Sử dụng biện pháp bản đồ tư duy trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 .... Về việc phối hợp trong việc sử dụng các biện pháp để chuẩn hóa ngôn ngữ ch
Trang 1
TRỊNH THỊ ÉN
BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2TRỊNH THỊ ÉN
BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Ngữ Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, Khoa Sư phạm Ngữ văn đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ được giao
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới giảng viên, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Tứ đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận 1, các bạn bè đồng nghiệp, các em học sinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa học và luận văn
Mặc dù trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi đã nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 7 năm 2016
Tác giả
Trịnh Thị Én
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi khảo sát 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản và đặc điểm phần tiếng Việt trong chương trình môn Ngữ văn hiện nay 8
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.2 Nội dung phần tiếng Việt trong chương trình môn Ngữ văn THPT hiện nay 17
1.2 Cơ sở lý luận của việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên 20
1.2.1 Cơ sở triết học và nhận thức 20
1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học và Việt ngữ học 21
1.2.3 Cơ sở tâm lý lứa tuổi 22
1.2.4 Về mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh qua việc dạy tiếng Việt 23
1.3 Thực trạng dạy học phần tiếng Việt ở các Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1 24
1.3.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội Quận 1 24
Trang 51.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho
học sinh hệ Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1 28
1.3.4 Đánh giá chung về thực trạng 30
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33
2.1 Những vấn đề chung 33
2.1.1 Những yêu cầu chung về việc chuẩn hóa ngôn ngữ 33
2.1.2 Những lỗi thường gặp trong việc sử dụng tiếng Việt của học sinh Giáo dục thường xuyên Quận 1 39
2.1.3 Vai trò của việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 46
1.2.Một số biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 47
2.2.3 Sử dụng biện pháp giao tiếp để chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 55
2.2.5 Sử dụng biện pháp bản đồ tư duy trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 61
2.2.6 Sử dụng biện pháp "phi chuẩn" để chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 65
2.3 Về việc phối hợp trong việc sử dụng các biện pháp để chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 66
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm sư phạm 69
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 69
Trang 63.1.4 Cách thức thực hiện 70
3.2 Thiết kế giáo án 70
3.2.1 Bài dạy thứ nhất 70
3.2.2 Bài dạy thứ hai 75
3.2.3 Bài dạy thứ ba 79
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 84
3.3.1 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên 84
3.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh 85
3.3.3 Xử lý kết quả như sau 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7STT Chữ viết tắt Viết đầy đủ
6 PCNNSH Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
7 PCNNNT Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đặt ra từ rất lâu và đặc biệt được quan tâm của nhiều nhà giáo dục, nhất là các thầy giáo, cô giáo Trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII(1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo
dục (2005, bổ sung 2009) Điều 28.2 Luật Giáo dục nêu rõ: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh" Có thể nói cốt lõi của
việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng học sinh tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Dựa trên quan điểm chỉ đạo trên, kết hợp với những chuyển biến trong dạy học hiện đại Đòi hỏi của ngành giáo dục hiện nay là người giáo viên không chỉ thuyết giảng, truyền đạt kiến thức một chiều, thụ động mà phải biết tìm ra các phương pháp, biện pháp mới thích hợp với từng môn học Có như vậy người giáo viên mới khích thích sự sáng tạo, phát triển được trí thông minh, tạo hứng thú cho học sinh
1.2 Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng biện pháp dạy học mới vẫn còn hạn chế Các thầy cô say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà quên đi mục đích của bài dạy là gì? học sinh tiếp thu như thế nào? Đôi khi các thầy cô còn quá xem nhẹ phần tiếng Việt mà chỉ tập trung dạy đọc hiểu văn bản làm cho các em yếu kĩ năng sử dụng ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin giữa con người với con người trong xã hội Khi muốn nhận diện, khám phá một quốc gia, dân tộc thì ngôn ngữ được xem là yếu
Trang 9tố chính, không kém các yếu tố: lãnh thổ, văn hóa, kinh tế… của quốc gia, dân tộc ấy Trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, ông cha ta không chỉ bảo vệ giang sơn, bờ cõi…mà còn cố gắng giữ gìn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình Bởi ngôn ngữ không chỉ tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc
mà ngôn ngữ còn có vai trò quan trọng giúp phản ánh, ghi nhận những quan niệm, những bài học…của ông cha Xã hội phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp, phong phú… thì ngôn ngữ (tiếng Việt) cũng phải đa dạng và phong phú hơn
để phù hợp và kịp thời phản ánh sự tiến bộ xã hội Trải qua một thời gian dài, ngôn ngữ đã lớn mạnh phi thường cả về số lượng (từ, câu…) và chất lượng (sử dụng) Nhưng ngôn ngữ tiếng Việt lại phát triển vào những thời kỳ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau nên đôi khi chưa có sự thống nhất Điều này gây cản trở cho sự phát triển của ngành Giáo dục, kinh tế lẫn công nghệ khoa học nước nhà Nên yêu cầu chuẩn hóa ngôn ngữ là việc làm cấp bách trong thời đại ngày nay
Cần thấy rằng, khoa học công nghệ phát triển, một mặt góp phần tích cực thúc đẩy xã hội phát triển, nhưng đồng thời cũng kéo theo những hệ lụy không nhỏ Để tiết kiệm thời gian, các em học sinh không ngần ngại nhắn tin bằng những kí hiệu, bằng chữ viết tắt, chữ sáng tạo, các "văn hóa chát"… ồ ạt "đổ bộ" vào văn hóa học đường làm cho tiếng Việt đang dần bị biến hóa đủ kiểu Học sinh sử dụng ngôn ngữ một cách tùy tiện mà không cần biết những từ ngữ có nghĩa gì? và cách dùng như thế nào? Rồi vô tình làm cho ngôn ngữ tiếng Việt trở nên méo mó cả về chữ và về nghĩa Những hiện tượng đó đều có nguyên nhân khách quan và chủ quan Nhưng chúng ta cũng thừa nhận thực tế rằng: ngành Giáo dục dường như cung cấp cho học sinh quá nhiều kiến thức lý thuyết về ngôn ngữ học tiếng Việt nhưng lại xem nhẹ phần kỹ năng giao tiếp tiếng Việt, làm cho giờ tiếng Việt nói riêng, giờ Ngữ văn nói chung trở nên khô khan và nhàm chán không tạo được không khí hứng thú, sáng tạo…trong giờ học
Trong sự phát triển của xã hội, Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung, Quận
1 nói riêng có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng ở tất
Trang 10cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế, nhân lực… góp phần không nhỏ vào nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và phát triển nhân tài, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển xã hội Đặc biệt, Quận 1 luôn được xem là cái nôi không chỉ về kinh tế mà còn về giáo dục, là địa bàn có nhiều trường điểm của Thành Phố như: THPT Trưng Vương, THPT Bùi Thị Xuân, THPT chuyên Trần Đại Nghĩa….Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những chỗ trũng về giáo dục cần được quan tâm như Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận 1 là một ví dụ Mặc dù nằm trên địa bàn Quận 1, nhưng Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận 1 gặp không ít những khó khăn: phần vì cơ sở vật chất còn thiếu thốn, lạc hậu, địa điểm chật hẹp, thiếu sân chơi cho học sinh, phần vì các em học sinh vào trung tâm thông qua hình thức xét tuyển hoặc buộc thôi học từ trường phổ thông nên hầu hết bị mất kiến thức căn bản, yếu kỹ năng sử dụng tiếng Việt, sai nhiều lỗi chính tả, sai ngữ pháp thậm chí còn chưa nắm vững các phong cách ngôn ngữ… Điều ấy làm cho sự chênh lệch về vốn văn hóa, kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống của học sinh với một môi trường cuộc sống đô thị chuẩn mực ở Quận 1 lại càng cách biệt Mặt khác, các em thường xem nhẹ các môn học xã hội chỉ chú trọng vào các môn học tự nhiên Vì vậy, đòi hỏi người giáo viên không chỉ có kinh nghiệm, bản lĩnh mà còn phải tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi những phương pháp, biện pháp mới để kích thích sự sáng tạo, tạo hứng thú trong giờ học Văn Nhằm giúp các em hiểu về vai trò của ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ cho đúng, cho hay… là việc làm cần thiết Vì ngôn ngữ cung cấp kiến thức nền tảng, bền vững để các em thêm yêu tiếng mẹ đẻ, là hành trang vững bước vào đời
1.3 Hiện nay theo tìm hiểu của tôi, chưa có công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Trong khi đó, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới giáo dục phổ thông, thực hiện sự bình đẳng trong học tập, giáo dục
ở tất cả các hình thức, loại hình trường học, trở nên cần thiết và quan trọng Xuất
Trang 11phát từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nói trên, chúng tôi quyết định chọn
vấn đề “Biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Từ khi môn Ngữ văn (với 3 bộ phận là Làm văn, Tiếng Việt và Đọc văn), được đưa vào giảng dạy trong nhà trường thì chương trình nghiên cứu giảng dạy được triển khai ở nhiều mức độ khác nhau Đặc biệt, trong mấy chục năm gần đây, vấn đề sử dụng ngôn ngữ xã hội, ngôn ngữ trong nhà trường đã được các nhà ngôn ngữ học, nhà giáo pháp và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Rất nhiều những bài viết, những công trình nghiên cứu được đông đảo giáo viên, học sinh, công chúng đón nhận Tất cả các bài viết nhằm mục đích giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của ngôn ngữ tiếng Việt, phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Những công trình ấy cũng đóng góp không nhỏ góp phần làm cho môn Ngữ văn ở trường phổ thông thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của môn học giúp đào tạo thế hệ tương lai, đồng thời cũng phản ánh thực trạng đáng báo động việc sử dụng ngôn ngữ của lớp trẻ trong thời đại ngày nay
2.2 Chúng ta dễ dàng nhận ra được những công trình, những đề cương nghiên cứu giúp học sinh hoàn thiện hơn về ngôn ngữ và sử dụng đúng ngôn ngữ
như: Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán trong giáo trình "Phương
pháp dạy học Tiếng Việt" (Nxb GD H 1996) đề cập vấn đề sử dụng tiếng Việt
trên tất cả các phương diện từ nội dung, phương pháp, hình thức ở các phân môn Tác giả Đỗ Việt Hùng đề cập đến vấn đề "Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho học sinh qua việc giảng dạy môn tiếng Việt" trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT
chu kì 1997 - 2000 Tác giả Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb ĐN; tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD; tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb GD VN; tác giả Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb
Trang 12GD; tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Một số vấn đề mới trong phát triển và giữ gìn sự
trong sáng của Tiếng Việt, Đề tài cấp Bộ, Viện hàn lâm KHXHNV…những công
trình nghiên cứu trên là những tài liệu bổ ích, những gợi ý vô cùng quý giá giúp tôi hoàn thiện đề tài của mình
2.3 Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng gặp phải vô vàn những khó khăn từ chủ quan đến khách quan Một phần vì tình trạng học sinh ngồi nhầm chỗ vẫn còn, kỹ năng tiếng Việt yếu, một phần vì điều kiện cơ sở còn hạn chế Hầu như các công trình chỉ nghiên cứu những vấn đề về chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung, chưa thực sự phân hóa cho các đội tượng cụ thể khác nhau Mặc
dù có những điểm đồng nhất, nhưng kỹ năng ngôn ngữ của học sinh các Trung tâm Giáo dục Thường xuyên vẫn có những điểm khác biệt với học sinh các trường THPT Cho nên, cần có những nghiên cứu, đề xuất về mục tiêu, nội dung, biện pháp chuẩn hóa phù hợp với từng đối tượng học sinh Chính vì vậy, việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh là việc làm cần thiết nó không chỉ giúp các em thành thạo tự tin trong giao tiếp mà còn tạo điều kiện giúp học sinh dễ dàng nắm bắt được những môn học khác
3 Mục đích nghiên cứu
+ Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đưa ra những biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ trong giờ dạy Ngữ văn cho đối tượng hệ giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1
+ Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh hệ giáo dục thường xuyên Quận 1, Thành phố Hồ CHí Minh
4 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là đưa ra một số biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1, Thành phố Hồ
Chí Minh
Trang 134.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát hóa cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng của học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong nhà trường
- Từ việc khảo sát thực trạng, luận văn đưa ra yêu cầu, phân tích, đánh giá
và đề xuất một số biện pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả về việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
- Thiết kế giáo án thử nghiệm và thực nghiệm sư phạm trên một số đơn vị Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
4.3 Phạm vi khảo sát
Phạm vi tài liệu khảo sát của luận văn là toàn bộ các bài viết về Ngữ văn nói chung và bộ môn tiếng Việt nói riêng: phong cách ngôn ngữ, các biện pháp
tu từ…trong SGK Ngữ văn THPT Cụ thể là SGK lớp 10, 11, 12 chương trình
Cơ bản Được khảo sát, nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1 trong mấy năm gần đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, luận văn được tiến hành với các phương pháp chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê để tập hợp, thống kê các trường hợp cụ thể về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và những hiện tượng phi chuẩn trong ngôn ngữ của học sinh các Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Phương pháp so sánh - đối chiếu để có thể tìm ra những điểm đồng nhất
và khác biệt giữa ngôn ngữ của học sinh THPT nói chung và học sinh các Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm hiểu những đặc điểm, tính chất, phân loại các hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh các Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra - phỏng vấn để tìm hiểu về ý kiến của các chuyên gia giáo dục, các giáo viên, học sinh và đối tượng liên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh các Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để khảo sát, thăm dò, kiểm tra tính cần thiết, khả thi, hiệu quả của các nội dung đề xuất trong luận văn cũng như các giáo án thực nghiệm ở chương 3
6 Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần tìm hiểu cơ sở lý luận về ngôn ngữ và
sử dụng các biện pháp để chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh trung học phổ thông
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần đánh giá một cách toàn diện việc sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong giờ Ngữ văn nói chung và giờ tiếng Việt nói riêng Bước đầu đề xuất một số biện pháp có tính khả thi giúp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ giáo dục thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn trên địa bàn Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ
giáo dục thường xuyên Quận 1
Chương 2: Một số biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ giáo
dục thường xuyên Quận 1
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về ngôn ngữ
+ Theo cách hiểu thông thường: ngôn ngữ được dùng để chỉ một hệ thống
kí hiệu bất kì, dùng để diễn đạt thông báo nội dung nào đó Ví dụ: ngôn ngữ hội họa là những đường nét, màu sắc hình khối được họa sĩ sử dụng để phản ánh thế giới… Tuy nhiên, người ta cũng có thể hiểu một cách phổ biến hơn, ngôn ngữ là
hệ thống kí hiệu, bao gồm những âm, những từ và những qui tắc kết hợp các từ được dùng trong cộng đồng xã hội để giao tiếp với nhau
+ Theo lối duy danh định nghĩa: Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội gồm hai mặt: ngôn và ngữ
Ngôn là lời nói cá nhân, nghĩa là cá nhân dùng các kí hiệu, các âm, các thanh, các từ…tạo nên lời nói để diễn đạt nội dung Xã hội phát triển thì ngoài lời nói cá nhân còn dùng chữ viết để diễn đạt nội dung cần thông báo
Ngữ là phần trừu tượng, tư duy của con người nó tồn tại trong trí óc trong cộng đồng xã hội có thể là một tộc người, một tập thể…
+ Ngôn ngữ theo cách hiểu của Ferdinand de Saussure: Ngôn ngữ được xem là một thuật ngữ khoa học Trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussere cho rằng: ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn và mặt ngữ Theo ông: "ngôn ngữ là một tập thể gồm những quy ước tất yếu được tập
Trang 16thể xã hội chấp nhận, …Đó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một
hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể." Ngôn ngữ là một mã chung mà toàn thể cộng động xã hội sẽ sử dụng mã chung ấy để phục vụ nhu cầu giao tiếp của mình
Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể (tài sản chung của xã hội), lời nói là sản
phẩm của cá nhân, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, cá nhân sẽ sàng lọc, gọt giũa ngôn ngữ cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Vì ngôn ngữ là sản phẩm tập thể nên ai cũng có thể sử dụng, nhưng trong quá trình sử dụng thì mỗi cá nhân có trình độ hiểu biết khác nhau, giới tính, lứa tuổi khác nhau…nên sẽ tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ khác nhau để tạo nên sản phẩm riêng của mình
Ngôn ngữ mang tính khái quát và bền vững, bởi khi sử dụng ngôn ngữ chúng ta không thể lúc nào cũng cụ thể hóa được sự vật vì ngôn ngữ được hình thành trong quá trình tư duy và giao tiếp của con người nên nó cũng mang tính khái quát hóa và trừu tượng hóa Vì thế, muốn hiểu rõ được bản chất của ngôn ngữ thì không phải lúc nào chúng ta cũng xem xét chúng một cách độc lập mà phải đặt chúng trong những văn cảnh cụ thể Ngược lại lời nói mang tính tạm thời vì đó là sản phẩm cá nhân nên chỉ xuất hiện ngay lúc đó và mất đi nên nó không thể mang tính bền vững được
+ Theo GS Nguyễn Thiện Giáp: "Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển
tư duy Truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác" [15, tr 28]
+ Theo GS.TS Đỗ Thị Kim Liên: "Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, gồm các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, cụm từ, câu) và những qui tắc kết hợp các
Trang 17đơn vị đó tạo thành đơn vị lớn nhất - văn bản - nhằm thực hiện chức năng giao tiếp xã hội" [29, tr.9]
Tóm lại, theo nghĩa thông thường ngôn ngữ là hệ thống những kí hiệu gồm các âm, các thanh, các từ…còn theo Duy Danh định nghĩa và nhà ngôn ngữ học Saussere ngôn ngữ gồm hai mặt ngôn và ngữ Trong đó ngôn là sản phẩm cá nhân không mang tính bền vững còn ngữ là sản phẩm của cộng đồng, tập thể mang tính ổn định và khái quát cao Còn theo GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, GS.TS Đỗ Thị Kim Liên, ngôn ngữ không chỉ là hệ tín hiệu mà ngôn ngữ còn là phương tiện thực hiện chức năng giao tiếp, phát triển tư duy và lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc
Còn tiếng Việt nói riêng, xét theo loại hình, thuộc ngôn ngữ đơn lập, nó cũng nằm trong hệ thống qui luật của ngôn ngữ nói chung Tuy nhiên, nó cũng
có những điểm riêng biệt như: tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát ra tách rời nhau và được thể hiện bằng chữ viết Đặc điểm này thể hiện rất rõ ở các mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…Cũng giống như ngôn ngữ trên thế giới, tiếng Việt được thể hiện bằng hai dạng chủ yếu sau: dạng nói và dạng viết, trong phạm vi
đề tài chúng tôi chỉ xin đi sâu vào phạm vi dạng viết Vậy dạng nói và viết khác nhau như thế nào?
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ chủ yếu dùng âm thanh, giao tiếp một cách tự nhiên trong xã hội Trong đó người nói và người nghe trao đổi trực tiếp với nhau: một người tạo lập văn bản và một người lĩnh hội văn bản Vì trao đổi trực tiếp nên ngôn ngữ thường không được gọt giũa và không được chuẩn bị trước
Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ sử dụng bằng chữ viết dùng trong văn bản, không phải trao đổi trực tiếp mà được tiếp nhận bằng thị giác Ngôn ngữ thường được gọt giũa cẩn thận, tỉ mỉ
1.1.1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ
Ngôn ngữ trên thế giới nói chung được chia thành nhiều loại, nhưng xét
Trang 18theo loại hình thì ngôn ngữ được chia thành bốn loại hình sau: Loại hình ngôn ngữ hòa kết, loại hình ngôn ngữ đơn lập, loại hình ngôn ngữ chắp dính, loại hình ngôn ngữ lập khuôn hay hỗn hợp Nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu đặc điểm thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (vì đó cũng là loại hình tiếng Việt)
+ Cấp độ ngữ âm - âm vị: là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên từ, các đơn vị này
có chứa chức năng khu biệt ý nghĩa các đơn vị ở cấp độ cao hơn, nó chỉ được xem là một chuỗi các âm thanh chưa có ý nghĩa Trong ngữ âm thì âm tố là cấp
độ nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh Còn âm vị cũng được xem là đơn vị nhỏ nhất
để khu biệt phần âm thanh Chức năng của âm vị giúp người nghe khu biệt được các hình vị và từ trong các văn cảnh nhất định
+ Cấp độ hình vị: Có hai mặt âm thanh và ý nghĩa Nhưng chưa được xem
là từ vì chưa có chức năng kết hợp để tạo thành câu mà chỉ có chức năng cấu tạo
từ Vì thế hình vị được xem là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo từ
+ Cấp độ từ vựng: Được xem là một từ hoàn chỉnh, có hai mặt cụ thể là
âm thanh và ý nghĩa, có chức năng kết hợp thành câu cụ thể trong từng văn cảnh
+ Cấp độ câu: hay còn gọi là câu, cũng được xem xét trên hai mặt cụ thể thứ nhất là đảm nhiệm chức năng thông báo, mặt thứ hai được xem xét theo các kiểu câu cụ thể tùy từng văn cảnh
+ Cấp độ văn bản: Trước kia các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại ở cấp độ câu, nhưng ngày nay, ngôn ngữ học ngày càng phát triển, các nhà nghiên cứu đã
đi sâu nghiên cứu cấp độ văn bản Nghĩa là mỗi một văn bản được tạo nên bởi nhiều câu Và mỗi một văn bản tùy thuộc vào nội dung và mục đích sẽ được tạo nên nhờ các phong cách khác nhau
Bên cạnh những đặc điểm chung thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập thì ngôn ngữ tiếng Việt cũng có một số điểm cần lưu ý sau:
+ Về mặt ngữ âm
- Mỗi một "tiếng" được xem là một âm tiết, về mặt âm vị tiếng Việt phong
Trang 19phú và cân đối Khi tạo câu, tạo lời người Việt rất chú ý hòa âm Nên khi đứng trước một câu văn hay một câu thơ, muốn xác định các tiếng là điều không khó khăn vì cứ một tiếng tương ứng với một chữ
- Trong âm vị học, tiếng Việt có 5 hệ thống âm vị (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu) Do cấu trúc ổn định, rõ ràng khiến cho việc dạy đánh vần, ghép vần, âm tiết không gặp khó khăn
- Trong quá trình sử dụng ngữ âm, người Việt luôn chú trọng tạo nên những ngữ âm vừa hài hòa vừa trầm bổng tạo nên những từ không chỉ đúng mà còn hay
+ Về mặt câu:
Trong tiếng Việt từ không biến đổi hình thái, việc sắp xếp từ theo một trật
tự nhất định là cách chủ yếu biểu thị quan hệ cú pháp Thường thì trong cú pháp tiếng Việt trật tự thuận là: chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau Tuy nhiên tùy từng văn cảnh có thể thay đổi linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất
+ Về văn bản: tùy theo từng văn cảnh, mục đích sử dụng mà chúng ta cũng
sử dụng văn bản theo từng phong cách khác nhau để phù hợp với đặc trưng, nội dung diễn đạt của văn cảnh đó
1.1.1.3 Vai trò và vị trí của ngôn ngữ
a Vai trò của ngôn ngữ trong việc phát triển năng lực toàn diện cho học sinh
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với con người, ngôn ngữ góp phần hoàn thiện con người, phân biệt con người với con vật Trong mỗi một dân tộc ngôn ngữ còn có vai trò gắn bó các nền văn hóa, là nền tảng tạo nên các giá trị, tinh hoa văn hóa, bản sắc của dân tộc mình Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện
giao tiếp, phương tiện tư duy của mội dân tộc mà ngôn ngữ còn trở thành công
cụ đoàn kết và phát triển đất nước
- Đối với học sinh ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng được thể hiện ở những mặt sau:
Trang 20Thứ nhất: ngôn ngữ được xem là công cụ giao tiếp, trao đổi thông tin giữa thầy và trò trong lớp học Nhờ vào ngôn ngữ, học sinh có điều kiện tiếp nhận tri thức, hoàn thiện hơn về tiếng Việt
Thứ hai: ngôn ngữ là công cụ của tư duy, ngôn ngữ giúp con người tư duy
vì các khái niệm, phán đoán, suy luận của tư tưởng bao giờ cũng hình thành dựa trên cơ sở ngôn ngữ Trong quá trình hình thành, ngôn ngữ và tư duy xuất hiện cùng một lúc Như chúng ta đã biết, con người muốn giao tiếp thì phải dùng ngôn ngữ, cụ thể là dùng từ, câu…Nhưng những từ, câu này phải có nghĩa chứ không phải vô nghĩa, khi sử dụng những từ câu có nghĩa đó chính là tư duy Ngôn ngữ và tư duy là hai mặt của một chỉnh thể gắn bó khăng khít với nhau Nếu ngôn ngữ phát triển thì tư duy cũng phát triển, ngược lại ngôn ngữ không phát triển thì tư duy cũng bị hạn chế và sẽ không có ý tưởng nào phát triển ngoài ngôn ngữ Vì vậy, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ là lúc học sinh cũng đang thực hiện và phát triển tư duy
Thứ ba: ngôn ngữ hình thành năng lực thẩm mĩ nghệ thuật cho học sinh Nghĩa là trong quá trình sử dụng, ngôn ngữ không chỉ tác động đến nhận thức, đến tư duy của mỗi người mà ngôn ngữ còn tạo ra giá trị thẩm mĩ, tính biểu cảm cao Giúp cho học sinh không chỉ nói đúng mà còn nói hay, không chỉ cảm nhận tác phẩm bằng nội dung mà còn cảm nhẩn tác phẩm bằng hình thức thẩm mĩ
b Ví trí của ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vị trí hết sức trọng yếu trong cuộc sống và xã hội Ngôn ngữ luôn được xem là phương tiện chính để cung cấp và tiếp nhận kiến thức từ các môn khoa học khác trong nhà trường Chính vì thế đối với Hệ thống Giáo dục Việt Nam, môn tiếng Việt nói riêng, Ngữ văn nói chung luôn được xem là một môn học quan trọng để phát triển ngôn ngữ cho học sinh Nếu ngôn ngữ không
sử dụng chuẩn sẽ là rào cản lớn của học sinh trong quá trình tiếp nhận kiến thức
Trang 211.1.1.4 Ngôn ngữ chuẩn mực
Trước khi đi tìm hiểu ngôn ngữ chuẩn mực chúng ta hãy tìm hiểu chuẩn mực là gì? Theo chúng tôi, chuẩn mực là những qui tắc tường minh hoặc hàm ẩn nhằm xác định hành vi mà được cộng đồng chấp nhận và làm theo
Nói về ngôn ngữ chuẩn mực thì có rất nhiều quan niệm khác nhau như: Theo GS Nguyễn Văn Khang thì "ngôn ngữ chuẩn mực có thể hiểu là biến thể ngôn ngữ đã qua chỉnh lí, đáp ứng nhu cầu giao tiếp đa dạng và phức tạp của cộng đồng nói năng để thực hiện hiện đại hóa"
GS Vũ Quang Hào cho rằng: "chuẩn mực ngôn ngữ được xem xét trên hai phương diện: chuẩn mực mang tính qui ước xã hội là phải được xã hội chấp nhận
và sử dụng Mặt khác chuẩn mực phải phù hợp với qui luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử"
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ luôn tồn tại và phát triển trong cái nền xã hội mà nó diễn ra Trong điều kiện lịch sử cụ thể, ngôn ngữ cũng tiếp xúc và pha tạp Trên thế giới không có một ngôn ngữ nào mang tính thuần nhất Ngôn ngữ tiếng Việt cũng vậy, không mang tính thuần nhất mà cũng tiếp thu chất liệu và tiếp nhận từ các ngôn ngữ khác Điều này cũng dẫn đến khó khăn trong việc chuẩn mực ngôn ngữ tiếng Việt Đến ngày nay, việc đưa ra những qui tắc chuẩn trong tiếng Việt vẫn còn những hạn chế và lúng túng Tuy nhiên, như thế nào đi nữa, chuẩn ngôn ngữ cũng phải đảm bảo một số lưu ý là:
- Chuẩn ngôn ngữ phải mang tính qui ước xã hội và được xã hội chấp nhận
và sử dụng
- Chuẩn ngôn ngữ mang tính bất biến, không ổn định, nó mang tính theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Vì thế "lỗi của ngày hôm qua trở thành chuẩn của ngày hôm nay, lỗi của ngày hôm nay là chuẩn của ngày mai" (Claude Haugege)
- Chuẩn hóa ngôn ngữ không phải là hiện tượng độc đoán của bất cứ một
cá nhân, hay một tập thể nào qui định hay đề ra những luật lệ ngôn ngữ mà
Trang 22không quan tâm đến qui luật ngôn ngữ Định chuẩn ngôn ngữ là quá trình vận động ngôn ngữ mang tính xã hội Chính vì thế mà GS Nguyễn Văn Khang đã từng nhận định: "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt phải bắt đầu từ chuẩn hóa tiếng Việt Chuẩn hóa không phải đưa những khuôn cứng nhắc, bất di bất dịch rồi lấy đó để "phê phán đúng sai" Chúng ta cần sớm xây dựng và ban hành chính sách về ngôn ngữ Còn trong nhà trường, người thầy phải đi trước, phải
"nêu gương" về ngôn ngữ, kiến thức ngôn ngữ của thầy được ví như chiếc ấm mới đủ rót vào những chiếc chén mới là học sinh" [23] Từ đó ta thấy vai trò nhà trường và xã hội là hết sức quan trọng
1.1.1.5 Biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ
Theo cách hiểu thông thường: biện pháp được hiểu là cách đưa ra cách làm, đưa ra những giải pháp cụ thể để giải quyết một vấn đề
Như đã nói ở trên biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ được hiểu là đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh giúp mọi người nắm và sử dụng ngôn ngữ chuẩn một cách thành thạo, tự tin, không vi phạm lỗi ngôn ngữ Biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ theo chúng tôi cần phải đảm bảo một
Thứ ba: Tùy thuộc vào điều kiện từng đơn vị mà đưa ra những biện pháp phù hợp với đơn vị đó
Biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ được xem như là đưa ra những giải pháp
cụ thể ứng dụng vào từng hoàn cảnh để thực hiện việc chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung
Trang 23Dưới đây, trong phạm vi đề tài chúng tôi đưa ra một số biện pháp chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên Quận 1 như: Biện pháp rèn luyện theo mẫu, biện pháp phân tích ngôn ngữ, biện pháp giao tiếp, biện pháp trực quan, biện pháp sử dụng bản đồ tư duy, biện "pháp phi" chuẩn để chuẩn hóa ngôn ngữ…
1.1.1.6 Học sinh hệ Giáo dục thường xuyên
Học sinh tham gia học tập tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên bao gồm học sinh trong độ tuổi và học sinh người lớn tuổi (người lao động phổ thông có
độ tuổi từ 20 trở lên), nhìn chung đa dạng về tuổi, trình độ, hoàn cảnh gia đình, kinh nghiệm, hiểu biết thực tế, động cơ, nhu cầu học tập…
Hiện nay, phần lớn đối tượng tham gia học tập tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên là học sinh đúng độ tuổi Tuy nhiên, học sinh ở trung tâm không phải qua con đường thi tuyển mà chủ yếu là xét tuyển các đối tượng có bằng tốt nghiệp THCS, các em bị buộc thôi học từ các trường THPT có nhu cầu học tập tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Ngoài ra phần lớn học sinh không đủ điều kiện vào học các trường THPT công lập, THPT dân lập hoặc các trường trung cấp chuyên nghiệp, đại đa số học sinh vẫn coi nhiệm vụ học tập là chính nhưng
so với học sinh phổ thông, trình độ nhận thức, ý thức kỷ luật và khả năng tiếp thu còn hạn chế
Đối với học sinh lớn tuổi mặc dù có mục đích học tập rõ ràng: để nâng cao trình độ, phục vụ cho nhu cầu công việc, để chuyển đổi công việc…Nhưng họ lại không có điều kiện, thời gian học tập một cách bài bản Khả năng tiếp thu bị hạn chế, hổng nhiều kiến thức căn bản nên chủ yếu là học đối phó, học theo cảm tính
là chủ yếu Đây cũng là khó khăn không chỉ đối với người học mà còn đối với cả người đứng lớp
Trang 241.1.2 Nội dung phần tiếng Việt trong chương trình môn Ngữ văn THPT hiện nay
1.1.2.1 Chương trình môn Ngữ văn trong phân phối chương trình THPT hiện nay
Ngữ văn ở đây được hiểu là bao quát cho cả Ngữ và Văn, nghĩa là cả văn học, tiếng Việt và làm văn
Về mục tiêu môn học: có 3 mục tiêu chính là:
Thứ nhất: cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản, hiện đại có tính hệ thống phù hợp với lứa tuổi và đáp ứng nguồn nhân lực cho đất nước
Thứ hai: Hình thành phát triển năng lực tiếng Việt, cảm thụ văn học và dung động thẩm mĩ
Thứ ba: Bồi dưỡng tinh thần, tình cảm, yêu thiên thiên và khơi gợi lòng tự hào dân tộc
Thực hiện tốt những mục tiêu này, học sinh sẽ dần dần hoàn thiện ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ dựa trên bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Cấu trúc của chương trình hiện hành dựa trên nguyên tắc tích hợp tất cả các kĩ năng nhằm hoàn thiện thêm kiến thức cho học sinh
Về phân phối chương trình cụ thể như sau:
Lớp 10: (chương trình chuẩn): 105 tiết; (nâng cao): 140 tiết
Lớp 11: (chương trình chuẩn): 123 tiết; (nâng cao): 140 tiết
Lớp 12: (chương trình chuẩn): 105 tiết; (nâng cao): 140 tiết
1.1.2.2 Nội dung cơ bản phần tiếng Việt trong chương trình THPT hiện nay
- Đặc trưng của môn học: gồm hai bộ phận tri thức, hệ thống tiếng Việt
và cách sử dụng tiếng Việt Tri thức tiếng Việt và hệ thống bao gồm những khái niệm cơ bản, những bộ phận học sinh cần nắm vững về mặt lý thuyết như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách được các em tiếp nhận và nắm bắt dựa trên những khái niệm Cách sử dụng chính là những qui tắc sử dụng
Trang 25trong giao tiếp xã hội, đây chính là sản phẩm của quá trình nắm bắt các tri thức và vận dụng chúng
- Nhiệm vụ của môn học:
"Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho học sinh tri thức về tiếng Việt: những tri thức có tính chất lí thuyết về hệ thống các đơn vị của tiếng Việt, về ngữ nghĩa, phong cách, nghệ thuật ngôn từ, những tri thức cơ bản về quá trình phát triển của tiếng Việt trong lịch sử, qua đấu tranh để tự khẳng định và phát triển, cũng như qua tiếp xúc với các ngôn ngữ khác Nói chung, học sinh cần đạt một trình độ tối thiểu về tri thức ngôn ngữ học để có thể vận dụng tri thức ấy vào các phạm vi của hoạt động ngôn ngữ…" (dẫn theo giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt, Lê A chủ biên, trang 11)
Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho học sinh năng lực hoạt động ngôn ngữ Học sinh PTTH cần có năng lực lĩnh hội tốt các văn bản, bao hàm năng lực
phân tích, lí giải, bình luận cái hay, cái đẹp…do nghệ thuật ngôn từ mang lại
Đồng thời học sinh cũng phải biết tạo lập những văn bản dựa trên kiến thức nền tảng Từ đó khơi gợi ý thức trách nhiệm công dân, thể hiện tình yêu đất nước qua tiếng mẹ đẻ của mình
- Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt hiện nay:
Cần phải đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt để thích nghi với điều kiện - lịch sử thay đổi Tiếng Việt cũng phải thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh Đổi mới được thể hiện cụ thể bằng phương pháp tích hợp sách giáo khoa môn Ngữ văn, đưa tiếng Việt vào những tác phẩm văn học Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp, biện pháp cũng được thực hiện linh hoạt chủ yếu là tăng ngữ liệu, tăng thực hành và hạn chế lý thuyết
Nội dung phân phối chương trình môn tiếng Việt cụ thể như sau:
Lớp 10: (chương trình chuẩn) 11/105 tiết; (nâng cao): 14/140 tiết
Lớp 11: (chương trình chuẩn) 18/123 tiết; (nâng cao): 20/140 tiết
Trang 26Lớp 12: (chương trình chuẩn) 11/105 tiết; (nâng cao): 13/140 tiết
Chương trình dạy môn tiếng Việt sẽ được xây dựng theo một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 theo một hệ thống nhất quán, tránh sự trùng lặp Tương ứng với chương trình học sinh phải đạt được ở những cấp độ tương ứng với những mức độ khác nhau phù hợp với tâm lý lứa tuổi
Mục tiêu của giáo dục hiện tại là lấy năng lực, lấy việc hình thành và phát triển năng lực cho người học làm mục tiêu trực tiếp, không lấy nội dung, chạy theo nội dung Trong các năng lực cần hình thành thì năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ lại vô cùng quan trọng Chính vì vậy, việc hình thành nội dung môn học tiếng Việt là một vấn đề cần được cân nhắc, quan tâm phù hợp
1.1.2.3 Những thuận lợi và khó khăn khi giảng dạy nội dung tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay
a Những thuận lợi của bộ môn tiếng Việt:
Môn tiếng Việt có vị trí hàng đầu ở trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp
tiểu học và trung học cơ sở Môn tiếng Việt vừa là một môn học độc lập, vừa là
một môn học công cụ hỗ trợ cho khả năng diễn đạt và tư duy tất cả các môn học khác, vì tiếng Việt thể hiện tính liên đới đến tất cả các môn học trong nhà trường
So với chương trình cũ thì chương trình mới cũng có nhiều đổi mới, đặc biệt là yêu cầu cả người dạy lẫn người học phải thực hiện được kĩ năng tích hợp Nếu làm được điều này sẽ giúp cả giáo viên và học sinh chủ động trong việc nắm bắt kiến thức
Như đã nói ở trên, ngôn ngữ tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp Vì vậy trong trường trung học phổ thông, môn tiếng Việt đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực tư duy giúp học sinh hoàn thiện các kỉ năng cơ bản
b Những khó khăn
Chương trình còn nhiều bất cập, đôi khi tình trạng quá tải về kiến thức vẫn còn, quá sức với học sinh Nội dung chương trình còn khó, khô khan chưa có
Trang 27nhiều đổi mới
Chương trình còn nặng về lý thuyết, nội dung thực hành đưa vào còn ít, chưa tạo được điều kiện cho học sinh có nhiều cơ hội thực hành để thể hiện năng lực bản thân trong giao tiếp
So với chương trình cũ chương trình mới cũng có những đổi mới đặc biệt
là phần kĩ năng tích hợp Tuy nhiên, vì chưa quen với chương trình mới, ngại thay đổi phương pháp mới nên giáo viên còn lúng túng dẫn đến chưa đạt được kết quả như mong muốn
1.2 Cơ sở lý luận của việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ Giáo dục thường xuyên
1.2.1 Cơ sở triết học và nhận thức
Con người hình thành khả năng nhận thức nhờ vào ngôn ngữ, không có ngôn ngữ, triết học không có cơ sở thể hiện tư tưởng của con người Ngược lại triết học cũng có vai trò vô cùng quan trọng là cơ sở là phương pháp luận của ngôn ngữ học, nó chi phối phương pháp và quan điểm nghiên cứu của ngôn ngữ
Vì vậy trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu ngôn ngữ các nhà nghiên cứu phải dựa trên cơ sở nền tảng của triết học
Kiến thức con người không ổn định mà có thể thay đổi và chuyển giao, nhưng sự chuyển giao ấy sẽ bị giới hạn bởi cấu trúc của hệ thần kinh con người
và cấu trúc của ngôn ngữ Nghĩa là con người không thể tiếp thu thế giới khách quan một cách trực tiếp mà thông qua sự tưởng tượng, những hình ảnh thông qua
hệ thần kinh và truyền tải ngôn ngữ Tuy nhiên ngôn ngữ cũng bị tác động bởi thế giới khách quan xã hội Từ cơ sở của triết học con người có thể tri giác, nhận thức sự việc một cách rõ ràng hơn và từ đó sẽ được thể hiện bằng ngôn ngữ
Trong nhận thức luận của Lênin đã chỉ rõ: mọi sự vật, hiện tượng khách quan mà trong đó quá trình nắm vững kiến thức tiếng Việt của học sinh đều tồn tại độc lập ý thức con người Con người nhận thức sự vật, hiện tượng từ những
Trang 28trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng để cải tạo thế giới khách quan đem lại những lợi ích đáng kể cho con người Việc học sinh nắm vững được qui luật tiếng Việt tức là đã làm chủ được cách thức, phương pháp tác động vào tiến trình này
Ở lứa tuổi học sinh, sự sản sinh và tiếp thu ngôn ngữ được thể hiện bằng hoạt động - hành động - ngôn ngữ Vì vậy ngôn ngữ được hình thành phát triển các cấu trúc nền tảng thuộc các cấp độ ngữ âm, ngữ nghĩa, cú pháp được biểu hiện trong các giai đoạn phát triển sớm trong hoạt động lời nói của trẻ em
1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học và Việt ngữ học
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội bởi ngôn ngữ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người do ý muốn và nhu cầu giao tiếp Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không sản sinh
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu vì vậy khi dạy từ ngữ chúng ta không thể tách rời hay cô lập nó mà phải đặt nó trong mối quan hệ nhỏ, mối quan hệ lớn với những ngôn ngữ khác Với tư cách là một tín hiệu, một đơn vị hai mặt: mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Ngôn ngữ là cơ sở khoa học chính giúp con người hình thành tư duy và phát triển tư duy
Trong ngôn ngữ có thể xem từ là một đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Nhiều từ kết hợp với nhau có nghĩa thì tạo thành câu (ngữ pháp), nhiều câu cùng diễn đạt một nội dung nhất định thì được xem là đoạn văn Trong mỗi đoạn văn được sử dụng với một kiểu từ ngữ, những kiểu câu khác nhau thì được xem là phong cách Nghĩa là từng phong cách đòi hỏi một số "khuôn mẫu" riêng về từ và câu Vậy nên khi hiểu được cách sử dụng từ, câu, phong cách nghĩa là chúng ta đã nắm bắt được cơ sở hình thành và phát triển của ngôn ngữ
Tuy nhiên, tiếng Việt hình thành thời kì đầu còn rất sơ sài Muốn tìm hiểu, nghiên cứu tiếng Việt phải có phương tiện là chữ viết mà giai đoạn này cả chữ Hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ đều hạn chế nhất định Dần dần với sự phát triển
Trang 29của xã hội, tiếng Việt ngày càng phong phú và đa dạng hơn để phục vụ cho nhu cầu của xã hội
1.2.3 Cơ sở tâm lý lứa tuổi
Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và việc hình thành kĩ năng ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau, ở mỗi lứa tuổi, kĩ năng tiếp nhận ngôn ngữ cũng
khác nhau và ngôn ngữ sẽ hoàn thiện dần theo năm tháng từ khi các em ngồi
trong ghế nhà trường đến khi các tự ra đời để lập thân, lập nghiệp
Đặc điểm của lứa tuổi này là bản thân các em có nhu cầu tự ý thức và tự khẳng định mình Các em bắt đầu quan tâm đến bản thân, đến thái độ của người khác đối với mình và cũng có nhu cầu học hỏi Lứa tuổi này cũng muốn mình trở thành người lớn thực sự, muốn được cha mẹ và thầy cô đánh giá cao và thừa nhận về năng lực nên có thể nói, giai đoạn này các em có nhu cầu phát triển ngôn ngữ và hoàn thiện ngôn ngữ để chuẩn bị hành trang bước vào đời
Lứa tuổi thanh niên ở nước ta bắt đầu từ tuổi 15 - 25, trong đó lứa tuổi học sinh THPT thuộc tuổi từ 15 - 18 tuổi, đây là lứa tuổi trưởng thành và hoàn thiện
về thể chất Vì là giai đoạn thích khẳng định mình nên việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giai đoạn này là vô cùng quan trọng trong phát triển tư duy của học sinh
Như đã nói ở trên, lứa tuổi học sinh hệ Giáo dục thường xuyên ngoài tuổi
từ 15 - 18, thì còn có những học sinh lớn tuổi (người lao động phổ thông có độ tuổi từ 20 trở lên) Những học sinh lớn tuổi cũng có những đặc điểm tâm lý riêng khác biệt so với học sinh trong độ tuổi, khác học sinh phổ thông Một trong những, khác biệt căn bản đó là yếu tố tâm lý, tác động liên quan trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của đối tượng Việc học tập của đối tượng này có mục đích
rõ ràng Người học thường đặt ra những câu hỏi: Việc học này có lợi ích thiết thực gì? dùng để làm gì? có dùng được không? nói chung họ quan tâm đến mục đích ứng dụng thiết thực trong thực tế nhiều hơn Hơn nữa, đối tượng học
Trang 30sinh này học tập hoàn toàn mang tính tự nguyện, việc học tập chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm, hiểu biết hơn là tư duy trừu tượng, tư duy khái quát Tuy nhiên, những học sinh lớn tuổi này không có điều kiện (thời gian, kinh tế…) để học tập một cách bài bản Khả năng học tập và tiếp thu hạn chế, tư tưởng học tập phân tán do phải vừa học vừa làm Đối tượng này lại có tính tự lập, có lòng tự trọng cao, có năng lực tự chịu trách nhiệm Đây cũng vừa là điều kiện thuận lợi vừa là khó khăn trong quá trình tiếp thu, hình thành, hoàn thiện vốn ngôn ngữ tiếng Việt cho họ Vì thế người giáo viên cần tìm hiểu từng đối tượng để có sự tác động ngôn ngữ phù hợp để đem lại hiệu quả
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ tham gia vào mọi hoạt động giao tiếp của con người, nó tham gia vào hoạt động nhận thức của con người từ thấp đến cao
Vì thế việc dựa vào tâm lý lứa tuổi để tác động vào nhận thức, tư duy của học sinh để giúp các các em ngày càng hoàn thiện ngôn ngữ tiếng Việt là một việc làm cần thiết trong việc hình thành kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh
1.2.4 Về mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh qua việc dạy tiếng Việt
Năng lực tiếng Việt là năng lực sử dụng trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực từ gia đình, nhà trường và xã hội Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh không chỉ tạo tính thực tiễn cao mà con giúp cho phụ huynh và nhà trường giảm bớt áp lực quá tải cho các em
Nhiệm vụ và mục tiêu để phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong chương trình phổ thông yêu cầu:
+ Hình thành và rèn luyện cho học sinh phải thực hiện 4 năng lực cơ bản sau: năng lực nói, năng lực nghe, năng lực đọc, năng lực viết Mỗi năng lực lại chia thành các năng lực cụ thể từ mức độ đơn giản đến mức độ phức tạp Để hình thành và phát triển tốt bốn năng lực nói trên học sinh cần có năng lực nhận thức
và nắm được các qui tắc cấu tạo ngôn ngữ và sử dụng chúng Thứ nhất các em
Trang 31phải nắm được qui tắc ngôn ngữ về từ, câu, văn bản sau đó vận dụng vào hoạt động giao tiếp hàng ngày
+ Giúp các em có được những hiểu biết nhất định về hệ thống tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ để sử dụng tiếng mẹ đẻ thành thạo
+ Giúp học sinh yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn bảo vệ tiếng Việt Việc phát triển năng lực ngôn ngữ không chỉ đơn giản gắn với nội dung giao tiếp hàng ngày, trong học tập mà còn là một quá trình tích hợp giữa môn tiếng Việt với các môn học khác như: công dân, lịch sử, địa lý Có như vậy các
em mới hoàn thiện dần ngôn ngữ tiếng Việt của mình
Về phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh chính là cách điều tra, phân loại, giúp học sinh nắm vững những đặc điểm vốn có của tiếng Việt Từ đó có nhưng biện pháp thích hợp nhằm tích cực, bổ sung, hoàn thiện vốn tiếng Việt cho học sinh
1.3 Thực trạng dạy học phần tiếng Việt ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1
1.3.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội Quận 1
Quận 1 là quận trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa sáu quận nội thành: Phía Bắc giáp Quận Bình Thạnh, Quận Phú nhuận có ranh giới tự nhiên là rạch Thị Nghè Giáp Quận 3 lấy đường Hai Bà Trưng và đường Nguyễn Thị Minh Khai làm ranh giới Phía Đông giáp quận 2 có ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn Phía Tây giáp Quận 5, lấy đường Nguyễn Văn Cừ làm ranh giới Phía Nam giáp Quận 4 có ranh giới tự nhiên là rạch Bến Nghé Vì là quận giáp nối với nhiều quận nội thành kết hợp với kênh rạch chằng chịt nên quận 1 có đường giao thông thuận lợi cả đường thủy lẫn đường bộ tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội
Giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho kinh tế, văn hóa, xã hội của Quận phát triển vượt bậc Từ ngày hình thành đến nay, Quận 1 luôn giữ vị trí trung tâm
Trang 32của thành phố trong tất cả các lĩnh vực từ hành chính, văn hóa, giáo dục, thương mại, dịch vụ, du lịch…
Trong địa bàn Quận 1 cũng có tỉ lệ dân trí cao so với thành phố, khoảng 50% dân số Quận 1 có trình độ Đại học và trên Đại học, đây cũng là quận có nhiều trung ương, các tổng lãnh sự quán đóng nhiều nhất trên địa bàn và cũng là quận thuộc dân số trẻ, khoảng 60% dân số có độ tuổi dưới 50% trở xuống
Bên cạnh những mặt thuận lợi Quận 1 cũng có những mặt khó khăn đáng nói, do là địa bàn phát triển kinh tế nhanh nên Quận 1 cũng thu hút nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc khác nhau Chỉ trong địa bàn Quận 1 có những dân tộc như: Hoa, Chăm, Khome, Tày, Nùng….và cũng có nhiều tôn giáo khác nhau cùng sinh sống như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao đài, Hồi giáo…mặc dù các đồng bào dân tộc, các tôn giáo luôn kề vai sát cánh cùng xây dựng Quận 1 phát triển nhưng cũng gây khó khăn trong việc quản lý
Do sức hấp dẫn trên nên Quận 1 còn thu hút được số lượng lao động phổ thông về đây học tập và lao động Quận 1 là cái nôi về văn hóa giáo dục của Thành phố, nhưng để được theo học một trường phổ thông trên địa bàn Quận 1 không phải là một điều dễ dàng Bởi các em phải đáp ứng những yêu cầu như: hầu hết các trường đều có số điểm đầu vào cao, có hộ khẩu Quận 1…Vì vậy, những lao động phổ thông các tỉnh làm việc trên địa bàn Quận 1, muốn theo học trong các trường phổ thông trên địa bàn Quận 1 là điều không thể Vì vậy, các
em đều theo học hệ Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận vì đây là những trung tâm không yêu cầu hộ khẩu Thành phố cũng không cần các em thi đầu vào, thời gian học lại linh hoạt theo từng buổi, từng khối lớp…nên giúp cho lao động
dễ dàng lựa chọn Nhưng bên cạnh đó cũng cho thấy rằng, Trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 1 chưa được quan tâm đúng mực cũng như còn nhiều vấn đề phải giải quyết như: cơ sở vật chất nhỏ hẹp, thiếu thốn, kiến thức của học sinh
Trang 33mặc dù cùng lớp nhưng rất chênh lệch nhau nên gây khó khăn cho người đứng lớp
1.3.2 Thực trạng dạy và học phần tiếng Việt ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1
Về phía giáo viên:
Để điều tra thực trạng của việc dạy và học tiếng Việt trên hai cơ sở thuộc các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1
Tên Trung tâm Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan tâm
Tổng số 10/35
(28,57%)
17/35 (48,57%)
6/35 (17,14)
2/35 (5,72)
Từ khảo sát thăm dò trên chúng ta có thể nhận thấy, môn Ngữ văn rất quan trọng đối với học sinh đặc biệt trong việc hình thành ngôn ngữ chuẩn Tuy nhiên, thực tế dạy tiếng Việt nói riêng, môn Ngữ văn nói chung đang gặp phải những khó khăn vì ngay cả giáo viên cũng phải thừa nhận rằng mình cũng mới chỉ truyền đạt được khoảng 85% kiến thức của chương trình cho học sinh, chưa phát huy được tính chủ động, tìm tòi, sáng tạo để phát triển tư duy của học sinh Hậu quả dẫn đến thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Từ thực tế giảng dạy, đa số giáo viên đều cho rằng, kiến thức tiếng Việt đưa vào chương trình nhiều, rộng… mà thời gian dành cho môn Ngữ văn lại quá ít
Thứ hai: Môn tiếng Việt là một môn học khó và khô khan, đòi hỏi người giáo viên phải biết tích hợp và linh hoạt sử dụng những phương pháp dạy mới
Trang 34Tuy nhiên, đa số các thầy cô còn lúng túng, chưa tìm ra được phương pháp dạy học tối ưu mà thường lựa chọn giải pháp an toàn sử dụng phương pháp truyền thống diễn giảng là chính
Thứ ba: Chính từ hai nguyên nhân trên nên trong quá trình dạy học người giáo viên thường truyền đạt một cách máy móc, không tạo được không khí sôi nỗi trong giờ học dẫn đến học sinh học bài thụ động, thiếu sự sáng tạo và cũng không có đam mê, hứng thú với môn Ngữ văn Vì thế dẫn đến khả năng sử dụng ngôn ngữ của các em bị hạn chế
Thiết nghĩ rằng, việc học sinh không thích học tiếng Việt thì trách nhiệm đầu tiên vẫn thuộc về người giáo viên Dù biết rằng ngoài trách nhiệm của người giáo viên thì vẫn còn những nguyên nhân khách quan khác như đã nêu trên Tuy nhiên một phần là do người giáo viên chưa thực sự đầu tư nhiều thời gian tìm ra những phương pháp mới, biện pháp mới để tạo nên không khí mới cho lớp học
có như vậy mới làm cho học sinh suy nghĩ khác về môn Ngữ văn có như vậy các
em mới sử dụng đúng được ngôn ngữ tiếng Việt
Học cho vui lòng ba mẹ
Học để đối phó thầy cô
Những lí do khác
Tổng số 103/530
(19,43%)
143/530 (26,99%)
161/530 (30,38%)
123/530 (23,20%)
Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy, đa số học sinh không thích học môn Ngữ văn nói chung và môn tiếng Việt nói riêng, dẫn đến các em cũng không
Trang 35thiết tha gì với việc chuẩn bị bài ở nhà có chăng làm mang tính đối phó trong quá trình học thì ghi chép một cách máy móc, chiếu lệ, thụ động Nhiều em còn xem môn Ngữ văn là giờ "giải lao" để chuẩn bị học các môn tiếp theo Từ thực trạng trên, chúng tôi qua tìm hiểu và tìm ra một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Do các em bị mất kiến thức căn bản, còn ham chơi, còn chán học, lười học Một số em lại do gia đình hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện
và thời gian để đầu tư vào việc học (vừa học vừa làm)
Thứ hai: Do môn học khó, khô khan, thầy cô chỉ đọc chép nên các em không được phát huy ý kiến của mình
Thứ ba: Gia đình và thầy cô đặt quá nhiều hy vọng nên tạo cho các em áp lực lớn dẫn đến tâm lý học nặng nề, nhiều khi bất mãn và không muốn học nữa
Thứ tư: Học sinh cho rằng phần tiếng Việt trong chương trình thi tốt nghiệp chiếm số điểm rất ít, hơn nữa đối với việc chọn ngành nghề ngày nay, môn Ngữ văn có số lượng ngành ít, sau khi ra trường thu nhập lại không cao Nên đôi khi cha mẹ cũng không muốn con theo học những ngành không được ưa chuộng dẫn đến các em không hứng thú với môn Ngữ văn, các em thờ ơ với môn Văn xem đó chỉ là một môn học bình thường nên không thiết tha với nó
Căn cứ vào kết quả điều tra đánh giá cả về phía giáo viên và học sinh đều cho thấy kết quả giảng dạy và học tập môn tiếng Việt trong nhà trường chưa cao Cần phải có sự đầu tư hơn nữa cả về phía xã hội, nhà trường, thầy cô và học sinh
có như thế mới làm tăng được hiệu quả của môn học
1.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh hệ giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1
1.3.3.1 Những thuận lợi
- Về mặt chủ quan:
+ Hầu hết các em sinh sống ở thành phố, nắm bắt nhanh các thiết bị khoa học kĩ thuật hiện đại nên cũng có điều kiện tiếp xúc với cái mới Các em lại
Trang 36cùng lứa tuổi giống nhau nên khả năng tiếp thu kiến thức như nhau đặc biệt là ngôn ngữ
- Về mặt khách quan:
+ Về mặt ngữ âm: Do học sinh Việt Nam nói chung, học sinh giáo dục thường xuyên nói riêng là người bản ngữ nên trong quá trính sử dụng từ, cũng không gặp khó khăn trong việc sử dụng thanh điệu cũng như xác định phương ngữ địa phương Ngược lại phương ngữ địa phương đôi khi còn làm phong phú thêm ngôn ngữ tiếng Việt trong quá trình giao tiếp
+ Về mặt ngữ pháp: Trong quá trình học từ cấp THCS, THPT về phân môn tiếng Việt các em đã được trang bị kiến thức sử dụng câu và dùng linh hoạt trong việc sử dụng các kiểu câu khác nhau, xác định loại từ trong từng văn cảnh nên lên THPT các em có những kiến thức nền tảng trong phần này giúp các em
- Về mặt khách quan:
+ Về mặt ngữ âm: Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, đa thanh (6 thanh điệu), mỗi vùng miền lại có cách phát âm khác nhau Thêm nữa, có
Trang 37những nhóm hai ba con chữ dùng để ghi lại một âm vị đơn (c, k….) ít nhiều gây khó khăn cho người học
+ Về ngữ pháp: Tiếng Việt là loại ngôn ngữ không biến hình nên khi xác định tư cách từ loại phải dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp của từ trong ngữ và trong câu chứ không xét từ loại mang tính độc lập Trong tiếng Việt lại xuất hiện hiện tượng đồng âm, gần âm, đồng nghĩa…đây là những vấn đề gây lúng túng cho người sử dụng nếu như chúng ta nắm không chắc được nghĩa của từng văn cảnh
Số lượng từ loại trong tiếng Việt khá phong phú cũng gây khó khăn cho các em học sinh khi xác định từ để sử dụng cho đúng vì ngoài những từ chuyên dụng chúng ta còn sử dụng từ lâm thời như: con, cái, chiếc, ông bà…có thể ở vùng miền này sử dụng từ lâm thời này nhưng ở vùng miền khác sẽ sử dụng từ lâm thời khác Vì thế học tiếng Việt, nói chuẩn tiếng Việt không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà con là vấn đề của văn hóa
Trật tự từ trong tiếng Việt cũng là điều đáng lưu ý, bởi khi thay đổi trật tự
ý nghĩa câu văn cũng sẽ thay đổi theo Vì vậy khi sử dụng từ trong tiếng Việt, người sử dụng phải để đúng vị trí nếu không sẽ làm thay đổi ý nghĩa câu
1.3.4 Đánh giá chung về thực trạng
Về ưu điểm: Bộ môn Ngữ văn chiếm số tiết không nhiều trong chương trình nhưng nó vẫn là một bộ môn cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nhưng lãnh đạo Trung tâm, đổi ngũ giáo viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Quận 1 không ngừng quan tâm, cố gắng tìm hiểu đưa ra những phương pháp, biện pháp mới nhằm khơi gợi không khí giờ học giúp các em cảm thấy thêm yêu tiếng mẹ đẻ của mình
Về hạn chế: Đối với học sinh hiện nay việc học môn tiếng Việt nói riêng, môn Ngữ văn nói chung là môn học khó, khô khan, dễ gây buồn ngủ…Bên cạnh
Trang 38đó các em vẫn chưa có ý thức tự học mà còn học theo chiều hướng đối phó nên càng gây khó khăn cho môn học Hơn nữa, với xu hướng chọn nghề thực dụng của lớp trẻ ngày nay, thì môn Ngữ văn không được xem trọng và không hấp dẫn bởi số lượng trường lựa chọn ngành ít, xin việc khó khăn và thu nhập không cao dẫn đến các em không mặn mà với môn học này Hơn nữa ngay từ khi bước vào Trung tâm các em đều yếu kiến thức căn bản nên gây khó khăn cho người dạy
Từ đó dẫn đến các em sử dụng ngôn ngữ ngày càng yếu dần và vô tình sử dụng sai ngôn ngữ
Nguyên nhân: Từ những ưu và khuyết điểm trên ta có thể thấy rằng việc học sinh sử dụng chưa chuẩn ngôn ngữ một phần do các em chưa thực sự hiểu bài và nắm được bài, do đó các em tiếp nhận tri thức mới còn khá lơ mơ và tù
mù, không rõ ràng… Vì vậy việc giúp các em sử dụng chuẩn ngôn ngữ là việc làm cấp bách hiện nay không chỉ đối với học sinh hệ giáo dục thường xuyên mà còn đối với tất cả học sinh nói chung Ai cũng biết rằng, khoa học công nghệ phát triển một mặt thúc đẩy xã hội phát triển, một mặt nó cũng tồn tại những hạn chế cần khắc phục Đặc biệt đó là sự "xâm lăng" văn hóa, với muôn vàn kiểu ngôn ngữ khác nhau Mà bản thân các em kiến thức tiếng Việt yếu khi có những cái mới thì rất dễ tiếp thu một cách không chọn lọc dẫn đến sự méo mó về ngôn ngữ tiếng Việt, mất đi sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng Việt Dần dần các em sử dụng không chuẩn tiếng Việt là điều đương nhiên, để giải quyết vấn đề này cần phải có sự quan tâm của toàn xã Trong đó, giáo viên là người trực tiếp khơi nguồn đam mê giúp các em có nhận thức tốt hơn về môn tiếng Việt Để làm được điều đó thì cần phải có những biện pháp dạy học cụ thể để gợi mở, dẫn dắt, tạo hứng thú phát huy khả năng tư duy cho học sinh Đồng thời học sinh cũng phải có thái độ tích cực hợp tác với thầy cô, thay đổi quan niệm và thái độ về chọn ngành và môn học này
Trang 39Tiểu kết chương 1
Như vậy, trong dạy học Ngữ văn nói chung và việc dạy tiếng Việt nói riêng sử dụng chuẩn ngôn ngữ không phải là việc làm của riêng bất cứ một ai, một tập thể nào có thể tự làm được Bởi muốn sử dụng đúng, chuẩn cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó những yếu tố xã hội, nhà trường, gia đình, bản thân học sinh là những yếu tố quan trọng Nhưng muốn làm được điều này, trước tiên cần phải nắm chắc những khái niệm mang tính tiền đề về lý luận để giúp chúng ta sử dụng đúng ngôn ngữ chuẩn mực Vì vậy trong quá trình dạy học tiếng Việt, người giáo viên luôn phải định hướng học sinh kiến thức nền tảng, từ kiến thức nền tảng hướng học sinh vào những vấn đề lớn hơn Từ đó giáo viên và học sinh sẽ tự tìm cho mình cách học phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và năng lực của bản thân, có như vậy việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho học sinh mới dễ dàng và hiệu quả
Trang 40Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH
HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 1, TP HỒ CHÍ MINH
2.1 Những vấn đề chung
2.1.1 Những yêu cầu chung về việc chuẩn hóa ngôn ngữ
2.1.1.1 Yêu cầu chuẩn hóa từ vựng
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ có một vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt nó đóng vai trò chính trong quá trình giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội cũng như ở tất cả các mặt từ: kinh
tế, giáo dục, chính trị, văn hóa…Hiểu rõ tầm quan trọng này, trong quá trình đấu tranh ông cha ta đã đổ biết bao xương máu và nước mắt để giữ gìn tiếng nói dân tộc, ngôn ngữ dân tộc Xã hội Việt Nam trãi qua nhiều giai đoạn phát triển, trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế… thì từ vựng tiếng Việt cũng lớn mạnh phi thường cả về số lượng và chất lượng Nhưng bên cạnh những mặt đạt được của tiếng Việt thì vẫn còn tồn tại nhiều chỗ chưa thống nhất trong quá trình
sử dụng Điều ấy gây cản trở trong quá trình giao tiếp, phát triển giáo dục, cũng như ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội của đất nước Vì thế việc chuẩn hóa vốn từ
là điều rất cần thiết nó không chỉ tạo điều kiện trong quá trình giao tiếp và phát triển xã hội và còn giúp con người hoàn thiện hơn về nhân cách
Để thấy rõ hơn tầm quan trọng của từ vựng, trong Từ vựng học tiếng
Việt, khẳng định: "Từ vựng của một ngôn ngữ vô cùng quan trọng, vì đó là cơ
sở, nền tảng tối cần thiết cùng với cơ sở ngữ pháp, tức là luật tạo từ và đặt câu, làm thành ngôn ngữ Việc tập hợp các từ, các hình vị là việc làm đầu tiên của những nhà làm từ điển Những nhà ngữ pháp học cũng phải để cập đến các đơn
vị cơ bản khi nghiên cứu các qui luật đặt câu, các phạm trù ngữ pháp của chúng" [16, tr.15]