Có thể kể đến Đọc “Đồng bạc trắng hoa xòe” của Hoàng Tiến, Đọc “Đồng bạc trắng hoa xòe” của Trần Đăng Suyền, Chiều sâu một vùng đất biên giới của Nghiêm Đa Văn, Cuộc chiến tranh tiễu ph
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TUẤN VŨ
NGHỆ AN - 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG 6
1.1 Sơ lược tiểu sử tác giả 6
1.2 Các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 8
1.3.Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC CỦA TÁC PHẨM MỘT VÙNG ĐẤT HOANG VÀ NHỮNG CUỘC GẶP GỠ 24
2.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm 24
2.1.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm 24
2.1.2 Những thành phần chủ yếu của cấu trúc tiểu thuyết 28
2.2 Tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ của Ma Văn Kháng có dáng dấp của tiểu thuyết chương hồi 34
2.2.1 Khái niệm tiểu thuyết chương hồi 34
2.2.2 Dáng dấp tiểu thuyết chương hồi trong Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ… 44
2.3 Cấu trúc của tiểu thuyết luận đề ở Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ 49
2.3.1 Khái niệm tiểu thuyết luận đề 49
2.3.2 Các yếu tố của cấu trúc tiểu thuyết luận đề trong Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ 50
2.4 Tiểu kết chương 2 59
Trang 4Chương 3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MỘT VÙNG
ĐẤT HOANG VÀ NHỮNG CUỘC GẶP GỠ 63
3.1 Khái niệm nhân vật trong tác phẩm tự sự 63
3.1.1 Nhân vật của tác phẩm tự sự 63
3.1.2 Nhân vật tiểu thuyết 66
3.2 Đặc điểm của nhân vật trong Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ 74
3.2.1 Những nhân vật chính có tính chất của loại nhân vật tiểu thuyết luận đề 74
3.2.2 Nhân vật được đặt trước những thử thách cao độ và tức thời, bộc lộ chính kiến bằng hành động 77
3.2.3 Nhân vật thống nhất ngoại hình và thực chất, thể hiện quan niệm con người có tướng số 78
3.3 Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong văn học kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng công cuộc đổi mới (1986), tiểu thuyết là một trong những thể loại có nhiều thành tựu nhất
Ma Văn Kháng là một tác giả văn xuôi trong mấy thập kỷ qua đã sáng tạo nên những tác phẩm được đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình tiếp nhận với sự hứng thú và đánh giá cao Thành công của tác giả còn được khẳng định bằng những giải thưởng lớn: Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (1998); Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt 1, năm 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt IV, năm 2012 Văn xuôi của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu thuyết của tác giả này nói riêng rất đáng được nghiên cứu
Tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ là một sáng
tác mới của Ma Văn Kháng (dòng lạc khoản cuối tác phẩm ghi “tháng 1 năm 2015” và sách do Nxb Hội Nhà văn ấn hành năm 2015) Nhìn nhận tác phẩm này trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng và trong tiểu thuyết Việt Nam hiện nay, chúng tôi đều thấy nó có nhiều điểm độc đáo Chẳng hạn ở đầu các chương đều có tóm lược nội dung chương trong một đến ba câu Nhân vật chia làm hai tuyến và có những nhân vật lý tưởng - điều ít gặp trong tiểu thuyết gần đây Phải chăng đây là những biểu hiện của đổi mới mình của tác giả?
Trên đây là những lý do khiến tôi nghiên cứu đề tài “Đặc điểm tiểu
thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ của Ma Văn Kháng”
Trang 6bình, về sau trở thành một hướng tiếp cận mang tính chuyên sâu Có
thể kể đến Đọc “Đồng bạc trắng hoa xòe” của Hoàng Tiến, Đọc
“Đồng bạc trắng hoa xòe” của Trần Đăng Suyền, Chiều sâu một vùng đất biên giới của Nghiêm Đa Văn, Cuộc chiến tranh tiễu phỉ ở Vùng biên ải của Trần Đăng Suyền, Đọc "Vùng biên ải" của Lê Thành Nghị, Tiểu thuyết về đề tài dân tộc miền núi của Ma Văn Kháng của Nguyễn
Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Toại trong Đọc các sáng tác của Ma Văn
Kháng, nghĩ về trách nhiệm của nhà văn trước một đề tài lớn, Trần
Thị Thanh Huyền với Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn
Kháng Nhìn chung các khảo sát nghiên cứu về tác giả Ma Văn
Kháng ở đề tài miền núi đều khẳng định Ma Văn Kháng có nhiều đóng góp cho việc nhận thức chân thật và sáng rõ về đời sống nhân dân các
dân tộc miền núi phía Bắc Tổ quốc
2.2 Những nghiên cứu tiểu thuyết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng
Các tiểu thuyết: Mưa Mùa hạ (1984;) Mùa lá rụng trong vườn (1985;) Đám cưới không có giấy giá thú (1989); Côi cút giữa cảnh đời (1989); Chó Bi, đời lưu lạc (1992); Ngược dòng nước lũ (1999) đã một
thời gây sóng gió trong dư luận bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình Các nhà nghiên cứu khẳng định Ma Văn Kháng thực sự trở thành một cây bút sắc sảo trong việc phản ánh những vấn đề cuộc sống đang trở thành băn khoăn nhức nhối Khẳng định Ma Văn Kháng là nhà văn có ý thức trong việc đổi mới đề tài và bút pháp, đóng góp quan trọng cho
văn học Việt Nam ở thể loại tiểu thuyết thế sự đời tư
2.3 Nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng ở các phương diện nghệ thuật
Ở hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Bình, Đỗ Phương Thảo, Đỗ Hải Ninh đã chỉ ra những thành tựu của Ma Văn Kháng ở những phương diện nghệ thuật tự sự cảm hứng sáng tạo của một mỹ cảm độc
Trang 7đáo, ngòi bút linh hoạt biến hóa
2.4 Nghiên cứu Ma Văn Kháng ở góc độ sáng tạo nhân vật tiểu thuyết
Đánh giá về nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, các nghiên cứu đều khẳng định thành công của nhà văn trong việc xây dựng các kiểu nhân vật mang những nét đặc sắc riêng, có bút pháp miêu tả nhân vật độc đáo Ở những tác phẩm ở giai đoạn đầu các nhà nghiên cứu nhìn thấy khả năng "huy động hàng trăm nhân vật" thì ở những tác phẩm sau này, họ lại chú ý tới bút lực khám phá nội tâm nhân vật ở các phương diện đời sống khi đối diện với những xung đột và mâu thuẫn xã hội cũng như cá nhân con người với con người (Trần Đăng Suyền, Lã Duy Lan, Đỗ Phương Thảo) Các nhà nghiên cứu cho rằng nhà văn đã xây dựng được những kiểu nhân vật tiểu thuyết
mang mầu sắc riêng
2.5 Những ý kiến trực về phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nhận định về phong cách Ma Văn Kháng, Trần Cương cho rằng, Ma Văn Kháng có "một phong cách trữ tình, trầm tĩnh và sâu lắng, đôi khi nồng nhiệt say sưa, đậm đà hương vị văn hóa dân tộc- truyền thống đã thấm nhuần vào cách cảm, điệu nghĩ và quyết định giọng điệu chính của tác phẩm" Nguyễn Thị Huệ quan sát giọng điệu và ngôn ngữ của Ma Văn Kháng nhận định: "Với phong cách trữ tình trầm lắng, duyên dáng, trong sáng, tình ý đằm sâu trong từng câu chữ" Nhấn mạnh cảm quan hiện thực và cái nhìn nhân đạo đối với con người, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, đặc điểm phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng là "phong cách hiện thực - cảm thương, từng trải, tinh tế mà gan ruột, đằm thắm", Đoàn Trọng Huy trong
Ngọn cờ đổi mới có sức vẫy gọi đánh giá Ma Văn Kháng là một "phong cách
hào sảng đa dạng mà nhất quán" Phạm Duy Nghĩa trong Văn xuôi Việt
Nam hiện đại về miền núi lại nhìn thấy ở Ma Văn Kháng một phong cách
nghệ thuật mang "cảm quan dương tính "; Đỗ Hải Ninh nhận ra ở Ma Văn
Trang 8Kháng một phong cách "đủng đỉnh nhìn trước ngó sau xuyên sâu từng ngõ ngách và lí giải" [59]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những đặc điểm chung và đặc điểm riêng của tiểu thuyết Ma
Văn Kháng trong tập Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ
3.2 Hướng đến mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Chỉ ra những đặc điểm của Một vùng đất hoang và những cuộc gặp
gỡ về phương diện cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Làm rõ màu sắc của tiểu thuyết luận đề của tiểu thuyết này
- Chỉ ra được những thành công của tác giả khi dùng những quan hệ trong lao động sản xuất để biểu thị những xung đột đạo đức, dùng yếu tố nghệ thuật mang màu sắc xưa cũ để tác động đến thị hiếu của độc giả hôm nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc
gặp gỡ ở các phương diện: cấu trúc tác phẩm, nhân vật, quan hệ giữa đề tài
và chủ đề tác phẩm, quan hệ giữa việc tái hiện cuộc sống những năm đầu thống nhất đất nước ở một nông trường phía Nam với việc đề cập đến những giá trị lâu dài của con người…
Văn bản dùng để nghiên cứu: Một vùng đất hoang và những cuộc gặp
gỡ, Nxb Hội Nhà văn, 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại
Trang 96 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn có ba
chương:
Chương 1: Tổng quan về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Chương 2: Đặc điểm về cấu trúc của tác phẩm Một vùng đất hoang và
những cuộc gặp gỡ
Chương 3: Đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết Một vùng đất
hoang và những cuộc gặp gỡ
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG
1.1 Sơ lược tiểu sử tác giả
Nhà văn Ma Văn Kháng (tên khai sinh: Đinh Trọng Đoàn), sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 Quê gốc: phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1974)
Từ tuổi thiếu niên Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được đi học ở Khu học xá Trung Quốc Năm 1960, ông vào Đại học Sư phạm Hà Nội Tốt nghiệp, ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, từng là hiệu trưởng trường trung học Về sau ông được Tỉnh ủy điều về làm thư ký cho bí
thư tỉnh ủy, rồi làm phóng viên, phó tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh
Ông khá am hiểu phong tục tập quán của bà con các dân tộc Bí danh Ma Văn Kháng được dùng là bút danh đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của ông đối với miền đất ông từng hoạt động trên 20 năm, nơi ông coi như quê hương thứ hai của mình Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến nay, ông về công tác tại Hà Nội, từng làm Tổng biên tập, phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 03-1985, ông là ủy viên Ban Chấp hành, ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà văn khóa V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Ở cương vị nào, ông cũng là người dễ mến, sống chan hòa với mọi người
Kể từ tác phẩm đầu tay Phố cụt (1961) đến nay, trải qua gần 50 năm
lao động sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Kháng đã có một gia tài văn chương với trên 200 truyện ngắn và hơn 10 cuốn tiểu thuyết Ông viết cần mẫn, chuyên nghiệp, “chi chút như con ong làm mật”, cho đến nay
đã xuất bản nhiều tác phẩm: Đồng bạc trắng hoa xoè (tiểu thuyết, 1979);
Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983), Trăng non (tiểu thuyết, 1984); Mưa
Trang 11mùa hạ (tiểu thuyết, 1982); Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985); Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết, 1989 ); Đám cưới không giấy giá thú
(tiểu thuyết, 1989); Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết, 1992); Ngày đẹp
trời (truyện ngắn, 1986); Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn, 1988); Trái chín mùa thu (truyện ngắn, 1988); Heo may gió lộng (truyện ngắn,
1992); Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn, 1994); Ngoại thành (truyện ngắn, 1996); Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập, 1996); Vòng quay
cổ điển (truyện ngắn, 1997); Đầm sen (Tập truyện ngắn, 1997); Một chiều giông gió (1998); Ngược dòng nước lũ (tiểu thuyết, 1999); Gặp gỡ
ở La Pan Tẩn (tiểu thuyết, 2001); Trốn nợ (Tập truyện ngắn 2008); Một mình một ngựa (2009); Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
(Hồi ký, 2009)
Ma Văn Kháng là một cây bút văn xuôi sung sức Khối lượng tác
phẩm của ông khá đồ sộ và những tác phẩm ấy đã "neo lại" trong lòng
bạn đọc Ông đoạt nhiều giải thưởng văn học ở cả hai thể loại: Truyện
ngắn Xa phủ (giải nhì không có giải nhất) của tuần báo Văn nghệ 1968 - 1969; tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn được giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985, tập truyện Trăng soi sân nhỏ tặng thưởng của Hội
đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 và Giải thưởng Văn học
Đông Nam Á 1998, truyện ngắn San cha chải giải thưởng cây bút vàng
trong cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn đồng tổ chức Đặc biệt năm 2001, Ma Văn Kháng vinh dự được nhận Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật với cụm tác phẩm
Đồng Bạc trắng hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn, Trăng soi sân nhỏ
Và gần đây nhất ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cho tiểu
thuyết Một mình một ngựa
Ma Văn Kháng là một trong số hiếm các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết trên
Trang 12nhiều loại đề tài Ông xứng đáng được đánh giá là một nhà văn tiểu
thuyết rất thành công
1.2 Các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng, nhà văn từng được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại” (Lưu Khánh Thơ), kém ít tuổi so với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải nhưng cũng thuộc nhóm đại biểu tinh anh của văn học một thời, xứng danh là một trong những ngọn cờ tiên phong đổi mới Trong đoàn kỵ mã oai hùng, mấy chiến hữu hàng tướng
lĩnh đã ra đi, Ma Văn Kháng vẫn Một mình một ngựa cùng đồng đội
“giương thẳng nghĩa kỳ” mải miết cuộc trường chinh vào chiến trận nhân văn để tiêu diệt cái xấu, cái ác trên đời
Trong khoảng dăm năm sau chiến tranh, dư âm chiến thắng còn vang vọng, văn học theo quán tính còn được viết theo cảm hứng sử thi:
Vùng trời của Hữu Mai, Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu… Phải đến những năm đầu thập niên 80
mới có dấu hiệu đổi mới từ các cây bút tên tuổi
Hành trình sáng tác văn học của tác giả này gắn liền với bút danh
Ma Văn Kháng Bút danh này xuất phát từ sự gắn bó ân tình với một cán
bộ cách mạng công tác trên miền núi, nơi thầy giáo trẻ Ma Văn Kháng với trái tim đầy nhiệt huyết đem con chữ lên vùng cao dạy học Bút danh
Ma Văn Kháng xuất hiện cùng với truyện ngắn đầu tay Phố cụt (1961),
viết về số phận của vài ba con người quần tụ trong một ngõ phố nhỏ heo hút miền núi Ở nơi đây, tình yêu và hạnh phúc đã nhen nhúm và nảy nở một cách dung dị, chất phác từ những mảnh đời đơn chiếc, từng trải qua những cảnh xót xa, nát lòng dưới chế độ cũ Truyện ẩn chứa tấm lòng ấm
áp, nhân hậu của người viết, sự thông cảm muốn cưu mang, sẻ chia giữa các nhân vật với nhau, truyền vào người đọc niềm tin yêu Những người lao động lương thiện, dù có bị hoàn cảnh xô đẩy, làm cho phôi pha, song
Trang 13họ vẫn giữ được sự bao dung và phẩm cách của con người Tuy nhiên,
bạn đọc chỉ thực sự biết đến văn tài của ông khi truyện ngắn Xa phủ xuất
hiện Ở tác phẩm này, “Ma Văn Kháng cố gắng tạo cho mình một cách viết riêng, phản ánh chân thực con người và cuộc sống của các dân tộc miền núi Tây Bắc" [91] Cũng vào khoảng thời gian này, Ma Văn Kháng
về Hà Nội học Kết thúc chương trình Đại học Văn khoa, Ma Văn Kháng càng thêm thấm thía: chỉ đi vào đời sống, "cày sâu cuốc bẫm", thì vẫn chưa đủ, khó mà bay cao, vươn xa Còn phải học thêm từ thầy cô, bạn
bè, từ sách vở và tự học Ma Văn Kháng cứ cần cù, bền bỉ đi vào cuộc sống, gặp gỡ, hỏi han, ghi chép rồi lặng lẽ, khiêm nhường chuyển hoá những hiểu biết về cuộc sống nhân dân, những hiện thực của đất nước, lên những trang viết của mình Bút lực Ma Văn Kháng dần được khẳng định với giải thưởng (giải nhì) cuộc thi truyện ngắn 1967 - 1968, tuần
báo Văn nghệ và từ những truyện ngắn được in chung, ông liên tiếp cho
ra đời 5 tập truyện ngắn trong bốn năm 1969 - 1972, trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1974
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai
- mảnh đất được xem như là quê hương thứ hai mà ông gắn bó trên 20 năm - trở về Hà Nội hoạt động với tư cách là nhà văn chuyên nghiệp Một giai đoạn sáng tác mới được mở ra cho nhà văn Sáng tác của ông
nở rộ, bút lực càng tỏ ra sung sức, đề tài được mở rộng, nhiều chủ đề được khai thác sâu Cùng với truyện ngắn, ông cho ra đời hàng loạt tiểu
thuyết có giá trị, phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc miền núi: Gió
rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983) và sau
này là Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), bộc lộ một vốn sống hiếm có về
miền núi Vì vậy, ông được mệnh danh là "nhà văn của núi rừng" Trong một bài trả lời phỏng vấn, ông nói về xuất xứ của những tác phẩm này:
“Chính những vùng đất tôi đã sống và đã đi qua, những con người hiền
Trang 14hậu, trong trẻo, hồn nhiên, giàu tình cảm đã thôi thúc tôi viết nên Đồng
bạc trắng hoa xoè, Mưa mùa hạ, Vùng biên ải Còn chất liệu? Không
phải đi đâu tìm mà nó có sẵn trong cuộc sống hàng ngày” Ông luôn tâm niệm “sống rồi mới viết, quan trọng là sự trải nghiệm của bản thân, của
suy ngẫm trước cuộc sống”
Đan xen với những tiểu thuyết viết về miền núi là những tác phẩm viết về đề tài đô thị Năm 1976 về sau là giai đoạn hậu chiến tranh, cuộc sống đầy rẫy những hậu quả nặng nề, dai dẳng Những hậu quả đó lại diễn ra trong lòng của một cơ chế quan liêu bao cấp quá lỗi thời, đang kìm hãm sự phát triển của một nền kinh tế xã hội Ma Văn Kháng trở về xuôi, như người đi xa trở về chốn cũ, ôn lại chuyện đã qua, tận mắt thấy bao nhiêu cái lạ nghịch mắt, người mới, việc mới, giục giã nhà văn phải
viết, phải nói Tiểu thuyết Mưa mùa hạ (1982) là cuốn tiểu thuyết đầu
tiên ông viết về cuộc sống đô thị, sau mấy năm trở về xuôi làm công tác xuất bản Khi tiểu thuyết này xuất hiện, không ít bạn đọc ngỡ ngàng về
sự đổi mới của nhà văn trong tiếp cận hiện thực và nhìn nhận con người
Tiểu thuyết tập trung phát hiện, khẳng định ngợi ca những con người mới của lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phê phán đấu tranh khá mạnh mẽ với những phần tử cơ hội, thói quan liêu vụ lợi, lối sống ti tiện, quay quắt,
vô đạo đức Nhiệt tình công dân của người viết thật bộc trực; tác phẩm trong bối cảnh xã hội ta lúc ấy, là một tiếng nói nghệ thuật rất cần thiết
đề cao lương tri và lẽ phải trước sự thao túng, hoành hành, lấn lướt của cái tiêu cực, cái xấu, cái trì trệ Tác phẩm là dự cảm nhạy bén về sự tất yếu của việc dấy lên cao trào đổi mới, lấy dân làm gốc Mấy năm sau đó,
một loạt tiểu thuyết đề tài thành thị như Mùa lá rụng trong vườn (1985),
Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), lần
lượt ra đời, làm sôi động đời sống văn học, tạo nên những cuộc tranh luận không dễ nhất trí trên báo chí Tác giả hóa thân vào các nhân vật
Trang 15anh giáo Tự (Đám cưới không có giấy giá thú), nhà báo Luận (Mùa lá
rụng trong vườn) để len lách vào các ngõ ngách của cuộc sống, đối diện
với cuộc sống, đối thoại với các nhân vật, như một lời thề quyết liệt: Phải chiến đấu cho cái đẹp! Dẫu sao thì ở trung tâm vòng xoáy lắng nhiều cặn, anh dễ nhận ra cái vẩn đục pha tạp vào dòng nước trong Anh dùng vũ khí văn học đối mặt với cái xấu Dần dần, từ một Ma Văn Kháng từ văn xuôi lịch sử, phong tục đã chuyển sang văn xuôi đời tư, thế sự, phức tạp mà đa đoan, không thuần nhất Ma Văn Kháng không né tránh các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội hôm nay nhìn dưới góc độ đạo đức, nhân sinh Với nhãn quan tinh tế, thái độ bao dung và tấm lòng nhân ái, ông chăm chú đến những cảnh sinh hoạt đời thường, những quan hệ, những cách ứng xử phô bày sự lựa chọn theo lợi ích cá nhân của đời sống bị chi phối bởi kinh tế thị trường Những tiểu thuyết này đánh dấu bước trưởng thành của Ma Văn Kháng trong sự nghiệp viết văn
của mình
Ở mảng truyện ngắn, Ma Văn Kháng tiếp tục gặt hái thành công
Ông được nhận giải thưởng cây bút vàng cho truyện ngắn San cha chải
trong cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998, do Bộ Công an và Hội
Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức Với tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ,
ông nhận phần thưởng của Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam (1995) và nhận giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 1998 Đây là một phần thưởng quý giá, tôn vinh tài năng văn xuôi Ma Văn Kháng Tập truyện ngắn này thể hiện lòng nhân ái, tình yêu thương con người, sự chia xẻ, cảm thông của tác giả với những số phận thiệt thòi Tác phẩm
rất thành công trong việc thể hiện cách tư duy của người miền núi
Năm 1999, Ma Văn Kháng xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 10, ra đời
sau cuốn tiểu thuyết đầu tiên tròn 20 năm - Ngược dòng nước lũ, đánh
dấu thời kỳ chín muồi của tài năng và đỉnh cao bút lực sung mãn của nhà
Trang 16văn Ma Văn Kháng đã biến tất cả những thứ thu lượm được thành năng lượng tâm hồn và trào chảy ra đầu ngòi bút, như suy nghĩ của văn sĩ
Khiêm trong Ngược dòng nước lũ: “Ôi! Sức viết vốn dồi dào của anh giờ
như nhờ thêm một nội lực chống trả hoàn cảnh đã trở thành một xung
triết lý Hà Trọng Bảo cho rằng Trốn nợ là một tập truyện ngắn đồng thời cũng là một tập tự luận về triết lý sống của Ma Văn Kháng Trốn nợ
cho chúng ta một sự suy tư về cuộc sống nhiều hơn là cảm thụ văn học
Sự can thiệp của nhà văn khiến cho các nhân vật đều có giọng điệu triết
lý na ná nhau và dễ nhận ra đó là giọng điệu của chính tác giả Đọc các truyện ngắn trong tập có thể thấy tính luận đề đã lấn át hình tượng nhân
vật
Tám năm kể từ sau tác phẩm Gặp gỡ ở La Pan Tẩn xuất bản vào
năm 2001, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng không xuất hiện trong khi truyện ngắn của ông vẫn đều đặn xuất hiện trên văn đàn Mãi đến 8 năm
sau, tác giả của Mùa lá rụng trong vườn mới tái xuất với cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa Cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện của
nhà văn Các sự kiện, tình huống, tâm trạng, hành động của nhân vật đều
có nguyên mẫu được tiểu thuyết hóa theo yêu cầu của thể loại Trước đó
đã có lúc ông tâm sự, ông thôi không viết tiểu thuyết nữa vì đã đến lúc
ông thấy mình yếu rồi Thế nhưng đến khi Một mình một ngựa ra đời,
hỏi ra thì ông bảo, cuốn này ông ấp ủ từ lâu, từ cái thời thôi không làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy nữa, ông đã có tư liệu để viết, bây giờ ông chỉ
Trang 17kể lại thôi Vẫn với một giọng văn khó lẫn, tác giả của những tiểu thuyết
đã đi vào lòng bạn đọc như Mùa lá rụng trong vườn, Mưa mùa hạ, Đám
cưới không có giấy giá thú,… tiếp tục thử sức mình với cách viết mới,
lấy cảm hứng từ niềm say mê trước vẻ đẹp kiêu hùng của con người giữa cuộc đời gian truân, còn nhiều khuyết tật, đầy mặc cảm cô đơn và dạt dào sức sống mãnh liệt
Sau những tập tiểu thuyết, truyện ngắn hấp dẫn bạn đọc qua nhiều
thập kỷ, Ma Văn Kháng vừa cho ra mắt cuốn hồi ký Năm tháng nhọc
nhằn, năm tháng nhớ thương với giọng văn đặc sắc mà bạn đọc từng
biết Tác giả hồi ức lại những sự kiện nếm trải trong những năm sống ở Tây Bắc Cuốn sách gợi cho người đọc liên tưởng và nhớ lại những trang văn tiểu thuyết biên niên về miền núi của ông Nhà văn ôn lại kỷ niệm với học trò vùng biên, với đồng nghiệp ngành Giáo dục và đồng nghiệp viết văn, với bạn bè Người yêu văn ông chắc sẽ bị hút vào chuyện ông
kể xung quanh việc ra đời của những cuốn Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng
trong vườn, Ngày đẹp trời, Heo may gió lộng, Trăng soi sân nhỏ và
sách của những nhà văn đương đại khác
Như vậy, Ma Văn Kháng đi trọn hành trình sáng tạo văn học gần
50 năm, tích luỹ được những kinh nghiệm dạn dày và vốn sống phong phú, với tài năng và thực tế trải nghiệm của đời mình, ông đã cho ra mắt bạn đọc một khối lượng tác phẩm lớn và gặt hái được những thành công đáng kể Nhìn lại con đường văn chương, ông đã có gần 20 đầu sách, chủ yếu là thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Và ở thể loại nào
Ma Văn Kháng cũng có những thành tựu và đóng góp nhất định cho văn học Việt Nam đương đại Với kinh nghiệm làm báo lâu năm và là một người viết cần mẫn, có bề dày về thành tựu sáng tác, Ma Văn Kháng đã nêu lên một tấm gương về một nhà văn - nhà báo gắn bó với đời sống nhân dân, bền bỉ phấn đấu cho sự phát triển của xã hội, cho
Trang 18sự hoàn thiện của nhân cách, cho sự hữu ích về cái hay, cái đẹp của văn chương
Ma Văn Kháng được đánh giá là nhà văn thành công trên cả hai thể loại: truyện ngắn và tiểu thuyết Nếu như ở mảng truyện ngắn, Ma Văn Kháng tỏ ra là một ngòi bút khá điêu luyện về nghề nghiệp thì ở tiểu thuyết, sức sáng tạo của ông cũng khiến đồng nghiệp nể trọng Cho đến nay, Ma Văn Kháng đã xuất bản 13 cuốn tiểu thuyết Sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung cũng như ở mảng tiểu thuyết nói riêng đề cập đến hai đề tài chính: miền núi và thành thị
Hơn 20 năm gắn bó với bà con dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, với một mảng tư liệu ngồn ngộn, ngòi bút Ma Văn Kháng khai phá mảnh đất phì nhiêu đó và gặt hái được nhiều thành công ở hàng loạt truyện ngắn và
đặc biệt là các tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè, Vùng biên ải, Gặp gỡ
ở La Pan Tẩn, Trăng non, và gần đây nhất là Một mình một ngựa Nhà
nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện khẳng định: "Ma Văn Kháng đứng vào hàng ngũ hiếm hoi của các nhà văn dân tộc Kinh viết về dân tộc miền
núi ở nước ta" [77] Người đọc có thể tìm thấy ở các tiểu thuyết này
những bức tranh sống động, những chuyện, những con người và con đường của người dân tộc thiểu số đã tìm tòi để hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc, thấy được khát vọng sống trong độc lập và tự do và lịch sử đấu tranh đau thương mà anh dũng, quả cảm, đời sống thường nhật, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ của các dân tộc anh em trên dải đất Tây Bắc Đọc những bộ tiểu thuyết như những cuốn sử biên niên dầy dặn về vùng đất phía Bắc, độc giả có cảm tưởng không còn gì ở vùng núi Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc Ma Văn Kháng không chạm đến
Tiểu thuyết Gió rừng là tiểu thuyết đầu tiên đề cập đến cuộc sống
của người dân Tây Bắc Tác phẩm phản ánh cuộc vận động định canh,
Trang 19định cư kết hợp xây dựng các vùng kinh tế mới ở miền núi, thực hiện chủ trương lớn của Đảng trong phát triển kinh tế ở những năm đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội miền Bắc nước ta
Đồng bạc trắng hoa xòe là tiểu thuyết viết về những chiến sĩ cách
mạng thực hiện chuyến đi dũng cảm vào các vùng thổ ty, chúa đất, thế tập phiên thần, đem tiếng nói cách mạng đến với nhân dân các dân tộc thiểu số đang trong vòng xiềng xích phong kiến xây dựng những lực lượng cách mạng từ trong lòng dân, đế quốc, thiết lập chính quyền cơ sở, gấp rút chuẩn bị kháng chiến Trong tiểu thuyết này, tác giả tái hiện các
sự kiện: Quốc dân Đảng tụ lại ở Lào Cai; các thổ ty chúa đất tiếp kiến các chiến sĩ cách mạng… trong đó sự kiện trung tâm là hành động dấn thân của hai chiến sĩ: Lê Chính và Kiến vào lãnh địa phong kiến vận động cách mạng Ma Văn Kháng đã dựng lên hàng loạt nhân vật, lối đa tuyến bình đồ, nhân vật nào cũng có đường dây riêng, phát triển tâm lý
và tính cách như là một nhân vật chính Không gian chuyển dịch luôn luôn tạo một cảnh tượng rộng lớn cho bức tranh văn học, có điều kiện để các nhân vật thỏa sức vẫy vùng Nhịp độ nhanh, nhiều sự việc, nhiều hành động Lối dựng này đáp ứng được dung lượng rộng lớn của những cơn lốc cách mạng, hàng loạt người lột xác hoặc thoái hóa, sự đổ vỡ của những giá trị cố hữu, những ngã ba đường, sự đụng độ giữa chân thiện
mỹ với những thế lực hắc ám đã tàn tạ Lối dựng này rất ít thấy trong
tiểu thuyết nước ta Với Đồng bạc trắng hoa xòe, Ma Văn Kháng đã
khẳng định chỗ đứng trong loại hình tiểu thuyết
Tiếp nối Đồng bạc trắng hoa xòe là tiểu thuyết Vùng biên ải Tác phẩm tái hiện đời sống xã hội ở miền núi Tây Bắc Tổ quốc trong giai
đoạn đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những buổi ban đầu Tiểu thuyết tập trung diễn tả công cuộc tiểu phỉ phản loạn đầy gian nan khổ ải của quân và dân ta ở vùng biên giới Việt - Trung từ năm 1951 đến năm
Trang 201953, đập tan được ổ phỉ do tên Châu Quán Lồ cầm đầu và được thực dân Pháp nuôi dưỡng, viện trợ cùng với một số tên khác như Giàng Lữ, Seo Cấu…, đòi lập nước Mèo tự trị Các chiến sĩ cách mạng cùng với nhân dân các dân tộc miền núi có ý thức cách mạng đã đứng lên đấu tranh chống lại bọn phản loạn Trong cuộc đấu tranh này, những con người mới đã thực hiện rõ nét vai trò của mình Nhân vật phản diện cũng được miêu tả đến tận cùng tính cách
Tiểu thuyết Trăng non khai thác những mâu thuẫn rối trong mối
ràng buộc gia tộc, bộ tộc miền núi trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Nhân vật trong tiểu thuyết này là những con người của các dân tộc miền núi mang lý tưởng đẹp đẽ của các cộng đồng trong cuộc đấu tranh chống nghèo nàn lạc hậu: nghiện hút, đánh đập phụ nữ, đốt rừng phá rẫy,
mê tín dị đoan… để xây dựng một cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa ngay trên mảnh đất biên cương của Tổ quốc
Gặp gỡ ở La Pan Tẩn viết về phong trào lớp trẻ xung phong lên
miền núi, xây dựng và phát triển văn hóa vùng dân tộc ít người Câu chuyện diễn ra ở La Pan Tẩn xoay quanh nhân vật thầy giáo Thiêm và Quốc Thanh, đặc phái viên của huyện trong nhiệm vụ gieo chữ ở vùng đất còn nghèo nàn lạc hậu Tác phẩm đã xây dựng thành công chân dung hai nhân vật Thiêm là hình mẫu lý tưởng của con người mới trên mặt trận xây dựng văn hóa giáo dục ở miền núi Ngược lại, Quốc Thanh là chân dung kẻ mạo danh những điều cao cả để thõa mãn những lợi quyền ích kỷ của chính mình Cuộc đấu tranh giữa hai nhân vật diễn ra ở nhiều tình huống, xung đột và các nhân vật từ đó bộc lộ rõ nét tính cách của mình
Một mình một ngựa là cuốn tiểu thuyết thứ 13 của Ma Văn Kháng,
và có lẽ cũng là cuốn tiểu thuyết cuối cùng như ông nói Tác phẩm có dáng dấp một cuốn tự truyện Nhà văn vẽ lại chân dung những con người
Trang 21mà mình đã từng được sống và làm việc qua con mắt nhìn của một ông giáo, một tiểu trí thức, trong tinh thần thực sự cầu thị Nhân vật Toàn trong tiểu thuyết chính là hiện thân của nhà giáo Đinh Trọng Đoàn (tên thật của nhà văn Ma Văn Kháng), khi đang là giáo viên cấp 3 thì được điều sang làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy - một công việc trái với sở thích
và nghề nghiệp của anh nhưng anh vẫn nghiêm chỉnh chấp hành Để rồi
từ đó, tất cả những con người, những tính cách, những số phận, những công việc diễn ra ở một cơ quan lãnh đạo cao nhất trong một tỉnh miền núi lần lượt được kể lại, được soi rọi qua nhãn quan của nhân vật Toàn
Đó là một Ban thường vụ gồm năm đồng chí và một bộ máy giúp việc, đứng đầu là Bí thư Quyết Định xuất hiện với hình ảnh rất kiêu hùng trong những ngày đầu giành chính quyền Họ đều là những con người chất phác, trung thành, nhiệt tình cách mạng, yêu quý đồng bào, sẵn sàng
hy sinh trước gian khó Đó là những hình ảnh thật đẹp đẽ của một thời
đã qua, cho dù những con người đó vẫn mang trong mình không ít hạn chế, nhược điểm và cả mặc cảm cô đơn trước cuộc sống Trong truyện,
có nhiều trường đoạn tác giả đã có cái nhìn hài hước nhưng rất chia sẻ về một thời, một thế hệ cán bộ mang nhiều nét đẹp, lạ nhưng cũng đầy những bất cập Nhưng chính họ là những người đã làm nên cuộc cách mạng và phải khẳng định không có họ, không thể có ngày hôm nay Tiểu thuyết về đề tài miền núi có thể xem như bộ cẩm nang thu gọn về tập tục, cảnh sắc, tâm tính của một vùng núi Nhà văn đã khai thác thành công ưu thế về vốn sống miền núi, tái hiện những bức tranh sinh động về cuộc sống và chiến đấu của con người ở mảnh đất này
Sau hai mươi năm xông xáo ở miền biên ải, Ma Văn Kháng trở về
Hà Nội, vào thời điểm nền kinh tế thị trường mở ra, từng con người trong xã hội bộc lộ khá rõ phẩm chất của mình với tất cả những mặt tốt mặt xấu Nhà văn đã phát huy được ưu thế của mình, trình làng một loạt
Trang 22tác phẩm viết về cuộc sống thành thị, ghi được dấu ấn trong bạn đọc:
Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi đời lưu lạc, Ngược dòng nước lũ Trong
một cuộc gặp mặt ở báo Văn nghệ, năm 1990, nhà Việt Nam học người Nga Nikulin có nói: "Ông Ma Văn Kháng đã từ miền núi xuống đồng bằng" Đưa ra nhận xét đó, hẳn là ông đã đọc các tác phẩm này
Mưa mùa hạ là tiểu thuyết đầu tiên rất thành công của Ma Văn
Kháng viết về đề tài thành thị Tác phẩm viết về công việc của những người nghiên cứu phương pháp tìm diệt tổ mối phá hoại thân đê Nhưng chủ đề chính của tác phẩm lại thể hiện “cuộc đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, ngăn trở cuộc sống chân chính, cản bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [66] Các nhân vật chính của tác phẩm Trọng, Nam, ông Cần… đều là những người tốt, say mê lý tưởng, sống cao đẹp, luôn luôn
có trí hướng phấn đấu, vươn lên để góp sức xây dựng cuộc sống Trong quá trình phấn đấu họ gặp biết bao khó khăn, vất vả cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần Trọng luôn luôn bị những người xấu chèn ép, cản trở, cuộc sống gặp bao khó khăn, tình yêu tan vỡ… Nam bị kẻ xấu lợi dụng, dồn đẩy, ông Cần cũng vậy Kết thúc tác phẩm thì Trọng chết, Nam chết, ông Cần mất con và trở thành người cô đơn Đó là những kết cục bi thảm Nhưng cái đáng nói, đáng để tâm, cái để lại được ấn tượng sâu đậm trong lòng mọi người lại không phải là kết cục buồn đau, bi thảm mà niềm tin vào con người vào cuộc đời Bởi vì ở trong mỗi nhân vật ta vẫn thấy ánh lên những phẩm chất đáng quý, đáng ca ngợi Thông qua số phận của Trọng, của Nam và một phần nào đó cuộc đời của ông Cần, ba của Trọng Ma Văn Kháng đặt ra một vấn đề xã hội lớn lao, sâu sắc để chúng ta trăn trở, suy ngẫm đó là: Cuộc đấu tranh của con người với cái xấu, cái ác, những hiện tượng tiêu cực, ngăn trở cuộc sống chân chính, cản trở bước đi lên của xã hội
Trang 23Mùa lá rụng trong vườn kể chuyện một gia đình trí thức còn giữ
nhiều nền nếp cổ truyền Đây là một gia đình kiểu “tứ đại đồng đường” Trong gia đình lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (gia đình Đông -
Lý, gia đình Luận - Phượng và sau này có thêm vợ con Cừ) Bề ngoài đây là một gia đình mô phạm mẫu mực, có nề nếp gia phong “Ôi cái gia đình gồm hai ông bà xưa nay được tiếng là mô phạm mẫu mực, với năm anh con trai, năm hòn ngọc quý, anh là liệt sĩ, anh đóng trung tá, anh làm nhà báo, anh đi học nước ngoài… anh nào cũng đẹp người đẹp nết, cùng mấy cô con dâu cán bộ nhà nước, cô nào cũng đảm, cũng dễ thương, ưa nhìn, cái gia đình rất đáng tự hào về sự hoà mục, tiêu biểu cho các quan
hệ của con người trong một gia đình thuộc xã hội mới” Vậy mà cuộc sống khó khăn, đầy biến động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình “mẫu mực” ấy vào một bước ngoặt với những dấu hiệu rạn nứt rõ ràng, không dễ khắc phục Tác phẩm còn đề cập một thực trạng đáng báo động của xã hội buổi giao thời: hiện tượng có không ít người có lối sống ích kỷ, chỉ biết chạy theo dục vọng cá nhân, chạy theo đồng tiền, thoát ly truyền thống đang phá vỡ mọi chuẩn mực, băng hoại đạo lý truyền thống
Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời kể về Duy và một thân phận
trẻ nhỏ bị xô đẩy, phiêu dạt Tác giả đứng ở vị trí cậu bé Duy khi 15 tuổi nhìn lại mười năm tuổi thơ của mình Ngây thơ, bé bỏng, vụng dại mà trí tuệ, thông minh, sắc sảo, với một bản năng tự nhiên hướng
về cái thiện mà trường đời là thầy Và trường đời, đối với bé Duy, lại
là những khổ đau bất công và đắng cay Nhưng cái thiện ở Duy không nảy sinh ngẫu nhiên, vì nó có sự ươm mầm ở một phía khác -
Đó là bà nội, như một nhân vật cổ tích; là đứa em còi cọc như một đòi hỏi che chở; và không ít gương mặt khác trong cuộc sống như là điểm tựa tình thần cho con người Duy cho ta hình ảnh một sự chống
Trang 24chọi để vượt lên bao đau khổ, oan khổ mà không quá tầm với tuổi lên mười, mà không cường điệu, giả tạo Từ bé Duy, một câu hỏi đặt ra cho xã hội: bối cảnh nào, đất đai nào đã gieo trồng được những mầm cây ấy? Dứt khoát không phải tiền bạc, sự giàu có, dư dật, sức mạnh quyền lực, thói ăn trên ngồi trốc, sự móc ngoặc và những liên minh
ma quỷ Và một chọn lựa cho số đông các bậc bố mẹ; hạnh phúc lớn nhất cho mỗi đơn vị gia đình, không thể là của cải, tiền tài, sự giàu sang, mà là những đứa con nên người, những đứa con như sự tiếp tục của cuộc đời
Đám cưới không có giấy giá thú là một tiểu thuyết luận đề, tính
luận đề của tác phẩm dày đặc và mạnh bạo qua những đoạn đối thoại giao đãi, những khắc khoải tâm lý các nhân vật Nhân vật chính trong tác phẩm là Tự, một con người luôn khắc khoải, dằn vặt bởi sự sa sút của nhân cách người thầy giáo, đầy lo lắng buồn tủi về thế cuộc nhưng luôn gắng giữ cho trọn tấm lòng một người thầy, dành hết tâm lực cho học sinh Tự là một mẫu người tri thức thật đẹp và cô đơn Qua tiểu thuyết này, dường như Ma Văn Kháng viết về bản thân, trong cái nhìn tổng quan mấy chục năm ở một trường cấp 3 bé nhỏ tại một tỉnh lẻ, với biết
bao hạnh phúc và tủi buồn Tác phẩm đặt ra cho người đọc những vấn đề
lớn về con người, về cuộc sống
Năm 1992, Ma Văn Kháng có tiểu thuyết Chó Bi, đời lưu lạc gợi
lại số phận của một trí thức tài hoa, có tầm tư tưởng đi trước thời đại Cuộc đời Thuần vấp nạn, phải vào tù Cần (con trai Thuần) trải qua bao gian nan vất vả trong cuộc sống, chấp nhận những đau đớn, rủi ro, hi sinh, mất mát trong quá trình đấu tranh để vươn lên cuộc sống Kết thúc tác phẩm là niềm tin mãnh liệt của Cần vào tương lai, vào lẽ công bằng của cuộc đời, vào quy luật không gì cưỡng được của tự nhiên, một niềm tin vào hạnh phúc
Trang 25Tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ kể câu chuyện về hai nhân vật
Khiêm và Hoan Khiêm, nhà văn kiêm biên tập đã có gia đình, Hoan là người đọc bản in thử, làm việc trong cùng một toà soạn Hoan và Khiêm, hai nhân vật chính trong tác phẩm đã cố gắng tạo ra thế giới riêng cho mình, một hòn đảo giữa dòng thác lũ cuồn cuộn của thói tham lam, phản trắc khắp xung quanh Điều mà cuối cùng họ muốn tìm là một cuộc sống
có ý nghĩa hơn cuộc truy đuổi triền miên tiền bạc, quyền lực và hư danh, một cuộc sống đem đến niềm vui cá nhân cũng như lợi ích tập thể Họ đã tìm kiếm tính cách phức tạp của mình và cả những điều họ coi là tính mục đích của những năm chiến tranh và tính lý tưởng đang thiếu vắng Cuộc tìm kiếm đưa hai người lại gần nhau rồi chia lìa họ ra những hành trình riêng rẽ, và chúng ta nhìn thấy hình ảnh nước Việt Nam hiện đại Hành trình của Khiêm đưa anh trở về với cội nguồn đồng quê, về mặt truyền thống thì đó là tâm điểm của đổi mới và sức mạnh Anh có thể đến những nơi mà mình cảm thấy thiếu vắng rồi trở về sau khi cuộc đời
đó được làm lại Sự trở về của Hoan lại đưa chị tới một nơi đó bị huỷ hoại bởi những con người và những giá trị mà chị chạy trốn, nơi đó bị thúi tham tàn, bị những khách sạn, nhà chứa làm ô uế Trong khi dựng chân dung của Khiêm như một con người có động cơ trong sáng, một con người nhất quán thì thành công của Ma Văn Kháng trong tác phẩm này là sáng tạo ra nhân vật Hoan đáo để mà dịu dàng, thông minh tinh tế
và mê tín, yêu và khao khát Khiêm Hoan đã đạt tới tầm phức tạp trong
số những nhân vật nữ của văn học Việt Nam
Với truyện ngắn, Ma Văn Kháng là người “có duyên” thì ở thể loại
tự sự dài hơi ông được xem là “một nhà văn viết tiểu thuyết rất thành công” Theo ông, "Tiểu thuyết là cái đích nhắm tới Là giấc mộng huy hoàng của một đời văn" Vì vậy, ông dành nhiều tâm huyết cho thể loại này và đạt nhiều thành tựu Nhiều tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của
Trang 26Ma Văn Kháng được nhiều nhà phê bình và ban đọc quan tâm Từ những năm 80 và nhất là bước vào thời kỳ đổi mới, tiềm năng mới về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được phát lộ Sống trong môi trường đô thị thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ của đất nước, Ma Văn Kháng đã tự đổi mới mình, vượt lên chính mình Ông đã chuyển từ cảm hứng ngợi ca sang cảm hứng nói lên sự thật, chuyển từ đề tài đấu tranh cách mạng của các dân tộc ở miền núi phía Bắc sang đề tài cuộc sống nơi đô thị đầy phức tạp, đa đoan với một loạt tác phẩm đề cập đến cuộc sống gia đình, vấn đề người trí thức Mối quan tâm của nhà văn lúc này là số phận con người, những con người nhỏ bé bình thường, trước thực trạng xã hội ngày càng xuống cấp, nhân tình thế thái đảo điên Bằng nhạy cảm của tâm hồn nghệ sỹ, ông đã nhanh chóng nhận ra mặt tương phản gay gắt của cuộc sống Với ngòi bút đặc biệt nhạy cảm với mặt trái của xã hội, với nỗi đau của con người, ông đã thể hiện chân thành, sâu sắc niềm tâm cảm đó Những trang viết của ông đều thấm đẫm khát vọng tình đời tình người
1.3.Tiểu kết chương 1
Ma Văn Kháng có quá trình sáng tác tiểu thuyết liên tục, bền bỉ Với hành trình sáng tác gần 50 năm cần mẫn, say mê, và một sức mạnh làm việc đôi khi đến kinh ngạc, Ma Văn Kháng đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương đồ sộ, bề thế ở cả hai loại hình tiểu thuyết, truyện ngắn Bằng cái tâm và tài, Ma Văn Kháng đem đến cho người đọc nhiều trang văn giàu giá trị nhân văn Đặt mục tiêu cao cả “viết để bảo vệ, khẳng định những giá trị chân chính của cuộc sống con người”, nhiều tác phẩm của Ma Văn Kháng ở cả lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết đạt nhiều giải thưởng cao từ quốc gia đến khu vực Những giải thưởng này
là sự ghi nhận công lao, đóng góp của ông cho văn chương nước nhà nói chung, cho thể loại tiểu thuyết nói riêng
Trang 27Tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ là tiểu
thuyết mới nhất của tác giả, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm
2015 Tiểu thuyết này viết về việc thành lập một nông trường ở Miền Nam Thông qua việc tái hiện quá trình xây dựng nông trường, tác giả thể hiện sự xung đột giữa những nhân sinh quan khác nhau Tác phẩm này lạ cả về cấu trúc, cách xây dựng nhân vật, cách thể hiện chủ đề so với các tiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng
Một cái nhìn bao quát về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng giúp ta nắm được về đại thể diễn trình sáng tạo thể loại này của Ma Văn Kháng, thấy được những thành quả của nhà văn và sự đóng góp của ông cho tiểu thuyết nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung Chương này
cũng góp phần tạo cơ sở để nghiên cứu đặc điểm của tiểu thuyết Một
vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ Đặc điểm của một tiểu thuyết sẽ
bộc lộ rõ khi đặt nó bên cạnh những sáng tác cùng thể loại của tác giả
Trang 28Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC CỦA TÁC PHẨM
MỘT VÙNG ĐẤT HOANG VÀ NHỮNG CUỘC GẶP GỠ
2.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm
2.1.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm
Từ trước đến nay đã có nhiều phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học theo nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc tiếp cận tác phẩm văn học không bị phiến diện mà chính xác và sâu sắc hơn thì phương pháp luận nghiên cứu cấu trúc tác phẩm đã khảo sát và đưa ra được các bình diện nghiên cứu một cách toàn diện
Cấu trúc là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Trên mức độ lớn, có thể nói sáng tác tức là kết cấu Khi người ta nói xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật, xây dựng cấu tứ trong thơ, thì đã xem tác phẩm như một công trình kiến trúc Bản thân thuật ngữ cấu trúc cũng mượn tự kiến trúc hội họa Từ những vật liệu khác nhau, trên một không gian nhất định, người ta có thể xây dựng nên những công trình hợp mục đích và hợp lí tối đa Cấu trúc trong tác phẩm văn học cũng vậy Nó cũng nhằm tạo ra một công trình hợp mục đích và hợp lí tối đa Khái niệm kết cấu, cấu trúc có bốn nội dung cơ bản sau: Cấu trúc là liên hệ cơ bản trong quan hệ giữa hình thức và nội dung tác phẩm văn học Trong tác phẩm tự sự, cấu trúc là cơ sở của hình thức truyện, đồng thời cũng là một cách bao quát của nội dung câu chuyện Các loại tài liệu chất liệu đời sống thông qua sự tổ hợp đa tầng thứ, đa chiều kích của cấu trúc hình thành nên hình thức nghệ thuật mang nội
dung tự sự cụ thể Thuật ngữ cấu trúc vừa có tính chất của một danh từ
mà cũng có cái nghĩa động từ Trước hết đối với nhà văn mà nói, cấu trúc là có tính động từ Nhà văn lựa chọn đề tài, tiến hành cấu trúc lại tài
Trang 29liệu hiện thực đời sống Kế đó, trên phương diện văn bản tác phẩm mà nói, cấu trúc chính là chỉ sự tổ chức các nhân tố nghệ thuật đã được xác định vào bố cục văn bản cụ thể Lúc này, cấu trúc chính là có tính cách của một danh từ Cuối cùng, quá trình đọc hiểu tác phẩm yêu cầu độc giả tiến hành một sự tìm hiểu song song đồng thời với quá trình đọc rồi tiếp liền đó là một sự bao quát tổng thể tác phẩm sau khi đọc có tính chất cấu trúc hoá, để rồi có thể có được một hình dung trong ký ức về một nội dung hoàn chỉnh Cấu trúc ở đây tương đương với việc độc giả trên cơ sở văn bản tác phẩm cụ thể cấu trúc lại một hình tượng trong ký ức của sự đọc Đây là quá trình động, trong quá trình này mà nói, cấu trúc cũng có
ý nghĩa như là một động từ
Để hiểu đầy đủ về cấu trúc tác phẩm văn học, trước hết, cần nhận rõ cấu trúc nhiều tầng bậc của nó Các yếu tố trong từng tầng bậc có kiểu liên kết riêng và biểu hiện nội dung riêng, đồng thời các tầng bậc lại liên kết với nhau thành chỉnh thể tác phẩm Toàn bộ cấu trúc ấy thể hiện vào văn bản đảm bảo sự bền vững cho tác phẩm văn học Các khái niệm thời gian, không gian nghệ thuật cho thấy cách tổ chức của thế giới nghệ thuật Lí thuyết kí hiệu, giao tiếp cho thấy cấu trúc văn bản là phương tiện biểu đạt trực tiếp tạo ra ý nghĩa
Chúng tôi thấy cần thiết phải chỉ ra một điều là, khi chúng ta bình giá cấu trúc một tác phẩm nào đó, việc đầu tiên không phải là đem cấu trúc tác phẩm đó so sánh với cấu trúc một tác phẩm nào khác, càng không nên lấy những tổng kết chung chung có sẵn kiểu "chặt chẽ hài hoà", "gọn gàng cân đối" hoặc "trùng điệp ẩn hiện", "mạch lạc khúc chiết" làm tiêu chuẩn để đánh đánh giá thành bại của cấu trúc một tác phẩm cụ thể Rõ ràng, không một sự vật nào tồn tại mà không kết cấu; sự tồn tại của bản thân sự vật khẳng định sự tồn tại cấu trúc của nó Ngược lại cũng vậy Trong nghệ thuật, cấu trúc là một hiện tượng chức năng,
Trang 30chỉ có thông qua phân tích trực tiếp mới phát hiện được giá trị thực sự và
vẻ đẹp độc đáo của nó, cũng chỉ thông qua sự phân tích trực tiếp đó chúng ta mới giải thích được ý nghĩa của sự tồn tại của cấu trúc tác phẩm Cấu trúc là liên hệ cơ bản trong quan hệ giữa hình thức và nội dung tác phẩm văn học Thế nhưng, cho đến nay dường như các nhà nghiên cứu còn thiếu đi một quan niệm rõ ràng về ý nghĩa và chức năng nghệ thuật thực sự của cấu trúc tác phẩm Các nhà nghiên cứu có lúc lấy việc nghiên cứu "câu chuyện","truyện" của tác phẩm làm nội dung chủ yếu trong việc tìm hiểu cấu trúc tác phẩm, đem cấu trúc sinh động của tác phẩm cụ thể xem thành một thực thể cố định để phân tích và miêu tả Đối với những nhà nghiên cứu này mà nói, cấu trúc dường như chỉ có tính cách một danh từ Có lúc các nhà nghiên cứu vô hình chung thoát ly văn bản tác phẩm, trên thực tế chỉ bàn đến vấn đề nhà văn lựa chọn các tài liệu cuộc sống cùng chuyện nhà văn làm thế nào để sắp xếp, tái cấu trúc chúng vào tác phẩm, tức chỉ nhấn mạnh một cách phiến diện tính chất động từ của thuật ngữ kết cấu
Thực ra, thuật ngữ cấu trúc vừa có tính chất của một danh từ mà
cũng có nghĩa động từ Trước hết đối với nhà văn mà nói, cấu trúc là có tính động từ Nhà văn lựa chọn đề tài, tiến hành cấu trúc lại tài liệu hiện thực đời sống Kế đó, trên phương diện văn bản tác phẩm mà nói, cấu trúc chính là chỉ sự tổ chức các nhân tố nghệ thuật đã được xác định vào
bố cục văn bản cụ thể Lúc này, cấu trúc chính là có tính cách của một danh từ Cuối cùng, quá trình đọc hiểu tác phẩm yêu cầu độc giả tiến hành một sự tìm hiểu song song đồng thời với quá trình đọc rồi tiếp liền
đó là một sự bao quát tổng thể tác phẩm sau khi đọc có tính chất cấu trúc hoá, để rồi có thể có được một hình dung trong ký ức về một nội dung
hoàn chỉnh (the achieved content) Cấu trúc ở đây tương đương với việc
độc giả trên cơ sở văn bản tác phẩm cụ thể cấu trúc lại một hình tượng
Trang 31trong ký ức của sự đọc Đây là quá trình động, trong quá trình này mà nói, cấu trúc cũng có ý nghĩa như là một động từ
Tóm lại tư duy cấu trúc vừa hiện diện trong quá trình sáng tác mà cũng tồn tại trong quá trình tiếp nhận tác phẩm thông qua hành động đọc hiểu
Như chúng ta đã biết, bản thân thuật ngữ cấu trúc được mượn từ
hội hoạ và kiến trúc Cấu trúc chính là tổ hợp những tài liệu khác nhau trong một không gian nhất định nhằm hoàn thành công trình hợp lý tối
đa về cấu trúc, thoả mãn đến mức cao nhất mục đích đã định của công trình Trên đại thể, hoàn toàn có thể nhìn nhận vấn đề cấu trúc tác phẩm dưới một góc độ như vậy
Khái niệm cấu trúc là một công cụ lý luận quan trọng trong phê bình phân tích tiểu thuyết Rõ ràng, tiểu thuyết là một hoạt động của nghệ thuật tự sự ngôn từ, do vậy cấu trúc tiểu thuyết phải được tìm hiểu trên cơ sở quan sát cả ba bình diện sáng tác (viết), văn bản (tác phẩm tri giác bằng sự đọc), tiếp nhận (đọc hiểu giải mã) Trong quá trình sáng tác, tác giả tổ chức các tài liệu đời sống và kinh nghiệm nhân sinh, bỏ
đi chỗ "thừa", lấy vào chỗ "thiếu", dung hợp thành những bức tranh nghệ thuật được khái quát theo những quy luật thẩm mỹ nhất định Việc
tổ chức này chính là quá trình xây dựng cấu trúc hình tượng tác phẩm Nói cụ thể, đó chính là nghệ thuật đem những nội dung khác biệt về không gian - thời gian thống nhất lại với nhau Nghệ thuật đem các nhân tố tinh thần và vật chất; sống động, lưu chuyển và tĩnh tại, tồn tại sẵn; hữu hạn và vô hạn; chủ quan và khách quan… kết hợp thành hình
tượng tác phẩm thống nhất Trong ý nghĩa này mà nói, cấu trúc chính
là sáng tác Cấu trúc hình tượng tác phẩm sản sinh đồng thời với ý đồ
nghệ thuật và được cụ thể hoá dần theo chân sự tiến triển của hình tượng nghệ thuật
Trang 32Cấu trúc tác phẩm cụ thể có thể phản ánh những quan hệ nằm sâu trong lòng một cấu trúc ngôn ngữ, thậm chí là cấu trúc của cả một nền văn hoá, thế nhưng cấu trúc cụ thể đó bao giờ cũng là một vẻ đẹp cá biệt không lặp lại của tư duy nghệ thuật cụ thể
Mặt khác, trong tư cách là một phương diện của hình thức nghệ thuật, cấu trúc cũng không thể chỉ là hệ thống của các kỹ xảo và thủ pháp được tổng kết Cấu trúc tác phẩm phục vụ cho nhiệm vụ nghệ thuật
cụ thể, nó không thể thoát ly khỏi sự biểu đạt nội dung nhất định Cấu trúc tác phẩm là tổ chức ngữ ngôn trình hiện một vẻ đẹp cá biệt, bởi vì
nó không chỉ được tổ chức theo khuôn mẫu của một truyền thống thể tài Chủ yếu hơn, nó là sản phẩm trực tiếp của sự phát hiện và tái tạo mô hình thế giới hiện thực bằng nghệ thuật (ngôn từ) Giá trị thực sự của sự tồn tại cấu trúc tác phẩm cụ thể là ở chỗ cấu trúc đó khác biệt với cấu trúc của tất cả các tác phẩm khác
2.1.2 Những thành phần chủ yếu của cấu trúc tiểu thuyết
Tiểu thuyết Việt Nam ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc về mặt thể loại trước hết phải nói đến ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi Tiểu thuyết này thuộc loại hình văn hóa trung cổ, xuất hiện, định hình
và phát triển trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XIX Thuộc thể loại tự sự văn xuôi, tiểu thuyết chương hồi xuất hiện
từ lâu nhưng phát triển mạnh mẽ nhất trong thời kỳ Minh - Thanh và
có thể chia làm ba loại: dân gian, bác học và thị dân Ba loại này có tính độc lập tương đối nhưng cũng có sự giao thoa, thâm nhập lẫn
nhau Có thể tìm thấy dấu ấn của ba loại này trong các tác phẩm Tam
Quốc chí, Tây du ký… Nhìn tổng quát, tiểu thuyết chương hồi thời kỳ
Minh - Thanh thuộc thể loại trung gian giữa truyện kể sử thi và tiểu thuyết hiện đại
Trang 33Tiểu thuyết chương hồi bắt nguồn từ những thoại bản Thoại bản là những văn bản làm gốc để người kể thuật chuyện cho thính giả nghe Đối với người kể chuyện mỗi hồi là một quyển dùng để kể trong một buổi, một kỳ hoặc một đêm Để hấp dẫn người nghe và giúp người nghe
dễ theo dõi câu chuyện, trước khi kể tiếp, người kể có mấy câu thơ giới thiệu, nhắc lại những đoạn đã kể một cách sơ lược Kết thúc buổi kể, thường ở ngay vào chỗ gay cấn, hồi hộp nhất sẽ dừng lại ở câu “muốn biết việc thế nào xin xem hồi sau phân giải” Vì bắt đầu từ thoại bản nên trong tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc yếu tố kể còn lưu dấu rất rõ Những chữ “rằng” xuất hiện trong lối kể như: “Đổng Trác hỏi rằng, Trương Phi nổi giận mà rằng…” chính là dấu tích của truyện kể, khác với tiểu thuyết là để đọc thầm
Tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc kết cấu theo trình tự thời gian đơn tuyến, xoay tròn, khép kín Ở đây thời gian là cái trục chính để dẫn dắt sự kiện, biến cố và số phận nhân vật Những sự kiện có trước nói trước, có sau nói sau theo đúng thời gian lịch sử Trong loại tiểu thuyết anh hùng thời gian diễn ra thật gấp gáp, khẩn trương Thời gian trong tiểu thuyết đời thường là dàn trải, chậm chạp Không gian ở đây là không gian không biên giới, không phải biến động tự thân mà hầu như tĩnh tại và tác giả có thể khống chế được
Trong tiểu thuyết Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hình thức
kết cấu chương hồi có thể thấy ở các tác phẩm như Nặng gánh cang
thường, Nhơn tình ấm lạnh,… của Hồ Biểu Chánh; Giọt máu chung tình, Gia Long tẩu quốc… của Tân Dân Tử; Việt Nam anh kiệt, Lê triều Lý thị… của Phạm Minh Kiên
Kể cả trong những tiểu thuyết tôn giáo đăng trên báo Nam Kỳ địa
phận, tờ báo của Thiên chúa giáo, thi pháp của tiểu thuyết chương hồi
cũng có phần lấn lướt hơn Các nhà văn vẫn sử dụng lối kết cấu theo thời
Trang 34gian đơn tuyến Điều này không chỉ thấy trong tác phẩm dài hơi đầu tiên
Truyện ông Gioang Ngô Kim Thạch của Charles Ngọc Minh, mà còn
thấy ở những tiểu thuyết xuất hiện sau năm 1930 như Nhị độ mai (1933) của Phêrô Nghĩa, Tiếng oanh (1942) của Nhuận Thân , mặc dù các tác
giả là nhà văn Công giáo, có nghĩa là họ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây Ở đây các tác gia Công giáo đã khéo léo sử dụng tinh thần và các phạm trù đạo đức của Nho giáo, đồng thời dùng hình thức tiểu thuyết chương hồi để phục vụ cho việc truyền Thánh tôn giáo của mình
Tiểu thuyết Trung Quốc còn chi phối cách miêu tả ngoại hình nhân vật, cách tả cảnh, tả tình… Câu văn biền ngẫu còn tồn tại khá rõ trong nhiều tác phẩm cũng cho ta thấy ảnh hưởng sâu sắc này Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, một số nhà viết tiểu thuyết Nam Kỳ vẫn quan tâm nhiều hơn đến việc miêu tả hành động và ngôn ngữ của nhân vật Về
đề tài, nhiều nhà văn chú ý đến hành động của các nhân vật anh hùng, những con người nghĩa hiệp, hảo hán, ca ngợi những con người nghĩa khí Đó cũng là sự gặp gỡ thú vị giữa "truyện Tàu" và cá tính của con người Nam Bộ
Loại truyện tài tử - giai nhân Trung Quốc cũng có ít nhiều ảnh hưởng đến nội dung cốt truyện của một số tác phẩm tiểu thuyết ở Nam Kỳ
Hình ảnh Vương Thế Trân - Nhan Khả Ái trong Phan Yên ngoại sử, Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà trong Giọt máu chung tình, Lý Phụng Tiên và
Hồ Ngọc Sương trong Việt Nam anh kiệt… rất gần gũi với loại nhân vật
tài tử giai nhân của "truyện Tàu"
Các nhà văn Nam Kỳ cũng chịu nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết bình dân Trung Quốc Qua thống kê của Nhan Bảo, một nhà Việt Nam học người Trung Quốc, chúng ta thấy trường hợp các tiểu thuyết như
Gái trả thù cha, Man hoang kiếm hiệp, Tiểu hồng bào hải thụy, Giang hồ
Trang 35nữ hiệp của Nguyễn Chánh Sắc; Nhi nữ tạo anh hùng của Gabriel Võ
Lộ,… thực chất cũng được dịch từ những tiểu thuyết bình dân của Trung Quốc Vì thế phải hết sức cẩn trọng khi nghiên cứu các tác phẩm của giai đoạn này, tránh việc gán ghép không chính xác những tác phẩm dịch hoặc mô phỏng, phóng tác từ tiểu thuyết Trung Quốc cho các tác giả Việt Nam
Nhưng không chỉ có tiểu thuyết cổ điển, tiểu thuyết hiện đại của Trung Quốc cũng đã kịp ảnh hưởng đến tiểu thuyết Nam Kỳ đầu thế kỷ
XX Lê Hoằng Mưu đã thú nhận điều này trên Lục Tỉnh Tân Văn số 1941
ngày 2.2.1925: “Tiểu thuyết Hoan hỉ kỳ oan này chẳng trọn ở tôi bày đặt Trừ các bộ tiểu thuyết ở tôi làm ra, truyện này vẫn là tiểu thuyết kim thời của Trung Huê cách mạng Xem qua thật là phong tình xằng xịu nhởm nhúa lắm, trong xứ ta chưa có bộ tiểu thuyết nào dám bì Nhưng bởi trong có nhiều khúc chiết éo le, lại cũng có vay trả nhãn tiền và có thói tục đàn bà Nên muốn có tiểu thuyết khác ý tôi viết để độc giả mua vui trong canh vắng tôi mượn tạm bộ tiểu thuyết này chế giảm và sửa tình cảnh lại chút ít hiến chư tôn nhàn duyệt”
Khi nền văn hóa phát triển thì tiểu thuyết Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tiểu thuyết Trung Quốc nữa mà vươn ra theo chiều hướng chung của tiểu thuyết thế giới Quá trình phát triển thể loại tiểu thuyết hiện đại ở các nền văn học Châu Âu cho thấy hai hướng cấu trúc tiêu biểu:
Tiểu thuyết mở
Tiểu thuyết mở có ngọn nguồn từ Đôn Kihôtê (1605, 1615), miêu tả
xã hội một cách đa diện, tạo các lý do thật chi tiết cho sự tiến triển của nhân vật chính, cho nhân vật này can dự vào nhiều biến cố và những biến cố ấy lại là nơi cư ngụ cho vô số nhân vật phụ Kiểu tiểu thuyết này cũng đặc trưng ở sự miêu tả rộng rãi hoàn cảnh ngoại giới khách quan
mà trước nhất là hoàn cảnh xã hội
Trang 36Umberto Eco viết: "Mọi các tác phẩm nghệ thuật, ngay cả khi nó là một hình thức đã hoàn tất về tổ chức đã được định cỡ một cách chính xác, đều là mở, ít ra là trong những gì mà nó có thể được diễn giải từ những cách khác nhau "
Nói một cách dễ hiểu: tác phẩm mở là một hệ thống những ký hiệu
có thể được diễn dịch ra đến vô tận Nhưng đối với Tadié, ông không đề cập đến sự mở về nghĩa, về các ý nghĩa, mà là cấu trúc Không phải là những tác phẩm trong sự hoàn tất của nó mà trong sự hình thành của nó: bởi vậy, Tadié nói, sự chú ý của phê bình mang tính khoa học về các bản thảo của Flaubert, Proust, Joyce là có tính chất hiện đại Việc làm đó không phải là đi tìm lại một ý nghĩa duy nhất, mà hơn thế là tìm lại cái bất ngờ, sự lóe ra mang tính chất nguyên lai, cái tự do
Như vậy ta thấy quan niệm về đóng, mở của hai người có khác nhau
do xuất phát từ hai hướng nghiên cứu khác nhau Umberto Eco quan niệm
về "tác phẩm đóng" theo nghĩa không còn diễn giải gì được nữa về ý nghĩa trong tác phẩm, mọi thứ đã được nhà tiểu thuyết nói trắng ra hết rồi; còn
"Tác phẩm mở" (cũng là tên một tác phẩm của Eco) là mở ra vô tận về ý nghĩa Ngược lại, Tadié như chúng ta vừa thấy, ông đi tìm cấu trúc mở theo nghĩa đi tìm hình thù nguyên lai trong sự sáng tạo của nhà văn Tadié coi những tác phẩm có cấu trúc mở là những tác phẩm được sắp xếp theo kiểu
số học này đã thông Thảnho rằng đó là một tác phẩm mở, bởi những tính toán của nó rất thường khi bị giấu đi và ý nghĩa của nó mang tính tượng trưng Tác phẩm mở còn nằm ở những cấu trúc mẩu đoạn hoặc cấu trúc cắt dán, lắp ghép, bấp bênh, cấu trúc chưa hoàn tất
Tiểu thuyết phương Tây đã tiến rất xa trên hành trình gần 10 thế kỷ của mình qua những biến đổi về kỹ thuật tự sự của nó, trong đó có vấn
đề cấu trúc Sartre nói: "Chúng ta đang sống trong thời đại của sự suy tư
Trang 37và tiểu thuyết bắt đầu suy ngẫm về bản thân nó" Nói cách khác: nhà văn bắt đầu suy ngẫm về tiểu thuyết trong thời đại suy tư
Từ đó nội dung cuộc sống cũng được kể theo một kiểu khác:
"Một cuốn tiểu thuyết trình bày một cốt truyện có đầu có cuối không phải thuộc về sáng tạo của thể loại Một số tiểu thuyết đương đại chẳng hề kể gì cả Tuy nhiên, tiểu thuyết thường xuyên phải mang lại - nếu không đã không phải là tiểu thuyết - một ý thức về thời lượng mà
ở bên trong nó có vô vàn những biến cố để chiếm chỗ" (Pierre Louis Rey) Cái vô vàn những biến cố đó là nội dung xã hội, lịch sử, hòa bình, chiến tranh, yêu ghét, cưới xin, tang ma cả những suy tư về
chính tiểu thuyết đã đến chiếm chỗ trong những thời lượng của Đi tìm
thời gian đã mất hay trong bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào đó được gọi là
đích thực
Tiểu thuyết đóng
Tiểu thuyết theo xu hướng cấu trúc "đóng" có thể tính ngọn nguồn
từ tác phẩm Quận chúa Clèves (La princesse de Clèves, 1678) của nữ sĩ
M.M de La Fayette, thể hiện sự tập trung vào cuộc đời của một con người, đôi khi vào chỉ một xung đột, một tình huống, do đó mang tính hướng tâm, đồng tâm, xét về kết cấu Xu hướng cấu trúc tiểu thuyết này
đã rất sớm trở thành ngọn nguồn của những sáng tác tiểu thuyết tâm lý giai đoạn sau
Một tác phẩm khép lại chính nó, cái kết thúc gặp gỡ cái mở đầu, cũng mới chỉ là một cách hiểu về kiểu đóng "Một truyện kể, được kết thúc bởi tác giả của nó, có một kết luận rõ ràng, thì cấu trúc của nó là đóng"
Trong loại cấu trúc này, Tadié nghiên cứu 3 kiểu mẫu: Tiểu thuyết về cá nhân, về gia đình và về tập thể Chính những thủ pháp của việc kể chuyện, như việc kể theo trục tu yến tính của thời gian,
Trang 38theo đó là trật tự trước sau của các biến cố, trình bày nhân vật một cách rõ ràng, các nơi chốn cụ thể của cuộc phiêu lưu, là những mẫu mực cho kiểu cấu trúc đóng
2.2 Tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ của
Ma Văn Kháng có dáng dấp của tiểu thuyết chương hồi
2.2.1 Khái niệm tiểu thuyết chương hồi
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn
đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định
Trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là
sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó
sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách
Chương: là một thể tài văn học, nhưng khái niệm chương có từ rất lâu, từ thời Kinh Thi Đến thời nhà Hán: đơn nguyên tình tiết tự nhiên
của cốt truyện tiểu thuyết trường thiên
Hồi: là một sự chuyển đối, là vận chuyển, chuyển biến, quay
lưng lại (phản hồi, hồi báo), thể hiện một động tác theo lần lượt và thứ
tự Tiểu thuyết Trung Quốc nói đến khái niệm hồi ở đoạn cuối (hồi sau
phân giả) Nghĩa gốc là lần (thứ tự), do truyện kể quá dài, phải chia ra
từng lần để kể Thuyết thoại nhân là người tạo ra những hồi trong câu chuyện mình kể Đây là một quy luật khách quan do chủ quan của thuyết thoại nhân
Nghệ thuật kể chuyện đầu tiên là ngắt đoạn thính giác: khi thuyết thoại nhân kể thì không thể không nghỉ Từ góc độ người nghe, nếu nghe
Trang 39lâu sẽ rất mệt mỏi Người nghe tranh thủ đoạn nghỉ để đi tiêu khiển Sau
này gọi là ba lãng khởi phụ
Tiểu thuyết chương hồi bắt nguồn từ Trung Quốc.Sau này là nghệ
thuật ngắt đoạn thị giác trong các truyện: Tây du kí, phong thần diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc chí: thuần thục về lối kể chuyện
Trào lưu bình điểm tiểu thuyết chương hồi: phân tích kết cấu tiểu thuyết, phẩm bình về kỹ xảo, giám thưởng nhân vật, đi sâu vào nội dung tác phẩm bàn về chức năng tiểu thuyết
Ví dụ: Nói vua Duy Tông và Cao Cầu ở đoạn đầu tiên trong Thủy
hử truyện là nguyên nhân làm rối loạn xã hội là từ trên, dột từ trên nóc
dột xuống
Từ góc độ ý nghĩa của thể văn, các nhà phê bình chưa nói về đặc điểm tiểu thuyết chương hồi và chưa phân biệt nó với các thể văn khác
Nó là một loại tì thuyết Tì quan: những viên quan đi về những
vùng nông thôn thu thập những bài dân ca Tì thuyết: thuộc về dân gian
Quan điểm về tiểu thuyết chương hồi chưa rõ rang Từ tự, bạt, cách gọi
tên tác phẩm có thể giúp nhận biết tiểu thuyết chương hồi: diễn nghĩa,
thông tục diễn nghĩa, tiểu thuyết diễn nghĩa, tì quan tiểu thuyết, tì quan
dã thừa, dật sử, dã sử, truyền kì tiểu thuyết, ngoại sử…
Tiểu thuyết chương hồi hơn truyện kể dân gian nhưng chưa bằng tiểu thuyết hiện đại Nên không thể đem lí thuyết của tự sự hiện đại lắp vào để khám phá tiểu thuyết chương hồi
Tiểu thuyết chương hồi là hình thức chủ yếu của tiểu thuyết trường thiên cổ đại trung quốc Đặc điểm là dùng tiêu mục để phân hồi, câu chuyện liên tiếp, mạch lạc, chỉnh tề Thoại bản của người đời Tống là
cuốn Đại đường tam tạng thủ kinh chi thoại đã hội đủ hình thức ban đầu
Tiểu thuyết trường thiên hai đời Minh Thanh đã sử dụng phổ biến hình thức này
Trang 40Theo Trung Quốc đại bách khoa toàn thư: tiểu thuyết chương hồi
đã trải qua quá trình phát triển tương đối dài lâu Thoại bản trường thiên thời Tống Nguyên có đủ hình thức của tiểu thuyết chương hồi Cuối Nguyên đầu Minh dựa vào thoại bản gia công tái xác lập tiểu thuyết trường thiên Đến giữa đời Minh hồi mục tiểu thuyết dần được xác lập Cuối Minh đầu Nguyên…, đời Thanh → 6 thế kỉ
So với sáng tác, lý luận Trung Quốc có nhiều khái niệm mơ hồ, phát triển chậm hơn, hạn chế sự phát triển bồng bột của tiểu thuyết
Tiểu thuyết chương hồi có những đặc trưng nội dung và hình thức
Phân hồi: là tiêu chí đầu tiên và là đặc trưng rõ ràng về hình thức
bên ngoài của tiểu thuyết chương hồi Nguyên nhân từ người kể chuyện
rong Tiểu thuyết sở dĩ phát triển được là do tầng lớp thị dân ra đời, biết
ăn chơi, đòi hỏi hưởng thụ và giải trí, đòi hỏi về tính dục rất nhiều
Trong tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, chủ yếu là ngôi thứ ba, rất ít ngôi thứ nhất, chủ yếu là người dẫn chuyển kể ra, chỉ có ngôn ngữ
và sự kiện chứ không có miêu tả tâm lý Tác phẩm Tam quốc chí thông
tục diễn nghĩa có 240 hồi, mỗi hồi có một đề mục vào thời Gia Tĩnh là
văn bản đề được hồi mục một cách chính xác Vấn đề là sự phát triển đề mục đầu tiên là câu đơn, sau thành câu ghép khi Mao Luân, Mao Tôn Cương ghép 2 hồi làm một, từ câu có đối trở thành thơ
Phân hồi từ chỗ không có quy tắc đến chỗ có quy tắc, từ chỗ không tề chỉnh sang tề chỉnh Thiết kế đề mục là quá trình chính của đề
cương Hồi là bộ phân của cấu trúc, đoạn là bộ phận của cốt truyện bao
gồm những tình tiết được thúc đẩy
Lâm Đại Ngọc có nhiều bi kịch: khôi phục lại địa vị gia đình mà sống thân phận ăn đậu nằm nhờ; muốn hòa nhập nhưng không thể hòa nhập được với cộng đồng vì mặc cảm vì gia thế, vì quá thông minh, tâm hồn quá mẫn cảm; chết vì tình yêu, yêu mà không có kết thúc tốt