Việc sử dụng bản đồ tư duy với cách ghi chép mạch lạc là một biện pháp hay và hữu hiệu, là con đường đổi mới trong dạy học nhằm khắc phục những hạn chế trong việc ghi nhớ kiến thức một c
Trang 1
LÊ THỊ THANH VÂN
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI TỰ SỰ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI Ở TRƯỜNG THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2016
Trang 2LÊ THỊ THANH VÂN
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI TỰ SỰ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI Ở TRƯỜNG THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Luận văn đã được người viết hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Đinh Trí Dũng cùng sự cổ vũ, động viên của người thân và bạn bè
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS Đinh Trí Dũng - người đã trực tiếp gợi mở, hướng dẫn, khích lệ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài
Tôi cũng xin được cảm ơn quý thầy cô khoa SP Ngữ văn, Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường THPT Hàn Thuyên, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp đỡ về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập
Tôi cũng xin được gửi đến gia đình, bạn bè những lời cảm ơn chân thành vì sự giúp đỡ cũng như tình cảm của mọi người dành cho tôi trong suốt quá trình tiến hành luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01/8/2016
Người thực hiện
Lê Thị Thanh Vân
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 TÌM HIỂU VỀ BẢN ĐỒ TƯ DUY, LỢI ÍCH VÀ NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC 8
1.1 Giới thiệu về bản đồ tư duy 8
1.1.1 Sự ra đời của bản đồ tư duy 8
1.1.2 Đặc điểm của bản đồ tư duy 9
1.2 Mô hình thiết kế bản đồ tư duy trên máy tính 22
1.3 Mối tương quan giữa bản đồ tư duy và văn xuôi tự sự 23
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI TỰ SỰ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 VÀ 12, BAN CƠ BẢN) 28
2.1 Tổng quan về mảng chương trình văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT 28
2.1.1 Chương trình Ngữ văn ở ban cơ bản 28
2.1.2 Chương trình Ngữ văn ở ban nâng cao 29
2.2 Sự cần thiết của việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại (trong chương trình Ngữ văn lớp 11 và lớp 12) 31
Trang 52.3.2 Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học truyện ngắn 42
2.3.3 Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học tiểu thuyết 50
2.4 Hướng dẫn học sinh tự xây dựng bản đồ tư duy trong việc học các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại 58
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 66
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 66
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 66
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 67
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 67
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
3 3 Thời gian và tổ chức thực nghiệm 69
3.3.1 Thời gian thực nghiệm 69
3.3.2 Tổ chức thực nghiệm 69
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84
3.4.1 Khảo sát 84
3.4.2 Phân tích đánh giá kết quả 86
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 98
Trang 6Chữ viết tắt Viết đầy đủ
Trang 7Hình 1.1 Bản đồ tư duy giúp luyện tập trí não 10
Hình 1.2 Cấu tạo của bản đồ tư duy 12
Hình 1.3 Nguyên lí hoạt động của bản đồ tư duy 15
Hình 2.1 BĐTD: Ai đã đặt tên cho dòng sông? 41
Hình 2.2 BĐTD: Chiếc thuyền ngoài xa 49
Hình 2.3 BĐTD: Hạnh phúc của một tang gia 57
Hình 2.4 BĐTD: Người lái đò sông Đà 64
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Kết quả bài dạy thực nghiệm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường 89
Bảng 3.2 Kết quả bài dạy thực nghiệm đối chứng Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường 89
Bảng 3.3 Kết quả bài dạy thực nghiệm Chiếc thuyền ngoài xa 89
Bảng 3.4 Kết quả bài dạy thực nghiệm đối chứng Chiếc thuyền ngoài xa 90
Bảng 3.5 Xếp loại, đánh giá kết quả bài thực nghiệm và thực nghiệm đối chứng 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Có rất nhiều phương pháp mới giúp học sinh tích cực, hứng thú và nắm bài học một cách hệ thống như: công thức, mô hình hóa, sơ đồ hóa…Trong đó, có một phương pháp cũng khá hiệu quả đó là sử dụng bản đồ
tư duy (BĐTD) Đây là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Việc sử dụng bản đồ tư duy với cách ghi chép mạch lạc là một biện pháp hay
và hữu hiệu, là con đường đổi mới trong dạy học nhằm khắc phục những hạn chế trong việc ghi nhớ kiến thức một cách thụ động của học sinh, tăng tính chủ động, sáng tạo cho người học Thay cho việc học thiên về lý thuyết thì người học sẽ được trải nghiệm, khám phá kiến thức qua hành động, học qua làm, kiến thức sẽ được khắc sâu và bền vững Thông qua bản đồ tư duy, học sinh sẽ hệ thống hóa, xác định được kiến thức cơ bản; từ đó ghi nhớ kiến thức nhanh hơn, lâu hơn và hứng thú hơn với các bài văn xuôi nói riêng, bộ môn Ngữ văn nói chung
Đề tài của chúng tôi vì vậy muốn góp phần tạo thêm hứng thú học môn Ngữ văn nói chung, học văn học Việt Nam hiện đại nói riêng cho các em học sinh THPT, từ đó mà góp phần nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông (THPT) là một trong những bộ môn có dung lượng kiến thức và số tiết dạy nhiều Trong
đó, có một thành phần nội dung quan trọng được phân bố chương trình ở cuối học kì I của khối 11; cuối học kì I và học kì II của khối 12: phần Văn xuôi tự
sự Việt Nam hiện đại Dung lượng kiến thức mỗi tiết rất dài và có độ khái quát rất lớn Để giờ dạy có hiệu quả thì cả người dạy và người học đều phải
Trang 9tập trung cao độ, chuẩn bị bài thật kĩ, nếu không sẽ không đủ thời gian Trong khi đó, kiến thức phần này lại khó và rộng nên không phải người học nào cũng tạo cho mình một tâm lí thoải mái, hưng phấn khi học, thậm chí còn thấy mệt mỏi, kém hứng thú Hơn nữa, phương pháp chủ yếu trong các giờ học này
là thuyết trình để “chạy đua” với thời gian nhằm đảm bảo dung lượng kiến thức Vì thế, cần tìm một phương pháp phù hợp để giảng dạy các tác phẩm văn xuôi Cho nên việc ứng dụng bản đồ tư duy để dạy truyện ngắn, tùy bút, bút kí, kịch …ở bất kì phương diện nào cũng được xem là một bước đầu khám phá rất có ý nghĩa Vì vậy, đề tài là một vấn đề có ý nghĩa, phù hợp với đối tượng học sinh lớp 11, 12 và giúp trang bị tốt các kiến thức và kỹ năng về văn học hiện đại Việt Nam cho học sinh cuối cấp
1.3 Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số giáo viên còn gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy Đề tài của chúng tôi sẽ đưa ra một số gợi ý giúp giáo viên giải quyết khó khăn trên
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, kết hợp với kinh nghiệm giảng dạy của mình, chúng tôi nhận thấy ý nghĩa quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề
tài “Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự
Việt Nam hiện đại ở trường THPT” với mục đích góp phần đổi mới
phương pháp dạy học trong giảng dạy Ngữ văn nói chung và văn xuôi tự sự hiện đại Việt Nam nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Lí thuyết và kỹ thuật tạo ra bản đồ tư duy xuất hiện trên thế giới vào những năm 1960 của thế kỉ XX do một giáo sư người Anh tên là Tony Buzan
sáng lập và phát triển Trong cuốn Bản đồ tư duy trong công việc
(Mindmaps at work), Tony Buzan đã giúp bạn đọc khám phá “khả năng đạt
Trang 10đến sự cân bằng trong công việc và cuộc sống” bằng việc trình bày những phương pháp mới để giải quyết vấn đề, nắm bắt sức mạnh của sự thay đổi, cách thức hoạt động nhóm hiệu quả, bí quyết thuyết trình thành công,… thông qua những ví dụ sinh động về sự áp dụng thành công bản đồ tư duy Từ đó, Tony Buzan đã đưa ra hàng loạt công trình nghiên cứu khác nhằm hệ thống lại cách tạo lập một bản đồ tư duy thông thường như sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc từ khóa Nhưng do mục đích xây dựng lý thuyết bản đồ tư duy trong công việc nói chung như việc lập kế hoạch, ghi chép, quản lý cuộc họp, thuyết trình, học tập, phát triển cá nhân và tác giả đã không đề cập tới ứng dụng bản đồ tư duy trong hoạt động dạy học ở nhà trường
Lí thuyết bản đồ tư duy vào Việt Nam khá muộn, phải đến những năm
2010, 2011 trong Hội thảo về Dự án phát triển giáo dục THCS do Bộ Giáo
dục và Đào tạo (BGD & ĐT) tổ chức tại Sầm Sơn -Thanh Hóa, lần đầu tiên các nhà khoa học, các chuyên viên giáo dục và các thầy cô giáo ở Việt Nam mới được làm quen với bản đồ tư duy cũng như kĩ thuật tạo ra nó Sau hội thảo, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên THCS cốt cán trong thời gian hè năm 2011 về việc sử dụng bản đồ tư duy trong quản lí và dạy học Trong những buổi tập huấn ấy, tài liệu “Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên THCS” của nhóm tác giả thuộc dự án phát triển giáo dục THCS II - Bộ Giáo dục và Đào tạo do TS.Trần Đình Châu chủ biên được triển khai đến từng đại diện trường và từng
cá nhân Ngay sau những hội thảo khoa học, năm học 2010 - 2011, một số trường THCS được lựa chọn để thí điểm ứng dụng phần mềm chuyên dụng iMindMap kết hợp với phần mềm Power Point trong việc dạy học ở nhiều bộ môn, trong đó có môn Ngữ văn Kết luận khoa học khẳng định những giá trị thiết thực của bản đồ tư duy trong dạy học
Ở lĩnh vực nghiên cứu, đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về bản
đồ tư duy và nghiên cứu về việc ứng dụng nó vào giảng dạy Trước hết phải
Trang 11kể đến cuốn sách Dạy tốt, học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy (dùng cho
giáo viên, sinh viên sư phạm, học sinh THCS và THPT) của hai tác giả là TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thu Thủy (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) Cuốn sách đáp ứng đúng tinh thần của khoa học giáo dục: khi nghiên cứu phải sâu sắc, kĩ lưỡng nhưng khi phổ biến phải đơn giản, rõ ràng Đây là kết quả công trình nghiên cứu khoa học trong nhiều năm của các tác giả
Tiếp đến là luận án“Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn”
của T.S Phạm Văn Nam (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) Trong luận án của mình, tác giả khẳng định: “Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy”
Bên cạnh đó là các bài viết đăng trên các báo, tạp chí và các sáng kiến
kinh nghiệm của giáo viên phổ thông như: “Áp dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy và học tập phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Phương Duyên (Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Thương mại Hà Nội), “Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ tư duy” của Th.s Trương Tinh Hà (Đại học Văn hóa Hà Nội), “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn sinh học” của giáo viên Võ Ngô Thị Lưu Ngọc Giàu
(Trường THCS Hoàng Văn Thụ - TP.HCM)
Ở riêng bộ môn Ngữ văn, có thể kể đến Luận văn Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học phần văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn lớp 10, Ban
cơ bản) của sinh viên Trần Thu Thủy trường ĐHSP TPHCM Tác giả luận văn trong nghiên cứu đã nhận định về vai trò của bản đồ tư duy rằng: “Bản đồ
tư duy có thể được sử dụng với vai trò là một phương tiện dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần Văn học dân gian chương trình Ngữ văn THPT”, do đó trong công trình nghiên cứu của mình người viết đã cố gắng thiết kế ứng dụng bản đồ tư duy vào một số khâu của quy trình đọc hiểu một
Trang 12số văn bản truyện dân gian như giới thiệu bài học, giới thiệu tác giả tác phẩm, đọc hiểu văn bản và tổng kết bài học Chúng ta cũng có thể kể đến một số sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu và vận dụng bản đồ tư duy vào dạy học
Văn có hiệu quả như Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT Ngọc Hồi của cô giáo Nguyễn Thị Anh Nguyệt (SKKN đạt giải B cấp Thành phố Hà Nội năm học 2010-2011), Sử dụng bản đồ tư duy dạy học sinh cách tự học trong môn Ngữ văn THCS của giáo viên Trần Thị Thu Hiền (SKKN loại B cấp tỉnh Nghệ An năm 2011-2012), Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học Ngữ văn 9 của giáo viên Vũ Thị Bình Ngọc trường THCS Yên Đức (SKKN loại B cấp tỉnh năm học 2010-2011), Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy phần lí thuyết Tiếng Việt ở trường THPT của giáo viên Lê Thị Nhung trường
THPT Lê Viết Tạo (SKKN loại B cấp tỉnh Thanh Hóa năm học 2011-2012);
“Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học phần văn học dân gian” của Th.s Lê Thị Xuyến (Trường ĐH Vinh), v.v
Căn cứ vào những công trình nghiên cứu trên cùng với một số bài viết
về văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại, đồng thời tiếp thu ý kiến đóng góp của nhiều người đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng bản
đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại ở trường THPT”
Tham khảo những công trình nghiên cứu trên, kết hợp với những kinh nghiệm sử dụng bản đồ tư duy trong thực tế giảng dạy, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu, thiết kế để ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại ở trường THPT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy
học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại ở trường THPT
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết dạy học bằng bản đồ tư duy, ứng dụng để thiết
kế dạy học phần văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại bằng bản đồ tư duy
- Chương trình và sách giáo khoa dùng để nghiên cứu giảng dạy là sách lớp 11 và lớp 12, tập 1 và 2, ban Cơ bản Địa bàn thực nghiệm sư phạm
là một số trường THPT ở Quận Phú Nhuận, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
- Tìm hiểu, giới thiệu về bản đồ tư duy
- Nghiên cứu, thiết kế, ứng dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại
- Thực nghiệm khoa học, đánh giá kết quả
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi tìm hiểu lý thuyết về Bản đồ tư duy (BĐTD), nghiên cứu mảng văn xuôi tự sự trong nhà trường và đặc trưng thi pháp của các thể loại văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại Nghiên cứu cách thiết kế bản đồ tư duy
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thực nghiệm sư phạm, tiến hành phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm, rút ra các kết luận
Trang 146 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
chính của Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tìm hiểu về bản đồ tư duy, lợi ích và nguyên tắc ứng dụng
bản đồ tư duy trong dạy học Chương 2: Ứng dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy các tác phẩm văn
xuôi tự sự Việt Nam hiện đại (thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11 và lớp 12, ban cơ bản)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1 TÌM HIỂU VỀ BẢN ĐỒ TƯ DUY, LỢI ÍCH VÀ NGUYÊN TẮC
VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC
1.1 Giới thiệu về bản đồ tư duy
1.1.1 Sự ra đời của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (Mind Map) hay còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy được hình thành và phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 Anthony
"Tony" Peter Buzan (sinh năm 1942 tại Luân Đôn - Anh) là một tác gia, nhà tâm lý Ông hiện là tác giả và đồng tác giả của 92 đầu sách, được dịch ra trên
30 thứ tiếng, phát hành ở 125 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Buzan nghiên cứu chuyên sâu về bộ não, trí nhớ; tìm ra qui luật khi xây dựng bản đồ gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghi chép các sự kiện một cách hệ thống Trong
cuốn Lập bản đồ tư duy (How to Mind Map) của Tony Buzan do Nhà xuất bản Lao động - xã hội giới thiệu đã khẳng định: “Bản đồ tư duy là công cụ tổ chức
tư duy nền tảng”, là phương pháp chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi
đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó cũng là một phương tiện ghi chép đầy sáng
tạo và rất hiệu quả Theo Tony Buzan thì “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân các ý, điều này khiến Bản đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ý
Trang 16tưởng thông thường không thể làm được” Với phương thức tiến dần từ trung
tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy của bạn phải hoạt động tương
tự Từ đó các ý tưởng sẽ được phát triển và sáng tạo Hiểu theo nghĩa rộng, bản đồ tư duy là sơ đồ trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch, kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Bản đồ tư duy
có thể được vẽ trên giấy, trên bảng hay thực hiện trên máy tính
1.1.2 Đặc điểm của bản đồ tư duy
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo và phương thức tạo lập
Bản đồ tư duy được mệnh danh là “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương pháp ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng, đã và đang đem lại những hiệu quả thực sự đáng kinh ngạc, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh Lập bản đồ tư duy là một cách thức cực kỳ hiệu quả để ghi chú Các bản đồ tư duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của một chủ đề và mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau Nó giúp người sử dụng
liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các ý khác
Bản đồ tư duy là một phương pháp lưu trữ, sắp xếp thông tin và xác định thông tin theo thứ tự ưu tiên (thường là trên giấy) bằng cách sử dụng từ khóa và hình ảnh chủ đạo Bản đồ tư duy thể hiện ra bên ngoài cách thức mà
bộ não chúng ta hoạt động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Quá trình hình thành trí nhớ trong não người là sự hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa các vùng chức năng (các trung khu thần kinh) của vỏ não Càng hình thành được nhiều đường liên hệ và mối liên hệ càng thường xuyên thì trí nhớ càng bền vững Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong bản đồ tư duy sẽ đem lại một công dụng rất lớn vì đã huy động cả bán cầu não trái và phải cùng hoạt động Sự kết hợp này sẽ tăng cường sự liên kết giữa hai bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ
Trang 17não Bản đồ tư duy là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào não, rồi đưa thông tin ra ngoài não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo
và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó
Theo triết lý của Buzan thì bản đồ tư duy được hiểu là một cách mở ra sức mạnh tư duy, tạo ra những đột phá trong suy nghĩ Buzan nghiên cứu chuyên sâu về bộ não, tìm ra quy luật khi xây dựng bản đồ gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghi chép các sự kiện một cách hệ thống Bản đồ tư duy giúp luyện
tập trí não
Hình 1.1 Bản đồ tư duy giúp luyện tập trí não
Các nhà khoa học chỉ ra rằng bộ não của con người gồm hai bán cầu: não phải và não trái Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng… những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn
Trang 18Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra bản đồ tư duy theo nguyên lí hoạt động của bộ não Bản đồ tư duy không những sử dụng chữ, số, các dòng kẻ mà còn có thể sử dụng cả màu sắc và hình ảnh Các dòng kẻ, chuỗi, chữ, số, và các danh sách được xử lí bằng chức năng thần kinh của não trái Đây là bán cầu não được sử dụng cho các công việc bình thường Do đó khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của con người bị giới hạn Để thực sự trở nên sáng tạo, chúng cần sử dụng trí tưởng tượng - chức năng hoạt động của bán cầu não phải như sự tri giác màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, không gian Như vậy, theo rất nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, muốn tận dụng triệt để khả năng ghi nhớ và khả năng hồi tưởng của bộ não, chúng ta cần sử dụng cả não trái và não phải
Với đặc điểm trên, bản đồ tư duy kết hợp hoạt động của hai bán cầu não trái và não phải Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng bản đồ tư duy Như vậy bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não
Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh Ở vị trí trung tâm bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm được nối với các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan đến ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ lại được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này tạo nên một bức tranh tổng thể mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng
Trang 19Hình 1.2 Cấu tạo của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy có 4 đặc điểm chủ yếu:
1 Đối tượng cần quan tâm được tóm lược trong một hình ảnh trọng tâm
2 Từ hình ảnh trọng tâm, những chủ đề phát sinh được lan tỏa thành các nhánh
3 Các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết, những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với nhánh có thứ bậc cao hơn
4 Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết nhau
Bản đồ tư duy hoạt động dựa trên hai nguyên tắc chủ yếu là tưởng tượng và liên kết Chúng là những công cụ tư duy thực sự hiệu quả vì bản đồ
tư duy làm việc với bộ não và kích thích bộ não hình thành liên kết giữa các ý tưởng: mỗi nhánh được thêm vào bản đồ tư duy đều được liên kết với nhánh trước Sáu yếu tố quan trọng của bản đồ tư duy chính là: hình ảnh, liên kết, màu sắc, tổng quát, nổi bật, từ khóa Bản đồ tư duy chính là sự biểu thị cho cách thức tư duy của bộ não, hoạt động dựa trên các quy luật tư duy Nó không chỉ giúp người sử dụng lưu ý tới trung tâm vấn đề mà còn hướng tới
Trang 20những kết luận quan trọng, phát huy được tiềm năng và sự sáng tạo tối đa thông qua liên kết và tưởng tượng Như vậy, với bản đồ tư duy, một khái niệm, nội dung, chủ đề chính được gắn kết với các nội dung, tiêu điểm có liên quan Nội dung, chủ đề chính đóng vai trò là điểm hội tụ của những mối liên
hệ với các nội dung, tiểu chủ đề liên quan khác Kết cấu này là tạm thời và hữu cơ, cho phép có thể thêm, điều chỉnh chi tiết Bản chất mở của quá trình này khuyến khích việc tạo nên mối liên hệ giữa các ý tưởng Từ những lợi thế trên, bản đồ tư duy đã được sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực
Cách thức xây dựng một bản đồ tư duy khá đơn giản, thông qua bốn bước:
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (nằm ngang)
+ Chủ đề trung tâm có thể là một hình ảnh, từ khóa, kí hiệu, câu nói,
để diễn đạt nội dung chủ đề
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh
Trang 21+ Sau khi nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2 bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng
ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
- Bước 4: Hoàn thiện bản đồ tư duy: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn; cuối cùng, tiến hành chỉnh sửa các nhánh
Một bản đồ tư duy có thể thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau nếu có Tuy nhiên, cách này có nhược điểm là khó khi lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra sơ đồ tư duy như: iMindMap, MindManager, MindMapper Pro
Nguyên lí hoạt động của bản đồ tư duy đúng theo nguyên tắc liên tưởng
“ý này gọi ý kia” của bộ não Ở vị trí trung tâm của bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo Ý trung tâm đó được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính Từ các nhánh chính đó lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng
Trang 22Hình 1.3 Nguyên lí hoạt động của bản đồ tư duy
1.1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của bản đồ tư duy
Ưu điểm của bản đồ tư duy
Thực tế trong việc học môn Ngữ văn, học sinh thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng các kiến thức đã học trước đó vào bài sau Phần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng BĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy Trong thực tiễn bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
Ngoài ra do đặc điểm của BĐTD nên người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và lôgic,
vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả Bởi khi học sinh muốn xây dựng một bản đồ tư duy thì các em phải sử
Trang 23dụng hết tất cả các kỹ năng quan sát, kỹ năng đọc, phân tích tài liệu, đặc biệt
là kỹ năng tư duy (gồm các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa) và cuối cùng là kỹ năng vẽ Trong khi vẽ bản đồ tư duy để thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức, các em còn tưởng tượng, sáng tạo ra các cách thể hiện khác nhau, cách phối hợp màu sắc để nhấn mạnh các kiến thức quan trọng Từ đó khi nhìn vào bản đồ tư duy sẽ có ấn tượng mạnh, trí não sẽ nhanh nhớ hơn mà không cần phải học thuộc nhiều lần
Bản đồ tư duy có những ưu điểm chung: Tiết kiệm thời gian, công sức; cung cấp bức tranh tổng thể về một vấn đề; tổ chức và phân loại suy nghĩ; ghi nhớ tốt hơn; kích thích tiềm năng sáng tạo (hình dung, ghi nhớ, liên tưởng, sáng tạo); sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở mọi lĩnh vực
Trong học tập, bản đồ tư duy có nhiều ưu điểm Kết quả của một cuộc khảo sát thực nghiệm đã chỉ ra rằng có đến 95% học sinh ghi chú theo kiểu truyền thống Ghi chú theo kiểu truyền thống là ghi chú theo từng câu, thường
từ trái sang phải Có hai cách ghi chú kiểu truyền thống cơ bản, dạng đầu tiên
là tổng hợp lại các khái niệm quan trọng trong sách, dạng thứ hai là ghi chú viết dưới dạng nhiều phần mục (các câu văn hoặc đoạn văn ngắn được đánh
số và sắp xếp theo trình tự, mỗi câu chứa đựng một ý chính liên quan cần phải học) Mặc dù kiểu ghi chú truyền thống giúp bạn chắt lọc những thông tin trong sách, vẫn chứa đựng những từ thứ yếu nhưng chưa thể hiện được sự khác nhau giữa các điểm chính trong bài mà chỉ đơn thuần là liệt kê, chưa nổi bật được thông tin và dễ gây nhàm chán, đơn điệu Cách ghi chú này không mang tính suy luận, không phát huy được trí tưởng tượng và mới chỉ phát huy được sức mạnh của bán cầu não trái, chưa tận dụng được chức năng của bán cầu não phải, do đó không tối ưu hóa được sức mạnh não bộ Để khắc phục nhược điểm của cách ghi chú kiểu truyền thống, có nhiều phương pháp được đưa ra và nổi bật nhất chính là việc sử dụng bản đồ tư duy Theo Tiến sĩ Phạm
Trang 24Văn Nam thì giữa cách tư duy truyền thống và tư duy bằng “bản đồ” có sự khác nhau cơ bản:
So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp dùng bản
đồ tư duy có những điểm vượt trội như sau:
Tiết kiệm thời gian, công sức: Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và
hình ảnh sáng tạo, một khối lượng kiến thức được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy, mà không bỏ lỡ bất kỳ một thông tin quan trọng nào Tất cả những thông tin cần thiết được lưu giữ nguyên vẹn từ những chi tiết
nhỏ nhặt nhất
Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não: Bản đồ tư duy là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình
tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu chuyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng của bộ não: bán cầu não trái và bán cầu não phải Bán cầu não trái thiên về các chức năng logic, ngôn ngữ, phân tích, sắp xếp Bán cầu não phải thiên về các chức năng nghệ thuật, sáng tạo, tưởng
tượng, cảm nhận
Trang 25Cung cấp bức tranh tổng thể: Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi
chép Dùng bản đồ tư duy, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn
Bản đồ tư duy với việc phân nhánh để nghiên cứu, mổ xẻ, xem xét vấn
đề ở nhiều khía cạnh sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về vấn đề Nhìn vào đó, chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận ra đâu là chủ đề chính, chủ đề đó được triển khai, xem xét ở những khía cạnh nào, đâu là những nội dung quan trọng, đâu là những nội dung bổ sung… Đó chính là cơ sở để chúng ta hiểu thấu đáo
bản chất của vấn đề cần nghiên cứu
Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn
Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của người học: Thực
tế cho thấy chúng ta sẽ không làm tốt những những gì mà chúng ta không thích Chỉ khi nào chúng ta có hứng thú hoặc tạo ra được hứng thú trong học tập, công việc thì chúng ta mới có thể học tập, làm việc đạt hiệu quả cao.Với bản đồ tư duy, việc tạo ra và học tập, làm việc với những trang giấy đầy màu sắc, hình ảnh, được hệ thống và dễ nhớ sẽ giúp chúng ta có được sự hứng thú
đó để gia tăng hiệu quả
Phát huy khả năng sáng tạo: Mỗi học sinh có cách lập và trình bày
“bản đồ tư duy” khác nhau theo trí tưởng tượng và sáng tạo của mình, biến bài học thành một bức tranh sinh động bằng các hình thức như vẽ, sử dụng màu sắc, kết cấu nhánh hợp lý, … Và thay vì trăm trang giấy như một với nội dung đọc - chép giống nhau, mỗi bản đồ tư duy đều mang dấu ấn cá nhân của từng học sinh, thể hiện rất rõ tư duy độc lập của từng em cũng hiệu quả tiếp thu bài học của từng học trò
Trang 26Giúp HS có được phương pháp học hiệu quả hơn: việc rèn luyện
phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy có nhiều HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau; không biết vận dụng các kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn HS khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trong trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ giúp HS có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Giúp HS học tập một cách tích cực: một số kết quả nghiên cứu cho
thấy; bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình, tự suy nghĩ, tự viết, tự vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
Cân bằng cảm xúc - trí tuệ: Bản đồ tư duy còn là cách cân bằng cảm
xúc - trí tuệ tốt hơn, muốn có cảm xúc về tác phẩm, học sinh phải động não,
tư duy về tác phẩm Một áng văn hay, một bài báo có ảnh hưởng lớn trước hết là các tác phẩm có thông điệp mạnh mẽ, có cấu trúc rõ ràng
Lâu nay chúng ta vẫn tập trung học các môn: Toán, Lý, Hóa, Văn, Anh tức là mới chỉ tập trung phát triển bán cầu não trái Còn các môn như Nhạc, Họa thì chưa được chú trọng để phát triển bán cầu não phải Các nghiên cứu đã cho thấy: nếu chỉ sử dụng bán cầu não trái, hiệu suất tư duy của chúng ta chỉ đạt từ 5 - 10% so với khi chúng ta kết hợp và phát triển cân bằng
cả hai
Với việc sử dụng bản đồ tư duy, chúng ta không chỉ cần sự logic, hệ thống mà khả năng tưởng tượng, sáng tạo, làm việc với màu sắc, hình ảnh…
Trang 27cũng được huy động Điều đó có nghĩa là cả hai bán cầu não của chúng ta đều được kích hoạt Vì vậy sẽ tạo được sự cân bằng, giúp khả năng tư duy, sáng tạo, ghi nhớ của chúng ta tăng lên đáng kể
Như vậy, sử dụng bản đồ tư duy hợp lí sẽ giúp cho học sinh rất nhiều trong việc nắm vững và khắc sâu kiến thức Kiểu ghi chép sử dụng kí hiệu, từ khóa, nhánh, màu sắc, hình ảnh để giúp việc lưu trữ thông tin được khoa học
và ghi nhớ thông tin hiệu quả là bản chất của sơ đồ tư duy Vì vậy mà bản đồ
tư duy thường được sử dụng với các môn tự nhiên và thực sự phát huy kết quả rất tốt
Bản đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ hiện đại để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức tổng hợp về bài học Với phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy, từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học Bắt đầu bằng những kiến thức tổng quát nhất, trọng tâm bài học, trung tâm bản đồ Sau đó, giáo viên giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn cứ như vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ Bản đồ tư duy không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề Từ đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài, tức là tìm ra mạch lôgic của bài học Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản đồ là có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học Đồng thời học sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ý chính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả
Bản đồ tư duy có vai trò quan trọng trong mọi mặt của cuộc sống cũng như trong học tập Với ưu thế của mình, bản đồ tư duy đã khẳng định tính ưu việt so với các phương pháp khác Không chỉ cung cấp bức tranh tổng thể về
Trang 28vấn đề, bản đồ tư duy còn tổ chức, phân loại suy nghĩ, hình thành tư duy khoa học, kích thích tiềm năng sáng tạo, giúp ghi nhớ tốt hơn, đặc biệt là giúp tiết kiệm thời gian, công sức Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học là một phương pháp mới, hiệu quả đối với các môn học, đặc biệt là môn Ngữ văn nói chung, mảng văn xuôi tự sự nói riêng
Với những hiệu quả trên, phương pháp bản đồ tư duy đã và sẽ góp phần quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hướng tới dạy học lấy học sinh làm trung tâm và quá trình cá thể hóa người học Đồng thời, bản đồ
tư duy còn là phương pháp giúp học sinh tăng cường khả năng tự học, nhằm thực hiện mục tiêu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và học tập suốt đời của con người Như TS.Trần Đình Châu - Dự án Phát triển GD
THCS II- Bộ GD & ĐT- đã khẳng định: “Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS và THPT”
Hạn chế của bản đồ tư duy
Bên cạnh những ưu việt thì việc sử dụng bản đồ tư duy cũng còn những khó khăn mà mỗi giáo viên cũng như học sinh hiện nay đang băn khoăn, trăn trở:
Thứ nhất là mất nhiều thời gian: trong những giờ giảng văn, lượng kiến
thức nhiều, việc vẽ BĐTD tại lớp sẽ mất nhiều thời gian ảnh hưởng đến quá trình truyền thụ cũng như tiếp nhận, hay vận dụng kiến thức của học sinh
Thứ hai là khó vẽ: việc vẽ BĐTD khoa học, rõ ràng, dễ hiểu, đạt giá trị
thẩm mỹ (vẽ thủ công) không phải thầy cô và học sinh nào cũng làm được
Thứ ba là khó diễn giải: do kiến thức trong BĐTD được mô hình hóa
Trang 29nên rất ngắn gọn, không thể chi tiết, mở rộng, nếu người học không hiểu được bản chất sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình diễn giải
Thứ tư là mất phương hướng nếu quá lạm dụng: sử dụng BĐTD không
đúng lúc, đúng chỗ hoặc quá lạm dụng phương pháp sơ đồ hóa thì sẽ làm cho người học bị mất phương hướng, không hứng thú cho việc tiếp thu kiến thức bài giảng
Vì vậy, việc sử dụng BĐTD trong quá trình dạy học và học như thế nào cho có hiệu quả là một vấn đề mà mỗi giáo viên và học sinh THPT khi dạy và học văn cần phải suy nghĩ và cân nhắc
Việc sử dụng BĐTD trong dạy và học ngữ văn THPT mà biết khắc phục những khó khăn trên thì BĐTD sẽ phát huy hiệu quả, là phương pháp dạy học tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Mô hình thiết kế bản đồ tư duy trên máy tính
Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình… có tính khả thi cao, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS và THPT Bản đồ tư duy có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay Có thể thiết kế bản đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy… Với trường có điều kiện
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt, có thể cài vào máy tính phần mềm Mind map cho giáo viên, học sinh sử dụng
“BĐTD, một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất
kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm BĐTD Với trường có điều kiện cơ sở
hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng, bằng cách vào trang web www.download.com.vn gõ vào
Trang 30ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về bản demo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó cũng khá đơn giản.” (TS.Trần Đình Châu - Dự án Phát triển
GD THCS II- Bộ GD & ĐT)
Bản đồ tư duy là một trong những cách tốt nhất để sắp xếp, liên kết các
ý tưởng cho công việc, học tập Với một mảnh giấy và cây bút, bạn có thể thiết kế cho mình một bản đồ tư duy Tuy nhiên, với tiện ích MindMeist thì
kết quả sẽ hoàn hảo hơn nhiều
1.3 Mối tương quan giữa bản đồ tư duy và văn xuôi tự sự
Trong chương trình Ngữ Văn THPT hiện hành, văn xuôi tự sự có vị trí
vô cùng quan trọng, góp phần to lớn vào việc hoàn thiện tri thức văn học cho học sinh
Khối lượng kiến thức mang tính khái quát cao, tương đối khó, đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp phù hợp, hiệu quả để dạy các bài văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại Việc đi theo lối mòn của phương pháp cũ biến học sinh thành “bình chứa” kiến thức đã trở nên không hợp lý Mục tiêu giáo dục hiện nay là tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Giáo viên
là những người định hướng để học sinh chủ động tiếp nhận tri thức Các phương pháp đổi mới dạy học được đưa ra, trong đó một trong những biện pháp khả thi chính là việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy mảng văn xuôi tự
sự Việt Nam hiện đại
Bản đồ tư duy và văn xuôi tự sự có mối quan hệ tương quan chặt chẽ Bản đồ tư duy là công cụ tư duy của bộ não góp phần tổng hợp kiến thức một cách tối đa thông qua các đường nét, màu sắc và các từ khóa quan trọng Cách
hệ thống hóa kiến thức của bản đồ tư duy dựa trên nguyên tắc đi từ khái quát đến cụ thể Trung tâm của bản đồ là ý tưởng chính, chủ đề Các nhánh xung quanh là triển khai cho chủ đề ấy Mỗi nhánh lại có các nhánh nhỏ hơn Bởi
Trang 31vậy bản đồ tư duy thích hợp với những kiến thức mang tính khái quát cao Một trong những lựa chọn ấy chính là văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại
Để ghi nhớ và hiểu rõ về các kiến thức văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại thì phương pháp học truyền thống dường như đem đến hiệu quả không cao, thậm chí nhàm chán Với bản đồ tư duy, người dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại sẽ tìm thấy mối tương quan và tìm thấy giải pháp phù hợp cho những khó khăn trong việc học mảng văn học này
Khi triển khai phương pháp sử dụng bản đồ tư duy cho một bài trên lớp, bản đồ tư duy trở thành bản tóm tắt nội dung kiến thức một cách cơ bản
và trực quan nhất Trong đó nêu được các kiến thức cơ bản của bài học, những vấn đề chủ chốt cần nhớ, cần vận dụng Khi sử dụng bản đồ tư duy, một trong những điều quan trọng là những kiến thức bài học được dạy phải có mối quan hệ với nhau trên một cơ sở, một căn cứ, kiến thức phải có tính tầng bậc Qua nghiên cứu việc sử dụng phương pháp này trong giảng dạy, nhận thấy bản đồ tư duy đối với hoạt động giảng dạy bài văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại của giáo viên có rất nhiều ưu điểm
Xét dưới góc độ học tập của học sinh, việc sử dụng bản đồ tư duy mang lại tính hệ thống về kiến thức Đây là những kiến thức đã được tinh giản tối
đa Đó là những kiến thức cơ bản, chủ yếu nhất, quan trọng nhất được tái hiện thông qua bản đồ tư duy Nhìn vào đó ta thấy rõ được các nội dung chính của bài học, đồng thời thấy được mối quan hệ của các nhánh kiến thức Bản đồ tư duy trở thành điểm tựa thuận lợi cho học sinh lĩnh hội kiến thức, nói lên được kiến thức trọng tâm mà các em cần nhớ, cần củng cố khắc sâu Với phương pháp bản đồ tư duy trong giảng dạy, từng bước, giáo viên sẽ giúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học, bắt đầu bằng những kiến thức tổng quát nhất - trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ, giáo viên giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ
Trang 32trong từng ý lớn cứ như vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản
đồ Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, bản đồ tư duy còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài tức tìm ra mạch lôgic của bài học Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản
đồ là có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học Đồng thời học sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ý chính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả
Thông qua bản đồ tư duy, bộ não có khả năng ghi nhớ một cách tối đa
và nhanh chóng Học sinh có thể lưu giữ rất lâu, nhớ sâu và khôi phục thuận lợi Đồng thời nó còn gợi mở những kiến thức mới sẽ được tiếp tục trình bày, tìm hiểu về sau
Bên cạnh đó, bản đồ tư duy mang tính trực quan với những đường nét
và màu sắc không chỉ giúp học sinh trực quan kiến thức, trực tiếp dùng mắt quan sát sơ đồ mà có thể tự tái hiện kiến thức đã học Từ đó, học sinh vừa có cái nhìn riêng biệt, vừa có cái nhìn tổng thể, khái quát các kiến thức trong mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị, việc nhận thức nội dung bài học cũng sâu sắc hơn
Bản đồ tư duy còn mang lại hứng thú học tập cho học sinh, tránh được cảm giác nhàm chán, tẻ nhạt với kiểu bài văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại
mà xưa nay thường cho là khó Phương pháp này như một công cụ gợi mở, kích thích các em thực hiện thao tác tư duy trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức Bước quan trọng nhất là giáo viên giúp học sinh phát hiện, tìm kiếm được trung tâm bản đồ - trọng tâm bài học Sau đó theo nguyên lí bản đồ
tư duy là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá kiến thức bài học Bằng trí tưởng tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn, học sinh phải
Trang 33biết cách phân tích tìm ra những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất Khi các nhánh lớn được xây dựng, giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh sắp xếp theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ở đầu mỗi nhánh Điều đó giúp học sinh dễ dàng ôn tập sau này
Cứ làm việc theo cách đó học sinh sẽ biết cách tự mình vận động, tìm tòi khám phá, lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả, từ đó giúp tiếp thu bài học một cách nhanh hơn, hiệu quả hơn
Đối với giáo viên, sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy các bài văn xuôi tự sự giúp việc giảng dạy của giáo viên đạt kết quả tối đa, tạo sự sáng tạo cho bài giảng Giờ giảng trở nên mới mẻ, linh hoạt hơn Với những
ưu điểm của mình, bản đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh Giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ để củng cố, khái quát bài học của học sinh
Bản đồ tư duy có thể sử dụng như một phương pháp để kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới hay một vai trò được đánh giá cao hơn cả chính là khái quát lại kiến thức đã học Sau mỗi tiết học bao giờ cũng có phần củng cố, nhắc lại kiến thức trọng tâm Với cách học truyền thống, giáo viên thường cho học sinh ghi chép và thực hiện kiến thức theo trật tự tuyến tính nên khả năng nhớ kiến thức thường ít hơn 50% dung lượng bài Việc sử dụng bản đồ tư duy sẽ giúp các em khắc phục được hạn chế đó Sau mỗi giờ học, hoặc sau mỗi phần, khi cần củng cố kiến thức giáo viên sẽ cho học sinh trực quan trên bản đồ tư duy, chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy có thể tái hiện được 80% - 90% kiến thức bài học, phần vừa học
Khi giảng dạy với bản đồ tư duy, giáo viên chủ động được trong việc trình bày kiến thức, mạch lạc trong lập luận, hệ thống hóa kiến thức, xác định trọng tâm của bài học từ đó phân bố thời gian cho phù hợp Việc sử dụng bản
đồ tư duy sẽ làm thay đổi không khí tiết học, tạo hứng thú cho cả giáo viên và học sinh, kích thích được khả năng sáng tạo
Trang 34Tiểu kết chương 1
Tóm lại, việc vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác sẽ góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp học ở cấp THPT
Bản đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả thông qua việc vận dụng cả não phải và não trái, giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn Bản đồ tư duy có rất nhiều ưu điểm, có những nguyên tắc chung nhất và những mô hình thiết thực Tuy nhiên, bản đồ tư duy không phải là một tác phẩm hội họa nên cần tránh rơi vào việc trang trí cầu kì, trau chuốt thay cho ghi chú (là mục đích chính khi
sử dụng bản đồ tư duy)
Sử dụng bản đồ tư duy sẽ góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại ở bậc THPT Trong khi ngành giáo dục đang tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nếu mỗi GV
và HS tích cực nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng bản đồ tư duy một cách linh hoạt, phù hợp trong từng bài dạy, sẽ tạo thêm hứng thú trong quá trình truyền thụ và tiếp nhận tri thức môn Ngữ văn
Trang 35Chương 2 ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC
CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI TỰ SỰ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 VÀ 12, BAN CƠ BẢN)
2.1 Tổng quan về mảng chương trình văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT
2.1.1 Chương trình Ngữ văn ở ban cơ bản
Trong chương trình phổ thông, môn Ngữ văn là môn học giữ vị trí quan trọng, được phân chia chia theo từng thể loại và từng thời kỳ văn học
Mảng văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản gồm các thể loại sau:
Lớp 11: Truyện ngắn - Tiểu thuyết
Lớp 12: Truyện ngắn - Tùy bút - Bút kí
Bài văn xuôi mở đầu trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 11 là
bài: Hai đứa trẻ (Thạch Lam) (Tiết 37+38+39) Đây truyện ngắn độc đáo -
truyện không có truyện Qua tác phẩm, người đọc hiểu được cuộc sống của những kiếp người lao động nghèo khổ, bế tắc trước cách mạng tháng Tám; hiểu được sự cảm thông, trân trọng của Thạch Lam trước mong ước của họ
về một tương lai tươi sáng
Sau khi học bài Hai đứa trẻ, học sinh sẽ có nền tảng học các bài khác
Cụ thể:
+ Lớp 11: Chữ người tử tù; Hạnh phúc một tang gia; Chí Phèo
+ Lớp 12: Người lái đò sông Đà; Ai đã đặt tên cho dòng sông?; Vợ chồng A Phủ; Vợ nhặt; Rừng xà nu; Những đứa con trong gia đình; Chiếc thuyền ngoài xa
Với thể loại truyện ngắn, học sinh cả hai khối lớp đều được học Trong
Trang 36chương trình nâng cao, sau khi học xong tác phẩm Hai đứa trẻ, học sinh được Chữ người tử tù Đối với chương trình cơ bản thì tri thức về truyện
ngắn khá nhiều, bao quát cả chương trình học kì một của lớp 11 và học kì hai của lớp 12 Các truyện ngắn được giảng dạy ở chương trình hiện nay:
“chất của loại” trong thể loại Cụ thể, ta phải khẳng định được văn bản đó thuộc thể văn nào, nó biểu hiện tính chất chủ đạo của loại văn nào, chỉ như vậy, ta mới có cách tiếp cận, giảng dạy hợp lí và mới có thể giúp HS tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm một cách toàn diện cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện
2.1.2 Chương trình Ngữ văn ở ban nâng cao
Chương trình VHHĐ Ngữ văn 11 và 12 ban nâng cao bậc Trung học phổ thông được xây dựng theo nguyên tắc xác định VHHĐ chương trình Ngữ văn 11 và 12 ban cơ bản là một chỉnh thể; từ đó xác lập hướng giải quyết hợp
lý vấn đề giới thiệu chương trình VHHĐ thống nhất, phong phú và đa dạng
Tính chỉnh thể của chương trình VHHĐ của hai ban, về hệ thống thể loại, vừa có sự đồng tâm (cùng có các thể loại truyện ngắn, ký, tùy bút, tiểu thuyết Trong sự đồng tâm có sự mở rộng, nâng cao (mở rộng về kiểu tác phẩm và thể loại)
Trang 37Để có cái nhìn bao quát về mảng văn xuôi tự sự văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11 và 12 hiện nay, chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát và thống kê, đối sánh chương trình trên hai ban: ban cơ bản và nâng cao
Lớp 11
Chương
trình
SÁCH NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN
SÁCH NGỮ VĂN 11 NÂNG CAO
VĂN HỌC
VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI
1 Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
2 Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
3 Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng)
4 Chí Phèo (Nam Cao)
1 Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
2 Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
3 Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng)
4 Chí Phèo (Nam Cao)
Lớp 12
Chương
trình
SÁCH NGỮ VĂN 12 BAN CƠ BẢN
SÁCH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO
7 Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu)
1 Người lái đò Sông Đà
Trang 382.2 Sự cần thiết của việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại (trong chương trình Ngữ văn lớp 11 và lớp 12)
Như đã nói ở trên, khối lượng kiến thức mà học sinh phải học mỗi ngày là rất lớn (đặc biệt là học sinh lớp 12) nhưng quỹ thời gian và sức khỏe
có giới hạn Mặt khác, xã hội ngày càng đòi hỏi con người sáng tạo Vậy biện pháp nào giúp chúng ta giải quyết tình trạng này? Thực tế cho thấy, trong quá trình học tập, khó ai có thể nhớ kĩ từng chi tiết, nhớ nguyên văn một cuốn sách hoặc một bài học dài Có chăng là con người có thể nhớ một sơ đồ, một
hệ thống, một công thức chung nhất nào đó của bài học
Vấn đề đặt ra là, giáo viên cần cung cấp cho học sinh một phương pháp phù hợp để học sinh tự học, tự hệ thống kiến thức Bản đồ tư duy sẽ đáp ứng tốt yêu cầu trên Muốn nắm vững, nhớ sâu, vận dụng sáng tạo, học sinh phải cùng giáo viên tìm tòi, xây dựng hệ thống bài học Đã qua rồi thời kì đọc - chép, chiếu - chép, nhìn - chép…Vì vậy, giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách thực hiện sơ đồ mô phỏng kiến thức bài học Đồng thời, giúp học sinh tư duy, sáng tạo, tận dụng khả năng ghi nhớ và hồi tưởng những kiến thức đã ghi nhớ Hay nói cách khác, học sinh có thể thể hiện nội dung bài học theo cách của mình qua các từ khóa, từ chủ đề trung tâm đến các ý lớn, đến các ý nhỏ Khác với cách ghi chép thông thường, ở cách sử dụng màu sắc kích thích trí nhớ và sự hứng thú vì mỗi nhánh có một từ khóa kèm hình ảnh
Với một kĩ thuật hình họa có đường nét, có màu sắc, có từ ngữ, hình ảnh được dựa trên sự tưởng tượng và kết nối, bản đồ tư duy giúp chúng ta tự
do suy nghĩ và phát huy tiềm năng sáng tạo của bộ não Học sinh không còn
thụ động ngồi nghe giáo viên giảng bài rồi ghi bài một cách máy móc mà trái
lại các em sáng tạo ra “tác phẩm” của riêng mình qua sự định hướng, gợi ý
Trang 39của giáo viên Ngoài việc dùng bản đồ tư duy trong dạy và học, bản đồ tư duy còn giúp học sinh nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra
Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, văn học Việt Nam hiện đại có vị trí vô cùng quan trọng, là nền tảng của các tri thức và góp phần to lớn vào việc hoàn thiện tri thức văn học cho học sinh Các tác phẩm văn xuôi
tự sự Việt Nam hiện đại góp phần hoàn thiện tri thức văn học phổ thông cho học sinh Nó có vị trí quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng năng lực, nhân cách cho người học, giúp học sinh ý thức được sự phát triển của nền văn học dân tộc, sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc Đồng thời, tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại có khả năng bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, giáo dục truyền thống yêu nước và nhân đạo cho học sinh Cũng thông qua các tác phẩm đó, học sinh có điều kiện rèn luyện tư duy logic và tư duy hình tượng, rồi từ đó góp phần giúp học sinh hình thành quan điểm phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học một cách khoa học
Tri thức văn xuôi tự sự được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồm chi tiết, sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách… đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn
có cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được…[23, tr.268]
Khối lượng kiến thức nhiều, tương đối khó, đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp phù hợp, hiệu quả để dạy các bài văn xuôi Việc đi theo lối mòn của phương pháp cũ biến học sinh thành “bình chứa” kiến thức đã trở nên không hợp lý Mục tiêu giáo dục hiện nay là tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Giáo viên là những người định hướng để học sinh chủ động tiếp nhận tri thức Các phương pháp đổi mới dạy học được đưa ra, trong đó một trong những biện pháp khả thi chính là việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy văn xuôi tự sự hiện đại
Trang 40Bản đồ tư duy và văn xuôi tự sự có mối quan hệ tương quan chặt chẽ Bản đồ tư duy là công cụ tư duy của bộ não góp phần tổng hợp kiến thức một cách tối đa thông qua các đường nét, màu sắc và các từ khóa quan trọng Cách
hệ thống hóa kiến thức của bản đồ tư duy dựa trên nguyên tắc đi từ khái quát đến cụ thể Trung tâm của bản đồ là ý tưởng chính, chủ đề Các nhánh xung quanh là triển khai cho chủ đề ấy Mỗi nhánh lại có các nhánh nhỏ hơn Bởi vậy bản đồ tư duy thích hợp với những kiến thức mang tính khái quát cao Một trong những lựa chọn ấy chính là văn xuôi tự sự
Để ghi nhớ và hiểu rõ về các kiến thức văn xuôi tự sự hiện đại thì phương pháp học truyền thống dường như đem đến hiệu quả không cao, thậm chí nhàm chán Với bản đồ tư duy, người dạy và học văn xuôi tự sự sẽ tìm thấy mối tương quan và tìm thấy giải pháp phù hợp cho những khó khăn trong việc học phân môn này
Khi triển khai phương pháp sử dụng bản đồ tư duy cho một bài trên lớp, bản đồ tư duy trở thành bản tóm tắt nội dung kiến thức một cách cơ bản
và trực quan nhất Trong đó nêu được các kiến thức cơ bản của bài học, những vấn đề chủ chốt cần nhớ, cần vận dụng Khi sử dụng bản đồ tư duy, một trong những điều quan trọng là những kiến thức bài học được dạy phải có mối quan hệ với nhau trên một cơ sở, một căn cứ, kiến thức phải có tính tầng bậc Qua nghiên cứu việc sử dụng phương pháp này trong giảng dạy, nhận thấy bản đồ tư duy đối với hoạt động giảng dạy bài văn xuôi tự sự của giáo viên có rất nhiều ưu điểm
Xét dưới góc độ học tập của học sinh, việc sử dụng bản đồ tư duy mang lại tính hệ thống về kiến thức Đây là những kiến thức đã được tinh giản tối đa Đó là những kiến thức cơ bản, chủ yếu nhất, quan trọng nhất được tái hiện thông qua bản đồ tư duy Nhìn vào đó, ta thấy rõ được các nội dung chính của bài học, đồng thời thấy được mối quan hệ của các nhánh