1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của tiểu thuyết người đi vắng ( nguyễn bình phương)

114 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Tiểu Thuyết Người Đi Vắng (Nguyễn Bình Phương)
Tác giả Nguyễn Thị Phương Trà
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 864,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên website http//chimviet.fr.free và trên trang web cá nhân của Thụy Khuê http:thuykhue.fr.free đã đăng tải khá nhiều các bài viết nghiên cứu về các yếu tố huyền ảo, tâm linh trong từn

Trang 1

55555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555555

Trang 2

1

555555555555555555555555555555555555555555555555 5555555555555555555555555555555555555555555555555555555555

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

M· sè: 60.22.01.20

Người hướng dẫn khoa học: TS Ph¹m tuÊn vò

NGHÖ aN - 2016

Trang 3

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1 NHÂN VẬT VÀ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGƯỜI ĐI VẮNG 10

1.1 Nhân vật của tiểu thuyết Người đi vắng 10

1.1.1 Khái niệm nhân vật 10

1.1.2 Các loại nhân vật trong tiểu thuyết Người đi vắng 11

1.2 Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Người đi vắng 41

1.2.1 Quan niệm về con người trong văn học 41

1.2.2 Những biểu hiện chủ yếu của quan niệm về con người trong Người đi vắng 44

1.3 Tiểu kết chương 1 64

Chương 2 THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM NGƯỜI ĐI VẮNG 66

2.1 Thời gian nghệ thuật của tác phẩm Người đi vắng 66

2.1.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 66

2.1.2 Đặc điểm của thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Người đi vắng 68

2.2 Không gian nghệ thuật của tác phẩm Người đi vắng 74

2.2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 74

2.2.2 Sự định vị không gian nghệ thuật trong Người đi vắng 75

2.2.3 Nghệ thuật thể hiện không gian 77

2.4 Tiểu kết chương 2 90

Chương 3.HỆ CHỦ ĐỀ CỦA TÁC PHẨM NGƯỜI ĐI VẮNG 92

3.1 Khái niệm chủ đề, hệ chủ đề 92

3.1.1 Khái niệm chủ đề 92

Trang 4

3.1.2 Khái niệm hệ chủ đề 93

3.2 Chủ đề: Con người tồn tại trong một hoàn cảnh đầy nghịch lý 95

3.2.1 Khái niệm nghịch lý 95

3.2.2 Các nghịch lý trong tác phẩm Người đi vắng 96

3.3 Chủ đề: Cuộc sống con người đầy dang dở 97

3.4 Chủ đề: Tồn tại đồng nghĩa với tha hóa 98

3.4.1 Khái niệm tha hóa 98

3.4.2 Biểu hiện đa dạng của sự tha hóa trong tác phẩm Người đi vắng 99

3.5 Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Bình Phương tên khai sinh là Nguyễn Văn Bình sinh ngày 29-12-1965 tại thị xã Thái Nguyên Thời chiến tranh, tác giả cùng gia đình sơ tán về xã Linh Nham thuộc huyện Đồng Hỷ, đến năm 1979 mới trở lại thành phố Thái Nguyên

Nguyễn Bình Phương học hết phổ thông trung học năm 1985 rồi vào

bộ đội; năm 1989, vào học trường viết văn Nguyễn Du; ra trường công tác một năm ở đoàn kịch nói Quân đội; sau đó là biên tập viên của nhà xuất

bản Quân đội và hiện nay công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội

Nguyễn Bình Phương là một trong những tác giả trẻ có nhiều tác phẩm tạo được sự hứng thú cho bạn đọc và nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học hiện nay Tác giả này sáng tác bằng hai thể loại chính là thơ và tiểu thuyết, trong đó tiểu thuyết có phần nổi trội hơn

Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay: Vào cõi (Nxb Thanh niên, 1991),

Nguyễn Bình Phương tập trung vào thể loại tiểu thuyết, và cũng chính tiểu thuyết đã làm cho nhà văn có chỗ đứng trong đời sống văn học vài thập kỷ gần đây Nguyễn Bình Phương được bạn đọc biết đến với sự xuất hiện liên tiếp những cuốn tiểu thuyết có cách viết mới về cả hình

thức lẫn nội dung: Bả giới (Nxb Quân đội nhân dân, 2004), Những đứa trẻ chết già (Nxb Văn học, 1994), Người đi vắng (Nxb Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nxb Thanh niên, 2000), Thoạt kỳ thủy (Nxb Hội Nhà văn, 2004), Ngồi (Nxb Đà Nẵng, 2006)

Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch nhận định: “Nếu cần lựa chọn một hiện tượng tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, ưu tiên số một chắc chắn là những sáng tác của Nguyễn Bình Phương Là sản phẩm thành công nhất của trường viết văn Nguyễn Du, kiên định trong những ý tưởng nghệ thuật, các sáng tác của anh kết tụ nhiều vấn đề có ý nghĩa tiêu biểu cho

Trang 6

tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu chiến cả trên bình diện mỹ học lẫn kỹ thuật sáng tác và mô hình tiểu thuyết…”

Cũng trong luận văn của mình, Hồ Bích Ngọc tiếp tục khẳng định: Kết cấu trò chơi rubich với sự lắp ghép giữa các thể loại kịch, thơ, truyện, sự dung hợp giữa các ẩn dụ và biểu tượng, sự đồng hiện về thời gian và không gian, ý thức và vô thức [46]

Tiểu thuyết Người đi vắng là một tác phẩm khó cảm thụ Những ai

quen đọc những văn bản văn chương “hiện thực”, những văn bản có thể

kể lại rành mạch, sẽ thấy trong tác phẩm này rất nhiều sự “vô lý”, “vô nghĩa”, thậm chí không đủ kiên nhẫn để đọc hết Tuy nhiên đọc kỹ và cố gắng thâm nhập vào thế giới nghệ thuật do tác giả sáng tạo nên với ý thức nhất quán, với nhãn quan có nhiều điểm khác lạ về thế giới và con người, sẽ thấy đây là những giá trị độc đáo, nghĩa là những cái khác thường này thực sự có ý nghĩa

Đó là những lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đặc điểm của

tiểu thuyết Người đi vắng” (Nguyễn Bình Phương)

2 Lịch sử vấn đề

Tác phẩm Nguyễn Bình Phương là thành tựu đáng kể đối với nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại Đây là một hiện tượng mới mẻ, phức tạp khiến không chỉ độc giả bình thường mà cả nhiều người nghiên cứu gặp nhiều khó khăn khi tiếp nhận

Nguyễn Bình Phương trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều cây bút phê bình

Trong các công trình có liên quan đến đề tài, về lịch sử vấn đề này, người viết xin trích dẫn một số tài liệu tiêu biểu:

Nhận xét về Người đi vắng, Thuỵ Khê trong Sóng từ trường II viết: “Tiểu thuyết Người đi vắng, tác phẩm thứ nhì của Nguyễn Bình

Phương sau cuốn Những đứa trẻ chết già, đem lại cho người đọc một kì ngạc, kì ngộ pha lẫn kì vọng bởi sau Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị

Trang 7

Hoài, có lẽ đây là tác giả thứ ba trỗi dậy trong vòng 15 năm nay, như một giá trị khai phá đích thực [34]

Trên website http//chimviet.fr.free và trên trang web cá nhân của Thụy Khuê (http:thuykhue.fr.free) đã đăng tải khá nhiều các bài viết nghiên cứu về các yếu tố huyền ảo, tâm linh trong từng tiểu thuyết của Nguyễn

Bình Phương như Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già, Tính chất hiện thực linh ảo âm dương trong tiểu thuyết Người đi vắng… đã chỉ ra những nét nổi bật nhất của từng tác phẩm

trong sáng tác của nhà văn Tác giả có những nhận xét xác đáng, có tính chất gợi mở cho những người nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương [34]

Với Người đi vắng Nguyễn Bình Phương khai triển và phát triển vùng

hiện thực linh ảo Đó là một thế giới bao quát, gồm thiên nhiên, vật giới,

hiện tượng và con người Bộ mặt vũ trụ hiện diện trong khi Người đi vắng,

“đi vắng” ở đây có thể là đi xa, thoát kiếp, mà cũng có thể là vẫn sống đấy

mà như đã chết, hay có thể đó là tình trạng hôn mê

Nguyễn Bình Phương là một tác giả luôn có ý thức đổi mới trong sáng tạo tiểu thuyết Một nhà nghiên cứu đã đánh giá: “…Nguyễn Bình Phương vẫn xứng đáng là cây bút có phong cách độc đáo của văn học Việt Nam đương đại, có nhiều sáng tạo trong nỗ lực đổi mới tư duy và nghệ thuật tiểu thuyết” [12, 239] Một trong những người đánh giá rất cao tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng Theo nhà nghiên cứu này, trong số những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương

được độc giả ưa thích có Người đi vắng Theo ông, nhà văn này thuộc số

những tác giả tiểu thuyết đã và sẽ có nhiều thành tựu: “Tôi muốn mượn cách nói của thể thao về những “hạt giống” tương lai trong lĩnh vực tiểu thuyết Con số 3 tôi đưa ra sau đây có thể có nhiều người bất đồng ý kiến:

Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương và Thuận Mỗi người trong số họ khúc

xạ một hướng đi của tiểu thuyết đương đại Việt dẫu cho mục đích cuối cùng là khám phá “cái bản thể” của con người thời đại” [74, 17]

Trang 8

Thụy Khuê trong Sóng từ trường II: Nguyễn Bình Phương có điểm qua ba tiểu thuyết: Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn Phùng Gia Thế trong bài Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhận

định: “Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào con người và cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, xã hội và gia đình, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn

bơ vơ, tình trạng bất an của con người” [34];

Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 4 năm 2008 tác giả Đoàn Ánh Dương có một bài viết Nguyễn Bình Phương Lục đầu giang tiểu thuyết Bài

viết nghiên cứu công phu, có cái nhìn hệ thống và cách tiếp cận độc đáo Tác giả đã ví mỗi tiểu thuyết như một dòng sông chi lưu hợp lưu lại để cùng đổ ra biển rộng Hướng tiếp cận của tác giả bài viết là ở cấu trúc và phương thức huyền thoại, chỉ ra nét đặc trưng nhất của mỗi chi lưu trong dòng hợp lưu chung Bài viết có khen có chê và có những đánh giá khá khách quan chính xác

về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Ở bài viết Lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương, Hoàng Nguyên Vũ thấy ở Nguyễn Bình Phương lối viết như người mộng du: “Người đọc đang có cảm giác như đang theo dõi một người mộng du đi trên một sợi dây, và phấp phỏng chờ điểm rơi của người ấy cho đến cuối truyện để rồi nhận những kết thúc bất ngờ va đau đớn” [83] Lối viết ấy tất yếu đa tạo nên màn sương nhòe

mờ cho sự xuất hiện của thế giới nhân vật Các nhân vật trong tiểu thuyết hiện

lên như những đám đông “được soi bởi một lối tư duy vô thức”

Nguyễn Chí Hoan với Những hành trình qua trống rỗng đã nhận diện

trung tâm sáng tác của Nguyễn Bình Phương là ý thức: “Chúng tôi thấy rằng

có một mối bận tâm về ý thức xuyên suốt các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương cho đến nay Tác giả này cho thấy anh cố gắng năm bắt và mô tả ý thức thông qua kinh nghiệm và suy tưởng” [28] Người viết đã gọi tên địa hạt

mà tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đang đi bằng chính sự trải nghiệm và bản lĩnh của nhà văn

Trang 9

Phùng Gia Thế cho rằng: “Nguyễn Bình Phương là nhà văn của cái đương đại Dẫu có nói về quá khứ thì cảm quan cuộc sống của nhà văn vẫn tràn ngập hơi thở hôm nay: sự đổ vỡ, khủng hoảng niềm tin, những vùng đau Đọc Nguyễn Bình Phương, người ta bàng hoàng đau đớn về thân phận con người Tiểu thuyết của anh dung chứa và thể hiện sinh động bao câu chuyện tâm thức của con người thời đại… Cái hấp dẫn trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện trước tiên ở kiểu cảm quan đời sống đặt thù biểu hiện qua thế giới nghệ thuật độc đáo” [76]

Thụy Khuê trong bài: Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cậm Cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương, đã cảm nhận cuốn tiểu thuyết “là

một bài thơ đẫm máu và nước mắt, đẫm tang thương, đầy huyễn hoặc; Những yếu tố vừa kịch, vừa phi kịch, vừa thơ, vừa phi thơ là mấu chốt trong cấu trúc tiểu thuyết”

Hoàng Cẩm Giang trong đề tài Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI đã nhận xét về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương “xen kẽ

giữa các dòng tự sự, người đọc liên tục bắt gặp những khúc đoạn lạ - mang chức năng “ngoại đề” - vốn không nằm trong “chính mạch” tự sự… để lại những khoảng trống mênh mang trên văn bản”

Hồ Bích Ngọc trong luận văn Thạc sĩ Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết sau khi đã phân tích

nhiều bình diện của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương khẳng định rằng: Sự phân rã cốt truyện là điểm thổn rất rõ và diễn ra trên hầu hết tiểu thuyết của ông… Sự phá hủy cốt truyện như trên cũng đồng nghĩa với việc nhà văn từ chối một hiện thực “tả thực”, một hiện thực “chụp ảnh” để đến với “một chân trời mới của tiểu thuyết”, một hiện thực của tâm linh, của trí nhớ và trí tưởng tượng đầy sáng tạo và bất ngờ

Tác giả Nguyễn Chí Hoan trong với bài viết Hành trình qua trống rỗng quan tâm đến vấn đề kỹ thuật của tiểu thuyết Ngồi ở lối kết cấu lập thể, kết

cấu thời gian đồng nhận, lối hành văn với sự giản yếu của các câu văn Tác

Trang 10

giả cũng chỉ ra mặt hạn chế của tác phẩm “bị kỹ thuật kết cấu kéo căng ra quá mức, khiến cho tham vọng luận đề của cuốn sách trở nên giống như một tham vọng khái quát bằng kỹ thuật dựng truyện hơn là những hoa trái của một trải nghiệm thực sự” [27]

Nguyễn Thị Ngọc Hân trong www.tienve.org đã tìm ra đặc điểm xoắn

kép nhiều mạch chảy song song trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương:

“Nguyễn Bình Phương và một số cây bút đương đại lại không đi theo lối kết cấu cũ Anh đã phá tung mọi đường biên, rào cản để tạo ra sự tự do tối đa cho tác phẩm Ở đó, các mạch truyện đan xen, móc nối nhằng nhịt: có những tá phẩm có hai mạch chảy song song đến cuối tác phẩm đã hoà vào một mạch chung, có những tác phẩm được xây dựng nên bởi nhiều mạch tạo thành kiểu

đa giọng điệu độc đáo [22]

Hồ Bích Ngọc trong luận văn thạc sĩ năm 2006 (Đại học Sư phạm Hà Nội) đã khái quát về cấu trúc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong lĩnh vực khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hoá tiểu thuyết, chỉ ra sự đổi mới, hiện đại hoá tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương về kết cấu, về nhân vật và về ngôn ngữ, giọng điệu [46]

Bùi Thị Thu khi nghiên cứu: Một số đặc điểm đáng chú ý của tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây - Khoá luận tốt nghiệp đại học (Đại học

Sư phạm Hà Nội, 2005) đã khảo sát một số tiểu thuyết đương đại trong đó có tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương Tác giả đã chỉ ra những đặc trưng trong cấu trúc, ngôn ngữ, giọng điệu của các tiểu thuyết nói trên là cấu trúc phức hợp, cấu trúc hệ thống biểu tượng, sự khiêu khích người đọc của ngôn ngữ và tính đối thoại của giọng điệu [80]

Đồng thời Thuỵ Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Nguyễn Chí Hoan… cũng đã đi vào phân tích những đổi mới của Nguyễn Bình Phương trong việc phá vỡ kiểu kết cấu tiểu thuyết truyền thống để thể nghiệm sự cách tân theo hướng kết cấu xoắn kép nhiều mảnh, kết cấu phân mảnh, cấu trúc liên văn bản…

Trang 11

Về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương:

Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thị Quỳnh Nga, Hoàng Quỳnh Giang đã tập trung vào tìm hiểu các loại hình nhân vật tiêu biểu và phương thức xây

dựng nhân vật của nhà văn Nguyễn Mạnh Hùng có bài: Người Đi Vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương? Hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỷ? đã

phát hiện ra “Nhân vật của Nguyễn Bình phương dấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó” [29]

Hoàng Cẩm Giang phát hiện ra kiểu nhân vật kí hiệu - biẻu tượng, nhân

vật biến mất trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ở luận văn thạc sĩ Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, 2006

Các tác giả trên đều nhận thấy sự đổi mới của Nguyễn Bình Phương trong việc chối từ những quan điểm xây dựng nhân vật truyền thống điển hình để khám phá ra nhiều dạng thức nhân vật mới mang ý nghĩa biểu tượng cao

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương:

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng bước đầu được giới nghiên cứu phê bình văn học quan tâm

Hoàng Thị Quỳnh Nga, trong Báo cáo khoa học năm 2004 đã tìm hiểu

phương diện Lời câm của nhân vật Tính trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thuỷ Nội

dung của lời câm biểu hiện những ám ảnh của bạo lực, cái chết, của máu và của trăng Hình thức của lời câm là ngôn ngữ chắp dính, sự phá vỡ quan hệ logic giữa các câu, các câu ngắn, câu đặc biệt, câu bị khuyết thành phần hoặc

bị bẻ gãy không theo một trật tự nào [44]

Tác giả Hồ Thị Bích Ngọc trong luận văn thạc sĩ năm 2006 (Đại học Sư

phạm Hà Nội) Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hoá tiểu thuyết đã phát hiện ra những câu văn ngắn, phi ngữ pháp;

khoảng trắng giữa hai dòng đối thoại và các hình thức nhại ngôn ngữ như sử dụng ngôn ngữ của lối chép sử biên niên, ngôn ngữ cắt dán - những phiên đoạn của đời sống [46]

Trang 12

Các tác giả đã chỉ ra đặc trưng về ngôn ngữ của Nguyễn Bình Phương thể hiện ở một số phương diện như tạo câu văn ngắn, phi logic; mảng trắng trong đối thoại; lời của người âm; lời câm của nhân vật

Các công trình nghiên cứu đề cập đến phạm vi tiểu thuyết Việt Nam đương đại, rộng hơn là những tiểu thuyết cụ thể của Nguyễn Bình Phương Những công trình nghiên cứu khoa học có tính khái quát về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và một số bài viết về Nguyễn Bình Phương là tài liệu gợi ý

quan trọng cho chúng tôi tìm đến đề tài: Đặc điểm của tiểu thuyết Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài này nhằm nhận thức được những đặc điểm cơ bản

nhất của tiểu thuyết Người đi vắng về phương diện nội dung và hình thức

3.2 Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu tính cách và số phận của những nhân vật chính trong

tiểu thuyết Người đi vắng và nghệ thuật thể hiện các giá trị này

- Nghiên cứu thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm

- Nghiên cứu hệ chủ đề của tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận các giá trị thuộc nhân vật, thời gian

và không gian, hệ chủ đề của tiểu thuyết Người đi vắng như từng hệ thống

thuộc một hệ thống lớn là toàn bộ tác phẩm

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp đối sánh: Đối sánh để nhận ra sự tương đồng và khác biệt lớn giữa nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật, chủ đề của tiểu

thuyết Người đi vắng với một số tiểu thuyết khác cùng tác giả

Trang 13

5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật,

hệ chủ đề của tiểu thuyết Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương

Theo chúng tôi đó là những phương diện có những đặc sắc của tiểu thuyết này

Văn bản dùng để nghiên cứu là Nguyễn Phương Bình: Người đi vắng,

Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2013

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn có ba

Trang 14

Chương 1 NHÂN VẬT VÀ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI

TRONG TIỂU THUYẾT NGƯỜI ĐI VẮNG

1.1 Nhân vật của tiểu thuyết Người đi vắng

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Văn học là sự phản ánh đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của người nghệ sĩ Nhân vật chính là “phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng” [16; 126] Qua việc thể hiện hệ thống nhân vật, nhà văn “thể hiện tư tưởng thái độ đối với đời sống, ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa nhân vật là xót

xa đời Do vậy, tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu con người và cuộc đời” [70] Thuật ngữ “nhân vật” được lấy từ tiếng Pháp và có nguồn gốc La Tinh Người ta gọi bằng “persona” - “cái mặt nạ mà diễn viên đeo vào mặt

và về sau gọi là nhân vật được miêu tả một cách nghệ thuật trong tác phẩm”

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Nhân vật văn học “là đối tượng (thường

là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học, nghệ thuật” [52; 881]

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là con người

cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, Chí Phèo,…) cũng có thể không có tên

riêng như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong Truyện Kiều Trong

truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một

ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể nói nhân dân là nhân

vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơ-giê-ni Grăng-đê của Ban-dắc,… [20; 235]

Trang 15

Số lượng nhân vật trong tác phẩm văn học thường không có giới hạn, đặc biệt trong tiểu thuyết sử thi số lượng nhân vật có thể lên đến hàng trăm nhân vật Các nhân vật trong tác phẩm văn học bao giờ cũng tạo thành một

hệ thống hoàn chỉnh Hệ thống nhân vật “là sự sắp xếp mối tương quan của các nhân vật (…) sao cho các nhân vật ấy có thể tương phản nhau, đối chiếu nhau hoặc bổ sung cho nhau, tôn nhau lên” (Trần Đình Sử) Các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật “hình như đều liên can nhau, không chỉ móc nối nhau bằng tiến trình sự kiện được miêu tả mà suy đến cùng còn bằng lôgic tư duy của nhà văn” [68; 20]

Trong tác phẩm văn học, nhân vật chính là phương diện để nhà văn khái quát văn học một cách hình tượng, là hình thức để nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người Hà Minh Đức cho rằng: “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một vấn đề nào đó” Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới con người một cách hình tượng Bản chất văn học là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất định

Như vậy, nhân vật trước hết là con người được miêu tả trong tác phẩm bằng hình tượng nghệ thuật, đồng thời nhân vật “là công cụ” giúp nhà văn thể hiện những quan điểm nghệ thuật về đời sống nhân sinh Nhân vật là cầu nối dẫn dắt người đọc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn,

để hiểu rõ hơn về đời sống hiện thực trong một thời kì lịch sử nhất định

1.1.2 Các loại nhân vật trong tiểu thuyết Người đi vắng

Nhân vật là phạm trù quan trọng bậc nhất của tiểu thuyết Trong tiểu thuyết của các phương pháp nghệ thuật, của các dân tộc và các tác giả, vai trò của các phương diện thuộc nhân vật có thể không giống nhau, nhưng về tổng thể, vị trí này của nhân vật không thay đổi Thông thường, nghiên cứu nhân vật không thể bỏ qua thao tác phân loại, tuy nhiên càng ngày người ta càng thấy đối với những tiểu thuyết có những tìm tòi, những đổi mới đích

Trang 16

thực thì việc phân loại nhân vật nhiều khi càng tỏ ra bất cập Sự vật, hiện tượng trong tác phẩm đa dạng phong phú nên không phải lúc nào sự phân loại cũng thỏa đáng Con người vốn là thực thể phức tạp, khó khuôn vào

những tiêu chí chủ quan, đơn nhất Phân loại nhân vật của tiểu thuyết Người

đi vắng thực sự là công việc khó khăn vì ngoài lý do đó còn vì tác giả tri nhận

cuộc sống một cách đặc biệt Bởi vậy sự phân loại mà luận văn này đưa ra chỉ có tính chất tương đối

Chúng tôi tạm phân chia nhân vật trong tiểu thuyết Người đi vắng

thành ba loại:

- Loại nhân vật hiện tồn

- Loại nhân vật là “người đi vắng”

- Loại nhân vật vừa hiện tồn vừa là “người đi vắng”

1.1.2.1 Loại nhân vật hiện tồn

Loại nhân vật ở đây không phải theo nghĩa rộng mà theo nghĩa hẹp, chỉ hình tượng con người trong tác phẩm Hiện tồn nghĩa là đang còn sống Đây là một tiêu chí khu biệt vì trong tác phẩm này, Nguyễn Bình Phương còn viết về thế giới những người đã qua đời cũng đông đảo không kém thế giới người đang sống Ở đây sự tồn tại của con người cũng được chúng tôi quan niệm là sự hiện hữu bình thường ở cả đời sống thể chất, cả đời sống tinh thần Đây là tiêu chí khu biệt cơ bản thứ hai vì trong tác phẩm này tác giả thể hiện nhiều nhân vật tuy thân xác đang ở cõi này nhưng hồn vía đang

để ở đâu đâu Vẫn có mặt nhưng là một kiểu “người đi vắng” - đó là quan niệm độc đáo của Nguyễn Bình Phương và loại nhân vật này chúng tôi không xếp vào loại nhân vật hiện tồn

Thuộc số nhân vật hiện tồn theo quan niệm chúng tôi vừa trình bày có các anh chị em của Thắng: Muôn, Sinh, Kỷ, Sơn; những người ở cơ quan của Thắng (trừ Thắng và Chung); bố của Hoàn và những người ở cơ quan của Hoàn (trừ Hoàn và Cương từ sau ngày Hoàn bị nạn) Những người này

ở nông thôn (phía gia đình Thắng), hay ở phố thị (gia đình Hoàn) nhưng

Trang 17

đều là dân tự do; hay cả những người thuộc cơ quan Thắng hay cơ quan Hoàn đều là viên chức nhà nước Những người đàn ông hay đàn bà ấy thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau nhưng có chung đặc điểm là tồn tại theo quán tính, buồn chán cơ quan hành chính như cơ quan Thắng,

cơ quan văn hóa nghệ thuật như cơ quan Hoàn đều tập trung những tệ hại muôn đời là lãng phí, bê tha khác, lấy việc săm soi vào đời tư người khác như là một thú vui bất tận

Đọc hết tác phẩm, độc giả cũng không biết cơ quan Thắng làm gì Chính người trong cuộc cũng vậy Khi được Thư hỏi về công việc, Thắng ớ

ra, không biết lâu nay mình làm gì Lãnh đạo phòng còn như thế, nói gì đến nhân viên

1.1.2.2 Loại nhân vật là “người đi vắng”

Theo nghĩa thông thường, khi nói ai đó đi vắng tức là chỉ việc người này không có mặt ở một địa điểm nào đó, ví dụ Yến và Sơn rời nhà đến bệnh viện, rồi sau đó đến nhà ông bà Khánh để thăm Hoàn trong thời gian

cô bị nạn Trong toàn bộ tác phẩm chỉ có đây là hai trường hợp “đi vắng” theo nghĩa thông thường và Nguyễn Bình Phương cũng không dùng hai chữ đó theo nghĩa này

Những “người đi vắng” ở đây thuộc về cõi chết Đó là những người thuộc quá khứ xa (công chúa Diên Bình thời Lý, vợ chồng Lưu Nhân Chú

và Lê Sát thời Lê, những người tham gia binh biến ở Thái Nguyên đầu thế

kỷ XX) Những con người này không có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với các nhân vật thời đương đại đang được nói đến Trong số này chúng tôi chú

ý hơn đến những người tham gia cuộc binh biến ở Thái Nguyên

Số còn lại thuộc quá khứ gần, trong đó có những con người có quan

hệ (duy vật hay duy tâm) với các nhân vật hiện tồn (Tuyết có quan hệ với Chung; người mẹ của Thắng, hồn ma là “ngày xưa” của Hoàn…)

Cuộc binh biến Thái Nguyên được tác giả tái hiện ở đoạn liền sau những dòng tai nạn đến với Hoàn (trang 66) và là mạch truyện được triển

Trang 18

khai song song với mạch truyện về nhóm người thời đương đại và những việc liên quan với họ Tác giả không viết về những người, những việc của giai đoạn nhen nhóm cuộc binh biến mà bắt đầu bằng việc cuộc khởi nghĩa

nổ ra:

“Tháng 10 năm 1917

Mười một giờ năm

Đề lao Thái Nguyên”

Những dòng này thuộc chính văn của cuốn tiểu thuyết mà những dòng phụ chú trong một kịch bản Những dòng này cũng báo hiệu đặc điểm của những trường đoạn viết về cuộc binh biến này: cụ thể, tường minh, đậm đà sắc thái hiện thực Nguyễn Bình phương viết về những nhân vật chủ chốt của cuộc binh biến Thái Nguyên Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn, Lập Nham, Cả Thấu, cai Xuyên, đội Trường Ngoài ra tác giả còn hư cấu một nhân vật phản diện người Việt (Sĩ) Phía bên kia, sĩ quan, binh lính Pháp và người bản xứ được tái hiện một số cá thể: đội Giá, cai Xuyên và nhân vật đám đông

Nguyễn Bình Phương tiếp cận sự kiện và con người của cuộc binh biến Thái Nguyên bằng tư duy của người viết tiểu thuyết thế sự, không phải bằng tư duy của người viết tiểu thuyết sử thi hay tiểu thuyết lịch sử

Càng ngày người ta càng có quan niệm đa dạng hơn về sự kiện và nhân vật lịch sử? Không có chân lý lịch sử tuyệt đối khách quan Lịch sử -

đó là hình dung của người ta về lịch sử Người ta tri nhận lịch sử bằng nhãn quan cá nhân, giai cấp và thời đại Mỗi loại hình tư tưởng lại có đặc thù về mục đích, phương pháp và phương tiện để nhận thức lịch sử Người ta thường nói nơi nhà chép sử dừng lại là nơi nhà tiểu thuyết bắt đầu Và nhiều người biết đến tuyên ngôn của A Duma (tiểu thuyết gia nổi tiếng người Pháp): Lịch sử chỉ là cái đinh để tôi treo bức tranh của mình

Đã thành truyền thống lâu đời và bền vững trong văn học Việt Nam:

Ưu tiên viết về các nhân vật và sự kiện có ý nghĩa tích cực đối với quá trình

Trang 19

dựng nước và giữ nước của dân tộc Đi với đối tượng như vậy, thủ pháp nghệ thuật đương nhiên là lý tưởng hóa, lãng mạn hóa Những nhân vật phản diện hữu quan được cực đoan hóa để phủ nhận Đó là hai cách của cùng một mục đích: viết để nêu gương Mục đích giáo huấn có khi lấn át mục đích sáng tạo nghệ thuật

Chỉ riêng việc tái hiện cuộc binh biến Thái Nguyên đã là một thành công rất đáng kể của Nguyễn Bình Phương Những ghi chép vắn tắt trong các tài liệu lịch sử những trang văn của Nguyễn Bình Phương về cùng một

sự việc nhưng có những sự khác biệt lớn Các nhân vật của Nguyễn Bình Phương sống động, có quan hệ với nhau và có tính cách, số phận riêng Tác giả đã tiếp cận cuộc binh biến này bằng tư duy tiểu thuyết thế sự Tư duy này nhìn nhận con người trong những kích thước bình thường, không chủ tâm nâng con người lên tầm kỳ vĩ Chẳng hạn chỉ từ việc tìm vợ cho Đội Cấn, tác giả đã cho nhiều nhân vật bộc lộ tư tưởng cảm xúc với vị thế của

họ Hai người anh của nàng (vốn là hai tướng cướp) lấy quyền làm anh

“dâng” em gái mình cho người mà họ ngưỡng mộ Người con gái - trái với đạo lý đương thời - dám bộc lộ tâm sự thực của mình Nàng nói với Lương Lập Nham:

- “Nhưng em không yêu ông ta Lấy ông ta… em không chịu được” Một con người được bao nhiêu người kính phục như Đội Cấn, nhưng không được một người con gái tự nguyện trao gửi con tim Có câu ngạn ngữ: Con tim có lý lẽ của riêng nó

Lương Lập Nham biết nàng yêu mình và ông cũng tự biết mình yêu nàng Ông “cầu mong nàng chết trong cuộc bạo binh ấy để xứng với những

gì nàng đánh đổi”

Trong thâm tâm, Đội Cấn cũng thấy được sự khác biệt giữa mình và người con gái ấy Trong những giờ phút cuối cùng của cuộc binh biến (cũng là giờ phút cuối của Đội Cấn) ông vẫn nhớ đến nàng và không quên

sự cách biệt ấy

Trang 20

“Từ khi tút về Tam Đảo, rồi lộn về vùng này, đêm nào ta cũng mơ thấy mình Mình gầy, xanh xao, không nói gì, chỉ nhìn ta rồi bỏ đi Bao đêm đầu gối tay ấp, mình đã rủ rỉ với ta về tự do, ta biết, mình nói hộ người khác… Bản thân mình cũng chưa hiểu tự do là gì Lập Nham dạy mình từng lời ăn tiếng nói khi tiếp xúc với ta Ta biết nhưng ta yêu mình”

Theo chúng tôi, bản thân phần viết về cuộc binh biến Thái Nguyên đã

là một văn bản văn chương thực sự

Lý do nào để công chúa Diên Bình, vợ chồng Lưu Nhân Chú và Lê Sát, những người liên quan đến cuộc binh biến… xuất hiện trong tiểu thuyết này? Chúng tôi chưa tìm được mối liên hệ giữa những người thuộc hai trường hợp đầu với những người đương đại Còn với trường hợp sau,

họ xa nhau về thời gian và tính cách, số phận… nhưng đều là những người

đã hoặc đang sống trên cùng một vùng đất Ngoài ra, sự thất bại của cuộc binh biến góp phần thể hiện chủ đề: Tất cả đều dang dở

Tiểu thuyết Người đi vắng còn có một loại “nhân vật” văn học theo

nghĩa rộng Đó không phải là hình tượng con người mà là những hiện tượng thiên nhiên được nhân hóa, hoặc những sự vật hiện tượng do tác giả sáng tạo nên bằng cách mô phỏng những hình tượng kỳ dị của truyện liêu trai hoặc không theo một khuôn mẫu nào Loại nhân vật này rất đông đảo: sông Linh Nham, bãi tha ma Linh Nham, sông Cầu, con rồng đất, đám sương

mù, cái bào thai, khuôn mặt người, hồn ma của những người chết có tên và không tên… Có thể nói, trong tác phẩm này của Nguyễn Bình Phương, không chỉ con người mà tất cả các sự vật, hiện tượng đều có thể biểu lộ sự tồn tại của mình bằng ngôn ngữ, hành động Chúng tôi xếp chúng vào loại nhân vật “đi vắng” vì không thường xuyên xuất hiện, hơn nữa chỉ có những nhân vật nào

đó tri nhận được loại “nhân vật” này Ông Điều và lão Bính nghe nói đến rồng đất từ hồi trẻ và khi con cái nhà ông Điều phá nhà cũ, làm nhà mới thì nó xuất hiện dưới móng nhà, làm Kỷ chết khiếp Đám sương mù chỉ “đành hanh” với con Hà, Đội Cấn thấy “sông Cầu rống lên”

Trang 21

Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại chưa gặp ở tác phẩm nào thế giới phi nhân (không phải con người) đông đảo, ma quái như ở tác phẩm này Nguyễn Bình Phương tiếp thụ quan niệm “vạn vật hữu linh” của phương Đông và nghệ thuật sáng tạo những nhân vật quái dị của thế giới Tóm lại loại nhân vật là “người đi vắng” đông đảo nhất và đa dạng nhất trong tiểu thuyết này Chính nhan đề tiểu thuyết đã tập hợp những hình tượng, hình ảnh rất khác nhau này lại, càng góp phần thể hiện chủ đề tác

phẩm

Là kiểu nhân vật đã được mờ hoá, xuất hiện trong thế giới ảo của các nhân vật trong tác phẩm Những nhân vật đó có thể là cái bóng của các nhân vật chính, cũng có thể là những sự vật, hiện tượng hằng ngày

Vào truyện, Nguyễn Bình Phương đã cho xuất hiện những nhân vật đi vắng chủ động đầu tiên như: Mưa rào và Sấm, chân dung của “họ” được hiện lên:

“Mưa xuân ắt phải khác mưa rào Mưa xuân buồn bã phơ phất lang thang như người mộng du mặc áo xám đi trên đồng vắng bãi thưa Nhưng đây là mùa hạ, dù thích hay không mưa rào vẫn có mặt ồn ã, hào phóng chẳng khác gì một gã trai đẹp mã nhưng hơi ngu độn, nông cạn Mưa rào lấp lánh ngân nga tiếng chuông Sấm gừ gừ ở chốn cao xa, uyển chuyển như con mèo thoắt lui về thoắt phóng xa, xoãi hai chân trước, móng co cứng lại cào lên tấm vải bạt đã cũ rích nhưng còn khá bền Mưa rào thực sự

là một đám rước” [61,6]

Trong Người đi vắng, có “ngôi nhà tự nhiên ngứa ran lên”, cây tùng

kỳ vĩ, cây chuối, bụi cậm cam; dòng sông tự kể chuyện về cuộc đời mình, những bức thư biết nói, đám sương mù biết trêu ghẹo người… chúng cũng như có linh hồn, có tâm sự vui buồn riêng biệt

Hay lời tâm sự của dòng sông Linh Nham cũng như một phát ngôn ngạo mạn như hình bóng con người thấp thoáng: “Ta vươn qua lớp lá mục chồng chéo hàng vạn đời Thời gian thắng thế chỉ vì biết kiên nhẫn Ta

Trang 22

trong suốt lướt êm ru qua mặt trời qua trăng, trên những đám mây mờ tỏ đôi khi ai đó còn quên lại một bàn cờ màu gụ Ta róc rách miên man, yêu những buổi ban mai khi ánh sáng chưa kịp toả rạng trên vạn vật với làn da xanh trong của cơ thể không hình hài đột nhiên hiển hiện giữa sương sớm mát dịu và thanh khiết Xa xửa xa xưa có một thằng bé tên là Thắng đã tắm trong ta…” [61, 42- 43]

Nhân vật tồn tại giữa hai cõi âm - dương, ảo - thực, giữa chúng luôn

có sự liên hệ bền chặt nhiều khi khó tách biệt rõ ràng Cũng chỉ có vì thế

mà chỉ có một sự kiện đào móng xây nhà của gia đình cụ Điển cũng xuất hiện bao hình ảnh ghê rợn ma quái: “Tiếng trầm trầm chạy quanh hố móng làm mặt đất rung lên bắn vào da thịt Kỷ tê tê Chớp nhoáng lên, khoảnh khắc đó đủ để kỷ nhìn xuống dưới hố móng đúng chỗ tay thợ vừa bỏ cuốc xuống, một cái bọc đen lùng nhùng trồi lên với lớp da đen nhẵn màu đất sét” [61, 327] Đó cũng chính là đầu mối dẫn đến bao nhiêu biến cố bất thường của hàng loạt số phận: Hoàn gặp tai nạn (trong một tình huống khó hiểu); Sơn chết (do sự hối thúc của một bàn tay vô hình); ông Khánh mất trí (như bị ai đó lấy cắp linh hồn); Cương điên loạn (như sự trả giá nghiệt ngã cho cuộc tình vụng trộm với Hoàn)… Những linh hồn người sống và chết đều không tìm được sự thanh thản Hay nói đúng hơn họ không được sống trọn vẹn với thực tại; luôn hiện hữu với một thế giới vô hình khó nắm bắt

Sự quái đản, kỳ lạ, ma mị, ảo giác chính là một phần trong cuộc sống của nhân vật, nó tồn tại bền bỉ và chính cái ảo ảnh dó làm nhoè đi ranh giới hiện thực mà ta không thể lý giải được

Hiện thực trong tiểu thuyết Người đi vắng không chỉ là hiện tại mà

còn chen lẫn dòng chảy quá khứ , có thể bị đẩy lùi về khoảng mờ mịt, xa xăm Đó còn là hiện thực của trạng thái hôn mê, hồi ức Tất cả hợp thành một thế giới tàn phai mà không có sợi dây ngăn cách nào giữa nó với thế giới hiện hữu Những kí ức của nhân vật về dĩ vãng nhưng không phải là

Trang 23

một dĩ vãng bình ổn, tròn trịa mà là một dĩ vãng tàn phai, nghĩa là nó đã từng tan ra, rữa ra, nó cho thấy dấu hiệu của sự hủy diệt

Trong tiểu thuyết Người đi vắng có không gian bãi tha ma với những

âm thanh ghê rợn cùng với ánh sáng đom đóm ma quái và những đốm lên tinh xanh lét Người ta cảm thấy: “Hình như có những âm thanh lạ vọng ra

từ bãi tha ma; tiếng rì rầm hổn hển lúc dâng lên hạ xuống, khi ùa đến gần rồi lùi xa chập chờn mê hoặc… Đom đóm tự nhiên dạt ra, tán loạn, hốt hoảng” Nơi ấy đêm đêm còn có tiếng rì rầm chuyện trò của các hồn ma, kể

về cuộc đời, số phận mình với bao nỗi niềm oan trái, bao ám ảnh tàn khốc:

“tiếng thét lại cất lên từ bãi tha ma thê lương, tuyệt vọng giữa cơn mưa thốc tháo”; “những tiếng thều thào cất lên cùng tiếng gõ cành cạch vào cửa kính Vang vọng trong không gian còn là tiếng ru em của người chị ở bãi tha ma Lời ru ấy có nỗi nhớ về người mẹ: “Ngủ đi ngủ đi, bé ơi Chị sẽ kể cho bé nghe chuyện về mẹ của chúng mình… Mẹ bảo đêm nào hoa cũng đến chơi với mẹ Mẹ đi thăm hoa một mình bé ạ, một mình thôi vì lúc ấy chưa có chị

em mình [61, 70- 71] Một người mẹ vắng mặt, lại hiện lên trong trí nhớ, trí tưởng tượng của người con gái nên hình ảnh bàng bạc một lớp sương khói Một hồi ức không trọn vẹn ở lại cùng với sự vô tăm tích của người mẹ Hay đó là nhân vật xuất hiện trong ký ức của nhân vật xưng mình về dòng sông cuộn trôi mang theo Tuyết - người yêu về nơi quyên lãng: “nhớ

là cái gì đó vô cùng khó khăn, mình nghĩ thế Mọi thứ cứ lặng lẽ qua đi, qua tuột đi, vô tình, lạnh lùng, không có cơ hội trở lại… Tuyết nhìn mình rồi trôi qua như cái lá lẫn vào với nhau bao nhiêu kỉ niệm bập bềnh trôi nổi Một ngày đi cùng Tuyết, xa, rất xa tới đại dương mênh mông của thời gian, một nơi mọi thứ đều bị hoà tan để trở thành khoảng xanh nhạt tù đọng Người ta đồn Tuyết mất tích mình biết Tuyết trôi đi” [61, 120- 121] Ngay

cả khi người yêu của cô gái ấy biết cụ thể thì sự “trôi đi” cùng với dòng nước mênh mông cũng là sự ra đi nhuốm màu huyền thoại Nhân vật Tuyết chỉ hiện lên mơ hồ, rồi hồi ức đó của nhân vật mình vô tình bị đứt đoạn với

Trang 24

cuộc tình không đi đến tận cùng Hay lần khuất trong đêm lời thủ thỉ về cuộc đời của người đàn bà gầy guộc không có mắt Trong kí ức của người đàn bà hiện lên hình ảnh người chồng phụ bạc gắn với cỏ tóc tiên

Trong Người đi vắng xuất hiện khá nhiều thân phận, linh hồn lang

thang phiêu bạt trong đêm Có người dắt cháu đi tìm mẹ, cứ đi với những bước chân vô định, không biết mình sẽ dừng lại ở đâu: “Những con bướm lênh đênh bay ngược lại chúng tôi Những con bướm ma có khoáy đen và chấm đỏ như đầu thuốc lá: “Tao đếm đến ba thì chúng mình vụt nhé” Ngày xưa tôi bảo thế mỗi khi anh em tôi cầm cành dong tre đi bắt bướm… Có thể

do bắt nhiều bướm quá nên em gái tôi mới phát bệnh, bỏ đi lang thang” [61, 134] Những con bướm ma bay lênh đênh gợi lại ở người bác tuổi thơ từng đi bắt bướm và nhân vật cứ thế trôi đi trong mạch suy tư về thân phận người em gái Sự cắt nghĩa đầy mơ hồ (có thể…) cùng những ý nghĩ vụt hiện và hoà lẫn vào nhau càng khiến cho nhân vật như mờ nhoè hơn, lênh đênh trong chính thế giới của mình

Hay ở Người đi vắng, Lập Nham luôn nhớ về hình bóng của vợ

Đội Cấn Sự mất tích của nàng khiến ông trăn trở rất nhiều: “Nàng đi đâu?” Trong hồi tưởng của ông, bóng dáng nàng vẫn thấp thoáng:

“Ông nhìn thấy nàng lần cuối vào ngày thứ năm của cuộc khởi nghĩa Khi đó, nàng đứng trong nhà, nửa người chìm sâu vào bóng tối… Hôm sau, tình hình căng thẳng, hôm sau nữa chuẩn bị rút Ông không nhìn thấy nàng…Vào cái giây phút Trịnh Văn Cấn tì nòng súng vào bụng mình ông thấy buồn bã vô hạn Ông nhìn quanh…Không có nàng” [61, 233] Với Đội Cấn, thì ông thường hướng lòng mình về người quân sư Lập Nham:

“Tôi nhớ vợ tôi, cô ấy biến đi như một viên đạn bắn trượt Tại sao cô ấy lại biến đi hả tiên sinh? Tại sao tiên sinh lại nhờ tôi bắn, tại sao tiên sinh lại nhờ tôi bắn, tại sao lại là tôi mà không phải là kẻ khác? Người

có học thường thâm hiểm, chấp dai Tôi nghĩ tiên sinh không phải là hạng người đó nhưng tôi vẫn day dứt” [61, 233] Nỗi trăn trở về người

Trang 25

vợ mất tích, về cái chết của Lập Nham đã khiến Đội Cấn không thể có cuộc sống bình lặng Những tâm sự của ông với người vợ đã ra đi cho thấy ông là người chồng hết lòng vì vợ, cảm thông và tôn trọng ý muốn của vợ: “Mình, sao mình lại bỏ đi mà không nói với ta một câu Mình giận ta vì cái gì, vì cái gì nào? Mọi sự ta đã làm theo ý thầy Ba với mình Ta biết, mình hi vọng rất nhiều ở ta nhưng mà… Mình bảo ta rằng mẹ mình đã quyên sinh để cho mình nhẹ gánh theo ta mưu việc lớn Thì đây, việc lớn đã khởi lên, tiếng vang đã dậy khắp nước Nam, mình còn đòi hỏi gì nữa…” [61, 233] Mãi mãi ông bất lực trước nguyên nhân về sự ra đi của người vợ nên vẫn âm ỉ nỗi đau trong dòng suy tư của ông, vì vậy nhân vật “mình” luôn hiện tồn trong ông Ở đây cũng có thể coi đó là nỗi niềm khi ý thức được suy nghĩ của mình và vợ mãi mãi là hai đường thẳng song song không bao giờ có gặp gỡ: “Vì cái

gì nào? Mình còn đòi hỏi gì nữa?”

Nguyễn Bình Phương đã sử dụng thủ pháp nhân hóa cùng với những hình ảnh sống động để xây dựng được những nhân vật, đồ vật có linh hồn con người: cây chuối biết nói tiếng người; một đám mây biết cười chê, chế nhạo, và những câu chuyện thì thầm to nhỏ lúc đêm khuya Đó không chỉ là những phép nhân hóa đơn thuần mà còn kết hợp với dụng ý trở lại với thi pháp cổ tích Quan niệm vạn vật đều có linh hồn là một cái nhìn mang dấu

ấn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Bình Phương còn sử dụng những điểm nhìn nghịch dị: những con người cô đơn mang nặng những ám ảnh; những xác chết; những bào thai Nguyễn Bình Phương đã sử dụng hệ từ ngữ và những câu văn đặc biệt

Tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Bình Phương còn được thể hiện ngay

trong việc sử dụng từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết Người đi vắng Tác

giả đã sử dụng kiểu ngôn ngữ đối thoại với nhiều khoảng trống, khoảng trắng Lan man trong dòng kí ức bất tận, các nhân vật trong tiểu thuyết của

Trang 26

Nguyễn Bình Phương thường nghĩ nhiều hơn nói, do đó các đoạn đối thoại thường rời rạc, buồn tẻ, thậm chí là vô nghĩa

Tác giả đã sử dụng những kiểu câu văn đặc biệt như lời hồn ma được ghi lại một cách đứt đoạn: “Chị mệt lắm, sợi dây đang siết lại như cũ Tại sao em bỏ đi, tại sao? có trở lại không… cái ghế… đất… chị khó thở…” [61, 150] Với những dạng câu văn như thế này thì những ám ảnh đau khổ của con người khi còn sống luôn bám riết họ cho tới tận lúc chết

Trong tiểu thuyết Người đi vắng màu sắc huyền thoại đậm đà Có ý

kiến cho rằng “chỉ đến tiểu thuyết này, ý hướng sử dụng phương thức huyền thoại của Nguyễn Bình Phương mới được sử dụng một cách triệt để” [12, 213] Trong văn học Việt Nam từ 1945 đến 1986, phương thức huyền thoại, hoặc ở mức độ hạn chế hơn - thủ pháp huyền thoại - có vị trí hết sức khiêm tốn Trong những thập kỷ đó, chủ nghĩa hiện thực - với cách hiểu có đặc tính cốt lõi là phản ánh cuộc sống với hình thức của bản thân nó - chiếm vị trí thống soái Hơn nữa trong các thập kỷ này quan niệm chính thống yêu cầu tác phẩm văn chương phải bộc lộ rõ ràng chủ đề, xem đây như là một biểu hiện của tính Đảng Những điều này cản trở sử dụng huyền thoại Huyền thoại là kết quả của những cách tri nhận khác lạ xuất phát từ cơ sở triết học nào đó Bản chất của hình tượng huyền thoại là không đơn nghĩa Chúng tôi

cho rằng trong tác phẩm Người đi vắng, huyền thoại tồn tại với tính cách là

thủ pháp, chưa có tính hệ thống như là xuất phát từ cơ sở triết học và mỹ học thấm nhuần trong toàn bộ tiểu thuyết Đúng như nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương nhận định: “Thế giới huyền thoại tuy nhiều ít gây ra hiện tượng khó tiếp nhận cho đông đảo người đọc nhưng lại tạo được những ám ảnh nhiều chiều” [12, 221] Xin nói thêm là để tiếp cận được các giá trị này cần phải hiểu biết nhất định về mỹ học của cái huyền thoại - điều không dễ có được Thực tiễn tác phẩm phong phú sẽ có tác dụng làm phong phú thêm cho lý luận văn nghệ nói chung và lý luận văn học nói riêng

Trang 27

“Người đi vắng” là định danh nhân vật trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Bình Phương Tên gọi này chỉ ra sự thiếu hụt trong các nhân vật của nhà văn, một trạng thái thiếu vắng, không hoàn thiện, mơ hồ và khó xác

định Trong tiểu thuyết Người đi vắng Nguyễn Bình Phương đã để các nhân

vật của mình rất nhiều lần nhận xét về các nhân vật khác là đi vắng Vậy hẳn nhiên đây là một trạng thái được Nguyễn Bình Phương quan tâm Trạng thái

đi vắng của nhân vật phản ánh cách nhìn con người, quan niệm về con người đương đại của nhà văn

Chúng tôi tạm phân loại nhân vật đi vắng trong tiểu thuyết Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương thành hai loại nhỏ Loại thứ nhất đó là loại

nhân vật trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm nhưng bản thân nhân vật này bị thiếu hụt một yếu tố nào đó của hình thức hoặc tinh thần, nhân cách.Trạng thái đi vắng này là đi vắng với chính cá thể con người anh ta Thứ hai là loại nhân vật thuộc quá khứ (công chúa Diên Bình thời Lý, cha con Lưu Nhân Chú và Lê Sát thời Hậu Lê, những người thời khởi nghĩa Thái Nguyên) và những người thuộc đương đại nhưng đã qua đời

Loại thứ nhất là loại nhân vật khá phổ biến trong tiểu thuyết Nguyễn

Bình Phương nói chung và cuốn tiểu thuyết Người đi vắng nói riêng Nhân vật trong tiểu thuyết Người đi vắng ít khi có hình thức hoàn chỉnh, đẹp đẽ

(trừ một số nhân vật nữ) Nguyễn Bình Phương cố gắng tạo ra một thế giới con người chân thực và sinh động, ngổn ngang như nó vốn có Tuy nhiên

sự thiếu hụt, vắng khuyết về mặt hình thức chưa phải là dạng thức tiêu biểu của loại nhân vật này Kiểu nhân vật đi vắng về mặt tinh thần, trạng thái cảm xúc, tồn tại mà lại như xa cách, như không tồn tại mới là dạng nhân vật rất phổ biến trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương

Trong tiểu thuyết Người đi vắng, loại nhân vật này không chỉ là con

người, mà đối với Nguyễn Bình Phương thì lá chuối, cục đất, mặt đất, sấm, chớp, mưa, mây, ban mai, con mọt, con bò, con sâu răng, con rồng, con đom đóm, không khí, sương mù, cây nhãn, cây tùng, ánh sáng, thai nhi, cái

Trang 28

chuông, cái chậu,… đều phát ngôn, đều hành động, tác dụng vào môi trường, có phản ứng như một thực thể tồn tại, không khác gì con người Chữ “nhân vật” ở đây hàm nghĩa: người, vật và hiện tượng

Nhân vật người đi vắng đó là những người đã chết, mà cũng có thể là vẫn sống đấy mà như chỉ là sự tồn tại không đúng với ý nghĩa đầy đủ của

sự sống

1.1.2.3 Loại nhân vật hiện tồn vừa là “người đi vắng”

Thực ra từ lâu văn chương thế giới nói chung và nhà văn Việt Nam nói riêng đã phản ánh hiện tượng con người không sống đúng với nghĩa đẩy đủ của từ này, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong

văn học Việt Nam đương đại, tiêu biểu nhất về chủ đề này là Thời xa vắng

của Lê Lựu Đóng góp của Nguyễn Bình Phương ở chủ đề này là đã kế thừa quan niệm nhân văn đó và triển khai nó đa dạng hơn Có thể nói Lê Lựu triển khai ở điểm (nhân vật Giang Minh Sài) thì Nguyễn Bình Phương triển khai ở diện (nhiều nhân vật) Đương nhiên về chủ đề này thì cống hiến của Lê Lựu là không ai sánh được Tác giả đã nêu một vấn đề nhân sinh quan trọng bằng việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật sinh động, ở thời điểm chưa mấy ai nghĩ đến

Thuộc số nhân vật vừa hiện tồn vừa là “người đi vắng” ở tác phẩm này

là cụ Điển, cụ Điều, lão Bính, Thắng, Hoàn, Yến, Cương, Chung Ngoài ra vừa hiện tồn vừa đi vắng như là một tâm thế sống còn thấy ở nhiều nhân vật khác, ở mức độ mờ nhạt hơn Xét ở tính chất các nhân vật loại này cũng chia làm hai nhóm Cụ Điển, cụ Điều, lão Bính là những người cao tuổi, tuy vẫn tồn tại ở đương thời nhưng dường như thuộc ở cõi khác Ông Điều

do nhiều tuổi, mắt không còn nhìn được nên chậm chạp, ít thể hiện bằng hành động và tiếng nói để cho thấy sự hiện diện của mình như một cá thể sống động Cụ Điển và lão Bính thì linh hoạt hơn nhưng đều tin vào phép thuật và những chuyện hoang đường - những điều mà những người đầu óc bình thường ngày nay không còn tin Ba con người này như là sự hiện diện

Trang 29

của cái cổ xưa trì trệ, cũ kỹ, dở hơi Các nhân vật này ít có ý nghĩa xã hội thẩm mỹ Chúng tôi chú ý hơn đến các nhân vật thuộc nhóm sau Họ là những con người của cuộc sống hiện nay

Hoàn là một người đàn bà đẹp và có cá tính Tác giả không dành nhiều ngôn từ để tái hiện chân dung nhân vật này nhưng chỉ bằng những nét chọn lọc đã phác họa được những nét hình thể bộc lộ tính cách: “Sống mũi Hoàn cao thẳng dừng lại đột ngột giữa nhân trung tạo thành một góc vuông vừa kiêu sa vừa nghiêm khắc lạnh lùng” Vẻ đẹp của Hoàn giàu nữ tính khiến không chỉ người ngoài chú ý, trong đó có một người đàn ông chết mê chết mệt - Cương - mà còn làm chính người chồng thèm khát Thông thường vợ chồng là những người hiểu nhau nhất, cả phương diện thể chất, cả phương diện tinh thần Vậy mà vợ chồng Hoàn rất ít hiểu nhau: “Đã có lúc Thắng tưởng hiểu được Hoàn nhưng không phải thế Hoàn là tảng đá khép kín không có cửa, chính vì điều đó mà thời gian gần đây vợ chồng Thắng xa lạ với nhau” Hoàn không phải là người vô tâm Chính cô cũng tự hỏi “tại sao Thắng xa lạ thế Tại sao càng ngày Hoàn càng có cảm giác sợ hãi mỗi khi ở bên chồng” Vợ chồng Thắng Hoàn vẫn sống chung dưới một mái nhà nhưng đời sống tinh thần không hòa hợp, đồng điệu Thực chất đối với người kia, mỗi người họ đều là “người đi vắng”

Hoàn tìm đến với Cương không phải là tìm đến một người đồng điệu và khỏa lấp nỗi trống vắng, mà chỉ do nhu cầu tình dục Văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung đã có biết bao hình tượng kẻ ngoại tình được người ta cảm thông, ca ngợi, từ những hình tượng đó còn toát lên ý nghĩa nhân văn Hoàn không có phẩm tính đó

Cô không có nhu cầu đến với Cương để bù đắp Cô tỉnh táo đến mức ngay cả lúc làm tình với Cương mà cũng kết hợp phân tích cảm giác:

“Sức Thắng dẻo dai nhưng nó lạnh quá Cương tò mò háo hức hơn Cương không phải là người anh hùng mỏi mệt… Ngực Thắng chắc hơn, không có những sợi lông tơ như Cương”

Trang 30

Chúng tôi cho rằng nhân vật Hoàn là nhân vật thành công nhất của Nguyễn Bình Phương ở tác phẩm này, đặc biệt hư cấu tình huống nhân vật

bị tai nạn giao thông Sau khi làm tình cuồng nhiệt tại phòng Cương, Hoàn

và Cương nhất trí sẽ mua đồ về ăn tại đó Nhưng rồi Hoàn đột ngột ra về để rồi tự mình gây ra tai nạn: “Mặt Hoàn nóng rực tưởng như chút nữa sẽ bốc cháy Phi đi con ngựa trắng lạc đàn của chị Phi đi đưa chị đến chân trời, xa hơn cả chân trời, đến nơi có những bông huệ trắng đứng dầm mình trong mưa… Hoàn rít tay phải, chiếc xe vụt lên phía trước như máy bay rời khỏi đường băng Một tiếng thét lanh lảnh sau đó là tiếng nổ trầm đục nhưng vang vọng uy nghiêm”

Người coi trọng đời sống tâm linh thì coi đây là một sự trừng phạt Người phân tích theo tư duy duy vật thì thấy nó là hệ quả của tâm trạng bất

an của nhân vật Đang đi xe máy mà Hoàn tưởng tượng đang cưỡi ngựa

Cô quên mình đang ở mặt đất với bao nhiêu hệ lụy, mà ngỡ mình đang tiến đến chân trời lãng mạn…

Không chỉ để cho ý nghĩa toát lên từ hình tượng nghệ thuật, mà chính tác giả đã vài lần đưa cụm từ “đi vắng” vào để độc giả hiểu ý nghĩa của nó

Đó không chỉ là không hiện hữu mà còn là sự hiện hữu không đầy đủ, thiếu hụt Theo nghĩa này, một phần thân xác và tinh thần Hoàn đã “đi vắng” từ trước đó Bị tai nạn phải sống đời sống thực vật từ khá sớm (ở trang 65 trong số 367 trang của tiểu thuyết), từ đây cả phần xác và phần hồn của nhân vật gần tiến đến giới hạn cuối cùng của tồn tại Tuy nhiên nhân vật này còn có rất nhiều tác dụng đối với chính nó và đối với các nhân vật khác Thể trạng như vậy khiến Hoàn có nhiều giấc mơ, kể cả những giấc

mơ ma quái Chẳng hạn thông thường ngày cưới để lại cho đương sự những

kỷ niệm đẹp đẽ, còn Hoàn có cơn ác mộng: “Tim Hoàn nhói lên, những bông lay ơn run rẩy vô cớ trên mặt bàn Gã đàn ông nhìn quanh lần nữa, tiến về trước một bước dùng chân nhấn nhấn như muốn thử độ cứng của

Trang 31

nền đất, sau đó quờ tay ra sau cầm chiếc cuốc đặt trước mặt… Gã vung chiếc cuốc lên, nhìn Hoàn bằng ánh mắt lạnh lùng rồi bổ xuống”

Thậm chí cô gặp lại tiền kiếp của mình:

“Hoàn hỏi khuôn mặt đứa con gái:

- Mày là tao ngày xưa phải không?

- Vâng ạ! Khuôn mặt đứa con gái hơi nhòe đi vì câu trả lời của chính

nó - Chị là em đấy ấy ạ?

Hoàn lắc đầu, cảm thấy chán nản thù ghét Khuôn mặt đứa con gái ngơ ngác, rơm rớm nước mắt:

- Sao chị bỏ em?

Hoàn bĩu môi:

- Mày nói dối, ngày xưa mày hứa cho tao rất nhiều thứ, thế những thứ

ấy đâu rồi? Con ranh điêu toa!”

Hoàn nằm đó, với tri giác hạn chế tối đa nhưng lại khiến cho nhân vật bộc lộ sự “đi vắng”, tức là tâm thế sống có vấn đề của mình Thắng nhanh chóng đến với Thư để tìm sự hòa hợp thể xác và tinh thần Cương cũng nhanh chóng tìm đến phòng Phượng để giải quyết nhu cầu sinh lý Các anh chị em của Thắng lâu nay không mấy gần gũi với Hoàn, giờ thực sự trải qua một “phép thử” để thấy rõ mức độ tình cảm Trong số đó, sự hư hao mòn mỏi về thân xác và tinh thần đáng chú ý nhất là Yến Cô thực sự bị tha hóa - theo tư duy nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương ở tiểu thuyết này là

“đi vắng” một phần đáng kể Sau khi đọc hết cả đống sách không chọn lựa, Yến nói năng như nhân vật của một tiểu thuyết rẻ tiền Điều này cũng dễ hiểu? Cô là một thôn nữ “lòng như cây lụa trắng”, sức đề kháng yếu ớt… Trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay, những nhân vật nữ “nổi loạn” kiểu Hoàn không ít Tuy nhiên nhân vật này của Nguyễn Phương Bình không lẫn với ai

Một nhân vật nữa thuộc loại vừa hiện tồn vừa “đi vắng” rất đáng chú ý nữa là nhân vật Chung Chung là nhân viên dưới quyền của Thắng, bàn làm

Trang 32

việc của hai người cạnh nhau Tác giả không cho biết người này bao nhiêu tuổi nhưng qua cách xưng hô “ông, tôi” với Thắng, người đọc hình dung họ cùng thế hệ Phỏng đoán đó đúng vì một chỗ khác, tác giả viết: “Thắng nhỏ nhẹ vỗ vỗ vai Chung, lần đầu tiên trong đời anh vỗ vai một người cùng lứa” Trong cơ quan của họ, không ít người xem Chung như kẻ quái dị Hà một nữ nhân viên mới về, xét về tuổi là hàng con cháu của Chung nhưng không ít lần kín đáo chế diễu, khinh bỉ Người khó chịu, thậm chí khinh bỉ

ra mặt là ông Huỳnh, nhân viên bảo vệ Ông Huỳnh thực sự dị ứng với Chung: “Ông Huỳnh đang ủ rũ ngồi tì cằm lên thành bàn thấy Chung vào bỗng rít lên điên dại” Bà Hường gọi Chung là “thằng vô tâm” Người ngoài cơ quan cũng tiếp nhận sự khinh bỉ ấy: “Sơn nghe con Hà kể nhìn Chung như nhìn một con vật lạ”

Tại sao con người này phải hứng chịu thái độ đó của mọi người? Chung có cơ thể yếu ớt, ít sức sống Cung cách sinh hoạt của anh ta cũng

dễ khiến người khác mất cảm tình Trước người lạ “Chung không để ý, liên tục thò ngón tay út vào tai ngoáy, miệng chíp chíp” Tuy nhiên ở tư cách một viên chức, Chung vẫn được cơ quan chấp nhận, dung thứ Nghĩa là Chung là một nhân vật hiện tồn

Đồng thời Chung cũng có những biểu hiện lạ lùng xuất phát từ tâm lý

và bệnh lý, khiến sinh hoạt, làm việc không bình thường Theo hệ quy chiếu của tiểu thuyết này, có đầy đủ lý do để xếp nhân vật này vào nhóm người có tâm thế lưỡng phân - vừa hiện tồn vừa “đi vắng”

Đây là chân dung nhân vật Chung trong cảm nhận của nhân vật Thắng:

“Chung lại rít lên, cả người anh ta chảy rũ xuống như một gáo mật… Chung ngừng lại không rít nữa nhưng vai vẫn giật giật Thắng thấy thương Chung, anh ta không bao giờ cười, không bao giờ tán chuyện và không rượu, không thuốc Suốt ngày Chung ôm bàn làm việc của mình, nhận những bức thư, đọc chúng, lo sợ và chíp chíp mồm vì những chiếc răng

Trang 33

sâu Người Chung ngày càng sắt lại, khô héo méo mó đến mức thảm hại Nhưng rõ ràng Chung không hề làm hại, không hề gây cản trở hoặc va chạm với ai Chung là một hòn đá”

Tất cả các nhân vật đều nhìn nhận những hành động, phát ngôn vặt này như là những biểu hiện của một cá thể bệnh hoạn cả thể chất và tinh thần Chỉ có Nguyễn Bình Phương - với quyền năng của tác giả - trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật căn nguyên của những biểu hiện lạ lùng đó Chúng xuất phát từ hai sự việc trong quá khứ Một là thuở bé, một lần nằm chơi dưới đống rơm cậu bé Chung vô tình nghe được bố mẹ bàn với nhau

về việc thiến:

“Bố Chung bước ra sân, lơ láo nhìn quanh, vừa nói vừa ngáp:

- Không bàn cái gì nữa, tôi bảo thiến là thiến Để lại thì làm gì nào?

Mẹ Chung dò dẫm ra:

- Ơ hay chửa, ngộ nhỡ mình cần gây giống thì sao Ông chỉ được cái

hồ đồ Thiến thì dễ, lúc cần lấy lại mới khó

Bố Chung phẩy tay:

- Đừng có lải nhải, tôi quyết rồi Thiến cha nó đi cho rảnh nợ”

Ở nông thôn nước ta trước đây cũng như ngày nay có nhiều con vật có thể thiến (trâu, bò, dê, ngựa, gà, ngan, ngỗng…) Cậu bé Chung chỉ được nghe đoạn sau đối thoại của bố mẹ nên không biết bố mẹ đang bàn thiến con gì Những ai từng sống ở nông thôn nên hẳn biết chuyện những người làm nghề thiến gia súc rong, mỗi khi gặp trẻ con thì dứ dứ con dao sáng loáng dọa chúng để làm vui Trí óc non nớt của chú bé Chung liên kết hai việc và đinh ninh mình chính là đối tượng đang được nói đến nên phản ứng

tự nhiên là “co người lại, hai tay bưng chặt hạ bộ” Ký ức ấy ám ảnh con người này mãi

Việc thứ hai là việc Chung từng biết hai người trước đó Tuyết là bạn tình của chàng trai Chung Nàng đã chiều chuộng chàng đến giới hạn cuối cùng Sau những lần ân ái mặn nồng, Tuyết nhờ Chung giết một lão già -

Trang 34

Kẻ đã cưỡng hiếp nàng Chung đã ra tay rất gọn và sau đó bóp cổ Tuyết, đẩy xác bạn tình xuống dòng sông lạnh giá, cũng rất gọn Chung không thể nào xóa được ký ức hãi hùng đó nên luôn thấy Tuyết vẫn tham gia vào đời sống của mình

Rõ ràng là nhân vật Chung được xây dựng từ sự ảnh hưởng của triết học truyền thống (quan niệm quả báo của nhà Phật) và ảnh hưởng của triết học phương Tây ở quan niệm về ký ức tuổi thơ và mặc cảm tội lỗi Nhân vật Chung là nhân vật có đặc tính của nhân vật tiểu thuyết nhất vì nhân vật này được cảm nhận qua nhiều nhân vật khác và suy nghĩ hành động của nhân vật này bị chi phối của cả lý trí và bản năng Việc nhân vật thỉnh thoảng lại nhận được thư và chúng tạo nên những phản ứng lạ lùng của nhân vật thì độc giả tha hồ suy đoán

Viết về loại nhân vật này Nguyễn Bình Phương tiếp cận vấn đề tha hóa ở cả nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân xã hội hiện thời Thắng thường bị ảo giác về chiến trường Quảng Trị; Chung tự kỷ ám thị bằng nỗi sợ hãi vô thức về ông thiến lợn và về cô người yêu đã chết, hai nỗi ám ảnh đó hòa lẫn vào nhau, gợi nhắc nhau trong từng cơn ảo giác khiến anh ta méo mó, nhàu nhĩ, đau đớn Dù vô thức lấn át nên Chung như tồn tại ở thế giới khác Khi Hoàn bị tai nạn, Cương mơ về chuyện Hoàn bị đánh trước mặt mình Giấc mơ ẩn chứa mặc cảm tội lỗi của Cương về mối quan hệ yêu đương khuất tất với Hoàn Về sau, Cương trở nên điên loạn trong thế giới của riêng mình

Nguyễn Bình Phương là một trong những nhà văn đã có những thể nghiệm, cách tân nhân vật, chối từ xây dựng các nhân vật theo kiểu truyền thống “Tôi không xây dựng những nhân vật điển hình” (Nguyễn Bình Phương) Với cái nhìn mới, cảm quan mới về con người thì Nguyễn Bình Phương đã tìm cho mình một hướng đi riêng bằng việc xây dựng một thế giới mơ hồ, khó nắm bắt, phi truyền thống, với những ám ảnh, mộng mị thể hiện sự đơn độc, thế giới vô thức của con người

Trang 35

Nhân vật “đi vắng” trong tiểu thuyết Người đi vắng được Nguyễn

Bình Phương khắc họa qua các trạng thái tâm lý có khi “hiện lên rất rõ, nhưng hình như lại không có đầu cuối gì cả, rất khó nắm bắt… Trạng thái tâm lý ấy như đang sinh thành trước mặt ta, nó có cái run rẩy của một cái gì

đó đang sống mà ta chỉ có thể lần theo sự trôi nổi của nó chứ không thể bao quát được đầy đủ…”

Nhân vật “đi vắng” tiếp theo mà ta có thể kể đến đó là Thắng Thắng sống giữa cuộc sống thực, có một công việc cụ thể, có gia đình Nhưng dường như cuộc sống hằng ngày chỉ là một phần của anh ta Một miền kí

ức luôn gọi anh ta về, nỗi ám ảnh về chiến tranh, về một người bạn hoa sĩ

đã hi sinh trong chiến tranh luôn khiến Thắng không thôi những hoài niệm Anh ta có thể mơ chập chờn giữa những giấc ngủ trưa ngắn ngủi, kí ức tự

nó tràn về là Thắng lúc nào cũng như một miền bí ẩn và xa lạ với chính người thân yêu nhất của anh ta là Hoàn Tác giả không dùng nhiều trang viết để miêu tả tâm trạng của Thắng, không miêu tả tỉ mỉ những cảm xúc của anh ta Khi kí ức ùa về nhân vật bơi lội, ngụp lặn trong miền thăm thẳm

đó Nguyễn Bình Phương đã đẩy nhân vật sang một cõi khác dù vẫn sống giữa trần gian Sự “đi vắng” ở đây là anh ta không thể trở về một cuộc sống với đầy đủ ý nghĩa của nó Thắng không thể hết xa la với chính những người thân của mình Hay đúng hơn là anh ta mất khả năng chia sẻ, gần gũi

và được chia sẻ gần gũi từ những người xung quanh Đó là lí do anh và Hoàn ở bên nhau mà vẫn thấy nhau bí ẩn, xa lạ Mãi mãi Thắng không thể hiểu điều gì đã đẩy Hoàn phóng xe như bay vào buổi trưa hôm ấy, điều gì

đã đẩy Hoàn kẹt vào giữa cõi sống và cõi chết, giữa hữu thức và vô thức, giữa tồn tại và không tồn tại Cũng trong tiểu thuyết này có lẽ không chỉ mình Thắng là người đi vắng giữa cuộc đời, các nhân vật khác ít nhiều đều

bị rơi vào trạng thái này tại thời điểm nhất định

Có những lúc nhân vật Kỷ thấy như những người thân xung quanh mình đi vắng hết: “Ông Điều không trân trối nữa, đôi mắt linh hoạt quan

Trang 36

sát cuộc đối thoại giữa cụ Điền và lão Bính với sự háo hức Kỷ không nhập cuộc được, thấy lạc lõng cô đơn vì ba người kia đã lùi đi quá xa Cụ Điển, ông Điều, lão Bính vẫn ngồi bên Kỷ nhưng Kỷ cảm giác họ đang đi vắng” Nhân vật tự xưng là Cu kể chuyện cũng phải thốt lên: “Có một đêm dạo bé tẹo, Cu phát hiện ra người lớn đi vắng vì Cu đã đái ngay vào cái giành đựng chè mà không ai biết Càng về sau người càng hay đi vắng hơn Bây giờ cũng thế” [61, 102] Sơn, Yến, Cương hay Kỷ… đều là những bản thể

cô đơn đi vắng với chính mình Họ không tìm lại được sự cân bằng của cân bằng cảm xúc, không tìm lại được đường trở về Sơn chết như một cách để trở về làng thoát khỏi ám ảnh về cái dàn compăc, Cương điên để trở về với bầy ngựa và những câu hỏi bỏ ngỏ về hành động của Hoàn, Kỷ không thôi những nỗi sợ hãi, mơ hồ, Yến không thoát khỏi mùi cồn… thực chất trạng thái không thể cân bằng những cảm xúc của mình, bị ám ảnh là một dạng thức tâm lý khá phổ biến của con người ngày nay Vì vậy, mà con người tự thấy mình xa xôi, đi vắng giữa cuộc sống không thể hòa nhập hay thậm chí mất dần đi những cảm xúc rất con người

Hoàn xuất hiện từ đầu đến cuối của tiểu thuyết nhưng chỉ thực sự sống

ở khoảng 67 trang đầu Sau đó cô là người của cõi mê Trạng thái của Hoàn

la trạng thái đi vắng của ý thức Cô bị kẹt giữa sự sống và cái chết Đôi khi, những trang viết trải ra kí ức của Hoàn về những câu chuyện ngày xưa, về con mèo, về Thư… Nhưng đó không phải là kí ức của người sống Ở những trang đầu của cuốn tiểu thuyết, Hoàn là một cô gái xinh đẹp, không những vậy trước biến cố Nguyễn Bình Phương còn mô tả Hoàn làm tình với Cương Hoàn có những khoảnh khắc yêu, khoảnh khắc sống rất mãnh liệt Nhưng ở những trang cuối Hoàn bị đẩy vào một cuộc sống không giao tiếp, không có ý thức, Hoàn vẫn nằm đó, mở to đôi mắt nhìn mọi người nhưng Hoàn thực sự tồn tại nữa không? Cô là một dạng “đi vắng”

Hay hình ảnh nhân vật Ông Điều- là hình ảnh nhân vật đi vắng gần với nhân vật Hoàn Ông sống mà như một cái bóng không bao giờ tham gia

Trang 37

nói chuyện hay quan tâm tới cuộc sống trong chính gia đình mình Kỷ đôi lúc nhìn bố mà như tuyệt vọng về sự im lặng, dửng dưng của người bố Ông Điều chỉ luôn giữ cái nhìn xa xôi ấy Người đọc không hiểu vì lí do gì

mà ông vẫn tồn tại khi bản thân ông đã không còn muốn hòa nhập với cuộc sống xung quanh

Bằng một nhãn quan đặc biệt, Nguyễn Bình Phương thấy không ít con người đang tồn tại trong cuộc sống hiện thời, nhưng thực chất họ là

“người đi vắng” Thông điệp này được hình thành từ sự nhất quán giữa nhan đề tiểu thuyết, lời đề từ và nhất là những hình tượng nhân vật Chúng

ta đều biết trong tác phẩm cảm nhận của nhân vật không phải bao giờ cũng đáng tin cậy, nhưng điều này có ý nghĩa chỉ dẫn khi chúng nằm trong hệ thống Chẳng hạn, đây là cảm nhận của nhân vật Kỷ: “Kỷ không nhập cuộc được, thấy lạc lõng cô đơn vì ba người kia đã lùi đi quá xa Cụ Điển, ông Điều, lão Bính vẫn ngồi bên Kỷ nhưng Kỷ cảm giác họ đang đi vắng” [61, 131] Có những nhân vật ngày từ khi mới xuất hiện đã có đặc tính này (cụ Điển, ông Điều, lão Bính), có những nhân vật bộc lộ căn tính này càng trầm trọng (Chung) Có những nhân vật dần trở thành “người đi vắng” sau một sự việc Từ khi bắt tay vào làm nhà, Kỷ dần thoát khỏi con người thực của mình, dần bước vào một thế giới mang vẻ liêu trai Từ lúc Hoàn bị nạn, Thắng dần trở thành người “tâm bất tại” Khi được bạn tình là Thư hỏi: “Thế từ trước đến nay anh làm gì?” Thắng sững sờ, anh không nhớ nổi bao nhiêu năm qua cơ quan anh làm gì và chính bản thân mình làm

gì Mọi việc cứ đều đặn trôi cùng thời gian, u mê, vô nghĩa” Yến có lúc suy nghĩ, hành xử như nhân vật tiểu thuyết tình cảm rẻ tiền, sau khi cô đọc hết 54 cuốn truyện trong thời gian chăm sóc Hoàn Ngay cả nhân vật Hoàn,

dù có lối sống phóng túng và thực dụng (có chồng và có người tình, biết hưởng thụ những sản phẩm vật chất tân thời) nhưng thực chất cũng là một kiểu “người đi vắng” vì không có tâm thế sống rõ rệt

Trang 38

Không chỉ người cảm nhận được sự “đi vắng” mà cả ma cũng cảm nhận được tâm thế này

“Cô gái lại treo lơ lửng trên cành xà cừ, sau đó lún dần vào lớp không khí nặng nề xuống”

Truyện ngắn Thành phố đi vắng trong tập truyện ngắn cùng tên (giải

thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2012) của Nguyễn Thị Thu Huệ ta cũng thấy, tác giả cũng đã thể hiện được các kiểu nhân vật đặc biệt như nhân vật

vô cảm, nhân vật bất hạnh, nhân vật cô đơn… Xuyên suốt các câu chuyện

trong Thành phố đi vắng là cảm thức về sự mất mát trong đời sống con

người Đó là sự lạnh lùng, thờ ơ, thói vô cảm và tội ác với nhiều bộ mặt khác nhau Con người sống với nhau ngày càng mất đi những sợi dây kết nối, họ đã thực sự “đi vắng” trong chính sự tồn tại của mình.Nguyễn Thị Thu Huệ chia sẻ: “Tôi luôn bị ám ảnh về những dòng chảy đang xoay chuyển những thế hệ người Việt theo hướng xấu đi, đang đi xuống, Sự thanh cao, phẩm chất đáng quý của người Việt một là dần bé lại, hai là bị

đè nén trước sự trần trụi và thô tục, sự suy cấp đạo đức, bế tắc không lối thoát trong khi vẫn phải sống chứ không chết hay tìm ra một giải pháp khác Sự bất an, đơì sống khó khăn, đơn điệu, những thói quen sinh hoạt văn hoá cộng đồng ít dần làm người ta mất cảm xúc… Những giá trị tốt đẹp bị triệt tiêu từ từ, thay bằng sự hào nhoáng phô trương của trang phục,

đồ dùng tỷ lệ nghịch với văn hoá song…” Tồn tại trong xã hội hiện đại vẫn

là những số phận, những mối quan hệ gia đình, cha con, ông cháu, nhưng đằng sau đó là một tâm lý đám đông khá phổ biến với sự bế tắc trước một đời sống lộn xộn, cái ác hoành hành, buộc người tốt đôi khi thành vô cảm

Là người trải qua thời bao cấp, thời đổi mới và cho đến thời bây giờ, Nguyễn Thị Thu Huệ cảm nhận rõ những thay đổi của cuộc sống hôm nay Cuộc sống đo thị hiện đại, trẻ trung, năng động nhưng chất chứa trong lòng

nó những xáo trộn, mất mát, và sự bất an Nhận thức về nỗi bất an trong xã hội hiện đại đã trở thành một trạng thái tâm lý của nhân vật trong truyện

Trang 39

ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Những phận người run rẩy đi trong chiều dài và chiều sâu của cuộc sống không ai định hình được con đường sẽ dẫn

về đâu Không một ai… Những định hướng hoang mang, mục tiêu sống cũng chìm khuất trong cái nhộn nhịp nhưng bức bối Khái niệm thấu hiểu

và sẻ chia trở thành điều xa xỉ Cái ác, cái chết luôn ám ảnh đời sống của con người Một cô gái khiếp đảm, sợ hãi trong quán phở vì nỗi đe doạ vô hình bởi bọn cướp có vũ khí: “Có cảm giác bất an, cô ngẩng lên”, “Cô lạnh người…Tự gồng mình che giấu từng cơn run đang chạy khắp người” [32; 71 - 72], “Giờ cô mới để ý, chúng mặc áo choàng dài gần đầu gối Hai

xe máy không biển số Thằng nào khi vào cũng có đeo khẩu trang Thôi đúng là cướp rồi Cô có đọc trên báo, dạo này cướp hay đi xe không biển

số, đội mũ bảo hiểm và đeo khẩu trang che mặt Vũ khí chúng dùng là dao, idem hay súng tự chế Những thứ chúng cướp là xe máy, túi xách, điện thoại di động, máy tính xách tay, dây chuyền… và nếu đối tượng có chống

cự, sẽ chém dằn mặt hoặc bắn phi tang” [32; 75] Cô luôn có cảm giác cái

ác cứ quẩn quanh bên mình và rồi cô sống khép mình hơn, cô nhận ra rằng:

“Sẽ không thể tìm nơi nào bình yên hơn nơi chốn của riêng mình”, “sẽ

không ra đường”, “sẽ ở nhà” [32; 81] (Trong lúc ăn một bát phở gia truyền) Nhân vật trong Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ rất đa

dạng, bao gồm nhân vật vô cảm, nhân vật bất hạnh, nhân vật cô đơn, nhân vật bị báo ứng, nhân vật mang vẻ đẹp của đời thường… Tập truyện ngắn

Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ vắng bóng hình tượng con

người lý tưởng Trước đây, dẫu chỉ thoáng qua một cách hiếm hoi thì người đọc vẫn có thể tìm thấy trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ hình bóng

những con người lý tưởng như ông già câu cá trong Đêm dịu dàng, người đàn ông đã một đời vợ trong Biển ấm, Anh trong Một trăm linh tám cây bằng lăng Ông già câu cá trong Đêm dịu dàng, biết an ủi và chia sẻ trước

nỗi đau của người khác, kịp thời giúp một cô gái trẻ tìm lại niềm tin và hiểu giá trị cuộc sống

Trang 40

Nhan nhản trong Thành phố đi vắng là những con người có đời sống

thực dụng, vô cảm, không hướng đến một mục đích sống cao cả nào, phí hoài những năm tháng đẹp đẽ của đời người Họ có khuynh hướng chui vào những ốc đảo của riêng mình, vật vờ trong những không gian “chín mét vuông”, “mười hai mét vuông”, “mười lăm mét vuông”, “mười bốn mét vuông” hoặc tự bó mình trong một cái rọ “cứ quanh năm úp thìa trên một cái đệm mút quá đát, lún sâu như chìm xuống hố” Trên những trang viết của nhà văn lần lượt xuất hiện những mảnh đời lay lắt, tạm bợ, nặng nề trôi qua ngày tháng bởi nỗi ám ảnh về sự bất an đang đầy rẫy trong xã hội

Hình tượng con người lí tưởng không tìm thấy ở những nhân vật mang màu sắc hoàn mĩ, thánh thiện nhưng giả dối Còn những nhà ngoại giao, ông tiến sĩ thì sao? Bố của Luyến, một nhà ngoại giao, chu du khắp châu Âu, thơm tho mùi bơ sữa, sau bao tháng ngày day dứt, dằn vặt tìm cách khai sáng sự u mê cho con gái bằng tivi, tủ lạnh, máy vi tính, nâng tầng lầu 2… thì cuối cùng cũng đành bất lực, chọn giải pháp trao cho con gái 10 nghìn USD để nó tự giải quyết cái cuộc đời riêng của nó theo ý thích của nó, còn ông thì bỏ mặc bà vợ ngày càng điếc, nhẹ lòng, tay trong tay với cô nhân tình trẻ người Pháp chu du khắp nơi Ông tiến sĩ Nhân đam mê khoa học đến tan nhà nát cửa cũng không phải một hình tượng con người lí tưởng Vợ tự vẫn, tái hôn lại bị cô vợ trẻ ngoại tình chặt đứt gân chân, con trai mang mãi những tổn thương tâm hồn đến thề trước vong linh của mẹ là một đời sẽ chẳng dính đến đàn bà Ông gắn chặt phần đời còn lại vào chiếc xe lăn và chuỗi ngày nuôi con, tình yêu khoa học dừng lại, sự nghiệp dang dở, lí tưởng tiêu tan Tiến sĩ Văn càng bi thảm hơn, mấy mươi năm tình nghĩa vợ chồng, mãi chạy theo học hàm học vị, lại đắm đuối ba ngày trong tình yêu với cô cave, để rồi khi cô cave ấy chết đi, ba ngày thực sự được yêu thương kết thúc, tiến sĩ Văn trở thành điên dại, lẩm bẩm “Tất cả chết hết rồi”, chỉ nhớ mỗi số tiền

ba mươi lăm triệu và cô cave Truyện viết về cảm nhận của một cô gái Việt

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w