1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết của ma văn kháng

119 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Tu Từ Ngữ Nghĩa Trong Tiểu Thuyết Của Ma Văn Kháng
Tác giả Nguyễn Thị Út
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp tu từ là một trong những yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng ngôn ngữ của tác phẩm văn học và phong cách nhà văn.. Vận dụng lý thuyết phong cách học nói chung và các biện pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ÚT

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ NGHĨA

TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ÚT

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ NGHĨA

TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRỊNH THỊ MAI

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Trịnh Thị Mai - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi kể từ khi nhận đề tài cho đến khi luận văn được hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt

là các thầy cô trong bộ môn Ngôn ngữ - Khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh đã tận tình dạy dỗ, cung cấp tài liệu, góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn bè, cơ quan, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

NGUYỄN THỊ ÚT

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Khái niệm về phong cách học, tu từ học và tu từ 6

1.2 Biện pháp tu từ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa 6

1.2.1 Biện pháp tu từ 6

1.2.2 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa 8

1.3 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 19

1.3.1 Tác giả Ma Văn Kháng 19

1.3.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 23

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG 30

2.1 Kết quả thống kê 30

2.2 Các biện pháp tu từ ngữ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 31

2.2.1 Biện pháp tu từ tiệm tiến 31

2.2.2 Biện pháp tu từ so sánh 43

2.2.3 Biện pháp tu từ đồng nghĩa kép 58

2.2.4 Biện pháp tu từ đối chọi 64

Tiểu kết chương 2 68

Trang 5

TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁN G 69 3.1 Vai trò của biện pháp tu từ ngữ nghĩa đối với việc khắc họa chân dung nhân vật 69 3.1.1 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa với vai trò khắc họa ngoại hình nhân vật 69 3.1.2 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa với vai trò khắc họa tính cách nhân vật 78 3.1.3 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa với vai trò khắc họa hành động của

nhân vật 84 3.1.4 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa với vai trò khắc họa trạng thái tâm lí

nhân vật 87 3.1.5 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa với vai trò khắc họa tình cảnh của

nhân vật 90 3.2 Vai trò của biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đối với việc khắc họa bức tranh thiên nhiên 92 3.2.1 Vai trò của biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong việc khắc họa bức

tranh quang cảnh miền núi phía Bắc 93 3.2.2 Vai trò của biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong việc làm nổi bật

khung cảnh Hà Nội thời kỳ đổi mới 94 3.3 Vai trò của biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong việc thể hiện thái độ của tác giả 96 3.3.1 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa là phương tiện để tác giả thể hiện

thái độ lên án cái xấu, cái phi đạo đức trước thời buổi biến động của xã hội 97 3.3.2 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa là phương tiện để tác giả thể hiện

thái độ ngợi ca cái đẹp, cái tốt 102

KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 6

Trang Bảng 2.1 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu trong tiểu thuyết Ma

Văn Kháng 30Bảng 2.2 Bảng thống kê các dạng tiệm tiến tăng dần trong tiểu thuyết

của Ma Văn Kháng 31Bảng 2.3 Các tiểu loại so sánh tu từ trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 43Bảng 2.4 Các tiểu loại biện pháp tu từ đồng nghĩa kép trong tiểu thuyết

Ma Văn Kháng 59Bảng 2.5 Các tiểu loại đối chọi trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 64

Trang 7

1 Mùa lá rụng trong vườn (MLRTV)

2 Đám cưới không có giấy giá thú (ĐCKCGGT)

3 Mưa mùa hạ (MMH)

4 Bến bờ (BB)

5 Một mình một ngựa (MMMN)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Biện pháp tu từ là một trong những yếu tố quan trọng làm nên đặc

trưng ngôn ngữ của tác phẩm văn học và phong cách nhà văn Biện pháp tu từ

là phương tiện để nhà văn chuyển tải nội dung đến với bạn đọc một cách hiệu quả nhất Do đó khám phá một tác phẩm văn học mà không phân tích các biện pháp tu từ thì không thấy hết được vẻ đẹp của một tác phẩm ngôn từ nghệ thuật

1.2 Ma Văn Kháng là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, gần 50 năm

trụ vững với nghề cầm bút ông đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm hàng chục cuốn tiểu thuyết, trên 200 truyện ngắn, và mới đây là một cuốn

hồi kí gây được nhiều tiếng vang - Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương(2009) Trong đó, tiểu thuyết của ông đóng góp một phần không nhỏ

trong việc tái hiện bức tranh xã hội trong những ngày đầu đổi mới Có thể nói, ông là một trong những nhà văn tiên phong trong phong trào đổi mới cách viết

và cách nhìn hiện thực Ngôn ngữ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng vừa bình dị vừa mới lạ, có sức lôi cuốn hấp dẫn người đọc đến lạ lùng Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho ngôn ngữ của Ma Văn Kháng chính là các biện pháp tu

từ ngữ nghĩa

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Biện pháp tu từ ngữ nghĩa

trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng để làm đối tượng nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Phong cách học tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng của ngôn ngữ Nghiên cứu về lý thuyết phong cách học ở Việt Nam đã có một số nhà Việt ngữ

như : Lê Anh Hiền (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb giáo dục, Hà Nội;

Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982)với công trình

Phong cách học tiếng Việt Nxb giáo dục, Hà Nội; Cù Đình Tú (1982) với Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt Nxb giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Thế Lịch

(1991) Từ so sánh đến ẩn dụ, Tạp chí ngôn ngữ, số 3; Nguyễn Thái Hòa (1997)

Trang 9

Dẫn luận phong cách học Nxb giáo dục, Hà Nội; Hữu Đạt (2001) Phong cách học tiếng Việt hiện đại Nxb Giáo dục Hà Nội; Đinh Trọng Lạc (1995) với hai

công trình 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt và Phong cách Tiếng

Việt (2004), Nxb giáo dục, Hà Nội… và nhiều công trình khác nữa

Vận dụng lý thuyết phong cách học nói chung và các biện pháp tu từ nói riêng để nghiên cứu tác phẩm văn học, đến nay đã có một số công trình:

Đặng Thị Hạnh (2007) với luận văn thạc sĩ Phương thức so sánh tu từ

trong ca dao tình yêu thì tìm hiểu biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu

Trần Thị Thục (2009) với luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tu từ trong thơ Chế Lan

Viên chỉ tìm hiểu biện pháp tu từ ẩn dụ trong thơ Chế Lan Viên; Lê Thị Thu

Hằng (2010) với luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Từ ngữ và biện pháp tu từ trong

hương rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận đã đi vào tìm hiểu các biện pháp tu

từ trong hai tác phẩm hương rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận

Nguyễn Đức Tồn (1990) với bài báo Chiến lược liên tưởng - so sánh

trong giao tiếp của người Việt trong “tạp chí ngôn ngữ, số 3” đã đi sâu tìm hiểu

so sánh nhưng qua chiến lược liên tưởng của người Việt…

Nguyễn Thanh (1991) với bài viết Lối so sánh trong cách nói, cách viết

của Hồ chủ tịch trong “tạp chí ngôn ngữ, số 3” đã tìm hiểu các biện pháp so

sánh trong văn chương và các văn bản bằng lời của Bác

Hoàng Kim Ngọc (2011) với công trình So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ

tình của người Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, thì tìm hiểu biện pháp

so sánh tu từ trong ca dao nhưng dưới góc nhìn tri nhận

2.2 Ma Văn Kháng là nhà văn luôn thu hút sự chú ý của dư luận Tác

phẩm của ông luôn là đối tượng nghiên cứu không chỉ đối với giới nghiên cứu phê bình văn học mà còn đối với giới ngôn ngữ học

Ma Văn Kháng rất được các nhà phê bình văn học quan tâm nghiên cứu

Có thể nói, đến nay đã có hàng trăm công trình gồm các bài viết, bài phê bình, luận văn, luận án nghiên cứu về tác phẩm của Ma Văn Kháng Chúng ta có thể điểm qua một số công trình như:

Trang 10

Thiếu Mai, Chỗ mạnh và chỗ yếu trong Mưa mùa hạ (Văn nghệ 1983,

Trần Bảo Hưng, Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của cuộc sống

gia đình hôm nay (Phụ nữ Việt Nam, 1986)

Nguyễn Văn Lưu, Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn (Văn Nghệ,

phẩm Mùa lá rụng trong vườn

Đến năm 1986, Ma Văn Kháng cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết Đám cưới

không giấy giá thú và Côi cút giữa cảnh đời Đám cưới không giấy giá thú ra

đời tạo ra một cuộc tranh luận khá dài trên báo chí và trên bàn hội thảo

Ngày 11/1/1990, tuần báo văn nghệ tổ chức một cuộc hội thảo về cuốn sách này với sự tham gia của các nhà phê bình: Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Huy Phương, Nguyễn Kiên… Các báo, tạp chí: Lao động, Văn nghệ, Người giáo viên nhân dân, Tiền phong, Hà Nội mới, Văn nghệ quân đội… đều đăng bài giới thiệu về cuốn sách

Trang 11

Còn về phương diện ngôn ngữ, tác phẩm của Ma Văn Kháng cũng đã được nghiên cứu nhưng không nhiều như phê bình văn học Có thể kể đến một

Nguyễn Thị Minh Huệ, Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Một mình

một ngựa của Ma Văn Kháng (Luận văn thạc sĩ, ĐhV,2011) v v

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Do dung lượng của một luận văn cao học cho nên chúng tôi chỉ nghiên cứu

năm tác phẩm tiêu biểu gây được tiếng vang là : Mưa mùa hạ, Đám cưới không có

giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một ngựa, Bến bờ

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê phân loại

phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp so sánh đối chiếu

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê phân loại các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết của

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong nhiều tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định taì năng của một nhà văn lão làng trong nền văn học Việt nam đương đại Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần vào giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường, nhất là các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tác phẩm văn xuôi

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết

của Ma Văn Kháng

Chương 3: Vai trò của các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết

của Ma Văn Kháng

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm về phong cách học, tu từ học và tu từ

Phong cách học được hiểu là một khoa học nghiên cứu về sự vận dụng

ngôn ngữ để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp Việc dùng thuật ngữ phong cách

học bắt đầu từ 1970 trong các bài giảng về phong cách học tiếng Việt hiện đại

- Hoàng Trọng Phiến thay cho thuật ngữ tu từ học được dùng trước đó Tuy nhiên thuật ngữ tu từ học vẫn được sử dụng để chỉ phần nghiên cứu các đặc điểm tu từ của các loại đơn vị ngôn ngữ Chính vì vậy thuật ngữ tu từ học có khả năng gợi sự liên tưởng đến nghành học về tu từ ngôn từ (cần đến sự phân tích những sắc thái và biểu cảm, cảm xúc tinh tế) mà thuật ngữ này rất thích hợp Khi được dùng với tư cách là những tính từ để chỉ những phẩm chất đối

lập với những phẩm chất ngôn từ Ví dụ nói phương tiện tu từ, biện pháp tu từ

sẽ sáng rõ hơn là nói phương tiện phong cách học, biện pháp phong cách học

Như vậy, nói đến tu từ sẽ rõ hơn là nói đến phong cách học Do đó, hiện nay, nói đến nội dung cơ bản của phong cách học tiếng Việt thì phải nói đến nội dung cơ bản nhất là phong cách chức năng và các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ tiếng Việt

1.2 Biện pháp tu từ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa

1.2.1 Biện pháp tu từ

1.2.1.1 Khái niệm biện pháp tu từ

Biện pháp tu từ là một khái niệm cơ bản của phong cách học, vì vậy khái

niệm này được hiểu khá thống nhất ở các tác giả Theo Đinh Trọng Lạc: Biện

pháp tu từ là những cách phối hợp, sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) [25, tr.142]

Trang 14

Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong hoàn cảnh

cụ thể nhằm một mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh nhằm mục đích diễn đạt lý trí [25, tr.142]

Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong quyển phong cách học tiếng

Việt thì nói rõ hơn: Biện pháp tu từ định nghĩa một cách khái quát nhất, đó là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện (không kể trung hoà hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do đó có sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng Các biện pháp tu từ được chia ra các biện pháp tu từ ngữ nghĩa, các biện pháp tu từ cú pháp, các biện pháp tu từ văn bản, các biện pháp tu từ ngữ âm [26, tr 61]

Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ thì con người sử dụng biện pháp tu từ

để làm cho lời nói trở nên bóng bẩy, hấp dẫn hơn Tuy nhiên, biện pháp tu từ trong các tác phẩm nghệ thuật có vai trò vô cùng quan trọng vì ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ mang ý nghĩa thuần tuý mà nó còn có giá trị thẩm mỹ Như vây, biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn

1.2.1.2 Phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện tu từ

Biện pháp tu từ và phương tiện tu từ là hai khái niệm của phong cách học, tuy nhiên, vẫn chưa có sự phân giới rạch ròi tách biệt giữa hai khái niệm này Hiện nay, còn nhiều ý kiến về sự phân định ranh giới giữa chúng Có nhiều tài liệu ngôn ngữ học và kể cả trong sử dụng ngôn ngữ thực tế thì biện pháp tu từ

và phưong tiện tu từ vẫn còn nhập nhằng

Một ví dụ điển hình trong quan niệm của Nguyễn Thái Hoà và Đinh Trọng Lạc cho thấy rõ điều đó Phép so sánh theo Đinh Trọng Lạc thì đó là biện pháp tu từ còn theo Nguyễn Thái Hoà thì cho là phương tiện tu từ

Hay ẩn dụ, Nguyễn Thái Hoà, Đinh Trọng Lạc cho là phương tiện tu từ còn Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú cho là biện pháp tu từ…

Trang 15

Trong 99 phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đã chia ra cụ thể, song ông vẫn nhận xét giữ chúng có mối quan hệ biện chứng Theo Đinh Trọng Lạc, phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà

ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ [25, tr 11; 99]

Như vậy, biện pháp tu từ và phương tiện tu từ thì có những nét khác biệt sau đây:

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp các đơn vị lời nói có giới hạn của đơn vị thuộc bậc cao hơn

Biện pháp tu từ được tạo ra do sử dụng các phương tiện tu từ, có thể cùng một phương tiện tu từ xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau và những phương tiện tu từ ấy có thể cùng tham gia và tạo dựng một biện pháp tu từ [25, tr 29]

Biện pháp tu từ không những được sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn vị lời nói mà biện pháp tu từ tu từ còn bị quy định bởi hệ cú đoạn giữa các đơn vị nhiều bậc khác nhau

Như vậy, ta thấy biện pháp tu từ và phương tiện tu từ cũng có những nét khác biệt, tuy chúng không tách rời nhau mà có qua hệ biện chứng lẫn nhau tạo nên cái hay, cái đẹp cho lời nói

Do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không đủ điều kiện đi sâu tìm hiểu hết tất cả các biện pháp tu từ cũng như các phương tiện tu từ mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiểu thuyết lịch sử của Ma Văn Kháng

1.2.2 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa

1.2.2.1 Khái niệm

Về khái niệm biện pháp tu từ ngữ nghĩa, nhìn chung ý kiến của các nhà nghiên cứu phong cách học tiếng Việt thống nhất Do vậy để tránh dài dòng chúng tôi chỉ xin dẫn một định nghĩa sau:

Biện pháp tu từ ngữ nghĩa là những cách kết hợp có hiệu quả tu từ, theo trình tự nối tiếp của các đơn vị từ vựng (kể cả phượng tiện tu từ) thuộc một cấp

độ trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn [25; tr153]

Trang 16

1.2.2.2 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa

Việc phân chia các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiếng Việt hiện nay chưa thật sự thống nhất ở các tài liệu khác nhau

Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học (1995) chia biện pháp tu từ ngữ

ngữ thành 11 tiểu loại nhỏ gồm các biện pháp: Điệp ngữ, đồng nghĩa kép, liệt kê

và tăng cấp, đột giáng, ngoa dụ, nói giảm, phản ngữ, phép lặng, chơi chữ, nói lái, dẫn ngữ, tập Kiều

Đinh Trọng Lạc trong hai công trình Tiếng Việt, tập 2 (giáo trình dùng trong các trường sư phạm) và 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt đã

chia ra 9 tiểu loại biện pháp tu từ ngữ nghĩa nhưng tên gọi một số biện pháp có

khác nhau Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, tác giả chia

ra: so sánh, tiệm tiến, tiệm thoái, đồng nghĩa kép, phản ngữ, nghịch ngữ, thế

đồng nghĩa, nói lái, lộng ngữ Còn trong cuốn tiếng Việt tập 2: so sánh tu từ,

đồng nghĩa kép, đối chọi, nghịch dụ, tăng dần, giảm dần, chơi chữ

Luận văn của chúng tôi chọn cách phân loại của Đinh Trọng Lạc làm cơ

sở cho đề tài Tuy nhiên có một bổ sung nhỏ đó là sát nhập biên pháp tu từ tiệm tiến và tiệm thoái vào một và có tên gọi là biện pháp tu từ tăng cấp, và chúng tôi dùng khái niệm đối chọi thay cho phản ngữ để dễ hiểu với người đọc Như vậy biện pháp tu từ ngữ nghĩa có 7 tiểu loại nhỏ Sau đây chúng tôi đi vào cụ thể từng biện pháp tu từ ngữ nghĩa

a Biện pháp tu từ so sánh

So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa quen thuộc, được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói của con người cũng như đựơc dùng nhiều trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ, các tác phẩm văn học viết bởi biện pháp so sánh tu từ là một biện pháp tu từ có khả năng nhận thức cao mang lại hình ảnh bóng bẩy cho lời nói So sánh tu từ còn có những tên gọi như so sánh hình ảnh, so sánh nghệ

thuật So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai

đối tượng khác loại của thực tế khách quan khônh đồng nhất với nhau hoàn

Trang 17

toàn mà chỉ có nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri

giác mới mẻ về đối tượng [25, tr 154]

Ví dụ:

Cổ tay em trắng như ngà Đôi mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

Cần chú ý rằng so sánh lí luận và so sánh tu từ là hai lĩnh vực khác nhau

So sánh tu từ khác so sánh logic ở tính biểu cảm, tính hình tượng và tính dị loại

Cơ sở của so sánh lý luận là dựa trên tính đồng nhất, tính đồng loại của sự vật sự

việc Tức là đối tưọng so sánh phải cùng loại, cái chuẩn so sánh phải cùng đơn

vị, đại lượng

Ví dụ:

Lan cao hơn hoa

Còn so sánh tu từ, các đối tượng đưa ra để so sánh là các đối tượng khác

loại và mục đích của so sánh là diễn tả một cách hình ảnh một đặc điểm nào đó

của đối tượng

Phân biệt như vậy để thấy sự khác nhau giữa biện pháp so sánh tu từ và

so sánh lý luận Đề tài chúng tôi chỉ quan tâm đến so sánh tu từ mà gạt đi so

(2)

Từ chỉ quan hệ

so sánh (3)

Cái được làm chuẩn so sánh (4)

Gái không chồng như phản gỗ long đinh

Trang 18

Trong đó 1 : là yếu tố được hay bị so sánh

2 : yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động

3: yếu tố thể hiện qua hệ so sánh

4 : yếu tố làm chuẩn để so sánh

Tuy nhiên trong thực tế sử dụng ngôn ngữ cũng như ý đồ sáng tác thì có nhiều trường hợp so sánh không đầy đủ bốn yếu tố nói trên mà có phần cải biến hoặc đảo trật tự so sánh

So sánh vắng yếu tố (2) gọi là so sánh chìm So sánh này tạo lên được nhiều liên tưởng cho độc giả

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

Trong cấu trúc so sánh thì yếu tố (3) có thể là những từ : như, bằng, là,

bao nhiêu…bấy nhiêu

Con sông giống như cuộc đời anh

Anh là cậu bé nhặt than

Là ông già im câu trên im lặng

Là quả dư tròn trên khoang vắng

Trang 19

Là lá sú vàmg trôi ở cửa sông

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

(Ca dao)

So sánh là biện pháp tu từ đơn giản làm cho người nghe dễ hiểu mà mang lại giá trị cảm xúc, gợi hình, gợi chiều liên tưởng vì vậy được sử dụng nhiều, đặc biệt trong ngôn ngữ nghệ thuật

Trong ngôn ngữ nghệ thuật, so sánh tu từ có vai trò quan trọng bởi nó biểu hiện đầy đủ khả năng tạo hình và khả năng diễn cảm và mang lại giá trị nhận thức cao Trong các sách phong cách học thường nhắc dến ý kiến của

Paolơ: sức mạnh của so sánh là nhận thức còn sức mạnh của ẩn dụ là biểu

cảm… [Dẫn theo phong cách học Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà (26,

tr192), Phong cách học tiếng Việt (1995)]

b.Biện pháp tu từ tiệm tiến

Cả hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đều nói đến hai phép tiệm tiến và tiệm thoái, nhưng Nguyễn Thái Hòa xếp tiệm tiến và tiệm thoái vào

một phép gọi chung là phép tăng cấp còn Đinh Trọng Lạc thì chia thành hai

dạng là tăng dần và giảm dần Theo ông, tiệm tiến là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta sắp xếp một vài thành tố của phát ngôn nói về một nội dung, một chủ đề theo trình tự tăng dần hoặc giảm dần mức độ của sắc thái ý nghĩa, biểu cảm, cảm xúc nhằm mục đích gây một ấn tượng đặc biệt tuyệt đối với nội dung trình bày và nhiều khi tao sự bất ngờ, thú vị Tiệm tiến có hai dạng tăng dần và giảm dần

Trang 20

Dựa vào cách sắp xếp của đơn vị phát ngôn mà người ta chia ra các tiểu loại tiệm tiến tăng dần như:

- Loại tiệm tiến nảy sinh trong sự sắp xếp những yếu tố gần nghĩa hoặc cùng nghĩa nêu đặc trưng cho cùng một đối tượng theo một hướng cảm xúc tăng dần

Ví du:

Tình yêu của Tố Hữu dịu dàng, đầm ấm, chan chứ kính mến và đượm cả

lòng xót thương có đôi khi đến bùi ngùi

(Nguyễn Đình Thi)

- Tiệm tiến theo cấp độ tăng dần theo kiểu mở rộng khái niệm có logic

Tồi tệ đến thế là cùng Đối đáp bốp chát, ăn miếng, trả miếng, chửi vỗ

vào mặt nhau, đanh đá hàng tôm hàng cá, thơn thớt dựng chuyện vu khống

đê tiện một cách nanh ác trơ tráo như thế này thì thật không có gì để đáng

(Hồ Chí Minh)

- Tiệm tiến giảm dần

Nếu ở tiệm tiến các từ được sắp xếp theo thứ tự tăng dần thì ở tiệm giảm dần lại theo thứ tự giảm dần tức là nghĩa của các yếu tố đi sau bao giờ cũng kém các yếu tố đi trước về mặt sắc thái biểu cảm cảm xúc hoặc ý nghĩa

Cưới nàng anh toan dẫn voi

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn

Dẫn trâu sợ họ máu hàn

Trang 21

Đồng nghĩa kép có thể là hai hoặc nhiều từ đồng nghĩa trong cũng chuỗi

lời nói để nhằm mục đích xoáy sâu hoặc nhấn mạnh mục đích muốn diễn đạt Đồng nghĩa kép có các dạng: đồng nghĩa từ điển, đồng nghĩa phủ định, đồng nghĩa miêu tả

- Đồng nghĩa từ điển: Đó là các từ đồng nghĩa có trong từ điển

(Trần Hữu Thung)

- Đồng nghĩa phủ định: Là một trong hai yếu tố là cụm từ cấu tạo từ trái

nghĩa của yếu tố liên kết kia cộng với từ phủ định

Trang 22

Ví dụ:

Người pháp đổ máu nhiều Nhân dân ta hy sinh cũng không ít

- Đồng nghĩa miêu tả: Một trong hai hoặc cả hai yếu tố liên kết là cụm từ

miêu tả một thuộc tính điển hình nào đó đủ để đại diện cho đối tượng mà nó biểu thị Kiểu thế này cho phép tận dụng khả năng nêu đặc trưng của đối tượng từ nhiều góc độ khác nhau, có nhiều dấu hiệu khác nhau vào việc thể hiện thông tin phụ đánh giá

Ví dụ:

Ngôn ngữ là cái cây vàng trong câu thơ của Gớt Câu mà LêNin rất thích

Nhà thơ lớn của nhân dân Đức đã viết: “ Mọi lý thuyết đều là màu xám nhưng

cây vàng của cuộc đời sống mãi xanh tươi”

- Đồng nghĩa lâm thời: Các yếu tố liên kết không phải là từ đồng nghĩa

nhưng nó có quan hệ ngữ nghĩa, được dùng làm yếu tố thay thế để cung cấp một lượng thông tin mới, một sự đánh giá mới về đối tượng

Ví dụ:

Hoan hô anh giải phóng quân

Kính chào anh, con người đẹp nhất!

Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất

Sống hiên ngang, bất khuất trên đời Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi

d Biện pháp tu từ đối chọi

Đối chọi có thể có cấu trúc trong câu đơn đến đoạn văn, văn bản Đối chọi còn có những tên gọi khác như phản ngữ, đối ngẫu, đối ngữ đây là biện pháp tu

từ trong đó ngưòi ta đặt trong cùng một chuỗi cú đoạn những khái niệm hình ảnh ý nghĩa đối lập nhau được diễn đạt bằng những đơn vị lời nói khác nhau, nhằm nêu bật bản chất của đối tượng được miêu tả nhờ thế đối lập tương phản

Trang 23

Nghịch ngữ có sức hấp dẫn mạnh ở hình thức phán đoán độc đáo và có sức thuyết phục lớn, nhờ ở thục chất biện chứng ở tư tưởng không giống như phản ngữ biện pháp tu từ nghịch ngữ bị hạn chế về cấu trúc những yếu tố này nằm trong những quan hệ nhất định Nghịch ngữ bao giờ cũng nằm trong một cấu trúc nhất định diễn tả bằng một cụm từ chứ không thể là câu hay cấu trúc phức tạp hơn Do kết cấu là từ hoặc cụm từ nên cấu trúc của nghịch ngữ khá đa dạng

Nghịch ngữ làm bộc lộ những mặt mâu thuẫn hoặc làm rõ hai mặt của mâu thuẫn trong cùng một hiện tượng một sự vật Trong lời nói hằng ngày nghịch ngữ

tạo ra những câu nói rất lạ tai nghe rất hay đẹp dã man, xinh đáo để, hiền kinh

khủng Đặc biệt là trong văn học nghệ thuật thì nghịch ngữ cũng hay được sử

dụng có nhiều cách kết hợp lạ làm cho văn bản thêm độc đáo khắc hoạ tính cách,

phong cách của nhà văn và tài năng ngôn ngữ của tác giả

Các ngài chiến thắng vinh quang của chúng ta thường quen thói “giáo dục” người bản xứ bằng đá đít hoặc roi vọt

g Biện pháp tu từ lộng ngữ

Biện pháp tu từ lộng ngữ còn có tên gọi là chơi chữ Đây là biện pháp dự trên sự vận dụng linh hoạt về tiềm năng ngữ âm, chữ viết từ vựng của tiếng Việt để tạo nên phần tin mới bất ngờ khác loại với phần tin cơ sở và song song tồn tại với phần tin cơ sở nhằm gây tác dụng châm biếm đả kích hoặc vui đùa [25, tr 176]

Trang 24

Chơi chữ cũng là kĩ năng để luyện tập cách sử dụng ngôn ngữ vì nó sử dụng linh hoạt các phương tiện từ vựng như từ cùng âm, từ gần âm, từ cùng nghĩa, từ gần nghĩa từ đa nghĩa, từ trái nghĩa và phương tiện ngữ pháp tách và ghép các yếu tố trong câu, đánh tráo quan hệ cú pháp làm cho cách nói thú vị mới mẻ bất ngờ Mục đích của biện pháp tu từ này là tạo ra những liên tưởng bất ngờ kích thích tình cảm và trí tuệ của con người Nó mang hai chức năng đó là chức năng nhận thức và chức năng tình cảm Biện pháp chơi chữ thể hiện tinh thần dí dỏm và sự nhạy bén của con người vì vậy người Việt rất ưa sử dụng biện pháp tu từ này Nguươì Việt thích sử dụng trong cách giao tiếp hằng ngày đặc biệt là trong văn thơ

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

(Ca dao) Biện pháp tu từ chơi chữ khá đa dạng về tiểu loại như dùng từ đồng âm gần âm:

Bà già đi chợ cầu đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn

(Ca dao) Dùng cách chiết tự:

Dịch các phiên âm nước ngoài sao cho có âm không cần gần giống lắm

nhưng mang tính hài hước ví dụ viên tướng Mỹ tên là Wesmoreland phiên âm

là vét mỡ lợn

Tách từ ghép từ: cà phê cà pháo, đi với chả đứng, đã nghèo thì hèn…

Đặc biệt là dùng phép đối rất ưa dùng trong văn chương Khi xưa nếu học đươc cái chữ là phải biết sử dụng phép đối Sử dụng lối chơi chữ phép đối khá nghiêm ngặt các từ phải đối từ, thanh đối thanh, các sắc thái tu từ cũng phải đối nhau

Trang 25

Con ruồi đậu mâm xôi đậu

Vế đối lại:

Cái kiến bò đĩa thịt bò

Cái đối với con, kiến đối ruồi, đậu đối với bò, mâm đối với đĩa, xôi đối

với thịt, đậu đối với bò

Hiểu được phép đối mới thấy cái hay, cái hàm ý sâu xa và tài năng của thơ ca ngày xưa Xưa kia khi người ta thi thố tài năng chủ yếu là ra câu đối rồi đối phương đối lại nếu đối lại được thì cũng phải là người có tài năng

Câu đố cũmg là niện pháp chơi chữ khá thú vị mang lại nhiều bất ngờ và kịch tính Khi muốn ra câu đố người đố phải là người am hiểu hết vật đưa ra đố

từ đó trên câu chữ đánh lạc hướng người nghe để người giải suy nghĩ về một đáp

án sai lệch, câu đố càng khó càng thú vị gây sự tìm tòi, tò mò cho người nghe

h Biện pháp tu từ nói lái

Biện pháp tu từ nói lái là biện pháp rất đặc trưng của tiếng Việt vì đây là thứ ngôn ngữ đơn lập ranh giới giữa các âm tiết rõ ràng nên có thể sử dụng biện pháp chơi chữ này Nói lái được sử dụng nhiều trong văn học dân gian và khẩu ngữ hằng ngày Khi nói người ta tráo đổi phụ âm đầu hoặc phần vần giữa các âm tiết cho nhau để tạo nên sự bất ngờ, hài hước thú vị

Như đã nói nói lái được dùng nhiều trong văn học dân gian với mục đích châm biếm đã kích gây trào phúng, hoặc là nhhững ám hiệu nào đó của những

người cùng tạo ra mã ngôn ngữ riêng cho mình Nói lái có rất nhiều dạng lái

đôi, lái ba, lái tư…

Cô gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi

Thày giáo tháo giày vấy đất vất đấy

Cá đối nằm trong cối đá

(Câu đố)

Cam sành nhỏ là thanh ương Ngọt mật thành đường nhắm bớ lớ anh

Trang 26

Thanh ương là tuổi mong chờ

Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà

1.3 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

1.3.1 Tác giả Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1 tháng 12 năm

1936, tại làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ (nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) Vùng quê ấy gọi là “Ô Đồng Lầm” - một cái tên gợi lên khá

rõ cái lam lũ cực nhọc

Ở tuổi thiếu niên, Đinh Trọng Đoàn tham gia quân đội, sau đó được đi học ở khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm

1954, ông đã xung phong lên vùng đất Tây Bắc, khai hoang, mở trí Đây là một

bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời ông Ông từng tâm sự rằng: “Tôi ra đi

theo biến cố của mốc lịch sử hào hùng năm 1954, mở đầu thời kỳ hòa bình lập lại, thế hệ thanh niên miền Bắc theo tiếng gọi của những Đan cô, Paven

Cooxaghin mang sứ mệnh cao đẹp đi đến những vùng khó khăn nhất của đất nước Sống nhiệt thành, lửa dân tộc bùng lên, đi như viên đạn thẳng đầu, ấy là tâm thế của cả một thế hệ…” [37, tr.41]

Năm 1960, Đinh Trọng Đoàn được cử về học tại trường Đại học Sư phạm

Hà Nội Lúc đó, ông đang là hiệu trưởng trường cấp II Lào Cai, vốn viết lách cũng đang phát triển Về Hà Nội, ông được gặp gỡ nhiều thầy cô, bạn bè, tiếp xúc với nhiều trí thức và ông đã không ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm Kết thúc khóa học, Đinh Trọng Đoàn lại trở về Lào Cai tiếp tục công tác với cương

vị mới là phó tổng biên tập báo Đảng bộ Lào Cai Sau đó là làm thư ký cho ban

Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai Đến năm 1974, ông trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam

Trong một lần đi công tác ở vùng nông thôn, Đinh Trọng Đoàn làm quen với ông Ma Văn Nho Mối quan hệ thân thiết giữa hai người được nhà văn kể lại

Trang 27

như sau: “Có những lần tôi bị ốm nặng, anh Nho tiêm thuốc, trèo đèo lội suối

cõng tôi đi Rồi chúng tôi kết nghĩa anh em và tôi lấy họ Ma của anh ghép vào với tên mình thành Ma Văn Kháng” [37, tr 95]

Với một thời gian gắn bó với mảnh đất Lào Cai khá dài, Ma Văn Kháng

đã cảm nhận một cách tinh tế cuộc sống của người dân nơi đây Dần dần nhà văn càng khám phá ra những vẻ đẹp riêng rất độc đáo của con người và thiên nhiên ở miền sơn cước này Những vẻ đẹp hồn nhiên, thơ mộng dường như lúc nào cũng hiện lên lung linh trước mắt ông, khiến ông không thể không cầm bút

Và những trang văn đầu tiên về mảnh đất mà ông xem như quê hương thứ hai của mình đã đến với độc giả Sự thành công của ông là kết quả của quá trình lao động cần cù, chịu khó trong cuộc sống cũng như trong lao động nghệ thuật Ma Văn Kháng đã luôn muốn mình phải vận động, vật lộn với cuộc sống để cắt nghĩa hiện tượng và tìm ra chân lý Những gì ông từng trải, từng thấy, từng cảm nhận, khi đi vào trang văn cũng sôi động như chính cuộc đời thực của nó vậy

Năm 1976, sau khi nước nhà thống nhất, Ma Văn Kháng rời Lào Cai để trở về Hà Nội và hoạt động như một nhà văn chuyên nghiệp Từ đây, sáng tác của Ma Văn Kháng nở rộ, những gì ông nung nấu, ấp ủ bấy lâu nay được trải dài trên những trang văn, các tác phẩm ra đời nhanh chóng như một tất yếu của cuộc sống Tuy nhiên, những năm đầu sau khi trở về Hà Nội, đề tài Ma Văn Kháng phản ánh vào trong tác phẩm vẫn là cuộc sống và con người miền núi Có thể nói, đây là giai đoạn chiêm nghiệm, là sự hồi tỉnh của tiềm thức, nó thôi thúc nhà văn phải viết và viết bằng tất cả sự trải nghiệm về cuộc đời

Viết nhiều, viết khỏe và được bạn đọc đón nhận ở cả hai thể loại tiểu thuyết

và truyện ngắn Từ khi bước vào nghề văn cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần năm mươi năm cầm bút Cùng với thời gian, các tác phẩm của ông ra đời đã để lại cho độc giả những ấn tượng thật khó quên Sự nghiệp văn chương của ông được

đánh dấu bằng truyện ngắn đầu tay mang tên Phố cụt (1961) và tiểu thuyết đầu tay in năm 1976, nhưng ông bộc bạch rằng: “tự coi là qua được kỳ tập dượt là từ

Trang 28

những năm 80” Bởi vậy, sau những năm 80, nhiều tác phẩm có giá trị lần lượt ra

đời và Ma Văn Kháng đã dần khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn cũng như trong lòng người đọc

Trong thể tài tiểu thuyết, một thể tài văn xuôi được Ma Văn Kháng đặc

biệt lưu tâm tích lũy, được đánh dấu với “đứa con tinh thần đầu lòng” là Gió

rừng Nhìn một cách bao quát, sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng có thể

chia thành hai giai đoạn, trước và sau những năm đầu của thập niên 80 Tuy nhiên, mọi sự phân chia ở đây cũng chỉ mang tính tương đối Và ở mỗi giai đoạn, ông đều có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà và để lại dấu

ấn khó quên trong lòng người đọc

Trong giai đoạn đầu, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng tập trung viết về đề tài miền núi Nhìn chung, ở giai đoạn này, tiểu thuyết của ông còn mang khuynh hướng sử thi rất rõ, nhưng ông đã có đóng góp thực sự cho mảng văn học viết về miền núi

Giai đoạn sau, có thể xem Mưa mùa hạ (1982) như là một dấu mốc đánh

dấu bước chuyển trong đời văn Ma Văn Kháng Lúc này, tiểu thuyết của ông đã

có sự thay đổi rõ rệt về đề tài, tư duy nghệ thuật, đó là những tiểu thuyết hướng

về đời sống của người dân thành thị đương thời với những mặt tích cực, tiêu cực của nó

Qua từng chặng đường sáng tác, chúng ta có thể thấy rõ sự vận động của tiểu thuyết Ma Văn Kháng về quan niệm, cảm hứng nghệ thuật và bút pháp nghệ thuật Viết về cuộc sống của đồng bào dân tộc vùng cao trong suối nguồn cảm hứng sử thi còn kéo dài sau chiến tranh, ngòi bút tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã đạt được thành tựu trên nhiều phương diện Do chịu ảnh hưởng của khuynh hướng văn học sử thi, phần lớn nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được soi chiếu từ góc nhìn chính trị - xã hội, cái nhìn con người thiên về lối tư duy nhị phân rạch ròi Cũng có những dấu hiệu của sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, đó là việc tác giả đem tình yêu gắn với cảm xúc nhục thể

Trang 29

vào trang viết, song chứng kiến sự đổi thay thực sự trong tư duy nghệ thuật của

Ma Văn Kháng thì phải đợi đến chặng thứ hai trong quá trình sáng tác của ông

Đóng góp của Ma Văn Kháng trên phương diện ngôn từ đã được giáo sư

Phong khẳng định trong một bài viết của mình: Có thể nói đến một thương hiệu

Ma Văn Kháng từ Mưa mùa hạ trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều người, mọi chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng Đặc biệt là ngôn ngữ, nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ - áp cận vào thì hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng và trước đó là Tô Hoài, đó là hai trong số ít người viết có được một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng Tác giả Trần Cương trong

bài viết Mùa lá rụng trong vườn - Một đóng góp mới của Ma Văn Kháng cũng nhận xét: Càng ngày, sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng

càng nhuần nhụy với văn chương duyên dáng và trong sáng (có gọt giũa nhưng không cầu kì, kiểu cách theo lối làm văn) cùng với các thủ pháp nghệ thuật đã được vận dụng một cách thuần thục như dùng ẩn dụ, so sánh, liên tưởng, lập thế tương phản, song hành,sử dụng đối thoại…tất cả những cái đó không bề bộn, rối rắm mà được điều hành nhịp nhàng cân đối bởi một tư duy nghệ thuật cần mẫn sắc sảo Tất cả những nhận xét trên, có thể nói, gần như được kiểm chứng

đầy đủ trong cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa mà tác giả vừa cho ra mắt bạn đọc trong thời gian gần đây

Với những cống hiến hết mình cho văn nghiệp, tên tuổi cùng với những sáng tác của Ma Văn Kháng đã được khẳng định bằng một loạt những giải thưởng có giá trị

- Giải B, Hội nhà văn (1986) dành cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn

- Tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi, Hội nhà văn (1995)

- Giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ

- Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội (2009) cho cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa

Trang 30

1.3.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào như ông tâm sự văn là nghiệp không thể không viết Bắt đầu từ truyện ngắn đầu tay có tên là Phố cụt (1961), tính đến thời điểm này, ông đã công bố gần 20 đầu sách, chủ yếu là

thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Đáng chú ý như: Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết - 1979), Mưa mùa hạ (tiểu thuyết - 1982), Vùng biển ải (tiểu thuyết - 1985), Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết - 1985),Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết - 1989), Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết - 1989), Chó Bi,

Đời lưu lạc (tiểu thuyết - 1992), Ngược dòng nước lũ (tiểu thuyết - 1999), các

tập truyện ngắn: Ngày đẹp trời (1986), Vệ sĩ của Quan Châu (1988), Trái chín

mùa thu (1988), Heo may gió lộng (1992), Trăng soi sân nhỏ (1994), Ngoại thành (1996), Vòng quay cổ điển (1997)…và gần đây nhất, năm 2008, ông vừa

ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết mang tính chất tự truyện Một mình một ngựa,

Võ sĩ lên đài…

Và hiện nay bút lực của ông vẫn dồi dào, ông vẫn cho ra đời nhiều tác phẩm Trong số hàng trăm tác phẩm của Ma Văn Kháng, đặc biệt nhất là năm

tiểu thuyết: Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong

vườn, Một mình một ngựa, Bến bờ Đây là những tác phẩm gây được tiếng vang

làm xôn xao dư luận

Giai đoạn sau 1975, đặc biệt là từ những năm 80 trở đi, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã có sự chuyển hướng trên phương diện đề tài Bên cạnh đề tài quản lý xã hội là mảng đề tài đời tư - thế sự, đạo đức xã hội, một đề tài mới của văn xuôi sau 1975

Sống ở Lào Cai một thời gian khá dài nên khi chuyển công tác về Hà Nội,

Ma Văn Kháng đã “phải mất đến dăm sáu năm mới làm quen được với lớp ngôn

ngữ mới và tạo lập được cảm xúc mới” Thế nhưng, ở mảng sáng tác này ông

cũng đã có nhiều tác phẩm thành công trong việc miêu tả một xã hội thành thị sôi động nhưng đầy bất ổn trong quan hệ đời sống, đạo đức của con người

Trang 31

Chiến tranh qua đi, sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường cũng như cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai con đường Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa đang đẩy tới sự phân cực giữa đạo đức và phi đạo đức, nhân cách và phi nhân cách, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối Xã hội lúc này trở nên phức tạp hơn và đang phải đối mặt với những “căn bệnh” nguy hại Đó là nguy cơ của sự băng hoại các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống, nhân cách và bản lĩnh của mỗi con người trong xã hội đang bị thử thách

Viết về đề tài này, Ma Văn Kháng đã miêu tả cuộc sống đô thị ở tất cả các phương diện có thể nhưng ngòi bút của ông đặc biệt hướng vào việc khám phá gia đình - cái tế bào của xã hội Ông đã đặt ra nhiều vấn đề mà xã hội đang phải đối đầu: Vấn đề về khoảng cách giữa hai thế hệ, sự chông chênh của các mối

ràng buộc gia đình “Gia đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có

thể vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?” [20, tr.24] Ngược lại với quan điểm một thời xem gia đình là cái gì đó

nhỏ nhoi, không đáng kể, Ma Văn Kháng đã dành hẳn một cuốn tiểu thuyết để

viết về gia đình: Mùa lá rụng trong vườn Câu chuyện tập trung xoay quanh gia

đình ông Bằng, một gia đình trí thức cũ ở Hà Nội Cứ ngỡ rằng, với sự cố gắng duy trì nếp sống cổ truyền vốn có của ông Bằng thì gia đình ông sẽ có một cuộc sống bình yên, tốt đẹp, nhưng cuối cùng, nếp sống ấy cũng không thể nào thoát

khỏi sự chi phối của kinh tế thị trường Ở Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn

Kháng không viết về những gì to tát, điều đáng chú ý là trong gia đình ấy không biết đã có bao nhiêu chuyện xảy ra chỉ sau một năm, giữa hai mùa cây trong vườn thay lá Cừ đã bỏ ra nước ngoài phản bội Tổ quốc, Lý rời bỏ gia đình mà

đi theo một gã trai khác vào Sài Gòn, và ông Bằng cũng không còn Điều gì đã làm cho một gia đình vốn được coi là “mô phạm mẫu mực” ấy lung lay, đổ vỡ, rơi vào bi kịch?

Ma Văn Kháng đã xây dựng gia đình ông Bằng với hai lối sống trái ngược nhau Trong gia đình ấy, có những con người chọn cho mình lối sống nghiêng

Trang 32

về các giá trị tinh thần như ông Bằng, chị Hoài, vợ chồng Luận - Phượng và Cần Và một bên là những người như Lý, Cừ, đại diện cho một lối sống tự do hơn, đặt nặng vấn đề vật chất hơn Đó chính là nguyên nhân gây ra sự lủng củng, bất hòa, bất ổn trong các mối tương giao Điều mà ông Bằng mong muốn

là “cố gắng duy trì cái nền nếp có trăm ngàn điều nhỏ nhặt” để “xây dựng một gia đình hòa thuận, tôn ti trật tự, trên kính dưới nhường, trọng nghĩa khinh tài, hướng về sự phát triển đạo đức tinh thần…”, vì thế, ông luôn khuyên răn con cái

là “giữ gìn từ cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại, hợp thành văn hóa, nền tảng của đạo lý” Trong lúc ông cố gắng chủ động tạo sự cân bằng trong cuộc sống bằng cách “dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất

cả cái xấu đang tàn phá cuộc sống”, thì trái lại, Cừ và Lý luôn muốn thoát ra ngoài những ràng buộc ấy

Không đơn thuần chỉ là khoảng cách giữa hai thế hệ trong một gia đình cụ thể như gia đình ông Bằng, mà đã là một vấn đề của xã hội Vì thế, khi đặt ra vấn đề này, đồng thời Ma Văn Kháng cũng muốn nhắc lại vấn đề về tính kế thừa, bảo lưu các chuẩn mực ứng xử đạo đức truyền thống Cuộc sống sau chiến tranh có khá nhiều điều phức tạp, nên ông mong muốn rằng, mỗi người cần phải

có ý thức tự điều chỉnh bản thân, hành vi của mình cho phù hợp với thực tiễn

Về phương diện đạo đức xã hội, tính nhân văn của nhà văn được thể hiện

rõ khi ông đề cập đến vấn đề khoảng cách giữa hai thế hệ ấy một cách sâu sắc và bức thiết Nhưng nguy cơ của sự suy thoái đạo đức xã hội, sự sa sút về nhân cách của con người mà Ma Văn Kháng đề cập đến trong nhiều tiểu thuyết của mình mới là điểm thực sự gây ấn tượng cho người đọc Trong những năm trước

và sau đổi mới, xã hội có những biến động khôn lường, bằng con mắt tinh tế cộng thêm nội lực mạnh mẽ của mình ông đã nhận ra những chấn động lớn có ảnh hưởng không nhỏ đến phạm trù đạo đức nhân thế Con người lúc này chỉ biết chạy theo đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo cho tất cả Không phân biệt gái trai, già trẻ, người có học thức hay kẻ giốt nát, đồng tiền đã chi phối hết thảy

Trang 33

họ, khiến họ trở thành một con người khác chỉ trong chốc lát Không chỉ trong gia đình, ngoài xã hội, mà nơi trường học, đồng tiền cũng đã len lỏi vào tận ngõ ngách của những mô phạm Nhân cách thầy cô giáo, những người đang đứng trên bục giảng và chịu trách nhiệm về tương lai của một thế hệ mới đang dần bị sa sút chỉ vì đồng tiền, “nghề thầy đang có nguy cơ bị cào bằng như một kế sinh nhai” [24, tr.183] Thuật, một giáo viên giỏi toán của trường Trung học số 5, một người

mà trước nay Tự vẫn thán phục “đã oang oang tuyên ra rằng bất chấp giá cả

trượt lên trượt xuống, cứ mỗi cua toán luyện thi đại học là một chỉ, rằng người ta kinh doanh sản xuất thì Thuật kinh doanh giảng dạy” [24, tr.246] Với Cẩm, sau

kì thi tốt nghiệp của cái năm đầu tiên được làm hiệu trưởng, thì “cái vực thẳm đen ngòm đã ở ngay trước vành bánh xe đạp của Cẩm” Vì thế, dù là một hiệu trưởng, nhưng ông Cẩm đã bất chấp quy chế thi cử, bất chấp đạo đức nghề nghiệp đã sửa điểm cho học trò, nhằm nâng tỉ lệ tốt nghiệp của trường chỉ để cố giữ lấy cái ghế hiệu trưởng Vì tiền, vì dục vọng mà nhiều người đàn bà trở thành những kẻ phản bội đáng ghê tởm như Lý, Loan, Xuyến, Thoa… Với Lý thì “Đời chỉ là một chữ T

thôi”, nhân vật họa sĩ Hảo trong Mưa mùa hạ cũng hùng hồn tuyên bố “Thế kỷ

XX thế kỷ tiền Quân tử không tiền quân tử điên” Vì tiền mà cô Trình - cái dấu chấm phẩy, cũng đã biết nhắm vào chỗ yếu của thầy giáo Tự mà ép giá chiếc lốp

xe đạp vừa được phân phối Vì tiền mà vợ chồng Kha phải “chia tay nhau khi đã hết cả hơi sức để dằn vặt người thân” rồi đi xuất khẩu lao động

Lối sống vì vật chất như thế đã khiến cho con người đối xử với nhau tàn nhẫn hơn Và chính điều này làm cho người đọc thấy xót xa hơn khi đọc tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, bởi cái tình người đã bị thui chột đi vì đồng tiền Những tưởng rằng, trong cái đảo điên ấy vẫn còn một chỗ mà con người có thể đặt niềm tin vì nơi ấy xa cách với những vang vọng đời thường, nhưng xem ra cũng không thể nào tin được

Xã hội như đang mang trong mình những chấn thương nặng nề: mọi chuẩn mực bị đảo lộn, đạo đức nhân sinh suy thoái, tình người bị bóp nghẹt bởi

Trang 34

ma lực của đồng tiền… khiến cho con người tuyệt vọng Nhưng cái gì cũng có mặt này mặt kia, nên không vì thế mà Ma Văn Kháng khiến con người mệt mỏi với những ung nhọt đó của xã hội, ngược lại ông đã tìm lại cho người đọc một trạng thái cân bằng khi đến với tiểu thuyết của ông Ma Văn Kháng đã nhìn cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó Nghĩa là khi viết về cái ác, cái phi đạo đức, Ma Văn Kháng cũng không quên đi tìm và tạo dựng nên nhiều cái đẹp, cái tốt để cho con người đặt niềm tin vào đó Dẫu cuộc sống này có bề bộn, phức tạp bao nhiêu thì vẫn còn nhiều những biểu tượng sáng ngời về đạo đức, đạo lý, nhân cách Đó là chị Hoài, một “người phụ nữ giầu lòng nhân ái và đầy tinh thần trách nhiệm”, một “dâu trưởng nết na, thùy mị”, “đẹp người, đẹp nết” Là chị Phượng rất “hài hòa, hợp lý, tin cậy” Và những con người đáng quý như ông Diệp, bác Tuệ, ông Thống… Hàng ngày, hàng giờ, trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và trong toàn xã hội đang diễn ra những xung đột căng thẳng về đạo đức, về nhân cách, về tư tưởng, quan niệm… Khi Ma Văn Kháng hướng về

đề tài này, ông đã khẳng định được bản lĩnh nghề nghiệp của mình Những tác phẩm của ông đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái đạo đức và phi đạo đức Những thành công đó cho thấy, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đang đi những bước vững chắc trong quá trình tiếp cận với mảng đề tài mới của văn xuôi thời kì mới Và chính hướng tiếp cận hiện thực của ông cũng là một hướng tiếp cận mới

Năm 2008, với cách viết mới, lấy cảm hứng từ niềm say mê trước vẻ đẹp kiêu hùng của con người trước cuộc đời gian truân, còn nhiều khuyết tật, đầy mặc cảm cô đơn và dạt dào sức sống mãnh liệt, nhà văn Ma Văn Kháng đã hoàn

thành cuốn sách dày 370 trang chia thành 18 chương có tên Một mình một ngựa

Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh ở O tròn (nơi sơ tán của cơ quan tỉnh ủy Hoàng Liên trong những năm chống Mỹ) với các nhân vật trung tâm là những người cộng sản trong tỉnh ủy: năm ông thường vụ, năm ông trợ lí và gần chục cán bộ văn phòng tỉnh ủy Tất cả đều là Đảng viên ở những vị trí quan trọng

Trang 35

Bằng sự phát hiện nhạy bén, phân tích tâm lí vững vàng, nhận thức sắc sảo đặc biệt của nhà văn chính luận…Ma Văn Kháng đã dẫn độc giả cùng Toàn (một thầy giáo dạy văn - nhân vật chính của tiểu thuyết) thâm nhập, hòa đồng vào cơ quan đầu não của tỉnh Hoàng Liên, gặp gỡ tiếp xúc với từng người để hiểu cặn

kẽ về họ từ ngoại hình, lí lịch xuất thân, quá trình công tác, cái tốt lẫn cái xấu, những việc làm thăng hoa bay bổng và cả những phút yếu lòng sa ngã xuống vực thẳm Ngòi bút Ma Văn Kháng thể hiện cái nhìn nghiêm khắc, thấu lí đạt tình như một công tố viên trong phiên tòa: ông môt xẻ, phân tích đúng sai, cân

đo giữa công và tội và bằng lí lẽ cái đầu lạnh duy ysc hí và trái tim nhân văn đậm tình người của mình Năm ông thường vụ tỉnh ủy Hoàng Liên, năm con người cụ thể bằng xương bằng thịt, sống động phức tạp và cũng rối rắm biết chừng nào Mỗi người phụ trách mỗi công việc, trong một hoàn cảnh riêng, tình cách đều mạnh mẽ, khác biệt Họ phần đông là bảo thủ, cá nhân, cho mình là tài giỏi phi thường Mỗi người có cách lãnh đạo, xử lú riêng; đúng đắn, xuất sắc, sáng tạo đến mức anh hùng

Cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện Các sự kiện, tình huống, tâm trạng, hàng động của nhân vật ông giáo Toàn về cơ bản chính là những gì tác giả

đã nếm trải Các nhân vật khác trong sách đều có nguyên mẫu Nhưng tất nhiên, tất cả đã được tiểu thuyết hóa theo yêu cầu của thể loại

Bến bờ (2011) là sự đấu tranh quyết liệt của những mâu thuẫn xã hội đối

kháng - mâu thuẫn giữa hai lực lượng: Thiện (số đông) và Ác (số ít); giữa người

trừng trị, tiêu diệt sự xấu xa bỉ tiện và kẻ gieo mầm cái chết độc hại; mà ông đã không ngần ngại, né tránh những biểu hiện tiêu cực, mâu thuẫn nội bộ ngay trong hàng ngũ ta Cá biệt trong hàng ngũ công an, tức phía ta, vẫn nẩy nòi bọn người xấu, tà tâm, trí mọn Chúng chưa bị vạch mặt, lộ tẩy ngay,mà vẫn còn chỗ

để ẩn náu, vẫn lừa mị được người khác bằng thói giả nhân, giả nghĩa

Nguy hiểm hơn, bọn người này đang trượt sâu xuống vũng bùn tha hóa, biến chất, biến bạn thành thù, thù thành bạn: đố kỵ, hãm hại đồng nghiệp, thậm

Trang 36

chí câu kết với tội phạm hoặc “thông lưng” với chúng, chạy án cho chúng Ma Văn Kháng có cái nhìn phê phán trước những hiện tượng tiêu cực “con sâu làm rầu nồi canh” này

Hiện nay tuy đã bước vào tuổi bát thập nhưng ngòi bút của Ma Văn

Kháng vẫn rất sung sức, ông vẫn cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị như: Một

nhan sắc đàn bà,Võ sĩ lên đài, Chuyện của Lý,…

Trang 37

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA MA VĂN KHÁNG

2.1 Kết quả thống kê

Qua khảo sát năm tác phẩm Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá

thú, Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một ngựa, Bến bờ, chúng tôi thấy có bốn

biện pháp tu từ ngữ nghĩa được sử dụng chủ yếu là : tiệm tiến, so sánh, đồng nghĩa kép và biện pháp đối chọi Tổng số lượt dùng các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong năm tác phẩm là 2957 lượt Trong đó biện pháp tu từ tiệm tiến là biện pháp được tác giả dùng nhiều nhất (1462 lượt, chiếm 49,44%), đến biện pháp so sánh (866 lượt, chiếm 29,29 %), rồi đến biện pháp tu từ đồng nghĩa kép, biện pháp liệt kê và cuối cùng là tu từ đối chọi

Kết quả thống kê được thể hiện ở bảng 2.1 sau đây:

Bảng 2.1 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu

trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Trang 38

2.2 Các biện pháp tu từ ngữ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

2.2.1 Biện pháp tu từ tiệm tiến

Bảng 2.2 Bảng thống kê các dạng tiệm tiến tăng dần

trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Tổng

biện pháp

tiệm tiến

Dùng những từ hoặc cụm từ gần nghĩa nêu đặc trưng cho cùng một đối tượng theo một hướng cảm xúc

tăng dần

Trình bày tăng dần bằng việc

sử dụng liệt kê

tăng cường

Dùng từ có chung một dấu hiệu chủ đề có quá trình tăng dần được xác định bằng sự mở rộng logic nhất quán dung lượng của khái niệm làm cho

Qua khảo sát, chúng tôi thấy tiệm tiến tu từ trong năm tiểu thuyết của Ma

Văn Kháng có ba dạng: Dạng thứ nhất là dùng những từ hoặc cụm từ gần nghĩa

nêu đặc trưng cho cùng một đối tượng theo một hướng cảm xúc tăng dần; Dạng tiệm tiến thứ hai là trình bày tăng dần bằng việc sử dụng liệt kê tăng cường; Dạng tiệm tiến tăng dần thứ 3 là dùng từ có chung một dấu hiệu chủ đề có quá trình tăng dần được xác định bằng sự mở rộng logic nhất quán dung lượng của khái niệm làm cho nội dung mạch lạc rõ ràng Tất cả các tiệm tiến trong tiểu

thuyết của Ma Văn Kháng đều là tăng dần không thấy có giảm dần

Sau đây chúng tôi đi vào các dạng cụ thể:

2.2.1.1 Dạng tiệm tiến dùng những từ hoặc cụm từ gần nghĩa nêu đặc trưng cho cùng một đối tượng theo một hướng cảm xúc tăng dần

Dạng tiệm tiến này được Ma Văn Kháng sử dụng tương đối nhiều để thể hiện tăng dần về cảm giác, về mức độ hành động

Trang 39

Để miêu tả hành động của nhân vật, Ma Văn Kháng đã có những câu miêu tả rất dồn dập nhờ sử dụng phép tiệm tiến tăng dần

Lý lăn đùng ra đất, mắt sặc tiết, chân đạp, tay đấm, rồi ôm mặt khóc

hức hức một cách rất oan uổng, xót xa

[235-MLRTV]

Cả câu văn chỉ sử dụng phép tiệm tiến tăng dần Thứ nhất là lăn đùng ra

đất, đến chân đạp Đây là sự tăng dần về mức độ của hành động Tiếp đến là

một chuỗi tăng dần nữa: tay đấm đến rồi ôm mặt khóc hức là tăng dần về cảm

xúc của Lý - một nhân vật phụ nữ đanh đá sắc sảo coi trọng đồng tiền trong tác

phẩm “ Mùa lá rụng trong vườn” Qua các từ ngữ sắp xếp theo hướng tăng dần

tác giả đã lột tả hết tận cùng trạng thái cảm xúc của Lý khi chị nghĩ mình bị oan,

xuềnh xoàng dễ dãi là một bản lĩnh cứng cỏi kiên định Một tâm hồn đa cảm

Một trí tuệ sắc bén Một nội tâm phong phú luôn hướng về cái đẹp Một tấm lòng tự trọng Một kẻ luôn biết cương cường bảo vệ mình!

[371,372- MMMN] Các cụm từ gần nghĩa nêu rõ tính cách của nhân vật Toàn theo trật tự tăng tiến, khẳng định chắc chắn Qua đó người đọc có thể cảm nhận rõ những phẩm chất cao đẹp của anh giáo Toàn

Đoạn văn nữa nói về nhân vật Lý trong tác phẩm “ Mùa lá rụng trong vườn”

Tồi tệ đến thế là cùng Đối đáp bốp chát, ăn miếng, trả miếng, chửi vỗ mặt

nhau, đanh đá hàng tôm hàng cá, thơn thớt dựng chuyện, vu khống đê tiện một cách nanh ác, trơ tráo như thế này thì thật không còn gì để đáng nói nữa

[234- MLRTV]

Trang 40

Trong đoạn văn trên, hàng loạt cụm từ chỉ hành động, tích cách của nhân

vật Lý được sắp xếp theo chiều tăng dần Đối đáp bốp chát, ăn miếng, trả miếng,

chửi vỗ mặt nhau, đanh đá hàng tôm hàng cá, thơn thớt dựng chuyện đã làm rõ

được tính cách nanh nọc của Lý, con dâu ông Bằng đến mức không còn gì để

Ví dụ khi nói về vẻ ngoài của Lý, tác giả đã viết: Cái áo thật là đẹp! Áo

liền mũ Vải téclen, màu sôcôla, cao sang từ chất vải tới sắc màu, kiểu cách

Chưa hết! Còn lần bông lót trong Chưa hết! Còn cái khoá Chưa hết, khi cái khoá kéo tuột xuống, mắt Phượng lại một lần nữa chói loá vì những mảng màu đối lập, nóng ấm ở cái áo len khuôn bó thân hình Lý và Lý lại một lần nữa hiện ra dưới một sắc hình khác hẳn thường ngày Lý trẻ trung, mới mẻ

nhân vật Nam trong tác phẩm “ Mưa mùa hạ”

Có lẽ nào đời bạc đãi đến kiệt cùng như thế với Nam? Có lẽ nào đời con người đáng yêu, đáng quý này toàn những chương bi đát! Con người này

đáng phải được đời ưu đãi vào bậc nhất Vì con người này suốt cuộc đời đã

chống lại sự gian trá trong công việc, đã tận tuỵ hiến dâng toàn bộ sức lực, trí tuệ cho sự an toàn của những con đê Anh là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về đê Anh đã thiết kế, thi công hàng chục công trình thuỷ lợi, đê

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà (1982), Phong cáchhọc Tiếng Việt, Nxb Giáo dục. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà (1982), "Phong cách "học Tiếng Việt
Tác giả: Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2. Võ Bình
Năm: 1982
3. Diệp Quang Ban (1998,1999), Ngữ pháp tiếng Việt (I& II), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (I& II)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và phong cách học chức năng tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và phong cách học chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
6. Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam. Hà Nội
Năm: 2011
7. Đỗ Hữu Châu (1993), Đại cương ngôn ngữ học(tập 2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học(tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
11. Trương Đăng Duy (1998), “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G. Lukacs”, Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G. Lukacs”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trương Đăng Duy
Năm: 1998
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
13. Nguyễn Thiện Giáp (1994), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
14. Hoàng Văn Hành (1997), “Về bản chất thành ngữ trong so sánh tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất thành ngữ trong so sánh tiếng Việt”," Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1997
15. Đặng Thị Hạnh (2006), Phương thức so sánh tu từ trong ca dao tình yêu, Luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức so sánh tu từ trong ca dao tình yêu
Tác giả: Đặng Thị Hạnh
Năm: 2006
16. Lê Bá Hán (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Thái Hoà (1997), Dẫn luận phpng cách học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phpng cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
18. Nguyễn Thị Minh Huệ (2011), Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huệ
Năm: 2011
19. Trần Bảo Hưng (1986), “Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của cuộc sống gia đình hôm nay”, Phụ nữ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của cuộc sống gia đình hôm nay”
Tác giả: Trần Bảo Hưng
Năm: 1986
20. Ma Văn Kháng (2001), Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
22. Ma Văn Kháng (2015), Một mình một ngựa, Nxb Hội Nhà văn 23. Ma Văn Kháng (2010), Mưa mùa hạ, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một mình một ngựa", Nxb Hội Nhà văn 23. Ma Văn Kháng (2010), "Mưa mùa hạ
Tác giả: Ma Văn Kháng (2015), Một mình một ngựa, Nxb Hội Nhà văn 23. Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn 23. Ma Văn Kháng (2010)
Năm: 2010
24. Ma Văn Kháng (1990), Đám cưới không có giấy giá thú, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám cưới không có giấy giá thú
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1990
25. Đinh Trọng Lạc (1995), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
26. Đinh Trọng Lạc(chủ biên) Nguyễn Thái Hoà (1995), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc(chủ biên) Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w