Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông qua quan sát, trao đổi với giáo viên GV và HS chúng tôi nhận thấy việc bồi dưỡng năng lực tự học NLTH cho HS trung học phổ thông THPT còn những t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỒNG ĐỨC VIỆT
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
VỚI HỖ TRỢ CỦA PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT RẮN”, VẬT LÍ 10 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học PGS TS LÊ PHƯỚC LƯỢNG
NGHỆ AN 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào
Tác giả
Đồng Đức Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Phước Lượng, người thầy
đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Vật lí, Phòng đào tạo sau đại học Trường đại học Vinh và Trường đại học Sài Gòn đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trong tổ Vật
lí Trường THPT Thị xã Bình Long và Trường THPT Nguyễn Huệ đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi an tâm học tập và hoàn thành luận văn này
Nghệ An, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Đồng Đức Việt
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3
7.2 Phương pháp điều tra 4
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 4
7.4 Phương pháp thống kê toán học 4
8 Đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC VẬT LÍ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP 6
1.1 Quá trình tự học 6
1.1.1 Tự học là gì? 6
1.1.2 Vai trò của tự học 6
1.1.3 Các hình thức tự học 7
1.1.4 Năng lực tự học 8
1.1.5 Chu trình tự học của học sinh [10] 9
1.1.6 Chu trình dạy – tự học [10] 10
1.2 Bồi dưỡng năng lực tự học vật lí của học sinh thông qua sử dụng phiếu học tập 11
1.2.2 Các dạng phiếu học tập 12
1.2.3 Vai trò của phiếu học tập trong việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh 16
Trang 61.2.4 Sự hình thành năng lực tự học vật lí của HS thông qua việc sử dụng phiếu
học tập 19
1.3 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 20
1.3.1 Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy [22] 20
1.3.2 Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học với sự hỗ trợ của Website dạy học [19] 20
1.3.3 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua việc giải bài tập 20
1.3.4 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học với hỗ trợ của phiếu học tập [33] 21
1.4 Thực trạng của hoạt động DH theo hướng bồi dưỡng NLTH vật lí cho HS với hỗ trợ của PHT 21
1.4.1 Mục đích của việc điều tra 21
1.4.2 Phương pháp điều tra 21
1.4.3 Kết quả điều tra 21
1.5 Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT RẮN”, VẬT LÍ 10 NÂNG CAO THPT THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 24
2.1 Mục tiêu dạy học và cấu trúc của chương “Tĩnh học vật rắn” vật lí 10 nâng cao THPT 24
2.1.1 Mục tiêu dạy học 24
2.1.2 Cấu trúc của chương 25
2.2 Thiết kế phiếu học tập trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao 26
2.2.1 Mục đích của phiếu học tập 26
2.2.2 Quy trình thiết kế phiếu học tập 26
2.3 Sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 40
2.3.1 Nguyên tắc sử dụng phiếu học tập 40
2.3.2 Quy trình sử dụng phiếu học tập 41
Trang 72.4 Biên soạn một số giáo án chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao
THPT có sử dụng PHT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS 45
Gián án 1 45
Giáo án 2 53
Giáo án 3 59
2.5 Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích của thực nghiệm 66
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 66
3.3 Đối tượng thực nghiệm 66
3.4 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 66
3.5 Nội dung thực nghiệm 66
3.6 Phương pháp thực nghiệm 67
3.7 Chọn mẫu thực nghiệm 67
3.8 Cách đánh giá 67
3.8.1 Quan sát giờ học 67
3.8.2 Các bài kiểm tra 68
3.9 Kết quả thực nghiệm sư phạm 68
3.9.1 Kết quả định tính 68
3.9.2 Kết quả định lượng 69
3.10 Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN 75
Tài liệu tham khảo 77
Phụ lục 1: Một số phiếu học tập 80
Phụ lục 2: Đáp án một số phiếu học tập 87
Phụ lục 3: Phiếu thăm dò ý kiến GV và kết quả điều tra 101
Phụ lục 4: Phiếu thăm dò ý kiến HS và kết quả điều tra 105
Phụ lục 5: Nội dung đề kiểm tra thực nghiệm sư phạm 109
Phụ lục 6: Một số hình ảnh thực nghiệm sư phạm 116
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong thời đại nền kinh tế tri thức, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển mạnh
mẽ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì năng lực tự học là chìa khóa
để chủ động phát triển tự thân, mở rộng các chân trời kiến thức mới, giúp tiếp cận những ý tưởng mới, kinh nghiệm mới để không tụt hậu so với thời cuộc
Bác Hồ đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” [17] Nhưng không
phải ai cũng có ý thức và khả năng tự học tốt Chính vì thế, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học sinh (HS) cần được bồi dưỡng năng lực tự học, biến việc học trở thành niềm vui, hứng thú và nhu cầu đối với mỗi HS
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “Đối với giáo dục phổ
thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [15]
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo
quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục
đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực sáng tạo của người học”[3]
Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông qua quan sát, trao đổi với giáo viên (GV) và HS chúng tôi nhận thấy việc bồi dưỡng năng lực tự học (NLTH) cho HS trung học phổ thông (THPT) còn những tồn tại sau:
- Nhiều HS chưa biết cách chủ động tự học, còn thụ động trong việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức; chưa biết phát huy tính độc lập, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tế; coi việc giải quyết các nhiệm vụ học tập là sự bắt buộc và nhiều khi giải quyết nó một cách đối phó
Trang 9- GV chưa hoặc không có thời gian để quan tâm đến việc bồi dưỡng NLTH cho HS, chưa biết cách tổ chức dạy học (DH) để bồi dưỡng NLTH cho HS; chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học
- GV chưa có quan niệm cụ thể về phiếu học tập (PHT), về cách xây dựng và
sử dụng PHT trong DH vật lí, hoặc do việc xây dựng PHT đòi hỏi phải dành nhiều thời gian nên cũng không thường xuyên sử dụng Việc sử dụng PHT trong DH vật lí nhằm bồi dưỡng NLTH nói chung chưa được quan tâm đúng mức và chưa hiệu quả Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với hỗ trợ của phiếu học tập trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao Trung học phổ thông”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Về vấn đề tự học của HS đã có nhiều nhà giáo dục nghiên cứu như: Nguyễn Cảnh Toàn [26][27]; Nguyễn Kỳ [13]; Trần Bá Hoành [9]; Lê Đình, Trần Huy Hoàng [8]; Phạm Hữu Tòng [21]; Lê Công Triêm [31][32];… Các tác giả đã xây dựng một cơ sở lí luận khá hoàn chỉnh về tự học, đã coi tự học là một hình thức, một phương pháp học tập cơ bản và cốt lõi đối với người học Trong các nghiên cứu của mình các tác giả rất chú trọng đến việc bồi dưỡng NLTH cho HS bằng nhiều biện pháp khác nhau
Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận và phương pháp
DH vật lí của các học viên cao học như: Nguyễn Tuấn Anh [1]; Hoàng Châu Âu [2]; Hà Thế Nhân [18]; Thái Văn Thanh [23]; Vũ Thị Kim Nhung [19]; Nguyễn Thị Thanh Phương [20]; Đào Thị Huyền [10];; Nguyễn Văn Thành [24]; … Cũng đã đề cập đến vấn đề tự học
Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề “Bồi dưỡng năng lực
tự học cho học sinh với hỗ trợ của phiếu học tập trong dạy học chương Tĩnh học vật rắn, vật lí 10 nâng cao Trung học phổ thông”
Kế thừa những cơ sở lí luận của các công trình nghiên cứu liên quan trước đây, chúng tôi tập trung nghiên cứu thiết kế và sử dụng PHT trong DH chương
“Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT, nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS trong học tập môn vật lí và góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS bậc THPT
Trang 103 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế một số tiến trình DH chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT có sử dụng hệ thống phiếu học tập theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của PHT
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động DH chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế tiến trình dạy học và sử dụng PHT hợp lí trong dạy học chương
“Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT thì sẽ bồi dưỡng được năng lực tự học cho HS Qua đó, nâng cao chất lượng DH vật lí ở trường THPT
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động tự học, của việc thiết kế và sử dụng PHT trong quá trình DH vật lí
Điều tra cơ bản thực trạng về NLTH của HS và việc sử dụng PHT để bồi dưỡng NLTH cho HS
Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập và các tài liệu tham khảo về vật lí
10 nâng cao THPT
Thiết kế PHT trong DH chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Thiết kế một số tiến trình dạy học kiến thức chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí
10 nâng cao THPT có sử dụng PHT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng PHT trong DH vật lí
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu văn kiện của Đảng, các văn bản của nhà nước và của ngành về đổi mới giáo dục phổ thông, nâng cao NLTH, tự nghiên cứu của HS
Nghiên cứu các sách, bài báo, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành liên quan
Nghiên cứu về PHT trong quá trình DH vật lí
Trang 11Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập, tài liệu tham khảo chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT
7.2 Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng việc xây dựng và sử dụng PHT trong DH vật lí ở một số trường THPT hiện nay
Lấy ý kiến GV, HS về việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH vật lí nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành giảng dạy một số tiết có sử dụng PHT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động tích cực, tự lực học tập của HS khi học các giờ học có sử dụng PHT
So sánh kết quả HS các lớp TN với các lớp ĐC, kết hợp trao đổi ý kiến với
GV giảng dạy về tính tích cực, tự lực của HS
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả TN sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác nhau của kết quả học tập của hai nhóm TN và
ĐC
8 Đóng góp của luận văn
Làm rõ thêm cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua hỗ trợ của PHT trong dạy học vật lí ở trường THPT
Thiết kế được 3 tiến trình DH chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10 nâng cao THPT có sử dụng PHT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
9 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng NLTH vật lí cho HS thông qua việc sử dụng PHT
Chương 2: Thiết kế và sử dụng PHT trong DH chương “Tĩnh học vật rắn”, vật
lí 10 nâng cao THPT theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Trang 12Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13Theo Bolhuis và Garrison thì “Tự học là sự tích hợp của việc tự quản lí với sự
tự kiểm soát của người học, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chiến lược nhận thức của mình Người học là chủ thể trong sự hợp tác chặt chẽ của giáo viên và các bạn học cùng lớp” [8]
Theo giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩn chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn lại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [27]
Ngoài ra, các tác giả khác như Nguyễn Kỳ [13], Võ Quang Phúc, Vũ Văn Tảo [25], Nguyễn Trọng Di [4], … cũng định nghĩa tự học với các cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể hiểu: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm nắm vững tri thức, kĩ năng, thái độ trong đó người học tích cực, tự giác tham gia vào quá trình nhận thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn Học thầy, học bạn, học ở mọi người và tự mình kiểm tra, kiểm soát, đánh giá
Tự học khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn
Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy, không có cách nào truyền thụ hết kiến
Trang 14thức cho trò, trò phải học cách học và tự học, để không rơi vào tình trạng “tụt hậu”
Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn so với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn
ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc, bền lâu
Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn…
Đối với HS THPT, nếu có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học sẽ không bị bỡ ngỡ
Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
1.1.3 Các hình thức tự học
- Tự học trên lớp có sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn trực tiếp của GV
Khi học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động học tập như nghe giảng, ghi chép, thảo luận nhóm, làm việc với sách, làm bài tập, làm thí nghiệm, quan sát, … thì được xem là tự học Các hoạt động này diễn ra ngay trong quá trình DH với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp nên còn được gọi là tự học giáp mặt
- Tự học ngoài lớp không có sự điều khiển, tổ chức trực tiếp của GV
HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập (có thể do bản thân HS đặt ra hoặc nhận nhiệm vụ từ trên lớp) Sự tự học như thế còn gọi là tự học không giáp mặt vì
HS tự mình chiếm lĩnh tri thức mà không có sự điều khiển trực tiếp từ GV Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:
+ Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông tin
Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn
+ Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có SGK, có
các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti vi, mạng, các phần mềm DH… Sự hướng
Trang 15dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm Dưới sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích nhưng chất lượng của nó vẫn là vấn đề cần quan tâm
+ Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự học ở
nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập Có thể gọi hình thức này là tự học
có sự hướng dẫn hay tự học sau giời lên lớp
1.1.4 Năng lực tự học
Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt thì năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn [26] Năng lực của con người hoàn toàn không phải do tự nhiên mà có, mà một phần lớn là do công tác, do luyện tập Theo PGS TS Lê Công Triêm thì NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao NLTH của người học bao gồm các nhóm sau [8], [31]:
- Nhóm năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có thệ thống trên cơ
sở những lí luận và hiểu biết của mình; phát hiện ra khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng tỏ…
- Nhóm năng lực giải quyết vấn đề
Nhóm này bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học
- Nhóm năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn
đề
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng
Trang 16- Nhóm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)
Năng lực này bao gồm khả năng vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới
- Nhóm năng lực đánh giá và tự đánh giá
Trong DH tập trung vào người học đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích người học đánh giá và tự đánh giá Có như vậy thì người học mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái hiệu quả hơn Năng lực đánh giá và tự đánh giá giúp người học xác định chính xác điểm mạnh, yếu, cái đúng, sai của mình từ đó có thể chủ động phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh những điểm yếu, vững bước trên con đường học tập của mình
Các nhóm năng lực trên vừa đan xen, vừa nối tiếp nhau, tạo nên NLTH ở người học Việc hình thành, bồi dưỡng các NLTH cho người học là một quá trình lâu dài và được thực hiện từng bước theo mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
1.1.5 Chu trình tự học của học sinh [10]
- Chu trình tự học của học sinh là chu trình ba thời
+ Tự nghiên cứu
+ Tự thể hiện
+ Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Trang 17Tự nghiên cứu
(3) Tự kiểm tra
(2) Tự thể hiện
Sơ đồ 1.1.5: Chu trình tự học [10]
Thời (1): Tự nghiên cứu Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát
hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính cá nhân
Thời (2): Tự thể hiện Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát
hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác,
trao đổi với các bạn và thầy cô, HS sẽ nhận được kết luận từ thầy cô để từ đó kiểm tra, đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.1.6 Chu trình dạy – tự học [10]
Chu trình dạy – tự học là chu trình tổng hợp của chu trình tự học của HS và chu trình dạy học của thầy
Trang 18Tự nghiên cứu
(3) Tự kiểm tra
(2) Tự thể hiện
(1') Hướng dẫn
(2')
Tổ chức
(3') Trọng tài,
cố vấn
Tri thức (cá nhân)
Tri thức (xã hội)
Tri thức
(khoa học)
Sơ đồ 1.1.6: Chu trình dạy - tự học [10]
Đường tròn bên trong mô tả chu trình tự học của HS, tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học
Đường tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động của thầy với các hoạt động: hướng dẫn; tổ chức; trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức HS cần chiếm lĩnh qua từng thời: tri thức cá nhân; tri thức xã hội; tri thức khoa học
1.2 Bồi dưỡng năng lực tự học vật lí của học sinh thông qua sử dụng phiếu học tập
1.2.1 Quan niệm về phiếu học tập
PHT là phương tiện DH do GV tự thiết kế, gồm một hoặc nhiều tờ giấy rời có ghi những nhiệm vụ học tập (câu hỏi, bài tập, yêu cầu,…) kèm theo những gợi ý, hướng dẫn hoặc thông tin bổ sung cho bài học,… mà HS tự lực hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để hoàn thành [5], [11], [34]
Trang 19PHT có các chức năng sau:
- Chức năng cung cấp thông tin và sự kiện
PHT có thể là văn bản, số liệu, hình ảnh, sơ đồ,… tóm tắt hoặc trình bày bằng những cấu trúc nhất định một lượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người học
Trong DH hợp tác, người học có thể nghiên cứu những tư liệu này theo phương thức cá nhân trong nhóm trên cơ sở phân chia dữ liệu thành những bộ phận khác nhau cho mỗi thành viên
- Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp
PHT còn nêu lên nhiệm vụ học tập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc và vấn đề người học cần sử dụng để người học thực hiện hoặc giải quyết Thông qua nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năng công cụ hướng dẫn và giao tiếp trong quá trình học tập của người học [18]
1.2.2 Các dạng phiếu học tập
1.2.2.1 Căn cứ vào chức năng của phiếu học tập
Căn cứ vào chức năng của PHT, có thể phân PHT thành 2 dạng sau:
- Phiếu cung cấp thông tin và sự kiện
Đây là loại phiếu có nội dung là những thông tin cần bổ sung để làm rõ kiến thức cho bài học
Loại phiếu này thường được sử dụng khi dạy các bài có nội dung trừu tượng, phức tạp, khó hiểu hoặc những bài, mục trong SGK viết quá ngắn, HS không thể tự hiểu nếu không bổ sung thêm thông tin
Để xây dựng loại phiếu này, trước hết GV cần có quá trình thu thập thông tin thành kho tư liệu, khi cần có thể chọn lọc, xử lí thông tin một cách nhanh chóng để đưa vào phiếu
- Phiếu là công cụ hoạt động và giao tiếp
Loại phiếu này có nội dung là những câu hỏi, bài tập, mệnh lệnh, yêu cầu… kèm theo những hướng dẫn, gợi ý để HS hoàn thành nhằm lĩnh hội tri thức của bài học
Loại phiếu này được sử dụng trong rất nhiều trường hợp khác nhau như kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố, ôn tập [18]
Trang 20Khi sử dụng loại phiếu này trong DH, GV chỉ làm ít, nói ít, còn HS phải làm việc nhiều, điều này phù hợp với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm Tuy nhiên
sự hạn chế giao tiếp bằng lời giữa GV và HS cũng chính là nhược điểm của loại phiếu này Vì vậy, những câu hỏi, yêu cầu được đưa ra phải đảm bảo cho tất cả HS đều hiểu được, điều đó đòi hỏi cách trình bày phiếu phải khoa học
1.2.2.2 Căn cứ vào mục đích của phiếu học tập
- Phiếu dùng trong kiểm tra bài cũ
Phiếu này có nội dung là một đề kiểm tra ngắn được in hoặc ghi sẵn vào phiếu
có chừa chỗ trống để HS làm ngay vào đó
Dùng phiếu để kiểm tra bài cũ giúp GV có thể kiểm tra cùng lúc nhiều HS, khắc phục được tình trạng GV chỉ gọi một hoặc vài học sinh kiểm tra còn các HS khác chỉ ngồi nghe hoặc làm việc riêng
Tuy nhiên, loại phiếu này cũng có nhược điểm là không phát huy được năng lực trình bày và diễn đạt bằng lời nói trực tiếp của HS Vì vậy, tránh dùng tràn lan loại phiếu này mà nên kết hợp cân đối với kiểm tra bài cũ truyền thống (còn gọi là kiểm tra miệng)
- Phiếu dùng trong dạy bài mới
Phiếu dùng trong dạy học bài mới là loại phiếu có ghi rõ các công việc được sắp xếp có hệ thống và logic để HS thực hiện nhằm tự lực tìm ra kiến thức mới của bài học Thông thường, phiếu này phải có gợi ý, hướng dẫn để HS có thể tự lực hoàn thành phiếu Loại phiếu này có thể sử dụng cho một hoặc vài đơn vị kiến thức hay có thể cho cả bài học
Việc sử dụng PHT trong dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm như phát huy tính tích cực học tập của học sinh, tự lực tìm ra kiến thức mới, tiết kiệm được thời gian giao câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, GV có thể nhận biết được thái độ, năng lực học tập ở từng HS…
Bên cạnh đó, việc sử dụng phiếu cũng có những hạn chế như việc giao bằng lời giữa GV và HS không nhiều, không phải bất cứ HS nào cũng hiểu được và làm được những yêu cầu mà GV đưa ra để có thể tiếp thu được bài học mới, do đó cần
có sự hướng dẫn riêng đối với những học sinh này
- Phiếu dùng trong củng cố bài học
Trang 21Phiếu dùng để củng cố bài học là loại phiếu có những câu hỏi, bài tập, những yêu cầu được viết sẵn trên giấy, có chừa sẵn chỗ để học sinh thực hiện nhằm mục đích khái quát hóa, hệ thống lại những kiến thức kĩ năng vừa mới học
Phiếu này thường được dùng lúc gần cuối tiết học sau khi học xong bài mới hoặc có thể dùng sau khi học xong một phần nào đó của bài mà cần củng cố lại kiến thức của phần đó ngay
- Phiếu dùng để giao bài về nhà
Đây là loại phiếu được học sinh thực hiện ở nhà
Phiếu này dùng để ra bài về nhà là những câu hỏi, bài tập,… có mục đích yêu cầu HS vận dụng, ôn tập lại những kiến thức, kĩ năng vừa được học hoặc tìm hiểu bài mới trước khi đến lớp
1.2.2.3 Căn cứ vào nội dung của phiếu học tập
Căn cứ vào nội dung của PHT có các dạng phiếu sau:
- Phiếu bài tập
Phiếu bài tập là dạng phiếu yêu cầu HS làm bài tập, trên phiếu có nội dung những bài tập mà HS cần giải quyết Những bài tập này có thể được cho đáp án hoặc trình bày dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm Để giải được những bài tập này yêu cầu HS phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học, qua đó rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho HS
Loại phiếu này thường được dùng trong tiết bài tập hoặc để củng cố, giao bài
về nhà
- Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống
Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống là dạng PHT có nội dung nêu tình huống
và vấn đề thảo luận hoặc nghiên cứu yêu cầu HS giải quyết để lĩnh hội các tri thức mới
Loại phiếu này thường được dùng để dạy bài mới, ra bài tập về nhà hoặc để kiểm tra bài cũ
Trang 221.2.2.4 Căn cứ vào tiêu chí phát triển kĩ năng
Căn cứ vào tiêu chí phát triển kĩ năng có thể phân loại PHT thành các dạng sau:
- Phiếu phát triển kĩ năng quan sát
Đối với loại phiếu này, nội dung của phiếu là những câu hỏi, nhiệm vụ học tập
mà HS phải sử dụng thị giác, phối hợp với các giác quan khác để xem xét sự vật, hiện tượng một cách có ý thức, có mục đích nhằm thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng [9]
Đối tượng quan sát ở đây có thể là hình vẽ, đồ thị, một thí nghiệm, một đoạn video… Những hình vẽ, đồ thị có thể in sẵn vào phiếu hoặc có thể dùng hình vẽ trong SGK
- Phiếu phát triển kĩ năng phân tích
Loại phiếu này đòi hỏi HS phải sử dụng kĩ năng phân tích để xem xét các nội dung kiến thức trình bày trong SGK, các sự vật, hiện tượng, nhằm rút ra những nhận xét, kết luận để hoàn thành PHT
- Phiếu phát triển kĩ năng so sánh
Đây là loại phiếu mà để hoàn thành nó học sinh phải nhận xét, so sánh các sự vật, hiện tượng để rút ra được những điểm giống và khác nhau của nội dung cần so sánh
- Phiếu phát triển kĩ năng quy nạp, khái quát hóa
Loại phiếu này đòi hỏi phải nắm bắt được những sự kiện riêng biệt, từ đó rút
ra kết luận, khái quát hóa kiến thức… hay nói cách khác logic hình thành nội dung nghiên cứu đi từ cái riêng đến cái chung, tổng thể
- Phiếu phát triển kĩ năng suy luận, đề xuất giả thuyết
Loại phiếu này đòi hỏi HS phải tư duy để suy luận đề xuất ra những ý tưởng mới, những cách giải quyết mới
1.2.2.5 Căn cứ vào tiêu chí dùng phiếu học tập để rèn luyện kĩ năng vật lí cho học sinh
Căn cứ vào tiêu chí này có thể có các dạng PHT như sau:
- Phiếu phát triển kĩ năng giải thích hiện tượng vật lí
Phiếu này có nội dung là những hiện tượng VL để HS giải thích hiện tượng kèm theo gợi ý, hướng dẫn Khi thực hiện loại phiếu này, các kỹ năng giải thích
Trang 23hiện tượng sẽ được hình thành trong HS như kĩ năng phân tích hiện tượng, nêu được nguyên nhân của hiện tượng, kĩ năng xây dựng lập luận, kĩ năng biện luận, chỉ ra được sự phù hợp quy luật diễn biến của hiện tượng với những quy tắc, định luật, mô hình, thuyết VL,…
- Phiếu phát triển kỹ năng làm thí nghiệm, thực hành VL
Loại phiếu này có nội dung là những yêu cầu đưa ra để HS tiến hành thí nghiệm, giúp HS rèn luyện những kĩ năng như sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp đặt dụng cụ, xử lý số liệu, nhận xét kết quả thí nghiệm,…
- Phiếu phát triển kĩ năng giải bài tập VL
Tương tự như loại phiếu phát triển kĩ năng giải thích hiện tượng VL, loại phiếu này có nội dung là những bài tập giao cho HS hoàn thành, có thể kèm theo gợi ý, hướng dẫn nếu bài tập khó, GV có thể cho đáp số trước hoặc trình bày đáp số dưới dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Khi thực hiện loại phiếu này, các
kĩ năng giải bài tập VL sẽ được hình thành trong HS như tóm tắt đề bài, phân tích
dữ kiện bài toán, nêu được xác định luật và công thức liên quan, đổi đơn vị, sử dụng đúng các thuật ngữ VL để viết được những lời giải chính xác,…
Phiếu này có thể dùng để củng cố, ôn tập, hay giao bài bài về nhà
- Phiếu phát triển tổng hợp nhiều kĩ năng
Phiếu phát triển tổng hợp nhiều kĩ năng là loại phiếu nêu ra những yêu cầu mà
HS phải vận dụng linh hoạt các kĩ năng đã học mới có thể hoàn thành được yêu cầu đặt ra
1.2.3 Vai trò của phiếu học tập trong việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh
Trong DH, PHT là một phương tiện DH do GV tự thiết kế bao gồm những nhiệm vụ học tập được trình bày một cách logic, khoa học, trong đó GV đã tính toán kĩ từng bước nhỏ, đảm bảo vừa sức với HS để họ có thể tự làm được, qua đó có thể tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới PHT đồng thời cũng là công cụ để GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS HS sử dụng PHT như một tài liệu học tập để thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao nhằm lĩnh hội kiến thức mới Thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm, HS rèn luyện được kĩ năng học tập dộc lập hay học tập hợp tác, kĩ năng trình bày ý kiến, thảo luận,…
- PHT là phương tiện rèn luyện kĩ năng học tập độc lập
Trang 24Khi sử dụng PHT, HS phải tự nghiên cứu SGK và các tài liệu tham khảo, mọi
HS phải tự thực hiện nhiệm vụ được giao trong PHT, hạn chế được thói quen ỷ lại, dựa dẫm của đa số HS kém và trung bình Trong lúc HS tiến hành các hoạt động học tập bằng tay, các biến đổi sinh hóa được diễn ra một cách mạnh mẽ, sâu sắc trong não của các em, giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu bài học
- PHT là phương tiện rèn luyện kĩ năng học tập hợp tác
Trong học tập hợp tác, thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi HS và của
cả lớp Trong học tập hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung, nhưng mỗi người lại có nhiệm vụ riêng, sự phối hợp giữa các hoạt động cá nhân sẽ góp phần hoàn thành mục tiêu chung
- PHT là phương tiện rèn luyện kĩ năng thu tập thông tin
Quá trình tự học bao giờ cũng bắt đầu từ việc thu thập các thông tin liên quan đến vấn đề cần giải quyết Học vật lý đòi hỏi HS phải giải các bài tập nhận thức cụ thể, đa dạng mà muốn giải quyết được nó HS cần phải biết thu thập thông tin từ nhiều “kênh” khác nhau như quan sát thực tiễn xung quanh, quan sát thí nghiệm, quan sát các hình vẽ, đọc sách, nghe GV giảng, ghi nhớ và ghi chép, trao đổi với bạn bè và những người xung quanh… Từ những thông tin thu được, HS sẽ hình thành mối liên hệ giữa cái “đã biết” với cái “chưa biết”, từ đó giải quyết được các yêu cầu đặt ra
Kĩ năng thu thập thông tin còn được thể hiện ở kĩ năng lựa chọn tài liệu và sắp xếp thông tin Trong “rừng” thông tin như hiện nay, để chọn lựa đúng, đủ những thông tin liên quan đến vấm đề đặt ra là hết sức cần thiết, vừa đảm bảo giúp người học tiết kiệm thời gian, giải quyết được vấn đề đồng thời tích lũy được kiến thức cần thiết để nâng cao chất lượng học tập của mình PHT là phương tiện tốt giúp HS rèn luyện các kĩ năng này, bởi vì với các yêu cầu đặt ra của PHT, trong khoảng thời gian nhất định để phải hoàn thành nhiệm vụ của mình thì người học phải biết tìm cách giải quyết sao cho tối ưu nhất Muốn vậy, người học phải biết chọn lựa những thông tin cần thiết và sắp xếp chúng một cách hợp lí
- PHT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng xử lí thông tin
Trang 25Từ những thông tin thu thập, để sử dụng có hiệu quả, người học cần phải biết
xử lí các thông tin đó Xử lí thông tin giúp người học nâng cao sự hiểu biết về thông tin, từ đó có thể rút ra được các kết luận, quy luật…
Quá trình hoàn thành các yêu cầu trong PHT đòi hỏi người học phải sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, mô hình hóa, suy luận, diễn dịch… Từ đó, kĩ năng xử lí thông tin cụ thể tương ứng như kĩ năng phân tích, kĩ năng tổng hợp, kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hóa được hình thành
mà người học thu nhận được sẽ càng sâu sắc hơn Thực tiễn chính là thước đo của kiến thức, là nơi kiểm nghiệm kiến thức và bồi đắp cho kiến thức của người học ngày càng phong phú hơn, từ đó người học có thể khám phá thêm những kiến thức mới, những hệ quả mới
VL là môn học có liên quan chặt chẽ với đời sống và kĩ thuật Vì vậy, thông qua PHT có thể rèn luyện cho các em những kĩ năng vận dụng như:
+ Kĩ năng giải thích những hiện tượng, quá trình
+ Kĩ năng sử dụng các công thức để tính toán
+ Kĩ năng chế tạo thiết kế những thiết bị đơn giản trong đời sống
+ Kĩ năng tìm hiểu những vật dụng của VL trong kĩ thuật và đời sống
+ Kĩ năng vận dụng những kiến thức đã biết để phát hiện những vấn đề mới những quy luật mới
- PHT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin
Trong quá trình thảo luận để hoàn thành phiếu, HS được tự do trình bày ý kiến của mình trước lớp, qua đó sẽ rèn luyện cho các em kĩ năng trình bày, trao đổi ý kiến về vấn đề khoa học được đặt ra trong PHT Qua đó, HS bộc lộ những quan niệm của mình giúp GV thu được thông tin phản hồi từ HS để có hướng khắc phục các quan niệm của HS, đặc biệt là những quan niệm sai lầm, không chính xác
Trang 26- PHT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá
Như đã nói, tự kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng quan trọng của người học, bởi
vì qua kiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt đến mức độ nào, kiến thức mình nắm về một vấn đề nào đó đến đâu, từ đó mà điều chỉnh cách thức tự học cho thích hợp, cho hiệu quả hơn
Để thực hiện tốt việc tự kiểm tra, đánh giá, người học cần có các kĩ năng sau:
kĩ năng xây dựng và chọn lựa tiêu chí; kĩ năng so sánh, đối chiếu sản phẩm của mình với chuẩn; kĩ năng phát hiện những sai sót và kĩ năng tự điều chỉnh Đây là những kĩ năng khó đối với HS vì thế cần phải được bồi dưỡng, rèn luyện dần trong quá trình học tập
PHT vừa là phương tiện hướng dẫn HS vừa là căn cứ để GV đánh giá quá trình tự học cũng như sản phẩm tự học của HS Đồng thời, khi tiếp nhận những ý kiến đóng góp, sửa đổi của các HS khác trong nhóm, lớp, của GV, các em sẽ tự đánh giá được kết quả làm việc của mình
1.2.4 Sự hình thành năng lực tự học vật lí của HS thông qua việc sử dụng phiếu học tập
Vật lý học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm, là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có những kỹ năng như: quan sát tinh tế, thu thập thông tin, lập bảng số liệu, xử lí thông tin, vận dụng tri thức vào thực tế cuộc sống, trao đổi phổ biến thông tin,… Nhiệm vụ của DH không chỉ giới hạn ở sự hình thành các kiến thức, kỹ năng có tính chất tái tạo đơn thuần mà cần phải làm sao cho trong khi
DH hình thành, phát triển được ở HS NLTH HS phải thật sự tự học tức là “tích cực trong học tập” [6]
Muốn cho HS thật sự tích cực trong học tập, cần phải chuyển HS từ vị trí thụ động sang vị trí chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức trở thành chủ thể tìm kiếm tri thức Trong quá trình dạy học phải tác động đến các mặt nhận thức, tình cảm, ý chí của của HS, tạo cho HS một động cơ học tập đúng đắn Với đặc điểm là môn học gần gũi với thực tế đời sống, để xây dựng động cơ, hứng thú học tập môn VL cho HS, GV có thể khai thác để đưa vào PHT các nội dung mới, đột ngột, bất ngờ
và chứa những yếu tố nghịch lí, thỏa mãn nhu cầu nhận thức đa dạng của HS
Trên cơ sở đó, qua việc sử dụng PHT GV có thể bằng những yêu cầu cụ thể, trong từng câu hỏi có đòi hỏi suy nghĩ, trong từng việc vừa sức, từng sự hướng dẫn,
Trang 27uốn nắn mà huy động trí tuệ, tạo điều kiện cho HS phát triển tư duy sáng tạo, hình thành thói quyen, kỹ năng học tập để HS dần dần có được cách học tập tích cực Thiết kế và sử dụng PHT hợp lí, GV tạo cho HS biết suy nghĩ, biết tự mình làm lấy
mà không dựa dẫm, cao hơn nữa là biết có ý kiến riêng và bảo vệ ý kiến ấy,… Từ việc bắt đầu làm theo các yêu cầu của GV, HS dần biết được cách làm, cách học cần thiết và ý thức được về nhiện vụ học tập tích cực, có được thói quen, kỹ năng học tập cho bản thân, để rồi có thể mở rộng ra trong việc tìm hiểu sách vở, tra cứu tài liệu,… GV sử dụng PHT để tiến hành rèn luyện cho HS các kỹ năng học VL một cách đều đặn sẽ dần dần hình thành trong HS NLTH VL
1.3 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
1.3.1 Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy [22]
- Rèn luyện kĩ năng thu thập thông tin từ SGK
- Rèn luyện kĩ năng ghi chép, tóm tắt thông tin thu thập được từ SGK bằng bản đồ tư duy
- Rèn luyện kĩ năng xử lí thông tin (phân tích, so sánh, tổng hợp) thông qua công cụ bản đồ tư duy
- Rèn luyện kĩ năng truyền đạt thông tin
- Rèn luyện kĩ năng giải bài tập với bản đồ tư duy
1.3.2 Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học với sự hỗ trợ của Website dạy học [19]
- Thầy hướng dẫn (trên website) cho trò tự nghiên cứu để tìm ra một tri thức
có tính chất cá nhân
- Thầy tổ chức (trên website) cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phẩm ban đầu của người học khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội
1.3.3 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua việc giải bài tập
- Xây dựng hệ thống bài tập hướng vào việc bồi dưỡng NLTH cho HS
- Tăng cường sử dụng bài tập trong quá trình dạy học
- Tổ chức hoạt động giải bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS
- Cải tiến kĩ thuật giao bài tập về nhà
- Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 281.3.4 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học với hỗ trợ của phiếu học tập [33]
- Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy kiến thức mới
- Thiết kế và sử dụng PHT trong củng cố bài học
- Thiêt kế PHT để học sinh tự học ở nhà
1.4 Thực trạng của hoạt động DH theo hướng bồi dưỡng NLTH vật lí cho
HS với hỗ trợ của PHT
1.4.1 Mục đích của việc điều tra
Để có cơ sở thực tế cho việc thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu thực tế về hoạt động dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH vật lí cho HS với hỗ trợ của PHT tại trường THPT Thị xã Bình Long và THPT Nguyễn Huệ, tỉnh Bình Phước
1.4.2 Phương pháp điều tra
Thông qua việc điều tra 22 GV, 147 HS bằng cách dùng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ, xem giáo án, vở ghi bài,… Chúng tôi đã thu được một số kết quả phục vụ việc nghiên cứu đề tài
1.4.3 Kết quả điều tra
- Về phương pháp giảng dạy
Phương pháp chủ yếu mà GV vẫn hay sử dụng là phương pháp giảng giải, minh họa Khi sử dụng PHT trong DH vật lí, đa số GV kết hợp sử dụng PHT với phương pháp thảo luận nhóm, cụ thể là 77,3% ý kiến nhất trí Bên cạnh đó, phương pháp thuyết trình, diễn giải có 31,8% GV lựa chọn, phương pháp đàm thoại gợi mở
có 63,6% GV lựa chọn, phương pháp nêu vấn đề có 50% GV lựa chọn Hình thức
DH được sử dụng khi có sử dụng PHT là DH theo nhóm và DH theo lớp, cụ thể là 36,4% GV DH theo lớp bình thường và 63,6% GV DH theo nhóm
Trang 29Điều tra ở HS về việc có thường xuyên nghe nói đến khái niệm liên quan đến
tự học thì có 68% HS lựa chọn thường xuyên, 27,2% lựa chọn ít khi, 3,4% lựa chọn rất ít và 1,4% lựa chọn không bao giờ Như vậy, đa số HS được nghe nói thường xuyên về việc tự học nhưng kết quả điều tra cho thấy còn một số HS đã hiểu chưa đầy đủ khái niệm tự học, bằng chứng là 47,6% HS lựa chọn tự học là “người học tự tìm hiểu tri thức qua sách vở, tài liệu học tập, các phương tiện truyền thông” và 47,6% HS chọn tự học là “hoạt động của người học tự chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực dưới sự hướng dẫn của GV” còn 2,7% HS chọn tự học là “hoạt động học tập của người học ngoài giờ lên lớp” và “hoạt động học tập của người học không có sự hướng dẫn của Thầy/Cô giáo”
Đa số HS được điều tra đánh giá cao về vai trò của việc tự học đối với bản thân nhưng các em lại cho rằng kết quả tự học của mình lại không cao, cụ thể là 63,9% HS cho rằng tự học rất quan trọng, 34% HS cho rằng tự học quan trọng Đánh giá về kết quả tự học của bản thân có 58,5% HS được điều tra chọn kết quả bình thường và 36,7% chọn chưa tốt
- Về việc thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong DH VL nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
Điều tra ở GV việc sử dụng PHT trong DH VL nhằm bồi dưỡng NLTH cho
HS thì có 8 GV (chiếm 36,4%) thường xuyên sử dụng, 9 GV (chiếm 40,9%) không thường xuyên sử dụng, 5 GV (chiếm 22,7%) rất ít sử khi sử dụng, 0% GV chưa bao giờ sử dụng PHT Các GV thường sử dụng PHT nhất trong khâu củng cố bài (63,7%), kiểm tra bài cũ (18,2%) và ít dùng dạy bài mới (13,6%) và hầu như chưa ai dùng để hướng dẫn tự học ở nhà Hầu hết GV đồng ý với những khó khăn khi sử dụng PHT đã nêu trong phiếu điều tra Trao đổi với các giáo viên thường xuyên sử dụng PHT, đa số GV đều cho rằng nếu thiết kế và sử dụng hợp lí PHT thì có thể rèn luyện cho HS các kỹ năng tự học đã đưa ra
1.5 Kết luận chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có
hệ thống cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng PTH trong DH VL nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS, đã tiến hành thăm dò ý kiến GV về tình hình thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL ở trường phổ thông hiện nay, cụ thể như sau:
Trang 30+ Nghiên cứu các khái niệm tực học, NLTH, kỹ năng tự học, hệ thống các kỹ năng tự học trong DH VL Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình
đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập
+ Nghiên cứu khái niệm về PHT, các dạng PHT và vai trò của PHT trong DH nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS mà cụ thể là PHT giúp rèn luyện cho HS những kỹ năng như: học tập độc lập, học tập hợp tác, thu thập thông tin, xử lý thông tin, vận dụng những tri thức thu nhận được vào thực tiễn, nâng trao đổi và phổ biến thông tin, tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh
+ Thăm dò ý kiến GV về tình hình thiết kế và sử dụng PHT trong DHVL, tính cần thiết của phiếu trong bồi dưỡng tính tích cực, tự lực cho HS và những khó khăn, thuận lợi của GV khi thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL
Qua những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy rằng hiện nay việc thiết kế và
sử dụng PHT trong DH VL vẫn chưa được quan tâm đúng mức trong khi nó có một vai trò quan trọng trong DH nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS Vì vậy việc thiết kế và
sử dụng PHT trong DH VL là rất cần thiết trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay
Trang 31Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT RẮN”, VẬT LÍ 10 NÂNG CAO THPT THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 2.1 Mục tiêu dạy học và cấu trúc của chương “Tĩnh học vật rắn” vật lí 10 nâng cao THPT
2.1.1 Mục tiêu dạy học
Phát biểu được điều
kiện cân bằng của một vật
rắn chịu tác dụng của hai
hoặc ba lực không song
Phát biểu được điều
kiện cân bằng của một vật
Xác định được trọng tâm của các vật phẳng, đồng chất bằng thực nghiệm
Vận dụng quy tắc momen lực để giải được các bài toán về điều kiện cân bằng của vật rắn có trục quay cố định khi chịu tác dụng của hai lực
Vận dụng qui tắc hợp lực của hai lực song song cùng chiều giải một
số bài tập đơn giản
Biết cách nhận biết
và lấy được ví dụ về các dạng cân bằng của một vật
có một điểm tựa hoặc một
HS học tập tích cực, chủ động, có niền tin vào tri thức vật lí Có thái độ khách quan, có tác phong
tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác
và có tinh thần hợp tác, đoàn kết để xây dựng bài học
HS yêu thích môn vật lí, góp phần giáo dục
kĩ thuật tổng hợp cho HS
Trang 32cân bằng của một vật có
mặt chân đế
trục quay cố định trong trường trọng lực
Các kĩ năng tự học cần bồi dưỡng:
- Kĩ năng xử lí thông tin
- Kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
- Kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin
- Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá
2.1.2 Cấu trúc của chương
Grap tiến trình phát triển nội dung của chương “Tĩnh học vật rắn”, vật lí 10
Cân bằng của vật rắn chịu
tác dụng của 2 lực
Cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của 3 lực không song song
VẬT RẮN
Trọng tâm rơi trên mặt chân đế
Cân bằng của vật rắn có mặt chân đế
Cân bằng bền
Cân bằng không bền
Cân bằng phiếm định
Trang 33tự lực, độc lập nghiên cứu, rèn luyện kĩ năng VL và phát triển kĩ năng học tập hợp tác [2] Sử dụng PHT thường xuyên với các biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, HS sẽ dần có được thói quen, kĩ năng học tập VL cần thiết để hình thành NLTH ở bản thân
2.2.2 Quy trình thiết kế phiếu học tập
Với mục đích rèn luyện kỹ năng tự học cho HS, quy trình thiết kế PHT theo các bước sau đây:
- Bước 1: Xác định những nội dung dạy học quan trọng, cụ thể trong bài
Xác định mục tiêu bài học và mục tiêu cụ thể từng phần của bài học để nắm được cái đích mà HS cần phải đạt tới Trên cơ sở xác định mục tiêu từng phần của bài học, GV cần phân tích nội dung của bài học để xác định các kiến thức trọng tâm
và các kỹ năng cơ bản của bài học Từ đó GV vạch ra nhiệm vụ cụ thể của HS ở từng phần của bài học: Cần làm gì? Giải quyết những vấn đề gì?… Đồng thời, GV cũng cần xác định các hình thức, phương pháp và phương tiện DH cần sử dụng trong bài học Dựa vào đó, GV xác định những phần nội dung cụ thể trong bài cần
sử dụng PHT
- Bước 2: Xác định cấu trúc, lôgic các nội dung dạy học của phiếu học tập
Nội dung của PHT được xác định thường dựa vào những kiến thức trọng tâm của phần nội dung cần sử dụng PHT Đó là những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà HS cần khám phá, lĩnh hội và rèn luyện Nội dung PHT có thể là các câu hỏi, bài tập thực hành, bài tập xử lý tình huống, yêu cầu giải quyết vấn đề hay viết báo cáo tham luận, làm đồ dùng học tập, thực hiện bài kiểm tra… Các nội dung này phải được trình bày theo đúng thứ tự logic của quá trình nhận thức
- Bước 3: Lựa chọn hình thức trình bày phiếu học tập
Trang 34Hình thức trình bày PHT có thể là văn bản, bảng điền kiến thức hoặc sơ đồ, biểu mẫu, … Để tăng hứng thú học tập cho HS, khi thiết kế PHT, GV cần tăng tính thẩm mỹ của PHT và đa dạng hóa về hình thức trình bày Tăng cường sử dụng kết hợp trên hình và kênh chữ nhằm giúp HS tiếp nhận thông tin nhanh hơn và nhớ bài tốt hơn
- Bước 4: Biên soạn phiếu học tập
Dựa vào mục tiêu, nội dung, tài liệu và phương tiện đã xác định , đồng thời dựa vào mức độ nhận thức của HS trong lớp để GV đưa ra các câu hỏi, bài tập cho phù hợp Các thông tin, nhiệm vụ học tập được giao trong phiếu phải được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn dưới dạng tường minh Các câu hỏi, nhiệm vụ học tập đưa ra trong phiếu phải đảm bảo mọi HS đều hiểu được phải làm gì Thông thường, những yêu cầu đưa ra cần phải chỉ rõ căn cứ, nguồn để HS có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ đề ra, như: “Căn cứ vào… hãy cho biết…”, “Dựa vào… hãy chứng minh…”, “Từ thí nghiệm… hãy nhận xét…” Sau mỗi câu hỏi, bài tập cần có một khoảng trống phù hợp để HS trình bày kết quả Khối lượng công việc cần phù hợp với thời gian suy nghĩ và thời gian trình bày phiếu Mỗi phiếu thể hiện một đơn vị kiến thức hoặc nhiều đơn vị kiến thức
Khi trình bày PHT nên ghi cụ thể là phiếu dùng cho phần nào của bài học như dùng để củng cố sau khi học bài…, hoặc dùng trong phần 2 bài… để HS dễ sắp xếp, lưu giữ Nếu trong một bài học sử dụng nhiều PHT thì nên đánh số thứ tự như PHT
số 1, PHT số 2,… [2] Nếu PHT dùng kiểm tra kiến thức của HS thì phải có phần yêu cầu HS ghi họ tên và lớp
Ví dụ: thiết kế PHT dạy bài “Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của hai lực,
trọng tâm”
Bước 1:
Mục tiêu của bài: HS phát biểu được điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của hai lực Nêu được khái niện trọng tâm của vật Biết các xác định trọng tâm của một vật phẳng mỏng Nêu được điều kiện cân bằng của vật có mặt chân đế Nhận biết được các dạng cân bằng
Mục tiêu từng phần của bài học và nhiệm vụ của HS:
Phần 1: HS đọc SGK, hiểu mục đích của thí nghiệm, bố trí thí nghiệm, làm thí
nghiệm để rút ra điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của hai lực
Trang 35Phần 2: HS đọc SGK để phát biểu khái niệm trọng tâm của vật rắn Nhận biết
được dây treo vật là cụ thể hóa giá của trọng lực tác dụng vào vật rắn
Phần 3: HS đọc SGK, nêu các bước xác định trọng tâm của vật rắn phẳng
mỏng, tiến hành làm thí nghiệm để xác định trọng tâm của vật
Phần 4: HS đọc SGK để rút ra điều kiện cân bằng của vật rắn có mặt chân đế Phần 5: HS nhận biết được các dạng cân bằng của vật
Trong bài “Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của hai lực, trọng tâm”, cần thiết kế PHT cho phần 1 của bài Những kĩ năng tự học rèn luyện trong phần này là: quan sát, suy luận, thu thập số liệu trong thí nghiệm, xử lí số liệu và kết luận sau khi tính toán
Bước 2: PHT được trình bày với 2 nội dung, nội dung thứ nhất là câu hỏi
nhằm giúp HS hiểu được nhiệm vụ của lực kế và sợi dây được sử dụng để làm thí nghiệm Nội dung thứ hai là yêu cầu HS rút ra điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của hai lực
Bước 3: Hình thức trình bày là câu hỏi nhiều lựa chọn và câu hỏi dưới dạng
điền khuyết
Bước 4: Biên soạn PHT
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
(Dùng trong DH phần 1 bài 26 – Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của 2 lực,
trọng tâm; SGK vật lí 10 nâng cao)
1 Quan sát thí nghiệm khảo sát sự cân bằng của vật rắn (Hình 26.1 trang 118 SGK vật lí 10 nâng cao) và trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Nhiệm vụ của hai lực kế được sử dụng trong thí nghiệm là
A Đo độ lớn các lực tác dụng vào vật rắn
B Cho biết chiều tác dụng lực
Câu 2: Không móc trực tiếp hai lực kế vào vật rắn mà phải nối chúng với vật rắn thông qua hai đoạn dây (mềm, mảnh) là vì
A Móc lực kế vào mỗi đầu sợi dây dễ hơn là móc trực tiếp vào vật rắn
Hình 26.1
Trang 36B Đường thẳng trùng với mỗi sợi dây bị kéo căng, cho biết giá của mỗi lực tác dụng vào vật rắn
Câu 3: Điểm đặt của lực F và 1 F tác dụng vào vật rắn là 2
A Vị trí các sợi dây xuyên qua vật rắn
B Vị trí các sợi dây nối với lực kế
Câu 4: Làm thí nghiệm như Hình 26.1 trang 118 SGK vật lí 10 nâng cao Khi vật rắn cân bằng thì:
- Lực F có giá 1 với giá của lực F 2
- Lực F có chiều 1 với chiều của lực F 2
- Lực F có độ lớn 1 với độ lớn của lực F 2
2 Điều kiện cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của hai lực
Phát biểu: Biểu thức:
3 Làm thí nghiệm như Hình 26.3 trang 119 SGK vật lí 10 nâng cao Giữ nguyên độ lớn của lực F và 1 F , nhưng thay đổi điểm đặt của lực dọc theo giá của 2chúng thì vật rắn vẫn
Điều đó chứng tỏ rằng: tác dụng của của một lực lên một vật rắn
khi điểm đặt của lực đó dời chỗ trên giá của nó Hình 26.3
Trang 37- Phiếu học tập để dạy học bài mới
PHT dùng trong dạy bài mới là loại phiếu hỗ trợ cho quá trình nhận thức bài mới của HS Trong PHT có ghi rõ các yêu cầu, được sắp xếp có hệ thống và logic
để HS thực hiện nhằm tự lực tìm ra kiến thức mới của bài học Thông thường, PHT này phải có gợi ý, hướng dẫn để học sinh có thể tự lực hoàn thành phiếu Loại phiếu này có thể sử dụng cho một hoặc một vài đơn vị kiến thức hay có thể cho cả bài học
Việc sử dụng PHT trong dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm như phát huy tính tích cực học tập của HS, tự lực tìm ra kiến thức mới, tiết kiệm được thời gian giao câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, GV có thể nhận biết được thái độ, năng lực học tập của từng HS,… Bên cạnh đó, việc sử dụng PHT cũng có những hạn chế như không phải bất cứ HS nào cũng hiểu được và làm được những yêu cầu mà GV đưa
ra để có thể tiếp thu được bài mới, do đó cần có sự hướng dẫn riêng đối với những
HS này
Ví dụ: PHT dùng trong DH bài “Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của ba
lực không song song”
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
(Dùng trong DH phần 1 bài 27 – Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của 3 lực
không song song; SGK vật lí 10 nâng cao)
1 Xét hai lực F và 1 F tác dụng lên cùng một vật rắn (Hình 27.1 trang 123 2SGK vật lí 10 nâng cao) Nối nội dung ở hai cột lại với nhau để được phát biểu đúng
1 Giá của hai lực F và 1 F 2
cắt nhau
A cùng nằm trên một mặt phẳng tạo bởi giá của chúng
2 Hai lực F và 1 F 2 B tại một điểm, gọi là điểm
đồng quy
3 Khi dịch chuyển điểm đặt
của hai lực F và 1 F dọc theo giá 2
của chúng
C điểm đặt của F , 1 F là 2điểm đồng quy rồi áp dụng quy tắc hình bình hành
Trang 38F và F lên vật rắn không thay 2đổi
2 Xét hai lực F và 1 F tác dụng lên cùng một vật rắn (Hình 27.9A) Biểu diễn 2hợp lực của F và 1 F vào Hình 27.9B 2
Hình 27.9B
3 Quy tắc tổng hợp hai lực đồng quy
Hợp lực của hai lực đồng quy được xác định bằng cách hai lực trên giá của chúng cho tới khi điểm đặt của hai lực là điểm
A Đi qua điểm đồng quy
B Nằm trong mặt phẳng chứa điểm đồng quy
C Nằm trong mặt phẳng tạo bởi F và 1 F và đi qua điểm đồng quy 2
Câu 3: Để vật rắn chịu tác dụng đồng thời hai lực đồng quy F và 1 F (nêu trên) 2
Trang 39cân bằng thì phải tác dụng vào vật rắn đó một lực F có 3
- Điểm đặt:
- Giá:
- Chiều:
- Độ lớn:
5 Điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực không song song
- Phát biểu: Một vật rắn chịu tác dụng của ba lực không song song ở trạng thái
thứ ba
- Biểu thức:
- Phiếu học tập trong củng cố bài học
Củng cố bài là khâu rất quan trọng và không thể thiếu trong quá trình DH Củng cố bài học nhằm giúp HS hệ thống lại kiến thức và khắc sâu những kiến thức
cơ bản vừa lĩnh hội Trong quá trình dạy học, khâu củng cố bài có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: GV đặt câu hỏi theo logic của bài học và yêu cầu HS trở lời Cho một hoặc hai bài tập nhỏ để HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng vừa học;
hệ thống lại bài học theo một sơ đồ; đưa ra hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để HS trả lời…
Sử dụng PHT là một biện pháp củng cố bài học có nhiều ưu điểm và tác dụng tích cực PHT có thể thể hiện được nhiều hình thức củng cố như: đưa ra hệ thống các câu hỏi tập trung vào những kiến thức cơ bản của bài học; những bài tập vận dụng; những sơ đồ, bảng điền kiến thức; hoặc hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm khách quan Sử dụng PHT tạo điều kiện cho tất cả HS đều làm việc, qua đó, GV có thể nắm được mức độ lĩnh hội kiến thức của từng HS một cách nhanh chóng và tương đối chính xác
Trang 40Ví dụ: PHT dùng củng cố bài trong DH bài 26 “Cân bằng của vật rắn dưới tác
dụng của 2 lực, trọng tâm”, SGK vật lí 10 nâng cao
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
(Dùng trong phần củng cố bài 26 – Cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của 2 lực,
trọng tâm; SGK vật lí 10 nâng cao)
1 Lực F tác dụng vào một vật rắn như Hình 1
26.12 Tác dụng của lực F sẽ bị thay đổi trong 1
trường hợp nào dưới đây? Vì sao?
Hình 26.12D
C
D B