Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Cảm thức thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp cao học.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Biện Minh Điền
NGHỆ AN - 2016
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 3
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 10
Chương 1 Ý THỨC CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VỀ VẤN ĐỀ THỊ DÂN VÀ VĂN HÓA ĐÔ THỊ 12
1.1 Vai trò của yếu tố thị dân và văn hóa đô thị trong xã hội hiện đại và văn học hiện đại 12
1.1.1 Khái niệm thị dân, đô thị và văn hóa đô thị 12
1.1.2 Tầm quan trọng của thị dân và văn hóa đô thị trong tổ chức xã hội nói chung, xã hội hiện đại nói riêng 14
1.1.3 Vị trí không thể thiếu của đề tài thị dân và văn hóa đô thị trong văn học và văn học hiện đại 16
1.2 Văn học Việt Nam hiện đại với vấn đề nhận thức về thị dân và văn hóa đô thị (một số tổng quan) 21
1.2.1 Cơ sở hiện thực của vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại 21
1.2.2 Vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trên hành trình nhận thức của văn xuôi Việt Nam hiện đại 23
1.3 Những ưu thế của thể loại tạp văn trong nhận thức, phản ánh nội dung thị dân và văn hóa đô thị 32
1.3.1 Tính kịp thời và cập nhật 32
1.3.2 Tính không giới hạn trong nhận thức/ phản ánh hiện thực và tổ chức văn bản 35
Trang 3THỊ TRONG TẠP VĂN NGUYỄN VIỆT HÀ 38
2.1 Cảm thức thị dân trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà 38
2.1.1 Quan niệm của Nguyễn Việt Hà về giới thị dân 38
2.1.2 Các kiểu nhân vật thị dân, diện mạo và tính cách 41
2.1.3 Những suy cảm, đánh giá và yêu cầu của Nguyễn Việt Hà đối với giới thị dân 55
2.2 Văn hóa đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà 60
2.2.1 Quan niệm của Nguyễn Việt Hà về văn hóa đô thị 60
2.2.2 Bức tranh đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà 633
2.2.3 Những biểu hiện tích cực, tiêu cực của văn hóa đô thị 73
2.2.4 Những suy cảm, đánh giá và yêu cầu của Nguyễn Việt Hà đối với văn hóa đô thị 77
2.3 Mối liên hệ giữa thị dân và văn hóa đô thị 800
2.3.1 Mối liên hệ, tác động hai chiều 800
2.3.2 Thị dân và văn hóa đô thị trước yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển bền vững 82
Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM THỨC THỊ DÂN VÀ VĂN HÓA ĐÔ THỊ TRONG TẠP VĂN CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ 86
3.1 Góc độ tiếp cận và cách khai thác đối tượng 86
3.1.1 Tiếp cận đối tượng từ nhiều góc độ 86
3.1.2 Khai thác đối tượng ở ý thức cá tính và tính chất thế tục 91
3.2 Bút pháp và giọng điệu 93
3.2.1 Năng động, đa dạng trong vận dụng bút pháp (tự sự, trữ tình, trào lộng) 93
3.2.2 Linh hoạt trong tổ chức giọng điệu (hài hước, giễu nhại, “gây sự”, “triết lý, trữ tình”,…) 96
3.3 Kết cấu 1099
3.3.1 Khái niệm và vai trò của kết cấu trong tổ chức văn bản trong tác phẩm văn học 1099
Trang 43.4 Ngôn ngữ 121
3.4.1 Ngôn ngữ thế tục, thông tục của đời sống đương đại 121
3.4.2 Ngôn ngữ sắc sảo, giàu chính kiến 124
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngược dòng thời gian lùi về những thập niên đầu thế kỷ XX, bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi luồng văn hóa phương Tây do thực dân Pháp truyền vào Với Cuộc khai thác thuộc địa quy mô trên đất nước Việt Nam, chúng tuy đã ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động của nhân dân ta, nhưng trong chừng mực nào đó phải thừa nhận rằng: văn hóa phương Tây mà thực dân Pháp du nhập đã tạo nên những biến động lớn về mọi lĩnh vực đời sống xã hội của dân tộc ta thuở ấy, trong đó có văn học “Hàng loạt các nhà in, các tờ báo ồ ạt ra đời và sự xuất hiện của các tầng lớp thị dân, tiểu tư sản, trí thức Tây học với những nhu cầu
giải trí mới, nên nhiều thể loại văn học mới đã ra đời, trong đó có tạp văn -
một thể loại trung gian giữa văn học và báo chí” [1, tr.1]
Trải qua sự biến thiên của thời gian, thể loại tạp văn ở nước ta được các cây bút từ những bậc tiền bối như Tản Đà, Nguyễn Đỗ Mục, Phùng Tất Đắc, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Ngô Đức Kế… cho đến Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Sơn Nam, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc…, và Nguyên Ngọc, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Thiếu Nhơn, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Huỳnh Như Phương, Lý Lan, Nguyễn Nhật Ánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Việt Hà ngày nay hướng bút, góp phần tạo nên một kho tàng tạp văn tuy chưa thực sự đồ sộ nhưng hết sức giá trị, đem đến cho người đọc những ấn tượng sâu đậm, khó quên
1.2 Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) (chọn làm mốc Đổi mới), đặc biệt là những thập niên gần đây, thể loại tạp văn phát triển hết sức rầm rộ trên các sách, báo, tạp chí Theo như cách nói của Nhà báo Trần Hoàng Nhân là: “thời của tản văn, tạp bút” [59] Hàng loạt những cuốn tạp văn đương đại được xuất bản như: hai cuốn
tạp văn: Sương khói quê nhà và Người Quảng đi ăn mì Quảng của Nguyễn Nhật Ánh; Tạp bút Đỗ Trung Quân; hai cuốn tạp văn: Nghiêng tai dưới gió và
Trang 6Còn khóc ngon lành của Lê Giang; Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu; Mùi của ngày xưa (nhiều tác giả); một số tạp văn của Nguyên Ngọc và Hoàng Phủ
Ngọc Tường; Mở ví giữa chợ của Nguyễn Văn Bình; Me Tây của Doãn Dũng;
Tình yêu của Bùi Bình Thi; Ký ức vụn và Bạn văn của Nguyễn Quang Lập;
hai cuốn tạp văn: Phố của làng và Gánh đàn bà của Dạ Ngân; Đi ngang
đường của Nguyễn Trung Dân; hai cuốn tạp văn: Nhân trường hợp chị Thỏ Bông và Tạp văn Phan Thị Vàng Anh của Phan Thị Vàng Anh; hai cuốn tạp
văn Ngày mai của những ngày mai và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Ngọc Tư; Sống chậm thời @ của Lê Thiếu Nhơn; Ngôi nhà và con người của Huỳnh Như Phương; Hai mươi tư giờ một phút (nhiều tác giả), Chỉ thống
kê sơ bộ như thế cũng đủ thấy thể loại tạp văn đang trong “mùa bội thu” Nếu trước đây, độc giả thường quan tâm tới các thể loại văn học như: thơ, truyện ngắn, thậm chí dài hơi như tiểu thuyết, mà không mấy mặn mà với tạp văn; thì ngược lại, ngày nay độc giả lại chủ yếu tìm đến với thể loại rất
“khiêm tốn” này “Khi cuộc sống của con người càng lúc càng trở nên gấp gáp, quỹ thời gian dường như đang bị thu hẹp lại, tạp văn với ưu thế ngắn gọn, nhẹ nhàng, dễ đọc, không gò bó về thể tài và cách viết, đang thực sự trở thành một thể loại “đắt khách”, thu hút được sự quan tâm, đón đợi của người đọc”[1, tr.1] Có người đã ví von rằng: tạp văn như thể một “nốt ruồi duyên trên mặt báo”
1.3 Trong số những nhà văn tên tuổi bén duyên với tạp văn, Nguyễn Việt Hà là một trường hợp Không chỉ lừng danh với các tác phẩm ở thể loại
tiểu thuyết như: Khải huyền muộn, Cơ hội của Chúa và Ba ngôi của người
cùng một số tác phẩm khác ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Việt Hà còn là một cây bút tạp văn có sức viết sung mãn Trong những năm gần đây, tác giả
đã xuất bản 4 cuốn tạp văn như: Nhà văn thì chơi với ai, Con giai phố cổ, Mặt
của đàn ông và Đàn bà uống rượu Mỗi cuốn tạp văn là một sắc diện trong
chỉnh thể thống nhất về phong cách sáng tác và nhân sinh quan, xã hội quan của tác giả
Trang 7Ở truyện ngắn, tiểu thuyết hay tạp văn, tuy cách viết của tác giả đã có chủ ý khu biệt đặc tính từng thể loại, song tựu trung vẫn có tính thống nhất về
đề tài sáng tác Nguyễn Việt Hà thường khai thác vấn đề đời sống con người
và văn hóa đô thị Hà Nội - nơi nhà văn đang sinh sống Giống như một “thư
ký trung thành của thời đại”, nhà văn đã ghi lại những biến chuyển trong không gian văn hóa Thủ đô theo hành trình thời gian với cách viết đầy nhấn nhá, tung tẩy Hà Nội trong tạp văn Nguyễn Việt Hà hay tạp văn Nguyễn Việt
Hà trong hồn cốt Hà Nội dường như đã quyện hòa làm một ở tâm khảm người đọc
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Cảm thức thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà để nghiên cứu
trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp cao học
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Cảm thức thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà
Đề tài bao quát các tạp văn của Nguyễn Việt Hà với nội dung chính là cảm thức thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn của tác giả
Văn bản khảo sát luận văn dựa vào 4 cuốn tạp văn dưới đây của Nguyễn Việt Hà:
1 Nguyễn Việt Hà (2011), Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông
(tạp văn tuyển chọn), Nxb Văn học, Hà Nội
2 Nguyễn Việt Hà (2015), Con giai phố cổ, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh
3 Nguyễn Việt Hà (2015), Đàn bà uống rượu, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Việt Hà (2015), Mặt của đàn ông, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm các cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn và tạp văn của các tác giả khác để có cái nhìn đầy
đủ hơn về đối tượng nghiên cứu của mình
Trang 8
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hà nói chung
Như chúng tôi đã đề cập sơ qua ở phần Lí do chọn đề tài, Nguyễn Việt
Hà là người đã thể nghiệm thành công ngòi bút của mình về thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Không dừng lại ở đó, tác giả còn táo bạo “dấn thân nhập cuộc” vào “mảnh vườn” tạp văn, từng bước khẳng định được tên tuổi của mình với “địa hạt mới” này
Theo đó, từ trước đến nay đã có nhiều người từng nghiên cứu về tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà bằng những bài viết đăng trên các trang báo, tạp chí, hay rộng hơn là một số công trình luận văn
cử nhân và thạc sĩ Riêng về thể loại tạp văn của Nguyễn Việt Hà, do các
cuốn như: Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Con giai phố cổ và Đàn
bà uống rượu được xuất bản mới đây, nên giới nghiên cứu ít có điều kiện tìm
hiểu theo hướng chuyên sâu, mà phần lớn chỉ là những bài báo bàn tủn mủn
về đặc điểm, phong cách viết tạp văn của Nguyễn Việt Hà Thi thoảng mới có vài công trình luận văn cử nhân và thạc sĩ nghiên cứu các phương diện, vấn
đề liên quan đến thể loại này của nhà văn, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu hẳn còn rất khiêm tốn
Chẳng hạn như tác giả Ngõ Tây sau khi đọc xong cuốn Đàn bà uống
rượu đã có những nhận định: “Nếu người ta từng biết đến một Vũ Bằng của
thế kỷ 20 với những “Món ngon Hà Nội” thì người ta cũng nên biết một chút Nguyễn Việt Hà của hôm nay, thế kỷ 21 với những “Món hài Hà Nội” qua
chùm sê-ri Đàn bà uống rượu”…” Tại sao tôi nói đọc Đàn bà uống rượu để
biết một chút về Nguyễn Việt Hà với những “Món hài Hà Nội”? Vì nó không giống với các món hài Quảng Nam hay hài xứ Huế, hài xứ Nghệ vân vân…
Có lẽ vào một ngày đẹp giời bạn đọc nó rồi bạn sẽ tự biết Điều tôi nhận thấy
đó là một phong vị văn chương chỉ có ở Nguyễn Việt Hà, không lẫn với nhà
văn hay người viết khác” “Với Đàn bà uống rượu, tôi đọc trước hết để
Trang 9thưởng phong vị chữ, và đặc biệt là “biết” về những “Món hài Hà Nội” mà tôi cho là rất “đặc sản Nguyễn Việt Hà” Còn bạn và các nhà văn khác thì nghĩ sao?” [87] Những cảm nhận ấy của Ngõ Tây tuy mới chỉ dừng lại ở cuốn
Đàn bà uống rượu, nhưng đã làm toát lên được nét gì đó rất “riêng”, “rất
Nguyễn Việt Hà” về ngôn ngữ, giọng điệu tạp văn mà không thể lẫn với một
“duy hoảng duy hốt, hốt hề hoảng hề” Những câu kết là đặc sắc kết tinh, là
cơ hội (dẫu là cuối cùng) của người đọc tản văn Nguyễn Việt Hà, dường như cũng là niềm khoái trá đặc biệt của tác giả sau khi hoàn thành một công việc
mà chính ông có lần gọi (tất nhiên trong lúc đùa) là việc của “văn nô” (các từ
“tản văn” vừa được trích dẫn ở nguồn tài liệu này, thực chất phải là từ “tạp văn”) [83]
Với quy mô nghiên cứu chuyên sâu hơn, trong công trình luận văn thạc
sĩ Đặc sắc nghệ thuật của tạp văn Nguyễn Việt Hà (Đại học Vinh), tác giả
Hoàng Thị Mại đã có những nhận định như sau: “Đến với tạp văn Nguyễn Việt Hà, chúng tôi yêu cái hài hước, dí dỏm, bình dị của người viết và trân trọng học vấn uyên thâm, cách trích dẫn theo lối “nói có sách, mách có chứng” với thái độ cầm bút cực kỳ nghiêm túc” [50, tr.4-5] “Tạp văn Nguyễn Việt Hà cung cấp cho ta cái nhìn đa thanh, đa diện của cuộc sống Một lần nữa cho ta thấy sự phức tạp ngổn ngang của hiện thực đời sống, con người phải đối diện bao khó khăn, được đi vào văn học như những thước phim tỉ
Trang 10mỉ” [50, tr.25] “Nguyễn Việt Hà xoay, dựng, ngắm nghía… chuyện người, chuyện mình với cái nhìn từ bên ngoài, chứ không tự ru mình, không day dứt, dằn vặt, không bày đủ hỉ, nộ, ái, ố riêng tư, không ngao ngán đạo mạo Nhưng tác giả không thể không bình luận và giễu cợt những thói hư tật xấu Cái giọng giễu cợt đặc trưng qua cách dùng từ ngữ lung linh hoa mỹ cố tình, gieo vần, đảo tính từ nhấn mạnh, cách khóa bằng câu kết - nhiều câu “nhớ đời”, một kiểu
“khẩu văn” lại có đôi chút thơ và đậm đặc chất giân gian đương đại, làm cho tạp văn của anh có những chất riêng, cái hay, cái khôi hài riêng dễ dàng phân biệt với hàng loạt các tác giả, tác phẩm tạp văn đương đại” [50, tr.27]
Trong luận văn thạc sĩ Tạp văn Nguyễn Việt Hà từ góc độ thể loại (Đại
học Quốc gia Hà Nội), Nguyễn Thị Kim Oanh đánh giá rằng: “Nói đến tạp văn, nói về những cây bút viết tạp văn sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến tác giả Nguyễn Việt Hà Điều đặc biệt là Nguyễn Việt Hà sau khi thành công
vang dội trên lĩnh vực truyện ngắn (Thiền giả, Của rơi) và tiểu thuyết (Cơ hội
của Chúa, Khải huyền muộn) đã bắt tay vào thể loại mới tạp văn với các tác
phẩm như: Đàn bà uống rượu, Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Con
giai phố cổ Mỗi khi tác phẩm của Nguyễn Việt Hà được xuất bản lại có
những hiệu ứng đa chiều của độc giả về Nguyễn Việt Hà và những đứa con tinh thần của ông Người khen, kẻ chê, lại có cả những ý kiến lưỡng chiều” [63, tr.7]
trong tạp văn Nguyễn Việt Hà nói riêng
Trong hành trình sáng tác của mình, từ truyện ngắn, tiểu thuyết hay muộn hơn là tạp văn, Nguyễn Việt Hà thường đề cập đến đề tài thị dân và đô thị, mà cụ thể là đời sống con người và xã hội - đô thị Hà Nội - nơi nhà văn đang sinh sống
Trong buổi tọa đàm mang tên “Hà Nội của Hà” diễn ra tối mồng 07 tháng 01 năm 2015 tại L'Espace Hà Nội, Nguyễn Việt Hà kể về những câu chuyện gắn bó với Hà Nội trong văn chương cũng như trong đời sống của
Trang 11mình Tại buổi tọa đàm này, chính nhà văn đã chia sẻ với báo giới rằng: “Mọi người hay nói trong tác phẩm của tôi có chất Hà Nội gì đó Tới gần đây khi Nhà xuất bản Trẻ in lại các đầu sách cho tôi, tôi xem thì thấy có một Hà Nội xuyên suốt” [95] Như một sự phân trần với người đọc, Nguyễn Việt Hà còn cho rằng: “Hà Nội thật ra chẳng của riêng ai Nhưng trong từng người, Hà Nội lại có từng ý riêng, cách nhìn và tình cảm riêng với mảnh đất này”; “Hà Nội đâu chỉ là quê hương, là nơi gắn bó về tâm hồn, mà còn là một đề tài cho các sáng tác: “Hà Nội là một đề tài miên viễn, thời thượng Tôi may mắn khi viết về đời sống thị dân ở đây””[95]
Không chỉ đến với Nguyễn Việt Hà, đề tài thị dân, đô thị mới được khai thác mạnh trong các sáng tác của anh từ truyện ngắn, tiểu thuyết cho đến tạp văn, mà trước đó, nhiều nhà văn cũng từng hướng bút về đề tài này và để
lại những tác phẩm mang dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc như: Miếng
ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai của Nhà văn Vũ Bằng, Hà Nội 36 phố phường của Nhà văn Thạch Lam, Vang bóng một thời của Nhà văn Nguyễn
Tuân, Thú ăn chơi người Hà Nội của Nhà văn Băng Sơn và một số tác phẩm
của các nhà văn khác như: Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất
Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… cũng như sáu
cuốn tiểu thuyết: Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Con mắt rỗng và
Ruồi là ruồi được xuất bản gần đây của tác giả Đỗ phấn - cùng thời với Nhà
văn Nguyễn Việt Hà Về luận điểm này, chúng tôi chỉ phác thảo sơ qua một
số gương mặt nhà văn tiêu biểu từng viết về đề tài thị dân và đô thị (Hà Nội) như trên, chứ không chủ ý nghiên cứu một cách chuyên sâu, hệ thống, do khuôn khổ hạn hẹp của luận văn, nên không thể trình bày đến từng chi tiết Trở lại với đề tài thị dân và đô thị trong sáng tác tạp văn của Nguyễn Việt Hà, đây đó trên các sách, báo, tạp chí, luận văn đã đăng một số bài viết của nhiều tác giả từng hướng bút nghiên cứu
Cũng trong luận văn thạc sĩ Đặc sắc nghệ thuật của tạp văn Nguyễn
Việt Hà, Hoàng Thị Mại nhận xét rằng: “Các tác phẩm của ông, xoay quanh
Trang 12những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày đã có từ lâu mà tưởng như mới, bởi cái tài xây dựng ngôn ngữ, giọng điệu của nhà văn Chúng cho thấy một sự quan sát, phân tích sâu sắc đời sống xã hội nhạy bén, phản ánh những sự kiện
xã hội bằng ngòi bút sắc sảo, lão luyện”[50, tr.4-5] “Tạp văn Nguyễn Việt
Hà đã phơi bày được hoàn cảnh thực tế của xã hội hiện đại với những bất cập, khập khiễng giữa các giá trị con người theo đuổi và hiện thực cuộc sống Đọc tạp văn của ông, độc giả có thể cảm nhận được thấu đáo, sâu sắc các sự kiện, hình tượng nghệ thuật được Nguyễn Việt Hà dựng lên, bằng ngôn ngữ riêng, đặt điểm nhìn đúng góc nhìn, đúng đối tượng”[50, tr.96-97]
Trong luận văn thạc sĩ Con người đô thị trong văn xuôi Nguyễn Việt Hà
(Đại học Vinh), Đinh Thị Thanh Ngà đã cảm nhận như sau: “Đọc tạp văn của ông, thấy nóng hổi chuyện phố xá với cái duyên không dễ có mà vẫn rưng rưng tinh tế cảm xúc Hà Nội trong ông hiện lên hư hao nề nếp pha lẫn sự nuối tiếc, khinh bạc Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, đằng sau tiếng cười hồ hởi, giòn giã, Nguyễn Việt Hà để lại trong lòng người đọc những dư vị thâm hậu, cứ mải miết hồi hộp, phấn chấn đọc hết từ đầu đến cuối” [55, tr.19] Nguyễn Trương Quý - tác giả của một số bài giới thiệu sách tạp văn
Nguyễn Việt Hà, trong đó ở cuốn Con giai phố cổ đã tâm tình rằng: “Nguyễn
Việt Hà đến giờ vẫn chưa thạo dùng email và càng không biết các thứ mạng xã hội Anh là một con người của đường phố theo đúng nghĩa Đường phố ở đây
là của Hà Nội, một vùng Hà Nội cũng rất hẹp với khu phố cũ có bán kính một cây số từ Hồ Gươm Tạp văn của Nguyễn Việt Hà là một thứ mạng xã hội riêng của anh, đủ thành phần, từ đám đàn ông, những gã khờ và mưu sĩ, rồi những nàng thơ của họ, đến những chuyện tình ái đọc lên sực nức đùa giễu”
[29, tr.5] Như để khẳng định giá trị của toàn bộ các bài tạp văn trong cuốn Con
giai phố cổ, Nguyễn Trương Quý đã nhận định: “Cuốn sách với 62 bài tạp văn
giàu chất trào lộng đan xen những trang trữ tình về cuộc sống của nhiều hạng người trong xã hội một khu vực nhỏ bé giữ phần hồn của Hà Nội” [78]
Trang 13Hoài Nam trong bài viết Tản văn từ một cái nhìn lướt đã có mấy lời
bàn về điểm gặp chung giữa Đỗ Phấn và Nguyễn Việt Hà khi cùng viết về Hà
Nội như: “Về tản văn (đúng hơn là “tạp văn”), Đỗ Phấn không chỉ có Hà Nội
thì không có tuyết, và Nguyễn Việt Hà không chỉ có Con giai phố cổ Nhưng
riêng với hai tập tản văn này (Nguyễn Việt Hà gọi sách của mình là tạp văn) thì hai cách viết khác biệt ấy chụm lại ở một điểm: viết về phố phường Hà Nội, về đời sống thị dân Hà Nội” [54]
Bằng cách nhìn hệ thống, xuyên suốt từ thể loại tiểu thuyết cho đến tạp văn của Nguyễn Việt Hà, nhà văn Nguyễn Trương Quý đã chỉ ra cho người đọc thấy được vai trò rất quan trọng của Nguyễn Việt Hà với tư cách là một
“thư ký đặc biệt” của mảnh đất Hà thành: “Là một người kể chuyện đầy thú vị của Hà Nội, Nguyễn Việt Hà qua hơn hai thập niên đã dựng nên chân dung thành phố mình đang sống Viết bằng giọng văn mà trước và sau không giống
ai Hà Nội của Nguyễn Việt Hà từ các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải
huyền muộn, Ba ngôi của người, các tạp văn Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu mang hơi thở náo nhiệt đương đại nhưng cũng giữ những nét xưa cũ
Người Hà Nội là những ai, Nguyễn Việt Hà cố gắng nhận diện họ trong thời điểm xã hội đòi hỏi khẳng định bản sắc, đặc biệt ở thành phố này” [30, tr.7-8] Trong bài viết Người tỉnh nói giọng say - lời giới thiệu cho cuốn sách
Đàn bà uống rượu, Nguyễn Trương Quý lại một lần nữa khẳng định “cái tạng
bút” của Nguyễn Việt Hà - chuyên hướng về đề tài thị dân và đô thị: “mang
một cái tên gây tò mò, về phái “yếu” có hành động “mạnh” - Đàn bà uống
rượu viết về tất cả những chuyện xảy ra với những người đô thị ở thập niên
đầu thế kỷ 21 này, chủ yếu ở một Hà Nội loay hoay định nghĩa bản sắc” [28, tr.5] Nhà văn đã “dọn ra cái nhìn không dễ chịu về một Hà Nội hư hao nền nếp chứa đựng những tiếc nuối pha khinh bạc, khi cần thiết nó sẽ là sự đanh
đá hoặc nỗi lòng ưu thời mẫn thế đương đại” [28, tr.6]
Những ý kiến đánh giá, nhận định của các tác giả trên đây về sáng tác Nguyễn Việt Hà nói chung và thể loại tạp văn của tác giả nói riêng sẽ là
Trang 14nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, giúp chúng tôi mở mang được nhiều vấn đề trong quá trình tiếp cận và triển khai tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định đặc điểm và những đóng góp của tạp văn Nguyễn Việt Hà ở vấn đề cảm thức thị dân và văn hóa đô thị
văn học Việt Nam đương đại nói chung, trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà nói riêng
dân và đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà
văn hóa đô thị của Nguyễn Việt Hà trong tạp văn tác giả
Cuối cùng rút ra một số kết luận về cảm thức thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp liên ngành;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề cảm thức thị dân và văn hóa
đô thị trong tạp văn Nguyễn Việt Hà với cái nhìn tập trung và hệ thống
Trang 15- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trong tạp văn Nguyễn Việt Hà nói riêng, tạp văn và văn xuôi Việt Nam đương đại nói
chung
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
văn hóa đô thị
văn Nguyễn Việt Hà
trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà
Trang 16Chương 1
Ý THỨC CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VỀ VẤN ĐỀ THỊ DÂN VÀ VĂN HÓA ĐÔ THỊ
1.1 Vai trò của yếu tố thị dân và văn hóa đô thị trong xã hội hiện đại và văn học hiện đại
1.1.1 Khái niệm thị dân, đô thị và văn hóa đô thị
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, “thị dân” được hiểu là: “dân
ở trong thành thị” [2, tr.793], từ “đô thị” được chú thích là: “chỗ tụ họp buôn bán” [2, tr.237] Theo đó, từ “đô thị” được ghép bởi 2 từ tố “đô” và “thị” mà nên “Đô” là: “Một khu vực lớn hơn ấp - chỗ chính phủ trung ương ở” [2,
tr.237]; “thị” là: ““Chợ”, chỗ người ta họp nhau để mua bán - mua hàng” [2,
tr.792] Theo Từ điển tiếng Việt, “đô thị” được khái niệm là: “Nơi dân cư
đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp [thành phố, thị
xã hoặc thị trấn]” [72, tr.421]
Dưới góc độ quản lý hành chính, kinh tế, và xã hội học, khái niệm “đô thị” được tư duy cụ thể, chi tiết hơn: “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” “Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị” [51] “Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện” [51]
Khái niệm “đô thị” còn được xem xét chủ yếu theo tính chất và điểm dân cư: “Đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể về vật chất tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định”; “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên
Trang 17ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện” [44]
Văn hóa đô thị là “văn hóa của cư dân sống trong môi trường đô thị với các đặc điểm nổi bật về trình độ phát triển cao của các điều kiện kinh tế - xã hội; kiến trúc cảnh quan; về chất lượng hạ tầng kỹ thuật - xã hội; hệ thống dịch vụ xã hội; cơ hội và mức độ giao lưu, tiếp biến cao, ” [107] “Văn hóa
đô thị có thể hiểu là tổng thể các giá trị vật chất, tinh thần và cả các hoạt động văn hóa nhằm tôn vinh, làm sản sinh, truyền bá và thực hành các giá trị chân, thiện, mỹ, nhằm làm giàu tính người trong đời sống đô thị Văn hóa đô thị là một thực thể tồn tại khách quan trong mối quan hệ với đời sống thành thị, nó
bao hàm các yếu tố văn hóa tĩnh (sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa…) và các yếu tố văn hóa động (bao gồm cách thức sản xuất, hình thức
sinh hoạt văn hóa của cư dân đô thị) như phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, các hoạt động khoa học, giáo dục, văn hóa, thể thao,…
Và thông qua các phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà chúng ta có thể xác định lối sống, nếp sống của các giai tầng cư dân đô thị Văn hoá đô thị chủ yếu là sự tập trung số đông dân cư phi nông nghiệp, quan
hệ cư trú - ứng xử có kết cấu giản đơn hơn ở nông thôn: gia đình - đường phố
- xã hội” [106]
Nếu như văn hóa ứng xử của người dân ở nông thôn thiên về tính cộng đồng, hương ước, làng xã, láng giềng theo hướng tình cảm, “luật vua thua lệ làng”, thì “văn hoá ứng xử của người dân đô thị phần nhiều lại thiên về quan
hệ trên cơ sở luật pháp và thị trường nhiều hơn, mang đậm văn hóa, xã hội công dân hơn Và nếu như văn hóa nông thôn gắn liền với nông dân, nông nghiệp thì văn hóa đô thị lại gắn liền với công nghiệp, công nhân và đội ngũ trí thức Bởi vậy, văn hóa nông thôn thường in đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc, còn văn hóa đô thị lại in đậm yếu tố hiện đại của nền văn hóa dân tộc Văn hóa đô thị có mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội đô thị, nó bị tác động, chi phối, ảnh hưởng của kinh tế thành thị” [106]
Trang 181.1.2 Tầm quan trọng của thị dân và văn hóa đô thị trong tổ chức xã hội nói chung, xã hội hiện đại nói riêng
“Thị dân” và “văn hóa đô thị” là hai đối tượng có mối quan hệ tương tác qua lại, khúc xạ và gắn bó hữu cơ với nhau thông qua chiếc cầu nối “đô thị” Diện mạo của một đô thị dù ở trạng thái khởi sắc, khang trang, quy hoạch, … hay yếm thế, tuềnh toàng, nhếch nhác… đều có sự tác động lớn tích cực hoặc tiêu cực của yếu tố “thị dân” đối với quá trình mà đô thị vận động (tạm trừu xuất vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước) “Thị dân và lối sống thị dân góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo một đô thị Và quan trọng hơn, lối sống thị dân sẽ quyết định “thương hiệu” của đô thị, nhìn từ góc độ văn hoá” [35] Nói như vậy để thấy rằng “thị dân” đóng vai trò hết sức quan trọng trong không gian mà họ sinh tồn, đó chính là “đô thị”
Truy nguyên nguồn gốc từ buổi đầu hình thành, diện mạo của đô thị được ra đời trước hết là nhờ việc xây dựng “đô” - “kinh đô” (thủ đô), thành lũy, ấp, trường học… của các thiết chế nhà nước (nơi làm việc của quan chức), để rồi sau đó quần tụ ngày mỗi đông đúc hơn lực lượng dân cư sinh sống (quanh kinh đô (thủ đô) thành lũy, ấp, trường học…) thông qua những hoạt động giao thoa với cơ quan nhà nước, dần dà nảy sinh nhu cầu thiết yếu của việc trao đổi, buôn bán lương thực, thực phẩm, hàng hóa, vật dụng nơi
mà người ta thường gọi là “chợ” (thị) Như vậy, hai yếu tố “đô” và “thị” là cơ
sở, tiền đề thai nghén nên thành phần “thị dân”
Xét một cách khách quan, môi trường sống ở đô thị có nhiều điều kiện thuận lợi, nhiều ưu thế để con người - thị dân sinh tồn trong không gian địa lý
đó có thể hoàn thiện và phát huy tối đa khả năng của bản thân cống hiến cho
xã hội, đất nước Đa phần, thị dân là những người có trình độ dân trí cao, học vấn bài bản, thậm chí nhiều người đạt tới trình độ học vấn uyên thâm, uyên bác; thường xuyên được cập nhật thông tin, tiếp cận, thu nạp được nhiều nguồn tri thức từ khoa học tự nhiên, xã hội - nhân văn đến khoa học công nghệ, kỹ thuật, truyền thông, thông tin hiện đại; hội tụ được tinh hoa của
Trang 19nhiều nền văn hóa từ văn hóa bác học, văn hóa dân gian và văn hóa đại chúng… Thị dân có thể là những người buôn bán nhỏ lẻ, thợ thủ công, những người làm các nghề dịch vụ cho đến những doanh nhân, trí thức, viên chức, công chức, quan chức… Liệt kê sơ bộ như thế cũng đủ thấy thành phần thị dân hiện diện trong hầu khắp cơ cấu lao động của guồng máy đô thị Họ (thành phần thị dân) “có lối sống, sinh hoạt phù hợp với cơ cấu thời gian hành chính, tác phong công nghiệp của đô thị, khác với dân cư ngoại ô hay ven đô
có những nghề nghiệp sinh hoạt khác… Nói đến đô thị, không thể không nói đến tầng lớp trung lưu và thượng lưu như: doanh nhân, công chức, trí thức, quan chức… Họ là những chủ thể đại diện cho “văn hóa thị dân” Sự hình thành đô thị cũng là quá trình hình thành các tầng lớp này, bởi vì đô thị phải
là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - khoa học Nhìn vào tầng lớp này người ta có thể nhận biết tinh hoa của từng quốc gia trong mỗi thời đại” [34] Thị dân là chủ thể cơ tạo nên bộ mặt đô thị và văn hóa đô thị Theo đó, lịch sử hình thành và phát triển đô thị ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta từ xưa tới nay, dù bất kỳ thời đại nào thì thị dân luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình xây dựng kinh tế - văn hóa - xã hội của đô thị nói riêng và của dân tộc, đất nước nói chung
Trong bài báo Thị dân là thị dân nào…, Nguyễn Thị Hậu đã chia thị dân thành 2 dạng Một là: dạng thị dân nguyên gốc được sinh ra và lớn lên tại thành thị; Hai là: dạng thị dân mới, đến thành thị để học tập, sinh sống và lập
nghiệp… Theo đó, với dạng thị dân thứ hai, tác giả quan niệm rằng: “Thị dân mới chưa gắn bó với nơi mình sống, vì vậy, hoặc họ bê nguyên văn hóa lối sống từ nơi khác về đô thị và tiếp tục duy trì văn hóa lối sống ấy, hoặc tiếp thu một cách tản mạn những mảnh vụn của văn hóa đô thị còn sót lại để hình thành một lối sống thị dân có thể nói là khá tạm bợ, có thể mất đi, biến dạng bất cứ lúc nào, vì bất cứ điều nhỏ nhặt nào” [36] Nguyễn Thị Hậu cho rằng chỉ có dạng thị dân thứ nhất mới đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một diện mạo văn hóa, văn minh đô thị: “Nếu không có thị dân đúng nghĩa thì
Trang 20di sản văn hóa đô thị sẽ (trên thực tế là đã) nhanh chóng mai một và biến mất Bởi một khi thị dân không hiểu biết và tự hào về truyền thống, bản sắc văn hóa nơi mình đang sống thì khó có thể “tuân thủ” một cách tự giác để gìn giữ, làm dày hơn cho văn hóa đô thị” [36]
Nguyễn Thị Hậu đã nhìn nhận, đánh giá thành phần “thị dân đúng nghĩa” - là lực lượng có vai trò tác động lớn trong việc xây dựng nên diện mạo văn hóa đô thị Vấn đề đó cố nhiên là vậy, nhưng trong chừng mực nào
đó, quan niệm của tác giả vẫn còn phiến diện, cực đoan Theo chúng tôi, thành phần thị dân nguyên gốc (dạng thị dân thứ nhất) hay thị dân mới (dạng thị dân thứ hai) đều có tính hai mặt: họ không hoàn toàn tốt và cũng không hoàn toàn xấu Ở thành phần thị dân mới, hẳn cũng có những đóng góp đáng quý mà chúng ta không thể không thừa nhận, đó là: họ đã mang đến những bản sắc văn hóa dân gian từ các địa phương khác để tạo nên sự đa sắc cho diện mạo văn hóa đô thị Nếu tạm trừu xuất những văn hóa lai tạp, thì trên nền
vĩ mô, thị dân và văn hóa, văn minh đô thị cơ bản vẫn mang những đặc tính trội ưu Nếu văn hóa dân gian là loại hình văn hóa đặc trưng của văn hóa làng
xã (văn hóa gốc lúa nước - nông nghiệp), thì văn hóa đô thị lại là một phức hợp gồm: văn hóa bác học, văn hóa dân gian và văn hóa đại chúng
Tựu trung, đô thị là nơi hội tụ nhiều phương diện văn minh, hiện đại
Đô thị chẳng những được xem là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng (chẳng hạn như: thành phố, quận, huyện, thị trấn) mà còn
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội lan tỏa tới các vùng khác của
cả nước Theo đó, thị dân và văn hóa đô thị cũng có vai trò hết sức quan trọng trong tương quan tổ chức xã hội nói chung và xã hội hiện đại nói riêng
1.1.3 Vị trí không thể thiếu của đề tài thị dân và văn hóa đô thị trong văn học và văn học hiện đại
Phản ánh về cuộc sống, con người thị dân ở thành thị và văn hóa đô thị trong văn học Việt Nam nói chung (tạm gọi là văn học đô thị), không chỉ đến thời hiện đại, đề tài này mới được các nhà văn khai thác, trước đó vào thời
Trang 21trung đại, một số nhà nho chí ít cũng đã từng hướng bút Chỉ khác chăng ở chỗ: đề tài này được các nhà nho thời trung đại sáng tác còn ở mức khiêm tốn, điểm xuyết như những nét chấm phá, ký họa, nhưng lại được các nhà văn hiện đại, đặc biệt là các nhà văn đương đại phóng chiếu với tần suất mạnh, phản ánh trên phạm vi rộng lớn, với tính thời sự nóng bỏng và cấp thiết hơn
Trước hết, cần phải minh giải, khu biệt hóa “văn học đô thị” với tư cách như một thuật ngữ của khoa học văn chương Trong văn học, đặc biệt là văn học sử, cụm từ này dường như đã trở nên quen thuộc đối với giới nghiên cứu Tuy nhiên, khi phân tích khái niệm “văn học đô thị”, xoay quanh nó lại
có nhiều cách hiểu khác nhau
Trong bài “Văn học đô thị: khái niệm và đặc điểm”, đăng trên website
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh - chuyên mục: Lý luận - phê bình văn học, Nguyễn
Thị Phương Thúy đã “thử tìm hiểu về khái niệm “văn học đô thị” ở một số khu vực và giai đoạn văn học khác nhau, trong đó có Việt Nam để tìm ra
những đặc trưng chung” [101] Thứ nhất, nhìn nhận “Văn học đô thị trong ý nghĩa đối lập với văn học cung đình thời hậu kỳ trung đại Đông Á” Thứ hai,
so sánh “Văn học đô thị trong ý nghĩa đối lập với văn học nông thôn thời kỳ
hiện đại” Thứ ba, quy chiếu “Văn học đô thị với nghĩa văn học đường phố ở các nước Âu - Mỹ” Thứ tư, khoanh vùng “Văn học đô thị là khái niệm chỉ
riêng văn học Sài Gòn giai đoạn 1955 - 1975” Như vậy, “văn học đô thị dù
đã được thuật ngữ hoá hay chưa và có nhiều khác biệt ở từng khu vực, nhìn chung đều chịu chi phối bởi quy luật cung cầu, cũng là một trong những quy luật chi phối sự hình thành và phát triển của đô thị” [101]
Theo chúng tôi, đặt khái niệm “đô thị” hay “văn học đô thị” trong không gian địa lý và điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam từ thời trung đại cho đến nay, thì cách hiểu khả dĩ, thuyết phục, biện chứng hơn hết vẫn là: khẳng định “đô thị” hay “văn học đô thị” như một đối tượng, một thực thể trong tương quan đối lập với “nông thôn” hoặc “văn học nông thôn” (văn học viết
Trang 22về nông thôn), giống như cách lý giải “thứ hai” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy đã dẫn ở trên (xét về đặc tính văn hóa gốc nông nghiệp - lúa nước của Việt Nam từ bao đời nay) “Văn học đô thị đối lập với văn học nông thôn được xác định dựa trên căn cứ định nghĩa đô thị và nông thôn về mặt xã hội học Đô thị và nông thôn phân biệt với nhau dựa trên các hoạt động sống của xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ… hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hoá, giáo dục, chính trị, gia đình… hoặc theo các nhóm, các giai tầng xã hội Về mặt xã hội, đó là sự khác biệt trong lối sống, giao tiếp, ứng xử gia đình, mật độ dân số, vai trò của thiên nhiên trong đời sống… Xét theo nghĩa này, văn học đô thị được định nghĩa từ đối tượng phản ánh của nó, tức là đời sống đô thị trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, với những xô bồ, chật chội, phiền muộn, trống rỗng và cả những niềm vui ngắn ngủi Nó phản ánh lối sống và cách tư duy của con người đô thị trong sự đối lập với cách nghĩ, cách cảm của người nông thôn” [101]
Vào thời phong kiến, ở Việt Nam hình thành một số đô thị cổ tiêu biểu như: Cổ Loa (thế kỷ III TCN), Luy Lâu (đầu TNK I), Óc Eo - An Giang (dấu tích vương quốc Phù Nam xưa) (đầu TK II), Tống Bình - Đại La - Thăng Long - Hà Nội (giữa TK V - nửa đầu TK XIX), Hoa Lư (TK X), Tây Đô (cuối
TK XIV - đầu TK XV), Phố Hiến - Hưng Yên (TK XVII - XVIII), Phú Xuân
- Huế (TK XVII - XVIII - XIX), Sài Gòn (TK XVII - XVIII - XIX)
Bước sang thế kỷ XX, thông qua hoạt động giao thoa, tiếp xúc với văn hóa, văn minh phương Tây (đặc biệt là người Pháp), các đô thị hiện đại ở Việt Nam lần lượt được hình thành như: Hà Nội, Hòn Gai, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng, Biên Hòa, Sài Gòn, Cần Thơ… Những thập niên gần đây, do tốc độ phát triển nhanh về kinh tế, công nghiệp, dịch vụ … từ chính sách mở cửa, đổi mới nên hàng trăm đô thị liên tiếp được mọc lên Và cũng chỉ những thập niên trở lại đây, các đô thị ở Việt Nam mới
Trang 23thực sự khoác lên mình bộ áo tương thích để chứng tỏ sự khác biệt so với diện mạo nông thôn
Tốc độ phát triển đô thị trên hành trình thời gian cũng như việc phản ánh quá trình vận động của đô thị, thị dân và văn hóa đô thị vào văn học, ở đó dường như diễn tiến theo hướng tỷ lệ thuận - tuyến tính Nghĩa là càng về sau, sức nóng “vấn đề” liên quan đến đô thị, thị dân và văn hóa đô thị, càng được các nhà văn đề cập với số lượng ngày mỗi một nhiều và trọng tâm hơn
Chẳng hạn thời trung đại, “Văn học đô thị ở Việt Nam đánh dấu với sự
nở rộ của các tác phẩm viết bằng chữ Nôm đạt giá trị nghệ thuật cao, kể lại những câu chuyện đời thường, giãi bày tâm sự cá nhân và thậm chí đi ngược lại những chuẩn mực của đạo đức phong kiến Các truyện thơ Nôm bác học
chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học đô thị Trung Quốc: Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Ngọc
Kiều Lê của Lý Văn Phức, Truyện Tây Sương của Nguyễn Lê Quang và nhất
là Truyện Kiều của Nguyễn Du Bên cạnh đó là các truyện thơ Nôm bình dân, thường là của các tác giả khuyết danh: Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc
Hoa, Trinh thử… Thơ Đường luật bằng tiếng Việt phát triển lên đến đỉnh cao
với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Hậu kỳ trung đại chứng kiến sự lên ngôi của một thể thơ gắn liền với sinh hoạt đô thị: hát nói, với các nhà thơ tài tử: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh… Triều đình phong kiến Việt Nam (có những thời điểm) đã từng ra sức ngăn chặn sự phát triển của dòng văn học thành thị này” [101] Các tác phẩm vừa liệt kê trên đây, mặc dù
có đề cập đến đô thị, thị dân và văn hóa đô thị, nhưng xét cho cùng chúng mới chỉ dừng lại với những nét chấm phá, điểm xuyết, ký họa mà thôi
Bước sang thế kỷ XX, đề tài đô thị xuất hiện trong văn học Việt Nam tuy chưa thực sự tạo nên một dòng riêng biệt trong tương quan với các dòng văn học hiện thực hay dòng văn học lãng mạn…, nhưng phải thừa nhận rằng:
số lượng tác phẩm viết về đề tài này tương đối nhiều Chẳng hạn như: Vũ
Trang 24Bằng với Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai, Nguyễn Tuân với
Vang bóng một thời, Thạch Lam với Hà Nội 36 phố phường, Hoàng Ngọc
Phách với Tố Tâm, Vũ Ngọc Phan với Chuyện Hà Nội, Ngô Tất Tố với Lều
chõng, Băng Sơn với các cuốn: Thú ăn chơi người Hà Nội, Nghìn năm còn lại, Nước Việt Hồn tôi và Hà Nội 36 phố phường, …
Đề tài đô thị, thị dân và văn hóa đô thị càng được xuất hiện nhiều hơn trong văn học Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI “Trong nhiều tác phẩm, hình ảnh đời sống đô thị đã phần nào được biểu lộ qua nhan
đề truyện ngắn, chẳng hạn: Thành phố đi vắng, Thành phố không mùa đông (Nguyễn Thị Thu Huệ), Một chiều xa thành phố (Lê Minh Khuê), Lạc chốn
thị thành (Phong Điệp), Vết thương thành thị (Đỗ Tiến Thụy), Huyền thoại phố phường (Nguyễn Huy Thiệp), Giai điệu thành thị (Lý Biên Cương), Mênh mang lối phố (Đỗ Phấn)… Và trong đó không chỉ là hình ảnh phố xá,
cảnh quan đô thị mà còn là cuộc sống và con người với những biến thiên của thời cuộc” [99]
Tựu trung, nhìn lướt tiến trình văn học Việt Nam xuyên suốt từ thời trung đại cho đến nay, chúng ta thấy số lượng tác phẩm viết về đô thị tuy còn khiêm tốn, nhưng chiếm một vị trí rất quan trọng Đô thị, thị dân và văn hóa
đô thị từ thực tiễn đời sống xã hội, dần dà đã được khúc xạ, thẩm thấu qua lăng kính tư duy của chủ thể sáng tạo (nhà nho, nhà thơ, nhà văn) để thai nghén nên những tác phẩm nghệ thuật mang những chiều kích và thước đo khác nhau trong từng thời điểm lịch sử nhất định Càng về sau, tác phẩm trực tiếp hay gián tiếp viết về đời sống đô thị xuất hiện ngày một nhiều (dù rằng
“đô thị” ở mỗi thời đoạn xã hội và văn học có những tính chất khác khau) Đặc biệt, những thập niên gần đây, chúng ta càng thấy rõ “tiến trình đô thị hóa đã tác động đến đời sống văn học, không chỉ ở số lượng tác phẩm viết về
đô thị mà còn ở những vấn đề của đời sống, con người, xã hội đô thị được chuyển tải trong sáng tác Rõ ràng, văn học Việt Nam đang chuyển động cùng
sự chuyển động của đô thị” [99]
Trang 251.2 Văn học Việt Nam hiện đại với vấn đề nhận thức về thị dân và văn hóa đô thị
1.2.1 Cơ sở hiện thực của vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại
Đô thị ở Việt Nam được hình thành từ lâu, đồng hành cùng sự hưng vong của các triều đại phong kiến Xuyên suốt khoảng từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX, các đô thị của nước ta chủ yếu mang tính chất: đô thị cổ - gắn với thiết chế các nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, với phương thức sản xuất chính là nông nghiệp; thủ công nghiệp và thương nghiệp tuy đã được hình thành nhưng còn rất manh mún Theo như cách nhận định của Hoài Thanh thì xã hội Việt Nam “suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần… Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không gian Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ… Trước mắt chúng
ta bỗng bày ra những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng thấy Lúc đầu, ai nấy đều ngơ ngác, không hiểu ra làm sao Nhưng rồi chúng ta quen dần… Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp… còn gì nữa! Đừng tưởng tôi ngụy biện Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông Những đồ dùng kiểu mới ấy chính là dẫn đường cho tư tưởng mới” [88, tr.17-18]
Quả đúng như Hoài Thanh từng nói: “cơn gió mạnh” - thực dân Pháp
“thổi đến” đất nước ta đã làm nên “cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”, được đánh dấu bằng mốc son đầu thế kỷ XX trở đi Đặc biệt là từ khi thực dân Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa (lần thứ
Trang 26Nhất: 1897 - 1914; lần thứ Hai: 1919 - 1933) với quy mô lớn trên đất nước ta, các nhà máy, xí nghiệp, trụ sở… được mọc lên ở nhiều nơi như: Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa, Vinh, Hội An, Đà Lạt, Sài Gòn… Dấu hiệu của đô thị hiện đại cũng từ đó mà dần được hình thành; kéo theo “lối sống thị dân phương Tây
du nhập vào Việt Nam, tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất, văn hóa của thị dân Bộ mặt đô thị thời kỳ này có nhiều khác biệt so với thời phong kiến” [43, tr.14]
Cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước ta đã giành được độc lập, đô thị ở một số nơi (đặc biệt là ở các tỉnh, thành miền Bắc) mặc dù được xây dựng, phát triển, quy hoạch theo chủ trương, đường lối của Đảng, nhưng tựu trung diện mạo đô thị vẫn chịu những ảnh hưởng của văn hóa, văn minh phương Tây do thực dân Pháp truyền vào
Đặc biệt là từ sau 1986, đất nước chuyển sang thời kỳ mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường; giao lưu hội nhập, hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới, đã làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ nhanh và mạnh Đời sống xã hội có nhiều biến chuyển rõ rệt so với các thời kỳ trước đó; diện mạo đô thị và quá trình đô thị hóa cũng vận động dồn dập, mạnh mẽ Hệ quả tác động của việc phát triển nền kinh tế thị trường giàu tính cạnh tranh và quá trình đô thị hóa diễn tiến mau lẹ, bên cạnh những mặt tích cực như: đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, kiến thiết cơ sở vật chất cho xã hội, đất nước… thì cũng gắn liền với nhiều hệ lụy tiêu cực, đặt ra nhiều vấn đề cần trăn trở, suy ngẫm
Suốt hơn một thế kỷ từ khi hình thành dấu ấn đô thị hiện đại cho đến thời kỳ sau 1986 tới nay, đô thị đã có những ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến đời sống con người và xã hội trên cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực; mặt tốt và mặt xấu, “đằng sau những hình ảnh, cảnh quan về đô thị là một cuộc sống đang từng ngày biến đổi Nhiều nhà văn đã hướng ngòi bút vào việc chuyển tải những trạng thái biến đổi của đời sống thường nhật nơi đô thị
Từ những góc độ khác nhau, trong mỗi tác phẩm văn học, người viết đã bộc
Trang 27lộ những cách tiếp cận đời sống đô thị, qua đó có thể thấy được quá trình thay đổi đô thị không chỉ ở phương diện cảnh quan mà còn là đời sống vật chất và tinh thần của con người” [99] Phản ánh đề tài này, các nhà văn đã “lột tả con người đời thường với những cô đơn, băn khoăn, vấp ngã, xót xa, đứt gãy, quay cuồng trong cơn lốc khủng hoảng giá trị của xã hội hiện đại Những giá trị cũ bị mai một, những giá trị mới đang hình thành còn nhiều bất ổn, chông chênh” [43, tr.7]
1.2.2 Vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trên hành trình nhận thức của văn xuôi Việt Nam hiện đại
Phản ánh đề tài đô thị, thị dân và văn hóa đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại, đa phần được các nhà văn thể hiện qua mảng văn xuôi Xuyên suốt các thời điểm và bước ngoặt thăng trầm của lịch sử dân tộc, đô thị Việt Nam dường như cũng chịu những tác động cùng với nhịp vận động của đất nước Căn cứ vào những dấu mốc lịch sử quan trọng, tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, chúng tôi tạm chia ngưỡng ranh giới về đề tài đô thị, thị dân và văn hóa đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại bởi hai thời kỳ sau: Đầu thế kỷ
XX đến năm 1985 và Từ năm 1986 (mốc Đổi mới) đến nay
Thứ nhất, vấn đề thị dân và văn hóa đô thị trong văn xuôi Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỷ XX đến năm 1985
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1985, đề tài đô thị trong văn học Việt Nam vận động giống như một biểu đồ hình sin Chẳng hạn khi bàn về văn học đô thị ở miền Bắc giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945, chúng ta thấy đề tài này
đã được nhiều nhà văn quan tâm, khai thác, phản ánh; nhưng nó dường như lại trở nên tiệm thoái, tĩnh tại vào giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975; trong khi đó, văn học đô thị ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975 lại có phần nở
Trang 28Phụng) xuất hiện, khiến cho độc giả phải một phen kinh ngạc trước sự thay thời đổi thế ở xã hội Việt Nam, do chịu những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Lối sống ở đô thị của các nhân vật như: Tố Tâm, Đạm Thủy trong tiểu
thuyết Tố Tâm và Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, ông Văn Minh, cô Hoàng Hôn,
cô Tuyết, ông TYPN trong Số đỏ đều là những điển hình của một xã hội đã
“đổi màu văn hóa”
Không chỉ nổi danh với tiểu thuyết Số đỏ, một số tiểu thuyết và phóng
sự khác như: Làm đĩ, Trúng số độc đắc, Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây,
Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng cũng góp phần không nhỏ trong việc
phản ánh, khắc họa “bộ mặt giả tạo, học đòi, lố lăng của những thị dân mới”
[43, tr.19]
Khi nhóm Tự lực văn đoàn ra đời, các nhà văn như Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng đã sáng tác nhiều tác phẩm phản ánh đời sống của xã hội đô
thị Nếu như cái nhìn của Vũ Trọng Phụng về cuộc sống đô thị trong Số đỏ
còn yếm thế, thậm chí là “chậm thích ứng” so với “sự phát triển của cái mới
đã đến” (lời của Mai Anh Tuấn) [79], thì các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng lại có cái nhìn cấp tiến hơn Nhân vật của họ trong môi trường sống đô thị thường “phong phú, tiến bộ, mạnh mẽ” và giàu cá tính Tuy nhiên vẫn có những tác phẩm đề cập đến “mặt trái của đô thị hoa lệ” bởi cuộc sống trụy lạc với rượu cồn và thuốc phiện
Một số truyện ngắn của Thạch Lam phảng phất dáng dấp đô thị cũng đã tạo được ấn tượng sâu đậm trong tâm thức người đọc Không gian đô thị trong sáng tác của ông “thường là những phố huyện nhỏ bé, còn tối tăm, nghèo nàn, làm con người quẩn quanh, bế tắc” [43, tr.19], “có chiều hướng co lại như sự
o ép của cuộc sống giành cho những số phận nghèo, đồng thời lại vừa có sự thắt chặt, dồn nén trong những cảnh nhớp nhúa đời thường; một căn phòng bức bối với ánh mắt lặng lẽ buồn nhìn nhau của hai chị em Liên, Huệ trong
Tối ba mươi, một ga tàu nhỏ bé nằm trơ trụi giữa phố huyện nghèo ẩm thấp
nhưng lại là hy vọng kiếm sống của mọi người trong Hai đứa trẻ Dường
Trang 29như mọi thứ ở không gian thành thị trong sáng tác Thạch Lam đều nhỏ bé, nó nhỏ bé như chính nhân vật của ông và luôn tồn tại hai mảng đối lập: cái nghèo
- sự giàu, bóng tối - ánh sáng, lặng lẽ - náo nhiệt” [96]
Những trang văn của Nguyễn Công Hoan viết về đô thị Hà Nội lúc bấy giờ đã “hội đủ tất cả mọi mâu thuẫn bức xúc nhất của thời cuộc, nơi có mặt mọi tầng lớp người làm nên sự trọn vẹn của đời sống đô thị - một chỉnh thể đối ứng giữa giàu và nghèo, thiện và ác, tốt và xấu, bi và hài Chỉ riêng ông, chưa có ai khác ông, có thể đưa vào ống kính quan sát một tổng hợp mỉa mai đến thế để làm nên một bức tranh thật sống động gồm quá nhiều gương mặt: phu phen, thuyền thợ, con buôn, tư sản, thầu khoán,… thầy thuốc, nhà báo, nhà giáo, nhà văn, nghệ sĩ, học trò, công chức, cô đầu, gái điếm, phu xe, con sen, đứa ở, kẻ cắp, hàng rong, lính tráng, tây trắng, tây đen, me tây, kép hát, thầy quyền, phán, tham, chủ báo ” [48]
Trong số nhiều thành phần, giai tầng xã hội ở đô thị Việt Nam những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước, tầng lớp trí thức được ngòi bút Nam Cao khắc họa đầy sự cảm thông hơn hết Các nhân vật trí thức trong tác phẩm của ông đa phần đều có chung hoàn cảnh sống khốn khó, bần hàn, cùng cực,
bế tắc Họ luôn phải gồng mình, vật lộn với bao nỗi lo toan về cơm áo gạo tiền; bị cuộc sống đè bẹp và vùi dập những ước mơ, hoài bão, lý tưởng tươi đẹp, thậm chí bị bóp méo cả nhân cách, phẩm giá Các nhân vật trí thức như
Thứ (Sống Mòn), Hộ (Đời thừa) và Điền (Giăng sáng) tuy là những thân phận khác nhau, nhưng chung quy lại đều có cùng điểm gặp: “Cơm áo không đùa
với khách thơ”
Bước sang giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, đề tài đô thị trong văn học miền Bắc vẫn được các nhà văn tiếp tục khai thác, nhưng với mức độ khiêm tốn hơn so với các giai đoạn trước đó
Khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, tinh thần thời đại của toàn dân tộc lúc bấy giờ thiên về khuynh hướng cái ta chung
- cộng đồng, không chấp nhận những con người có tư tưởng cá nhân, vị kỷ, đi
Trang 30ngược với lý tưởng chung của thời đại và dân tộc; ngược lại, sẽ không tiếc lời khích lệ, ngợi ca, đề cao những con người hòa mình vào tập thể, cộng đồng, dân tộc
Năm 1948, Nam Cao viết truyện ngắn Đôi mắt với lập trường quan
điểm “phê phán” nhân vật trí thức tiểu tư sản - nhà văn Hoàng với thói tật: vẫn giữ những tư tưởng, nếp sống nhàn nhã, hưởng thụ của người thành thị, mặc dù đã chuyển về vùng tản cư nông thôn, trong khi đất nước đang chiến tranh Bằng dụng ý nghệ thuật, Nam Cao đã đặt nhân vật của mình vào “hoàn cảnh”, đời sống, không gian sinh hoạt ở vùng nông thôn tản cư để tô đậm lối sống tương phản, lạc lõng, không phù hợp của Hoàng so với cộng đồng quanh y Một số tác phẩm như truyện vừa Những ngõ phố (của Tô Hoài), ba tiểu thuyết: Trong lòng Hà Nội, Hai trận tuyến và Vào đời (của Hà Minh Tuân), tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô (của Nguyễn Huy Tưởng) đều hướng tới
phản ánh chủ đề về đời sống, tinh thần của người dân ở các đô thị cùng chung tay, chung sức chiến đấu chống giặc Pháp và xây dựng Chủ nghĩa xã hội
Từ năm 1954 đến năm 1975, đề tài đô thị trong văn học ở nước ta được một số nhà văn di cư vào Nam như: Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc cũng như các nhà văn miền Nam như: Thanh Tâm Tuyền, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Doãn Dân tiếp tục chắp bút Cụm thuật
ngữ “Văn học miền Nam” bên cạnh mang hàm nghĩa “chỉ văn học ở lãnh thổ
miền Nam dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Sài Gòn tồn tại trong các đô thị, chúng ta gọi là văn học đô thị của miền Nam trước đây” [19], thì nó còn
bao trùm cả việc đề cập đến văn học viết về đô thị Sài Gòn suốt khoảng thời gian 21 năm (1954-1975) “Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống và chủ yếu hướng tới hiện thực cuộc sống, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã đáp ứng được khá linh hoạt nhu cầu của người đọc tại các vùng đô thị” [102] “Tác phẩm văn xuôi giai đoạn sau 1954 không chỉ giới hạn trong những đề tài “cổ điển” như nói về cuộc sống của người thành thị, trí thức, tình cảm lãng mạn, phiêu lưu hay nỗi nhọc nhằn, đói khổ của những người nghèo Văn xuôi
Trang 31hướng đến tất cả mọi vấn đề từ cao cả đến thấp hèn, hướng đến mọi đối tượng
từ người lớn đến trẻ em, từ giới trí thức đến người lao động, nhưng tập trung nhất vẫn là đề tài tình yêu với đủ mọi cung bậc, biến thái khác nhau” [102] Tác phẩm của các nhà văn giai đoạn 1954 - 1975 “là sự phiêu lưu của cái viết, tức lúc này cách kể một câu chuyện quan trọng hơn bản thân câu chuyện
Cũng câu chuyện về Âu hóa như Số đỏ, nhưng Thời thượng của Mai Thảo thì
đã rất khác về cách viết Còn Hồi chuông tắt lửa của Thế Nguyên, Gia tài
người mẹ của Dương Nghiễm Mậu, Đêm ngủ ở tỉnh của Hoàng Ngọc Biên thì
được viết theo lối hiện tượng học, hoặc theo kiểu tiểu thuyết mới” [100]
Từ năm 1975 đến năm 1985, sau khi đất nước thống nhất, đề tài đô thị trong văn học cả ở miền Bắc và miền Nam mặc dù đã tạo được nhịp vận động chung, tuy nhiên vẫn chưa thể phát triển mạnh thành một dòng văn học, do chịu sự tác động và chi phối của những điều kiện, hoàn cảnh khách quan khác của lịch sử
hiện đại từ năm 1986 đến nay
Sau hơn một thập kỷ nước nhà vừa thống nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) được xem là mốc son quan trọng trên suốt hành trình vận động, phát triển của lịch sử dân tộc; là một cú hích mạnh thúc đẩy “bánh xe đất nước” chạy trên con đường mới Đại hội VI
đã thực sự làm cho “hầu hết mọi lĩnh vực đời sống, xã hội trên đất nước ta như: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng đều đổi mới rõ rệt, trong đó có văn học” [45, tr.1] Một đất nước từ cơ chế tập trung, bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường; mở rộng giao lưu, hội nhập, hợp tác kinh tế song phương, đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới “Xu thế dân chủ hóa xã hội cũng thúc đẩy văn học mở ra trang mới, các nhà văn có điều kiện “khẳng định giá trị cá nhân” như một nhu cầu không thể thiếu trong quá trình sáng tạo nghệ thuật” [45, tr.1]
Trang 32Xuất phát từ những điều kiện, tiền đề cơ bản này, đời sống văn học từ năm 1986 đến nay dường như “phong phú”, táo bạo, góc cạnh hơn những giai đoạn trước đó Văn học đã len lỏi vào tận tâm tư, ngõ ngách sâu kín của cuộc sống con người để giải mã những ẩn ức, những cơ chế tâm lí phức tạp mà trước đây nó ít có cơ hội được bàn đến, do những quy định ràng buộc của bối cảnh xã hội và thời cuộc Theo đó, đề tài đô thị trong văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay cũng gặt hái được nhiều thành quả hơn so với thời kỳ từ đầu thế XX đến năm 1985
Đề tài đô thị sau Đổi mới phản ánh cuộc sống người dân thành thị với những tác động của cơ chế thị trường cùng xu thế đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và ồ ạt Nhiều tác giả đã viết về đề tài này như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Hồ Anh Thái, Phong Điệp, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Đỗ Tiến Thụy,
Lý Biên Cương, Đỗ Phấn, Chu Lai, Thái Bá Tân, Lý Lan, Dương Bình Nguyên, Vũ Đình Giang Dù ít, dù nhiều, tác phẩm của các tác giả này đều góp phần làm nên sự đa sắc về diện mạo đô thị cũng như đời sống của người dân thành thị
Trong truyện ngắn Khách ở quê ra, Nguyễn Minh Châu xây dựng nhân
vật lão Khúng vốn sống ở nông thôn, ra thành thị thăm người thân và chứng kiến những cảnh tượng không gian phố thị đầy choáng ngợp Đó là sự đối lập giữa hình hài quê kệch, thói quen sinh hoạt nhà nông của lão Khúng với vóc dáng thanh lịch, cuộc sống tiện nghi hiện đại của của những người thành thị Với các truyện ngắn: Tướng về hưu, Huyền thoại phố phường và Không
có vua, Nguyễn Huy Thiệp đã nhìn cuộc sống và con người đô thị bằng cái
nhìn “lạnh lùng, sắc lẹm” Qua lăng kính tư duy nghệ thuật của nhà văn, con người thành thị dường như “biến dạng với những giành giật, toan tính, vụ lợi, ích kỷ”, “thiếu vắng tình người và đầy sự trả giá” [43, tr.22]
Trang 33Lối sống cá nhân, ích kỷ, vụ lợi của những con người thành thị trong
xã hội buổi giao thời còn được Ma Văn Kháng khắc họa trong tiểu thuyết
Mùa lá rụng trong vườn
Hồ Anh Thái với tập truyện Tự sự 265 ngày và hai cuốn tiểu thuyết
Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột đều chứa đựng nội dung phản ánh
những tiêu cực, những thói hư tật xấu của con người ở môi trường đô thị bằng giọng văn hài hước, giễu cợt, trào lộng và có phần cay nghiệt
Khác với cách nhìn của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng và Hồ Anh Thái, con người đô thị trong trang văn Nguyễn Khải gắn với những phẩm chất
đáng quý Nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội được xem
là ““hạt bụi vàng” cặm cụi lưu giữ những nét văn hóa của thủ đô ngàn năm” [43, tr.22]
Bên cạnh việc lấy con người làm tâm điểm cho tác phẩm, nhiều nhà văn còn dành nhiều trang viết đề cập về không gian đô thị Trong nhiều tác phẩm đương đại, “không gian đô thị được khúc xạ qua những hình thái khác nhau, từ không gian địa lý đến không gian tâm tưởng; từ không gian xã hội đến không gian cụ thể (không gian căn phòng, khu chung cư, căn gác trọ) Song hành với không gian xã hội giữa thành thị đông đúc, náo nhiệt, ở đó
“trên con phố một chiều xe lúc nào cũng băng băng dòng người như sông mùa
lũ” (Quán rượu của Đỗ Phấn); không gian văn phòng, cao ốc (Tháng chạp
của Lý Lan); không gian sống của cá nhân với những căn hộ, khu nhà cao
tầng ở “lưng chừng trời” tách biệt với thế giới xung quanh (Vu vơ ở lưng
chừng trời của Đỗ Phấn)” [99] Một vài truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
lại viết về vẻ đẹp của cảnh quan đô thị Chẳng hạn như: “Hà Nội cuối đông Đêm xuống mù sương Tất cả như lấp ló sau một tấm voan mỏng che khuôn
mặt xinh đẹp đã hóa trang kỹ của cô dâu chuẩn bị về nhà chồng” (Rượu cúc);
hoặc “Tháng năm Những chùm phượng đỏ vít cong cành trên các ngõ phố Không gian inh inh tiếng ve gợi cảm giác hồi hộp và sôi động Nàng đứng
dưới góc phố chờ chàng” (Tình yêu ơi, ở đâu?)
Trang 34Nhịp sống hối hả, đua chen ở môi trường đô thị đã kéo con người vào guồng quay gấp gáp Ở đó, họ cảm thấy quỹ thời gian quá eo hẹp so với khối công việc dồn dập, chất chồng “Thường thường tám giờ tối mới rũ rượi về nhà Ăn qua quýt một cái gì đó rồi đổ vật ra giường, ngủ một mạch đến bảy giờ sáng hôm sau Những ham muốn, đam mê dần bị tước bỏ Quay quắt mấy
chốc đã cảm thấy mình hết đời rồi.” (Ngôi nhà ngập tràn ánh nắng - Phong
Điệp) [99]
Qua tập truyện ngắn Giày đỏ của Dương Bình Nguyên, Mười sáu mét
vuông của Vũ Đình Giang, người viết đã cảm thông sâu sắc đối với cuộc sống
đầy nỗi lo toan về cơm áo gạo tiền của những người trẻ tuổi trong môi trường sống đô thị
Ẩn đằng sau vẻ phồn hoa, náo nhiệt, sôi động của cuộc sống nơi đô thị còn là những nỗi niềm cô đơn, lẻ loi của biết bao thân phận con người Trong
truyện ngắn Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa khá đậm nét sự cô
đơn, lạc lõng của nhân vật ông Thuấn - người lính từng một thời vào sinh ra
tử ở chiến trường, nhưng lại trở thành “người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình trước cô con dâu sắc sảo, người con trai nhu nhược và một bà vợ lẩn thẩn” Đó có thể là sự trống trải trong cuộc sống hàng ngày mà họ phải đối mặt và không có cách gì giải tỏa hoặc không thể chia sẻ cùng ai như: “Tôi cô đơn quá rồi”, “Sao người mỗi ngày một đông như kiến mà tôi cô đơn thế này”
trong Tân cảng và MiNu xinh đẹp (của Nguyễn Thị Thu Huệ); là trạng thái
trống trải và đơn độc của con người trong thành phố khi chỉ có công việc mà
không có người thân bên cạnh trong Thành phố không mùa đông (của Nguyễn
Thị Thu Huệ); là nỗi cô đơn của những thực thể sống trong những tòa cao ốc,
cách biệt với con người và thế giới xung quanh trong Vu vơ ở lưng chừng
trời (của Đỗ Phấn) Qua đó, chúng ta thấy đô thị dường như chỉ là tấm phông
nền để các nhà văn có điều kiện giãy bày, thể nghiệm sự ý thức về con người
cá nhân, con người bản thể cho nhân vật của mình Đây cũng là nét đặc trưng
về phương diện thi pháp và khuynh hướng sáng tác của văn học đương đại
Trang 35Trong tâm thức các nhà văn như: Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Việt Hà, đô thị Hà Nội xuất hiện với tần suất dày đặc trên nhiều tập truyện ngắn, tiểu thuyết và tạp văn của họ
Chỉ trong thời gian 5 năm, Đỗ Phấn đã ra mắt độc giả liên tiếp bằng 6
cuốn tiểu thuyết: Vắng mặt (2010), Rừng người và Chảy qua bóng tối (2011),
Gần như là sống và Con mắt rỗng (2013), Ruồi là ruồi (2014) Vốn gắn bó
lâu năm ở sân chơi hội họa, “thú xê dịch” đã đưa Đỗ Phấn chuyển sang địa hạt văn chương với số lượng tác phẩm dồn dập, áp đảo, khiến độc giả không khỏi ngỡ ngàng, sửng sốt trước sức viết đầy sung mãn của tác giả Qua 6 cuốn tiểu thuyết của họa sĩ kiêm nhà văn Đỗ Phấn, Hà Nội hiện lên mồn một với bề dày của đô thị ngàn năm tuổi “Và chen vào đó là dáng dấp của bao vùng đô thị ông đã đi qua, từ Hải phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, thậm chí cả Côn Minh - Trung Quốc Tâm sự về đề tài đô thị trong trang văn của mình, Đỗ Phấn nói: “Dù tôi có xuất bản đến bao nhiêu đầu sách đi chăng nữa, thì người đọc vẫn có thể hình dung rằng, cả đời, Đỗ Phấn chỉ viết một cuốn sách duy nhất - cuốn sách về Hà Nội” [43, tr.30]
Cũng “thâm canh” trên “mảnh đất” Hà Nội, Nguyễn Trương Quý trong vòng 11 năm đã ra mắt độc giả với 6 đầu sách, gồm tạp văn và truyện ngắn:
Tự nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008), Hà Nội
là Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013) và Dưới cột đèn rót một ấm trà (2014) Những tác phẩm này đều tập trung phản
ánh bối cảnh không gian đô thị ở Hà Nội
Với Nguyễn Việt Hà, từ các tiểu thuyết như: Khải huyền muộn, Cơ hội
của Chúa, Ba ngôi của người cho đến các tạp văn: Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Con giai phố cổ và Đàn bà uống rượu, hình ảnh về đô thị
Hà Nội luôn hiện diện song hành những mặt tốt, xấu đen xen nhau “Và dù là những từ xấu xí với cái nhìn bi quan về Thủ đô, hay những đoạn miêu tả cái đẹp về không gian, con người đất Tràng An, vẫn luôn thấy một tấm lòng “xót
xa yêu Hà Nội” của Nguyễn Việt Hà” [95]
Trang 36Dõi theo chặng đường vận động, phát triển của văn học thời kỳ từ năm
1986 đến nay, chúng ta thấy đề tài về cuộc sống đô thị dù được viết trực tiếp hay gián tiếp, thì số lượng các tác phẩm vẫn xuất hiện ngày mỗi một nhiều Bằng những góc độ, điểm nhìn khác nhau, các nhà văn đã thể hiện được năng lực cầm bút nhạy bén, linh hoạt và bản lĩnh táo bạo trong việc tiếp cận, khai thác, phản ánh, giải quyết các vấn đề cuộc sống, trong đó có đời sống của con người đô thị Các tác phẩm viết về đề tài này, không những có giá trị lớn đối với lĩnh vực văn chương nghệ thuật, mà còn là những tư liệu đáng quý cho việc nghiên cứu chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, dân tộc học và đô thị học ở Việt Nam
1.3 Những ưu thế của thể loại tạp văn trong nhận thức, phản ánh nội dung thị dân và văn hóa đô thị
1.3.1 Tính kịp thời và cập nhật
Thể loại tạp văn đã ra đời, thịnh hành từ lâu ở các nước phương tây cũng như ở Trung Quốc, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX nó mới được “thâm canh”, “bén rễ” trong môi trường xã hội Việt Nam Và phải trải qua quá trình định hình khoảng bảy mươi đến tám mươi năm, thể loại này mới thực sự phát triển mạnh ở nước ta Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng
12 năm 1986) là bàn đạp, là bệ phóng cho nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có đời sống văn học nói chung và tạp văn nói riêng cùng chuyển vận, đổi mới
Vốn sở hữu những ưu thế, ma lực hấp dẫn tựa như “bùa mê”, thể loại tạp văn hiện nay đang thu hút được sự quan tâm, yêu thích của đông đảo bạn đọc Một trong những đặc trưng của thể loại tạp văn là tính kịp thời và cập nhật Chính vì vậy, khi bàn về khái niệm “tạp văn”, các nhà nghiên cứu cơ bản đều thống nhất thừa nhận đặc tính này
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), tạp văn là “những áng văn tiểu phẩm có nội dung
chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính
Trang 37chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp
thời các hiện tượng xã hội” [32, tr.294] Và “phần lớn tạp văn mang yếu tố
châm biếm, trào lộng, đả kích Có loại nhằm vào kẻ địch với đòn “giễu cợt chết người”, đánh trúng chỗ hiểm, có loại nhằm vào khuyết điểm của người
cùng đội ngũ, vạch đúng sai lầm, trào phúng thành khẩn, trị bệnh cứu người”
[32, tr.294] Tạm trừu xuất những đặc điểm như: “tính chiến đấu, tính chính luận và nghệ thuật”; “yếu tố châm biếm, trào lộng, đả kích” mà các tác giả vừa khái niệm ở trên, hai từ “kịp thời” và “thành khẩn” đã cơ bản lột tả được yếu tố “không thể thiếu” của thể loại tạp văn chính là tính kịp thời và cập nhật
Trong giáo trình Văn học Trung Quốc, Nguyễn Khắc Phi gọi tạp văn là
sự “kết hợp (giữa) nghị luận và sáng tác; nó vừa có tính logic chặt chẽ của văn nghị luận, vừa có tính hình tượng sinh động của sáng tác văn nghệ Người viết tạp văn sẽ thông qua hình tượng sống động và ngôn ngữ trữ tình để biểu đạt ý kiến của mình về một vấn đề xã hội, chính trị hoặc văn hóa, tư tưởng
v.v thích hợp với hoàn cảnh chiến đấu khẩn trương trên mặt trận văn hóa tư tưởng, đặc điểm nổi bật nhất của tạp văn là ngắn gọn, sắc bén, kịp thời” [73, tr.187]
Năm 2012, trong luận văn thạc sĩ: Đặc sắc nghệ thuật của tạp văn
Nguyễn Việt Hà (Trường Đại học Vinh), Hoàng Thị Mại đã nêu ở phần Mở đầu rằng: “Nhận thức được tính phổ cập, lan truyền nhanh, dễ tiếp nhận của
thể loại này, nhiều nhà văn đã có những tìm tòi thể nghiệm, thay đổi phương thức thể loại sáng tác và họ đã gặt hái nhiều thành công, để lại những dấu ấn khó phai” [50, tr.3]
Cũng trong năm 2012, với luận văn thạc sĩ: Thể loại tạp văn trong văn
học Việt Nam đương đại (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh), Bùi Ngọc Anh đã nêu ngắn gọn rằng: “Tạp văn
là một thể tài phản ánh những sự việc hàng ngày xảy ra trong xã hội một cách
trực tiếp và nhanh chóng” [1, tr.15] Cái mà tác giả gọi bằng cụm từ “phản
Trang 38ánh những sự việc hàng ngày” và “nhanh chóng” chính là tính mau lẹ, thời sự của tạp văn
Hàng loạt bài tạp văn được xuất bản những năm vừa qua, thể hiện rất rõ đặc tính thời sự, thường nhật khi bàn về những vấn đề của đời sống xã hội Là một thể loại trung gian giữa văn học và báo chí, bên cạnh chứa đựng những đặc tính của lĩnh vực văn chương, tạp văn dường như cũng chịu ảnh hưởng bởi tính thời sự của lĩnh vực báo chí Việc cập nhật kịp thời những tin tức, vấn đề nóng hổi của đời sống xã hội vào tác phẩm tạp văn được người viết thể nghiệm thường xuyên
Chẳng hạn trong cuốn tạp văn Đi ngang đường của Nguyễn Trung Dân,
dấu ấn thời sự xuất hiện với tần suất dày đặc ở các bài viết Ví dụ như: “Cuối tuần qua, hầu hết các báo, đài trong nước đều đưa tin về vụ bắt tạm giữ trên 1.160 người đang ăn chơi thác loạn tại vũ trường ” [9, tr.14]; “Sáng ngày 07/5/2007, xăng đồng loạt tăng giá 8.00đ/lít Vậy là giá xăng đã tăng gần đến mức cao nhất từ trước đến nay ” [9, tr.18]; “Mấy hôm nay, cả nước hồi hộp theo dõi vấn đề tăng học phí ở các trường phổ thông công lập ” [9, tr.59];
“Trong tuần lễ từ ngày 06/7/2007 đến 12/7/2007, cả nước có đến 284 vụ tai nạn giao thông, làm chết 231 người, bị thương 212 người” [9, tr.74]; “Gần đây trên một vài ấn phẩm, ở một hai cuộc hội thảo, nhiều người lên tiếng báo động là đang có nguy cơ bị “xâm lăng văn hóa” ” [9, tr.125]; “Chỉ còn mấy hôm nữa, lệnh của Thủ tướng Chính phủ về việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy có hiệu lực” [9, tr.139]
Ở Tạp văn Phan Thị Vàng Anh, các bài viết phản ánh những vấn đề có
tính thời sự xã hội cũng xuất hiện khá nhiều Cụ thể như: “Nếu bạn đang có con học lớp nhỏ, thì hãy luyện cho cháu bởi vì, đề năm nay đã ra như thế rồi Như báo tuổi trẻ số ra ngày 23/5/2002 đã đưa tin: ngày 21/5/2002, Sở
GD - ĐT Cần Thơ ra đề thi tốt nghiệp tiểu học ” [4, tr.91]; “Cách đây hai năm, khi Tí mới vào cấp Ba, bố Tí - một người cấp tiến Nhưng, mới ngày hôm kia thôi, quan niệm của Tí đã bị chao đảo” [4, tr.101-102]; “- Lè lưỡi để làm gì? - Để liếm ghế? - Ghế gì? - Ghế cô giáo Ai đọc mẩu đối thoại trên mà
Trang 39không hiểu thì đúng là chưa đọc báo Tiền Phong, số ra ngày 9/6/2003, với câu chuyện có thật ” [4, tr.105]; “Hôm qua là ngày thầy thuốc Việt Nam Hôm qua chúng ta đã tặng hoa và những lời biết ơn ” [4, tr.154]; “Tháng trước, đến làm việc tại phòng y tế xã nọ, thuộc miền núi phía Bắc, ngồi một lúc lâu
và uống rất nhiều trà xong, thì xin lỗi, cả đoàn “có nhu cầu” ” [4, tr.162];
“Mới hôm qua ngồi trên tàu, nghe trộm tầng dưới, có hai người nói với nhau ” [4, tr.199]; “Tuần này, câu chuyện được bàn sôi nổi nhất trong nhà là chuyện học trò T đi thi học sinh giỏi văn gặp cái đề “ ” ” [4, tr.209]; “Nửa năm trước, qua tổ dân phố bên cạnh chơi Dân khu vực ấy đang chán ngán vì hai cái loa phát thanh vừa mới mắc xong Và từ đó đến nay đã nửa năm Phường không thấy động tĩnh gì ” [4, tr.227-228]; “Dạo này không hiểu sao,
có lẽ chạy đuổi theo một cuộc đua “văn minh trật tự” ngầm nào đó, mà các vỉa hè Hà Nội thi nhau dựng biển CẤM ” [4, tr.235]
Chỉ khảo sát sơ bộ 2 cuốn tạp văn của 2 tác giả Nguyễn Trung Dân và Phan Thị Vàng Anh, cũng đủ cho chúng ta thấy tính kịp thời và cập nhật quả
là đặc tính cơ bản của thể loại tạp văn
Cuộc sống hàng ngày diễn ra ngồn ngộn nhiều vấn đề đòi hỏi phải có một thể loại văn học phù hợp để kịp thời phản ánh, sao chụp hay khúc xạ hiện thực thế giới khách quan nhằm chuyển tải vào tư tưởng, tư duy con người Sứ mệnh đó dường như đã “giao phó” cho tạp văn lĩnh nhận và hoàn thành tốt
“nhiệm vụ”
Hòa vào nhịp vận động chung của xu thế thời đại và xã hội, những vấn
đề về đô thị, thị dân và văn hóa đô thị diễn ra hàng ngày cũng được người viết đưa vào những trang tạp văn một cách mau lẹ, sốt sắng, đáp ứng được nhu cầu đón đợi, tiếp nhận thông tin và sự quan tâm ở người đọc
1.3.2 Tính không giới hạn trong nhận thức/ phản ánh hiện thực và
tổ chức văn bản
Tính không giới hạn trong nhận thức/ phản ánh hiện thực nghĩa là thể
loại tạp văn có khả năng phản ánh được nhiều vấn đề, nhiều bình diện cuộc sống
Trang 40Ưu thế về tổ chức văn bản tạp văn chính là sự ngắn gọn, linh hoạt trong cách viết Tạp văn là “một loại tản văn có nội dung rộng, hình thức không gò
bó, như bài bình luận ngắn, tiểu phẩm, tùy bút…” [72, tr.1106] Tạp văn
“chuyên chở được nhiều chủ đề, đề tài mà dung lượng bài viết lại ngắn gọn, cách viết lại linh hoạt, phù hợp với ý đồ người viết muốn thể hiện” [45, tr.24] Tạp văn “là một thể loại có dung lượng nhỏ, chỉ độ một hai ngàn chữ, nhưng lại có biên độ rất rộng về thể tài, cách viết ” [1, tr.42]
Trải theo dòng thời gian, nội hàm của tạp văn ngày càng được nới rộng biên độ Nếu trước đây, tạp văn truyền thống cả ở Việt Nam và Trung Quốc đều biểu lộ và đề cao “tính chiến đấu”, thì ngày nay quan niệm đó đã đổi khác
Vấn đề thị dân và văn hóa đô thị có vai trò quan trọng và sức ảnh hưởng lớn đối với đời sống thực tiễn của xã hội Yếu tố thị dân và yếu tố văn hóa đô thị trong bất kỳ thời đại nào đều luôn là thước đo trình độ văn minh của mỗi một xã hội đô thị, và rộng hơn là trình độ văn minh của mỗi một dân tộc, đất nước Nếu xem “đô thị” với tư cách “là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện” [44], thì “thị dân” và “văn hóa đô thị” được ví như các hệ số cơ bản tạo nên giá trị tổng thể đó Xuất phát từ những ý nghĩa thực tiễn nêu trên nên đề tài đô thị luôn là mảnh vườn màu mỡ thu hút nhiều thế hệ các nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại Đề tài đô thị vốn dĩ đã muôn hình muôn vẻ trong văn học Việt Nam hiện đại (qua những trang văn của
Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Thạch Lam (Tối ba
mươi, Hai đứa trẻ), Tô Hoài (Những ngõ phố), Nguyễn Huy Tưởng (Sống mãi với Thủ đô) , càng trở nên đa dạng, phức tạp, góc cạnh và nóng bỏng
hơn khi vắt sang văn học Việt Nam đương đại (qua sáng tác của các cây bút
như: Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu, Huyền thoại phố phường), Nguyễn Minh Châu (Khách ở quê ra), Nguyễn Khải (Một người Hà Nội), Hồ Anh Thái (Tự sự 265 ngày), Ma Văn Kháng (Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn