Nghiên cứa đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh là nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của một tác giả trẻ, một nhà văn được nhiều bạn đọc chú ý.. Việc nghiên cứu, tìm hiểu đặc
Trang 1LÊ THỊ HOA LÝ
NG¤N NG÷ KÓ CHUYÖN Vµ NG¤N NG÷ NH¢N VËT TRONG TRUYÖN NG¾N PHAN THÞ VµNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
Trang 2LÊ THỊ HOA LÝ
NG¤N NG÷ KÓ CHUYÖN Vµ NG¤N NG÷ NH¢N VËT TRONG TRUYÖN NG¾N PHAN THÞ VµNG ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐẶNG LƯU
NGHỆ AN - 2015
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 4
1.1.2 Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn 9
1.1.3 Ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn 11
1.2 Giới thiệu về nhà văn Phan Thị Vàng Anh và tác phẩm Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 14
1.2.1 Giới thiệu về Phan Thị Vàng Anh 14
1.2.2 Vài nét về tập Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 15
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 18
1.3.1 Những công trình nghiên cứu thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam 18
1.3.2 Những bài viết về truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 19
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH 22
2.1 Vai trò của ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn 22
Trang 42.2.1 Từ ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 25
2.2.2 Câu trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 45
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH 63
3.1 Vai trò của ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn 63
3.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 65
3.3 Cách tổ chức lời thoại của nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 70
3.4 Các hành động ngôn ngữ tiêu biểu trong lời thoại nhân vật 77
3.4.1 Hành động chất vấn 77
3.4.2 Hành động trách móc 80
3.4.3 Hành động từ chối 84
3.5 Tính cá biệt hóa trong lời thoại nhân vật của Phan Thị Vàng Anh 88
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5Trang Bảng 2.1 Bảng kê so sánh số lượt và tỉ lệ từ khẩu ngữ trong một số
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và Phan Thị Vàng Anh 36 Bảng 2.2 Thống kê câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh 46
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam thời kì đổi mới đã trải qua một chặng đường phát triển với nhiều biến đổi sâu sắc và toàn diện Văn học phản ánh cuộc sống, nhưng chính không khí xã hội sôi động và những biến đổi gấp gáp trong
xã hội hiện đại cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển mạnh
mẽ Nhiều thể loại văn học phát triển đáp ứng những nhu cầu phản ánh của thời đại, trong đó đặc biệt là thể loại truyện ngắn, với những ưu thế của thể loại tự sự cỡ nhỏ khá phù hợp với việc diễn tả đời sống phức tạp của con người thời kì đổi mới
1.2 Văn học từ sau đổi mới có những bước đột phá, cải biến mới mẻ về nội dung và hình thức Đặc biệt, hình thức ngôn ngữ trong truyện ngắn là một yếu tố có sự thay đổi mạnh mẽ so với văn học thời kì trước Do đó, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn là một trong những công việc được giới chuyên môn tập trung nghiên cứu nhiều nhất nhằm đáp ứng nhu cầu biểu hiện, phản ánh đời sống của thời đại mới
1.3 Tiếp nối và cùng thời với những cây bút trẻ khác như Tạ Duy Anh,
Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Xuân Hà…, tác giả Phan Thị Vàng Anh đã dần chiếm cho mình được một vị trí trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Mặc dù không phải là một hiện tượng nổi bật, cũng không phải
là cái tên đánh dấu mốc quan trọng cho bước chuyển mình của văn học hiện đại, nhưng với cá tính sáng tạo và tài năng của mình, Phan Thị Vàng Anh đã tạo được một giọng điệu riêng khá ấn tượng Ngay từ tập truyện ngắn đầu tay
Khi người ta trẻ, xuất bản 1993 chị đã bắt đầu khẳng định được tài năng của
mình trong lĩnh vực truyện ngắn
Trang 71.4 Nghiên cứa đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh là nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của một tác giả trẻ, một nhà văn được nhiều bạn đọc chú ý Đây là cơ hội để chúng ta hiểu sâu sắc thêm quan điểm, cách nhìn nhận cuộc sống của thế hệ trẻ cũng như đặc điểm ngôn ngữ trong lối văn mới mẻ của văn học đương đại
1.5 Việc nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong tập truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trước hết cho chúng ta thấy được những đóng góp ở phương diện ngôn ngữ của tác giả, qua đó góp thêm tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học Việt Nam từ góc độ đặc điểm ngôn ngữ giai đoạn sau 1975 hiện nay được thuận lợi và hiệu quả
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh để
nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ ngành ngôn ngữ
2 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát phương diện ngôn ngữ truyện ngắn trong tập
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (Nxb Trẻ, 2013) Trong nghiên cứu, để đối
sánh, luận văn sẽ đi khảo sát một số tập truyện ngắn của một số tác giả khác
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tập
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh hướng vào việc làm rõ các đặc điểm về
ngôn ngữ thể hiện ở từ ngữ, câu văn, các biện pháp tu từ, cách tổ chức lời thoại… qua cách thể hiện của tác giả
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc những nét riêng của tác giả Phan Thị Vàng Anh xét từ góc độ ngôn ngữ truyện ngắn Từ đó, thấy được tài năng, phong cách của một nhà văn trẻ và ghi nhận những đóng góp của tác giả cho nền văn xuôi Việt Nam sau đổi mới
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên tìm hiểu hai phương diện trong hình thức ngôn ngữ truyện ngắn của nhà văn Phan Thị Vàng Anh: ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Trên cơ sở những khảo sát, phân tích cụ thể hai phương diện đó, luận văn sẽ khái quát những nét riêng của nhà văn này đối với nghệ thuật truyện ngắn
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn triển
khai trong 3 chương :
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Chương 3: Ngôn ngữ nhân vật trong truyên ngắn Phan Thị Vàng Anh
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.1.1 Thể loại truyện ngắn
Cùng với sự vận động của lịch sử xã hội, văn học cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Nếu như văn học trung đại chỉ có những thể loại như cáo, chiếu, biểu, sớ, hịch, thơ, phú… thì đến văn học hiện đại xuất hiện thêm nhiều thể loại mới, trong đó không thể không kể đến sự ra đời và phát triển của thể loại truyện ngắn
Khi nghiên cứu về truyện ngắn, để hiểu sâu sắc, toàn diện và khoa học
về nó, chúng ta không chỉ dừng lại ở lối miêu tả những thuộc tính bên ngoài
mà cần đi sâu những đặc điểm cả về nội dung, nghĩa là chúng ta phải nghiên cứu truyện ngắn trong mối tương quan biện chứng giữa nội dung và hình thức, để từ đó thấy được sự phát triển, vai trò của thể loại truyện ngắn với nền văn học Việt Nam
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được coi là “tác phẩm tự
sự cỡ nhỏ” [15] Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống, đời tư, thế sự Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện ngắn với các thể loại tự sự khác Không phải cứ nói đến truyện ngắn là dung lượng phải ngắn Nhìn sâu vào trong các thời đại văn học ta sẽ thấy rõ điều này Trong văn học hiện đại có rất nhiều tác phẩm viết rất ngắn nhưng thực chất là truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng viết ngắn nhưng gần giống với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như truyện cười, ngụ ngôn… lại càng không
Trang 10phải là truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn mới, một cách nắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại Cho nên, truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
Truyện ngắn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của một nền văn học Nó là đối tượng “thử bút”, “tập dượt” của nhiều nhà văn Truyện ngắn cũng được nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Lí thuyết về truyện ngắn đã được nghiên cứu ở phương Tây ngay từ những năm đầu thế kỉ XIX Qua hai thế kỉ, các nhà lí thuyết vẫn bị dao động giữa hai câu hỏi: truyện ngắn được viết ra như thế nào và những đặc tính thật sự của truyện ngắn là gì?
Goethe quan niệm truyện ngắn là một câu chuyện có thật nhưng tinh tế,
có đặc tính giai thoại (anecdotique) Mặc dù được rút ra từ cuộc sống thường nhật, song nó không dựng lại những biến cố nhàm cũ bởi thời điểm quyết định số phận nhân vật đã được nhà văn sáng tạo nên thông qua hư cấu nghệ thuật: “Một truyện ngắn phải chăng không phải là một điều gì khác hơn là một biến cố lạ lùng xảy ra?” Ông đã định nghĩa truyện ngắn bằng một câu hỏi như vậy
F Schlegel cho rằng đặc tính giai thoại đã mang chất liệu đến cho truyện ngắn Ông đã đề ra một định thức có tính chất chơi chữ: “một lịch sử
mà lại không thuộc về Lịch sử” Từ “lịch sử” đầu không viết hoa có nghĩa là
“câu chuyện” hay “truyện” Từ “lịch sử” sau mang nghĩa thật của nó, hay trong văn cảnh này ta có thể hiểu là hiện thực đời sống Truyện ngắn (câu chuyện) phải có độ gián cách với hiện thực đời sống (lịch sử) thông qua sáng tạo nghệ thuật Với Schlegel, tính chất đặc thù của truyện ngắn còn nằm ở trong hành động, và một cách rõ rệt hơn, ở trong thời điểm của nó
Ở Việt Nam, thể loại truyện ngắn cũng đã được giới nghiên cứu quan tâm rất nhiều Truyện ngắn ra đời gắn chặt với hoạt động báo chí nên dễ phổ biến Với hình thức ngắn gọn, cơ động, truyện ngắn phù hợp việc đáp ứng
Trang 11nhu cầu của độc giả trong thời hiện đại Là “một lát cắt của đời sống”, những truyện ngắn hay dễ để lại nhiều dư âm, ám ảnh trong lòng người đọc Gần như nhà văn nào cũng ít nhiều thử sức mình qua truyện ngắn Truyện ngắn Việt Nam đã trải qua một lịch sử trên một thế kỉ, đã đạt những thành tựu nhất định, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của công chúng Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn văn học đương đại
Nhà văn Vũ Thị Thường quan niệm về truyện ngắn trong thế so sánh với tiểu thuyết: “Viết truyện dài như làm một căn nhà đồ sộ, còn bắt tay viết truyện ngắn là nhận lấy việc chạm trổ một cái khay, một tấm tranh khắc gỗ Ở truyện dài có thể có những chương “độn”, nhưng ở truyện ngắn chỉ cần viết 1/2 trang lỏng lẻo là truyện đổ liền Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa
mà không phục vụ chủ đề thì cũng trở nên vô ích”
Theo tác giả Chu Văn Sơn, việc phân định để nhận diện truyện ngắn có thể dựa vào hai tiêu chí chính là dung lượng và thi pháp Giữa hai tiêu chí,
“dung lượng” là cần nhưng phụ và thứ yếu, còn “thi pháp” mới là đủ, là chính, là chủ yếu Về dung lượng, truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, chủ yếu được viết bằng văn xuôi, nghĩa là ngắn, thậm chí cực ngắn (truyện mini), nhân vật không nhiều, tình tiết và chi tết đời sống cũng không nhiều Về thi pháp, ngoài những yếu tố như cốt truyện, lối trần thuật, ngôn ngữ thì tình huống được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn Bởi thế, ở phần cốt yếu, có thể hình dung truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó
Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn, trọn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến khắc họa hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh, hay trong tâm hồn đời sống của con người Với đặc trưng của thể loại, truyện ngắn không cho phép
có một hệ thống nhân vật đồ sộ, một khoảng thời gian dài, một không gian
Trang 12rộng lớn như trong tiểu thuyết Truyện ngắn có khi chỉ khắc họa một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người, có khi chỉ là một cách sống, có khi là một hành động mãnh liệt, những tình cảm éo le, có khi chỉ là một tâm trạng… Nếu nhân vật trong tiểu thuyết là cả một thế giới, thì nhân vật trong truyện ngắn lại
là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Kết cấu của truyện ngắn không phức tạp như tiểu thuyết, bút pháp trần thuật của nó thường là bút pháp chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là yếu tố cô đúc, hành văn mang nhiều
ẩn ý, tạo cho tác phẩm chiều sâu, cho nên mỗi trang văn trong truyện ngắn đều có độ nén rất cao
Có thể nói, việc nhận diện thể loại truyện ngắn là một nỗ lực liên tục của cả người sáng tác và giới nghiên cứu lí luận Các định nghĩa thường xoáy vào các bình diện chính: dung lượng, cốt truyện, nhân vật, chi tiết, ngôn ngữ… để khái quát thành đặc trưng Mỗi người vẫn một quan niệm, một cách nhìn, khó có được sự đồng thuận tuyệt đối
1.1.1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn
Khai thác, tìm hiểu truyện ngắn là tìm hiểu cái yếu tố căn cốt của nó Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ thể loại nói riêng không phải là phạm trù bất biến Nó biến đổi theo thời gian, theo quan điểm sáng tác ở từng thời đại
Ngôn ngữ thơ được coi là thứ ngôn ngữ bên trong, được nhà thơ ấn định theo chủ ý của mình Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ và nhà thơ là mối quan hệ duy nhất và độc đoán, nghĩa là không ai sinh ra và chịu trách nhiệm
về ngôn ngữ thơ ngoài nhà thơ và ngôn ngữ thơ cũng không phục vụ chủ ý của ai khác ngoài nhà thơ Thậm chí nhiều lúc mỗi nhà thơ còn tạo ra được một hệ thống ngôn ngữ riêng biệt mà chỉ có là của anh ta, không có khoảng cách nào giữa nhà thơ với lời của anh ta
Nhưng ngôn ngữ văn xuôi thì sao? Có giống ngôn ngữ thơ không? Có thể khẳng định là không giống về bản chất Nhà văn tạo ra trong tác phẩm của
Trang 13mình tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau trong ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ phi văn học, nhưng không làm chúng suy yếu đi mà thậm chí còn khởi động thêm chúng Nhà văn cần xây dựng phong cách của mình trên sự phân hóa ngôn ngữ ấy, trên nền những tiếng nói, thậm chí ngôn ngữ khác nhau ấy mà vẫn giữ được sự thống nhất của cái tôi sáng tạo của mình với tính thống nhất của phong cách nhà văn
Nhà văn biến giọng điệu, ý chỉ của người khác thành giọng điệu, ý chỉ của mình nhưng không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong ngôn ngữ Người viết văn xuôi sử dụng tài sản chung của xã hội (diện mạo, hình thức ngôn ngữ) để phục vụ nhiều ý chỉ của mình, phục vụ cho mục đích sáng tạo và cá tính sáng tạo của mình
Ngôn ngữ có lẽ là lĩnh vực dễ thấy nhất của tác phẩm văn chương Đặc trưng thể loại thể hiện trước hết ở đặc điểm của ngôn ngữ Xét một cách tổng thể, có thể nói rằng ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ mang đặc điểm chung của ngôn ngữ văn xuôi, vừa mang những nét đặc trưng, vừa mang nét đặc thù riêng của nó Hai yếu tố đặc trưng của ngôn ngữ truyện ngắn là miêu tả và đối thoại, ngoài ra còn có ngôn ngữ miêu tả, độc thoại… Vì vậy, ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ đa phong cách, đa giọng nói nhưng nó có sự xen lẫn, hòa hợp với nhau trong cùng chỉnh thể thống nhất Mỗi yếu tố của ngôn ngữ phải thực hiện tốt, thậm chí là thực hiện tối đa khả năng của mình trng một nhiệm
vụ chung là thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm Ngôn ngữ trong truyện ngắn
tự thực hiện nhiệm vụ và tự xác định vai trò của mình để cùng xây dựng nên một ngôi nhà chung là tác phẩm truyện ngắn hoàn chỉnh
Nhà văn M Gorki nói: Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng Còn nhà văn Ma Văn Kháng thì chia sẻ: “Câu chữ tiêu dùng cho truyện ngắn là cả một nỗ lực và yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện
Trang 14ngắn Truyện ngắn hay ở câu văn” Nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng khẳng định: “chữ trong văn xuôi cũng cần có men… Câu chữ trong truyện ngắn nói chung là men, nó tỏa hương, nó rủ rê, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câu chuyện”
Mỗi nhà văn khi cầm bút viết truyện ngắn đều tạo được phong cách riêng, dấu ấn riêng của mình trong làng văn chương Một trong những điều để giúp nhà văn thực hiện được điều đó là ở sự lựa chọn sử dụng ngôn từ mang đặc điểm riêng, không lẫn với ai Làm được điều đó là cả một sự cố gắng không ngừng nghỉ, không mệt mỏi của các nhà văn Có thể nói nhà văn thành công nhất là khi tạo được dấu ấn phong cách riêng của mình
Trong làng văn Việt Nam, những cây bút truyện ngắn già dặn thuộc thế
hệ tiền bối có thể kể đến như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Minh Châu… Đó là các nhà văn đã thực sự thành công
ở thể loại truyện ngắn Mỗi nhà văn mang một nét phong cách riêng không lẫn với người khác Nối tiếp sự nghiệp của các bậc tiền bối là các nhà văn trẻ thuộc thế hệ sau 1975 như Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… Đây là những cây bút trẻ, vừa mới trưởng thành trong nghề văn, nhưng đã tạo được tên tuổi và vị trí xứng đáng trong văn xuôi Việt Nam đương đại
Là cây bút trẻ, Phan Thị Vàng Anh được coi là nhà văn tài năng và thành công với thể loại truyện ngắn Truyện ngắn của chị được bạn đọc đón nhận rầm rộ và giới phê bình đánh giá cao, đặc biệt người ta chú ý đến đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của chị
1.1.2 Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn
Nói đến văn học là nói đến tất cả những yếu tố cấu thành của nó, trong
đó phải kể đến một yếu tố quan trọng, tiên quyết cho sự tồn tại của một tác phẩm đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ thể hiện năng lực và vốn tri thức của người
Trang 15sáng tạo Nhà văn được coi là nghệ sĩ ngôn từ bởi lẽ những đứa con tinh thần
mà anh ta tạo ra là sản phẩm ngôn ngữ Mọi giá trị nghệ thuật đều phải được thể hiện qua ngôn ngữ Với người viết truyện ngắn, tạo được dấu ấn riêng của mình trong ngôn ngữ là điều không hề đơn giản Có thể nói những nhà viết truyện ngắn đều là những nghệ sĩ bậc thầy về tiếng nói Họ phải trải qua một quá trình ngôn ngữ
Vốn ngôn ngữ của nhà văn phụ thuộc vào vốn sống, trình độ, năng lực
và kinh nghiệm văn hóa Hệ thống ngôn ngữ của nhà văn theo thời gian dần được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau Đối với ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng, là một thứ ngôn ngữ có hình tượng nên có yêu cầu riêng, nhà viết truyện ngắn phải biết chọn những cách nói độc đáo, chính xác và có sức biểu hiện cao nhất Nói như M Gorki: “Phải nắm ngôn ngữ thật chặt để quả đấm nghệ thuật có sức mạnh tối đa” Nếu như kịch chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình dùng ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc, thì trong tự sự, đó là lời
kể chuyện Trong tác phẩm, tất cả những ngôn ngữ không gắn trực tiếp với tính cách của nhân vật đều thuộc về ngôn ngữ của người kể chuyện Ngôn ngữ của người kể chuyện là sự tổ chức tất cả những thành tố ngôn ngữ khác nhau trong một văn bản thành một cơ cấu hoàn chỉnh, thống nhất Người kể chuyện không những chỉ tổ chức ngôn ngữ mà còn có khi đóng vai trò quan trọng cả về mặt kết cấu trong tác phẩm văn học - một đứa con tinh thần của anh ta
Chúng ta biết rằng, trước đây, quan niệm “người kể chuyện” hầu như bị
bỏ qua Người ta chỉ nghiên cứu nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ… còn người kể chuyện trong văn bản biến mất, gần như vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả Những năm gần đây, sự ý thức về chủ thể của văn học cùng sự phát triển của các thành tựu lí luận đã nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người kể chuyện Với bất kì một truyện kể nào, người kể chuyện
Trang 16cũng đồng thời đảm nhiệm hai vai trò: vai trò giới thiệu, dẫn dắt câu chuyện (chức năng trần thuật) và vai trò điều khiển (chức năng kiểm soát)
Như vậy, xét cho cùng, ngôn ngữ của người kể chuyện chính là ngôn ngữ trần thuật, là ngôn ngữ mà nhà văn dùng để miêu tả bối cảnh, nhân vật, kết cấu tác phẩm, xây dựng cốt truyện, trong đó bao gồm ngôn ngữ kể chuyện
và ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ kể chuyện là ngôn ngữ của nhân vật kể chuyện, ngôn ngữ của vai kể, là lời kể, lời dẫn chuyện, có nhiệm vụ thuật lại những diễn biến của câu chuyện cho người đọc, dẫn dắt người đọc vào tình huống cụ thể và xem xét, đánh giá các nhân vật, sự kiện trong tác phẩm tự sự
Bàn về người kể chuyện, xác lập vai trò và quyền năng của nhân tố này nghĩa là chúng ta phải đề cập đến nhiều yếu tố liên quan đến sự vận động nội tại trong cấu trúc tác phẩm nghệ thuật Vốn là một thực thể tồn tại trong thế giới hư cấu, tưởng tưởng, người kể chuyện xác lập “chỗ đứng” tùy thuộc vào kiểu loại tác phẩm Trong truyện, người kể chuyện có thể là một nhân vật có tên tuổi, chứng kiến hoặc tham gia các biến cố của câu chuyện, cũng có thể là nhân vật vô nhân xưng không có tên tuổi, không được miêu tả trong tác phẩm, nhưng sự tồn tại của nó hoàn toàn có thể cảm nhận được thông qua hoạt lực của lời trần thuật, hay còn gọi là ngôn ngữ kể chuyện
1.1.3 Ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn
Trong tác phẩm nghệ thuật, mỗi lớp ngôn ngữ có một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của tác phẩm Khả năng sáng tác của nhà văn tùy thuộc không nhỏ vào việc xây dựng ngôn ngữ của từng nhân vật, bởi lẽ mỗi nhân vật là một đại diện cho một kiểu người, một quan điểm sống trong xã hội, nó còn phản ánh trình độ hiểu biết và kinh nghiệm sống cá nhân của người sáng tạo Đằng sau mỗi câu nói là một hoàn cảnh xã hội và một tiểu sử
cá nhân Ngôn ngữ nhân vật phải là một thứ ngôn ngữ phản ánh tính cách,
Trang 17quan niệm, trình độ văn hóa… Tính cách điển hình trong văn học một phần được phản ánh qua ngôn ngữ nhân vật, hay nói cách khác, nhờ ngôn ngữ mà các thuộc tính, phong cách và đặc điểm của nhân vật được bộc lộ Có thể nói, tài năng nghệ thuật của nhà văn thể hiện rõ ở việc sử dụng các kiểu ngôn ngữ nhân vật
Trong tác phẩm, nhân vật thể hiện mình thông qua các yếu tố: ngoại hình, lai lịch, hành động… và một yếu tố quan trọng đặc biệt đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ mà nhân vật sử dụng trong tác phẩm chính là lời trực tiếp của nhân vật, nó được biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn và sử dụng của nhà văn Nhà văn sử dụng ngôn ngữ một cách có chọn lọc và có chủ
ý nhằm mục đích tái hiện một cách sinh động đặc điểm nhân vật Theo Từ
điển thuật ngữ văn học: “Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện
quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật” [15, tr 183]
Có thể nói, mỗi nhân vật trong tác phẩm là một hiện tượng cá biệt, không ai giống ai, là sản phẩm tinh thần mang những mục đích nghệ thuật riêng biệt của mỗi nhà văn Nhưng để tồn tại trong đời sống văn học và đời sống hằng ngày thì nhân vật không thể tách rời xã hội, cộng đồng và môi trường sống Do đó, ngôn ngữ nhân vật “bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa cá tính và tính khái quát”
Xét một cách cụ thể, ta thấy ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng:
Dạng thứ nhất là những phát ngôn tự thân của nhân vật, là lời nói trực tiếp của nhân vật thể hiện khi giao tiếp, nó là sản phẩm ngôn ngữ phát ra chính từ bản thân nhân vật Dạng này tập trung ở lời thoại nhân vật gồm ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ bên ngoài Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ được bộc lộ qua kênh nói - nghe, nghĩa
là ngôn ngữ bên ngoài được phát ra thành tiếng và được người khác nghe thấy
Trang 18bằng âm thanh ngôn ngữ Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học viết: “Đối thoại là
một dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện diện của người nghe, mỗi phát ngôn đều hướng đến người tiếp chuyện, xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc độc thoại” [52, tr 262] Còn ngôn ngữ bên trong hay còn gọi là ngôn ngữ độc thoại - là ngôn ngữ không phát ra thành tiếng, không nghe được bằng tiếng động âm thanh mà chỉ được nghe bằng kênh cảm nhận qua các yếu tố khác như
cử chỉ, hành động, nét mặt… Ngôn ngữ độc thoại biểu hiện rõ thế giới nội tâm thầm kín của nhân vật, bởi nó không phát ra thành tiếng, không ồn ào về mặt
âm thanh cơ học nhưng lại sôi sục về mặt cảm xúc của nhân vật Nói cách khác, ngôn ngữ không thành tiếng là hành vi ngôn ngữ của nhân vật khi nó tự phô bày suy nghĩ, cảm xúc riêng tư, là sự phân thân của nhân vật để đối diện với chính nó, nhằm tự soát, xét thế giới nội tâm thầm kín của mình “Ngôn ngữ độc thoại là sự thể hiện lời nói trước hết hướng đến bản thân người mà không tính đến phản ứng của người đối thoại” [52, tr 97] Người đối thoại hay đối diện hoặc chính người chứng kiến phải tinh tế lắm mới thấy được và hiểu được dạng ngôn ngữ này của nhân vật Nếu như không hiểu về nhân vật thì chắc chắn ta sẽ không thể hiểu nổi nhân vật đang nói gì, đang nghĩ gì
Dạng thứ hai: ngôn ngữ nhân vật được thể hiện trong sự miêu tả của nhà văn Nghĩa là nhà văn không để cho nhân vật tự bộc lộ ngôn ngữ của nó,
mà lại miêu tả về ngôn ngữ ấy Vì thế, qua lời tác giả ta cũng có thể nhận diện đặc điểm của nhân vật
Với hai đặc điểm tồn tại trên, ngôn ngữ nhân vật có khả năng cá thể hóa nhân vật làm nổi bật các phương diện tự sự, gián tiếp bộc lộ thái độ và phong cách của tác giả, góp phần tạo nên giọng điệu riêng cho tác phẩm Nói cách khác, ngôn ngữ nhân vật là một yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự thành công của tác phẩm trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm, nó còn là yếu tố quyết định phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn
Trang 191.2 Giới thiệu về nhà văn Phan Thị Vàng Anh và tác phẩm Truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh
1.2.1 Giới thiệu về Phan Thị Vàng Anh
Phan Thị Vàng Anh sinh ngày 18/8/1968 tại Hà Nội Chị tốt nghiệp Đại học Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh năm 1993, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh Trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1996 Năm 2005, chị được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam nhiệm kì 7
Phan Thị Vàng Anh là con gái của nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn
Vũ Thị Thường Chị nổi tiếng từ thuở nhi đồng với bài thơ Mèo con đi học (Hôm nay trời nắng chang chang / Mèo con đi học chẳng mang thứ gì / Chỉ
mang một cái bút chì / Và mang một mẩu bánh mì con con”) Lớn lên, chị học
Y khoa, nhưng được biết đến như một hiện tượng của văn học Việt Nam Chị
xuất hiện như một cây bút truyện ngắn xuất sắc, với những tập truyện Khi
người ta trẻ (1993, đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam) và Hội chợ
(1995) Sau đó chị làm thơ, chỉ tập thơ duy nhất Gởi VB đoạt giải thưởng Hội
nhà văn Hà Nội 2007 Từ năm 2002, chị viết tạp văn, phê bình văn hóa nghệ
thuật trên các báo Thể thao Văn hóa, Đại biểu nhân dân, Tuổi trẻ, Tia sáng,
Thời báo kinh tế Sài Gòn… thể hiện sự đọc nhiều, hiểu rộng, lập luận sắc sảo,
hài hước
Suốt hơn 20 năm qua, không còn thấy thơ của Vàng Anh xuất hiện trên văn đàn nữa và nhiều người cho rằng “sự nghiệp thơ” của Vàng Anh đã dừng lại ở đó Thế nên người đọc mới có cảm giác bất ngờ khi bắt gặp những vần
thơ đầy chất “triết lí” trong tập Gửi VB Qua những vần thơ của chị, người
đọc cảm nhận một Vàng Anh khác, đó là sự luôn dằn vặt, tự vấn lương tâm và đòi hỏi mình phải sống sao cho thật vui vẻ, lạc quan để không có ngày nào trôi qua trong nhàn nhã, mệt mỏi hay chán chường Đó lại là điều rất khó làm đối với những người trẻ trong xã hội ngày nay, một xã hội mà người ta luôn đua chen với lợi, danh
Trang 20Phan Thị Vàng Anh là nhà văn khá kiệm lời Gần như chưa bao giờ trả lời phỏng vấn để nói về bản thân và công việc của mình, trừ giai đoạn 2005 -
2010, khi là Trưởng ban Nhà văn nữ, nhà văn trẻ Chị phụ trách sân chơi trẻ, mỗi dịp đàn em trình diễn ở sân Thái học Văn Miếu Nhà văn Phạm Ngọc Tiến, biệt hiệu “cảnh sát mèo đen”, Phó ban nhà văn trẻ, phát biểu trong cuộc họp của Ban: “Vàng Anh tính mẹ chồng, nhờ thế mà việc rất chạy, lăn xả vào công việc, từ lo biên tập Poster, đốc thúc các khâu, duyệt chương trình, có lúc tham gia khuân vác, chị là nữ tướng, tổng chỉ huy khó tính, nghiêm túc, nóng lên là quát ra trò Mọi người đều nể, vì biết chị rất trách nhiệm”
Về sự nghiệp sáng tác, trong 15 năm sáng tác chỉ để lại có mấy tập tác
phẩm: Khi người ta trẻ (tập truyện 1993) (đã được dịch và xuất bản ở Pháp với tên Quandonestjeune); Ở nhà (truyện vừa 1994); Hội chợ (tập truyện 1995); Nhân trường hợp chị thỏ bông (Tản văn, bút danh Thảo Hảo); Gửi VB (tập thơ 2006); Trong phường Thành Công, có làng Thành Công (phim tài
liệu) Chỉ có mấy tập sách trong hơn 15 năm sáng tác thuộc ba thể loại khác nhau, nhưng tất cả đều xứng đáng là sách không thể thiếu trong tủ sách của người yêu văn chương
1.2.2 Vài nét về tập Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Mới đây Nhà xuất bản Trẻ tái bản tuyển tập truyện ngắn và tạp văn phê bình của Phan Thị Vàng Anh, chọn lọc khá đầy đủ những tác phẩm làm nên Vàng Anh trong lòng người yêu văn chương
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (Nxb Trẻ, tái bản lần thứ 2 - 2013)
gồm 45 truyện được viết trong những năm đầu 1990 Mỗi câu chuyện được cô đọng, dồn nén những chi tiết và diễn biến nội tâm thấm đẫm sự tự tin, đôi khi hoang mang, ngơ ngác, chán nản, bất lực trước cuộc đời và tình yêu của những người trẻ tuổi Những nhân vật chính của chị thường chẳng theo chuẩn mực ngoan hiền, học giỏi, đẹp đẽ, thơ ngây mà nhiệt tình, thực thà, thẳng
Trang 21thắn, đôi lúc bao đồng, nhưng họ vẫn ở lâu trong lòng độc giả bởi sự thẳng thắn xét nét từng góc tối trong tâm hồn mình Mỗi một truyện của Phan Thị Vàng Anh như một lát cắt, một đoạn suy nghĩ thoạt tiên có vẻ vẩn vơ, lẩn thẩn của những nhân vật trẻ Nhưng ẩn sâu là sự thông hiểu về một thời tuổi trẻ vẩn vơ buồn vì mối cảm tình với một người mà không dám tỏ vì mải lo phân tích tình cảm của mình; những ngày tháng sợ hãi nỗi cô đơn khi một mình đi qua những hành lang giảng đường dài hun hút khi mùa hè bắt đầu; những giọt nước mắt buồn bã khi nhận ra thời gian tuổi trẻ đã trôi qua vô ích… Không gian truyện Vàng Anh lúc nào cũng đặc quánh cảnh vật, con người với những hành động, suy nghĩ được viết bằng những câu ngắn, chính xác, không thừa không thiếu, không tả cảnh tả tình, nhưng vẫn khiến người đọc rơi vào tầng tầng lớp lớp nội tâm nhân vật Càng đọc càng thấy nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải dành cho chị là đúng: “Nguyễn Huy Thiệp mặc váy”
Tập truyện ngắn rất nổi tiếng và tiêu biểu của chị có lẽ là tập Khi người
ta trẻ (lấy nhan đề của một truyện đặt cho cả tập) Truyện Khi người ta trẻ có
thể tóm tắt như sau: Xuyên là một cô gái đầy mâu thuẫn, “ngông nghênh mà lại sợ dư luận, ăn nói ác độc kiêu căng mà lại rất tự ti” Điều khốn khổ là con người “thích đấy rồi lại chán đấy” ấy bỗng nhiên lại đi yêu! Yêu cho vui thôi,
ai cũng nghĩ thế và chắc cô cũng nghĩ thế Nhưng đến một lúc nào đó, thì hóa
ra, với cô, sống cũng chỉ là sống cho vui Một liều thuốc ngủ chắc chắn trong một phòng khách sạn cửa khóa chắc chắn đã là những nét vẽ cuối cùng hoàn chỉnh cái chân dung của một con người trẻ tuổi nơi cô, cái lứa tuổi mà theo Phan Thị Vàng Anh, ít ai biết rằng “người ta điên đến mức nào, cần có bạn bè
để an ủi bao nhiêu, người ta lại thích trả thù nữa chứ”
Bằng một cách có lẽ là không tình cờ chút nào, Phan Thị Vàng Anh đã
chọn cho thiên truyện chúng tôi vừa tóm tắt cái tên Khi người ta trẻ Và sự
thách thức của tác giả được đẩy lên một mức nữa, khi nó được chọn làm tên
Trang 22chung của cả tập Từ nay trở đi, nó không chỉ liên quan đến sự lựa chọn nhân vật, mà còn cho thấy một cách hiểu về nghệ thuật Nói cho to tát một chút, thì
nó giống như một tuyên ngôn: muốn chứng minh sự có mặt của mình trong văn chương, mỗi người phải có cách hình dung của mình về đời sống Mỗi nhà văn phải là một điểm nhìn, một cách quan sát, một chỗ đứng mà chỉ riêng người đó có
Có thể nói, sắc thái cảm xúc, tình cảm được miêu tả trong tập truyện của Phan Thị Vàng Anh hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp Nhìn dưới góc độ ấy, sắc thái thấy rõ nhất của cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm của Vàng Anh là sự tẻ nhạt, buồn bã về cuộc sống Cuộc đời nói chung giống
như một thứ “trò ấm ớ” (Khi người ta trẻ) Nó vốn nhàm chán, như một buổi
lễ cung đình nham nhở, lại càng nhàm chán khó tiêu hơn, bởi ngay những người già, hay đi lễ, cũng không biết ăn vận, cư xử thế nào là sai, thế nào là
đúng (Hội chợ) Không sao có nổi những biến động lớn, cuộc sống ở đây rề
rà, vơ vẩn và nhiều khi ngả sang kì quặc, dị hợm Như những bữa cơm tẻ
ngắt, những cái hòn non bộ tạp nham, cọc cạch (Hội chợ) Như một chuyến píc-níc ngớ ngẩn không đâu vào đâu (Cuộc ngoạn du ngắn ngủi) Như cái miền đất “mới đến mà đã thấy buồn” (Đất đỏ) Nhất là nó giống như những
mối tình ba vạ, hoặc trai gái lệch tuổi và chẳng hiểu gì nhau, vừa yêu vừa tự
hỏi “chuyện này sẽ kéo dài đến khi nào” (Hội chợ) Hoặc những cô con gái
yêu những gã con trai đã có vợ rồi, yêu trong khi chưa biết để làm gì, yêu để
mà càng tuyệt vọng trong cuộc tìm kiếm tình yêu chân chính (Sau những hẹn
hò) Cả đến thiên nhiên trong tác phẩm của Vàng Anh cũng không bình
thường, mưa là “mưa trái mùa”, còn trăng là “trăng trước rằm lạnh lẽo và cô
độc giữa trời cao không mây” (Hội chợ)
Như vậy, cuốn sách giới thiệu tuyển chọn 45 truyện ngắn của nhà văn Phan Thị Vàng Anh là một cuốn sách có ý nghĩa đối với bạn đọc hôm nay
Trang 23Tất cả những truyện ngắn trong tập sách đều phản ánh những cách nhìn về cuộc sống của những người trẻ hôm nay: công việc của họ, tình cảm và lối suy nghĩ khác, cách làm việc khác… Đó là những con người trẻ tuổi với những công việc không lấy gì làm sáng lạng lắm như đứa học sinh chán học, anh sinh viên buồn vào dịp hè, cô gái đi buôn, các chị, các mẹ ở nhà trồng cây trồng quả, đi chùa… Tình cảm của họ cực kì bột phát, nhanh đến cũng nhanh
đi, thương đó, nhớ đó, nhưng xa nhau là cũng thấy bình thường thôi Họ sống theo cá tính là chủ yếu, ít khi theo sự sắp đặt của người khác và cũng ít khi phải răm rắp tuân theo những chuẩn mực đưa ra, đôi lúc những suy nghĩ trong đầu họ có vẻ hơi ấu trĩ, không được thông suốt cho lắm Nói chung đi vào thế giới nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh ta có cảm giác như được sống với một tầng lớp xã hội người mà hiện đại cũng không nhưng cổ điển cũng chẳng phải - những con người cứ dửng dưng, buồn tẻ, nhạt nhẽo, rất khó
để nói hết được không khí chung về cuộc sống của những con người đó
Quả đúng Phan Thị Vàng Anh đã rất tinh tế, nhạy cảm để có thể hiểu
và phân tích sâu sắc từng góc cạnh trong cuộc sống của họ Có lẽ cũng chính
vì thế mà truyện ngắn của chị có một sức hấp dẫn riêng đối với bạn đọc hôm nay, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những công trình nghiên cứu thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam
Trong nghiên cứu ngữ văn, truyện ngắn là một trong những thể loại được quan tâm Một số công trình nghiên cứu về truyện ngắn được giới
nghiên cứu biết đến như Tìm hiểu truyện ngắn (1987) của Trần Thanh Địch;
Sổ tay truyện ngắn (1980) của Vương Trí Nhàn; Những vấn đề thi pháp của truyện (2000) của Nguyễn Thái Hòa; Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí (2000)
của nhiều tác giả; Truyện ngắn, tác gia và tác phẩm (2004) của tác giả Lê
Trang 24Huy Bắc… Ngoài ra còn nhiều công trình viết về truyện ngắn đặc sắc của một
số nhà văn tiêu biểu trong văn học hiện đại Mặc dù trong những công trình nêu trên, vấn đề ngôn ngữ truyện ngắn nói chung chỉ mới đề cập đến một cách khái quát, nhưng đó vẫn là những gợi ý cần thiết để chúng tôi có được định hướng trong việc tiếp cận với đối tượng nghiên cứu của luận văn, nhất là ở việc đảm bảo nghiên cứu hình thức mang tính quan niệm
1.3.2 Những bài viết về truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Bước vào nghề văn, Phan Thị Vàng Anh sáng tác ở nhiều thể loại: thơ, tạp văn, kịch bản phim, Tuy không chuyên tâm với truyện ngắn, nhưng ở thể loại này, chị đã khẳng định được tài năng của mình Chỉ mới xuất bản vài tập, nhưng truyện của chị được nhiều bạn đọc yêu thích và các nhà phê bình quan tâm
Nhà phê bình Huỳnh Như Phương nhận xét: “khi người ta trẻ” là một cái sân chơi mà ở đó các nhân vật được “chơi hết mình” với đủ thứ trò, từ
“ấm ớ”, “vớ va vớ vẩn” đến “điên rồ” và “ngông cuồng” nhất Tuy nhiên đằng sau tất cả những trò vui đó là một không khí “ngột ngạt và u uất, đôi khi rất
mơ hồ, vây phủ lấy tuổi trẻ” [39] Còn Huỳnh Phan Anh trong bài “Ghi nhận
về thế giới nghệ thuật Phan Thị Vàng Anh” (Báo Văn Nghệ Trẻ, số 1 năm
1995) nhận định: “Đọc Phan Thị Vàng Anh tức là tìm đến, làm quen cái thế giới rất gần gũi và cũng rất xa lạ của những tâm hồn trai gái với những ưu tư, những quan hệ ràng buộc, những biến cố không vượt ra ngoài cuộc sống đời thực thường ngày Đối với họ dường như cuộc sống lúc nào cũng toát ra một mùi đơn điệu, buồn chán với toàn những nhạt nhẽo “vớ va vớ vẩn” Nhân vật Vàng Anh khi tỉnh táo cũng như lúc điên rồ họ không hề đánh mất sự thuần khiết, ngay trong tuyệt vọng, bế tắc Vàng Anh rất tiết kiệm chữ nghĩa, cô cũng không dẫn dắt, không tạo đột biến, không gây bất ngờ, tất cả chừng như chỉ còn là những tiểu xảo không cần thiết” [1]
Trang 25Nhà phê bình Bùi Việt Thắng cũng nhận xét văn phong trong tập truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh: “Phan Thị Vàng Anh có lối kể chơi vơi của trẻ con nhưng rất hóm hỉnh và trí tuệ Cây bút trẻ này luôn muốn đem đến cho người đọc những cái lạ và bản thân cũng bị cái lạ thôi miê” [46]
Đến bài Tứ tử trình làng, lời giới thiệu trong cuốn truyện ngắn 4 cây
bút nữ, Bùi Việt Thắng tiếp tục nhận định cụ thể hơn: “Vàng Anh là cây bút
biến ảo, lúc thì nghiêm trang (Cha tôi), lúc thì sắc ngọt (Kịch câm), lúc đắm đuối (Hoa muộn)… Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh mang lối văn tung phá
mang dấu ấn của kẻ trưởng thành không tránh khỏi sự bất thường Sự tìm tòi của người viết dường như là bằng cách nào diễn đạt được hết ý tưởng của mình Đọc truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh ta biết được một lối nhìn đời đơn giản, một chiều, thêm một lần nữa ta tới được cái thế giới bí ẩn của đời sống
và con người vốn không thôi làm ta ngạc nhiên” [48, tr 6] Điều dễ nhận thấy: những bài viết nêu trên hầu như chưa chú ý đến ngôn ngữ trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh Điều này có lẽ một phần, như Bùi Việt Thắng nhận xét: “Đọc những cây bút nữ trẻ thấy thích, nhưng vẫn thấy thiếu một cái
gì đó thật căn cốt Tác phẩm của họ chưa dâng hiến những áng văn hay cho người đọc Dường như họ quan tâm đến chuyện nhiều hơn văn [20] Có thể nói, đó là đặc điểm chung của lớp nhà văn trẻ chứ chẳng riêng gì Vàng Anh Ngoài ra, truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh còn được nhắc đến trong một
số bài viết, chẳng hạn:, “Phan Thị Vàng Anh - đâu rồi bầu trời xanh” của
Hoàng Thị Loan, báo An ninh thế giới cuối tháng, số 32 năm 2004; “Phan Thị
Vàng Anh và Trần Thanh Hà - hai phong cách truyện ngắn trẻ” của Tuyết
Ngân, Văn nghệ quân đội, số 18 năm 2001; “Một thoáng Vàng Anh” của Phạm Tường Vân, Văn Nghệ, tết Ất hợi 1995 Tất nhiên, những ý kiến đánh
giá của các nhà phê bình trên đang có tính chất đặt vấn đề Nhưng nó cũng là
cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi tiếp tục khai thác, nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Vàng Anh từ góc độ ngôn ngữ
Trang 26ở hai chương tiếp theo
Trang 27Chương 2 NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
2.1 Vai trò của ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn
Trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ kể chuyện chiếm một vị trí hết sức quan trọng Nó đóng vai trò tổ chức tất cả các yếu tố từ vựng khác nhau trong tác phẩm, hợp thành một cơ cấu hoàn chỉnh, thống nhất Ngôn ngữ kể chuyện giúp tác phẩm truyền đạt chủ đề, tư tưởng tới người đọc, để khắc họa tính cách nhân vật và dẫn dắt diễn biến của câu chuyện, để thực hiện nhiệm
vụ kết cấu tác phẩm Do đó, ngôn ngữ kể chuyện là nhân tố có sự tác động tích cực đến thái độ, cách nhìn nhận của người đọc đối với đối tượng miêu tả trong tác phẩm
Có những lúc nhà văn đã nhường lời cho một nhân vật tích cực mà quan điểm gần với quan điểm của tác giả, kể lại câu chuyện để giúp nhà văn
đi vào thế giới nội tâm của nhân vật, để cho nhân vật tự biểu hiện
Nhờ ngôn ngữ kể chuyện mà cá tính sáng tạo cũng như phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn được bộc lộ Chúng ta có thể nhận ra một nhà văn mà chỉ cần khi mới nghe qua giọng điệu ngôn ngữ, nghĩa là đọc văn lên ta đã có thể biết ngay nó là của ai nhờ vào đặc điểm của ngôn ngữ kể chuyện Cũng nhờ dựa vào đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện mà ta có thể xác định được xu hướng nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà văn thực hiện sẽ mang đặc điểm ngôn ngữ hiện thực, nhà văn lãng mạn sẽ mang đặc điểm ngôn ngữ lãng mạn, và tương tự nhà văn trào phúng, châm biếm hay trữ tình cũng thế
Ngôn ngữ kể chuyện có một vai trò rất lớn trong tác phẩm tự sự Nó có thể thông báo về các biến cố, các tình tiết như thông báo về một cái gì đó đã
Trang 28xảy ra và được nhớ lại, đồng thời mô tả hành động và dáng nét của nhân vật, nhiều khi còn thêm cả lời bàn luận Nhìn chung, ngôn ngữ kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật) giữ vai trò chủ đạo trong tác phẩm tự sự, gắn bó tất cả những
gì được miêu tả trong tác phẩm
Trước hết, ta xét ngôn ngữ kể chuyện ở vai trò tạo tình huống, xây dựng cốt truyện, kết cấu tác phẩm Nhà văn sử dụng ngôn ngữ kể chuyện để trình bày các chi tiết, sự kiện, tình huống, quan hệ, nhân vật, biến đổi về xung đột một cách cụ thể theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Ngôn ngữ kể chuyện không chỉ là kể lại mà nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả Nhà văn dùng ngôn ngữ kể chuyện tổ chức các sự kiện
cụ thể theo một kết cấu nhất định để tạo nên cốt truyện Cốt truyện thực chất
là cái lõi diễn biến của truyện từ xảy ra cho đến kết thúc Tổ chức cốt truyện thuộc phạm trù cách kể, một khâu trọng yếu của nghệ thuật tự sự, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn
Ngôn ngữ kể chuyện còn có một nhiệm vụ quan trọng nữa là miêu tả ngoại cảnh Các yếu tố ngoại cảnh bao gồm thế giới tự nhiên, thiên nhiên, vật thể, con người… Tất cả đều được tác giả đưa vào trong tác phẩm nhằm tăng tính chân thực cho tác phẩm Qua đó, người đọc có thể thấy được quan điểm, thái độ của tác giả Bởi lẽ, thông qua ngôn ngữ kể chuyện, tác giả như ngầm truyền tải một thông điệp, ý chí của người kể chuyện, thể hiện năng lực của người quan sát và tài năng tái tạo hiện thực, quan điểm thẩm mĩ của tác giả Gorki nói: “Trong truyện, những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn ở bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc biết rõ cần phải hiểu nhân vật như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng của họ bằng những
Trang 29đoạn mô tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh và nói chung là luôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo léo nhưng lại rất võ đoán Mặc dù người đọc không nhận thấy những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ …”
Miêu tả ngoại cảnh không những làm cho tác phẩm giàu tính tạo hình
mà còn là một phương tiện quan trọng trong việc thể hiện tâm lí nhân vật Một trong những yếu tố ngoại cảnh đó là không gian hoặc thời gian nghệ thuật mà tác giả xây dựng trong tác phẩm
Một đóng góp không nhỏ của ngôn ngữ kể chuyện nữa là nó góp phần khắc họa thành công nhân vật văn học Qua những mẫu hình nhân vật, tác giả bao giờ cũng nhằm khái quát một nội dung đời sống xã hội và một quan niệm sâu sắc, một cảm hứng và một tình cảm tha thiết với cuộc đời Trong khắc họa nhân vật tính cách, việc miêu tả tâm lí, cá tính đóng vai trò vô cùng quan trọng và ngôn ngữ kể chuyện cũng là một yếu tố xuất hiện không thể thiếu nhằm tạo nên nét riêng của mỗi nhân vật
Những nhà văn có tên tuổi, có phong cách thường có những ngôn ngữ
kể chuyện riêng biệt Họ luôn có ý thức trau dồi và tạo sự riêng biệt của mình thông qua phong cách sử dụng ngôn ngữ kể chuyện Ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm tự sự có nhiều sắc thái thẩm mĩ phong phú, có khi lời kể đạm chất trữ tình mượt mà, giàu chất thơ (truyện ngắn Thạch Lam), có khi lời kể khách quan, sắc nhọn (truyện ngắn Nam Cao), có khi lời kể giàu tính nghệ thuật, giàu chất thơ (truyện ngắn Nguyễn Tuân), có khi lời kể mang tính hài hước, châm chọc, giễu cợt (truyện ngắn Nguyễn Công Hoan)
Ngôn ngữ kể chuyện còn có nhiệm vụ miêu tả một tính cách nhân vật nhất định, đó là tính cách của người kể chuyện với tư cách là điển hình nghệ thuật Trong tác phẩm nghệ thuật, nhân vật cũng như người kể chuyện hay tác
Trang 30giả đều có ngôn ngữ riêng của mình Ngôn ngữ kể chuyện có một cá tính độc đáo, cá tính này bằng biện pháp của nghệ thuật ngôn ngữ, xây dựng nên hiện tượng người kể chuyện Tác giả Vinôgađốp đã nói: “Diện mạo của người kể chuyện và tác giả bao trùm, thay thế nhau, có những quan hệ khác nhau với ngôn ngữ nhân vật” [Dẫn theo 15, tr 156]
2.2 Các đơn vị ngôn ngữ trong lời kể chuyện ở truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
2.2.1 Từ ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh chính là những đặc điểm về hệ thống từ ngữ gồm từ và cụm từ mà nhà văn đã sử dụng trong tập truyện của mình Hệ thống từ ngữ được biểu thị ở các truờng từ vựng, các lớp từ ngữ và màu sắc phong cách của Phan Thị Vàng Anh Việc sử dụng hệ thống từ ngữ tiêu biểu, nổi bật làm cho truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh
có màu sắc riêng, tạo nên nét độc đáo cho văn phong của chị
Huỳnh Như Phương coi lối viết của Phan Thị Vàng Anh là “thứ văn chương khi người ta trẻ” - ngòi bút này rủ rê những từ ngữ tinh nghịch nhất
để làm văn học, cái việc mà ai cũng cho là cần phải nghiêm túc Chính lối viết, cách nhìn đời, cách suy nghĩ khác lạ của Phan Thị Vàng Anh cũng như một số cây bút trẻ mang lại một không khí mới cho cái thế giới văn chương đang có nguy cơ già cỗi
2.2.1.1 Một số trường từ vựng nổi bật
a) Khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa
Trường từ vựng hay còn gọi là trường nghĩa hoặc trường ngữ nghĩa, hay trường từ vựng ngữ nghĩa Lí thuyết về trường từ vựng được các nhà ngôn ngữ đưa ra từ rất sớm, vào khoảng thập kỉ 20 hoặc 30 của thế kỉ XX
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên giới thiệu lí thuyết này chung Theo ông, “mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa
Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [8, tr 170]
Trang 31Như vậy, một tập hợp từ đồng nhất với nhau ở một nét nghĩa tổng quát mang tính chất của một hệ thống con nằm trong hệ thống từ vựng lớn sẽ được gọi là trường nghĩa Trường nghĩa là kết quả của sự phản ánh khái quát mà mức độ cao nhất là giúp xác lập từ loại
Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã chia trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
thành các loại: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa
tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng dựa trên hai quan hệ cơ bản trong ngôn
ngữ là quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn)
b) Một số trường từ vựng tiêu biểu trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
* Trường nghệ thuật
Trường nghệ thuật là trường từ vựng chỉ những hoạt động nghệ thuật Nghĩa là tất cả các từ tuy khác nhau về cách viết, cách phát âm nhưng đều chỉ chung một lĩnh vực là lĩnh vực nghệ thuật Trường từ vựng nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh khá phong phú, không giống với các cây bút hiện nay như Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư…
Trong những truyện mang tính luận đề của Nam Cao, mặc dù tác giả có chủ ý trình bày những vấn đề nghệ thuật văn chương nhưng trong hệ thống từ vựng chỉ hoạt động đặc thù này, ta chỉ gặp những từ ngữ thông thường và số
lượng cũng rất hạn chế: đầu óc, đẫm thơ văn, câu thơ, thi sĩ, mộng văn
chương, văn sĩ, văn nhân, viết văn, đọc sách, nghề văn, nguồn thơ, lời đẹp,
ý thanh cao, viết lách, tác phẩm, cuốn văn, đoạn văn, sáng tạo, dịch nghĩa, nàng thơ, bản quyền… (Trăng sáng, Đời thừa )
Trường từ ngữ nghệ thuật ta còn bắt gặp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, có phần phong phú hơn Những từ ngữ nói về nghệ thuật sân
khấu có: chèo, hát, nhà hát, sân khấu, rạp, hí viện, nhà soạn kịch, nhà
nghệ thuật, kịch sĩ, vở kịch, vở hài kịch, kịch bản, tấn bi kịch, trưởng ban
Trang 32kịch, chủ rạp, ban tài tử, vai kép, vai chính, vai diễn, học vở, diễn thử, hát bội, tuồng cổ, khán giả, khán quan, công chúng, cảnh, bài trí, hạ màn
(Kiếp tài tình, Kép Tư Bền) Những từ ngữ nói về hội họa: thiên chức của
nghệ thuật, tinh thần mĩ thuật, họa sĩ, nét vẽ, tấm lụa (Kiếp tài tình) Nói về
văn chương: tác phẩm, văn phẩm, tiểu thuyết, cốt truyện, vai chính trong
truyện, giọng văn, câu văn chải chuốt, văn chương, phê bình, nhà cầm bút, nhà văn, văn nhân, vườn văn (Mánh khóe, Nhân tài) Một tên tuổi lớn có sự
độc đáo khác thường trong việc sử dụng trường nghệ thuật trong ngôn ngữ kể chuyện mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Nguyễn Tuân Trường nghệ thuật trong ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng là một hệ thống bao hàm nhiều
phân hệ Về văn chương có: Câu thơ, ngâm thơ, vận thơ, vị thơ, tập cổ văn,
bình văn, điệu cổ phong, bài bát cú phú đắc, tích truyện, gieo chữ, phê bình, thưởng thức, khai bút, thi bá, lối thơ liệu, niêm luật, dùng chữ, thơ phú, âm điệu, ngâm vịnh, vịnh cảnh, thích thực, sát đề, đối chữ, giai cú, giai thoại văn chương, chữ chân, chữ trắc, chữ bằng, chữ vần, cõi văn thơ, hội Tao đàn, thất ngôn nguyên văn, Tống thi, Minh thi… (Đánh thơ, Thả
thơ) Nói về hát cô đầu: nhà hát, nhịp phách, gõ phách, cỗ phách, tay
phách, sênh, đàn đáy, nhạc khí, văn trục đàn, gẩy buông tiếng sòng, trống chầu, dây tơ, roi chầu, tơ trúc ríu ran, tiếng tơ tiếng trúc, khổ rung, âm trúc
âm tơ, luyện phím, khảo dây, thẩm âm, buông bắt, dư âm, làn hát, sa làn, chữ mở, hơi mớm, điệu hát Hòa Mã, khổ dựng… (Chùa Đàn)
Phan Thị Vàng Anh là một nhà văn trẻ, sống ở thời đại có thể nói là khác so với những nhà văn tên tuổi vừa kể tên, cho nên trong truyện ngắn của chị tuy cũng sử dụng trường từ vựng nghệ thuật nhưng chắc chắn là sẽ không giống với những tác giả tiền bối Bởi như chúng ta đã nói, ở Phan Thị Vàng Anh và truyện ngắn của chị toát lên một lối sống, quan điểm, cách nhìn, cách nghĩ về xã hội hiện đại với muôn mặt xô bồ của nó, và chính những điều đó
Trang 33đã chi phối cách viết của chị Trường nghệ thuật trong tập truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh do đó, cũng có những nét khác lạ
Có vẻ như nhà văn nữ trẻ Phan Thị Vàng Anh đang có gắng tạo một nét
cá tính riêng, dấu ấn riêng của mình trong sự sáng tạo Chị không phải là nhà văn đã đạt đến độ chín và sự trưởng thành như các nhà văn tên tuổi để có thể tạo nên một phong cách nghệ thuật riêng không lẫn lộn Chị không giống Nam Cao, không giống Vũ Trọng Phụng, cũng chẳng giống Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… Có lẽ vì thế mà trường từ vựng về “nghệ thuật” của chị
cũng không hoàn toàn giống ai Nói về nghệ thuật văn chương có: giảng, tính
ngụ ngôn, kẻ bị ngụ ngôn, dư luận, cách xưng hô của truyện, trí thức chân chính, cái đuôi Dế Mèn, giấy, diễn biến tâm lí, chi tiết, Pháp văn, không gian, “Quan Công”, quyển sách, đoạn văn, cuốn tiểu thuyết, công tử “Bạc Liêu”, bài thơ tình, tưởng tượng, văn nghệ sĩ, tiểu thuyết, một nhà văn nữ, tâm lí phụ nữ, hình ảnh, bìa sách, truyện, tường thuật, sáng tác, Lang Liêu, minh họa, cái bộ điệu, uy quyền… Nói về nghệ thuật âm nhạc có: âm vang, nhạc, ca nhạc, list, list băng nhạc, băng nhạc, âm thanh, cái đàn Nói về
nghệ thuật hội họa có: bản đồ, vẽ, nắn nót, kẻ tựa, bút lông nhiều màu, chụp
hình, bút chì Nói về nghệ thuật sân khấu có: đóng ba vai, màn đàm thoại… Nói về giáo dục có: trường nữ tư thục, trung tâm dạy nghề, trường phổ thông trung học, dạy nghề, phòng học, thực tập, giảng bài, bài thi…
Nói về lịch thiên văn, tín ngưỡng có: tháng âm, 26 Tết, 27 Tết, 28 Tết, 29
Tết, 30 Tết, mùng một, mùng hai, mùng ba, mùn bốn, mùng năm, tu hành,
vị thần, thờ phụng, Phật, khấn… Nói về Y học có: bệnh nan y, nằm ngửa
ra bất động, động kinh, vỉ thuốc… (Khảo sát các truyện: Cuộc ngoạn du
ngắn ngủi, Chuyện trẻ con, Ăn trộm, Đi thăm cha, Phục thiện, Buổi học thêm
ở tu viện, Khi người ta trẻ, Si tình, Mười ngày, Một ngày, Lão sư, Trò dối, Người có học)
Trang 34Có thể nói trường nghệ thuật của Phan Thị Vàng Anh khá phong phú,
có phần hơi “khác lạ” so với vốn từ nghệ thuật trong vốn ngôn ngữ toàn dân, điều này do cá tính sáng tạo của chị quyết định Điều đó như là minh chứng cho phong cách của một nhà văn trẻ viết viết về một xã hội mới - một xã hội của tuổi trẻ không còn truyền thống cũng chưa hẳn hiện đại, nó cứ tẻ nhạt, vô
vị, buồn chán, bất cần đời, buông thả trong dòng chảy của xã hội Đây chính
là “dấu ấn” riêng trong ngôn ngữ của Phan Thị Vàng Anh
b) Trường màu sắc
Trong truyện, trường màu sắc thường gắn với đặc điểm, tính chất của các sự vật, đối tượng miêu tả Trường màu sắc thoạt nhìn có vẻ không liên quan gì lắm tới nội dung và ý nghĩa của truyện bởi nó chỉ ghi lại trung thành những thuộc tính, đặc điểm của sự vật hiện tượng thôi Nhưng nếu nghiên cứu
kĩ thì chính màu sắc của đối tượng được miêu tả lại chứa đựng nhiều thông tin cần khám phá Qua trường màu sắc ta có thể hình dung phần nào về thiên nhiên, con người, cuộc sống trong một bối cảnh xã hội nhất định Vì thế, có thể nói, trường màu sắc, cũng là một trường từ ngữ quan trọng trong sáng tác của các nhà văn
Kết quả khảo sát cho thấy những từ ngữ chỉ màu sắc trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao khá khiêm tốn, có thể nói là ít, có những tác phẩm
không có một từ chỉ màu sắc nào Khảo sát một số tác phẩm như Đời thừa,
Chí Phèo, Nghèo, Trăng sáng của ông ta có những từ chỉ màu sắc như: Đỏ
mặt, xanh mắt, đỏ tai, xám ngắt, trắng hớn, đen, quần nái đen, áo tây vàng, trắng, nâu đục, xanh bùng, vàng, xanh…
Có thể nói, truyện ngắn Nam Cao do sự chi phối của hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ - xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám mà cuộc sống của người dân hiện lên trong tác phẩm buồn bã, vô hồn, kiệt quệ, tha hóa Chính không khí chung của xã hội quyết định không khí tác phẩm truyện và chi phối
Trang 35đến cách sử dụng trường từ ngữ chỉ màu sắc của nhà văn Một xã hội mà con người phải ăn đồ ăn như của con vật, người chết đói chết rét như ngả rạ, những trí thức đương thời bị buộc chặt vào gánh nặng cơm áo gạo tiền thì làm sao có được màu cuộc sống tươi vui
Trường màu sắc trong truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam lại không hoàn toàn giống Nam Cao Cũng phản ánh cuộc sống bế tắc, nghèo khổ, đơn điệu của những con người trong xã hội cũ nhưng cách dùng từ của Thạch Lam
có phần nhẹ nhàng hơn Nam Cao Điều này do quan điểm và cách nhìn về cuộc sống của mỗi nhà văn mỗi khác Có thể kể đến các từ ngữ chỉ màu sắc
trong truyện ngắn Thạch Lam như là: thâm tím, phẩm xanh, xanh, xanh xao,
bông lúa vàng, cỏ xanh, da xém đen, bát nước đỏ, lúa chín lóe vàng, lúa vàng sẫm, làn khói trắng, xanh biếc, trắng, đỏ, tím, ướt, vàng đỏ, trắng xanh, mờ sạm, màu nâu sẫm, chỉ đỏ, vải thâm nâu bạc tím, thâm, ửng đỏ
(khảo sát các truyện: Nhà mẹ Lê, Những ngày mới, Sợi tóc 2, Hai đứa trẻ,
Nắng trong vườn) Có vẻ như trường màu sắc trong truyện ngắn Thạch Lam
phần nào đã phản ánh cuộc sống đơn điệu, nhàm chán, tẻ ngắt, vô vị của con người trong xã hội lúc bấy giờ
Từ ngữ chỉ màu sắc trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh cũng có những nét khác biệt Có lẽ cá tính sáng tạo của một nhà văn trẻ sống ở thời đại mới đã ảnh hưởng không hề nhỏ đến cách sử dụng các gam màu trong tác phẩm Xuất hiện khá thường xuyên trong truyện ngắn của chị là những từ
như: vàng hoe, đỏ quạnh, vàng, rau đỏ, vôi vàng, màu rêu, áo xanh thêu
hai hàng lá đen mọi rợ, úa vàng, mực đen, nắng như đổ lửa, màu han rỉ, vôi hồng, trời nắng như rang, mai đã nở vàng, xanh đỏ, hoa vàng, vằn vện vàng nâu, đỏ, hồng tím, màu hoa phượng, áo dạ đen, đen nhánh, cặp đen, ngăm đen, đen trắng rằn rợ, trắng muốt, màu lem luốc, tím lịm, đỏ thẫm, cam cam, trắng, xanh, đỏ ối, đen đen, đen đúa, đỏ gay, tím đen, đỏ chót,
Trang 36trắng muốt, đỏ ửng, vàng tươi, nâu, vàng ruộm, trắng bạch, lờ nhờ vàng, xanh đậm, trắng nhờ nhờ… (Khảo sát các truyện: Cuộc ngoạn du ngắn
ngủi, Chuyện trẻ con, Con trộm, Đi thăm cha, Phục thiện, Buổi học thêm ở
tu viện, Khi người ta trẻ, Si tình, Mười ngày, Một ngày, “Lảo sư”, Trò dối, Người có học, Nghỉ hè, Ngày học cuối, Hồng ngủ, Đất đỏ, Kịch câm, Hội chợ, Chuyện hồng, Hoài cổ, Một năm chỉ có một ngày, Yêu, Thương, Xa nhà, Tháng Bảy, Tuyền báo thù)
Qua kết quả khảo sát, người viết thấy một điều rằng so với trường nghệ thuật và trường vận động thì trường màu sắc trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh có tần suất xuất hiện ít hơn và thưa hơn Một số màu sắc được nói đến với tần số cao như: vàng, đỏ, nâu, đặc biệt là màu đen được sử dụng rất nhiều Phải chăng để viết những câu chuyện về lớp trẻ trong xã hội mà đang diễn ra sự giao thời giữa truyền thống và hiện đại, Phan Thị Vàng Anh đã sử dụng một hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc mang dụng ý nghệ thuật riêng Với cốt truyện đi sâu vào những ngóc ngách tâm trạng, những lớp từ ngữ mang khả năng biểu đạt cao, Vàng Anh trực tiếp soi thẳng vào một sự thật và mạnh dạn trình bày một sự thật mà không phải ai cũng dám nói lên trong xã hội có nhiều diễn biến phức tạp hiện nay, thực trạng về cơn khủng hoảng tinh thần của một lớp thanh niên đã vô tâm lãng phí cái quý nhất của lứa tuổi mình vào những cuộc chơi điên cuồng, ngông nghênh và vô nghĩa Đây có lẽ là chủ đề truyện khá mới mẻ trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại Và tất nhiên để chuyển tải được nội dung và dụng ý nghệ thuật thì phải cần đến một hệ thống
từ vựng phù hợp cho mục đích đó
c) Trường vận động
Trong tác phẩm tự sự, có thể nói lớp trường vận động là trường phổ biến nhất, xuất hiện nhiều nhất, dày đặc nhất và phong phú nhất Bởi lẽ các nhân vật (dù là con người hay sự vật) trong truyện là những “sinh thể” nên
Trang 37không thể thiếu các hoạt động trong đời sống của họ Vận động là phương thức cố hữu và bắt buộc để nhân vật tồn tại trong tác phẩm Các “sinh thể”
đó hoạt động nói cười, ăn uống, đi lại… trong không gian nghệ thuật được nhà văn xây dựng Có thể khẳng định trong bất kì tác phẩm tự sự nào, của bất kì nhà văn nào không thể thiếu những từ ngữ chỉ hoạt động Thậm chí, các từ thuộc trường “vận động” luôn xuất hiện với tần số cao trong tác phẩm của bất cứ nhà văn nào Chẳng hạn, trong truyện ngắn của Vũ Trọng
Phụng ta gặp những từ: rón rén, hấp tấp chạy vào, bước, bước đến, chạy
đi, cuống cẳng bỏ chạy, nhanh nhẹn, lên tỉnh, ung dung đi ra, đi nghễu nghện, dừng chậm đà chân, tiến thẳng, cắm đầu cắm cổ đi, đi tìm, đi chim gái, sớm đi tối về, đi gạ đánh cờ, lừ đừ đi ra, đi ra lối cửa sau, đi lễ chùa Hương, đi nghỉ mát Sầm Sơn, đi ban ngày, đi ra cho thoát, đi có việc, chui ra, thoăn thoắt rõ nhanh, chạy hẳn, lẩn mặt, chạy trốn, chạy như đèn cù… (khảo sát các truyện: Bộ răng vàng, Người có quyền, Một
đồng bạc)
Trong truyện ngắn Thạch Lam ta cũng không khó để tìm thấy những từ
chỉ sự vận động: vội vàng quay lại, tất tả chạy qua đường, đi lên đây, về
nhà, rảo bước, đến chơi, chạy khuất, thong thả bước, theo anh đến nhà, đi
bộ, quay đi, quay ra, đưa về, đi nhanh, rụt rè bước, thập thò, đi qua, đi khắp, vào, ra, bước rầm rập, đuổi theo, lê về nhà, chồm lên, đi một lát, đi vớ vẩn, sang, đủng đỉnh, lủi thủi lên đường, đi tỉnh khác, đi vòng bờ hồ…
(khảo sát các truyện: Người bạn trẻ, Nhà mẹ Lê, Người đầm)
Nhìn chung, lớp từ ngữ chỉ sự vận động của con người ở truyện Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng không có gì đặc biệt, đó là lớp từ rất quen thuộc, ai cũng có thể dùng và ai cũng có thể hiểu dễ dàng Nó chỉ xuất hiện cho nhu cầu biểu đạt sự vận động của nhân vật một cách thuần túy và thể hiện những nghĩa hết sức thông dụng
Trang 38Nhưng nếu ta so sánh lớp từ vận động này với nhà văn Nguyễn Tuân thì sẽ thấy nhiều nét khác biệt Xuất hiện khá thường xuyên trong truyện của
ông là những từ ngữ: ngoạn cảnh, đi ăn hàn thực, đi hội đạp thanh, hứng
giang hồ, tha phương, người có sao Thiên Cơ chiếu vào lòng tay, đến tận đầu sông ngọn nguồn, đi ngắm một vùng mới lạ, đi chợ trên lục địa và các
bể lớn, phiêu lưu, bước dấn lên, đường về cố lí, tốc hành, chui qua tụy đạo, lên hỏa xa, toa xám lăn bánh, tốc lực, đáp ô tô, xê dịc, bay nhảy, chương trình xuất dương, ưu du, nhập nhĩ nhập nhỡn… Có thể nói
Nguyễn Tuân đã thể hiện sự vận động bằng những cụm từ thể hiện được cá tính, lối sống, tính cách khác thường của ông Đây chính là hệ thống từ ngữ vốn thường xuyên xuất hiện cùng với chủ nghĩa xê dịch mà ta đã từng biết
về Nguyễn Tuân
Vậy, trường vận động được thể hiện như thế nào trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh? Trong truyện ngắn của chị, ta cũng dễ dàng để tìm thấy lớp từ ngữ chỉ sự vận động của các “sinh thể” Nhưng có lẽ, như đã nói, do quan điểm, cách nhìn và thời đại khác nhau nên lớp từ vận động mang màu sắc riêng mà ta có thể chỉ thấy ở nhà văn trẻ Phan Thị Vàng Anh nếu tìm hiểu sâu về văn phong của chị Xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của chị là những
từ ngữ như: đi chơi, vạ vật, lắc lư, đi qua những đường phố, nhìn cảnh vật,
đạp xe, ra khỏi thành phố, ói, héo đi, hối hả tìm dầu, lao vào chăm sóc, sải bước, mắt liếc, đi cắt cỏ, bò lên để chạy xuống, chảy ồ ồ, xuống hồ chơi, ngả vào gốc trứng cá, kéo nhau đi, đứng lại bên sườn dốc, đủng đỉnh xuống núi, bò lên chỗ tập trung, xăn quần rửa chân, xách bình đá xuống dốc, à à chạy xuống, chạy vụt, cụp xuống hối hận, vắt vẻo đè lên những dẻ sườn, bước xiêu vẹo, đạp xe chậm chạp, giật giật, nằm dài trên xa - lông, chui vào một góc thư viện, ưỡn ẹo đi ra, (Khảo sát các truyện: Cuộc ngoạn
du ngắn ngủi, Chuyện trẻ con, Con trộm, Đi thăm Cha, Phục thiện, Buổi học
Trang 39thêm ở tu viện, Khi người ta trẻ, Si tình, Mười ngày, Một ngày, Lão sư, Trò dối, Người có học)
Qua những từ khảo sát được ở trên, ta dễ nhận thấy rằng, những từ ngữ chỉ sự vận động thông dụng, thông thường xuất hiện không nhiều trong lời trần thuật của Vàng Anh Để nói về sự vận động, Vàng Anh chủ yếu dùng cụm từ, thậm chí là cụm từ với số lượng từ rất nhiều (6 từ) Nhưng điểm khác của Vàng Anh so với những tác giả cùng thời và khác thời là chị thường sử dụng những từ ngữ mang phong cách hiện đại hơn, trẻ trung hơn, phù hợp với việc diễn tả màu sắc cuộc sống của một lớp thanh niên trẻ tuổi trong bối cảnh
xã hội mới - đó là cuộc sống của một thế hệ trẻ vô tư đến mức vô tâm, họ say tìm hiểu và khám phá chính mình trong thời đại mình sống nhưng lại hành động chưa đúng chuẩn mực yêu cầu, họ suy nghĩ và hành động theo cảm tính
để rồi cuối cùng chuốc lấy những cái kết không được lạc quan tươi sáng Có thể nói đó là hình ảnh về một xã hội, một cuộc sống ngổn ngang những câu chuyện thế sự và đời tư của những người đang còn trẻ dưới con mắt quan sát của nhà văn nữ Vàng Anh Và yếu tố góp thêm cho sự thành công trong
truyện ngắn của chị đó là lớp từ chỉ sự vận động - trường vận động Có thể nó
nhà văn trẻ Phan Thị Vàng Anh đã sáng tạo nên những mẩu chuyện tái hiện lại tất cả những gì trong cuộc sống hiện tại, đó là những điều rất nhỏ nhặt, rất thường tình, có thể gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống hôm nay, trong quan hệ gia đình, bạn bè, thầy cô, tình yêu đôi lứa… và có cả những vấn đề, những cảm xúc của chính nhà văn
Bên cạnh những trường từ vựng - ngữ nghĩa đã nêu trên, trong tập truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh chúng tôi còn nhận thấy một số trường khác cũng khá nổi bật như “trường ẩm thực”, “trường tình yêu”,… Các trường từ vựng này càng góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc trong việc dùng từ của chị
Trang 402.2.1.2 Các lớp từ ngữ tiêu biểu xét về phong cách
a) Lớp từ khẩu ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), “Khẩu ngữ là ngôn ngữ
nói thông thường dùng trong cuộc sống hằng ngày có đặc điểm phong phú đối lập với phong cách viết” [37, tr 478]
Nguyễn Văn Tu quan niệm: “Khẩu ngữ là những từ dùng trong việc thông tin hằng ngày về đời sống, công việc, gia đình, xã hội” [51, tr.122]
Trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Cù Đình Tú cho rằng:
“Trong vốn từ ngữ của bất cứ người dân Việt Nam bình thường nào, bên cạnh vốn từ đa phong cách, mỗi con người có một vốn từ ngữ rất quen thuộc, rất gắn bó đó là vốn từ khẩu ngữ” [52, tr 255]
Phan Thị Vàng Anh là một nhà văn trẻ có cách viết độc đáo và chị đã
sử dụng khá thành công một số lớp từ ngữ tiêu biểu, trong đó có lớp từ khẩu ngữ Khảo sát tập truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, người viết thấy lớp từ khẩu ngữ xuất hiện khá nhiều, trở thành một lớp từ ngữ cơ bản
và nổi bật trong tập truyện ngắn của chị Chúng ta có thể khẳng định điều này qua việc đối sánh tác giả Vàng Anh với một tác giả cùng thời - một tên tuổi nhà văn tiêu biểu cho thế hệ nhà văn trẻ, đó là nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư Đây là hai nhà văn trẻ cùng thế hệ, có thể gọi là một cặp đối sánh tiêu biểu cho nền văn học hiện đại, là tiền đề để chúng ta đi vào khảo sát, đánh giá hiệu quả nghệ thuật cũng như đặc điểm phong cách tác giả được tạo nên bởi những lớp từ ngữ mà nhà văn Vàng Anh đã sử dụng, trong đó có lớp từ khẩu ngữ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê, đối chiếu và nhận thấy: số lượt xuất hiện cũng như tỉ lệ từ khẩu ngữ ở truyện ngắn của hai nhà văn nữ trẻ cùng thời Nguyễn Ngọc Tư và Phan Thị Vàng Anh là không hoàn toàn giống nhau