1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức nữ quyền trong truyện ngắn trần thùy mai

120 78 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 873,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và nhà văn” do Tòng Kiên thực hiện, “Khi tác giả nữ lên tiếng về nữ quyền trong văn học” do VanVN.Net thực hiện trên Wesite: tonvinhvanhocdoc.vn; “Có một cách viết nữ hay không”, www.gi

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM DUNG

Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN, 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài. 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu. 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 12

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THÙY MAI TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 14

1.1 Giới thuyết khái niệm nữ quyền và ý thức nữ quyền 14

1.1.1 Khái niệm nữ quyền 14

1.1.2 Khái niệm ý thức nữ quyền 17

1.2 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ của sự xuất hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 18

1.2.1 Ý thức nữ quyền trong truyền thống văn học dân tộc 18

1.2.2 Sự khởi sắc của truyện ngắn nữ và sự nhấn mạnh ý thức nữ quyền trong tác phẩm của các nhà văn nữ 22

1.3 Truyện ngắn của Trần Thùy Mai và tiếng nói riêng về nữ quyền 27

1.3.1 Ý thức nữ quyền từ quan niệm sáng tác 27

1.3.2 Những trang văn giàu ý thức nữ quyền 30

Tiểu kết chương 1: 34

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI 35

2.1 Đề cao vẻ đẹp toàn diện của người phụ nữ 35

2.1.1 Vẻ đẹp hình thể 36

Trang 3

2.2 Ý thức nữ quyền từ tiếng nói phê phán, cảnh tỉnh 49

2.2.1 Đả phá các thể chế đè nén cuộc sống của người phụ nữ. 50

2.2.2.Hạ bệ trật tự nam quyền 53

2.3 Tích cực đấu tranh bênh vực quyền lợi của người phụ nữ 61

2.3.1 Quyền tự do khẳng định cái tôi cá nhân 61

2.3.2 Quyền được hưởng tình yêu, hạnh phúc 65

Tiểu kết chương 2: 76

Chương 3 MỘT SỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI 77

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ 77

3.1.1 Đặt nhân vật nữ trong những tình huống éo le, bi kịch 77

3.1.2 Đi sâu miêu tả thế giới nội tâm phức tạp của người phụ nữ 82

3.2 Ngôn ngữ thể hiện ý thức nữ quyền 86

3.2.1 Ngôn ngữ trần thuật thể hiện ý thức nữ quyền 86

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật thể hiện ý thức nữ quyền 92

3.3 Kết hợp nhiều sắc thái giọng 100

3.3.1 Giọng thương cảm, ngậm ngùi 101

3.2.2 Giọng ngợi ca, khích lệ 103

3.3.3 Giọng suy tư, triết lý 105

Tiểu kết chương 3: 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nữ quyền là một khái niệm mới được nhắc đến nhiều trong đời sống văn học nước ta những năm gần đây Đây là một phương diện của ý thức cá nhân đang trỗi dậy mạnh mẽ trong văn xuôi sau 1986 Xu hướng dân chủ hóa khơi nguồn cho sự xác lập ý thức cá nhân được biểu hiện một cách đầy đủ và toàn diện Nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề nữ quyền được các nhà văn đặt ra như: vị trí, vai trò của người phụ nữ trong đời sống và trong văn chương, đặc trưng bản thể nữ, vấn đề nhu cầu, quyền lợi của người phụ nữ hiện đại, ý thức

nữ quyền trong sáng tạo văn chương Có thể nói nữ quyền đã trở thành nguồn cảm hứng quan trọng chi phối diện mạo của văn chương giai đoạn này Chính

vì vậy tìm hiểu ý thức nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai sẽ tiếp tục

lý giải giá trị nhân văn trong những trang văn của nhà văn xứ Huế này, đồng thời góp phần khẳng định những thành tựu của văn xuôi Việt Nam nói chung, truyện ngắn Việt Nam sau 1986 nói riêng

1.2 Trần Thùy Mai thuộc thế hệ những người cầm bút đầu tiên sau chiến tranh cùng thời với Minh Ngọc, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ…Đó là thế hệ

chịu ảnh hưởng của văn học chiến tranh ở nhiều phương diện, nhưng cũng đã

có những đổi mới rõ rệt cả về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Trong số các nhà văn nữ, Trần Thùy Mai không thu hút người đọc bằng những cách tân táo bạo theo hướng hiện đại chủ nghĩa hoặc không gây sự chú

ý bằng những yếu tố sex đang bị lạm dụng trong văn chương những năm gần đây Truyện ngắn Trần Thùy Mai cuốn hút ở lối viết điềm đạm, tinh tế mới đọc thấy nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm nghĩ càng sâu sắc Chị đã tạo cho mình một lối viết riêng, một phong cách khó trộn lẫn Những trang văn nhỏ nhẹ, dịu dàng, với phương thức tiếp cận cuộc sống nửa cổ tích, nửa thế sự nhưng bao giờ cũng toát lên một tấm lòng bao dung nhân hậu, vị tha đến lạ Bằng khả năng cảm nhận và miêu tả tinh tế hiện thực cuộc sống thông qua thế giới tâm

Trang 5

hồn, Trần Thùy Mai đã góp phần làm nên sự phong phú và chiều sâu của truyện ngắn đương đại

1.3 Khác với một số nhà văn nữ chọn cách viết táo tợn, bạo liệt thì Trần Thùy Mai trung thành với lối viết nhỏ nhẹ đầy nữ tính Chính vì vậy ý thức nữ quyền trong truyện ngắn của chị cũng toát lên một cách kín đáo, sâu sắc Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình dài hơi, đi sâu tìm hiểu ý thức nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai một cách toàn diện,

hệ thống Đề tài của chúng tôi vì thế muốn góp phần nhỏ bổ sung vào sự

ở Việt Nam cũng có những bước tiến mới

Về phương diện sáng tạo, rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn thấy ở đội ngũ các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay một khả năng riêng trong việc biểu đạt nội dung và sáng tạo hình thức biểu hiện so với các nhà văn nam Anatoli A.Sokolov trong bài viết “Văn hóa và văn học Việt Nam trong những

năm đổi mới” (1986 - 1996) đã đánh giá: “Văn xuôi nữ dám trình diện mình

thực sự gây niềm lạc quan, trở thành một hiện tượng thực thụ của văn học Việt Nam hiện thời… Chính các tác giả này sẽ quy định tương lai văn học Việt Nam và sự phát triển sau này của nó”[1]

Năm 1990, bài viết “Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn” (Tạp chí Văn học, số 5), nhà nghiên cứu Trương Chính đã

bước đầu thể hiện những kiến giải của mình về ý thức nữ quyền trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Bài viết chủ yếu nhìn nhận vấn đề nữ quyền trên phương diện nội dung tư tưởng

Trang 6

Nhà văn Lý Lan, trong bài viết Phê bình văn học nữ quyền, đã khẳng

định: “Sự phát triển lực lượng nhà văn nữ … và những thành tựu họ đạt được

đã khẳng định sự tồn tại và khởi sắc của một nền văn học nữ Việt Nam đương đại đòi hỏi những lý thuyết văn học tương thích để phân tích phê bình và đánh giá” [17]

Nguyễn Đăng Điệp với bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền

trong văn học Việt Nam đương đại đã chỉ ra: “Âm hưởng nữ quyền đã ngấm

sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại và hậu hiện đại”[5]

Châm Khanh chủ yếu lý giải sự xuất hiện mạnh mẽ, đông đảo của các tác giả nữ từ sau năm 1975 và tìm những cơ sở để xác định lối viết văn đặc trưng của phụ nữ trong tiểu luận Phụ nữ và văn chương

Trong Lời giới thiệu Tuyển văn các tác giả nữ Việt Nam, Bùi Việt Thắng

đã phát hiện tinh thần nữ quyền trong sáng tác của các cây bút nữ thể hiện

chính ở tính chất nữ tính trong sáng tác của họ: “Trên những trang viết của họ

ta tiếp nhận được một nữ tính phức tạp hơn nhưng đồng thời cũng phong phú hơn những gì ta đã vẫn quan niệm trong quá khứ” Cũng Bùi Việt Thắng

trong Tản mạn về truyện ngắn của những cây bút nũ trẻ đã một lần nữa khẳng

định tính chất “nữ tính” (một biểu hiện đặc trưng của tinh thần nữ quyền) trong sáng tác của họ: “Nữ tính” của những cây bút nữ trẻ phát lộ rất rõ trong

sự quyết liệt đấu tranh giành giữ tình yêu và sự bình quyền trong tình cảm”

Từ 1986 đến nay, cùng với sự xuất hiện của các tác phẩm văn học chứa đựng tinh thần nữ quyền, các bài phê bình nhấn mạnh đến ý thức nữ quyền trong văn học cũng trở nên quen thuộc hơn Trước tiên, chúng tôi muốn đề cập đến một số bài viết của các tác giả Việt Nam đề cập đến vấn đề nữ quyền như một xu hướng nổi bật văn học như: “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật” của tác giả Tuấn Anh trên wesite: www.vietvan.net; “Nữ quyền luận và đồng tính luận của tác giả

Trang 7

Nguyễn Hưng Quốc, trên Website: www.tienve.org; “Truyện ngắn 8X Plus và sắc thái nữ quyền” của tác giả Bùi Việt Thắng trên Wesite:www.bichkhe.org,

“Siêu lí đàn bà nhìn từ góc độ nữ giới”, của tác giả Trần Huyền Sâm trên website: www.vanhoahoc.edu.vn; mục viết về phê bình nữ quyền trong Tuyển

tập Lý luận văn học hiện đại phương Tây (Phương Lựu)… Trên website www.damau.org đã dành hẳn một chuyên mục về Văn học nữ quyền để tập

hợp những bài viết có liên quan đến lý thuyết nữ quyền và ứng dụng lý thuyết

vào nghiên cứu văn học Trong đó, một số bài viết có giá trị như: Tản mạn về

vấn đề nữ quyền ở các nhà văn Nhật Bản của Phạm Vũ Thịnh; Tiểu thuyết Hương Hương Sastra Wangi và Văn chương khích động nữ quyền của

Monica Arnez do Nguyễn Đức Nguyên dịch Các công trình này đã đi sâu hơn vào việc giới thiệu những nội dung chính của chủ nghĩa nữ quyền và đã

áp dụng nó như một xu hướng nghiên cứu, phê bình văn chương Tuy nhiên, các tác giả này lại chưa đề cập đến các hiện tượng của văn chương Việt Nam Trong khoảng 10 năm trở lại đây, có cảm tưởng bất cứ nhà nghiên cứu nào khi đề cập đến văn xuôi sau 1986 đều ít nhiều đề cập đến những biểu hiện của ý thức nữ quyền trong nội dung hoặc hình thức nghệ thuật Trong đó, có một số bài viết đề cập tương đối tập trung đến vấn đề nữ quyền trong văn xuôi

như: “Tản mạn về dục tính và nữ quyền” của Nguyễn Vy Khanh đăng trên

http://vannghesongcuulong.org; “Văn học nữ quyền: Phủ nhận tất cả để chỉ

đề cao mình?” của Nhật Nguyệt, trên báo Văn nghệ trẻ; “Dấu hiệu nữ quyền

trong văn nữ Việt Nam đương đại” của tác giả Bùi Thị Thuỷ trên:

http://hoinhavanvietnam.vn; “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong

văn học Việt Nam đương đại” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trên

http://vienvanhoc.org.vn; “Phụ nữ và văn chương” (Châm Khanh, www.tienve.org)

Trong các bài phỏng vấn trực tuyến vấn đề ý thức nữ quyền nhìn từ phía nhà văn cũng rất được chú trọng Đó là các bài “Hội thảo bàn tròn: Ý thức nữ

Trang 8

và nhà văn” do Tòng Kiên thực hiện, “Khi tác giả nữ lên tiếng về nữ quyền

trong văn học” do VanVN.Net thực hiện trên Wesite: tonvinhvanhocdoc.vn;

“Có một cách viết nữ hay không”, www.gio-o.com; nội dung của một số cuộc tọa đàm xoay quanh vấn đề văn học nữ quyền như cuộc Tọa đàm văn học nữ

quyền - chuyện cũ nói lại (cuộc thảo luận tại Viện Văn học Việt Nam, Hà Nội,

sáng 9/9.); “Ưu điểm của văn học nữ chính là tinh thần nữ” (Mai Sen ghi),

website: http://nhansuvietnam.vn

Ngoài ra chúng tôi còn nhận thấy trong thời gian gần đây vấn đề ý thức

nữ quyền được rất nhiều học viên chọn làm luận văn thạc sỹ, tiến sĩ: Năm

2008, luận văn thạc sĩ của Hồ Khánh Vân trường Đại học Khoa học Xã hội

Nhân văn TP Hồ Chí Minh với đề tài Từ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên

cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay là một công trình khoa học nghiêm túc, có giá trị Tuy nhiên, tác giả chủ

yếu vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền để nghiên cứu các tác phẩm truyện ngắn, kí, ít đề cập đến tiểu thuyết - đặc biệt là tiểu thuyết thế kỷ XXI (chỉ đề cập đến tiểu thuyết của nhà văn Thuận) Đặc biệt, năm 2013, luận án tiến sỹ

của Nguyễn Thị Thanh Xuân nghiên cứu về Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ

quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Qua sáng tác của một số nhà văn

nữ tiêu biểu) đã hệ thống và lý giải một cách cơ bản những vấn đề lý luận về

phái tính và nữ quyền trong văn hoá và trong diễn ngôn văn học Luận án đã bước đầu chỉ ra được ý thức về phái tính và nữ quyền trong văn học đương đại như một bước tiến, hệ quả của tiến trình dân chủ hoá xã hội và văn học Đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu tinh thần nữ quyền trong văn xuôi tự sự Việt Nam sau 1986 Tuy nhiên, luận

án mới chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền ở phạm vi truyện ngắn mà chưa chú ý đến thể loại tiểu thuyết Bên cạnh đó, luận án chưa làm rõ cách tiếp cận mới về hình tượng người phụ nữ Việt Nam của văn xuôi Việt Nam sau 1986 - dưới góc nhìn nữ quyền

Trang 9

Thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu

của học viên Cao học tại các trường như: Vấn đề nữ quyền trong tiểu thuyết

của Thiết Ngưng của tác giả Bùi Thị Diễn; Nữ tính trong sáng tác của Nam Cao và Ngô Tất Tố nhìn từ lí thuyết diễn ngôn của tác giả Đàm Phương Thảo;

Vẻ đẹp thiên tính nữ trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của tác giả Đồng Thị

Thanh Thuỷ; Nhân vật nữ trong sáng tác văn xuôi của Lý Lan của tác giả Hoàng Diệu Thúy; Nhân vật nữ trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy của tác giả Nguyễn Như Quỳnh; Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ Việt Nam

đương đại của tác giả Phùng Kim Trang; Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Hà, Luận văn thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học sư phạm, Đại

học Đà Nẵng; Ý thức phái tính trong sáng tác văn xuôi nữ từ sau 1975, Phạm

Thị Thu Huệ, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đã Nằng - 2012…

Điểm chung ở các công trình là đều hướng vào tìm hiểu thế giới nhân vật

nữ trong sáng tác của các tác giả cụ thể để đi đến khẳng định sự tồn tại của cảm hứng nữ quyền trong văn học đương đại Tuy nhiên, phần lớn các tác giả mới chỉ phân tích khía cạnh “nữ tính” ở nhân vật (hay tác phẩm) mà chưa mở rộng phạm vi nghiên cứu rộng hơn đến vấn đề “nữ quyền” Những chỗ trống này là một trong những cơ sở để chúng tôi triển khai luận văn của mình

2.2 Lịch sử nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Bắt đầu có truyện ngắn đăng trên tuần báo Văn nghệ từ năm 21 tuổi,

đến nay, gần 40 năm cầm bút với 12 tập truyện ngắn, Trần Thùy Mai đã miệt mài, cần mẫn tạo dựng một vị trí trên văn đàn Chị cũng đã đạt một số giải thưởng khá cao của Hội nhà văn và của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật

Việt Nam cho các tập truyện Quỷ trong trăng và Thập tự hoa Truyện ngắn

Trần Thuỳ Mai đã nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình Tuy nhiên, vì nhiều lẽ, vấn đề nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai còn khá khiêm tốn và rời rạc Hầu hết những bài viết về

Trang 10

chị mới chỉ dừng lại ở nhận xét khái quát, sơ bộ và bộc bạch ấn tượng, cảm xúc về một tập truyện hay một tác phẩm cụ thể nào đó Mặc dù sơ lược, nhưng cũng đã có những bài viết chỉ ra được dấu ấn riêng trong sáng tác của

nữ nhà văn này Chúng tôi tạm chia lịch sử nghiên cứu truyện ngắn Trần Thùy Mai làm hai phần:

2.2.1 Những đánh giá chung về truyện ngắn Trần Thùy Mai

Về những nhìn nhận đánh giá chung về truyện ngắn Trần Thùy Mai, đáng chú ý là bài viết “Truyện ngắn Trần Thùy Mai - những giấc mơ huyền thoại” của Hồ Thế Hà Tác giả đã bày tỏ những cảm nhận về “một đặc điểm nổi bật” trong truyện ngắn Trần Thùy Mai đó là vẻ đẹp cổ tích, thần thoại:

“Phần lớn truyện ngắn của Trần Thùy Mai đều lôi cuốn người đọc ở những chi tiết vừa ảo, vừa thật, cái khoảng khắc, cái vĩnh hằng, những điểm mạnh và những điểm nhẹ đan xen nhau, có cảm giác như mọi tồn tại trên đời đều mỏng, dễ vỡ Thế nhưng đọc xong nó lại có sức bền lâu trong tâm trí” [12] Cũng trong bài viết này, khi đề cập đến nội dung của tác phẩm, Hồ Thế Hà đã nhận xét: “Truyện ngắn Trần Thùy Mai thường là những ghi nhận đời thường với bao lo toan dằn vặt, với những mâu thuẫn có lúc âm thầm, có lúc dữ dội giữa khát vọng tình yêu và khả năng không đạt được của con người, để rồi sau những va chạm “dễ thương”, niềm hi vọng, sự sẻ chia, lòng nhân ái bao dung lại được xoa dịu, thanh lọc”[12]

Tác giả Lê Thị Mỹ Ý trong bài viết “Nhà văn dịu dàng và đa đoan” đánh

giá về truyện ngắn Trần Thùy Mai: “Văn chương của chị như một trái cây

chín muộn, càng có thời gian vị càng ngọt, hương càng nồng, màu sắc càng hấp dẫn, càng mang đến một dư vị riêng mà những cây bút cùng thời với chị

không có được” [76]

Tác giả Lê Thị Hường trong bài viết “Truyện ngắn Trần Thùy Mai - hành trình đi tìm hạnh phúc ảo ảnh” đã có những nhận xét rất sâu sắc: “Nhỏ nhẹ, dịu dàng, với phương thức tiếp cận cuộc sống nửa cổ tích, nửa thế sự,

Trang 11

Trần Thùy Mai đã khẳng định một phong cách riêng Bằng khả năng cảm nhận và miêu tả tinh tế hiện thực cuộc sống thông qua thế giới tâm hồn, Trần Thùy Mai đã góp phần làm nên sự phong phú và chiều sâu của truyện ngắn

đương đại” Và “Nhân vật nữ của Trần Thùy Mai có độ xào xạc, phức điệu

trong tâm hồn Ở họ, tốt và xấu, hoàn thiện và chưa hoàn thiện xáo động, chuyển hoán Và, dù kìm nén hay lầm lỡ, khôn ngoan hay dại khờ, nhân vật

nữ của chị luôn thanh lọc tâm hồn, dẫu phải chấp nhận “tự chôn mình”, dẫu

phải cam tâm dừng lại trước “cánh cửa thứ chín” của đời mình”[22]

Tác giả Thái Phan Vàng Anh với bài viết có tựa đề “Tình yêu huyền thoại trong truyện ngắn Trần Thùy Mai” đã nêu ra một số nét đậm rất riêng ở nhà văn Trần Thùy Mai Đó là đề tài tình yêu- một đề tài được Trần Thùy Mai rất quan tâm: “Với chị, tình yêu là biểu tượng của những khát vọng tuyệt đối,

là hoài niệm để níu giữ niềm tin”, là “những tình yêu huyền thoại lung linh như ảo ảnh”[2] Đó là mối quan hệ giữa hai bờ thực - ảo, giữa khát vọng mong manh với thực tại đầy đắng cay và bất hạnh Nổi bật lên trong bài viết

là những nhận định khá tinh tế về nhân vật nữ trong các cuộc tình gấp gáp, vội vã và ngắn ngủi: Những nhân vật nữ của Trần Thùy Mai đều gặp gỡ nhau

ở việc lấy tình yêu làm điểm tựa để “cứu rỗi linh hồn”, “đắm chìm trong hoài niệm” “Các mối tình, các sợi xích tình yêu (…) chưa bao giờ thôi quấn riết, giằng níu trong nhân vật, và rồi biến thực tại thành dư âm của quá khứ vừa bỏng rát, vừa dịu dàng” Cuối cùng, “cũng bởi vì định mệnh mà những cuộc tình đẹp như ảo ảnh ấy lại không thể vượt qua những giới hạn thực tế” [2] Tác giả Văn Mai Hoan trong bài “truyện ngắn Trần Thùy Mai” nhận xét

về tính nhân văn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai: “Mỗi câu chuyện là một tình khúc buồn, nhẹ nhàng mà sâu lắng Những tình khúc buồn ấy nhắc nhở mọi người phải biết tận hưởng, phải biết bảo vệ, phải biết nâng niu, trân trọng cái đẹp và hạnh phúc trong cuộc sống” [18]

Trang 12

Nhìn chung, hầu hết các nhận định đã chỉ ra được những nét rất riêng trong phong cách của chị, cũng như những đề tài làm nên hồn cốt Trần Thùy Mai đó là những nhân vật nữ, mỗi người có một khuôn mặt riêng, một số phận riêng nhưng đều sống hết mình, yêu hết mình Đó là những câu chuyện tình yêu đằm sâu, như làn nước tưới mát tâm hồn kéo con người khỏi sa mạc của sự cằn cỗi Tuy nhiên, chưa có một kiến giải hoặc cảm nhận nào chỉ rõ ý thức nữ quyền đã được tô đậm trong các tác phẩm của chị

2.2.2 Những đánh giá về ý thức nữ quyền trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai

Vượt qua ranh giới của thời gian, không gian, những tập truyện ngắn cụ thể của Trần Thùy Mai đi vào lòng người nhẹ nhàng mà sâu sắc Trên các tạp chí, các báo có nhiều cảm nhận và kiến giải đặt ra trong các sáng tác của chị

Hồ Thế Hà trong bài: “Thế giới truyện ngắn Trần Thùy Mai qua “Trò

chơi cấm” có sự cảm nhận tinh tế, nhân văn về những nhân vật phụ nữ , họ

“có tâm hồn như ngọc nhưng ít gặp hồng phúc trong tình yêu Họ vẫn hướng

về đường chân trời có ánh hào quang rực rỡ nhưng chưa bao giờ vượt qua những giới hạn trước mắt bởi cuộc sống mưu sinh… để rồi cuối cùng họ luôn

tự an ủi mình trong vòng tròng khép kín” [11]

Năm 2001, Trần Thùy Mai giới thiệu với độc giả tập truyện ngắn Quỷ

trong trăng với những thông điệp về bi kịch đau đớn của người phụ nữ, tập

truyện nhanh chóng được độc giả đón nhận với sự đồng cảm sâu sắc Tác giả Diệu Hiền có bài: “Trần Thùy Mai và bi kịch của những người phụ nữ ”, bằng một số dẫn chứng truyện ngắn tiêu biểu, Diệu Hiền đã chỉ ra rằng: “Tất cả phụ nữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai đều đẹp, yêu hết mình, sống tốt hết

mình, nhưng kết cục phần nhiều họ đều gặp bất hạnh, đau khổ” [10] Cũng đánh giá về tập truyện Quỷ trong trăng, Nguyễn Thị Kim Huệ với bài viết “Quỷ trong trăng và thế giới đậm cá tính phương Tây” đã phát hiện: Quỷ trong trăng là một thế giới của nhân vật nữ đang tồn tại thật với

Trang 13

bản ngã của chính mình, dù họ phải trả giá bằng chính cuộc đời của họ Thế nhưng, họ không nuối tiếc hay hối hận cho những lựa chọn của mình, bởi họ

là những phụ nữ phương Đông dịu dàng bao dung nhưng lại tiềm tàng sự nổi loạn, tự do và bất chấp kể cả cái chết cho tình yêu Nguyễn Thị Kim Huệ gọi đây là thế giới nữ đậm cá tính phương Tây: “những người phụ nữ phương Đông dịu dàng, ấy thế mà trái tim họ lại còn mang dòng máu nóng phương Tây bất chấp và nổi loạn, dù đôi lúc nổi loạn trong bế tắc Các nhân vật nữ bên nét thánh thiện, đều tiềm tàng một dòng máu “quỷ” mộng yêu, ngông cuồng vì yêu và chết vì yêu”[20] Những phát hiện trong bài viết cho thấy nét sáng tạo mới lạ của Trần Thuỳ Mai trong việc xây dựng tâm hồn, tính cách và lẽ sống của các nhân vật nữ trong tác phẩm của mình

Về tập truyện Mưa đời sau, tác giả Minh Phương có bài giới thiệu: Đọc

sách: Mưa đời sau đã có những nhận xét khá sâu sắc về các tác phẩm trong

tập truyện: “Ngòi bút Trần Thùy Mai hướng tới phát hiện vẻ đẹp phẩm cách

và lòng hướng thiện của những nhân vật trong truyện”[62] và đặc biệt nhân vật của chị được “Khéo léo khắc họa diễn biến tâm lí với lối kết hợp tự nhiên, bất ngờ, lôi cuốn”[45]

Tập truyện Một mình ở Tokyo (2008) cũng gây được sự chú ý đặc biệt

Nhà xuất bản văn nghệ có lời giới thiệu: “Vẫn là những câu chuyện tình yêu

ngọt ngào, dang dở, Trần Thùy Mai đã “đổi món” cho độc giả bằng các bối cảnh và các tuyến nhân vật độc đáo, khác lạ (nhưng không xa lạ) Người đọc như chạm vào những vàng son xưa cũ rồi lại thấy mình đang ở đâu đó rất xa xôi giữa lòng hiện tại Dù dang dở hay vẹn vẻ; dù cái ác, cái xấu vẫn còn tồn tại trong đời sống thông qua những câu chuyện tình đẹp mà buồn, song thông điệp mà tác giả gửi đến độc giả là: Hãy sống đẹp, hãy yêu thương và tha thứ bởi nó là cội nguồn của sự sống nguyên khôi và ý vị”

Tập truyện Trăng nơi đáy giếng (2009) tác giả Minh Tú trên trang báo

Tuổi trẻ nhận xét về kiểu nhân vật nữ mà Trần Thùy Mai hướng tới khai thác:

Trang 14

“Ai đọc Trăng nơi đáy giếng cũng hiểu Trần Thùy Mai dành nhiều tình cảm,

xót thương cho những thân phận phụ nữ liễu yếu đào tơ thế nào mà trở thành quân cờ thời cuộc… Những người phụ nữ ấy, dù là tuyệt sắc giai nhân chốn

đế đô hay chỉ là thôn nữ quê mùa vùng xa xôi hẻo lánh, dù có thể chẳng bao giờ được sử sách nhắc đến nhưng cuộc đời của họ, số phận của họ mãi mãi được dân gian lưu truyền, để lại suy nghĩ trong lòng người đọc”

Về tập truyện Onkel yêu dấu (2010), truyền hình VTV1 có giới thiệu tập truyện này trong chuyên mục Mỗi ngày một cuốn sách Trong đó, người

giới thiệu đã nhấn mạnh tới ý thức về giới mình của các nhân vật nữ, họ

sống với thiên chức làm vợ và làm mẹ: “Mỗi nhân vật nữ trong cuốn truyện

ngắn này mang một thân phận biểu trưng cho hàng ngàn, hàng vạn thậm chí hàng triệu người vợ, người mẹ Họ có thể là một người thành đạt, có thể chỉ là một người nội trợ, một người mẹ đảm đang của gia đình, một người suốt đời

hy sinh trong thầm lặng và cũng có thể là một con người bị tình yêu lợi dụng Nhưng dù sao họ vẫn không oán thán cuộc đời oán trách số phận, họ vẫn lặng

lẽ vươn mình đứng dậy Đứng dậy để tha thứ, quá khứ trong họ luôn hiện hữu là một kỷ niệm đẹp, về những ngày tháng đẹp đã có những phút giây

cùng nhau sánh bước trên đường đời” (www.moingaymotcuonsach.com.vn)

Như vậy, nhìn chung qua các bài viết, nhà văn Trần Thùy Mai được đánh giá là tác giả có lối viết rất riêng với giọng văn riêng, chị khai thác những vấn đề gần gũi, bình dị xung quanh đời sống nhưng lại mang giá trị mới mẻ và sâu sắc Ý thức nữ quyền trong sáng tác của Trần Thùy Mai được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau, dù thể hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp thì cũng toát lên một tấm lòng bao dung, vị tha và rất đỗi dịu dàng Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu ý thức nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai Trên cơ sở tiếp thu ý kiến,

kết quả của người đi trước, chúng tôi triển khai đề tài: Ý thức nữ quyền

trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Trang 15

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Ý thức nữ quyền trong truyện

ngắn của Trần Thùy Mai

3.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Luận văn tập trung vào việc khảo sát các tập truyện ngắn của Trần Thùy Mai gồm:

- Bài thơ về biển khơi, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 1983

- Thị trấn hoa quỳ vàng, Nhà xuất bản hội nhà văn, Hà nội - 1994

- Trò chơi cấm, Nhà xuất bản trẻ, TP Hồ Chí Minh- 1998

- Quỷ trong trăng, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh - 2001

- Biển đời người, Nxb Thuận Hóa, Huế -2002

- Thập tự hoa, Nxb Thuận Hóa, Huế - 2003

- Đêm tái sinh, Nxb Thuận Hóa, Huế - 2004

- Mưa đời sau, Nxb Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh - 2005

- Lửa hoàng cung, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh- 2008

- Một mình ở Tokyo, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2008

- Trăng nơi đáy giếng, Nhà xuất bản Thanh niên - 2009

- Onkel yêu dấu, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2010

Ngoài ra, để làm nổi bật ý thức nữ quyền trong sáng tác của Trần Thùy Mai, luận văn còn so sánh với ý thức nữ quyền trong sáng tác của một số tác giả nữ khác

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu ý thức nữ quyền được nhà văn thể hiện qua hệ thống đề tài và các kiểu nhân vật trong tác phẩm

- Tìm hiểu ý thức nữ quyền nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 16

- Bước đầu chỉ ra một số đóng góp của Trần Thùy Mai trong việc thể hiện một vấn đề thời sự trong văn học Việt Nam đương đại - Ý thức nữ quyền

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp thống kê - phân loại

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung, hệ thống ý thức

nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Ở một mức độ nhất định, luận văn có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo phục vụ cho giới nghiên cứu văn học và cho công tác giảng dạy về ý thức nữ quyền trong văn học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có ba chương:

Chương 1: Truyện ngắn Trần Thùy Mai trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại

Chương 2: Những nội dung chủ yếu của ý thức nữ quyền trong truyện

ngắn Trần Thùy Mai

Chương 3: Một số hình thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong truyện ngắn Trần Thùy Mai

Trang 17

Chương 1 TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THÙY MAI TRONG BỐI CẢNH

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Giới thuyết khái niệm nữ quyền và ý thức nữ quyền

1.1.1 Khái niệm nữ quyền

Loài người khởi đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu hệ nhưng dần dần, người đàn ông với những thế mạnh về sinh lý, sức mạnh (thể xác và tinh thần), khả năng hoạt động hướng ngoại, ưu thế về thu nhập kinh tế… đã vươn lên làm chủ gia đình và xã hội Nam quyền suốt trong một thời gian dài không chỉ được củng cố bằng các thiết chế xã hội mà nó còn in sâu vào tâm lí, quan

niệm của nhân loại như một điều hiển nhiên

Sự thống trị của nam quyền, một mặt đã có tác dụng tích cực trong việc duy trì sự ổn định và phát triển xã hội nhưng mặt khác, sự thống trị hà khắc của nó đã gây không ít khó khăn cho cuộc sống của người phụ nữ Chính vì vậy, cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của người phụ nữ đã diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ suốt trong thời trung đại Đến Cách mạng tư sản Pháp thời cận đại (cuối thế kỷ XVIII), nó đã bùng nổ mạnh mẽ, thành một phong

trào rầm rộ với tên gọi là Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) Trong những năm

gần đây khái niệm nữ quyền được nhắc đến trong nhiều bài viết ở nhiều lĩnh vực nhưng cho đến nay không nhiều tài liệu giải thích trực tiếp về khái niệm

“nữ quyền” Việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về “nữ quyền” là một việc làm tưởng chừng không cần thiết, bởi hiểu theo nghĩa từ nguyên, nếu phân

xuất khái niệm thành hai yếu tố: nữ và quyền thì rất đơn giản, “nữ quyền”

được hiểu là “quyền của người phụ nữ” Khái niệm này đối lập với “nam quyền” (quyền lợi của người đàn ông)

Ở Việt Nam, ý thức về nữ quyền vốn tiềm ẩn trong truyền thống văn hóa dân tộc và tạo thành một dòng chảy liền mạch Có thể ở những giai đoạn lịch

sử có những biểu hiện đậm, nhạt khác nhau nhưng chưa bao giờ đứt đoạn

Trang 18

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, bên cạnh những cây bút nam giới đã khá quen thuộc trên văn đàn như Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường còn có nhiều cây bút nữ như Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân đã có những trao đổi, tranh luận trên văn đàn, đưa ra những cách nhìn nhận, những quan điểm về vấn đề nữ quyền Có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các tư tưởng nữ quyền trong giai đoạn này mặc dù rất sôi nổi nhưng thường nặng về vấn đề phong trào, tập trung vào phương diện xã hội nhiều

hơn Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút bút Đông Dương tạp chí thông qua mục Nhời

đàn bà (trên Đăng cổ tùng báo và tiếp theo là Đông Dương tạp chí) đã gửi

thông điệp: “nữ quyền” chính là sự lên tiếng của phụ nữ về các vấn đề của mình Khái niệm “nữ quyền” mà ông khơi lên đã phát động một trào lưu bàn

về các quyền của phụ nữ mà mục tiêu chính của nó là “phụ nữ nói về phụ nữ” Khái niệm nữ quyền hiểu theo nghĩa này là do sự chi phối của điều kiện lịch

sử Xuất phát điểm, nền văn hóa phương Tây gắn với cuộc sống du mục, coi trọng yếu tố thể lực đã dành nhiều sự ưu ái, quyền lợi cho người đàn ông Nền văn hóa phương Đông sớm chịu sự thống trị của Đạo Nho nên những tư tưởng

“trọng nam khinh nữ”, kỳ thị giới tính đã áp chế quyền lợi của người phụ nữ

về mọi mặt Do vậy, “nữ quyền” nhấn mạnh đến phương diện quyền lợi của người phụ nữ và cuộc đấu tranh đòi nữ quyền chính là đấu tranh cho sự đảm bảo về quyền lợi của người phụ nữ

Bước sang cuộc sống hiện đại, khi đa số phụ nữ đi làm, giá trị của người phụ nữ dần dần tỉ lệ thuận với những đóng góp của họ về kinh tế, văn hóa đối với gia đình và xã hội Họ bắt đầu ý thức về bản thân mình, nhìn nhận lại mình và đi tìm lại bản sắc Công cuộc đi tìm bản sắc nữ kết thúc bằng lời khẳng định bất hủ của nữ văn sĩ người Pháp Simone de Beauvoir trong tác phẩm “Le Deuxième Sexe” (Giới thứ hai) được xuất bản vào năm 1949: “On

ne nait pas femme, on le devient” (Người ta không bẩm sinh là đàn bà, mà trở thành đàn bà) Theo nhiều nhà nghiên cứu thì tác phẩm này chính là một mũi

Trang 19

tên bắn trúng vào thành trì của bản thể luận cho rằng “phụ nữ sinh ra đã là phụ nữ” “Giới thứ hai” có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của Chủ nghĩa nữ quyền trong xã hội hiện đại Và khái niệm nữ quyền được mở ra với một định hướng khái quát hơn: lấy người phụ nữ làm trung tâm, làm “trục” để phản ánh thế giới, trái ngược với nam quyền - lấy người đàn ông làm trung tâm Tất cả những gì liên quan đến phụ nữ đều được

đề cao, tôn trọng, bảo vệ

Trong nghiên cứu, phê bình văn học sau 1986, chúng tôi thấy khái niệm

“nữ quyền” thường được nhắc đến cùng với hai khái niệm khác là “phái tính”

và “nữ tính” Phái tính “chỉ sự liên kết giữa giới và những bản tính đặc trưng cho từng phái riêng biệt và nó không ngừng được nhận diện trong đời sống cũng như trong tất cả các ngành khoa học”[74;10] Nguyễn Thị Thanh Xuân trong luận án Tiến sỹ của mình đã đề xuất công thức: “Phái tính = phái (gender) + giống/giới/giới tính (sex) Như vậy, phái nam = nam giới (the male sex) + masculinity (tính nam/bản tính nam); phái nữ = nữ giới (the fair sex) + femility (tính nữ/bản tính nữ)” [75;10] Công thức này cho thấy phái tính là sự tổng hợp những đặc điểm tự nhiên, sinh học (giống) và những đặc điểm xã hội, tính cách… của từng giới cụ thể

Theo công thức này, nữ tính cũng là một phần của phái tính Nữ tính là tính chất, đặc điểm của giới nữ, nhằm phân biệt với nam tính - tính chất/đặc điểm của giới nam Nữ tính không đơn thuần chỉ là tính cách mà nó gồm tất

cả các biểu hiện toát lên đặc trưng của giới nữ (ví như hành động, ngôn ngữ, trang phục, ngoại hình) Tuy nhiên, hiện nay chúng ta không dùng nữ tính với nghĩa bao hàm tất cả tính chất, đặc điểm của giới nữ mà chỉ dùng để gọi những tính chất đặc trưng (chủ yếu về tính cách, tâm hồn) như: dịu dàng, giàu tình cảm, đảm đang, chịu thương chịu khó, cam chịu, giàu đức hy sinh… Nhiều khi, nữ tính được dùng như một tính từ (“rất nữ tính”, “giàu nữ tính”)

Trang 20

khi ngợi ca người phụ nữ hội tụ được những nét đẹp đặc trưng, điển hình trong tính cách của giới nữ

Như vậy, nếu nữ tính nhấn mạnh đến thuộc tính tính cách đặc trưng của giới nữ, phái tính nhấn mạnh đến đặc điểm giới tính thì nữ quyền là khái niệm

có nội hàm khác hẳn Đây là một chủ trương, một cách tiếp cận về người phụ

nữ theo hướng tôn trọng, đề cao, xem người phụ nữ là trung tâm của sự phản ánh, đánh giá về hiện thực Tuy nhiên, nữ quyền lại có mối liên hệ mật thiết

với hai khái niệm còn lại Để khẳng định bản sắc, giá trị riêng của giới nữ, nữ

quyền thường chủ trương nhấn mạnh đến sự khác biệt phái tính và đề cao nữ tính - phẩm chất tính cách tốt đẹp đặc trưng của nữ giới, tạo nên sự khác biệt

của họ so với nam giới

1.1.2 Khái niệm ý thức nữ quyền

Trong xã hội phụ quyền lấy nam giới làm trung tâm, làm thước đo chuẩn mực cho mọi giá trị và được cả cộng đồng tuân thủ, người phụ nữ chấp thuận vai trò, vị trí phụ thuộc của mình vào nam giới như một sự tất yếu, đương nhiên và luôn mang khát vọng đạt đến những chuẩn mực của nam giới, tự đánh đồng chính mình theo những tiêu chí của nam giới Tuy nhiên những làn sóng đấu tranh của phong trào nữ quyền, các lý thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới xuất hiện từ cuối thế kỷ XVIII và kéo dài cho đến tận ngày nay như là một minh chứng cho công cuộc đi tìm lại chính mình- tìm lại bản ngã luôn đau đáu, mòn mỏi và chưa bao giờ ngưng nghỉ của một nửa nhân loại Những nhà văn nữ mong muốn tạo lập nên lịch sử của họ vốn luôn ở trong trạng thái

im lìm, vắng lặng, trống rỗng, thậm chí bị khước từ, chối bỏ suốt thời quá khứ “Chưa bao giờ như bây giờ” đề tài viết về người phụ nữ trở thành đề tài trung tâm, thế giới thuộc về người nữ được tái hiện như là hiện thực trung tâm, trên trang viết của các nhà văn chứa đầy chân dung và thân phận của những người phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh, nhiều cung bậc, trạng thái từ nhiều điểm nhìn khác nhau Dù đi trên nhiều con đường khác nhau, dù ở các

Trang 21

số phận khác nhau, dù mang tính cách khác nhau… nhưng dường như tất cả các nhân vật nữ trong văn xuôi nữ đương đại, rồi cũng đều đồng quy về một

điểm: ý thức nữ giới

Ý thức về giới là một trong những vấn đề then chốt, cốt lõi, tạo thành cơ

sở hạt nhân cho ý thức nữ quyền Ý thức là ý thức của con người, nằm trong

con người, không thể tách rời con người Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, phản ánh vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ

và các quan hệ xã hội, là một hiện tượng xã hội Ý thức nữ quyền được xác lập

từ sự ý thức phái tính của cá nhân sau đó nâng lên thành chủ trương, hướng tiếp cận người phụ nữ trên quan điểm tôn trọng, đề cao, xem người phụ nữ là trung tâm của sự phản ánh, đánh giá về hiện thực

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm “ý thức nữ quyền”

khái niệm này là đã rõ: xem những vấn đề liên quan đến người phụ nữ là trung tâm luận Tuy nhiên, đặc trưng của “cảm hứng” là để chỉ nguồn cảm xúc mạnh mẽ khơi gợi sự sáng tạo Còn “âm hưởng nữ quyền” là sự cộng hưởng của nhiều giọng điệu, nhiều phong cách của nhiều cây bút cùng bàn luận đến vấn đề nữ quyền Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đề xuất khái niệm “ý thức nữ quyền” trong khi nghiên cứu truyện ngắn Trần Thùy Mai vì ý thức nhấn mạnh đến yếu tố tư duy, nhận thức chi phối nhà văn thể hiện cảm xúc, mong muốn của mình khi lựa chọn nhân vật nữ là trung tâm của sự phản ánh trong tác phẩm

1.2 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ của sự xuất hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986

1.2.1 Ý thức nữ quyền trong truyền thống văn học dân tộc

Nền văn hóa Việt Nam vốn có có xuất phát điểm là nền văn hóa mẫu hệ, nhưng kể từ khi tư tưởng Nho giáo xâm nhập và trở thành tôn giáo thống trị

xã hội Việt Nam đã cột chặt cuộc đời người phụ nữ bằng sợi dây cương tỏa

Trang 22

khổng lồ của tam tòng, tứ đức thì những quan niệm “lệnh ông không bằng

cồng bà”, “ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng”, “phúc đức tại mẫu”,… dần dần bị thay thế bởi những quan niệm có ý nghĩa đối lập “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “nhi nữ thường tình”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”,… Chế độ nam quyền được xác lập cùng Nho

giáo đã khiến cho người phụ nữ bị đẩy xuống địa vị thấp kém trong xã hội:

“Khôn ngoan cũng thể đàn bà/ Dù rằng vụng dại cũng là đàn ông”; “Đàn

ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”

Xã hội phong kiến đầy rẫy những hủ tục đã khiến những người phụ nữ Việt Nam truyền thống trở thành những kẻ nô lệ, phụ thuộc vào đàn ông và đôi khi chính họ cũng chấp nhận điều đó Không tự “giải cứu” cho mình được trong cuộc sống thực, một số người phụ nữ đã lấy văn đàn làm “cứu cánh” Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này trong văn học dân gian, và đặc biệt là trong văn học Việt Nam thời Trung đại

Văn học Trung đại, dưới sự kiềm tỏa ngặt nghèo của tư tưởng Khổng giáo, khuôn khổ xã hội và văn hoá được đặt ra chủ yếu để phục vụ đàn ông Nền văn học lúc này chủ yếu là phương tiện để chuyển tải ý chí, quan niệm về cuộc sống của các trang nam nhi Tuy nhiên ngay trong xã hội nam quyền

ấy người ta đã ghi nhận sự trỗi dậy của văn học nữ quyền, đặc biệt trong văn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu XIX Đó là sự xuất hiện của một số nữ sĩ tài danh như: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân, Sương Nguyệt Ánh… cùng với tác phẩm của một số tác giả nam

có ý thức bênh vực cho quyền sống của người phụ nữ như Nguyễn Du, Tú Xương… Trên mọi thể loại văn học, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với vị trí nhân vật trung tâm, từ người quý tộc đến người bình dân, lao động, thậm chí có cả tầng lớp thấp hèn là ca nhi, kĩ nữ Các tác giả đã chú trọng đề cao

vẻ đẹp hình thể, tài năng và tâm hồn của người phụ nữ (Truyện Kiều của

Nguyễn Du là trường hợp tiêu biểu) Đó còn là sự lên tiếng bênh vực quyền

Trang 23

sống của người phụ nữ, lên án xã hội bất công chà đạp quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc tình yêu lứa đôi của con người Tiêu biểu trong số này có

Truyện Kiều của Nguyễn Du - được xem là tiếng kêu than đứt ruột cho số

phận con người đặc biệt là những người phụ nữ:

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Nổi lên như một hiện tượng “lệch chuẩn” là Hồ Xuân Hương - tác giả nữ đầu tiên đã có ý thức dùng văn học như là một phương tiện để đấu tranh cho

nữ quyền một cách chủ động, dưới một hình thức táo bạo, quyết liệt nhưng vẫn đậm đà vẻ nữ tính của người phụ nữ Việt

Nhắc đến Hồ Xuân Hương người ta nghĩ đến một cá tính độc đáo, một bản lĩnh khác thường, một “kỳ nữ” (theo cách nói của Xuân Diệu) nhưng trong cuộc sống tình duyên nữ sĩ lại gặp nhiều éo le, trắc trở Là một nhà thơ

nữ với thân phận lẽ mọn, Hồ Xuân Hương đặc biệt chống đối kịch liệt chế độ

đa thê của xã hội đương thời Từ kinh nghiệm bản thân sau hai lần lập gia đình với Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường, Bà thấy rõ chế độ đa thê rất phổ biến trong xã hội phong kiến là một sự bất công của xã hội phụ quyền Hồ

Xuân Hương đưa vào thơ những lời ai oán: “Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng/

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Năm thì mười họa hay chăng chớ/ Một tháng đôi lần có cũng không”

Thân phận làm lẽ đã vậy, thế còn những người phụ nữ góa bụa rơi vào

cảnh “cán cân tạo hóa rơi đâu mất” khiến cho “cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”

thì sao? Tiếng thơ của nữ sĩ họ Hồ khiến người ta đau đáu Cùng phận đàn bà, chỉ có những người đàn bà mới thấm thía điều người đàn bà nào cũng cần hạnh phúc Hạnh phúc vốn là thứ mơ hồ nhưng thực ra vốn rất thực Trong một xã hội phong kiến không cho phép người phụ nữ góa tái giá thì cái tấm

“Bảng trinh tiết” còn có nghĩa gì khi phía sau nó là những khắc khoải, cô

đơn…

Trang 24

Và vì thế, trong thơ Hồ Xuân Hương, người ta thấy rõ sự khát khao một

tình yêu xứng đáng, một tình yêu mang yếu tố tính dục là hiện hữu: “Tài tử

văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom”

Lời kêu gọi của nữ sĩ họ Hồ ẩn chứa trong đó cả một sự đau đắm của người phụ nữ vẫn còn trẻ, còn khao khát nồng nàn mà có dễ gì tìm kiếm được tri ân

Có thể nói, thơ Hồ Xuân Hương gợi nhớ đến cả một truyền thống văn hóa phồn thực hồn hậu Hồ Xuân Hương đã đi trước thời đại mình, đã phản ánh được một nhu cầu xã hội lớn mà cuối thế kỷ XX mới được đặt ra cấp bách: nhu cầu giải phóng bản năng tính dục và thái độ nữ quyền về các hệ giá trị và lịch sử Mặc dù vậy, tiếng thơ của nữ sĩ họ Hồ cũng chỉ như những tiếng trống vừa róng riết, vừa thiết tha được đánh lên rồi lại nhanh chóng chìm vào không trung, vào giữa lòng xã hội phong kiến vốn dĩ không bao giờ chấp nhận những điều không thuộc “đạo lý” tam cương, ngũ thường Nên cuối cùng thơ bà bị coi là mối loạn, là lạc hệ thống, ngay lập tức bị đẩy ra ngoài văn chương chính thống, để rồi ước mơ của nữ sĩ họ Hồ vẫn mãi chỉ là mơ

ước: “Ví đây đổi phận làm trai được”!

Mảnh đất ươm mầm cho văn học nữ tính phát triển màu mỡ hơn phải kể đến những sóng gió lịch sử cùng bão táp cách mạng suốt thế kỷ XX Làn gió Phương Tây tràn đến và len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội và văn học Việt Nam Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, văn chương nữ giai đoạn này thực sự khởi sắc về lượng với sự xuất hiện của những cây bút nữ lưu bước chân ra từ chốn phòng the vốn lâu nay bị niêm phong kín cẩn bởi những quan niệm, những định kiến Từ sự góp mặt của các cây bút nữ xông xáo tham gia vào buổi đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc như: Phan Thị Bạch Vân, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Trần Thị Như Mân, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan… đến những gương mặt nữ mở ra cánh cửa thi ca đầu thế kỷ XX: Nguyễn Thị Manh Manh, Đạm Phương Mộng Tuyết, Trần Kim Phụng (Đinh Hương Đặng Thị Hồi), Trần Ngọc Lầu, Anh Thơ, Ngân Giang, Vân Đài, Hằng Phương … Họ

Trang 25

đã đứng cạnh những cây bút nam trong thời đại Thơ mới và vẽ thêm vào bức tranh của thời đại thi ca ấy giọng thơ riêng với sắc màu nữ tính mềm mại Ở miền Bắc, thời kỳ này, Thạch Lam, Nguyên Hồng được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ và trẻ em Không chỉ tái hiện thân phận bất hạnh của người phụ

nữ trên trang viết mà nhà văn còn khám phá để ngợi ca những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn các nhân vật yêu quý của mình bằng một tình cảm trân trọng và xót xa Tinh thần nữ quyền còn thể hiện rõ nét trong các tác phẩm Tự lực văn đoàn với nội dung chính là đấu tranh cho quyền sống (tự do luyến ái, tự do hôn nhân, được hưởng hạnh phúc) của người phụ nữ và tố cáo tàn dư của chế

độ phong kiến nam quyền hà khắc, xâm phạm nhân quyền

Văn học thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ do sự chi phối bởi nhiệm vụ cách mạng nên không đề cập đến các vấn đề đời tư - thế sự, nhân sinh như nữ quyền nhưng xuyên suốt văn học thời kì này, hình tượng người phụ nữ cũng vẫn được thể hiện như những mẫu anh hùng Trong nhiều tác phẩm, người phụ nữ được hình dung như những anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại

như chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi), chị Sứ (Hòn Đất của Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu), Trần Thị

Lý (Người con gái Việt Nam của Tố Hữu)… Tuy nhiên, do sự chi phối của đời sống chính trị nên “đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác

nhiều ở khía cạnh xã hội mà chưa chú ý nhiều đến đặc trưng về giới” Dù

vậy, nó cũng cho thấy truyền thống đề cao, tôn trọng người phụ nữ của dân tộc ta chưa bao giờ bị mất đi, ngay cả trong hoàn cảnh cần đến sức mạnh của người nam giới như chiến tranh

1.2.2 Sự khởi sắc của truyện ngắn nữ và sự nhấn mạnh ý thức nữ quyền trong tác phẩm của các nhà văn nữ

1.2.2.1 Sự khởi sắc của truyện ngắn nữ

Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỉ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập,

tự do, thống nhất cho đất nước Nền văn học sau thống nhất thời kỳ đầu từ năm 1975 đến năm 1985 dường như vẫn vận động theo quán tính cũ, vẫn tiếp

Trang 26

tục các đề tài về chiến tranh cách mạng và công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội Vì vậy, các sáng tác thời kỳ này vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi Nhưng hình như giới sáng tác bắt đầu cảm nhận thấy không thể tiếp tục viết văn như trước Những ẩn ức chiến tranh, những đổi thay trong đời sống cộng đồng, và cả những phức cảm trong đời sống cá nhân cũng như trong các mối quan hệ xã hội đã khiến những người cầm bút cảm nhận được rõ ràng rằng họ phải “nghĩ khác” và

“viết khác”

Năm 1986 tại Đại hội VI (12/1986) Đảng họp và chỉ ra con đường đổi mới là nhu cầu bức thiết, sống còn của dân tộc Công cuộc Đổi mới đã dẫn đến hàng loạt sự thay đổi trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Một “bầu khí quyển” mới đã bao phủ khắp các lĩnh vực, tất yếu khiến văn học Việt Nam cũng có những biến chuyển lớn lao cả về nội dung lẫn tư tưởng và nghệ thuật Những khuôn mẫu, công thức cũ một thời vốn được đề cao như những chuẩn mực trở thành lạc lõng Những hình mẫu con người trong thời đại mới được xây dựng hiện đại và toàn diện hơn với bao bộn bề, lo toan và cả gánh nặng cơm áo Người phụ nữ truyền thống vốn dĩ “tùng thuận” an phận với sự chở che của “bóng tùng quân” giờ phải lao mình vào cuộc sống để mưu sinh với tất cả những chao chát lẫn lam lũ, tảo tần Người phụ nữ được/bị soi chiếu

đa chiều dưới góc nhìn của cuộc sống mới Những phẩm chất truyền thống như “công, dung, ngôn, hạnh”, “tam tòng”,“tứ đức” tuy vẫn được đề cao, tôn trọng nhưng đó không còn là chuẩn mực, khuôn thước duy nhất để đánh giá giá trị của một người phụ nữ nữa Những giá trị mới như: trình độ học vấn, sự thành đạt, ảnh hưởng trong gia đình và ngoài xã hội, khả năng giao tiếp, gu thẩm mĩ - thời trang… được bổ sung thêm vào hệ thống phẩm chất của người phụ nữ thời đại Rất nhiều trường hợp yêu cầu người phụ nữ phải trang bị cho mình những phẩm chất của nam giới như sự mạnh mẽ, cứng rắn, cá tính để phù hợp với công việc… Rõ ràng, mẫu hình phụ nữ lý tưởng hiện nay tuy vẫn

Trang 27

tiếp nối mẫu phụ nữ truyền thống ở vai trò quan trọng trong gia đình nhưng

họ không còn giới hạn bản thân trong không gian nhỏ hẹp là gia đình nữa mà

đã vươn ra để khẳng định mình trong đời sống xã hội

Sự thay đổi hình mẫu người phụ nữ trong thời đại mới về vai trò, vị trí, phẩm chất, năng lực… kéo theo sự xuất hiện những quyền lợi mới của người phụ nữ Bên cạnh những quyền lợi được luật pháp bảo hộ, người phụ nữ ngày càng có nhiều hơn những nhu cầu mang tính cá nhân như sự thụ hưởng cuộc sống, nhu cầu được tôn trọng, thấu hiểu; được tự do trong tình yêu, tình dục; được thể hiện cá tính, năng lực…

Đời sống tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam hiện đại cũng có nhiều biểu hiện phức tạp hơn Thế giới tâm hồn ấy có cả những điều bình dị lẫn những biểu hiện phức tạp, đầy mâu thuẫn, có những “thiên tính nữ” cao đẹp

và cả những thói tật đời thường Họ khao khát tự do, hạnh phúc; mong muốn được trân trọng, thấu hiểu; muốn được chủ động trong cuộc sống, tình yêu, tình dục Nỗi bất hạnh, bi kịch của người phụ nữ không hẳn là sự nghèo đói,

bị cư xử bất công, bị bạo hành như thế hệ các mẹ, các chị trong truyền thống

mà đôi khi, một khát vọng hạnh phúc “ngoài tầm”, ý muốn được sống là chính mình không thành, những biểu hiện vô tâm, thô lỗ của người đàn ông,

sự tàn phai của nhan sắc… cũng có thể khái quát nên bi kịch thân phận của người phụ nữ Chính vì vậy, sau 1986, hình mẫu người phụ nữ lý tưởng là người dám sống như một chủ thể tích cực, độc lập so với đàn ông; có trí tuệ, tâm hồn, cá tính; biết sống vì người và nâng niu bản thân mình… Hình mẫu người phụ nữ lý tưởng trong thời đại mới là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo của các nhà văn sau 1986 Hàng loạt những mẫu hình phụ nữ có nhan sắc, tài năng, bản lĩnh, dám thể hiện và khẳng định mình… đã được biểu dương trong đời sống và trong văn chương Để thực sự có tiếng nói nữ quyền, các tác phẩm văn học không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ, đấu tranh bênh vực quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của họ mà hơn hết, phải thấu

Trang 28

hiểu, phản ánh chân thực những “góc khuất” trong số phận và tâm hồn, để họ được làm một người phụ nữ đích thực như giới tính của mình

Sau 1986, các nhà văn nữ xuất hiện ngày càng phổ biến và họ đã sớm khẳng định được tài năng của mình trong sáng tác Chưa bao giờ người ta thấy trong văn học Việt Nam xuất hiện một đội ngũ sáng tác đông đảo, hùng hậu các nhà văn nữ như lúc này Sự mạnh dạn, tự tin, thẳng thắn bộc bạch cái

tôi nữ giới đã xác lập được vị thế của “đặc tính nữ” trong văn học Thế hệ nữ

nhà văn đầu tiên sau chiến tranh bằng tài năng đã tạo được dấu ấn ý thức phái tính nữ với sắc thái đa dạng, độc đáo, mới lạ phải kể đến Trần Thuỳ Mai, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, Thuỳ Dương, Võ Thị Xuân

Hà, Phan Thị Vàng Anh… sóng đôi bên cạnh các nhà văn nam giới như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Phan Triều Hải, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà Bùi Việt Thắng đã đánh giá: “Văn học Việt Nam đang mang gương mặt phụ nữ khoan dung, trắc ẩn

và đắm đuối” Là những cây bút nữ, nên điều các nhà văn nữ quan tâm nhiều nhất trong sáng tác của mình là thân phận của những người cùng giới được đan cài trong những câu chuyện thường ngày với những vui buồn được mất giữa cho và nhận, bất hạnh và hạnh phúc Họ đã viết về những mảnh đời bất hạnh bằng tất cả sự thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau của con người trong nhiều trạng huống khác nhau Bên cạnh những nét chung đó, mỗi cây bút nữ lại có những bản sắc riêng khó lẫn, tạo nên cá tính và phong cách khác nhau

mà chúng ta có thể nhận diện qua một số chân dung cụ thể tiêu biểu sau

Và ở thời điểm hiện tại trong khoảng 15 năm trở lại đây là sự lấn át của đội ngũ những cây viết nữ trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, Cấn Vân Khánh, Trang

Hạ, Di Li… bên cạnh những nhà văn nữ trước đó vẫn dồi dào sức sáng tạo như Trần Thùy Mai, Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà… Nhà lý luận Văn học Hoàng Ngọc Hiến gọi đây là hiện tượng “âm thịnh dương suy” Còn Nguyễn Thanh Tâm thì nhận xét: “Văn chương viết về nữ

Trang 29

giới, mang sắc thái nữ tính hay nữ quyền đang trỗi dậy như một hệ giá trị của đời sống đương đại”

Về nội dung, văn học có xu hướng trở về với cái đời thường muôn mặt với tất cả sự bộn bề, phức tạp, trái ngang của cuộc sống và con người thời hiện đại Đặc biệt và nổi bật là sự hiện diện của hệ thống hình tượng nhân vật

nữ mang đặc điểm của những người phụ nữ trong thời đại nữ quyền với tư cách là một khách thể thẩm mỹ độc lập Nếu như trước đây, văn xuôi viết về người phụ nữ thường theo hướng phê phán hay ngợi ca từ cái nhìn đạo đức, chỉ sử dụng nhân vật nữ để chuyển tải một quan niệm, tư tưởng thì trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, việc xem phụ nữ như một khách thể thẩm mỹ độc lập, như một thế giới riêng đầy bí ẩn và hấp dẫn cần được khám phá và lý giải đã trở thành một trào lưu văn học mới Có thể nói, chưa bao giờ người phụ nữ lại giành được sự quan tâm lớn của đông đảo người cầm bút như hiện nay Thậm chí, chỉ nhìn qua tên tác phẩm, người đọc cũng có thể phần nào thấy được thế giới phụ nữ qua cái nhìn của nhà văn hôm nay đa dạng và đa sự đến nhường nào Bằng kinh nghiệm của bản thân, các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn nữ thoải mái phô bày đời sống của người phụ nữ ở tầng sâu bản thể Họ đem đến cho văn học những trải nghiệm mới, những hiểu biết mới về người phụ nữ Thông qua những trang viết đầy nữ tính, các nhà văn nữ đã trình bày những quan niệm độc đáo về đời sống và về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội hiện đại Âm hưởng nữ quyền đã in dấu đậm nét trong văn xuôi nữ Việt Nam

đương đại, đặc biệt là từ sau năm 1986

1.2.2.2 Sự nhấn mạnh ý thức nữ quyền trong tác phẩm của các nhà văn nữ

Văn học nữ đương đại nở rộ và tạo thành một dòng chảy Ở dòng chảy chung đó, họ được tự do phơi mở cái tôi cá nhân của chính mình với những giọng điệu riêng, cách thức riêng Họ mạnh dạn thể hiện sự thức tỉnh ý thức

cá nhân, khát vọng cá nhân ở tầng sâu bản thể và khẳng định giá trị sống của mình Mỗi nhà văn nữ thường khai thác các nhân vật nữ của mình ở những

Trang 30

bình diện tâm lý khác nhau, trong môi trường sống khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau,… nhưng tựu chung lại, họ đều muốn gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình một thông điệp về người phụ nữ Những nữ nhân vật sẽ trải lòng sau những trải nghiệm về cuộc sống thường nhật, sẽ bước ra từ những cánh cửa, xó bếp để cho một nửa nhân loại thấy mình và hiểu được mình - những tâm hồn người phụ nữ với tất cả yêu thương, khát khao cháy bỏng, với mong muốn tột cùng và cả những nhu cầu rất “người” chưa từng được văn học quá khứ gọi tên một cách trực diện

Như vậy với sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ nhà văn nữ được xem

là nhân tố quan trọng nhất, trực tiếp nhất thúc đẩy sự trở lại mạnh mẽ của tinh thần nữ quyền trong văn học Ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của các nhà văn nữ, đã xác lập nên một lối viết nữ trong văn học Hình tượng người phụ nữ với những giá trị, phẩm chất vốn xưa nay thường được nhìn nhận, đánh giá dưới đôi mắt của nam quyền, thì giờ đây đã được nhìn nhận bằng đôi mắt của chính họ - những nhà văn nữ Việc sáng tác với các chị, vừa như hoạt động “thể nghiệm” mình trên trang viết vừa như trải nghiệm, khám phá, bộc lộ những cái “tôi” mới “khác mình” Cũng vì thế, những vấn đề liên quan đến cuộc sống của người phụ nữ như quyền lợi, “tiếng nói” của thân xác và tinh thần, cái nhìn về sự hy sinh và những “đòi hỏi” của người phụ nữ, nhìn nhận về thế giới đàn ông… trong trang viết của họ vừa quen, vừa lạ nhưng hơn hết, nó chân thực, gần gũi và thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân bản Chính hành trình mà các cây bút nữ đã và đang đi - đó là một hành trình thúc đẩy văn học phát triển theo hướng dân chủ hóa

1.3 Truyện ngắn của Trần Thùy Mai và tiếng nói riêng về nữ quyền

1.3.1 Ý thức nữ quyền từ quan niệm sáng tác

Trần Thùy Mai cùng với thế hệ của mình như Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc là những nhà văn nữ cầm bút đầu tiên sau chiến tranh Là một phụ nữ Huế nhẹ nhàng, tinh tế, sâu sắc, Trần Thùy Mai có những quan niệm nghệ

Trang 31

thuật khá toàn diện về hiện thực, về con người, về nghề văn và người cầm bút, trong đó quan niệm sáng tác của chị có nhiều điểm thú vị, đặc sắc Cuộc sống riêng tư không bình lặng, đã đi qua những ngày giông bão nên với chị “Hạnh phúc của người phụ nữ viết văn giống như niềm vui của cái cây được mọc lên trong đất và khí trời để sống Niềm hạnh phúc ấy giúp tôi sống và vượt qua những năm tháng khó khăn nhất trong cuộc đời” Lối viết như giải bày, chia

sẻ phải chăng xuất phát từ quan điểm của nhà văn “viết văn là một cách để yêu thương” nên trong từng trang văn của chị luôn hiện hữu tấm lòng yêu thương và sự chan hòa với cuộc sống Toàn bộ các nhân vật trong truyện ngắn của chị đều mang dáng dấp riêng và được chị gửi gắm những tâm sự, những suy nghĩ của mình về cuộc đời, về con người

Cũng như số đông các nhà văn thời hậu chiến, Trần Thùy Mai cũng hướng ngòi bút của mình đến sự khám phá và phản ánh hiện thực ở góc nhìn đời tư, thế sự Có thể nói Đại hội Đảng lần thứ VI, với chủ trương đổi mới

“nhìn thẳng, nói thẳng” sự thật, văn nghệ sĩ thực sự được cởi trói là cơ sở, động lực thôi thúc các nhà văn viết một cái gì đó về nữ quyền, góp thêm tiếng nói đấu tranh cho nữ giới Trần Thùy Mai cùng với những nhà văn nữ cùng thời đã xác lập nên một lối viết nữ, tô đậm dòng chảy ý thức nữ quyền trong đời sống văn học dân tộc từ những quan niệm sáng tác đến các mảng đề tài lựa chọn Không đao to, búa lớn, không bạo liệt, mạnh mẽ trong cách thể hiện

ý thức nữ quyền trong tác phẩm như nhà văn Lý Lan, Y Ban nhưng Trần Thùy Mai đã viết về người phụ nữ và đời sống nội tâm của họ như “tính tất yếu”, như “bản năng người phụ nữ” đúng như chị từng quan niệm “ Nữ quyền

là sự xuất hiện có tính tất yếu trong văn học dưới sự tác động của đời sống và đặc biệt là bản năng người phụ nữ”[68] Với cái nhìn đồng cảm, đầy yêu thương chị quan tâm tới nỗi bất hạnh, sự cô đơn, khát vọng về tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ Trong xu hướng tìm lại con người ở những đặc trưng bản thể và khát khao trần thế chị nhìn nhận người phụ nữ nghiêng về những gì

Trang 32

thuộc về thiên tính, thiên chức, bản năng của họ Trong tác phẩm của chị người phụ nữ được khai thác ở nhiều khía cạnh với thiên chức làm vợ, làm

mẹ, những khát khao nhục thể, những khát vọng trần thế, bình dị, tất yếu nhất của một người phụ nữ Chị chiếm lĩnh hiện thực ở tầng sâu khi hướng đến những số phận cá nhân với những lo toan , dằn vặt và những khát vọng đời thường bằng cái nhìn nhân ái, giàu tinh thần nhân bản Bởi thế hiện thực trong tác phẩm của chị nhiều khi không thể nhìn bằng con mắt ráo hoảnh, trần trụi

mà phải cảm nhận bằng cả tâm hồn thông qua những bi kịch nội tâm, thậm chí cả những giấc mơ huyền thoại Ở sáng tác của Trần Thùy Mai dẫu vẫn có

sự chen lẫn, đan cài giữa cái cao thượng và thấp hèn, giữa ích kỷ và bao dung, giữa phần người và phần quỷ…, nhưng Trần Thùy Mai luôn dùng hiện thực

ấy để hướng con người tới cái đẹp, cái thiện, để phần người lấn át phần quỷ,

để con người có được niềm tin vào cuộc sống Chính vì thế đọc truyện ngắn của chị, người đọc ít thấy sự xô bồ, hỗn tạp của cuộc sống, có chăng chỉ ở một vài tác phẩm trong những năm đầu cầm bút; hầu như chỉ thấy trong tác phẩm của chị sự thanh thoát, nhẹ nhàng, dẫu có bi kịch nhưng vẫn đầy tin yêu ở cuộc đời Những áng văn chương “nhẹ nhàng như…hơi thở” Không biết có phải do mảnh đất - con người Huế gần với tính nữ nhiều hơn hay bởi xuất phát từ quan điểm sáng tác của chị “giới tính có ảnh hưởng nhiều đến cách viết cũng như cách nhìn nhận ngoại giới của mình”[24] mà trên những trang văn của người phụ nữ này bao giờ cũng thấm đẫm niềm cảm thương với những thân phận quanh mình

Mười hai tập truyện ngắn với những hoàn cảnh khác nhau chính là sự chiêm nghiệm cuộc sống, là sự đồng cảm và yêu thương những con người bất hạnh Bởi như chị nói: “Tôi thích viết để được tồn tại trong nhiều cảnh đời khác nhau, được sống những gì tôi ước mơ, được nói những điều không nói ở đời thường Viết, như vậy là một cách để vượt thoát ra ngoài những giới hạn của đời người nhỏ bé”[19]

Trang 33

1.3.2 Những trang văn giàu ý thức nữ quyền

Khi nghĩ đến Trần Thùy Mai, nhìn những bức ảnh và đọc những truyện

ngắn của chị, bên tai tôi như văng vẳng câu thơ “Người thơ phong vận như

thơ ấy”, dù chị là một cây bút chuyên về truyện ngắn Sự tinh tế, nhẹ nhàng

thấm đượm trong những trang văn là nét nổi bật nhất trong phong cách của chị - “cây bút giàu nữ tính nhất trong làng truyện ngắn Việt Nam hiện nay” Đọc truyện của chị bao giờ cũng đưa đến cho người đọc những cảm xúc thật đẹp đẽ, ngọt ngào, mang đậm giá trị nhân văn Trần Thùy Mai thường đề cập đến những số phận riêng lẻ, những khát vọng, những bi kịch nhân sinh từ góc quan sát khá hẹp: gia đình và tình yêu với những quan hệ đời thường Thực ra tiếp cận hiện thực từ góc nhìn đời tư là đặc điểm của truyện ngắn sau 1975 Không còn tập trung quan tâm đến số phận, hạnh phúc của cả cộng đồng, cả dân tộc như trước, các tác phẩm văn học lúc này hướng tới những con người đời thường trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp đặc biệt

là các vấn đề gia đình, tình yêu, đạo đức cá nhân với những góc khuất, những mặt tối như sự băng hoại đạo đức ở một lớp người do mặt trái của cơ chế thị trường, những cảnh bức bối ngột ngạt, những vết rạn nứt, những cơn sốc và

sự khủng hoảng trong quan hệ vợ chồng, cha con, anh em… Ta có thể bắt gặp

tư duy nghệ thuật này ở rất nhiều nhà văn nữ như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan… Nguyễn Thị Thu Huệ có cách tiếp cận nhạy bén với “cái đời thường” thời mở cửa, song có phần riết róng hơn Thu Huệ khám phá con người ở góc độ đời tư trong những không gian hẹp với sự trăn trở về những bi kịch gia đình và xã hội trước sự sụp đổ giá trị đời sống Ở đó chị đã phát hiện thấy những con người ích kỷ, chạy theo hưởng thụ, lảng tránh trách nhiệm cá nhân mà không quan tâm đến các thành viên khác trong gia đình Nguyễn Thị Thu Huệ luôn muốn đi sâu vào những cảnh đời bức bối, ngột ngạt với những nỗi đau dồn nén Còn nét khác biệt của Trần Thùy Mai là ở chỗ, riêng với đề tài gia đình, chị không quá chú trọng tới những vấn đề mâu thuẫn phức tạp

Trang 34

giữa mẹ chồng, nàng dâu, hay trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái hoặc sự ngột ngạt, bức bối cần phải giải quyết ngay trong cuộc sống vợ chồng Chị viết về gia đình với những câu chuyện bình thường, giản dị mà chan chứa

lòng yêu thương và niềm tin, hy vọng Chuyện cũ ở quê nhà, Ở một nơi xa

xôi, Thương lắm ngoại ơi…là những câu chuyện như thế Ở đó, người đọc

còn tìm thấy những khát vọng đầy nhân bản mà nhà văn gói gém trong từng câu chữ Ý thức nữ quyền cứ bật lên, loang ra, từ ba thế hệ - những mảnh đời phụ nữ đồng dạng, rất buồn Một bà mẹ chồng vừa cay nghiệt, vừa bao dung (Bà tôi) Một cô con dâu “không có tuổi nào là thiếu nữ, chỉ toàn là gió bụi và gian truân” (Mẹ tôi) và “một con người vừa đạp tống vào lòng mẹ, nhảy vào

đời” (Em gái tôi) (Chuyện cũ ở quê nhà)

Trong những câu chuyện gia đình, một điểm nữa Trần Thùy Mai khác với các nhà văn nữ cùng thời, chị không tập trung vào những chi tiết của cuộc sống sinh hoạt Có thể thấy chuyện cơm nước, quần áo, cãi cọ, con cái, bếp núc…xuất hiện rất ít mà nhường chỗ cho sự miêu tả những tâm tư, tình cảm,

đời sống nội tâm của con người Có những truyện có cảm giác như chị “cúi

xuống lòng mình mà nhả chữ”[22] Những trăn trở, những day dứt, dằn vặt và

cả những khát khao vượt thoát ra khỏi cánh cửa gia đình của những người phụ

nữ trong các câu chuyện ấy, Trần Thùy Mai không đánh giá, phán xét bằng cái nhìn đạo đức mà khéo láo dẫn dắt người đọc đến một sự lựa chọn mang

tính nhân bản Trong Tàu ngầm xuyên đại dương niềm khao khát hạnh phúc,

đã kéo tuột người vợ ra khỏi con người của gia đình, của trách nhiệm Cô hạnh phúc vì được đắm mình trong tình yêu, được vỗ về, chăm sóc, yêu thương với một người đàn ông khác Nhưng tình yêu, hạnh phúc cũng không vĩnh viễn ở lại cùng cô Người trong mộng của cô đã nhẫn tâm nói lời chấm dứt nhưng cô như không thể và không muốn thoát ra khỏi giấc mơ yêu Đam

mê, cuồng nhiệt nhưng cũng chất chứa bao dại khờ, nông nổi là nét nổi bật của những người đàn bà trong các câu chuyện của Trần Thùy Mai Vì thế,

Trang 35

truyện ngắn của Trần Thùy Mai không phân ra các tuyến nhân vật chính diện, phản diện Mỗi nhân vật đều là chính diện hoặc phản diện theo một cách nào

đó Ngay cả mặt tốt và mặt xấu ở mỗi nhân vật cũng không được miêu tả trong tư thế xung đột mà được đặt cạnh nhau hoặc xen lẫn vào nhau Nhưng

dù tốt - xấu, hoàn thiện - chưa hoàn thiện, “nhân vật của chị đều sống bằng tâm hồn, nặng lòng với chữ tình, trái tim đập nhờ hơi ấm của tình yêu”[42] Viết về gia đình, nhà văn đã dành nhiều ưu ái cho những nhân vật nữ Nhân vật nữ của chị mỗi người có một “khuôn mặt riêng”, “một số phận riêng” nhưng đều sống hết mình, yêu hết mình Họ có thể là những nữ trí thức

có nhan sắc, tâm hồn, tình yêu say đắm, đam mê, khát vọng như là Hạnh

(Trăng nơi đáy giếng), là Hằng (Chờ nhau ở cuối con đường), Na (Người bán

linh hồn), tôi ( Hoa sứ trắng)…Họ còn là những mảnh đời bất hạnh như Vy

ngây (Eva dại dột), Thúy câm (Am bà cô), Niết (Lửa của khoảnh khắc), Hà

“gái bán hoa” (Nốt ruồi son)… Mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc đời, tốt

và xấu, hoàn thiện và chưa hoàn thiện, xáo động, chuyển hóa lẫn nhau nhưng

họ đều khao khát đuổi tìm hạnh phúc để rồi hạnh phúc với họ như chiếc cầu vồng mờ ảo cuối chân trời, như cánh cửa thứ chín của mỗi đời người, đầy hứa hẹn nhưng không thể mở ra Cuộc đời mỗi người đàn bà ấy đều phải mang một “cây thập tự” như một sự nhọc nhằn, vất vả của kiếp người, song trong bất hạnh, khổ đau họ vẫn ngời sáng vẻ đẹp của lòng nhân ái, sự hi sinh thầm lặng, lòng vị tha, bao dung cao cả của thiên tính nữ Phải chăng ý thức nữ quyền thể hiện rõ nhất trên những trang văn của chị chính là viết về những mảnh vỡ đời người cay cực, những khất lấp trong tâm hồn, mỗi nhân vật một phúc phận nhưng cuối cùng vẫn sáng ngời khát vọng hoàn thiện, dường như

để đối lập với những gì tầm thường, giả dối, lạnh lùng giữa cuộc đời “bộn bề bóng tối và ánh sáng” Đồng thời, giúp người đọc thấm thía hơn về lẽ sống, tình đời

Trang 36

Có thể nói thế giới văn chương của Trần Thùy Mai là thế giới của những giấc mơ yêu Đề tài quen thuộc trong truyện của chị là đề tài tình yêu - một trong những đề tài vĩnh cửu của văn chương nhân loại Tình yêu trong văn chị luôn hiện hữu với sự ngọt ngào, lãng mạn lẫn ngang trái, xót xa Cái đẹp và

hạnh phúc trong hàng loạt truyện ngắn của chị như Thương nhớ hoàng lan,

Gió thiên đường, Lửa của khoảnh khắc, Trò chơi cấm, Thập tự hoa… đều rất

mong manh Hạnh phúc mà người thiếu phụ trong Thập tự hoa hưởng hết sức

ngắn ngủi chẳng khác gì “một giấc mơ hoang tưởng” Lửa tình yêu của Niết trong một khoảng khắc bùng lên dữ dội rồi lụi dần đi trong nỗi day dứt, xót

xa Tình yêu của Lan trong Thương nhớ hoàng lan cũng mong manh, cũng

hoang tưởng như vậy Chưa kịp định hình, chưa gọi thành tên, Lan đã buộc lòng phải lấy chồng xa xứ còn Minh thì tiếp tục đời sống tu hành Những gì

mà Quyên trong Cánh cửa thứ chín được hưởng lại càng mong manh hơn

Chỉ cần một lần gặp “người trong mộng” là hạnh phúc tan biến như bong bóng xà phòng: Một thế giới vừa bị vùi lấp… không còn mây trời biển và rừng trong bốn bức tường vây kín… Có nghĩa là tình yêu của nàng với người nàng vẫn trò chuyện qua điện thoại cũng chỉ là “một giấc mơ hoang tưởng mà thôi” Nhưng dẫu có nhiều đắng đót và xót xa đi chăng nữa thì những người đàn bà trong các câu chuyện tình yêu ấy vẫn khát khao vươn tới bởi “Trong tình yêu hạnh phúc thật ngọt ngào mà khổ đau cũng đầy thi vị Chỉ có sự

trống rỗng chán chường của kẻ không yêu mới thật khủng khiếp” (Gió thiên

đường) Nên ngay cả khi hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay, người đàn bà trong Thập tự hoa vẫn ôm ấp và giữ mãi cảm giác, kỷ niệm của tình yêu Chị đặt

niềm tin và hi vọng vào cô con gái sẽ là “con thuyền chở ngọn lửa của trái tim non dại khơi từ những giấc mơ tro vùi của mẹ” Bất chấp lời khuyên của cha,

Mi vẫn tin và chờ đợi đêm Noen được ở bên Hiếu: “Tôi yêu Hiếu Bởi chỉ có niềm tin mới giúp tôi sống… Cuộc đời như dòng sông, ai nói trước được nó

sẽ đi qua những ghềnh thác nào Nhưng hôm nay, dòng sông đang trôi qua những bờ cỏ mịn màng, đang in bóng trời xanh mây trắng Lẽ nào sợ thác

Trang 37

ghềnh mà sông không dám chảy?” (Gió thiên đường) Dẫu con người chưa dễ

gì vượt qua được “những giới hạn khắt khe của thực tại” nhưng niềm tin đã giúp họ đứng vững trước những biến động của cuộc đời và sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn Nhờ đó, người đọc nhận thấy tình yêu trong những trang văn của Trần Thùy Mai không đơn thuần là tình cảm nam nữ mà còn là biểu tượng của khát vọng tuyệt đối, là sự níu giữ niềm tin, là sự băn khoăn kiếm tìm lẽ sống Nó nhắc nhở mọi người phải biết tận hưởng, phải biết bảo vệ, phải biết nâng niu trân trọng cái đẹp và hạnh phúc trong cuộc sống Bởi chị từng thổ lộ

“dẫu có thấm vị xót xa đi chăng nữa” thì “tình yêu là đôi cánh giúp con người vượt qua biên giới của chính mình” bởi “khát vọng vô bờ mà thực tế lại khắt khe” nhưng “không phải vì thế mà người ta thôi ước mơ, không phải vì thế

mà những giấc mơ không đẹp”

Như vậy, tiếp nhận ý thức nữ quyền từ truyền thống văn hóa, văn học dân tộc, từ phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng trên thế giới, từ sự tác động của đời sống nội tại văn học sau 1986 và chính từ trái tim đa cảm, nhân hậu, giàu yêu thương của một người phụ nữ rất đỗi tinh tế, nhẹ nhàng mà Trần Thùy Mai đã viết nên những trang văn thấm đẫm ý thức nữ quyền để ca ngợi, để cảm thương, để xót xa, cay đắng cho những số phận, những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống Vì thế, lắng lại sau mỗi trang văn của chị là vẻ đẹp những trang đời với những cảm xúc thật đẹp đẽ, ngọt ngào, mang đậm giá trị nhân văn

Tiểu kết chương 1

Văn học Việt Nam, đặc biệt là văn xuôi, từ năm 1986 đến nay đã thực

sự tạo nên một giai đoạn phát triển sôi động, với nhiều nét mới, nhiều hướng

đi táo bạo, vừa phát triển khởi sắc nhưng cũng đầy phong phú, phức tạp Trong những đóng góp của một đội ngũ đông đảo các nhà văn nữ, tác giả Trần Thùy Mai đã lặng lẽ ghi dấu ấn của mình vào một dòng văn xuôi: dòng văn thể hiện ý thức nữ quyền với những đặc điểm riêng, mang đậm ý thức giới tính nữ

Trang 38

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA Ý THỨC NỮ QUYỀN

TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI

2.1 Đề cao vẻ đẹp toàn diện của người phụ nữ

Văn học trước 1986, do quan niệm một cách đơn giản về lối viết thân thể, đưa khái niệm này xuống gần với sự trình bày thân xác thuần túy chứ không phải là sự mô tả thân thể mang giá trị nhân sinh và thẩm mỹ nên đây bị xem là lĩnh vực “nhạy cảm”, “cấm kỵ” trong văn chương (đặc biệt là văn chương thời phong kiến) Liều lĩnh và hi hữu lắm mới có một vài tác giả mô

tả một cách chung chung, trừu tượng và ước lệ về thân thể nữ như Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương… Cũng chính vì lẽ đó, một số tác phẩm của họ từng bị quy kết là “dâm thư”, “văn học tà dâm”

Văn học sau 1986, với cách tiếp cận người phụ nữ như một đối tượng thẩm mỹ trung tâm của văn học, các nhà văn thực sự đã làm cho vấn đề phụ

nữ trở thành vấn đề nổi bật Những thứ xoay quanh người phu nữ như thân phận, vai trò, vị trí trong gia đình và xã hội, vẻ đẹp hình thể, tâm hồn, những quyền lợi chính đáng… là tâm điểm của quá trình sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm Những khám phá này đã đưa người phụ nữ trở về với cuộc sống trần thế “thực hơn” và “đời hơn”

Truyện ngắn Trần Thùy Mai luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho những người phụ nữ Nhân vật nữ của chị đa dạng, nếu xét về nghề nghiệp thì

đủ các thành phần: từ người lao động bình thường đến người nghệ sĩ, từ người trí thức đến gái bán hoa; nếu xét về độ tuổi thì có tuổi trẻ, có trung niên và cả tuổi xế bóng; nếu xét về khoảng cách địa lý thì có cả người miền xuôi lẫn người miền ngược, người trong nước đến người nước ngoài Những người phụ nữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai dưới cái nhìn của một nhà văn giàu

nữ tính hiện lên hết sức sinh động Mỗi người có một khuôn mặt riêng, số phận riêng, một cảnh đời không hề lặp lại, thể hiện cảm nhận sâu sắc về cuộc

Trang 39

đời và con người của nhà văn Hầu hết các nhân vật nữ của Trần Thùy Mai đều đẹp, vẻ đẹp toàn diện từ hình thể, tâm hồn, tính cách và tài năng, đúng như chị từng tâm sự: “Tôi luôn tâm niệm là giữ cho tâm hồn mình sự rung động trước cuộc sống và nuôi dưỡng niềm tin vào con người.Vì con người rất đẹp và dù cho nó có những mặt xấu xí và tầm thường đi nữa thì mình cũng không thể sống mà không thương yêu”

2.1.1 Vẻ đẹp hình thể

Trần Thùy Mai là nhà văn khá chú trọng trong việc khắc họa ngoại hình nhân vật Có lẽ do ý thức nữ quyền chi phối nên khi nhà văn xây dựng nhân vật nữ hầu hết họ đều đẹp: có những vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ, có những vẻ đẹp mặn mà, sâu sắc, có những vẻ đẹp chất phác, giản dị, có những vẻ đẹp cao sang, quyền quý… Nhà văn miêu tả nhân vật với những nét nổi bật nhất

đủ làm nên một khuôn mặt riêng khó trộn lẫn Những nét ngoại hình ấy đã góp phần làm cho nhân vật toàn diện hơn, ấn tượng hơn

Trước hết, đó là vẻ đẹp của những cô gái mới mười tám, hai mươi tuổi với vẻ đẹp tinh khôi, trong sáng Đó là Na “đôi mắt to đen với hàng lông mi

dày và cong, trông man dã và nồng nàn” (Người bán linh hồn) Là Lan (Thương nhớ hoàng lan) nhỏ nhắn, tinh nghịch, xinh xắn và rất đáng yêu

Hay, Hà Hoa với “da thịt mịn như tơ bông”, “người mủm mỉm, da trắng

mỏng” (Một đêm ở thành Phú Xuân) Thương (Dễ vỡ) “một cô bé xinh như

mộng, có đôi mắt lúc nào cũng bỡ ngỡ nhìn lên với hai hàng lông mi óng ả cứ chới với như đôi cánh bướm”… Những cô bé đó đều mang một vẻ đẹp mỏng manh như dự báo về một cuộc đời không bình lặng

Bên cạnh những cô bé trong sáng ngây thơ, Trần Thùy Mai còn xây dựng những tính cách lạ thường, toát lên từ vẻ bề ngoài của “một cô bé rất

bụi, bụi một cách tiểu thư” như Ngọc ( Mắt nhân sư), “vẻ giằng xé kỳ lạ trong

mắt nàng, đấy là vẻ cứng cỏi pha lẫn khổ ải, kiêu sa lẫn với nhục nhằn, giống như mắt một con thú rừng bị đói” Trần Thùy Mai miêu tả ngoại hình mà cứ

Trang 40

như đi vào tận chốn sâu kín nhất của tâm hồn nhân vật để người đọc không thôi ám ảnh về những xót xa, tuyệt vọng mà những cô bé phải gánh chịu trong cuộc đời

Xuất hiện phần nhiều trong các tác phẩm của chị là vẻ đẹp mặn mà, đằm thắm của những người đàn bà đã chịu không ít cay đắng trong cuộc đời Đó là Trúc “… Chị thật đẹp, khuôn mặt trái xoan, nước da rời rợi trắng”, “nụ cười

với cái răng khểnh mới thơ dại, tươi tắn làm sao” (Chị Hai ơi) Đó là người đàn bà mặc áo tím với “nụ cười lặn sâu trong mắt” (Trò chơi cấm) Hay là vẻ

u buồn, lặng lẽ của người đàn bà trong Thập tự hoa: “người đàn bà - mẹ đứa

trẻ dường như ngày một lặng lẽ, đằm thắm hơn, mặc những chiếc áo sẫm màu hơn Rồi… chỉ còn thấy chị mặc một màu áo đen Những chiếc áo đen cổ trái tim với cây thánh giá bạc dưới ngấn cổ xanh; … Trên khuôn mặt thấp thoáng vài nét hằn của thời gian là nét cười buồn trẻ thơ…” Có thể nhận thấy nhà văn đã rất ưu ái trong việc khắc họa khuôn mặt của những người đàn bà ấy - những cuộc đời khép kín, u sầu, hoài niệm quá khứ, bó buộc mình trong một vòng tròn bế tắc, xót xa nhưng thời gian và những đắng đót của cuộc đời dường như không thể chạm vào những vẻ đẹp dịu dàng, thanh tú và đầy nữ tính ấy

Đó còn là vẻ đẹp của những người đàn bà ý thức được vẻ đẹp của mình

và biến vẻ đẹp ấy thành sức mạnh Đó là Diễm trong Cố nhân biết dùng nụ

cười mê hoặc để có được “những bước đi thần kỳ” , “… nụ cười nàng thơ dại như đứa trẻ, đôi mắt xanh trong…; tuổi trạc ba mươi, chân dài, đẹp cỡ hoa hậu nhưng trong có dáng ngoan hiền và thơ dại của một nhà thơ lớn hơn là một nhân viên kinh doanh năng nổ; ánh mắt cứ lạc loài như một con nai vàng ngơ ngác” Đó còn là Tuyết N từ thân phận một cô gái quán karaoke đã trở thành bà chủ gallery Kình Dương tầm cỡ: “Người đàn bà đẹp lộng lẫy với cái mũi dọc dừa cao quý và đôi lông mày vút lên như hai cánh hạc”; “Bàn chân nàng trắng, nhỏ và nuột nà, làn da ở gót mỏng và ửng hồng, nằm ngay ngắn

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w