1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, tỉnh tây ninh

129 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN, TỈNH TÂY NINH Chuyên ngành: Quản l

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN,

TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An - 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN,

TỈNH TÂY NINH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ SỸ TÙNG

Nghệ An - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo; các thầy giáo, cô giáo; các bạn đồng nghiệp và gia đình

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với:

- Ban giám hiệu và Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Vinh; Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An; Các thầy, cô giảng dạy lớp cao học QLGD K22 - Long An đã tạo kiện thuận lợi để học tập và bản thân hoàn thành luận văn;

- Sở Giáo dục & Đào tạo Tây Ninh; các Trung tâm GDTX; các cơ quan đoàn thể xã hội; cha mẹ học sinh trên địa bàn huyện, Tây Ninh tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn

- Gia đình đã động viên, giúp đỡ cho bản thân trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo

- PGS TS Ngô Sỹ Tùng - Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp chỉ dẫn, động viên tác giả hoàn hành luận văn này

Mặc dù tác giả đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, song chắc rằng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Lê

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

KÝ HIỆU VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Các khái niệm cơ bản 10

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng sống 10

1.2.2 Giáo dục và giáo dục kỹ năng sống 12

1.2.3 Quản lý và quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 13

1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 15

1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên 16

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 16

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên 16

1.3.3 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên 17

1.3.4 Các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh - học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên 19

1.3.5 Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 23

1.4 Vấn đề quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên 25

1.4.1 Trung tâm giáo dục thường xuyên 25

1.4.2 Mục tiêu quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 26

1.4.3 Nội dung quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 27

Trang 5

1.4.4 Các bước tiến hành quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh - học viên 30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên 32

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN, TỈNH TÂY NINH 35

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Tây Ninh 35

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35

2.1.2 Tình hình giáo dục và đào tạo 37

2.1.3 Tác động của kinh tế - xã hội địa phương đối với công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên 40

2.2 Thực trạng về kỹ năng sống của học sinh - học viên tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên 41

2.2.1 Thực trạng về nhận thức của học sinh - học viên về vấn đề kỹ năng sống 41

2.2.2 Thực trạng những biểu hiện yếu kém về kỹ năng sống học sinh - học viên tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên 42

2.2.3 Các nguyên nhân dẫn tới sự yếu kém về kỹ năng sống của học sinh - học viên 44

2.3 Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 48

2.3.1 Thực trạng nhận thức của phụ huynh và học sinh - học viên về công tác giáo dục kỹ năng sống 48

2.3.2 Thực trạng về nhận thức và mức độ thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên của đội ngũ nhà giáo 49

2.3.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên về trách nhiệm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 52

2.3.4 Thực trạng các hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 53

2.4 Thực trạng công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 55

2.4.1 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 55

2.4.2 Thực trạng việc chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 57 2.4.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Trang 6

- học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 58

2.4.4 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 59

2.5 Đánh giá chung về thực trạng 60

2.5.1 Ưu điểm 60

2.5.2 Hạn chế 61

2.5.3 Nguyên nhân 61

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH - HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN, TỈNH TÂY NINH 64

3.1 Nguyên tắc xây dựng giải pháp 64

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 64

3.1.2 Nguyên tắc tính hiệu quả 65

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất 65

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 65

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66

3.2 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 66

3.2.1 Kế hoạch hóa quá trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đối tượng học sinh - học viên và điều kiện thực tế của trung tâm 66

3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho đội ngũ giáo viên và học sinh - học viên trung tâm Giáo dục thường xuyên 69

3.2.3 Quản lý việc xây dựng các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với nội dung của các chủ đề hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh - học viên của từng khối lớp tại trung tâm Giáo dục thường xuyên 73

3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua việc xây dựng văn hóa học đường 77

3.2.5 Tăng cường phối hợp với các trung tâm Văn hóa - Thể thao - Học tập - Cộng đồng địa phương tổ chức các hoạt động ngoại khóa, chuyên đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 81

3.2.6 Xây dựng cơ chế điều hành và phối hợp thực hiện giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên 85

3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên gắn với thi đua khen thưởng 90

3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 94

3.4 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO viii

PHỤ LỤC xii

Trang 7

GDNGLL : Giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Trang

Bảng

Bảng 2.1 Bảng số liệu phân bố dân cư ở các huyện, thành phố của tỉnh Tây

Ninh đầu năm 2015 36 Bảng 2.2 Số lượng huy động HS-HV tại các trung tâm GDTX tỉnh Tây Ninh 38 Bảng 2.3 Số lượng CSVC các trung tâm GDTX năm học 2015-2016 39 Bảng 2.4 Quy mô HS-HV, cán bộ, GV năm học 2015-2016 39 Bảng 2.5 Chất lượng giáo dục toàn diện HS-HV trung tâm GDTX tỉnh Tây

Ninh 40 Bảng 2.6 Những biểu hiện yếu kém về KNS của HS-HV tại trung tâm GDTX

trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh hiện nay 42 Bảng 2.7 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thiếu kỹ năng sống của HS-

HV 45 Bảng 2.8: Mức độ nhận thức của phụ huynh, giáo viên và HS-HV về tầm quan

trọng của công tác giáo dục KNS tại các trung tâm GDTX trên địa bàn huyện tỉnh Tây Ninh 48 Bảng 2.9 Đánh giá thực trạng mức độ thực hiện của cán bộ, giáo viên về nội

dung giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX 50 Bảng 2.10 Nhận thức của giáo viên về trách nhiệm GDKNS 52 Bảng 2.11 Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho HS-HV đã đượcthực hiện

tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 54 Bảng 2.12 Kết quả đánh giá hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động giáo

dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 56 Bảng 2.13 Đánh giá của cán bộ, giáo viên về mức độ hiệu quả công tác chỉ đạo

các hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 57 Bảng 2.14 Đánh giá mức độ thường xuyên của các nội dung tổ chức thực hiện

hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX 58 Bảng 2.15 Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động

giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh 59 Bảng 2.16 Chủ đề giáo dục KNS được xây dựng theo nội dung của các chủ đề

hoạt động GDNGLL cho HS-HV của trung tâm GDTX (Lớp 10) 75 Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất 95 Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 97

Trang 9

Biểu

Biểu đồ 2.1 Nhận thức của phụ huynh, giáo viên và HS-HV về tầm quan trọng

của công tác giáo dục KNS tại các trung tâm GDTX trên địa bàn huyện tỉnh Tây Ninh 49 Biểu đồ 2.2 Mức độ thực hiện của cán bộ, giáo viên về nội dung giáo dục

KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 51 Biểu đồ 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất 96 Biểu đồ 3.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 97

Trang 10

và cái xấu, các em thường phải đương đầu với những rủi ro trong cuộc sống; những ma lực của luồng văn hóa không lành mạnh; những hiểm họa đe dọa sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập… Các em sẽ dễ bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu và thậm chí còn dính vào các tệ nạn XH nếu thiếu sự trang bị về những kỹ năng ứng phó với những mặt trái của xã hội

Với xu thế hội nhập và phát triển, đòi hỏi con người phải luôn năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng trước những tình huống thay đổi trong cuộc sống Nhằm đáp ứng yêu cầu này, mục tiêu giáo dục phổ thông của nước ta đã chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những năng lực cần thiết cho họ, đặt biệt là năng lực thực hành, vận dụng kiến thức thực tiễn

Con người trong xã hội phát triển không chỉ cần có tri thức, sức khỏe tốt

mà còn cần những kỹ năng hòa nhập, kỹ năng phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn

XH, những giá trị đạo đức, các hành vi và thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động

ứng xử văn hóa trong các mối quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật, kỹ

năng xử lý thông tin và ứng phó với sự thay đổi của môi trường kinh tế, XH và thiên nhiên… hay nói khác hơn chính là cần những KNS thích hợp Muốn có

Trang 11

các kỹ năng đó, con người phải trãi qua một quá trình tiếp thu, thích nghi, kinh nghiệm XH lâu dài Chính vì vậy mà công tác giáo dục KNS cho HS-HV đã trở thành mục tiêu và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong các trường THPT, các trung tâm GDTX hiện nay

1.2 Cơ sở thực tiễn

Sự phát triển và tiến bộ của xã hội là điều kiện cần thiết để thế hệ trẻ có

cơ hội học tập, làm việc, giao lưu và phát triển năng lực của mình Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn thấy một điều là thế hệ trẻ ngày càng chịu nhiều tác động từ xã hội; Những tác động này ngày càng phức tạp của một xã hội ngày càng phát triển và hội nhập đó chính là sự lệch chuẩn về giá trị đạo đức của một

số thanh thiếu niên Liên tục trong thời gian qua trên các mặt báo đăng những

"Hung tin" kể về những đứa con nghịch tử, những học trò chưa ngoan, khiến tất

cả mọi người không khỏi giật mình, đó là những điều ảnh hưởng rất xấu đến đạo đức của HS-HV Trong nhà trường, không ít HS-HV được coi là học khá, siêng năng nhưng vẫn vi phạm pháp luật, lừa thầy cô, dối bạn bè, có những hành vi côn đồ với chính bạn của mình, rồi những hình ảnh học viên xông lên tận bục giảng đánh thầy chỉ vì điểm kém vv Như vậy, có thể thấy rằng HS-HV này không chỉ thiếu kiến thức, mà lại mất phương hướng trong vấn đề giá trị sống hiện nay; vô cảm trước các vấn đề của xã hội, ý thức kém, ứng xử thiếu văn hóa,

do tham gia các trang mạng XH nhiều nhưng chưa biết làm chủ cảm xúc nên có những biểu hiện về tâm lý không lành mạnh Nguyên nhân sâu xa của những vấn đề trên chính là việc các em thiếu kỹ năng sống, thiếu khả năng nhận thức đúng - sai các vấn đề và chưa có các kỹ năng để ứng phó với những khó khăn của cuộc sống Vì vậy, chưa bao giờ vấn đề giáo dục KNS lại được đề cập như hiện nay, muốn thành công và sống có chất lượng trong XH hiện đại, con người phải có kỹ năng sống

Nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho HS-HV Đây cũng là một nội dung thiết thực trong chiến lược giáo dục toàn diện Từ

Trang 12

năm học 2009-2010, Bộ GD & ĐT đã có quyết định đưa KNS vào giảng dạy đại trà cho tất cả các cấp học Những năm học tiếp theo, Bộ cũng đã có chỉ thị tăng cường nội dung giảng dạy KNS, bên cạnh các nội dung như giáo dục đạo đức, pháp luật, an toàn giao thông đề ra từ các năm học trước [12] Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch năm học

Bên cạnh đó, Bộ GD & ĐT đã ban hành Chỉ thị số 40/2008/CT- BGDĐT

về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh

tích cực” giai đoạn 2008-2013 trên toàn Ngành Giáo dục Đến nay, đã có nhiều

Chỉ thị, hướng dẫn của Bộ về công tác giáo dục KNS trong nhà trường như Công văn số 463/BGD-GDTX ngày 28 tháng 01 năm 2015 về hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT, GDTX Mục đích là đẩy mạnh hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS-HV với định hướng nghề nghiệp [35] Gần đây, Bộ đã đưa nội dung giáo dục KNS vào một số môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp quốc gia năm 2015

Hiện nay, công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX trên trên địa bàn các huyện, tỉnh Tây ninh còn nhiều bất cập CBQL chưa thật sự quan tâm đúng mức, mãn công tác này chủ yếu giao cho các đoàn thể và GVCN cùng tổ chức thực hiện Để giải quyết những áp lực về chương trình, kiến thức cho HS-HV đã bị hỏng nhiều năm trước kỳ thi tốt nghiệp, Cao đẳng hay Đại học

và bắt đầu từ năm học 2014-2015, hệ GDTX thi cùng đề với THPT trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia; Giáo viên còn lo lắng khống chế thi đua cá nhân, tập

thể… nên đa số GV tại các Trung tâm GDTX chỉ tập trung thời gian “Dạy chữ

hơn là dạy người”, nhiều GVBM ít quan tâm và chú trọng tích hợp nội dung

giáo dục KNS cho HS-HV đối với bộ môn của mình vì ngại mất thời gian Chính vì vậy, qua kết quả thi tốt nghiệp THPT quốc gia 2015 môn Ngữ văn, hầu như HS-HV hệ GDTX không biết làm phần liên hệ thực tế về vấn đề giáo dục KNS hiện nay và điểm thi rất thấp

Trang 13

Mặt khác, đội ngũ giáo viên làm công tác giáo dục KNS chủ yếu là GV kiêm nhiệm hay GV tập sự, thiếu sự đào tạo và bồi dưỡng bài bản để có thế tiếp cận và dạy KNS một cách hiệu quả; nội dung thực hiện chuyên đề chưa được chọn lọc cho phù hợp với từng đối tượng; thời lượng dành cho việc giáo dục KNS cho HS-HV còn hạn hẹp Do đó, kỹ năng vận dụng cho đời sống hàng ngày còn thiếu vắng, chưa trang bị cho HS-HV các kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ (với con người, với môi trường thiên nhiên, xã hội…), hay kỹ năng ứng phó và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống chưa thể tác động nhiều đến HS-HV

Thực tế cho thấy, việc giáo dục KNS cho HS-HV vẫn chưa đạt hiệu quả cao Do đó, công tác quản lý và giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn các Huyện, tỉnh Tây Ninh hiện nay vô cùng cần thiết, và là một nhiệm vụ “Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời”

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Một

số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh” Chúng tôi mong muốn

góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý và giáo dục KNS

cho HS-HV tại các trung tâm GDTX hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản

lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm

Trang 14

GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Hiệu quả công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh sẽ được nâng cao nếu đề xuất và thực hiện một số giải pháp quản lý có tính khoa học, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn địa phương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KNS, giáo dục KNS và quản lý

công tác giáo dục KNS cho HS-HV Trung tâm GDTX

- Khảo sát và phân tích thực trạng công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện, tỉnh Tây Ninh

- Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của

Ngành GD & ĐT về vấn đề giáo dục và giáo dục KNS cho HS-HV; đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, thu thập thông tin về các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Được sử dụng nhằm xử lý số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu

Trang 15

7 Những đóng góp của luận văn

- Góp phần phát triển lý luận về giáo dục KNS, quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh

- Đề xuất một số giải pháp quản lý có tính khả thi, hiệu quả về công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh, nhất là trong giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện nền GD & ĐT hiện nay

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho

HS-HV của Trung tâm GDTX

Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống và quản lý công tác giáo

dục kỹ năng sống cho HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây

Ninh

Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho

HS-HV tại các Trung tâm GDTX cấp Huyện, tỉnh Tây Ninh

Trang 16

có đủ kỹ năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Chính vì thế, các quốc gia trên thế giới từ lâu cho rằng giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất quan trọng và không thể thiếu trong nền giáo dục của nước mình

Tuy nhiên công tác giáo dục KNS cho thế hệ trẻ vẫn gặp nhiều bất cập Trước tiên có thể thấy rằng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau, nó vừa thể hiện cái chung vừa thể hiện tính đặc thù của mỗi quốc gia Hơn nữa những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú nhưng chưa thật sự toàn diện, chưa có những tiêu chuẩn, tiêu chí đồng bộ cho việc xác định những kỹ năng cơ bản nên khó định hướng cho việc hoạch định chương trình Có thể tóm lược sự phát triển của công tác giáo dục KNS qua những giai đoạn sau:

Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “Kỹ năng sống” (Life skills) lần

đầu tiên đã được đề cập đến bởi những nhà tâm lý học thực hành, coi đó như là một khả năng quan trọng trong việc phát triển nhân cách

Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa (LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo

Trang 17

dục KNS cho thanh thiếu niên và lúc này thuật ngữ KNS đã xuất hiện trong một

số chương trình giáo dục của UNICEF Trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [41]

UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến KNS Kết quả của dự án là bức tranh tổng thể các nhận thức, quan niệm về KNS mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng Dự án chia làm 2 giai đoạn với hai nhóm nghiên cứu:

Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về KNS Câu hỏi đặt ra ở giai đoạn này cho mỗi nước là: Quan niệm về KNS như thế nào và phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người?

Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công

cụ kiểm tra

Diễn đàn giáo dục thế giới Dakar tháng 5/2000 (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp

Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia Hội thảo về giáo dục KNS cho thanh thiếu niên đã xác định mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng

ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống

Như vậy, giáo dục KNS cho học sinh đã trở thành xu hướng chung được nhiều nước trên thế giới quan tâm Ở một số quốc gia, giáo dục KNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 1995-1996 thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông, thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức

Trang 18

khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do UNICEF phối hợp với Bộ GD & ĐT, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tiến hành Từ

đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường

Từ năm 2001, thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, KNS cho trẻ

và vị thành niên” với sáng kiến và sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam, Bộ GD

& ĐT đã thực hiện các chương trình giáo dục KNS cho học sinh phổ thông ở một số tỉnh và các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2001-2005, giáo dục KNS dưới sự hỗ trợ của UNICEF nhằm hướng đến cuộc sống khỏe mạnh cho trẻ em và trẻ em chưa thành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như: Dự án “Trường học nâng cao sức khỏe” của Bộ

GD & ĐT, Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới

Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh

và kỹ năng sống” Ngoài ngành giáo dục, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức Chính trị xã hội là Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Cùng với việc triển khai các chương trình nêu trên, vấn đề KNS và giáo dục KNS cho HS-HV đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Một số bài viết và công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Giáo dục kỹ năng sống”, giáo trình dành cho sinh viên Cao Đẳng Sư phạm, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Thanh Bình (2007) [2]; “Kỹ năng sống cho sinh viên: Bài học chưa được dạy”, Báo Sài Gòn cùa tác giả Thanh Hùng (2011) [17]; “ Một số vấn đề lý luận về KNS”, NXB Đại học sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2007) [39]; “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống trong dạy học Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học”, NXB Giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng (2009) [18]; “Kỹ năng thanh niên tình

Trang 19

nguyện” của tác giả Trần Văn Thời (1998) [34]… Đây là những bước khởi đầu

đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về giáo dục KNS

ở Việt Nam

Đến năm 2008, Bộ GD & ĐT phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-

2013 Trong đó xác định rõ giáo dục KNS cho học sinh là một trong 5 nội dung

cơ bản của phong trào thi đua này [26] Từ năm học 2010-2011, Bộ GD & ĐT

đã tập huấn và triển khai giáo dục KNS trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên toàn quốc Năm

2012, Bộ GD & ĐT cũng đã tập huấn và triển khai giáo dục KNS cho CBQL,

GV của trung tâm GDTX

Những năm gần đây, công tác giáo dục KNS đã được nhiều tác giả nghiên cứu phần lớn ở các trường THCS và THPT Chương trình giáo dục KNS đã được Bộ GD & ĐT đề cập lồng ghép vào các hoạt động giáo dục nhà trường nói chung, các trung tâm GDTX nói riêng Tại tỉnh Tây Ninh cho đến nay, chưa có

đề tài nghiên cứu về giải pháp quản lý các hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Huyện Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề này với nguyện vọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các Huyện, tỉnh Tây ninh ngày càng phát triển hơn

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng sống

1.2.1.1 Kỹ năng

Kỹ năng là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó Có nhiều điều ta biết, ta nói được mà không làm được Như vậy, luôn có một khoảng cách giữa thông tin, nhận thức và hành động Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn

1.2.1.2 Kỹ năng sống

Trong những năm gần đây, thuật ngữ “kỹ năng sống” (Life skills) xuất

Trang 20

hiện ngày càng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH ở khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm về KNS vẫn còn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ Đã có khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm KNS như:

- Theo WHO (1993) (Tổ chức y tế thế giới): Đó là năng lực tâm lý xã hội

để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh

về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh [20]

- Theo UNICEF 1995 (Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc): Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển cái chúng ta biết, chúng ta nghĩ, cảm nhận thành hành động thực tế, làm

gì và làm như thế nào là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng [41]

- Theo UNESCO 2003 (Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc): Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng

ngày [39]

Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân Kỹ năng sống còn mang tính xã hội vì trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng, miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống thích hợp Nó chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng, dân tộc Kỹ năng sống cần thiết đối với thanh thiếu niên để họ có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh, mang lại cho mỗi cá nhân cuộc sống thoải mái,

Trang 21

lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội

Kỹ năng sống được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân, nó giúp cho mỗi cá nhân nâng cao năng lực ứng phó trong mọi tình huống căng thẳng mà mỗi người phải gặp hàng ngày

1.2.2 Giáo dục và giáo dục kỹ năng sống

Có thể nói giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định

+ Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình toàn vẹn, được tổ chức một cách

có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển nhân cách, những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ cho con người

+ Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một bộ phận của quá trình tổng thể, bao gồm các quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan, các phẩm chất đạo đức

Như vậy, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội

1.2.2.2 Giáo dục kỹ năng sống

Trong thực tiễn giáo dục KNS được xem xét dưới 2 khía cạnh khác nhau:

- Như là một lĩnh vực học tập: như giáo dục sức khoẻ, HIV/AIDS Ở lĩnh

vực này đã tồn tại cách tiếp cận KNS từ khá lâu

Trang 22

- Như là một cách tiếp cận giúp giáo viên tiến hành giáo dục có chất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập

UNICEF, UNESCO cũng quan niệm rằng, giáo dục KNS không phải là lĩnh vực hay môn học, nhưng nó được áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị

và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có nhiều nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học và trung học KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình Chẳng hạn:

+ Malawi, Campuchia: Kỹ năng sống trở thành một môn học riêng biệt + Trung Quốc: KNS được lồng ghép vào các môn học trong nhà trường

về giáo dục đạo đức, giáo dục lao động và xã hội

+ Sudan: KNS được lồng ghép vào giáo dục công dân

+ Mianma: Có các chủ đề giáo dục KNS trong chương trình giảng dạy: sức khoẻ và vệ sinh cá nhân, sự phát triển thể chất, sức khoẻ tâm thần, phòng tránh các bệnh như tiêu chảy, rối loạn do thiếu iốt, lao phổi, sốt rét, ma tuý, HIV/AIDS, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng truyền thông và tự diễn đạt, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng xử lý cảm xúc, khuyến khích lòng tự trọng

Như vậy, giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mục đích giúp con người có những khả năng tâm lý xã hội để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả

Giáo dục KNS là không thể thiếu được trong giáo dục, cả giáo dục chính quy và không chính quy

1.2.3 Quản lý và quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

1.2.3.1 Quản lý

Quản lý đã xuất hiện và được áp dụng ngay từ buổi sơ khai của cuộc sống

Trang 23

cộng đồng, khi con người làm việc theo nhóm để thực hiện những mục tiêu nhất định Con người không thể đạt được mục tiêu với tư cách là những cá nhân riêng

lẻ nên quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân, hướng tới những mục tiêu chung

Ngày nay, nội dung và thuật ngữ quản lý lại càng phong phú hơn bởi các khái niệm khác nhau của những trường phái quản lý học đưa ra:

W Taylor cho rằng: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [25]

Theo Trần Kiểm: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa,

xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [19]

Tác giả Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh cương 1996 cho rằng: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [14]

Những khái niệm trên về khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho thấy một ý nghĩa chung: Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Hoạt động quản lý phải là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo đà cho một sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững

Như vậy, có thể định nghĩa khái quát như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được

mục tiêu đề ra [33]

Trang 24

1.2.3.2 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho HS-HV

Quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV chính là sự tác động liên tục

có mục tiêu đề ra, có kế hoạch cụ thể, có tổ chức và định hướng của người quản

lý đối với tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và HS-HV tại các cơ sở giáo dục nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh các hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học gắn với định hướng nghề nghiệp Sự tác động này được thực hiện bằng một hệ thống các văn bản hướng dẫn, các chính sách hỗ trợ, các nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thúc đẩy các hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV đạt hiệu quả cao nhất

1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

1.2.4.1 Giải pháp

Theo từ điển tiếng Việt của viện khoa học xã hội Việt Nam thì giải pháp

là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó [38]

Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên “Giải pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [30]

Như vậy, giải pháp là những phương pháp tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình hay một trạng thái nhất định để đạt được mục tiêu Giải pháp càng thích hợp, càng có tính khả thi thì tác động của

nó càng mang lại nhiều hiệu quả

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu rằng để có được những giải pháp như vậy thì cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

1.2.4.2 Giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh -

học viên

Là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên và HS-HV, các lực lượng giáo dục trong và ngoài cơ sở giáo dục

Trang 25

để đạt được mục tiêu giáo dục KNS, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho HS-HV

1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Mục tiêu của giáo dục KNS cho HS-HV chính là trang bị cho người học kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó hình thành hoặc làm thay đổi những thói quen, hành vi theo hướng lành mạnh, tích cực, loại bỏ thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, phòng ngừa những hành vi nguy cơ có hại cho sức khỏe và sự phát triển của bản thân

- Rèn luyện cách sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình và cộng đồng và ngay chính với bản thân mình

- Biết làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong giao tiếp hàng ngày Đồng thời, rèn luyện cho HS-HV biết cách thích nghi với người khác trong phối hợp làm việc

- Mở ra cho họ những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp HS-HV tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề liên quan đến bản thân, nghề nghiệp tương lai và cuộc sống

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên

Hiện nay HS-HV của các Trung tâm GDTX gồm các đối tượng sau:

- Học sinh: là những thanh thiếu niên trong độ tuổi phổ thông (từ 15-18 tuổi) do không thi được vào các trường THPT công lập và không có điều kiện để học ở các trường THPT dân lập hoặc đã bỏ học trước đây vì nhiều lý do nên học tập tại các trung tâm GDTX So với học sinh THPT thì học sinh ở các trung tâm GDTX khó khăn hơn về điều kiện sống (Thuộc các vùng sâu, vùng xa, xuất thân

từ gia đình nông dân, hoàn cảnh gia đình nghèo, neo đơn, đông con, bố mẹ ốm

Trang 26

đau, mất sớm hoặc ly hôn, ly thân…) Nhiều học sinh phải vừa học, vừa làm, vừa phải phụ giúp gia đình, thậm chí phải tự lao động kiếm sống Nhìn chung, tâm lý hay chán nãn cuộc sống, mặc cảm, mất lòng tin vì thua kém bạn bè khi vào học tại các trung tâm GDTX,… Các em thường va chạm với cuộc sống sớm hơn, già dặn hơn so với học sinh phổ thông nhưng lại thiếu về vốn kinh nghiệm sống và hiểu biết

- Học viên: Là những người trưởng thành (Từ 18 tuổi trở lên) Đa số người chưa có việc làm, một số là những người đang lao động sản xuất hoặc có việc làm ở địa phương Học tập chỉ là hoạt động thứ yếu, vì mục đích của họ là chỉ lấy bằng tốt nghiệp THPT Tâm lý hay lo lắng vì họ thường bận công tác hoặc lao động kiếm sống, bận công việc gia đình, con cái, không có nhiều thời gian dành cho học tập Họ thường là những người đã bỏ học lâu, quên nhiều kiến thức và kỹ năng tự học tập Nhóm đối tượng này thường ít có nhu cầu, điều kiện và khả năng học tiếp lên Đại học, Cao đẳng

1.3.3 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong nhà trường hiện nay, giáo dục phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục KNS phù hợp Bởi lẽ, có kiến thức, có thái độ tích cực cũng chưa đủ cho sự thành công, mà yếu tố quyết định cho sự thành công là những KNS Giáo dục KNS là cầu nối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen lành mạnh Người có KNS là những người luôn vững vàng trước khó khăn, thử thách, họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và luôn làm chủ được cuộc sống của mình

Đối với HS-HV của trung tâm GDTX, giáo dục KNS có tầm quan trọng

đặc biệt, bởi lẽ:

- Phần lớn HS-HV vào học tại trung tâm là những người có học lực yếu kém, hạnh kiểm chưa tốt, một số còn là HS lưu ban hay cá biệt từ các trường

Trang 27

phổ thông chuyển vào, đối tượng lại rất đa dạng về thành phần, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, giới tính Do đó, nhận thức của họ đôi khi còn có những lệch lạc về cuộc sống; chưa xác định được mục đích, động cơ học tập nên một

bộ phận HS-HV còn lười học tập, lao động, ham chơi, hút thuốc, uống rượu, thường xuyên vi phạm đạo đức, vi phạm nội quy nhà trường, liên quan đến các

vụ bạo lực học đường, quan hệ tình dục sớm, đồng tính, thậm chí dính vào các tệ nạn XH, hay vi phạm pháp luật,…

- Một số HS-HV từ nhiều địa phương đến ở trọ để học, có hoàn cảnh khó khăn phải vừa học, vừa làm nên tâm lý không thoải mái trước áp lực của công việc và học tâp Thậm chí có một số HS-HV nữ đi học trong tình trạng sức khỏe không tốt, có thai ngoài ý muốn hay có con nhỏ do hoàn cảnh ly hôn hay kết hôn sớm bỏ lỡ việc học nhiều năm,… Do thiếu kinh nghiệm sống và suy nghĩ còn nông cạn nên họ không thể ứng phó trước những áp lực trong cuộc sống hàng ngày

- Những thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của từng gia đình Một bộ phận gia đình có cha mẹ đi làm ăn xa hoặc cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên cha mẹ thường phó thác cho ông,

bà hay thầy cô dạy dỗ, cha mẹ ít gần gũi, quan tâm con cái một cách đầy đủ Có trường hợp một số HS-HV thường xuyên bỏ học, cúp tiết, vi phạm nội quy, không còn hứng thú và quan tâm đến việc học bởi vì gia đình có xáo trộn Thậm chí, có em tìm cách muốn chết, tự hủy hoại bàn thân vì muốn trả thù cha, mẹ hay người thân trong gia đình Nếu không được trang bị các KNS cần thiết và có bản lĩnh vững vàng thì họ dễ trở thành nạn nhân của tình trạng sống thực dụng, thích bạo lực hay căng thẳng, mất lòng tin, mặc cảm và có những hành động theo cảm tính của mình

Do đó, việc giáo dục KNS là hết sức quan trọng để giúp HS-HV rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của

Trang 28

bạn bè, những lối sống tiêu cực Có KNS sẽ giúp HS-HV phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khoẻ thể chất và tinh thần, giúp HS-HV biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống, giúp tăng cường khả năng tâm lý xã hội của bản thân, khả năng thích ứng và giúp HS-HV có cách thức tích cực để đối phó với những thách thức trong cuộc sống

1.3.4 Các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh - học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên

Có nhiều cách phân loại KNS, tùy vào quan niệm về KNS [27] Việc phân loại chỉ mang tính chất tương đối vì các kỹ năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, đan xen và bổ sung cho nhau Nhờ đó con người có thể ứng phó linh hoạt

và hiệu quả đối với những nguy cơ và vấn đề khó khăn trong tình huống cuộc sống hàng ngày Về cơ bản có 21 kỹ năng cần giáo dục cho HS- HV trong nhà trường hiện nay Bên cạnh đó, tùy theo đối tượng HS-HV của các trung tâm

GDTX mà bổ sung những KNS cần thiết khác như: Kỹ năng ứng xử, giao tiếp,

kỹ năng học và tự học, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng định hướng nghề

nghiệp, sáng tạo và đổi mới là các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người Những KNS cần tập trung giáo dục cho HS-HV của trung tâm GDTX:

- Kỹ năng tự nhận thức

Kỹ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì

Đối với HS-HV, kỹ năng này nhằm giúp họ biết nhận thức và thể hiện được bản thân mình, đồng thời có thể đánh giá được mặt tốt và chưa tốt của bản

thân, học hỏi những điểm tích cực của người khác để tiến bộ

- Kỹ năng xác định giá trị

Giá trị là những gì mà bản thân mỗi con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động

Trang 29

của bản thân trong cuộc sống, trong đó có cả những suy nghĩ chủ quan của bản thân, nhưng có khi bản thân không nhận ra Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ Giá trị có thể là giá trị vật chất, hoặc tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế Giá trị không phải là bất biến mà thay đổi theo thời gian, kinh nghiệm sống, sự giáo dục của gia đình, môi trường xã hội mà người đó đang sống và làm việc

Kỹ năng xác định giá trị sẽ giúp cho HS-HV hiểu rõ giá trị là những niềm tin, chính kiến, thái độ nào của mình được cho là quan trọng và giúp định hướng cho hoạt động và hành vi theo những giá trị đúng đắn Họ biết phân tích cái lợi, cái hại, cái được, mất của một hành vi cá nhân muốn thực hiện và biết tôn trọng giá trị của người khác

- Kỹ năng giao tiếp

Có kỹ năng giao tiếp là có khả năng tạo dựng mối quan hệ và khả năng ứng xử của con người trong mối quan hệ với người khác Mối quan hệ của thanh thiếu niên nói chung, HS-HV nói riêng rất phong phú, đa dạng: quan hệ với người thân trong gia đình, họ hàng, với thầy cô, với bạn bè trong và ngoài nhà trường, với những người họ gặp gỡ trong cuộc sống

Kỹ năng giao tiếp giúp họ biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc nhưng không gây hại hay gây tổn thương cho người khác Kỹ năng này giúp chúng ta

có mối quan hệ tích cực với người khác

Trang 30

lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung, còn giúp cá nhân sống hài hoà

và tránh xung đột trong quan hệ với người khác

Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều kỹ năng sống khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng xảy ra

- Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng

Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự cẳng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng Do đó, chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều độ, có kế hoạch, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không đặt ra cho mình mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân

Để có cách ứng phó tốt với các tình huống căng thẳng cần vận dụng các

kỹ năng khác như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ, suy nghĩ linh hoạt, thương thuyết

- Kỹ năng ra quyết định

Mỗi ngày, mỗi người đều phải ra nhiều quyết định, có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm trọng tới định hướng cuộc sống nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối quan hệ, tương lai, cuộc đời Do vậy, HS-HV cần nắm bắt được quy trình, lựa chọn các giải pháp để đưa ra những quyết định phù hợp Giáo dục kỹ năng ra quyết định là hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên tác động lên HS-HV nhằm giúp họ lựa chọn hay cân nhắc thận trọng, lường trước được những hậu quả có thể xảy ra để có quyết định đúng đắn

Trang 31

Kỹ năng ra quyết định sẽ giúp HS-HV nắm được các bước ra quyết định, luyện kỹ năng suy nghĩ có phê phán, tư duy sáng tạo, cân nhắc cái lợi, cái hại của từng vấn đề để cuối cùng có được quyết định đúng đắn và biết đánh giá quyết định đã đưa ra

Ngoài việc giáo dục cho HS-HV những KNS cơ bản như nêu trên Các trung tâm GDTX cần chú ý giáo dục cho HS-HV, bổ sung cho họ những KNS cần thiết hiện nay như:

- Kỹ năng học và tự học

Hầu hết HS-HV vào học tại trung tâm GDTX có học lực yếu, kém, bỏ học lâu vào học lại nên họ bị hỏng kiến thức nhiều năm, không theo kịp bài, càng học càng không nhớ bài dễ cảm thấy chán nãn trong việc học

Kỹ năng học và tự học sẽ giúp cho người học rèn luyện thói quen học tập tốt, khắc sâu những kiến thức đã học, luôn ghi nhớ nội dung cần thiết và biết cách áp dụng chúng vào các bài tập thực hành Người học cần thường xuyên ôn lại bài bằng cách: Tự làm bài tập ở nhà, tham khảo thêm tài liệu, liệt kê những nội dung chính, vẽ biểu đồ, bản đồ tư duy… Hệ thống kiến thức của mỗi bài học

sẽ giúp hiểu bài nhanh hơn, nhớ lâu và đạt kết quả hơn Dù còn đi học hay đã đi làm, chúng ta cũng không quên rèn luyện kỹ năng học và tự học mọi lúc, mọi nơi để cập nhật kịp thời kiến thức mỗi ngày, vốn kiến thức đó sẽ có ích cho cuộc sống, cho việc học tập cũng như công việc của chính họ

- Kỹ năng định hướng nghề nghiệp

Với việc định hướng nghề nghiệp trong tương lai sẽ giúp cho HS-HV có

sự nỗ lực, phấn đấu và cố gắng kiên cường để đạt được mục đích mình đã chọn, đồng thời, giúp HS-HV đưa ra được những hoạt động cho bản thân nhằm trao dồi kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng bổ trợ để mang lại thành công trong công việc mình lựa chọn sau này Chú ý tư vấn hướng nghiệp phải đáp ứng yêu cầu công việc, ngành nghề của XH hiện nay và địa phương của họ Kỹ năng định hướng nghề nghiệp giúp họ không bị lãng phí nhiều thời gian, tiền

Trang 32

bạc của bản thân và gia đình Trong cuộc đời không phải hối tiếc về việc chọn lựa con đường mình sẽ đi

- Kỹ năng quản lý thời gian

Ngày nay, do tác động của cơ chế thị trưởng mà mỗi cá nhân luôn tất bật trong công việc, bận rộn với gia đình, con cái, học hành và các mối quan hệ khác, trong khi quỹ thời gian của mọi người là như nhau (24 giờ/ngày), điều quan trọng là chúng ta làm thế nào để sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất Người có kỹ năng quản lý thời gian một cách hợp lý, khoa học sẽ giúp họ dễ dàng thành công hơn trong học tập, công việc và trong các mối quan hệ khác ngoài xã hội

Để sử dụng thời gian của mình một cách hiệu quả nhất thì mỗi cá nhân phải nhận định được năng lực của mình và hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân trước khi làm một công việc gì hoặc đối mặt với vấn đề nào đó, để

từ đó biết cách sắp xếp và bố trí thời gian cho hợp lý theo đúng kế hoạch đề ra

1.3.5 Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Một trong những vấn đề được quan tâm tại các hội thảo khoa học về việc xây dựng chương trình giáo dục KNS cho HS-HV trong các cơ sở giáo dục hiện nay là phương pháp và hình thức thực hiện giáo dục KNS cho HS-HV như thế nào để đạt hiệu quả Các phương pháp thường được đề xuất áp dụng như:

1.3.5.1 Phương pháp thảo luận nhóm

Là phương pháp giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ Các thành viên trong nhóm trao đổi tự do về vấn đề giáo viên yêu cầu Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi người học tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho họ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến giải quyết một vấn đề có liên quan đến cuộc sống Thảo luận nhóm còn rèn cho người tham gia những kỹ năng giao tiếp trong học tập, thoải mái, tự tin trong

Trang 33

việc trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của các thành viên khác

1.3.5.3 Phương pháp đóng vai

Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, "làm thử" một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng

xử cụ thể mà họ quan sát được Việc "diễn" không phải là phần chính của phương pháp này, mà điều quan trọng hơn là sự thảo luận sau phần diễn ấy Với phương pháp này, người học được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử

và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng tích cực

1.3.4.4 Phương pháp trò chơi

Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình huống cụ thể giúp họ không những được phát triển về các mặt trí tuệ,

thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực

Phương pháp này còn gây hứng thú học tập cho người học, tạo không khí sôi nổi, tự nhiên, giúp người học tiếp nhận những nội dung giáo dục một cách nhẹ nhàng, sinh động và có hiệu quả cao

1.3.5.5 Phương pháp nghiên cứu tình huống

Nghiên cứu tình huống là tổ chức cho người học nghiên cứu một câu chuyện, mô tả một tình huống xảy ra trong thực tiễn cuộc sống Đôi khi nghiên

Trang 34

cứu tình huống có thể được thực hiện trên băng hình mà không phải dưới dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp với nhiều nhân vật và chứa đựng nhiều mâu thuẫn

Phương pháp này sẽ có tác động mạnh mẽ tới nhận thức, tình cảm, thái

độ, hành vi của người học qua những tình huống thực tế sinh động, hấp dẫn, tạo điều kiện cho người học bộc lộ quan điểm, thái độ của mình, biết phân tích vấn

đề, đưa ra cách giải quyết vấn đề một cách phù hợp

Trên thực tế, công tác giáo dục KNS tại các trường phổ thông và các trung tâm GDTX được thực hiện thông qua 3 phương án về hình thức giáo dục KNS cho HS-HV đó là: Xây dựng môn học về giáo dục KNS; lồng ghép các nội dung giáo dục KNS vào các môn học GDCD, văn học, lịch sử, địa lý… tích hợp giáo dục KNS vào các môn học như: giáo dục dân số, giáo dục môi trường và các hoạt động giáo dục khác như:

Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: tổ chức thi văn nghệ, viết báo tường, thể dục thể thao, cho học sinh đi tham quan, dã ngoại; thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên; thông qua sự kết hợp giáo dục gia đình, nhà trường

và xã hội; thông qua con đường tự tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi HS

để biến HS-HV từ chỗ là đối tượng của giáo dục dần trở thành chủ thể giáo dục,

tự tu dưỡng, rèn luyện, hoàn thiện nhân cách của mình

1.4 Vấn đề quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên trung tâm giáo dục thường xuyên

1.4.1 Trung tâm giáo dục thường xuyên

Tại Điều 2 của Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX (ban hành kèm theo quyết định số: 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT) có nêu: “Trung tâm GDTX là cơ sở GDTX của hệ thống giáo dục quốc dân Trung tâm GDTX bao gồm trung tâm GDTX quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trung tâm GDTX tỉnh, thành phố trực thuộc

Trang 35

Trung ương” [10] Cũng giống như trường học, Trung tâm GDTX là một tổ chức xã hội, được hình thành để thực hiện các nhiệm vụ nhất định

- Chức năng tổ chức các hoạt động giáo dục: tạo cơ hội học tập nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập đa dạng, phong phú của mọi người, trong đó có những người không có điều kiện tiếp tục học ở các trường khác

- Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục;

+ Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;

+ Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin truyền thông, chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ;

+ Chương trình GDTX cấp THCS và THPT;

- Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với Sở GD & ĐT, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng

- Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập;

- Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống GDTX

Do vậy, quản lý Trung tâm GDTX cũng mang những đặc điểm, nội dung

và chức năng quản lý nhà trường Tuy nhiên, Trung tâm GDTX có những đặc điểm riêng về mục tiêu, đối tượng, hình thức học, cách thức tổ chức, điều hành khác với các trường học trong hệ thống giáo dục chính quy

1.4.2 Mục tiêu quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Với tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS cho HS-HV tại các trung

tâm GDTX như đã nêu trên thì người quản lý cũng phải xác định rõ: Mục tiêu

Trang 36

của quản lý giáo dục KNS cho HS-HV là làm cho quá trình giáo dục được diễn

ra một cách đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong công tác đổi mới giáo dục hiện nay

Trung tâm phải trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về tư tưởng đạo đức, lối sống đúng đắn, kiến thức pháp luật, hiểu biết về văn hoá - xã hội, khả năng ứng phó, giao tiếp, và biết cách làm chủ bản thân “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà,

có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với

những yêu cầu của giai đoạn mới.” [21]

Như vậy, quản lý giáo dục KNS cho HS-HV cần làm cho quá trình này đạt được những mục tiêu như:

+ Về nhận thức: Giúp các lực lượng giáo dục có được nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS cho HS-HV trong xã hội hiện nay

+ Về thái độ, tình cảm: Giúp mọi người có thái độ đúng và điều chỉnh hành vi của bản thân, biết ứng phó trước những tình huống căng thẳng trong quá trình giao tiếp

+ Về hành vi: Hướng mọi người tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể, hoạt động XH và tích cực tham gia quản lý giáo dục KNS cho HS-HV

1.4.3 Nội dung quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Để quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên tại các

trung tâm GDTX cần chú ý những nội dung sau:

1.4.3.1 Quản lý chương trình, nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Đối với việc giáo dục KNS cho HS-HV, lựa chọn chương trình và nội

Trang 37

dung phù hợp là yếu tố rất quan trọng Việc quản lý chương trình, nội dung giáo dục KNS bao gồm từ việc chỉ đạo đội ngũ thiết kế, xây dựng chương trình, nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và đánh giá kết quả đạt được Hiện nay, nội dung giáo dục KNS cho HS-HV chưa được đưa thành khung chương trình thống nhất, tùy theo mục tiêu và điều kiện của mỗi trung tâm mà xây dựng nội dung, chương trình cho riêng mình Để quản lý tốt việc thực hiện chương trình, nội dung giáo dục KNS cho HS-HV thì người quản lý phải nắm vững các nhiệm vụ năm học, bám sát vào các văn bản hướng dẫn của

Bộ, Sở giáo dục, các cơ quan chức năng, bám sát vào các giá trị chuẩn mực và

kỹ năng quan trọng cần thiết đối với đối tượng HS-HV để có định hướng về mục tiêu cần đạt về việc giáo dục KNS cho HS-HV của trung tâm từng năm học

1.4.3.2 Quản lý về đội ngũ tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

Để quá trình giáo dục KNS cho HS-HV đạt hiệu quả, trung tâm GDTX cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình giáo dục KNS

+ Quản lý Giáo viên bộ môn trong việc tích hợp giáo dục KNS vào môn học Đây là hoạt động đòi hỏi GVBM phải hết sức linh hoạt, khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, hình thành giá trị của bản thân, biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng xã hội…

+ Quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động giáo dục KNS cho HS-HV

Giáo viên chủ nhiệm là chính là vị thủ lĩnh tinh thần làm điểm tựa để tạo

ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo Với vai trò đó GVCN sẽ tạo ra được

Trang 38

động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa thầy, cô và trò, giữa các thành viên trong tập thể, giữa tập thể lớp với tổ chức Đoàn, với Hội, CMHS Như vậy việc giáo dục KNS thông qua hoạt động của GVCN sẽ giúp hoàn thiện nhân cách cho HS-HV, tạo cho họ tự tin hơn khi bước vào tương lai

+ Quản lỷ đội ngũ BCH Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tham gia giáo dục KNS

Tổ chức Đoàn thanh niên trong trung tâm là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên, tham gia các hoạt động tập thể; có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục lý tưởng XHCN cho đoàn viên, giáo dục luật pháp, lối sống, nếp sống, giáo dục về khoa học kỹ thuật công nghệ, dân số, môi trường, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử dân tộc Thông qua tổ chức Đoàn xây dựng cho mình nền tảng giá trị sống vững chắc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng

xử, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phòng vệ khơi dậy trong ĐVTN tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ, dám nhận những nhiệm vụ khó khăn, dám đón nhận sự hy sinh gian khổ từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của HS-HV với bản thân gia đình và cộng đồng

+ Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục khác

Để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và giáo dục KNS cho HS-HV nói riêng, trung tâm cần huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục như Hội cha mẹ học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi học sinh cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn tuyển sinh như Công an, Y tế, Huyện Đoàn

Có như vậy nhân cách và lý tưởng sống của HS-HV được giáo dục và rèn luyện

ở mọi lúc, mọi nơi, đồng thời giúp các em củng cố bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

1.4.3.3 Quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV thông qua lao động, qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt chuyên đề

Hoạt động lao động, hoạt động học tập ngoại khóa, hoạt động giáo dục

Trang 39

NGLL, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể, là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện học sinh các kỹ năng sống trong thực tế,

có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục tư tưởng, giáo dục nhận thức, thái độ cho học sinh Thông qua những hoạt động này sẽ rèn luyện cho các em những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt Nói cách khác quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua các hoạt động giáo dục trên cả ba phương diện: Kiến thức, thái

độ và hành vi

1.4.3.4 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên thông qua việc xây dựng môi trường giáo dục tốt để giáo dục học sinh - học viên

Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trong công việc giáo dục

HS-HV đó là cảnh quan sư phạm trong nhà trường, “không” có bạo học đường, các

tệ nạn XH và luôn tạo được bầu không khí đoàn kết, vui tươi, lành mạnh sẽ có tác dụng hết sức tích cực đến việc hình thành các kỹ năng cần thiết trong học tập, trong các mối quan hệ, trong giao tiếp ứng xử và góp phần hình thành nên các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho HS-HV

1.4.4 Các bước tiến hành quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh - học viên

1.4.4.1 Lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống

Chúng ta biết rằng lập kế hoạch là một trong những chức năng đặc trưng,

là nguyên tắc hàng đầu của quản lý, nó là cơ sở của việc thực hiện các chức năng khác của quản lý Xây dựng kế hoạch là sự xác định một cách có căn cứ khoa học những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của một quá trình và định ra những phương tiện cơ bản để thực hiện có kết quả những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ

đó [18]

Như vậy lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục KNS sẽ giúp đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu giáo dục chung của trung tâm Nhờ có kế hoạch, các nội dung, hình thức hoạt động giáo dục KNS sẽ

Trang 40

đa dạng, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS-HV, giúp công tác này đạt hiệu quả cao hơn

Trong việc quản lý công tác giáo dục KNS cho HS-HV, người cán bộ quản lý phải xây dựng các kế hoạch như: Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm; Kế hoạch hoạt động theo chương trình; Kế hoạch hoạt động theo các mặt của hoạt động xã hội Các kế hoạch này đòi hỏi đảm bảo các nguyên tắc xây dựng kế hoạch, phải có tính vừa phải, bao quát, cụ thể và khả thi

1.4.4.2 Tổ chức thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống

- Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên tham gia giáo dục KNS cho HS-HV

- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên, nhân viên về giáo dục KNS cho HS-HV

- Triển khai kế hoạch giáo dục KNS đến từng cán bộ, giáo viên, nhân trong trung tâm

- Hướng dẫn giáo viên, nhân viên trong trung tâm thực hiện kế hoạch

- Tổ chức các hoạt động giáo dục KNS HS-HV toàn trung tâm

- Tổ chức giao lưu, học tập kinh nghiệm về giáo dục KNS

- Theo dõi, đôn đốc, động viên giáo viên, nhân viên thực hiện kế hoạch theo quy định

1.4.4.2 Chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng sống

- Thành lập ban chỉ đạo gồm đại diện các thành phần: Ban giám đốc, Đoàn thanh niên, GVCN, GVBM, CMHS, các lực lượng có liên quan…

- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch theo từng chủ điểm, từng thời gian cụ thể cho công tác giáo dục KNS cho HS-HV

- Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua các hoạt động giáo dục của trung tâm

- Chỉ đạo công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trung tâm trong việc giáo dục KNS cho HS-HV

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w