1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến nay

148 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết từ Đổi mới đến nay đã thể hiện tài năng sáng tạo, tâm huyết nghề nghiệp và khát vọng đi đến tận cùng bản chất sự việc, bản chất mọi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ LÝ

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ

TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ LÝ

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ

TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 9

1.1 Bức tranh chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 9

1.1.1 Bối cảnh sáng tạo 9

1.1.2 Sự đa dạng về đề tài, chủ đề 12

1.1.3 Sự đổi mới về kĩ thuật và bút pháp 15

1.2 Hình tượng con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 19

1.2.1 Sự đổi mới và đa dạng hóa quan niệm nghệ thuật về con người 19

1.2.2 Những hình tượng nổi bật nhìn theo tiêu chí xã hội 22

1.2.3 Những hình tượng nổi bật nhìn theo tiêu chí cấu trúc nghệ thuật 31

1.3 Con người đi tìm chân lí - loại hình tượng đánh dấu nỗ lực cách tân của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 38

1.3.1 Khái niệm con người đi tìm chân lí 38

1.3.2 Mẫu số chung và đặc điểm riêng của con người đi tìm chân lí trong văn xuôi hiện đại Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau 40

1.3.3 Nguyên nhân tái xuất của hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 45

Tiểu kết chương 1 56

Trang 4

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 57

2.1 Con người hoang mang trước những giá trị hiện tồn 57

2.1.1 Con người trước nhu cầu soi xét quá khứ 57

2.1.2 Con người bất mãn với những thang chuẩn đánh giá cũ 61

2.1.3 Con người hoài nghi những “định hướng” 65

2.2 Con người quyết liệt dấn thân 70

2.2.1 Con người dám vượt lên mình 70

2.2.2 Con người chấp nhận thử thách 74

2.2.3 Con người tin ở lương tri 79

2.3 Con người trầm tư 83

2.3.1 Con người ưa tranh biện 83

2.3.2 Con người ham đúc kết 86

2.3.3 Con người hướng tới những tiêu chuẩn nhân loại 91

Tiểu kết chương 2 96

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 97

3.1 Nghệ thuật xây dựng con người đi tìm chân lí 97

3.1.1 Đặt con người vào bối cảnh không thời gian thiếu tính xác định lịch sử 97

3.1.2 Quan tâm soi tỏ dòng ý thức của nhân vật 100

3.1.3 Khai thác xung đột nội tâm trên nền xung đột xã hội và xung đột mang tính triết lí 104

3.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu 108

3.2.1 Kiểu kết cấu đa tầng 108

3.2.2 Kiểu kết cấu phân mảnh 112

3.2.3 Kiểu kết cấu xoắn kép 117

Trang 5

3.3.1 Giọng chiêm nghiệm, suy ngẫm, triết lí 121

3.3.2 Giọng châm biếm, giễu nhại 125

3.3.3 Giọng tâm tình, tha thiết 129

Tiểu kết chương 3 133

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Năm 1986 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử Việt Nam Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định đường lối đổi mới toàn diện đất nước Chính sự kiện lịch sử này đã đưa đất nước ta vượt qua thời kì khủng hoảng sau chiến tranh để bước vào giai đoạn phát triển mới Những thay đổi mạnh

mẽ của nền kinh tế, xã hội đã tác động đến mọi mặt đời sống của con người, trong đó có hoạt động văn học Văn học Việt Nam từ 1986 đã có những bước chuyển ngoạn mục với nhiều thành tựu cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc

1.2 Từ sau 1986, trong công cuộc Đổi mới, các nhà văn Việt Nam có nhiều điều kiện hơn để nhìn thẳng vào sự thật, nhìn xuyên thấu bản chất đời sống và con người Trong quá trình đi sâu vào cội nguồn, vào gốc rễ những hiện tượng xã hội, các tiểu thuyết gia đương đại Việt Nam đã nhận thấy hiện thực, con người thực ra không đơn giản, một chiều mà phức hợp, đa chiều Vì thế, một yêu cầu tất yếu, bức bách đối với người cầm bút lúc này là phải thay đổi tư duy nghệ thuật, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Hơn thế nữa, trước những yêu cầu bức bách của hiện thực, họ phải tự soát xét lại hành trang của mình trước khi tiếp tục hành trình khám phá và sáng tạo Chính sự

“soát xét” này dẫn tới việc xuất hiện ngày càng nhiều những hình tượng nhân vật đi tìm chân lí - một điểm cách tân không thể bỏ qua của văn học (nổi bật nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết) từ Đổi mới đến nay

1.3 Hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết từ Đổi mới đến nay đã thể hiện tài năng sáng tạo, tâm huyết nghề nghiệp và khát vọng đi đến tận cùng bản chất sự việc, bản chất mọi vấn đề của các thế hệ nhà văn Việt Nam Vì thế, tìm hiểu hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986, chúng tôi muốn khảo sát những tác động đa

Trang 7

chiều của quan điểm sáng tác chính thống đối với hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, từ đó, nhận ra những vấn đề thuộc quy luật phát triển của văn học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những tài liệu bàn về đổi mới văn học từ 1986 đến nay

Hình thành, phát triển trong không khí dân chủ, đổi mới, văn học Việt Nam từ 1986 đến nay đã tạo nên một đời sống dư luận phong phú Giới nghiên cứu phê bình văn học đã có nhiều bài nghiên cứu, phê bình, tranh luận

và đối thoại về văn học, về tiểu thuyết giai đoạn này

Nguyễn Văn Long với Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử

văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975 in trong sách Văn học Việt Nam sau

1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy đã nhận định: “Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã là những động lực tinh thần cho văn học của thời kì đổi mới phát triển mạnh

mẽ, sôi nổi” [54,12] Đó là một nhận định mang tính khái quát về những

nguyên nhân, những tác động đến sự đổi mới văn xuôi sau 1986 trong đó có

tiểu thuyết Cũng trong cuốn sách này, Lê Khắc Hòa ở bài viết Nhìn lại các

bước đi, lắng nghe những tiếng nói đã đề cập đến sự thay đổi giọng điệu

trong văn học, trong tiểu thuyết sau 1975: Sau 1975, văn học thế sự chuyển

tiếng nói thành tiếng cười trào tiếu, giễu nhại Tiếng cười giễu nhại, trào tiếu mở đường cho văn xuôi phát triển, tạo môi trường để văn xuôi nói to hơn thơ [54, 69] Trong bài Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, Mai Hải Oanh cho rằng với ưu thế của mình

tiểu thuyết có thể thâm nhập vào các thể loại khác ngược lại các thể loại khác cũng có thể du nhập vào tiểu thuyết để tạo nên cấu trúc đa tầng Ở bài

viết Tìm hiểu phương thức “huyền thoại hóa” trong một số tiểu thuyết Việt

Nam thời kì đổi mới, Trần Thị Mai Nhân đề cập đến sự ảnh hưởng của

Kafka, của Marquez đối với tiểu thuyết Việt Nam Qua bài Những cách tân

Trang 8

của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Văn Long và Lê Thị Thu

Hằng đã thể hiện cái nhìn toàn diện về những tồn tại và thành tựu của tiểu

thuyết Trong cuốn tiểu luận - phê bình Văn học hiện thực con người, Lê

Thanh Nga nhận định về những tín hiệu vui của truyện ngắn và tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975: Qua tiểu thuyết và truyện ngắn, chúng ta có thể thấy

những cuộc hội ngộ của văn học Việt Nam với các nền văn học lớn của nhân loại [58, 109]

Đánh giá về những cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam thời kì

Đổi mới, có thể kể đến hàng loạt bài viết, bài báo như: Một số khuynh hướng

tiểu thuyết nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay của PGS.TS Nguyễn Thị

Bình, Đề tài NCKH cấp Bộ, Mã số: B2006 - 17 - 29, Đại học Sư phạm Hà

Nội 2008), Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại của Thái Phan Vàng Anh (Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 60, 2010), Tiểu

thuyết Việt Nam sau 1986 - Nhìn từ lí thuyết đối thoại của Lê Thị Thúy Hằng

(Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường ĐH Khoa học Huế, tập 1, số 2,

2014), Vấn đề kết cấu tự sự và các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết

Việt Nam đầu thế kỉ XXI của Hoàng Cẩm Giang (Tạp chí Khoa học

ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 31, số 3, 2015), Kết cấu tự sự

trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 của Nguyễn Văn Hùng (Tạp

chí Khoa học Đại học Văn Hiến, số 11, 2016), Thành tựu văn xuôi Việt Nam

sau đổi mới từ góc nhìn tương tác thể loại của Trần Viết Thiện (Tạp chí ĐH

Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012), “Lạ hóa” và những thể nghiệm

của tiểu thuyết đầu thế kỉ XX của Thái Phan Vàng Anh…

Văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nói riêng luôn là vấn đề nóng của giới nghiên cứu, phê bình văn học Vì thế, nhiều Hội thảo lớn do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các trường Đại học trong toàn quốc tổ chức được giới nghiên cứu, phê bình văn học và nhiều công chúng quan tâm

Trang 9

2.2 Những tài liệu bàn về quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay

Quan niệm nghệ thuật về con người quyết định đến việc thể hiện tư tưởng chủ đề và hình thức nghệ thuật trong quá trình sáng tạo của nhà văn Vì thế, vấn đề con người trong văn học đương đại Việt Nam được các nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm hàng đầu

Trần Đình Sử trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người

của văn học Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 8/ 2001) cho rằng con người

không chỉ được khắc họa ở phương diện ý chí, tư tưởng tình cảm còn được khắc họa ở phương diện bản năng, vô thức, tâm linh, nghịch lí [76] Lê Ngọc

Trà trong bài viết Vấn đề con người trong văn học đã khẳng định nhiều năm

qua văn học đã mắc nợ cuộc đời vì chưa nói đúng “sự thật” về người nông

dân, về người lính, về người trí thức… Trong bài Văn xuôi những năm 80 và

vấn đề dân chủ hóa nền văn học, Huỳnh Như Phương cũng đánh giá văn học

thời kì Đổi mới đã thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người đó là từ khám phá con người một chiều, phiến diện sang khám phá thế giới nội tâm, chiều sâu tâm linh để nhận diện con người đích thực Bùi Việt Thắng trong bài viết

Văn xuôi gần đây và quan niệm con người (Tạp chí Văn học số 6, 1991) đã

nhấn mạnh những điểm mới trong quan niệm về con người của văn xuôi đương đại: hoàn cảnh là yếu tố quan trọng làm tha hóa con người, văn học đề cập đến những nghịch lí của con người và cuộc đời và văn học đã đi vào “cái con người” trong con người [85] Bàn về đổi mới quan niệm nghệ thuật về

con người còn rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình như: Một

vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới (Tạp chí Văn học số

9, 2001) của Tôn Phương Lan, Đổi mới văn học vì sự phát triển của Vũ Tuấn Anh, Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Bích

Thu… Ngoài ra, có không ít luận án, luận văn nghiên cứu về con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 10

2.3 Những tài liệu đề cập đến vấn đề hình tượng con người đi tìm chân lí trong văn học từ 1986 đến nay

Cho đến nay, hầu như chưa có bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề hình tượng con người đi tìm chân lí trong những tác phẩm mà chúng tôi xác định là trọng tâm khảo sát Các bài viết, công trình nghiên cứu chỉ mới đề cập một vài khía cạnh, một vài biểu hiện hoặc là những nhận định mang tính khái quát về hình tượng con người đi tìm chân lí, chưa có những bài chuyên sâu, toàn diện Có thể dẫn chứng một vài tài liệu, bài báo liên quan đến vấn đề hình tượng con người đi tìm chân lí trong văn học Việt Nam sau 1986

Trong bài viết Văn học Việt Nam trước và sau 1975 - nhìn từ yêu cầu

phản ánh hiện thực in trong sách Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Phong Lê đã đánh giá: “Nếu cuộc sống có lúc nào

đó bỗng đậm hơn những sắc màu tối, đẩy con người vào tình thế bế tắc, hoặc phải có nhiều phương án để thoát, và nỗi đau nhân loại như tràn lấn thì cũng

là điệu tự nhiên”… [54]

Bùi Thanh Truyền, Lê Biên Thùy trong bài viết Những cách tân quan

niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái (Tạp chí Khoa

học Đại học Huế, số 51 năm 2009) đã khái quát về nhân vật trong tác phẩm

của Hồ Anh Thái: “Tôi” đã có một quá trình tự vấn, đứng chênh vênh giữa

hai bờ thiện và ác để sám hối, để thức tỉnh, để tự tìm cho mình một con đường Hành trình dấn thân - tự vấn của nhân vật đã giúp cho người đọc nhận biết được phần ẩn khuất bên trong của Đông - cũng là của chính mình”

[96] Trong bài Con người trong tiểu thuyết thời hậu chiến viết về chiến tranh

(Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP HCM, số 23 năm 2010), Nguyễn Thị

Kim Tiến đã đề cập đến con người cá nhân, con người suy tư: “Đã đến lúc

các nhân vật của văn học thời kì này phải tự phán xét, suy ngẫm về những hành vi của mình, điều này đồng thời đánh dấu những phức tạp của đời sống

cá nhân nội tâm con người, những cảm xúc, suy tư, những dằn vặt trăn trở, những mối quan hệ nhiều chiều”… [91] Trần Văn Ban trong bài Kiểu nhân

Trang 11

vật ám ảnh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương (Tạp chí Khoa học ĐHSP

TP HCM, số 26, 2011) cũng nhận định: “Tìm hiểu những ám ảnh của nhân

vật cũng là khắc sâu nỗi cô đơn, thân phận nhỏ nhoi của con người trên hành trình gian khổ của cõi nhân sinh” [10] Trong bài viết Nhân vật tự ý thức trong văn xuôi sau 1975, Dương Thị Hương, đã đề cập đến nhân vật tự ý

thức, một kiểu nhân vật đi tìm chân lí trong văn học: “Trong văn xuôi sau

1975, còn có thể nhận ra kiểu nhân vật tự nhận thức trong sáng tác của Chu Lai, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Y Ban, Trần Thùy Mai”…

Đề cập đến con người bản năng, một biểu hiện của con người đi tìm chân lí,

Văn Thị Phương Trang trong bài Hình tượng con người bản năng trong văn

xuôi Việt Nam hiện đại (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, trường ĐH Khoa

học Huế, tập 1, số 2, 2014) đã viết: “Khi con người biết quan tâm đến mình,

sự tồn tại của con người bản năng trong văn học càng không thể thiếu Điều này vừa mang ý nghĩa giải thiêng, vừa mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc… thậm chí trở thành một trào lưu của sự giải tỏa, của khát vọng sống” [95]

Tiểu Sinh trong bài viết Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong

văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 trong tương quan với văn học 1945

-1975 khẳng định: “Văn xuôi sau -1975 dần dần quan tâm con người ở tư cách

cá nhân - một “nhân vị” độc lập Xuất hiện con người “không trùng khít với chính mình”, con người phức tạp, nhiều chiều” [73]

Lê Thanh Nga có bài viết “Chân lí” trong truyện của Nguyễn Huy

Thiệp, Nguyễn Đức Toàn có bài Kiểu nhân vật “đi tìm thời gian đã mất” và hiệu ứng kĩ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại…

Có thể thấy, đề tài về hình tượng con người trong văn học nói chung, trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng thực sự phong phú và khá phức tạp Trước tình hình đó, luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đến nay, với mong muốn góp thêm một hướng khai thác toàn diện và khoa học về hình tượng con người trong văn học Việt Nam đương đại

Trang 12

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Khảo sát bức tranh chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay; đánh giá về hình tượng con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

3.2.2 Tìm hiểu và phân tích những đặc điểm của con người đi tìm chân

lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay trên phương diện nội dung

3.2.3 Tìm hiểu và phân tích nghệ thuật thể hiện hình tượng con người

đi tìm chân lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hình tượng con người đi tìm chân

lí trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

4.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Do vấn đề khảo sát, phản ánh quá phong phú, đa dạng nên trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát các tác phẩm của những nhà văn sau:

- Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của Chúa (1999); Khải huyền muộn (2005); Ba ngôi của người (2014)

- Tạ Duy Anh với Đi tìm nhân vật (2008); Giã biệt bóng tối (2008);

Lão Khổ (2014); Thiên thần sám hối (2004)

- Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế (2013); Mười lẻ một

đêm (2006); Đức Phật, nàng Savitri và tôi (2015); SBC là săn bắt chuột

(2011), Những đứa con rải rác trên đường (2014)

- Nguyễn Bình Phương với Những đứa trẻ chết già (2013), Người đi

vắng (2013), Ngồi (2013)

Trang 13

- Nguyễn Đình Tú với Nháp (2008), Phiên bản (2014), Kín (2014) Chúng tôi cũng tập trung khảo sát những tác phẩm như: Mùa lá rụng

trong vườn (1986), Đám cưới không có giấy giá thú (1990) của Ma Văn

Kháng; Thời xa vắng (1996) của Lê Lựu; Bến không chồng (2000) của Dương Hướng; Nỗi buồn chiến tranh (2008) của Bảo Ninh; Mảnh đất lắm người nhiều

ma (2002) của Nguyễn Khắc Trường; Thiên sứ (1990) của Phạm Thị Hoài, Tấm ván phóng dao (2004) của Mạc Can, Nguyễn Du (2015), Thông reo ngàn Hống (2015) của Nguyễn Thế Quang, Ba người khác (2015) của Tô Hoài, Biển

và chim bói cá (2014) của Bùi Ngọc Tấn, Sông (2016) của Nguyễn Ngọc Tư…

Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát một số truyện ngắn, tiểu thuyết của các thế hệ nhà văn khác để có tư liệu đối sánh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp thống kê, miêu tả

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về hình tượng con người trong tiểu thuyết Việt

Nam từ 1986 đến nay

Chương 2: Đặc điểm của hình tượng con người đi tìm chân lí trong

tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng con người đi tìm chân lí

trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

1.1 Bức tranh chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

1.1.1 Bối cảnh sáng tạo

Sau cái mốc lịch sử 30/4/1975, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, cuộc sống lại trở về với tất cả những bộn bề, phức tạp như nó vốn có Đặc biệt sự khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã dẫn đến một “cuộc đối chứng” gay gắt giữa thiện và ác, giữa trắng

và đen, giữa tốt và xấu Trước những yêu cầu sống còn, cấp thiết của đất nước, Đảng đã khởi xướng phong trào Đổi mới và xác định đường lối đổi mới toàn diện trong Đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ VI (năm 1986) Sự kiện trọng đại này đã thổi luồng gió mới đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội và đưa tới nhiều chuyển biến tích cực, quan trọng Tuy nhiên, nền kinh tế phát triển nhanh mạnh theo cơ chế thị trường đã kéo theo những hệ lụy khôn lường Xã hội ngày càng phức tạp, xô bồ hơn Cuộc sống đời thường trần trụi, thô mộc

cứ hiện dần ra buộc con người phải đối diện, phải nhận thức Hơn lúc nào hết, người đọc khát khao được tiếp nhận những tác phẩm văn học phản ánh đa diện, đa chiều về đời sống, về con người Vì thế, yêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật”, nhìn thấu suốt vào bản chất đời sống đã đặt ra cho văn học, đặc biệt là tiểu thuyết từ sau Đổi mới đến nay Với những khám phá, sáng tạo và thể nghiệm trong sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học, trong đội ngũ những người cầm bút đã hình thành một tư duy nghệ thuật mới trên cơ sở đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về con người Nhiều quan niệm trước đó vốn được xem là tuyên ngôn, là lẽ sống, là chân lí thì nay đã được người viết, người đọc nhìn nhận lại, đánh giá lại một cách thấu đáo, rành mạch hơn Sự sôi động cả trong đời sống nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học đầu những

Trang 15

năm 80 của thế kỉ này cũng trở thành động lực thúc đẩy sự đổi mới cách viết của nhà văn

Hai cuộc kháng chiến của dân tộc kéo dài suốt ba mươi năm đã hun đúc nên những con người sẵn sàng hi sinh cái tôi cá nhân để viết lên những bản tráng ca hào hùng cho dân tộc Điều đó cũng có nghĩa là trong suốt một thời gian dài, con người phải nén mình, giấu mình, không bộc lộ và không có điều kiện bộc lộ cái tôi cá nhân Đó là khoảng thời gian “đất nước có một tâm hồn,

có cùng khuôn mặt/ Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ in nhau” (Chế Lan Viên) Hơn mười năm hậu chiến, cả dân tộc dường như oằn mình lại, gồng mình lên để khắc phục những tàn dư của chiến tranh nên cái tôi cá nhân chưa thực sự phơi lộ hết mình Công cuộc đổi mới của Đảng với tinh thần dân chủ, nhân văn đã thấm sâu vào từng số phận, từng cuộc đời và đã tạo nên một sự giải thoát mạnh mẽ cái tôi cá nhân Con người được soi chiếu một cách toàn diện: từ khát vọng khẳng định cái tôi đến hành trình khám phá bản ngã Vì lẽ

đó, văn học thời kì Đổi mới không khám phá con người sử thi, con người cộng đồng, con người “của đám đông” mà đi sâu khám phá con người đời thường, con người cá nhân, con người “cá tính”

Song hành với sự phát triển kinh tế là sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật,

sự bùng nổ truyền thông đại chúng Khoa học kĩ thuật hiện đại, thông tin truyền thông phát triển đã đưa con người từ mọi nơi trên thế giới xích lại gần với nhau Cùng với đó, quá trình hội nhập, mở rộng giao lưu văn hóa đã tạo điều kiện thuận lợi để những người cầm bút được tiếp cận với các phương pháp, kĩ thuật sáng tác mới và bút pháp hiện đại Từ sau 1975 nhất là từ sau

1986 đến nay, những tác phẩm văn học của các nhà văn hiện đại thế giới như

F Kafka, W Faulkner, Garcia Marquez, Mạc Ngôn… được công chúng trong nước đón nhận bằng niềm hứng khởi Cũng nhờ đó, tiểu thuyết Việt Nam đã bứt phá trong cách phản ánh hiện thực, phản ánh cuộc đời

Dưới ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, con người vừa phải đối mặt với những vấn đề bức thiết của dân tộc, vừa phải đối diện với những vấn

Trang 16

đề lớn lao của nhân loại Những thời cơ, thách thức của quá trình hội nhập và những biến thiên không ngừng trong cuộc sống của con người trên thế giới ít nhiều đã ảnh hưởng đến nhận thức, cảm xúc của người dân Việt Nam Họ không còn thỏa mãn, hài lòng với cuộc sống như trước mà luôn thắc thỏm, lo

âu, hoài nghi về hiện thực, về lòng người Những băn khoăn, trăn trở, hoài nghi về những giá trị của cuộc sống phải chăng xuất phát từ sự khủng hoảng niềm tin, sự cô đơn của con người trước những biến động của thời đại? Dự cảm được sự quẫy đạp, vùng vẫy của con người trước cuộc đời đầy bất trắc, các nhà văn đã chủ động hướng ngòi bút của mình về mọi số phận, mọi cuộc đời để khám phá, để phát hiện và sáng tạo nên những hình tượng con người đi tìm chân lí trong trang văn của mình

Tinh thần đổi mới đã khơi dậy, đã đánh thức cái tôi cá nhân, khát vọng vượt thoát cái cũ, lần tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Những cây bút chân chính không chấp nhận, không bằng lòng với cách viết

cũ đã mạnh dạn “nghi ngờ” những chân lí tưởng như là vĩnh viễn Họ nhanh chóng nhận ra lối mòn trong sáng tạo nghệ thuật, nhanh chóng nhận ra sự mất

tự do của người cầm bút trong chiến tranh Nhận thấy nhà văn Cách mạng đang “tự do” bước đi trong cái “hành lang hẹp và thấp” nên các tiểu thuyết gia đương đại Việt Nam quyết liệt đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm nghệ thuật, đổi mới hình thức thể hiện

Có thể nói, bối cảnh lịch sử - xã hội sau 1986 là luồng gió, là cánh cửa

mở ra một chân trời nghệ thuật mới cho văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Tiểu thuyết với khả năng chiếm lĩnh hiện thực đã trở thành đối tượng của hành trình khám phá, sáng tạo, kiếm tìm của nhà văn, của các nhà nghiên cứu phê bình và của người đọc Những chuyển hướng, những cách tân của tiểu thuyết góp phần tạo dựng nên những thành tựu cho văn học Việt Nam đương đại và góp phần đem lại những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước

Trang 17

1.1.2 Sự đa dạng về đề tài, chủ đề

Từ sau thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, ở các nước phương Tây, tiểu thuyết đã trở thành một thể loại văn học chủ đạo, như một chiếc “máy cái” kết tinh những thành tựu của một thời đại văn học Tiểu thuyết là "Tác phẩm tự

sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian

và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [32, 222-223] Tiểu thuyết có khả năng phản ánh bức tranh hiện thực đời sống rộng lớn cũng như đi sâu vào đời sống tâm hồn con người Nhà văn có thể đề cập đến những vấn đề lớn mang tầm dân tộc, quốc gia cũng có thể chỉ đi vào những vấn đề cơm áo, mưu sinh trong mỗi cuộc đời

Là một thể loại văn học “sinh sau đẻ muộn”, tiểu thuyết không bị ràng buộc bởi những quy định khuôn mẫu như một số thể loại khác, vì “tự bản chất

nó vốn không có tính quy phạm Đó là hiện thân của sự uyển chuyển, đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã hình thành của mình” [24, 500] Tiểu thuyết có khả năng khám phá cuộc sống nhiều chiều và thể hiện sức tưởng tượng phong phú của nhà văn

Từ 1986 đến nay, không khí dân chủ trong đời sống xã hội đã châm ngòi cho đời sống văn học bùng lên mạnh mẽ Hòa vào nhịp độ hối hả, sôi động của cuộc sống, tiểu thuyết giai đoạn này đã chuyển mình, vươn vai đứng lên Chưa bao giờ trên văn đàn Việt Nam xuất hiện nhiều tiểu thuyết với sự đa dạng thể tài đến thế Tiểu thuyết Việt Nam từ cảm hứng sử thi, cảm hứng ngợi

ca chuyển sang cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ Vì thế, trong cuộc sống hiện đại, dư âm về một thời đạn lửa vẫn còn vang trong trái tim mỗi con

người Cuối những năm 80 đến nay, hàng loạt tiểu thuyết như: Nỗi buồn chiến

tranh (Bảo Ninh), Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thụy), Ăn mày dĩ

Trang 18

vãng (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân

Đức), Cao hơn bầu trời (Văn Lê) ra đời… đã khẳng định chiến tranh vẫn là

nguồn cảm hứng lớn của văn học nghệ thuật Viết về chiến tranh nhưng hầu như các tiểu thuyết chủ yếu phơi bày những nghịch lí, phơi bày những số phận, cảnh ngộ của con người trong và sau chiến tranh Như vậy, chiến tranh được nhìn nhận từ nhiều chiều, được soi chiếu trong nhiều mối quan hệ, đúng như nhà văn Hữu Mai khẳng định: “Tác phẩm viết về chiến tranh đã mang những sắc thái mới Một số đi vào những đề tài rộng lớn của chiến tranh, một

số lại có xu hướng khai thác những bình diện chưa được đề đến nhiều trong những tác phẩm trước đây như: cái đau thương, cái mất mát, ác liệt, cái thấp hèn, những vấn đề thuộc đạo đức trong chiến tranh” [57, 93]

Nếu tiểu thuyết sau 1975 chủ yếu chuyển hướng đề tài thì tiểu thuyết sau Đổi mới tập trung nới rộng đề tài Có những vấn đề văn học trước Cách mạng đã khai phá thì đến nay các cây bút tiểu thuyết lại tiếp tục đào xới như

đề tài về cuộc sống nông thôn mới Đây là những vấn đề đã xưa cũ song lại được làm mới, làm khác nên người đọc vẫn được tận hưởng những bức tranh đời sống nông thôn muôn màu Những tác phẩm viết về đời sống nông thôn

như Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không

chồng của Dương Hướng, Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Ba người khác của Tô Hoài… khi mới xuất hiện đã

thực sự tạo ra những chấn động lớn trong đời sống văn học nước nhà Một số nhà văn tập trung miêu tả số phận nghiệt ngã của người phụ nữ nông thôn để soi chiếu vào đời sống hậu phương thời chiến, thời hậu chiến Trong mạch cảm xúc viết về nông thôn, có nhà văn lại hướng ngòi bút của mình vào vấn

đề nhân cách, đạo đức con người bị bào mòn, bị tha hóa bởi sự xô bồ của cuộc sống Có khi đó lại là bức tranh đời sống nông thôn qua hình ảnh, qua cách hành xử sai lầm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong cải cách ruộng đất… Viết về cuộc sống nông thôn mới, tiểu thuyết Việt Nam đã trực diện lột trần

Trang 19

những hiện tượng tiêu cực, trực diện lật xới những vấn đề nhức nhối, bức bách của xã hội

Cuộc sống sôi động, hối hả nhất và cũng phức tạp, gai góc nhất chính

là ở những vùng đô thị Ở đó con người nhanh chóng hòa mình vào một xã hội hiện đại, năng động, và con người cũng dễ dàng tiếp cận với những mặt trái của xã hội Hòa cùng nhịp điệu sôi động của cuộc sống, bằng nỗ lực sáng tạo không ngừng, các nhà văn giai đoạn này đã bóc mẽ bức tranh đời sống ở những vùng đô thị mới Với khả năng “tung hoành không bờ”, với khả năng ôm trùm mọi sự kiện, tiểu thuyết sau Đổi mới đã đi vào những vấn

đề nổi cộm của đời sống thị thành Đó là cuộc sống tù túng, ngột ngạt của người dân nghèo thành thị với những nghịch cảnh trớ trêu Đó là bức tranh

đô thị bề bộn, nhếch nhác mà ở đó người trí thức luôn khát khao thay đổi cuộc đời Đó là những góc khuất của các gia đình trong “phố nhà binh”, trong “ngõ lỗ thủng”… Có thể liệt kê tên tuổi những nhà văn viết nhiều, viết sâu về đề tài có sức hấp dẫn này: Chu Lai, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái… Qua tiểu thuyết viết về đô thị, người đọc cảm nhận được sự mệt nhoài, sự rã rời của con người trong cuộc mưu sinh, trong cuộc tiến thân đầy nhọc nhằn, bất trắc

Trong văn xuôi trước 1975, đề tài miền núi, con người miền núi được các nhà văn khai phá với âm hưởng ngợi ca hào hùng Trong âm vang của cảm hứng sử thi, hình ảnh người dân miền núi luôn gắn với lợi ích tập thể và vận mệnh dân tộc Sau Đổi mới, với cái nhìn đa diện, nhiều chiều về con người, hệ thống nhân vật miền núi được soi chiếu ở những nét cá tính riêng

biệt Những tiểu thuyết Họ Giàng ở Phìn Sa (Tô Hoài), Đồng bạc trắng hoa

xòe, Miền biên ải (Ma Văn Kháng), Hoa hậu xứ mường (Phượng Vũ)… đã

hướng đến khai thác cuộc sống, phong tục của vùng biên ải xa xôi Đó là một bức tranh hiện thực tăm tối, bức bí, ngột ngạt chứa nhiều xung đột dữ dội mà con người phải chấp nhận, phải đối diện

Trang 20

Đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam từ 1986 đến nay là nhận thức lại lịch sử, nhận thức lại quá khứ và giải thiêng thần tượng Do vậy đề tài lịch

sử rất được công chúng quan tâm, mong đợi Hàng loạt tiểu thuyết lịch sử ra

đời nhằm đáp ứng ước vọng của công chúng văn học như: Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Hội thề (Nguyễn Quang Thân),

Nguyễn Du, Thông reo ngàn Hống (Nguyễn Thế Quang)… Nhân vật lịch sử

trong tiểu thuyết đương đại được soi chiếu ở phương diện con người đời thường, con người “tiểu thuyết” chứ không phải là con người sử thi mang dáng dấp, tư thái, phẩm chất thiêng liêng, cao quý

Chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết hậu - hiện đại thế giới, những nhà văn thuộc thế hệ Đổi mới đã tạo nên một cuộc cách tân về đề tài, chủ đề tiểu thuyết Họ đã đào sâu vào cái tôi cá nhân với những vùng tối, vùng mờ tâm linh, với thế giới tiềm thức, vô thức của con người Đây là “vùng lãnh địa” tuôn trào nguồn cảm hứng cho những cây bút vững vàng, bản lĩnh như Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú…

Nhìn tổng thể văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, lần nữa có thể khẳng định tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới đã xuyên qua nhiều “vùng đất”, nhiều “lãnh địa” để đưa đến cho công chúng một sự phong phú về đề tài, chủ

đề Đa dạng cả về phương pháp sáng tác và phương thức tiếp cận hiện thực, tiểu thuyết thời kì này đã phản ánh chân lí cuộc sống và tạo nên những cảm hứng thẩm mĩ trong sáng cho người đọc, “góp phần giải quyết những vấn đề sống còn của đất nước, của Chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng quan tâm đến số phận những cá nhân, đấu tranh cho những mục tiêu của chủ nghĩa nhân đạo chân chính” [24, 76]

1.1.3 Sự đổi mới về kĩ thuật và bút pháp

Từ những khám phá có chiều sâu về bức tranh xã hội, về đời sống tâm linh và cả những phần vô thức trong con người, các nhà văn hiện đại Việt Nam đã không còn “trói mình” trong thi pháp truyền thống mà vươn tới thi

Trang 21

pháp hiện đại Một khi đã chấm dứt cách viết hời hợt về đất nước, về lịch sử,

về con người, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã dịch chuyển, đổi mới và đa dạng hóa kĩ thuật, bút pháp thể hiện để đến với những thể nghiệm mới

Theo Mai Hải Oanh, bút pháp linh hoạt trong tiểu thuyết hiện đại trước hết là bút pháp tả thực mới Đó có thể là cái nhìn khách quan, cái nhìn giễu nhại được nhà văn sử dụng triệt để để soi chiếu hiện thực đa diện, nhiều chiều Nhờ đó, tiểu thuyết đã đem đến cho người đọc những thông tin chân thực và thẩm mĩ về cuộc sống Nếu như những tiểu thuyết nổi tiếng của Trung

Quốc như: Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng, Báu vật của

đời của Mạc Ngôn, Trường hận ca của Vương An Ức… nhận thức lại những

bi kịch, nhận thức lại thời kì đen tối, tang tóc nhất trong cuộc cách mạng văn

hóa thì Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ba người khác (Tô Hoài), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)… cũng nhận thức lại sự giáo điều, rập khuôn, ấu trĩ dẫn đến những tình cảnh oái ăm trong cải cách ruộng đất Thời

xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng

(Dương Hướng)… lột trần bản chất của chiến tranh, phản ánh cuộc sống tăm tối, bế tắc của con người cả hai bên chiến tuyến

Trong quá trình vượt thoát khỏi cái “hành lang hẹp và chật” của văn học trước đó, nhiều nhà văn đã sử dụng bút pháp huyền thoại để chuyển tải những thông điệp cuộc sống Dưới bút pháp huyền thoại ấy, những hình tượng trong tiểu thuyết đều mang tính ẩn dụ, tượng trưng Nguyễn Xuân

Khánh trong Hồ Quý Ly, Võ Thị Hảo trong Giàn thiêu… mượn yếu tố kì ảo

để giải thiêng lịch sử Phạm Thị Hoài trong Thiên sứ, Hồ Anh Thái trong Cõi

người rung chuông tận thế, Tạ Duy Anh trong Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối… sử dụng huyền thoại để soi chiếu hiện thực đa tầng, đa sự

Trong suốt một thời gian dài, tiểu thuyết được thể hiện bằng giọng điệu trang trọng, hào sảng Sau Đổi mới, văn học trở lại nhận chân giá trị cuộc sống, bản chất con người nên bút pháp trào lộng được dịp phát huy tác dụng

Trang 22

Trong Thời xa vắng, Lê Lựu đã viết về một thời chưa xa với những nỗi cay đắng, bi hài trong cuộc đời của Giang Minh Sài Ở Cõi người rung chuông

tận thế, Hồ Anh Thái bỡn cợt, bông đùa mà xót đau trước những bi hài kịch

đang diễn ra trong cuộc sống, xót đau cho cái xã hội tồn tại kiểu gia đình mà ở

đó người mẹ và con gái đã “lập thành tích” “rước giai” về nhà

Cùng với những bút pháp nghệ thuật khác, bút pháp tượng trưng lôi cuốn người đọc khi tạo ra chiều sâu và vẻ đẹp lung linh của hình tượng Trong tiểu thuyết hiện đại thế giới, hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng thường nương náu

trong những chi tiết, hình tượng độc đáo, mới mẻ thậm chí phi lí Trong Biến

dạng, F Kafka xây dựng chi tiết G Samsa vốn là một nhân viên mẫn cán

bỗng biến thành một con côn trùng khổng lồ Chi tiết G Samsa biến thành con bọ là một hình tượng ẩn dụ bi đát về sự tha hóa, vật hóa của con người

Lối viết ấy đã được lặp lại trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam Trong Cõi

người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), chi tiết cô bé Mai Trừng nhìn vào

ai cũng làm người đó sợ hãi Kẻ ác khiếp sợ trước ánh mắt của cô, người nhân hậu cũng không thể gần cô Chi tiết mang màu sắc ẩn dụ có khả năng chuyển tải những thông điệp đầy nhân văn: cuộc sống cần sự hóa giải hận thù và cái thiện có sức sống mãnh liệt

Thành công của tiểu thuyết còn được thể hiện trong việc đổi mới kĩ thuật sáng tác Trong những chặng đường đổi mới văn học, một số nhà văn chỉ cần thêm “gia vị” cho tác phẩm của mình bằng kĩ thuật dịch chuyển điểm nhìn trần thuật để đào sâu hơn vào đời sống nội tâm nhân vật Với sự kết hợp tinh tế giữa cái nhìn bên ngoài với bên trong, điểm nhìn từ xa đến gần, từ rộng đến hẹp…, nhiều tác phẩm đã tạo nên một bức tranh tự sự muôn màu sắc Với

điểm nhìn được phản ánh qua nhiều nhân vật, Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt

Hà) đã tạo nên một trường nhìn khách quan, chân thật về những mảnh đời, những số phận con người

Từ những năm cuối thế kỉ XX đến nay, văn đàn Việt Nam lại sôi động hẳn lên bởi sự xuất hiện của những cây viết lạ: Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy

Trang 23

Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Đình Tú… Những sáng tác của họ có thể chưa phải là những tuyệt tác nhưng

đã tạo tiếng vang trong dư luận, tạo sự phân lập sâu sắc trong sự đánh giá của công chúng Quan niệm “tiểu thuyết như là trò chơi” của một số nhà văn thuộc thế hệ Đổi mới đã giải phóng tiểu thuyết khỏi tính chất giáo huấn, trang nghiêm để lựa chọn kĩ thuật pha trộn thể loại trong kết cấu Với kĩ thuật này, một tác phẩm có thể dung chứa nhiều thể loại như thơ, tự truyện, nhật kí…

trong nó Phiên bản của Nguyễn Đình Tú có sự hòa trộn của kinh thánh, lí thuyết tội phạm học, bản tin và tiểu thuyết Những đứa con rải rác trên đường

của Hồ Anh Thái kết hợp hài hòa giữa tiểu thuyết với sự hồi tưởng trong nhật

kí, cảm xúc trong viết thư…

Kĩ thuật lắp ghép trong kết cấu cũng được nhiều nhà văn chuyên dùng Sự lắp ghép thể hiện khá rõ trong việc nhà văn tạo ra những khoảng trống, khoảng trắng của không gian, thời gian rồi xâu chuỗi lại, liên kết lại tạo ra dư ba, ám ảnh

người đọc Những đứa con rải rác trên đường của Hồ Anh Thái có kết cấu tưởng

như lỏng lẻo nhưng lại rất logic, là sự lắp ghép của ba câu chuyện về cuộc đời anh lính lái xe gắn với những cuộc tình “rải rác trên đường”

Góp phần tạo nên sắc thái, diện mạo mới mẻ của tiểu thuyết là kĩ thuật đồng hiện không - thời gian Đồng hiện được dùng để giảm bớt những quy chiếu không gian, thời gian trong quá khứ và để các thời điểm khác nhau, các

không gian khác nhau hiện lên cùng lúc Trong Lão Khổ của Tạ Duy Anh, ba

khoảnh khắc thời gian cùng tồn tại trong sự việc lão Khổ ngồi uống rượu mà hồi tưởng về quá khứ, mộng tưởng về tương lai Sự chồng xếp của các không gian cũng được hiện diện: Tại phiên tòa, tiếng vỗ tay rần rật của mọi người khi ông Bùi - Bí thư huyện - kết thúc bài diễn văn đã gợi cho lão Khổ nhớ về

“tiếng vỗ tay thành nhịp” ở không gian Hội nghị của hai mươi năm trước

Nhiều nghệ sĩ chân chính không bằng lòng với những gì bản thân tạo dựng nên đã đổi mới cách viết bằng kĩ thuật dòng ý thức Dòng ý thức biểu

Trang 24

hiện trong tác phẩm văn học có thể là những giấc mơ đứt mạch, là miền kí ức triền miên, là dòng suy tư bất định của con người về thế thái nhân tình

Nguyễn Minh Châu trong Phiên chợ Giát đã mở đầu cho kĩ thuật dòng ý thức

khi xây dựng hình tượng lão Khúng Lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà, người nông dân đắm chìm trong những suy tư về quãng đời nhọc nhằn,

về cuộc sống, về thân phận người lao động Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo

Ninh đi sâu vào thế giới ảo giác Chính những giấc mơ của Kiên đã giúp anh hồi tưởng về Phương - người yêu đầu đời, về người cha đẻ, về cuộc chiến tàn khốc Kĩ thuật dòng ý thức xoáy sâu, luồn sâu vào đời sống tâm linh, thế giới tiềm thức, vô thức của con người Đây quả là một lối viết, một cách viết được đánh giá cao, là “kĩ xảo của tiểu thuyết hiện đại” (Lê Huy Tiêu)

Từ 1986 đến nay, tiểu thuyết Việt Nam nhiều lần “gây hấn”, “gây sốc” đối với công chúng khi quyết liệt, mạnh mẽ đổi mới cách viết M Bakhtin từng tiên đoán rằng: tiểu thuyết có sức sống mãnh liệt, trường tồn trong thế giới văn học nghệ thuật Quả thật, ba mươi năm qua, trong vòng quay của sự đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam đã trở thành nhân vật chính, nhân vật trung tâm của nền văn học nước nhà Có được vị trí xứng đáng như thế là nhờ sự đổi mới và đa dạng hóa kĩ thuật, bút pháp thể hiện của tiểu thuyết sau 1986 đến nay

1.2 Hình tượng con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

1.2.1 Sự đổi mới và đa dạng hóa quan niệm nghệ thuật về con người

Văn học là công trình nghệ thuật mà ở đó nhà văn lấy việc “khắc họa hình tượng con người” để khám phá, nhìn nhận thế giới quan, nhân sinh quan

Vì thế, quan niệm nghệ thuật về con người là một khái niệm, một vấn đề được giới nghiên cứu, phê bình đặc biệt quan tâm Các tác giả: Lê Bá Hán - Trần

Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) trong Từ điển thuật ngữ văn học

cho rằng “Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lí của chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách

Trang 25

xử lí các biến cố và quan hệ nhân vật” [32, 184] Cách hiểu này đã khẳng định việc khám phá, khai thác hình tượng con người chính là điểm xuất phát để

độc giả từ đó đi đến chiếm lĩnh tác phẩm Trần Đình Sử trong Giáo trình dẫn

luận thi pháp học đã viết: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải,

cắt nghĩa, cảm thấy con người được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật đó” [75, 54] Khái niệm này càng khẳng định con người là đối tượng của mọi hình thức thể hiện, là hình tượng trung tâm có tính thẩm mĩ cao trong văn học Con người khi được nhìn qua lăng kính của một tâm hồn nghệ sĩ, một trái tim đa cảm, một ánh mắt hiện thực trong từng giai đoạn văn học sẽ trở thành “người phát ngôn” tư tưởng của thời đại, “người phát ngôn” tư tưởng của nhà văn Thông qua cách xây dựng, cắt nghĩa về con người, về những vấn đề liên quan đến con người trong tác phẩm

có thể khẳng định vị thế, khẳng định tầm vóc của một nền văn học Hình tượng con người chìm đắm trong cô đơn, bị tha hóa, bị rơi vào khủng hoảng tinh thần; hình tượng con người đầy mặc cảm, âu lo trước hiểm họa của xã hội hậu công nghiệp trong sáng tác của F Kafka, của A Grillet đã phần nào gợi ra vị trí, giá trị của chủ nghĩa nhân văn thế giới thế kỉ XX - XXI Trong mỗi con người đã hàm chứa bao giá trị của cuộc sống: mạnh mẽ và yếu đuối, lạc quan và yếm thế, nhân ái và hận thù, hạnh phúc và dở dang… Văn học đủ khả năng để khơi dậy những vẻ đẹp, những tiềm ẩn, những giá trị trong con người mà không phải ngành khoa học nào cũng có thể khám phá Trong thế giới nghệ thuật đầy ngổn ngang ấy, con người luôn là đối tượng nổi bật để chuyển tải quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh của nhà văn Qua văn học, con người được soi chiếu, được phản ánh và được nhận ra chính mình

Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đồng hành với quá trình đổi mới quan niệm về hiện thực, thể hiện rõ tính chất thời đại trong đó Thời trung đại, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, chịu sự chi phối của quan

Trang 26

niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” nên trong tác phẩm thường xuất hiện kiểu con người vũ trụ, con người đạo đức, con người gắn với cương thường đạo lí, với tư tưởng “trung quân ái quốc” Phải đến khi Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Dữ… “lộ diện” mới có sự xuất hiện của con người cá nhân, con người đòi quyền được yêu thương, đòi quyền được sống đúng nghĩa

Tiểu thuyết hiện thực phê phán đã mổ xẻ từng số phận người để làm nổi bật sự tha hóa, bi kịch của con người cá nhân trong cái xã hội đang quằn quại, nhức nhối để chuyển mình Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời đánh dấu bước phát triển của kiểu nhận thức mang tính “phức hợp” về con người cá nhân Ba mươi năm chiến tranh, trong khí thế hừng hực, sục sôi của những ngày ra trận, nổi bật trong văn học là hình ảnh con người phơi phới niềm tin

“Vui gì hơn làm người lính đi đầu/ Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa” (Tố Hữu) Văn học Cách mạng thoát li cách nhìn bế tắc, bi quan về con người và hướng đến nhìn con người với tư cách là con người sử thi, con người cộng đồng Sau chiến tranh, văn học vẫn phát triển theo quán tính trong vòng quay của cảm hứng sử thi và có sự dịch chuyển sang cảm hứng đời tư, thế sự

Tuy nhiên phải đến thời kì Đổi mới, quan niệm nghệ thuật về con người mới có những thay đổi mang tính bước ngoặt Nguyễn Minh Châu từng

có những dự cảm sâu sắc về trách nhiệm của nhà văn với cuộc sống, với con người: “Hôm nay chúng ta chiến đấu vì quyền sống của cả dân tộc, nhưng sẽ đến một ngày chúng ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người” Sau Đổi mới, các thế hệ nhà văn - những “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” không còn cầm bút để bảo vệ con người trong cuộc chiến sinh tử nhưng phải cầm bút để bảo vệ con người trong cuộc sống mưu sinh Họ đã đặt con người trong tính toàn diện, nhiều chiều trên tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân văn Trong văn học thời kì này, con người cá nhân trở về vị trí thống lĩnh, đôi khi được khám phá ở phương diện con người tha hóa, con người tội lỗi Thủy

(Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp), Bối, Đình, Cự (Ba người khác - Tô

Trang 27

Hoài)… là những con người như thế Nhiều nhà văn đã tái hiện, phác họa chân dung mình qua hình tượng nhân vật vì thế làm xuất hiện nhiều kiểu con người tự vấn, tự nhận thức, kiểu con người không “đồng nhất” với chính mình Thị hiếu văn chương dần thay đổi, không còn quá khắt khe với những vấn đề nhạy cảm của con người như tình yêu, tình dục, và vì thế con người tính dục đã lên ngôi Rất nhiều cây bút đã viết về con người bản năng tính dục như Chu Lai, Ma Văn Kháng, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Đình Tú Trên hành trình cách tân nghệ thuật, trên hành trình đi sâu khám phá thế giới bên trong của con người, các nhà văn thế hệ này đã nhận ra thế giới tâm linh của con người phức tạp mà lí thú Họ đã phát hiện, đã cảm nhận được những âm thanh cất lên từ cõi tâm thức, cõi ý thức và cõi vô thức Chính điều

đó đã hình thành nên những con người với chiều sâu tâm linh như Kiên (Nỗi

buồn chiến tranh - Bảo Ninh), Khẩn (Ngồi - Nguyễn Bình Phương), Diệu

(Phiên bản - Nguyễn Đình Tú)…

Bằng những trải nghiệm của cuộc đời, bằng những hành trình xuyên qua góc tối trong con người, các nhà văn thế hệ Đổi mới đã có những tìm tòi đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Được trang bị một cảm quan thẩm mĩ mới, họ đã tạo ra một “vườn hoa” con người muôn sắc, muôn hương

Đó là con người lạc lõng, cô đơn; là con người sa cơ, lạc lối; là con người khát khao, hoài vọng; là con người dở dang, đứt đoạn… Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là hành trang để nhà văn không ngừng sáng tạo nghệ thuật và làm mới nền văn học nước nhà

1.2.2 Những hình tượng nổi bật nhìn theo tiêu chí xã hội

1.2.2.1 Hình tượng người lính

Hình tượng người lính vẫn luôn là hình tượng nổi bật trong tiểu thuyết

từ sau 1986 đến nay Trong văn học trước 1975, hình tượng người lính được chạm khắc thành những tượng đài bất tử “Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Lê Anh Xuân),

Trang 28

thành những biểu tượng của phẩm chất anh dũng, kiên trung, thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Khi thời gian có độ lùi nhất định cho phép nhà văn nhìn nhận lại lịch sử dân tộc, nhìn nhận lại cuộc chiến tranh đầy máu lửa qua hình tượng người lính, người lính trong thời bình, trong thời

kì đổi mới là kiểu con người cá nhân gắn với những bi kịch Cái bi kịch lớn nhất của những con người trở về từ cuộc chiến là bi kịch “lạc thời” Trong chiến trận, họ hùng dũng, kiên cường nhưng khi trở về với cuộc sống đời

thường họ “bị bắn ra khỏi lề đường” Giang Minh Sài trong Thời xa vắng (Lê Lựu), Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Kiên trong Nỗi buồn chiến

tranh (Bảo Ninh)… là những con người đang lâm vào tấn bi kịch “lạc loài”

ấy Bi kịch mà Giang Minh Sài phải gánh chịu một phần do những người xung quanh anh mang lại Không chấp nhận cuộc tảo hôn do gia đình sắp đặt, không bằng lòng lấy một người vợ lớn tuổi khỏe mạnh để chăm lo việc nhà, anh quyết định lên đường nhập ngũ để tự giải phóng mình khỏi “con người ấy” Thế nhưng bi kịch cứ bám riết lấy anh Những dòng nhật kí riêng tư, những khát khao xúc cảm của anh dành cho người phụ nữ mà mình yêu mến trở thành những lời tố cáo hữu hiệu về tội lỗi của Giang Minh Sài Những cố gắng, những phấn đấu miệt mài của anh thành vô nghĩa, anh thành người có

“tư tưởng tiểu tư sản, tư tưởng phản động” Nhiều lần anh cố thoát ra khỏi bi kịch gia đình nhưng để “giữ lấy uy tín chính trị”, Sài lại lún sâu hơn vào bi kịch không lối thoát Sau cuộc chiến, anh cũng tự giải thoát ra khỏi người vợ

mà anh vô cùng khiếp đảm, là “nỗi ám ảnh của một thời trai trẻ” Anh được li hôn, được lấy vợ mới Anh náo nức chờ đợi, đón nhận một cuộc sống mới với trái tim khao khát tình yêu và nguyện sống hết mình cho tình yêu Nhưng rồi anh lại quằn quại trong nỗi bi kịch đau đớn hơn: Châu - người vợ anh hết mực yêu thương phản bội anh, đứa con anh hết mực nâng niu chăm sóc không phải

là con anh Qua nỗi đớn đau nghiệt ngã của Sài, nhà văn không dừng lại ở việc chỉ ra nguyên nhân của bi kịch ấy là do xã hội mà hơn thế còn chỉ rõ tấn

Trang 29

bi kịch của đời anh là do anh không nhận ra sự hèn kém, nhu nhược của chính

mình Cuộc đời Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng cũng là một bi kịch Trở về

sau cuộc chiến, sống giữa cuộc sống đầy biến động, xô bồ anh thấy mình chơi vơi, lạc lõng Kí ức về cuộc chiến tranh dữ dội và khốc liệt luôn vẹn nguyên trong anh “ngày nào cũng nhìn thấy người chết, ngày nào cũng chôn người

chết mà vẫn chưa đến lượt mình” Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh cũng là

một người may mắn sống sót Sống trong thời bình nhưng Kiên lại cảm thấy ngột ngạt như mình “đang bị mắc kẹt lại trên đời này” Sống giữa cuộc đời, bên cạnh đám đông láo nháo hỗn độn, Kiên như một kẻ mất trí, một con bệnh thần kinh Kiên luôn đi tìm những khoảnh khắc “thời gian đã mất” để rồi nhức nhối tâm can vì những mất mát quá lớn do chiến tranh Anh sống chập chờn giữa cuộc sống thực tại với những cơn ác mộng về chiến tranh, về đồng đội,

về những mảnh đời đắng cay, tủi nhục mà lẽ ra chính anh phải chịu một phần trách nhiệm trong đó

Như vậy, dư chấn của chiến tranh vẫn sẽ còn trong trái tim, trong khối

óc của mỗi người Những người lính được trở về sau cuộc chiến nhưng hạnh phúc, niềm vui dường như đã tắt khi họ phải lao vào cuộc sống đời thường, một cuộc sống lẫn lộn mảng đen - trắng “THỜI BUỔI THIÊN HẠ ĐANG TỰ THOÁT XÁC ĐỂ lao vào làm ăn, rình rập, cạnh tranh, cuồng nộ, nắm bắt, lao lên, mọp xuống, náo động, âm thầm, bộc trực, độc địa, vấp ngã…” Chiến tranh và cuộc sống sau chiến tranh đã rạo nên những bi kịch lớn cho người lính: lạc lõng trong cuộc sống thường nhật; mất niềm tin về cuộc sống về con người; khát khao cống hiến nhưng yếu hèn, nhu nhược… Những người lính năm xưa đã ý thức sâu sắc về “tấn bi kịch” thời hậu chiến và vẫn ươm mầm niềm tin, khát vọng về cuộc đời

Hình tượng người lính trong văn xuôi sau 1986 không những được khám phá ở chiều sâu con người bi kịch mà còn được soi chiếu ở chiều sâu con người bản năng Cuộc sống trở lại bình thường sau chiến tranh, người

Trang 30

lính trở về đúng con người thật của họ Tiểu thuyết thời kì Đổi mới đã phơi bày trên trang sách hình ảnh người lính với tất cả những biểu hiện đa dạng của họ mà bấy lâu vì chiến tranh nên phải giấu mình Trong một thời gian dài không được viết về cái bản năng của con người nhất là người lính, vì thế khi được “cởi trói”, ồ ạt tiểu thuyết viết về vấn đề này Trong hồi ức của mình,

Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) đã chứng kiến không biết bao nhiêu là cái chết

của đồng đội, của những người ở bên kia chiến tuyến Mỗi cái chết đều để lại trong anh nỗi đau dai dẳng để đến khi Kiên trở thành “quen” với cái chết và

“chờ” cái chết đến với mình Rồi Kiên cùng đồng đội đã tìm về truông Gọi Hồn, tìm đến cây hồng ma để quên hiện tại, để chìm đắm trong niềm khoái cảm cực lạc Giữa không gian rùng rợn, khói hồng ma đã giúp Kiên và những người bạn của anh được nếm trải hương vị cuộc đời: Kiên đê mê trở về với mối tình đầu, Tạo mơ màng với những bữa ăn uống, Vĩnh lâng lâng với những cuộc làm tình trong tưởng tượng… Đó là những lúc bản năng của con người trỗi dậy chân thật, mãnh liệt Trong những thời khắc nguy nan của cuộc chiến, giữa ranh giới sinh tử, người lính vẫn cháy lên những khát thèm bản

năng “Cuộc yêu” mãnh liệt của Tuấn và Thu (Ăn mày dĩ vãng) được lí giải

bằng tiếng lòng của Thu đang rỉ máu Đến cả một người như Nguyễn Vạn

(Bến không chồng) phải sống nén mình vì sợ định kiến, vì muốn trở thành con

người chuẩn mực cũng không sao vượt lên cái bản năng, cái tự nhiên trong mình Như vậy trong cách nhìn phức điệu, nhiều chiều của tiểu thuyết, hình ảnh người lính trong cuộc sống hôm nay không còn là con người đơn phiến gắn với hào quang mà là con người đầy bí ẩn, trần trụi đời thường

1.2.2.2 Hình tượng người nông dân

Dường như trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người dân Việt Nam hai hình tượng trở thành nỗi ám ảnh lớn là chiến tranh và nông thôn bởi lẽ đây chính là gương mặt của lịch sử dân tộc Cùng với chiến tranh, nông thôn đã trở thành

đề tài quen thuộc và xuyên suốt của nền văn học nước nhà Trước Cách mạng,

Trang 31

nhiều cây bút tài năng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… dành nhiều trang văn để viết về người nông dân với nhiều cảm xúc Hình ảnh chị Dậu cùng đường phải bán chó bán con, hình ảnh anh Pha cùng quẫn bị dồn vào chân tường, hình ảnh Chí Phèo khát khao được làm người lương thiện… đã thành nỗi khắc khoải trong lòng người đọc Sau Cách mạng đến

1975, hình ảnh người nông dân gắn với niềm vui hăng say lao động sản xuất trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Sau chiến tranh, người nông dân đã có những day dứt trăn trở về cuộc

sống, về phận người, nhưng mãi đến khi lão Khúng trong Phiên chợ Giát của

Nguyễn Minh Châu xuất hiện thì hình tượng người nông dân mới thực sự hoàn chỉnh Tiếp đó một loạt truyện ngắn của Tạ Duy Anh viết về người nông dân thì số phận con người trước cuộc đời được lí giải, được cắt nghĩa rành rọt

Truyện ngắn Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh) đã khơi sâu vào vấn đề cổ

hủ, mối thù truyền kiếp từ đời cụ tổ vẫn khắc tạc thành lời nguyền “Còn làng Đồng thì còn mối thù với thằng Hứa và con cháu hắn” Trong nhiều tiểu thuyết sau Đổi mới, hình ảnh người nông dân dường như in hằn dấu vết của

sự tha hóa Trong cái xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma -

Nguyễn Khắc Trường) ngỡ như trong lành, yên bình đã tự phơi bày mọi sự nhếch nhác, lạc hậu, ấu trĩ, đã sản sinh ra vô số kiểu người hiền lành, chân thật, ngây thơ, độc ác, mưu mô, xảo trá… Trong không gian chật hẹp của một làng quê nghèo này, còn rất ít bóng hình người nông dân thật thà, lam lũ, lại quá nhiều “người thú” mà “bộ lông của họ là cả một tấm áo đầy những mũi tên nhọn” Lão Khổ trong tác phẩm cùng tên của Tạ Duy Anh hiện rõ là một người nông dân sống với những tàn dư của quá khứ hận thù Lão không biết ý nghĩa cuộc sống là gì, chỉ đam mê danh vọng và tàn sát người Lão giết người không gớm tay và chẳng thể nhận ra sự độc ác của mình Cho đến khi tòa tuyên án hình phạt “bắt về trần sống tiếp”, lão mới “hù lên một tiếng” khiếp

sợ Đến lúc này lão mới nhận ra cuộc sống ở trần gian còn đáng sợ hơn địa

Trang 32

ngục Những con người như lão Khổ là những điển hình về người nông dân bị tha hóa mà nguyên nhân có thể chỉ là những hận thù gia đình dòng họ, cùng có thể là do sự ghen ghét đố kị mà ra Trường đời đua chen, sát phạt lẫn nhau thường diễn ra ở những vùng đô thị Nhưng dưới tác động lớn của văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn cũng nhanh chóng nhuốm màu sắc thị thành Ở một vùng nông thôn cũng diễn ra những thủ đoạn đấu đá, “tranh ngôi cướp vị” hết sức tàn nhẫn “để đạt đến một nấc thang danh vọng, một tiêu chuẩn đi học, một bậc lương lên trước, một chức vị đội trưởng con con… họ sẵn sàng nhảy bổ vào nhau, cắn xé không thương tiếc bằng những thủ đoạn rất bài bản”

Tiểu thuyết thời Đổi mới không chỉ viết về người nông dân tha hóa bởi những biến động dữ dội của cuộc sống mới, bởi phải trải qua những va đập của những biến động ấy mà còn đi vào những bi kịch, những mảnh đời “đen bạc” của họ Một trong những biến cố lớn lao trong công cuộc đởi mới là vấn

đề cải cách ruộng đất Cải cách ruộng đất là sự kiện trọng đại của dân tộc, là

biến cố lớn lao trong cuộc sống của người nông dân Đào Kinh (Dưới chín

tầng trời) là kẻ cùng đinh của xã hội, từng phải đi ở cho gia đình Hoàng Kỳ

Bắc Với lí lịch của kẻ cùng đinh, với nhiệt tình trong Cải cách ruộng đất, Đào Kinh nghiễm nhiên trở thành một cán bộ cốt cán và xứng đáng được thừa hưởng gia tài mà cả gia tộc Hoàng Kỳ tạo dựng nên Cô Lùn, mẹ con bà Cháo cũng được hưởng lợi từ Cải cách ruộng đất Nhưng những sai lầm, ấu trĩ trong cách thực thi đường lối đổi mới đã tạo nên những bi kịch lớn Bi kịch lớn nhất

là đã tạo ra một đội ngũ cán bộ quản lí là sản phẩm của phong trào Bình dân học vụ, nhận thức yếu kém, trình độ văn hóa thấp, lại máy móc, giáo điều, rập

khuôn Nhìn cách bà Hơn (Bến không chồng) van xin tha tội cho đứa con trai

của mình là cháu nội của địa chủ sẽ thấy nhức nhối hơn, thấm thía hơn nỗi bi kịch mà “cải cách” gây ra: “Con cắn cỏ con lạy ông bà nông dân (…) Dù nó là con cháu địa chủ nhưng con hứa với ông bà nông dân cố gắng nuôi dạy nó

thành người nghèo khổ…” Hay cái chết bi thương của bà Son (Mảnh đất lắm

Trang 33

người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường) cũng là một ám ảnh lớn Vốn là một

người nông dân chất phác, bà Son không liên quan gì đến việc tranh giành quyền lợi, không liên quan gì đến thù hận của hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình Bà bị nghi ngờ, bị hành hạ đến mức không chịu đựng nổi mà phải tự vẫn

Viết về người nông dân, những cây bút tiểu thuyết thời Đổi mới đều có tham vọng đi đến tận cùng căn nguyên mọi bi kịch, mọi sự tha hóa Có thể nói

có rất nhiều người nông dân vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của những bi kịch nghiệt ngã, đớn đau Họ là những con người phải sống trong những tàn

dư trì trệ, hủ lậu, nhưng họ cũng là những con người được sống trong những giá trị truyền thống đẹp đẽ, thiêng liêng Đó là những gì mà nhà văn luôn quan tâm, trăn trở, day dứt, kiếm tìm

1.2.2.3 Hình tượng người trí thức

Người dân Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, đã chứng kiến nhiều biến cố dữ dội của dân tộc Dư chấn của chiến tranh, cơn bão của thời cuộc đã tác động trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp người dân trong xã hội Trước những biến cố, biến động lớn của

xã hội, hơn ai hết người trí thức là người đau trước mọi người, là người đau hơn mọi người Họ gánh trên vai sứ mệnh dân tộc, họ có khả năng “làm đổi thay thế giới” Họ là những con người nhạy cảm nhất, mặc cảm nhất và cũng

cô đơn nhất Vì thế, các thế hệ nhà văn đã viết về người trí thức bằng sự thấu hiểu, bằng nỗi thấm thía từ chính cuộc đời mình Trước Cách mạng, trong một

số tiểu thuyết đầu thế kỉ XX, những nhân vật như Tố Tâm, Đạm Thủy (Tố

Tâm - Hoàng Ngọc Phách) dù vẫn mờ nhạt trong văn chương nhưng họ đã đại

diện cho tầng lớp thanh niên trí thức Tây học đấu tranh cho quyền tự do cá nhân, chống lại lễ giáo phong kiến Tiểu thuyết hiện thực càng đi sâu vào bi

kịch của người trí thức Thứ trong Sống mòn của Nam Cao là một giáo khổ

trường tư thất nghiệp, cuộc sống chật vật, nghèo túng nhưng ôm ấp, đeo đuổi giấc mộng văn chương Đã có lúc Thứ có ý định ruồng rẫy vợ con và trở nên

Trang 34

tính toán nhỏ nhen, đố kị với đồng nghiệp, với bạn bè nhưng đã cay đắng nhận ra cái phần “con” trong mình để day dứt, xót xa

Trong những ngày cùng dân đi kháng chiến, người trí thức hăng hái,

nhiệt tình đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc Trong Đôi mắt, Nam

Cao đã xây dựng hình ảnh đối lập về hai nhà văn Hoàng và Độ Hoàng mặc cảm vì sự lạc lõng của mình với quần chúng nên nhìn người, nhìn đời, nhìn kháng chiến bằng “đôi mắt” chỉ thấy sự “bần tiện”của dân, sự “nhiêu khê” của kháng chiến Độ lại hòa mình vào với nhân dân nên nhìn thấy những vẻ đẹp tiềm ẩn đằng sau cái vẻ “ngu độn”, “nhặng xị” của nhân dân - những con người thầm lặng mà làm nên chiến thắng

Chiến tranh đã đi qua, nhưng trên thân thể, trong tâm hồn người lính vẫn in hằn những vết thương mà chiến tranh để lại Những trí thức là người lính từng tham chiến càng không quên sự tàn khốc của chiến tranh Có thể

nhận định không sai rằng Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh) là cựu

chiến binh, là nhà văn “cấp phường”, là con người lạc loài nhất khi ra khỏi cuộc chiến Trở về với cuộc sống “bình thường”, Kiên không thể quên những tháng ngày đen tối nhất của chiến tranh Với anh, chiến tranh đồng nghĩa với

“chà đạp, đày đọa, bị bạo lực tăm tối hành hạ, làm nhục rồi giết chết, bị chôn vùi, bị quét sạch, bị tuyệt diệt” Kiên sống chung với những cuộc mộng du, với những kí ức không thể phai mờ về tội ác của chiến tranh, về tội lỗi của bản thân mình

Người trí thức trong tiểu thuyết thời Đổi mới còn là những con người đang phải lăn lóc giữa cuộn xoáy của cơ chế thị trường, của nền kinh tế mở

cửa Thầy giáo Tự (Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng) là

một hình mẫu đẹp của những “kĩ sư tâm hồn” Tự tận tụy với nghề và tận tụy với văn chương Tự luôn nuôi hi vọng về khả năng truyền đạt vốn kiến thức phong phú của mình đến học sinh Gác xép nhỏ là nơi anh sinh hoạt, lao động trí óc, là nơi lưu giữ những cuốn sách mà anh yêu hơn cả chính

Trang 35

mình Đó là không gian mà anh có thể tự do thả tâm hồn mình theo hoài bão

và để xa lánh cuộc sống ảm đạm của anh Nhưng sự trì níu của cuộc sống cơm áo khiến anh lạc lõng, bơ vơ, đau đớn Cuộc đời anh kết cục chỉ là “một cuộc hôi phối không thành, một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không

thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” Cẩm (Đám cưới không có giấy giá

thú - Ma Văn Kháng) là giáo viên dạy Văn, là một “tay” Hiệu trưởng háo

danh, dốt nát Nhờ có lí lịch trong sáng vì gia đình là bần cố nông và sự láu

cá, ma lanh của mình, hắn ngoi lên giữ vị trí cao trong một trường học Hắn say mê chạy theo thành tích và sẵn sàng làm mọi điều để đạt thành tích Nhưng khi bị phát giác, Cẩm trơ tráo đổ tội cho người khác Cẩm là sự “biến dạng” về nhân cách của những con người làm cái nghề “cao quý nhất trong các nghề cao quý” (Phạm Văn Đồng) Trong xã hội chạy theo danh lợi, chạy theo đồng tiền, mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn, người trí thức rất dễ sa vào

tha hóa nhân cách hay chí ít cũng rơi vào cô đơn, lạc lõng Trong Cơ hội của

Chúa, Nguyễn Việt Hà xây dựng một “tập thể” người mang danh trí thức

như thực chất lại là những kẻ lưu manh, cơ hội Lâm là một “con cáo” đội lốt thầy giáo Anh ta từ bỏ người yêu lúc đó đã có thai với mình ba tháng để chạy theo danh vọng Trần Bình là con của một quan chức tầm cỡ, nhưng hắn lại là một “kẻ khốn nạn có gen” Hắn cùng với bố chung nhau một cô bồ nhí và là một tay trùm buôn lậu Khác với Lâm và Trần Bình, Hoàng là trí thức đa nhân cách Là một tín đồ Thiên chúa giáo nhưng Hoàng bất tín và hoài nghi về giáo lí Anh nhân ái, bao dung, chân thật nhưng anh cũng là con người yếm thế Chính Thủy người yêu của anh đã nhận ra anh “Một nét yếm

thế của những kẻ duy tâm” Toàn (Người và xe chạy dưới ánh trăng - Hồ

Anh Thái) là một chàng trai rất nhạy cảm và say mê công việc nhưng không thể đạt được ước mơ của mình bởi anh luôn phải đối diện với thế lực “lãnh đạo” tham lam, hãnh tiến, mưu mẹo Toàn không thể vượt lên cuộc sống, cũng không thể thực hiện khát vọng

Trang 36

Hình tượng người trí thức trong văn học sau 1986 đến nay tuy không hoàn toàn đối lập nhưng khác với người trí thức trong các giai đoạn trước rất nhiều Trước 1975, người trí thức nổi bật trong văn học là những hình tượng lí tưởng hóa Sau 1975, đặc biệt từ sau mốc Đổi mới, người trí thức trở lại trong

tư cách là những “trí thức toàn phần” (Phạm Thị Hoài) tự lộ diện mình, tự phơi bày mình để thức tỉnh xã hội về sự tha hóa, về sự giả dối, về nỗi đớn đau của một tầng lớp người đang giữ trọng trách “khai hóa dân trí, cải cách xã hội”

1.2.3 Những hình tượng nổi bật nhìn theo tiêu chí cấu trúc nghệ thuật

1.2.3.1 Con người tha hóa

Trước những biến động của đất nước qua từng thời đại, con người rất

dễ đổi thay và cũng rất dễ rơi vào những cạm bẫy Hình ảnh con người tha hóa đã có mặt trên văn đàn Việt Nam từ những năm 30 của thế kỉ XX trong một số tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… Sau Đổi mới, từ những định hướng của Đại hội Đảng lần thứ VI về văn học nghệ thuật, tiểu thuyết Việt Nam có dịp đi sâu hơn vào thế giới con người, nhìn sâu hơn mọi vấn đề của quá khứ, của lịch sử Trong hành trình tìm lại giá trị của văn học, nhiều nhà văn đã trở về xây dựng thành công những hình tượng con người tha hóa

Lý (Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng) là người phụ nữ đảm

đang, năng động, nhanh chóng bắt nhịp với cuộc sống gấp gáp, hối hả sau chiến tranh “Lý quán xuyến mọi chi tiêu trong cái gia đình lớn này Bà quản gia thật là một người có tài nội trợ, gia chánh, nữ công” Nhưng Lý không phải là người chấp nhận hi sinh, chị muốn hưởng thụ và có nhu cầu hưởng thụ cao Chị không chấp nhận cuộc sống nhàm chán, đơn điệu bên cạnh người chồng là đại tá về hưu và những người thân trong gia đình chồng Ma lực đồng tiền, nhu cầu bản năng đã làm Lý thay đổi Chị quay sang nanh nọc, tị nạnh với em chồng, chị quay lưng, coi thường Đông - người chồng mà một thời chị tự hào, yêu thương Lý đã ngoại tình và lao vào làm ăn với một gã

Trang 37

trưởng phòng xấu trai mà giàu có để thỏa mãn nhu cầu bản năng và để phản ứng lại cuộc sống hiện tại

Truyện Ba người khác (Tô Hoài) ra đời năm 2006, khi mà vấn đề cải

cách ruộng đất đã lùi vào quá khứ trong vòng 50 năm, nhưng nhà văn đã làm sống dậy một sự kiện chính trị quan trọng, làm sống dậy một thời bi hài của lịch sử Sự kiện ấy đã tạo nên những con người “dị biệt” trong tác phẩm Bối,

Cự, Đình là ba cán bộ chủ chốt được cơ quan điều về tổ chức phong trào cải cách ruộng đất của một xã ven đê Công việc của họ là bắt rễ xâu chuỗi, phát hiện địch, cụng đầu tố khổ, chỉ định trưởng thôn, cắm thẻ nhận ruộng… Qua cái nhìn của nhân vật “tôi”, ở mỗi người có những kiểu tha hóa, lưu manh khác nhau, nhưng họ cũng có điểm chung là tham vọng quyền lực, ham muốn dục vọng, giả dối độc ác, máy móc nhu nhược… Những con người đã trực tiếp “ba cùng” với bà con nông dân cũng chính là những con người gây ra tai họa, gây ra những tấn bi kịch hãi hùng cho những người dân ấy

Huấn trong Vòng tròn bội bạc của Chu Lai từng là người lính can

trường mạnh mẽ trong các trận chiến Thời bình, Huấn nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống và nhanh chóng bị tha hóa bởi cám dỗ đời thường Sự mạnh

mẽ, cá tính được tôi rèn trong khói lửa chiến tranh là thế mạnh để Huấn nhanh chóng củng cố chức vụ cao trong xã hội và dễ dàng phát huy tội ác của mình Giờ đây Huấn không còn là người lính chiến mà thực sự là một “con mọt của chiến tranh bò ra phá phách đời thường”

Trong Biển và chim bói cá (Bùi Ngọc Tấn), một thế giới người bị tha

hóa vì đồng tiền đã hiện diện thật sinh động, thật chân xác Khi xí nghiệp đánh cá quốc doanh trên bờ vực phá sản thì những con bói cá trên biển, những con bói cá trên bờ bị “tha hóa’ một cách tàn nhẫn Tổng giám đốc Hoàng Quốc Thắng, Quán Mèo, Huy Hiệp… là những điển hình cho kiểu người nhẫn tâm, cơ hội Khi đồng tiền giữ vị trí thống soái, thì đạo đức, nhân cách con người lung lay, đổ vỡ Sẵn sàng dẫm đạp lên đạo lí, lên tình người, lên cả

Trang 38

những quy tắc ứng xử trong cộng đồng, Hoàng Quốc Thắng sắp đặt, xử lí mọi việc bằng tiền và phất lên nhanh chóng Thông qua những hình tượng này, người đọc có thể liên tưởng đến sự rệu rã, bế tắc của cơ chế bao cấp một thời trong lịch sử

Không nhất thiết phải miêu tả bức tranh xã hội mà chỉ cần soi rọi vào

sự sa ngã, sự tha hóa của con người, tiểu thuyết mới đã làm hiện lên một hiện thực đen tối Một xã hội mà trong đó con người sẵn sàng đánh đổi cả nhân cách, phẩm giá để thỏa mãn mọi nhu cầu cá nhân Chính vì vậy, hình ảnh con người tha hóa trở đi, trở lại trong tiểu thuyết đương đại đã hé lộ những nỗi niềm, những trắc ẩn trong lòng nhà văn về sự đổi đời, về sự đổi thay trong lòng người

1.2.3.2 Con người tự thú

Do yêu cầu của lịch sử, một thời gian dài văn học dường như đã lãng quên khám phá đời sống con người cá nhân, lãng quên khám phá chiều sâu tự nhận thức của con người Vì thế, khi có điều kiện để nhìn lại, đặt lại vấn đề, nhiều cây bút tiểu thuyết lại tiếp tục đi vào “vùng đất cũ” bằng cách viết mới - con người tự thú

Có thể nói con người tự thú bắt đầu trở lại trong hình ảnh lão Khúng

(Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh Châu) Tiếp theo đó, trong các sáng tác của

Nguyễn Khải, Phạm Thị Hoài, Tô Hoài, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh… hình ảnh con người tự thú lại lần lượt ra đời Ma Văn Kháng đã bàn sâu, viết

kĩ về thân phận người trí thức trong vòng xoáy đảo điên của xã hội qua hình

ảnh thầy giáo Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) Tự là một trí thức chân

chính nhưng vì cuộc sống cơm áo “ghì sát đất” khiến anh lúc nào cũng thấy

bế tắc, ngột ngạt và cuộc đời anh là những chuỗi ngày dằn vặt Trước những phản ứng của học trò, trước sự phản bội của vợ, anh đau đớn nhận ra mình “là người còn sót lại sau một đám cháy lớn, một nạn nhân đầy thương tích sau cuộc hỗn chiến giữa lí tưởng thiêng liêng và thực trạng thô phàm của xã hội”

Trang 39

Nhân vật trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đầy rẫy những con người méo

mó, dị dạng, phản trí thức Điển hình là thầy giáo Kiên vì đồng tiền mà đánh mất phẩm chất, nhân cách của người thầy Mỗi lần giảng bài, anh ta nói một thôi một hồi đến mức “bọt trào ra trắng xóa hai bên mép”, và thường không đi dép Sau khi giảng xong, Kiên mới “lồm ngồm tìm dép ở một xó nào” Dù nhếch nhác, bệ rạc như thế nhưng Kiên vẫn có những suy tư về nghề Bạch

trong Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà là một nhà văn đầy trăn trở về

nghề, về đời sống của người trí thức Anh xót xa, cay đắng khi nhận ra thế giới quan chức, công chức đã cản trở, thui chột tài năng và cá tính sáng tạo

của nhà văn Nhân vật cậu Ba trong Tấm ván phóng dao của Mạc Can bị

khuyết tật nhưng có đời sống nội tâm phong phú Vì thương em gái phải đứng trước tấm ván chịu những mũi dao oan nghiệt trong màn xiếc phóng dao mà cậu Ba luôn trách giận người cha vô tâm, trách giận người anh vô tình, trách giận khán giả mua lấy tiếng cười trên sinh mạng đứa bé và tự trách chính mình Không ngày nào là cậu Ba không thắc thỏm, lo lắng, run sợ cho tính mạng đứa em bé nhỏ Điều đó cũng trở thành niềm đau trong trái tim cậu bé Còn rất nhiều con người tự thú như thế, quằn quại như thế trong cõi nhân gian

và cũng còn nhiều nhân vật tự vấn lương tâm trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.2.3.3 Con người lưỡng diện

Con người từng được xem là một sinh thể phức hợp Dù ở thời đại nào con người cũng tồn tại nhiều mặt nhân cách khác nhau, thậm chí là đối lập

Đó là con người vừa hung bạo vừa hiền lành, vừa thánh thần vừa quỷ dữ, vừa cao thượng vừa thấp hèn… Không thể có một tiêu chuẩn có tính “chân lí” về con người Nếu như văn học giai đoạn “minh họa” thường tuyệt đối hóa, lí tưởng hóa con người thì văn học giai đoạn Đổi mới đã trả lại cho con người bản chất vốn có của nó Điều đó đã làm sinh động hơn, làm mới hơn hình tượng con người lưỡng diện

Trang 40

Cho đến nay, khó có thể thống kê chính xác số lượng con người lưỡng diện như thế trong văn xuôi, trong tiểu thuyết Bởi lẽ, chỉ trong tiểu thuyết Việt Nam sau chiến tranh đã có biết bao con người phân thân, con người

lưỡng diện bước ra từ trang sách Lý (Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng), Vạn (Bến không chồng - Dương Hướng), đại úy Tường (Ăn mày dĩ

vãng - Chu Lai), thầy Hoàng (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài), Từ Lộ (Giàn thiêu -

Võ Thị Hảo), Tiến sĩ N (Đi tìm nhân vật - Tạ Duy Anh)… là những con người

“đa đoan” trong đời sống “đa sự” như thế Vạn của Dương Hướng là một người chuẩn mực, nhân cách trong sáng, sống bằng lí trí và không làm gì để

vi phạm nguyên tắc sống Nhưng trong con người xơ cứng như gỗ đá ấy lại tiềm ẩn một trái tim khát khao cháy bỏng, hừng hực đam mê Để rồi Vạn không thể thành thánh nhân mà thành “tội nhân” khi anh đã trót “yêu” Hạnh

con gái của người yêu cũ Từ Lộ trong Giàn thiêu là một vị đại sư đức cao

vọng trọng, cũng là một con người hèn kém, ích kỉ, phàm tục Là một nhân vật lịch sử nhưng không phải là hình tượng thiêng liêng, vĩ đại được tôn thờ, ngưỡng vọng mà cũng chỉ là một con người rất đỗi đời thường trong như bao con người đời thường khác Hoàng của nhà văn Nguyễn Việt Hà cũng là một hình mẫu khó đoán định Trong mắt mọi người Hoàng thật “tuyệt vời”,

“nhân hậu”, “thông minh”, người bạn thân của Hoàng cũng đánh giá “Tôi chưa bao giờ thấy Hoàng dối trá” Nhưng một nhà văn tận tâm, tậm tình với nghề và cũng thành công trong nghề viết như Hoàng lại là một con người bạc nhược, yếm thế Là một tín đồ của Thiên chúa giáo, nhưng bất tin, hoài nghi về giáo lí Trước mọi việc Hoàng không tự quyết định và thường đứng trước sự đã rồi

Các nhân vật dường như đứng cheo leo giữa hai bờ sáng - tối của nhân cách, vừa muốn phó mặc, vừa muốn dừng chân để không trượt dài trên con đường tội ác Vì thế lúc nào nhân vật cũng đau đớn, quằn quại đấu tranh để giữ lấy nhân phẩm vừa chà đạp nhân phẩm để được tồn tại

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM  - Hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến nay
HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM (Trang 1)
HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM  - Hình tượng con người đi tìm chân lí trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến nay
HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÍ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w