi nói về truyện ngắn Tác giả A Tonxtoi viết: “Truyện ngắn là một

hình thức nghệ thuật khó khăn bật nhất Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể dọn cho độc giả no nê với những món sang đại loại hoặc như miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sâu sắc… còn như trong truyện ngắn, tất cả như trong tay anh Anh phải thông minh như đã phải hiểu biết Bởi lẽ, hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” /Dẫn theo

Bakhtin [3,124]/

Theo nhận định của Tô Hoài: “Người viết truyện ngắn phải rèn luyện

đến từng dấu phẩy và anh chỉ viết được những gì anh hiểu khá kỹ càng; có thể nói truyện ngắ đòi hỏi nhà văn phải lương thiện hiết mực” [17, 34]

Nhà văn Nguyễn Kiên đã hơn một lần nói về bản chất và vai trò của

tình huống truyện: “Theo quan niệm của tôi, mỗi truyện ngắn chỉ tập trung

vào một tình thế nảy sinh trong cuộc sống Nếu truyện ngắn có hơn một tình thế thì truyện ngắn đó lập tức bị phá vỡ” [33, 44]

Trang 18

Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Với truyện ngắn và với một

tác giả có kinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái Tình thế xảy ra truyện, thế là coi xong một nửa Những nhà văn có tài đều là những người có tài tạo ra những tình thế xảy ra chuyện vừa rất cá biệt mang tính phổ biến hoặc tượng trưng”và”… những người cầm bút có cái biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà

ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống nhưng bắt buộc con người vào một tình thế phải bộc lộ cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn nấu sâu kín nhẩ, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa đựng cả đời người, một đời nhân loại” [8, 258]

Theo nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, truyện ngắn có ba đặc điểm: 1/ Một thể tài tự sự kiểu nhỏ; 2/ Tính quy định về dung lượng và cốt truyện (tập trung vào một vài biến cố, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định); 3/ Chi tiết đống vai trò quan trọng (nó có tính chất biểu tượng) [40, 29]

Như vậy, có rất nhiều ý kiến khác nhau về truyện ngắn Vì đó là thể loại đa dạng, đòi hỏi người viết phải có những cái nhìn đa diện và sâu sắc, ngòi bút sắc lạnh, khai thác được hết những bí ẩn về đời sống bên ngoài lẫn bên trong của nhân vật, sự kiện Từ những ý kiến về thể loại truyện ngắn, chúng tôi đưa ra cách hiểu như sau: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi ngắn gọn, súc tích và có hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiều thuyết Các lại truyện ngắn đa phần có độ dài chỉ vài dòng, đến vài chục trang

Thực chất truyện ngắn là truyện dài được viết ngắn lại Nội dung của truyện ngắn thường là đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng đặc biệt là dung lượng

nó rất ngắn Vì là thể loại được tác giả viết ngắn lại so với tiểu thuyết, nên truyện ngắn được viết rất súc tích và cô động, chứa rất nhiều ý nghĩa hơn là

Trang 19

tiểu thuyết, không được chứa các chi tiết thừa làm mất thời gian cho người đọc; giúp cho người đọc một mạch, một hơi không nghĩ, nhưng vẫn hiểu được hàm

ý của tác giả về việc nhận ra điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người

Để viết nên truyện ngắn, tác giả xây dựng cốt truyện với mục đích rõ ràng, hình ảnh nhân vật cũng được khắc họa một cách tỉ mỉ với những số phận khác nhau, mang những điểm đặt trưng của cuộc sống Vì thực chất truyện ngắn là mang hơi thở của cuộc sống khách quan được tác giả tái hiện vào trong lời văn của mình Truyện không bị giới hạn về dòng thời gian, có sự đan xen giữa thực tại và quá khứ, giữa những thời điểm khác nhau trong cuộc sống, khắc họa đậm nét chân dung của nhân vật chính trong truyện Điểm độc đáo của người viết truyện ngắn là có thể bày tỏ ý kiến, tư tưởng của mình qua từng sự kiện hay từng nhân vật cụ thể một cách sâu sắc Truyện ngắn đặc biệt chú ý đến từng chi tiết đặc sắc, càng nhiều chi tiết như thế, càng đặc sắc; thêm vào đó là nhiều sự ẩn ý càng làm cho người đọc gia tăng sự thích thú khi đọc tác phẩm

Vì dung lượng của truyện ngắn không được dài so với tiểu thuyết nên việc tập trung xây dựng tình huống truyện là hết sức cần thiết; tình huống truyện là yếu tố quan trọng đối với thể loại truyện ngắn Tình huống truyện còn là sự thể hiện tư tưởng nghệ thuật của chính tác giả Các tác giả biến chuyển nhiều tình huống khác nhau với một chủ đề nhất định tạo ra các sự kiện, các sự biến đổi, biến cố của cốt truyện để làm cho tính cách của nhân vật được bộc lộ Người nghệ sỹ sáng tạo, đưa ra những nút thắt về những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện, chứa đựng những suy ngẫm, những phát hiện sâu sắc của nhà văn về cách nhìn nhận đánh giá con người và cuộc sống trong mối quan hệ giữa nghệ thuật với hiện thực Tác giả viết truyện ngắn là người có khả năng quan sát sâu sắc, luôn tìm tòi, khám phá về bản chất cuộc sống, về bản chất của con người

Trang 20

Xét về số lượng, tình huống truyện thường có hai loại: (là hạt nhân thể loại của truyện ngắn): 1/ Truyện ngắn một tình huống: cả truyện chỉ xoay quanh một vấn đề nào đó làm trung tâm; 2/ Truyện ngắn nhiều tình huống: có nhiều tình huống xảy ra đối với các nhân vật trong câu truyện, có sự xuất hiện các nhân vật vai phụ khác nhau xoay xuất hiện với nhân vật chính trong mỗi tình huống khác nhau

Xét về tính chất, tình huống truyện được chia thành ba dạng: 1/ Tình huống hành động: là một sự kiện đặc biệt nhân vật chính bị đẩy vào thế bị động

và buộc phải tự đứng lên hành động chống lại.Tập trung quan tâm đến hành vi, hành động của chủ thể; 2/ Tình huống tâm trạng: là một sự kiện đặc biệt nhân vật trung tâm rơi vào một tình huống nào đó làm nảy sinh làm biến động thế giới nội tâm tình cảm Tác giả tạo nên một hình tượng nhân vật chủ yếu với sự kết hợp cảm giác và cảm xúc với nhau; 3/ Tình huống nhận thức: cũng được xem là một sự kiện đặc biệt, nhân vật được giác ngộ với bài học nhận thức do chính mình gặp phải trong một tình huống bất thường nào đó do tác giả dẫn dắt Nhân vật trung tâm là nhân vật trung tâm, nhận thức lý tính về đời sống được tác giả xây dựng nên với sự quan sát, phân tích, suy lí, đúc kết, v.v

1.2.2 Ngôn ngữ truyện ngắn

Dựa vào đặc trưng của ngôn ngữ loài người, các nhà khoa học đã đưa

ra định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiểu âm

thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy Truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này đến thế hệ khác” [12, 31] Mặc dù ngôn ngữ ở mỗi dân tộc (quốc gia) có sự

khác nhau về hình thức và cách phát âm, nhưng nhìn chung, nó là sản phẩm của tập thể, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Trang 21

Đối với ngôn ngữ nghệ thuật, nó không phải là một dạng ngôn ngữ bình thường, mà là dạng ngôn ngữ mang tính thẩm mỹ cao, mặc dù, ai trong chúng

ta đều có thể đọc được nhưng nó lại mang cho đọc giả những cảm xúc thẫm

mỹ, những rung động tình cảm,… thông qua các ngôn từ được chau chuốt, gọt giũa công phu Các ngôn từ đó đã được tác giả nghệ thuật hóa, có tính thẩm mỹ Các nhà văn có những cách riêng trong sử dụng vốn từ ngữ, câu văn

và các phương tiện khác của ngôn ngữ để tạo thành mã thẩm mỹ Chẳng hạn, nhà văn Thạch Lam dùng ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế giàu chất thơ, tạo nên giọng điệu mềm mại để hướng người đọc đến vớicái đẹp cái thiện; còn ngôn ngữ của Nam cao mang tính phức tạp, sắc lạnh với sự chuyển hóa nhiều giọng điệu khác nhau, tạo ma lực cuốn hút độc giả

Khi đọc truyện ngắn, chúng ta có thể nhận rõ một điều là ngôn từ rất thực, dễ hiểu vì nó vốn là ngôn từ rất gần gũi và tự nhiên Không như ngôn ngữ thơ thường tạo cho người đọc những cảm xúc bay bổng bởi giàu nhịp điệu, tính nhạc cao, hàm súc, đa nghĩa, mới đọc không thể hiểu ngay Nếu ngôn ngữ của truyện (sử thi) là kể và tả thì ngôn ngữ tiểu thuyết là sự mô tả

và đối thoại nội tâm Ngôn ngữ trong truyện ngắn cũng vậy Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải động Ngôn ngữ tự đối thoại,

tự tranh cãi, hay nói cách khác ngôn ngữ lưỡng lự, nước đôi,… khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của các khả năng

Mỗi truyện ngắn hay thường không tự nó đem đến cho ta một kết luận khẳng định hay bác bỏ Nó đặt ta trước những lựa chọn, hoặc như theo cách

nói của M Kundera, trước sự hiền minh của lưỡng lự Chẳng hạn, khi Bảo Ninh viết Nỗi buồn được sống sót là đem đến cho ta một bài học, không phải

bài học đạo đức đơn giản về sự biết ơn đối với những hy sinh trong chiến tranh mà là bài học sâu sắc hơn nhiều: trong từng ngày hôm nay phải luôn luôn trăn trở mà tìm cách sống cho xứng đáng Đó cũng là một sự hiền minh

Trang 22

Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn khiến cho truyện ngắn là một trong những hình thức nghệ thuật có khả năng mở rất lớn Chữ dùng, câu văn trong truyện ngắn cũng phải biến hoá, phải linh hoạt Nhà văn Tô Hoài

cho rằng: “Câu văn cũng như tre gỗ để làm nhà Càng đẽo, soi kĩ lưỡng,

tinh tế, lắp được đúng mộng mẹo, nhà càng chắc, đẹp Trong phép đặt câu, tôi tránh không lộ lối đặt câu giống nhau mà người đọc có thể nhận thấy được” [17, 184]

1.3 Truyện ngắn Việt Nam đương đại

1.3.1 Những nét khái quát về nội dung truyện ngắn Việt Nam đương đại

Văn xuôi đương đại khác biệt nhiều so với văn xuôi thời kỳ trung đại thường nội dung cốt yếu chỉ chú trọng đến các hoạt động, các sự kiện, ít lưu ý đến miêu tả số phận, tính cách của nhân vật Ở thể loại truyện ngắn hiện đại, nội dung tập trung chủ yếu đến việc tạo ra những con người với những số phận, cuộc đời khác nhau, tính cách nhân vật được bộc lộ hoàn toàn qua từng sự kiện, diễn biến khác nhau; khắc họa đậm nét trạng thái tâm lý của con người

Điểm đặc trưng của loại truyện ngắn như ta đã nói trên đó là tình huống truyện; yếu tố thẫm mỹ này chính là điểm nổi bật và quan trọng không thể thiếu nếu là tác giả của truyện ngắn hiện đại thì không thể loại bỏ điểm cốt yếu đó

Truyện ngắn thời kỳ hậu chiến mang tính dân chủ và hiện đại hơn so với thời kỳ trước; cách nhìn đa chiều về những lát cắt cuộc đời mang những màu sắc khác nhau, sự biến hóa liên tục về tâm lý, đời sống nội tâm của con người Do vậy, người đọc thấy cốt truyện thường hay bị cắt khúc và gián đoạn, cố nhiên, không phải vì vậy mà dòng chảy của câu chuyện không logic

Đó là những biến động có thực ngoài đời sống, những số phận đầy nghịch lý, mâu thuẫn đều được phản ánh trong truyện ngắn đương đại

Trang 23

Với sự thâm nhập thực tế sâu sắc, bằng nhãn quan đổi mới, các nhà văn

đã thấy rõ bản chất của con người thời nay qua những nhân vật truyện ngắn cùng tồn tại cả ánh sáng và bóng tối, tích cực và tiêu cực, mặt tốt và mặt xấu, v.v Nhiều trường hợp, nội dung truyện được xây dựng theo hình thức truyện lồng truyện, tình tiết đan xen lẫn nhau mang tính cao trào xoáy sâu vào việc khắc họa hình tượng nhất định Mỗi nhà văn có những cách thức riêng, cảm hứng riêng để xây dựng các hình tượng nhân vật của mình Từ những kinh nghiệm, vốn sống cá nhân, các tác giả tạo cho người đọc những hoài nghi từ những sự kiện tưởng chừng như là có thật, những suy nghĩ và tranh luận khác nhau về các quan niệm, tư tưởng được cảm nhận trong khi đọc và khi kết thúc câu truyện

Truyện ngắn đương đại không nhất thiết phải đem lại cho người đọc hàng loạt các sự kiện, các vấn đề đơn giản chỉ có mở đầu, có kết thúc, dễ dàng đoán trước được những gì sẽ xảy ra Như nhà văn Mĩ F.O Connor đã nói:

“Truyện ngắn hiện đại luôn tìm cách hình thành cái bí ẩn và ít có khả năng lí

giải điều đó” Sự hỗn độn, các tình huống bất quy tắc đều được chấp nhận

trong truyện ngắn đương đại, nhưng vẫn phải đảm bảo tính logic trong nội dung cốt truyện Người đọc truyện ngắn đương đại không chỉ là đọc một cách

vô ý thức, chỉ chú ý đến một khía cạnh riêng lẻ nào đó, mà đòi hỏi có sự liên kết, phải đọc kỹ, có suy nghĩ sâu sắc thì mới hiểu hết được nội dung, bao quát được chủ đề, mục đích mà tác giả hướng đến

1.3.2 Xu hướng đổi mới ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại

Truyện ngắn thời kỳ này thể hiện tư duy kiểu mới, do đó, ngôn từ của truyện ngắn cũng thay đổi sao cho phù hợp, đặc biệt, phù hợp với đối tượng độc giả mà tác phẩm hướng đến Sự lựa chọn ngôi trần thuật, cách thức tổ chức điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu đều có sự thay đổi một cách kịp thời, triệt để, nhất quán

Trang 24

Những người cầm bút trong giai đoạn đổi mới này là những con người hiện đại, năng động, luôn tìm tòi cho mình một phong cách sáng tạo mới Các nhà văn ngày nay không thể bắt chước những gì mà các thế hệ trước đã để lại

Họ có thời gian, cơ hội tiếp xúc với những sự đổi mới trong xu thế giao lưu hội nhập quốc tế Ngôn ngữ trần thuật ngày càng phong phú và đa dạng, do sự tiếp xúc thường xuyên ngôn ngữ đời sống hằng ngày; không hề có sự hạn chế trong việc sử dụng ngôn từ Các ngôn từ được sáng tạo theo phong cách riêng của mỗi nhà văn nhằm tạo sự hấp dẫn cho người đọc, luôn tránh sự trùng lặp gây sự nhàm chán Qua ngôn từ truyện ngắn, người đọc có thể nhận diện cá tính sáng tạo, phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn

Trong thời đại @, các nhà nhà văn đa phần chịu ảnh hưởng ngôn ngữ trên mạng internet Do vậy, tác phẩm của họ xuất hiện các từ ngữ hiện đại – sản phẩm của ngôn ngữ chat, blog Loại ngôn ngữ này được xem như là phương thức biểu đạt mới của các nhà văn trẻ Họ dùng mạng internet để công bố các tác phẩm trước khi gom lại thành sách in ấn ở các nhà xuất bản

Do đó, ngôn ngữ trần thuật trở nên rất gần gũi, rất thực và sinh động Lối viết tốc ký đã giúp các nhà văn có thể miêu tả được diễn biến tâm lý của con người, tạo cảm giác người đọc như hòa cùng nhân vật trong câu chuyện được cắt vỡ vụn và chắp nối vào nhau

Báo chí ngày càng phát triển, đặc biệt, sự tiện lợi của báo mạng cũng tác động đến sự đổi mới của ngôn ngữ truyện ngắn Ngoài cách dùng các từ ngữ hành chính, các từ chính trị,… cho đến các từ khẩu ngữ, từ địa phương, ngôn ngữ truyện ngắn đương đại còn dùng chêm xen các từ ngữ tiếng nước ngoài, chủ yếu từ tiếng Anh, tiếng Pháp và một số ngôn ngữ châu Âu khác Trong các truyện ngắn của các tác giả trẻ, nhiều từ ngữ tiếng Anh được sử dụng mà không cần có sự giải thích ý nghĩa

Ngôn ngữ chính là phương tiện để nhà văn giao tiếp với đọc giả Đôi khi, nó là sự tự đối thoại, tự tranh cãi của nhà văn trong tác phẩm riêng của

Trang 25

mình Giong điệu luôn tạo sự tư nhiên trong cách lối hành văn Thậm chí có nhiều nhà văn sử dụng các từ ngữ nước ngoài do sự hợp tác quốc tế ngày càng phát triển, nên việc dùng cách đó cũng không có gì lạ Ở thể loại này, những cây bút xuất sắc không thể không nhắc đến là Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Phan Thị Vàng Anh, v.v

1.4 Tác giả Phan Thị Vàng Anh và truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

1.4.1 Vài nét về tác giả

Phan Thị vàng Anh có bút danh Thảo Hảo, là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam Vàng Anh là tên một loài chim sơn ca Chị sinh ngày 18 tháng 08 năm 1968 tại huyện Cam Lộc, tỉnh Quảng Trị Ngay từ nhỏ, Vàng Anh là một

cô bé ngây thơ, ngộ nghĩnh, nổi tiếng bằng bài thơ Mèo con đi học, được đưa

vào sách Tập đọc lớp 1 Lớn lên, Vàng Anh học tại Trường Đại học Y Khoa

TP Hồ Chí Minh Ra trường, chị công tác tại Trung tâm huyết học thành phố, sau đó, làm việc ở khoa Tim mạch, Bệnh viện Nguyễn Trãi Chị cũng đã từng

ra Hà Nội để sống, nhưng sau đó lại quay về TP Hồ Chí Minh, làm việc ở công ty Phương Nam; hiện nay, chị làm việc tại nhà Gia đình Vàng Anh là đại diện tiêu biểu của một gia đình có truyền thống văn chương Bố (Chế Lan Viên), mẹ (Vũ Thị Thường) và Vàng Anh đều nổi tiếng và cùng tham gia Banh chấp hành, Hội nhà văn Việt Nam Riêng Phan Thị vàng Anh, năm

1996 là hội viên Hội nhà văn Việt Nam; năm 1994, đạt giải thưởng Văn học, Hội nhà văn Việt Nam; đến năm 2005, được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn (nhiệm kỳ 7)

1.4.2 Về tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh

Các tác phẩm gồm: Khi người ta trẻ (tập truyện ngắn, 1993); tác phẩm

này được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, năm 1994

Tập tản văn Nhân trường hợp chị thỏ bông dưới bút danh Thảo Hảo,

năm 2004 Tác phẩm này trần thuật từng chi tiết nhỏ, cách quan sát rất cặn kẽ,

Trang 26

miêu tả những dòng suy nghĩ đa chiều nên đã làm cho độc giả bật cười vì sự ngộ nghĩnh

Gửi VB (tập thơ, 2006) được giải thưởng Hội nhà văn, năm 2007 Đây

là tập thơ của đời thường, giản dị mà tinh tế Từ cách mô tả cho đến dùng bút pháp đều rất đơn giản; mọi thứ dường như đều được tối ưu hóa nhưng vẫn chứa đựng chiều sâu trong tâm hồn của một người viết trẻ

Tác phẩm Mèo con đi học; đây là tác phẩm đánh dấu tài năng của

Vàng Anh từ khi chỉ là cô bé 7 tuổi, năm 1977 Bài thơ này đã được Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) trao giải thưởng

Mèo con buồn bực Mai phải đến trường Bèn kiếm cớ luôn:

- Cái đuôi tôi ốm Cừu mới be toáng:

- Tôi sẽ chữa lành Nhưng muốn cho nhanh Cắt đuôi khỏi hết!

- Cắt đuôi? Âý chết…!

Tôi đi học thôi!

Tác phẩm này đã bộc lộ sự thông minh, sáng tạo, nét tài hoa nhờ thừa hưởng từ cha mẹ - hai nhà văn có đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam hiện đại Sự hồn nhiên, ngây thơ của một đứa trẻ và tài năng làm thơ đã làm cho Vàng Anh được chú ý nhiều hơn Ngoài bài thơ này, Vàng Anh còn có

nhiều bài thơ được đăng trên báo Khăn quàng đỏ khi còn là thiếu niên và

được rất nhiều các bạn ở lứa tuổi nhi đồng ưa thích

Đến năm 1993, Vàng Anh lại tiếp tục gây dư luận với tập truyện được

xuất bản Khi người ta trẻ ngay khi vừa tốt nghiệp đại học y khoa

Trang 27

Phan Thị Vàng Anh là một người trẻ năng động, dám nghĩ dám làm; chị luôn kêu hãnh, đầy từ tin và hết sức mạnh mẽ trong cuộc sống Có lẽ, điều

đó đã ảnh hưởng rất nhiều vào cách viết văn của chị Với cái nhìn trải nghiệm, bằng những kỉ niệm dồn nén trong ký ức nên viết truyện là cách chị giải tỏa, trút hết những dồn nén đó vào trong các trang văn Qua đó, những tư tưởng, quan niệm sâu sắc về thế sự, những mối quan hệ ngổn ngang, phức tạp trong gia đình, bạn bè, thầy trò, tình yêu đôi lứa,… chị gửi gắm vào thơ, vào tạp văn, đặc biệt, vào truyện ngắn

1.4.3 Đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

Các tác phẩm truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh là những chi tiết, lát cắt của cuộc sống với những mối quan hệ tưởng chừng như bình thường ai cũng có thể trải qua, nhưng thực chất đó là những tình huống phức tạp, gay cấn Với cái nhìn sắc sảo cùng với tính cách thẳng thắn, dứt khoát, mạnh mẽ, Phan Thị Vàng Anh đã đem đến cho người đọc những trang viết đầy ắp thông tin về những vấn đề của giáo dục, văn hóa, kinh tế, xã hội, v.v

Trong truyện ngắn, đặt trưng về không gian góp phần thanh công của câu truyện Cách bố trí, lựa chọn không gian phù hợp giúp tác giả truyền đạt hết nội dung, ý nghĩa, tư tưởng thẩm mỹ của mình Không gian nghệ thuật phụ thuộc vào điểm nhìn của tác giả (chủ thể) có chiều cao thấp, rộng hẹp, xa gần khác nhau Nó là hình tượng không gian có tính chủ quan và tượng trưng

và là sản phẩm sáng tạo của nghệ sỹ nhằm biểu hiện một quan niệm nhất định

về cuộc sống Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

có thể là không gian điểm, không gian tuyến, không gian mặt phẳng Với không gian điểm sẽ được xác định bằng các giới hạn và tính chất chức năng của nó Chúng ta có thể xem không gian nghệ thuật là một hệ thống và không gian nhân vật là một yếu tố Nhờ có không gian nghệ thuật mà các nhân vật

có thể bộc lộ hoàn toàn cá tính hay những thay đổi nội tâm một cách tự nhiên

Trang 28

nhất Qua cách xây dựng không gian nghệ thuật, Phan Thị Vàng Anh đã tạo điều kiện cho độc giả cảm nhận hết những ý nghĩa mà tác giả đã cố tình đặt chính nhân vật và độc giả vào đúng tình huống mà mình muốn dựng nên

Truyện ngắn tuy có giới hạn về thời gian, không gian, số lượng nhân vật tham gia, tạo nên tình huống câu chuyện chỉ trong vài trang (có khi, số lượng không vượt quá ba trang giấy), nhưng từng chi tiết vẫn phải cô đúc, phải xây dựng được những tình tiết quan trọng, gây ấn tượng cùng với bút pháp trần thuật linh hoạt Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh rất ngắn (có thể gọi truyện ngắn mini) nhưng lại chứa đựng nhiều ý tưởng, nhiều mối quan hệ đời sống,… tất cả lại được chứa đựng trong ngôn ngữ và kiểu viết tình cờ, tự nhiên như là không phải ngôn ngữ văn chương vậy Truyện Vàng Anh, nhiều người nhận xét là truyện không có cốt truyện, nhưng thật ra, khả năng mở sau câu chuyện lại ám ảnh người đọc Có lẽ thời hiện đại, người đọc cần đến loại truyện này như một cách tiết kiệm thời gian và bộc lộ thị hiếu của mình chăng? Điều đó có cái lí của nó, nhưng sâu xa hơn, có lẽ đây là kiểu lựa chọn của tác giả Đó là kiểu văn chương đồng vọng tiếng nói của thế hệ mình, kiểu

văn khi người ta trẻ Bởi vậy, truyện ngắn Vàng Anh có cái bạo liệt, dứt

khoát, thẳng thắn nhưng cũng có cái trẻ trung, tinh tế, nồng nàn Chẳng hạn, nhiều truyện lạnh lùng đến thờ ơ nhưng ngẫm thật sâu lại toát lê vẻ dịu dàng, nhân ái, dư ba tình người, mênh mang tình đời Tất cả đều khởi phát từ gốc rễ đời sống và tình yêu thời tác giả đang sống Chính điều này làm nên nét riêng, nét mới trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

Phan Thị Vàng Anh có biệt tài dựng chuyện Có những vấn đề tưởng

vớ vẩn, được kể một cách tự do, nhưng thực ra đó là dụng ý trong cách viết, bởi qua đó, người đọc nhận ra được mối quan hệ bên trong Trong thế giới nghệ thuật của Vàng Anh, nhân vật là những con người âu lo, cô đơn nhưng luôn luôn tự vấn, luôn kiếm tìm và lí giải mọi tồn tại của mình Nhân vật của

Trang 29

chi thường là những người bé nhỏ, hữu hạn so với dòng chảy thời gian cuồn cuộn Các nhân vật cỏ vẻ u uất, cô đơn, mơ hồ nhưng rồi cuối cùng lại muốn hoà nhập vào những vui buồn, bất hạnh và hy vọng trên hành trình đi tìm hạnh phúc và hướng thiện Đó chính là ý thức mãnh liệt về sự hiện hữu và

khát vọng sống của mình trước thời gian vĩnh hằng Các truyện ngắn Phục

thiện, Hồng ngủ, một ngày, Buổi học thêm ở thư viện,… đều phảng phất nỗi

ám ảnh đó

Viết về tình yêu, Phan Thị Vàng Anh cũng có cách thể hiện rất lạ,

cũng là kiểu tình yêu khi người ta trẻ: vừa thực tế, vừa ngộ nghĩnh, vừa sợ sệt vừa ảo tưởng, vừa lo lắng vừa khát khao (Truyện trẻ con, Buổi học ở thư

viện,…) Tình yêu nhiều khi là một cuộc chơi, một cuộc phiêu lưu đầy mạo

hiểm (Mười ngày, Nghỉ hè,…)

Về vấn đề đạo đức, thế sự, tuy không không trực tiếp đưa lên hàng đầu nhưng mỗi truyện, mỗi chủ đề đều toát lên chiều sâu của sự trăn trở: luôn khao khát đi tìm những giá trị nhân bản mới Trong nhiều truyện ngắn, Vàng Anh để cho nhân vật bộc lộ thái độ sống một cách thẳng thắn, dứt khoát, qua

đó bày tỏ quan niệm và thái độ sống của mình Đó chính là yêu cầu, là bản lĩnh của con người hiện đại: luôn tự hoàn thiện nhân cách, luôn tự điều chỉnh hành vi đạo đức

Với lối viết sắc lạnh nhưng đằm sâu, nhẹ nhàng, vui tươi mà dồn dập, gấp gáp, với cách hành văn và dung lượng rất ngắn của truyện, Phan Thị Vàng Anh đã thực sự tạo cho truyện ngắn của mình một chất thơ hàm súc, nhiều tầng nghĩa, mang hơi thở của cuộc sống đương đại Chính vì vậy, kiểu truyện không có cốt truyện của Vàng Anh được thừa nhận là một tìm tòi, thể nghiệm Không gian, thời gian mở sau kết thúc truyện giúp người đọc hiểu

từng nhân vật và tự suy ngẫm mình Hồ Thế Hà coi đó là cốt truyện ngầm, là

nét riêng của Vàng Anh [www.qdnd.vn, ngày 1/10/2015]

Trang 30

1.5 Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề lý luận làm

cơ sở cho đề tài gồm văn xuôi, ngôn ngữ văn xuôi, truyện ngắn, ngôn ngữ truyện ngắn, truyện ngắn Việt Nam đương đại

Cũng trong chương 1, chúng tôi giới thiệu khái quát về tác giả Phan Thị Vàng Anh và đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Là nhà văn trẻ, sáng tác trong giai đoạn đổi mới, Phan Thị Vàng Anh đã thể hiện tài năng qua cách xây dựng truyện không có cốt truyện, qua cách sử dụng ngôn từ ngắn gọn, sắc lạnh nhưng giàu chất thơ Có thể khẳng đinh, Phan Thị Vàng Anh là một trong vài gương mặt có đóng góp thực sự vào việc đổi mới ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam theo hướng hiện đại hoá, tự do hoá Ở một mức độ nhất định, Phan Thị Vàng Anh cũng đã góp phần đổi mới thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 31

từ đơn và từ phức Từ đơn (tiết) là từ chỉ có một hình vị, như nhà, xe, ăn,

chạy, đẹp, xấu, cao, thấp, v.v Từ phức là những từ gồm hai hình vị trở lên,

tức là, được cấu tạo phái sinh từ các từ đơn, như nhà xe, máy móc, nhà cửa,

đẹp đẽ, thấp thoáng, cao cao, v.v Các từ phái sinh (từ láy, từ ghép) có tính lí

do ở một mức độ nhất định giữa hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa

Chẳng hạn, các từ đơn xe, đạp trong tiếng Việt có tính võ đoán rất cao, nhưng khi tạo thành từ ghép xe đạp, thì từ này đã có mức độ của tính có lý do: xe có/phải đạp mới đi được Tương tự, từ đơn mờ có tính võ đoán cao, nhưng từ láy mập mờ là có thể lí giải được nghĩa của nó: trạng thái chỗ mờ, chỗ tỏ

không đồng đều

2.1.1.2 Hệ thống từ tiếng Việt

Từ tiếng Việt tạo thành một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ thống Chẳng hạn, về cấu tạo, những từ có cấu trúc hay đặc điểm cấu tạo giống nhau tập hợp thành một tiểu hệ thống Theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt có một hệ thống từ đơn, từ láy, từ ghép Mỗi hệ thống đó lại còn phân biệt thành một số hệ thống nhỏ hơn nữa Theo đó, có thể hệ thống hoá từ tiếng Việt (xét

về mặt cấu tạo) thành bảng sau

Trang 32

Bảng 2.1 Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo Kiểu từ Các tiểu loại Ví dụ

Từ đơn Từ đơn một tiếng nhà, xe, ăn, chạy, đi, vì,…

Từ đơn nhiều tiếng bồ hóng, mà cả, xi măng,…

Từ láy Từ láy hoàn toàn đỏ đỏ, xanh xanh,…

Từ láy bộ phận lập loè, lạch cạch,…

Từ ghép Từ ghép hợp nghĩa đất nước, nhà cửa, xinh đẹp,

Từ ghép phân nghĩa xe đạp, nhà máy, cá chép,…

Về ngữ nghĩa, từ tiếng Việt có số lượng vô cùng lớn nên cũng hình thành những hệ thống ngữ nghĩa, trong đó, mỗi từ nằm trong quan hệ về nghĩa với những từ khác Tập hợp từ có chung một hay một vài nét nghĩa sẽ tạo thành trường nghĩa Xét theo thành phần nghĩa có trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm và trường nghĩa liên tưởng Ngoài các trường nghĩa trên, từ tiếng Việt còn có nghĩa biểu cảm, nghĩa liên tưởng

Về ngữ pháp, từ tiếng Việt có đặc điểm ngữ pháp, do đó, từ được phân xuất thành các từ loại Mỗi từ loại là một hệ thống, có đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp, về khả năng kết hợp, về chức năng ngữ pháp trong câu

2.1.2 Từ trong văn chương

Khi sáng tác, người nghệ sĩ cũng dùng chất liệu ngôn ngữ (tự nhiên) để tạo ra các tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương Để làm được điều đó, cần có quá trình chuyển hoá nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của

độc giả IU M Lotman viết: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ

ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là một hệ thống thứ hai Bởi vậy mà người ta xác định nó như là

hệ thống mô hình hoá thứ hai…” [29, 49] Cái hệ thống mô hình hoá thứ hai

Trang 33

mà IU M Lotman nói ở trên chính là ngôn ngữ của nghệ thuật, hay ngôn ngữ

của ngôn ngữ (mã của mã) Sự chuyển hoá từ tín hiệu ngôn ngữ thông thường

(từ tiếng Việt) thành tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật văn chương được thực hiện bằng sự tác động qua lại của nhiều nhân tố: từ ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, từ ngữ cảnh, từ sự cảm thụ của độc giả Một cách chung nhất, tín hiệu ngôn ngữ (từ tiếng Việt) gồm hai mặt: cái biểu đạt là âm thanh và cái được biểu đạt là ý nghĩa (nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người) Khi cấu tạo tín hiệu thẩm mĩ, tổng thể hai mặt của tín hiệu (từ) ngôn ngữ đóng vai trò cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ, còn cái được biểu đạt (của tín hiệu thẩm mĩ) lại

là một ý nghĩa thẩm mĩ Vậy là, từ tín hiệu ngôn ngữ thành tín hiệu thẩm mĩ

đã có sự thay đổi về chất Bởi vì, theo L Hjelmslev: “Trong tác phẩm văn

học, cả cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới” /Dẫn theo

Phan Cự Đệ [10, 15]/

Thực tế sáng tạo văn chương cho thấy, cách thức tổ chức (thể loại) quyết định sự lựa chọn vật liệu Do đó, nếu như từ ngữ trong thơ được lựa chọn do nhiều áp lực (cảm hứng, cá tính sáng tạo, thể thơ, âm luật,…) thì trong văn xuôi, chúng được sử dụng ít bị ràng buộc hơn, chấp nhận mọi lớp

từ, mọi biến thái, mọi chiều kích trong vốn liếng tiếng nói dân tộc để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ

Trong sáng tác văn chương, Tô Hoài có cả một chủ trương về chữ

nghĩa, ông gọi chủ nghĩa tiếng nói: “Làm sao cho mỗi chữ là một hạt ngọc

trên bản thảo, hạt ngọc mới nhất của ta tìm được, do phong cách văn chương của ta mà có được Trang sách mà không có ngọc, trang bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa chữ thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, biết lấy gì mà sống được, không có chữ ngon, chữ bổ nuôi nó, trang viết gầy gùa trống rỗng rồi chết héo” [34, 9]

Trang 34

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

2.2.1 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt phong cách

2.2.1.1 Từ khẩu ngữ

a Số liệu thống kê

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là dạng lời nói thường, dùng

trong cuộc sống hằng ngày, có phong cách đối lập với phong cách viết” [35,

196] Như vậy, từ khẩu ngữ (còn gọi là từ hội thoại) là từ được phát âm từ miệng của con người; lời nói mang tính chất mộc mạc không kiểu cách nhưng giàu cảm xúc tạo sự dễ hiểu, thân thiện cho người nghe Thông qua các từ khẩu ngữ, người nói thể hiện mình là người chất phác, dễ gần

Với mục đích tạo cảm giác chân thật, mộc mạc, thân thiện, dễ hiểu cho người đọc, nhiều nhà văn đã dùng từ khẩu ngữ để làm công cụ đắc lực trong lối trần thuật của mình Sự biến hóa vô cùng của từ khẩu ngữ làm cho từ ngữ, câu văn, lối sáng tạo văn chương của các nhà văn ngày càng thêm phong phú

Do người Việt thích sự chân thật, gần gũi trong giao tiếp cho nên khi nhà văn

sử dụng lớp từ khẩu ngữ là đã chọn đúng kênh giao tiếp, lựa chọn phù hợp mã

giao tiếp với người đọc Cũng như các nhà văn khác, Phan Thị Vàng Anh đã khai thác triệt để sắc thái tu từ của lớp từ khẩu ngữ trong truyện ngắn của mình Thống kê 45 truyện ngắn của chị, chúng tôi thu thập được 514 từ khẩu ngữ, với 573 lượt (tần số) sử dụng Số lượng và tần số từ khẩu ngữ trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh được thể hiện ở bảng dưới đây

Bảng 2.2 Từ khẩu ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

TT TÊN TRUYỆN SỐ TRANG SỐ TỪ, T.SỐ

Trang 35

TT TÊN TRUYỆN SỐ TRANG SỐ TỪ, T.SỐ

Sinh tình Mười ngày Một ngày

“Lão sư”

Trò dối Người có học Nghỉ hè Ngày học cuối Hồng ngủ Đất đỏ Kịch câm Hội chợ Con nuôi

Bỏ trường

Xe đêm Chị em họ Hoài cổ Khách đêm Cha tôi Nhật ký Sau những hẹn hò Chuyện hồng Tưởng

Quà kỷ niệm Một năm chỉ có một ngày

Trang 36

TT TÊN TRUYỆN SỐ TRANG SỐ TỪ, T.SỐ XXXIII

Tự lập

Xa nhà Mưa rơi Tháng bảy Học trò cưng

Có vợ

Có con Tuyền báo thù Bản lĩnh đàn ông

Các lớp từ được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hằng ngày đã ùa vào

trang văn của Phan Thị vàng Anh: bẹp dí, dẻ rách, ngả ngớn, vắng tanh, vắng

teo, (nhớ) thắt ruột, (bị) bịp (rồi), (bẩn) kinh khủng, tí ti (đạo đức), lít nhít,

(trắng) rằn rợ, (nhọn) lê thê, (thấy) ghê, đểu, (mắt) nhắm nghiền, (mắt) đăm

Trang 37

đăm, (giọng) khản đặc, cũn cỡn, lòa loẹt, tít (sân trường), (đỏ) chót, rít

(thuốc), khét mù, (mặt) đỏ ửng, (mắt) sưng mọng, (mùi) thum thủm, (bẩn) kinh

khủng, (lớm chớm) gay, (đỏ) lòe loẹt, đỏ chót, rít (thuốc), khét mù, hoe hoe

(tím), (đen) mọi rợ, phì (cười), (mừng) húm, (buồn) xo, mắm (môi), trợn (mắt), ngồi chồm hổm, v.v

Các tổ hợp từ gia tăng cảm xúc: cười toét miệng, buồn rũ rượi, cười

bâng quơ, cười khúc khích, cười xã giao vu vơ, phì cười, liếc ngang liếc dọc,

vớ vẩn xà cừ, ì oạp như sách tả không, vẻ tư lự hiền triết, đi đi lại lại, bào bào đục đục, mừng mừng tủi tủi, dép đi đằng dép, chân đi bằng chân, thoắt một cái, chẳng có tí ti đạo đức, lầm lầm lì lì, xoen xoét xoen xoét, v.v Chẳng hạn:

Anh bán hàng xoen xoét xoen xoét về những quả dưa và tôi đâm nghi ngờ,

v.v Đó là cách nói tạo sự liền mạch, không ngắt quãng, rất tự nhiên nhằm

miêu tả một cách sinh động về hành vi không bình thường của anh bán hàng, qua đó thể hiện thái độ của tác giả

Các từ và cụm từ khẩu ngữ là một trong những yếu tố gấy ấn tượng mạnh mẽ, tạo sức mạnh lôi cuốn của chủ thể (nhà văn) đối với khách thể (độc giả) Trong các truyện ngắn, Phan Thị Vàng Anh luôn chú trọng đến việc sử dụng ngôn từ sao cho đạt đến mức hiểu quả nhất Vì mỗi truyện ngắn của chị

là một lát cắt cuộc đời, chỉ được kể lại chỉ vài ba trang, cho nên, nếu không biết cách trau chuốt từ ngữ, câu văn,… thì khó có thể níu mắt người đọc Trước hết, Phan Thị Vàng Anh dùng các từ khẩu ngữ để làm nổi bật hình tượng của nhân vật Chẳng hạn:

(1) Nó sạch như một đồng xu, cao to lừng lững, cái mặt non choẹt,

phụng phịu đáng ghét [XVI, 93]

(2) Trẻ con đã mắm môi trợn mắt thảy vòng hai đêm nay, lô tô cũng

đã ra rả hát hai đêm nay Bá đứng chân trên chân dưới một cái bục gỗ ở góc

gian hang, một tay cầm micro điệu đàng như ca sỹ Trẻ con người lớn, kẻ

Trang 38

đứng lô nhô dưới ruộng, trong quầng sáng đô hội của đèn nê-ông, kẻ ngồi

chồm hổm trên bãi cát, tay cầm cục phấn con, chăm chú dò theo mẫu giấy kẻ

ngang, kẻ dọc toàn số… [XIX, 112]

(3) Một đứa con gái đen thui, đeo đầy vàng: những trăng, sao, tim,

heo đeo đầy tay, đầy cổ Nó cỡ mười sáu, chắc nịch và đầy vẻ trong sáng với

má lúm đồng tiền, một bên sâu thăm thẳm,….[XIX, 113]

Mỗi khi mô tả về một sự vật, sự việc hay về con người, Vàng Anh luôn tận dụng hết sức khả năng phong phú của từ khẩu ngữ để làm cho chúng trở nên thực sự chi tiết và hoàn hảo, khám phá và bộc lộ hết tính chất liên quan đến con người hay sự vật mà chị miêu tả Cả một thế giới xung quanh được vẽ lên một cách rõ rệt, chính xác từng tình huống, hợp lý và tự nhiên từng hành động Nhân vật xuất hiện trong những ngữ cảnh khác nhau, mở đầu hay kết thúc câu chuyện, từ suy nghĩ đến hành động của nhân vật,…, chị đều dùng các từ khẩu ngữ khá hợp lý, tự nhiên Chẳng hạn:

(1) Tỉnh dậy trời mờ mờ sáng và tiếng radio, tiếng trẻ con léo nhéo

ngoài đường, tôi mất vài giây để xác định xem lúc này là năm giờ sáng hay

sáu giờ chiều Đầu giường một phong bì với rất nhiều con dấu chồng chéo nằm đợi Tôi cầm lên, nhìn qua một cái rồi nhét xuống giường chiếu

[XXVIII, 163]

(2) Lại mưa, mùa mưa Tôi nghĩ rừng cao su, với những chén đựng mủ

đeo bên hông cây, giờ này hắn buồn lắm Và trong cái nhà ẩm ướt đỏ quạch màu đất ba-dan ấy, chị hai chắc đang ngơ ngẩn nhìn mưa trong đồi cỏ, tóc

dài không không ai tết hộ, lại xõa ra, vô hồn [XVII, 105]

(3) MƯA, CỨ MƯA MÃI NHƯ THẾ NÀY thì tường bao nhiêu quần áo

phơi khô đều mốc hết Từ sang sớm, trời u u ám ám, và cả đoàn lô tô, xổ số

lo lắng, ước lượng:“Không khéo mưa tới đếm!” Người ta ngủ vùi trong

những bảng số sặc sỡ, những thau mủ, mì ăn liền, bột ngọt làm phần thưởng

Trang 39

Tỉnh dậy, thấy trời lành lạnh, đường vắng tanh và không ai đoán được bây

giờ đã là mấy giờ” [XIX, 111]

Cách mở đầu đến khi kết thúc câu truyện, Phan Thị Vàng Anh luôn cho chúng ta cảm nhận được nhiều cảm xúc khác nhau Chúng ta có thể bắt gặp được con người của mình trong đó Chị thường mở đầu bằng khoảng không gian hay âm thanh quen thuộc Thế giới luôn chìm lắng trong cảm xúc của con người, sự cảm thông cho số phận, hay những thắc mắc không ai có thể giải đáp được Trong lớp từ khẩu ngữ, nhà văn cũng hay sử dụng các từ xưng hô mang đậm chất Nam Bộ Chẳng hạn:

(1) Bá cười, vẻ khiêm tốn thật lão luyện: “Thôi, việc đó để tụi mày tạo

không có năng khiếu” [XIX, 113]

(2) Ông Hạo thấy nhẹ cả người, chẳng giận hờn gì cả Nghe tiếng kéo

nước, ông muốn cản cô Thương: “Nghỉ tí đã hãy tắm, không cảm!” Ông bảo

con gái “Để ba xuống lấy quả ớt!” [XXXV, 207]

(3) Hôm nay hai vợ chồng lên Sài Gòn chơi, mua ít đồ tết, rồi ghé dì

Út Tưởng bảo sẽ ở nhà dì một đêm, tối em sẽ dẫn anh đi ăn chè, ngày xưa em vẫn hay đi…” [XXX, 183]

Các từ xưng hô ba, dì thường thấy xuất hiện ở các khu vực Nam Bộ,

khác với ở miền Bắc, cùng một đối tượng có cùng vai vế như nhau, nhưng

cách xưng hô họ rất khác như cô hay thầy,… nhằm tạo sự quen thuộc, dân dã,

đậm tính chất vùng miền của nhân vật

Các lớp từ sử dụng phổ biến trong giao tiếp hằng ngày đã ùa vào truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Chúng được đặt đúng chỗ nên phát huy có hiệu quả sắc thái biểu cảm, thể hiện thái độ của nhà văn Chẳng hạn:

(1) Giống như sinh nhật tôi vừa rồi đấy, một đứa bạn tặng cả một

tượng thạch cao đỏ lòe loẹt, lại hỏi tôi: “dễ thương chứ hả?” thì phải gật đầu chứ biết làm thế nào, rồi cất quách vào trong nhà trong, ” [XII, 76]

Trang 40

(2) Rồi Mỹ nhìn tôi từ đầu đến chân thảm hại, phì cười:“Mọi ngày dữ

lắm mà?” “Không chưa bao giờ tao gặp chuyện ngang ngược như vậy, tao

lạ quá nên không biết làm sao!” Mỹ lại nổi cáu:“Không biết làm sao! Tụi này phải để tao xử luật rừng Mẹ, đồ vô học!” Tôi bảo:“Mày mở miệng là chửi

thề, cái miệng bẩn kinh khủng!” [XIII, 83]

(3) Im lặng một lúc, rồi Hằng nói: “Mấy thằng lô tô đi nhiều mà chắng

thấy ghê há [XIX, 113]

Nhằm gia tăng cảm xúc, khơi gợi những hình ảnh rõ nét về nhân vật trong truyện, Phan Thị Vàng Anh sử dụng hàng loạt từ, tổ hợp từ miêu tả

tiếng cừi: cười toét miệng, cười rũ rượi, cười buâng quơ, cười khúc khích,

cười xã giao vu vơ, phì cười, cười cợt, cười mủm mỉm, v.v Chẳng hạn:

(1) Một người trong quầy gọi “Thảo! Tính tiền bàn chú Tư” và con bé

vừa cười mủm mỉm vừa đi nhanh về phía mấy ông lão đang xỉa răng đợi trả

tiền…[XIX, 113]

(2) Ngồi được một lúc, thầy gọi vài đứa học trò ra một góc dặn dò, tụi

nó dạ dạ rồi nắm tay Châu:“Đi chụp hình chị Châu!” Rồi chỉ một đưá con

trai đầu đội mũ bánh tiêu đứng cười toe toét, chờ đợi:“Thợ của em

đó”…[XXXII, 190]

Các từ tổ hợp liếc ngang liếc dọc, vẻ tư lự hiền triết, khi đi đi lại lại,

bào bào đực đực, mừng mừng tủi tủi, dép đi đằng dép, chân đi bằng chân, thoắt một cái, bào bào đục đục, chẳng có tí ti đạo đức, lầm lầm lì lì, xoen xoét xoan xoét,… cũng xuất hiện dày đặc trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh

Chẳng hạn:

(1) Ngày cuối tuần, ngồi trong căng-tin mà không phải liếc ngang liếc

dọc canh chừng thầy, nhìn anh một cách bình tĩnh, lại vẫn là cảm giác thán

phục ông Trời, sao lại làm nên người đẹp thế!”[XIV, 86]

(2) Lúc đầu chỉ lầm lũi xách một cuộn dây, lăn từ nhà này sang nhà

kia, buộc dây thun cho chắc đâu đó xong thì ra đứng trước cửa hỏi về nhà:

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo Kiểu từ Các tiểu loại  Ví dụ  - Từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn phan thị vàng anh
Bảng 2.1. Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo Kiểu từ Các tiểu loại Ví dụ (Trang 32)
Bảng 2.3. Từ mượn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh - Từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn phan thị vàng anh
Bảng 2.3. Từ mượn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (Trang 43)
Bảng 2.4. Từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh - Từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn phan thị vàng anh
Bảng 2.4. Từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (Trang 48)
Bảng 2.6. Từ ghép trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh - Từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn phan thị vàng anh
Bảng 2.6. Từ ghép trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w