1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4

106 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng BĐTD vào dạy học một số tình huống điển hình trong môn Toán lớp 4 .... Tại Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X, khi bàn về chiến lược phát triển giáo dụ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Châu Giang

TS Nguyễn Tiến Dũng

NGHỆ AN – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu “Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Toán lớp 4’’được hoàn thành với mục đích góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 4 ở tiểu học

Trước hết, tác giả luận văn xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS

Nguyễn Thị Châu Giang và TS Nguyễn Tiến Dũng,người đã dành nhiều thời

gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hình thành

đề cương, triển khai ý tưởng và hoàn thiện đề tài

Tác giả trân trọng gửi lời cảm ơn tới tập thể Thầy Cô giáo Khoa Giáo dục, Trường Đại học Vinh, đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu các chuyên đề Cao học

Trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo trường tiểu học Nghi Phú 2, Nghi Đức, Trường Thi, Hà Huy Tập 2 và Trường tiểu học Quang Trung đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình thực nghiệm tại cơ sở

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót cần bổ sung, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được sự góp ý quý báu của các Thầy, Cô, đồng nghiệp và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2016

Tác giả

Đoàn Thị Thảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BĐTD : Bản đồ tư duy

TH : Tiểu học GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo GVG : Giáo viên giỏi

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Các mức độ nhận thức của giáo viên về vai trò của BĐTD trong quá trình

dạy học môn Toán lớp 4 53

Bảng 2.2 Mục đích vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 54

Bảng 2.3 Đánh giá ưu điểm của việc vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 56

Bảng 2.4 Đánh giá của giáo viên về khó khăn của BĐTD trong dạy học Toán lớp 4 57

Bảng 3.1: Kết quả bài thực nghiệm 1 81

Bảng 3.2: Bảng phân phối mức độ kết quả bài thực nghiệm 1 82

Bảng 3.3 : Kết quả bài thực nghiệm 2 84

Bảng 3.4: Bảng phân phối mức độ kết quả bài thực nghiệm 2 85

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả bài thực nghiệm 82

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả bài thực nghiệm 2 86

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp mới của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BĐTD VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.2 BĐTD 5

1.2.1 Tư duy 5

1.2.2 BĐTD 6

1.2.3 Một số cách tạo lập BĐTD 9

1.3 Vận dụng BĐTD trong dạy học 18

1.3.1 Vai trò của việc vận dụng BĐTD trong dạy học ởtiểu học 18

1.3.2 Ưu, nhược điểm của việc vận dụng BĐTD trong dạy học 23

1.3.3 Các nguyên tắc sử dụng BĐTD 24

1.3.4 Cách lập BĐTD 26

1.4 Một số vấn đề về vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 29

1.4.1 Khái quát về nội dung, chương trình môn Toán lớp 4 29

1.4.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 32

1.4.2.1 Nhu cầu, hứngthú, động cơ học tập 32

1.4.2.2 Đặc điểm của quá trình nhận thức: 32

1.4.3 Khả năng vận dụng BĐTD vào dạy môn Toán lớp 4 35

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG BĐTD VÀO DẠY HỌC

MÔN TOÁN LỚP 4 41

2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 41

2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 41

2.1.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng 41

2.1.3 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu 41

2.1.4 Phương pháp nghiên cứu 50

2.2 Thực trạng vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 50

2.2.1 Thực trạng dạy học môn Toán lớp 4 50

2.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học môn Toán lớp 4 51

2.2.3 Thực trạng vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học môn Toán lớp 4 53

2.2.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của việc vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 55

2.3 Đánh giá chung về thực trạng vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 56

2.3.1 Mặt tích cực 56

2.3.2 Hạn chế 57

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH VẬN DỤNG BĐTD TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4 60

3.1 Quy trình vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 60

3.1.1.Các nguyên tắc xây dựng quy trình 60

3.1.2 Quy trình chung 62

3.2 Vận dụng BĐTD vào dạy học một số tình huống điển hình trong môn Toán lớp 4 65

3.2.1 Vận dụng BĐTD trong dạy học hình thành kiến thức mới 66

3.2.2 Vận dụng BĐTD trong dạy học thực hành giải bài tập toán 69

3.2.3.Vận dụng BĐTD trong dạy học các tiết luyện tập 71

3.3 Thực nghiệm sư phạm 73

Trang 8

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 73

3.3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 73

3.3.3.Nội dung thực nghiệm 73

3.3.4 Phương pháp thực nghiệm 73

3.3.5 Tổ chức thực nghiệm 73

3.3.6 Chọn bài thực nghiệm 74

3.4 Kết quả thực nghiệm 74

3.4.1 Kiểm tra đánh gía kết quả thực nghiệm 74

3.4.2 Xử lý kết quả thực nghiệm 75

3.4.3 Kết quả việc tiếp thu kiến thức của học sinh qua thựcnghiệm 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Kiến nghị 88

2.1 Đối với công tác quản lý chỉ đạo chuyên môn 88

2.2 Đối với GV tiểu học 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 1 91

PHỤ LỤC 2 94

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định Giáo dục - Đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu.Thông qua đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Với các biện pháp cụ thể là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Tại Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X, khi bàn về chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010 đã nhấn mạnh “đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự học của học

sinh ”(Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, 48, tr 30)[24]

Theo Nguyễn Bá Kim thì “Sự phát triển năng lực khái quát hóa cho học sinh thông qua môn Toán, ta không xem xét năng lực này một cách cô lập, trái lại phải nghiên cứu nó trong mối liên hệ chặt chẽ với những năng lực trí tuệ khác nhau như phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự hóa với những đặc điểm nhân cách khác nữa như kiến thức, phẩm chất, Đồng thời cần nghiên cứu năng lực này trong quá trình vận động, phát triển từ thấp đến cao”[15, tr26- 27] Theo Tony Buzan thì “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho BĐTD (BĐTD) những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo” [19, tr5] Theo Trần Đình Châu và cs thì “BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường tiểu học cũng như bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức của một bài học, một chủ đề, một chương hay một cuốn sách một cách rõ ràng, mạch lạc, lô gic và đặc biệt là dễ

Trang 10

Thực trạng việc dạy học Toán nói chung và dạy học toán ở cấp tiểu học nói riêng vẫn còn nặng nề về truyền thụ kiến thức, giáo viên, học sinh lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa, giáo viên ít chú trọng đổi mới phương pháp dạy học Mặt khác nội dung kiến thức tương đối nhiều và nặng nề nên học sinh khó ghi nhớ, tiếp thu,

hệ thống kiến thức Giáo viên cần phải áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động dạy học để học sinh được chủ động tìm kiếm tri thức, tiếp thu, hệ thống kiến thức, tìm mối liên hệ và tổng hợp kiến thức một cách hiệu quả, khoa học

Dạy học theo BĐTD là một trong những phương pháp dạy học mới được xây dựng trong những năm gần đây trên cơ sở phát triển công cụ BĐTD nhằm đổi mới tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên và phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo, khả năng tổng hợp, xây dựng kế hoạch trong việc học của học sinh Do đó việc vận dụng BĐTD vào dạy học toán tiểu học hiện nay được nhiều người quan tâm trong thực hiện phương pháp đổi mới dạy học Tuy nhiên việc vận dụng thực tế có lúc còn lúng túng, chưa đầy đủ ở các nội dung đặc biệt là trong dạy học môn Toán lớp 4

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đề xuất nghiên cứu đề tài: “Vận

dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Toán lớp 4’’

Quá trình vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toánlớp 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung và quy trình vận dụng BĐTD vào dạy học một số tình huống điển hình trong môn Toán lớp 4

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được một quy trình vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp

4 có tính khoa học và khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 4 nói riêng và dạy học Toán ở tiểu học nói chung

Trang 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4

- Làm rõ thực trạng của việc vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất và thử nghiệm quy trình vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 tại một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Để nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhằm tìm hiểu thực trạng vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 trên địa bàn thành phố Vinh

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Được sử dụng để tìm hiểu, phối hợp

kinh nghiệm vận dụng BĐTD vào dạy học toán của các tác giả đi trước

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng các công thức, biểu bảng trong thống kê toán học nhằm xử lý số liệu thu được

8 Đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc vận dụng BĐTD vào dạy học toán lớp 4

- Làm rõ thực trạng vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4 tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Vinh

- Xây dựng nội dung và quy trình vận dụng BĐTD vào dạy học môn Toán lớp 4

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY

VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sử dụng BĐTD vào công việc hay học tập ngày nay đã và đang nhận được

sự quan tâm đặc biệt của mọi người BĐTD được mệnh danh là “Công cụ vạn năng

cho bộ não”, là phương pháp ghi chú đầy sáng tạo, nó đem lại những hiệu quả thực

sự đáng kinh ngạc, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh Là cha đẻ của phương pháp tư duy này, Tony Buzan đã đi khắp thế giới để thực hiện sứ mệnh của mình, sứ mệnh giải phóng sức mạnh của bộ não, nhằm khám phá và sử dụng năng lực sáng tạo mạnh mẽ của mỗi con người một cách dễ dàng nhất BĐTD đã được phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới thông qua nhiều cuốn sách của Tony Buzan, tiêu biểu như:

- “Mind map at work”- “BĐTD trong công việc” là cuốn sách đầu tiên của

BĐTD được dịch ra tiếng Việt Với cuốn sách này bạn không chỉ hiểu được: BĐTD

là gì? Tại sao nên ứng dụng BĐTD ? Mà còn được trả lời câu hỏi: Sử dụng BĐTD như thế nào trong học tập, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và tạo ra các sản phẩm dịch vụ?[18]

- “ Use your head” – “ Hơn nhau ở cái đầu” là cuốn sách viết về hoạt động

của bộ não giúp chúng ta hiểu hơn về nguyên lý hoạt động của bộ não, nên sử dụng

nó như thế nào để có hiệu quả tối ưu hay có thể ghi nhớ lâu hơn, đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn Không những thế, chúng ta còn thấy được sự tương thích giữa vớiBĐTDcấu tạo chức năng và hoạt động của bộ não

- “How to mind map” – “ Lập BĐTD” giúp chúng ta tiếp cận khái niệm

BĐTD , chỉ ra các bước để tạo ra một BĐTD hoàn chỉnh và đưa ra các ví dụ minh họa.[17]

- Với “ Mind map for kids” – “ BĐTD cho trẻ em”, Tony Buzan khẳng định

vai trò to lớn của BĐTD trong mọi lĩnh vực cuộc sống Đồng thời, khẳng định BĐTD phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý nhận thức của trẻ em từ 7- 18 tuổi Cuốn

Trang 13

sách sẽ hướng dẫn các em cách thức để trang bị cho mình một phương pháp học tập mới, hấp dẫn và hiệu quả.[21]

- Cuốn “ Sơ đồ tư duy” của Tony Buzan và Barry Buzan được viết dưới dạng

một cuộc phiêu lưu tạo sự hấp dẫm, lôi cuốn người đọc khám phá những điều đáng kinh ngạc về bộ não con người Cuốn sách giới thiệu về BĐTD như một công cụ mới mang tính cách mạng, cho phép bạn tận dụng tốt nhất tu duy rộng mở trong tất

cả các lĩnh vực của cuộc sống.[19]

- “10 cách đánh thức tư duy sáng tạo” giới thiệu cho người đọc cách sử dụng

BĐTD như một phương pháp để khai thác trí tuệ sáng tạo, phân tích một số ví dụ kinh điển có sử dụng công cụ tư duy này để tăng khả năng tư duy sáng tạo

Năm 2007, Tony Buzan đã đến Việt Nam.Ông đã tham dự chương trình

“ Người đương thời” Với những câu chuyện thú vị, hấp dẫn ông đã chỉ ra sự hoạt

động của bộ não, cách thức để có thể phát huy hết tiềm năng của bộ não cũng như cách vận dụng BĐTD có hiệu quả

Cùng với Tony Buzan, nhiều tác giả- những người đã vận dụng thành công BĐTD vào trong công việc của mình, cũng đã cho xuất bản nhiều quyển sách viết

về tác dụng của BĐTD Tiêu biểu như tác phẩm “I am gifted, so are you” - “Tôi tài

giỏi, bạn cũng thế” của Adam Khoo [1]

Trong chương 7 của cuốn sách này, Adam Khoo đã đưa ra vai trò cũng như cách vận dụng ,thiết lập BĐTD phục vụ hiệu quả cho công việc và học tập

1.2.Bản đồ tư duy

1.2.1 Tư duy

Tư duy con người luôn là một trong những vấn đề lớn của Triết học Nhưng

tư duy là gì thì cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau

- Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu và vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm phán đoán và suy lí

- Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005) [24]: Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức

Trang 14

một cách đặc biệt- bộ não người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận,…

- Theo từ điển Triết học: Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được

tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận,…Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những quan hệ của thực tại

- Theo Triết học duy tâm khách quan: Tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc và vật chất

- Theo giáo trình Tâm lí học của Phạm Minh Hạc thì: Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khác quan mà trước

đó chủ thể nhận thức chưa biết.[10]

Tuy diễn đạt bằng các cách khác nhau, nhưng những quan niệm trên đã nêu

đến bản chất của tư duy Như vậy có thể hiểu: Tư duy là một quá trình nhận thức

bậc cao có ở con người, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy luận,… Tư duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm của hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, kết quả của quá trình tư duy

là sự nhận thức về một đối tượng nào đó ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn

1.2.2 Bản đồ tư duy

BĐTD hay còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau Các quan điểm này tùy thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi người về nó

Tony Buzan - cha đẻ của BĐTD trong cuốn “Lập BĐTD” do Phạm Thế Anh

biên dịch cho rằng BĐTD là phương pháp dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó.[17]

Trong cuốn “Sử dụng trí tuệ của bạn” biên dịch Lê Huy Lâm đã định nghĩa:

Trang 15

BĐTD là phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh.[20]

Biên dịch Thanh Huyền trong cuốn “BĐTD cho trẻ em” đã quan niệm BĐTD

là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện ghi chép hiệu quả thể hiện sự

“sắp xếp” ý nghĩ của bạn.[21]

Bên cạnh đó một số trang web trên mạng cũng đưa ra một số quan niệm về BĐTD : Theo nguồn tin từ bách khoa toàn thư mở Wikipedia, BĐTD (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.[26]

Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ, nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thì toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm có liên quan và liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn

BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não

BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biết đây là một sơ đồ mở, việc

Trang 16

thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người

BĐTD chính là sự biểu thị cho cách tư duy của bộ não BĐTD hoạt động dựa trên các quy luật tư duy Nó không ngừng giúp bạn lưu ý tới trung tâm của vấn đề, bằng liên kết và tưởng tượng, sẽ hướng bạn tới những kết luận quan trọng (Nguyễn Thị Diệu Hiền, 2010)[11]

BĐTD là kết quả của việc bắt đầu từ ý tưởng trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tảo ra từ trung tâm rồi kết nối chúng lại với nhau

Theo Trương Tinh Hà (Khoa vật lý - Trường Đại học Sư phạm TP HCM),

trong bài viết “Giảng dạy và học tập với công cụ BĐTD” cũng đưa ra quan niệm về

BĐTD : BĐTD là công cụ xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo, [9]

Có quan niệm khác thì đơn giản hóa BĐTD bằng công thức:

Ghi nhớ tốt + Từ khóa + Não trái phải = BĐTD

Trang 17

Theo khảo sát thì phần đông những người biết đến BĐTD đều đồng ý với

quan niệm của nhóm Tư duy mới - New thinhking group trong cuốn “Sử dụng

BĐTD trong công việc” BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình

ảnh để mở rộng , đào sâu các ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh

mà các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa vào mối liên hệ của bản thân các ý Điều này khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thông thường không thể làm được

Mặc dù diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm trên đều hướng đến một kết luận chung: BĐTD là công cụ tổ chức tư duy, giúp con người làm việc khoa học, sáng tạo

1.2.3 Một số cách tạo lập BĐTD

1.2.3.1 Tạo lập BĐTD bằng thủ công:

Các bước để tạo BĐTD bằng thủ công

Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm

Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một

+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

 Bí quyết vẽ chủ đề là chủ đề nên được vẽ to cỡ hai đồng xu “5000 đồng”

 Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ

Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

- Một số lưu ý khi vẽ tiêu đề phụ:

Trang 18

 Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật

 Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm

Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

 Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

- Một số lưu ý khi vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ:

 Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm

 Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm nên có cùng một màu

 Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

Trang 19

 Bước 4:

Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng bay bổng Có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn Cấu trúc sơ đồ tư duy: (Trần Đình Châu và cs, 2009)[6]

1.2.3.2 Tạo lập BĐTD bằng phần mềm

Một BĐTD có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau Tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo

ra BĐTD Chúng tôi xin giới thiệu một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind mapping”

Mindjet MindManager là phần mềm tạo BĐTD nhanh chóng, hiệu quả, được

lấy ý tưởng từ sơ đồ tư duy mindmap nổi tiếng

Hiện nay, Mindjet Mindmanager có 2 phiên bản: Mindjet Mindmanage 7 và phiên bản nâng cấp Mindjet Mindmanager 8

Trang 20

Cách 2: Hoặc click lên biểu tượng ngoài màn hình

Khi đó màn hình xuất hiện giao diện

 Bước 3: Tạo nội dung BĐTD

Khi mở chương trình, nhấn vào New để tạo sơ đồ mới Chúng ta có thể chọn mẫu cố định hoặc tự do → OK Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic → ấn nter

Trang 21

để hoàn thành → ấn Enter lần nữa để lập ý nhánh trong ô Main Topic.Trong ô này, bạn có thể nêu các ý nhỏ hơn bằng cách bấm chuột phải → Insert Subtopic

Muốn xóa một topic bất kì, click chuột vào topic → Delete

 Bước 4: Hoàn chỉnh BĐTD

- Để chọn đường viền bao quanh các Topic → click chuột phải →

Format Topic/ Shape and Color/ chọn một đường viền thích hợp → OK

Trang 22

- Chọn sắc độ đậm nhạt cho đường liên kết → click chuột phải →Format

Topic/ General Layout/ OK

- Để chèn hình ảnh vào BĐTD → click chuột phải → Format Topic/

Imagine/ From Library hoặc From file/ chọn ảnh thích hợp

- Để chỉnh sửa kiểu chữ, cỡ chữ, font,…click vào biểu tượng Formatting

trên thanh công cụ

Trong quá trình tạo bản đồ sẽ có những mối liên kết giữa các thành phần với nhau, nhưng chúng lại không cùng nằm trong cùng một nhánh Do đó, để liên

kết các thành phần đó lại với nhau vào menu Insert > Relationship, một mũi tên

Trang 23

cong sẽ xuất hiện ngay trên con trỏ chuột, hãy nhấp chuột đến vị trí nhánh thứ nhất, sau đó nhấp chuột lần nữa đến vị trí thứ hai để mắc xích các sự kiện lại với nhau Lúc này sẽ có một đường cong nối hai vị trí đó lại với nhau, tiếp tục dùng chuột điều chỉnh núm màu vàng để chỉnh hướng đường cong này

- Để liên kết

dữ liệu bên ngoài, nhấp chuột phải vào nhánh kế hoạch có

liên quan đến dữ liệu muốn liên kết, sau đó chọn Insert Hyperlink (Ctrl+K) Trong hộp thoại xuất hiện, chúng ta nhấp chuột vào biểu tượng Files để duyệt đến tập tin cần liên kết hoặc nhấp chuột vào biểu tượng Folder nếu muốn chọn nguyên

thư mục trong ổ cứng để liên kết

Trang 24

 Bước 5: Xuất bản BĐTD

Để lưu trữ bản đồ vừa thực hiện, vào menu File > Save, chọn một trong những định dạng lưu mà chương trình hỗ trợ Mindjet Mindmanager hỗ trợ xuất ra nhiều định dạng, từ các định dạng ảnh thông dụng đến PDF, DOC,

HTML, TXT, XML đến định dạng riêng của chương trình (.mmap)

c Kết luận

Mindjet Mindmanager 8 giúp sắp xếp công việc một cách thông minh,

sáng tạo và bớt tốn thời gian, hiệu quả hơn

Ưu điểm của Mind Manager so với Free Mind là đầy đủ các tính năng,

rất mạnh, giao diện quen thuộc nên bạn chỉ mất chừng chục phút để làm quen, hỗ

trợ rất tốt những phần mềm khác như Microsoft Office Tuy nhiên, Mind Manager

lại không miễn phí

B Phần mềm Microsoft Office Powerpoint

a.Giới thiệu:

Microsoft Office Powerpoint là một ứng dụng trình diễn do hãng Microsoft

phát triển Powerpoint là một phần của gói ứng dụng văn phòng Microsoft Office,

có chức năng hỗ trợ việc thiết kế, soạn thảo, định dạng nội dung tài liệu rất thuận tiện cho việc trình bày trong giảng dạy thuyết trình… Đây là một trong những phần

mềm dạy học phổ biến hiện nay.Microsoft Office Powerpoint vốn không phải là

phần mềm đặc trưng cho việc tạo BĐTD nhưng với một số tính năng ưu việt như: các công cụ cơ bản linh hoạt, dễ dùng; hệ thống hiệu ứng phong phú… sẽ giúp chúng ta khắc phục được những hạn chế về việc trình diễn BĐTD của các phần mềm nói trên để tạo được một BĐTD hiệu quả Chính vìvậy, có thể sử dụng

Microsoft Office Powerpoint để thiết kế BDTD.Microsoft Office Powerpoint có rất

nhiều phiên bản, nhưng được dùng phổ biến nhất hiện nay là Powerpoint 2003 và

Powerpoint 2010

b.Hướng dẫn sử dụng:

Ở đề tài này chúng tôi hướng dẫn tạo BĐTD trên phiên bản Microsoft Office

Powerpoint 2010

Trang 25

 Bước 1: Cài đặt phần mềm

Microsoft Office Powerpoint là phần mềm có sẵn trong hệ điều hành

Windows.Vìvậy người sử dụng không cần phải cài đặt

Màn hình xuất hiện giao diện:

 Bước 3: Tạo nội dung BĐTD

Với Powerpointđể tạo được từ khóa hay hình ảnh chúng ta có thể làm như

sau:

- Sử dụng các hình được vẽ bằng lệnh Autoshape, sau đó nhập từ khóa

Tạo khung hình Autoshape/ chọn một hình mẫu phù hợp với ý tưởng

thiết kế.Sau đó, giữ nút chuột trái, đưa chuột vào slide và vẽ tùy ý

Nhập từ khóa Click chuột phải chọn Edit text hoặc Add text và gõ từ

khóa

- Sử dụng hình ảnh: Insert/ Picture/ chọn Clip Art hoặc From file/ chọn

hình thích hợp

Trang 26

- Để tạo các đường cong: Autoshape/ lines/ Block Arrows hoặc

Autoshape/ Connectors

 Bước 4: Hoàn chỉnh BĐTD

- Thay đổi phông chữ, màu sắc, màu nền của từ khóa:

Chọn Fill color: màu nền

Line color: màu viền, màu đường liên kết

Font color: màu chữ

- Chọn hiệu ứng xuất hiện:

Click chuột vào hình ảnh, từ, đường cần chọn

Click chuột phải/ Custome Animation/ Add Effect

 Bước 5: Xuất bản BĐTD

Các file của Microsoft Office Powerpoint được lưu trữ dưới định dạng ppt

c Kết luận

Bên cạnh những ưu điểm thì Microsoft Office Powerpoint có một số nhược

điểm trong quá trình tạo BĐTD như: tốn nhiều thời gian, công sức; đối với một số bản đồ phức tạp, nhiều phân nhánh thì khó có thể làm chi tiết bởi giao diện màn hình hẹp; dễ nhầm lẫn khi thực hiện các thao tác về hiệu ứng trình diễn

Vì Powerpointkhông phải là phần mềm đặc trưng để tạo BĐTD nên muốn tạo

được một BĐTD tốt, hiệu quả, đẹp, điều đó phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của người thiết kế

Trên đây là haiphần mềm thông dụng và phổ biến nhất trong các phần mềm

tạoBĐTD Ngoài ra còn có một sô phần mềm khác như: Phần mềm Freemind, phần mềm Buzan’s iMindmap, phần mềm Visual Mind…

1.3 Vận dụng BDTD trong dạy học

1.3.1 Vai trò của việc vận dụng BĐTD trong dạy học ở tiểu học

Việc vận dụng BĐTD nhằm hệ thống hóa các kiến thức có những ưu điểm so với phương pháp truyền thống gồm:

- Thứ nhất: BĐTD kích hoạt trí sáng tạo

Trang 27

Bất cứ khi nào chúng ta muốn khuyến khích sự sáng tạo, BĐTD sẽ giúp giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng, cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện Phương pháp ghi lại những ý tưởng theo cách truyền thống cho phép chúng ta chuyển từ ý tưởng này sang ý tưởng theo hàng, theo dãy Kiểu ghi này sẽ hạn chế khả năng của chúng ta trong việc nhận ra được bức tranh, mô hình và mối tương quan giữa những ý tưởng mà chúng ta đang ghi chép Khi vẽ bản đồ chúng ta không những có thể ghi ý tưởng bằng từ ngữ mà còn có thể ghi lại bằng kí hiệu, biểu tượng Như thế có nghĩa là cả hai kiểu xử lí đều đã được đem ra ứng dụng

BĐTD không những sử dụng chữ và số mà nó còn sử dụng cả màu sắc và hình ảnh; nhờ vậy nó kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và phải Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não Điều này giải thích vì sao bạn có thể phát huy toàn bộ khả năng tư duy của mình khi sử dụng BĐTD Mỗi bán cầu não đều đồng thời nhận sự hỗ trợ và củng cố của nửa kia nhằm đem đến một khả năng sáng tạo vô biên Nếu chúng ta kích thích nó bằng những công cụ tư duy và học tập phù hợp chắc chắn sẽ đem lại những giải pháp tuyệt vời cho bất kì vấn đề nào, đó là chìa khóa dẫn tới thành công

- Thứ hai: Nhìn thấy bức tranh tổng thể

Ưu điểm của BĐTD là giúp học sinh nhìn vấn đề toàn thể hơn, theo một cách

nói khác thì BĐTD là tư duy hệ thống nhìn thấy cả “rừng”, tức là không chỉ nhìn thấy

cây mà còn thấy cả rừng Mỗi BĐTD đều bắt đầu từ hình ảnh hay từ khóa nằm ở vị trí trung tâm và bao quanh là các nhánh rẽ thể hiện mối quan hệ với vấn đề chính Vì thế khi nhìn vào BĐTD học sinh nhanh chóng biết đâu là trọng tâm, những ý nào giải thích cho ý trọng tâm đó Từ đó, cho phép học sinh có được cái nhìn tổng quan về vấn đề đangtrình bày Ý trọng tâm nằm ở vị trí này sẽ tạo thuận lợi trong việc liên kết với những ý phân cấp khác giúp học sinh dễ dàng triển khai một hệ thống hài hòa, đồng thời nó giữ vai trò định hướng để phát triển các ý sau Hình ảnh trung tâm là một công

cụ hiệu quả để tạo hình dáng, cấu trúc giúp tư duy hoạt động theo cơ chế tự nhiên

Trang 28

Xuất phát từ vấn đề trung tâm đó, học sinh sẽ biết được mức độ quan trọng của những nhánh rẽ xung quanh Các nhánh rẽ này lại được phân thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Cứ như thế sự phân nhánh được tiếp tục, các kiến thức hay hình ảnh luôn được nối kết với 18 nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng một cách đầy đủ và rõ ràng Với một BĐTD, học sinh luôn nhìn thấy bao quát các vấn đề, định hướng được các mục đích, yêu cầu cần làm rõ, tìm hiều vấn đề một cách kĩ càng ở mọi khía cạnh, giúp trí não nhanh chóng huy động nguồn kiến thức liên quan Nó giúp học sinh học tập một cách có hệ thống và khoa học, có cái nhìn tổng thể nắm rõ từng chi tiết học, biết được tiến độ thực hiện và kiểm tra kết quả đã đạt được

BĐTD với việc sử dụng thích hợp các hình ảnh và màu sắc nên rất trực quan, không chỉ cho thấy thông tin mà còn nhìn thấy bức tranh tổng thể của vấn đề Nhìn vào BĐTD các khái niệm được lập tức tiếp nhận bằng thị giác, giúp người xem, người học có cái nhìn tổng quát về vấn đề đang được nói đến Từ đó, người học có thể tiếp tục suy nghĩ để tìm ra cách giải quyết vấn đề đó như thế nào

BĐTD còn giúp ta dự đoán được các tình huống có thể xảy ra và dự kiến những phương án giải quyết tối ưu cho nên kết quả có được sẽ tốt hơn rất nhiều

- Thứ ba: BĐTD hỗ trợ trí nhớ

Trí nhớ được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau Hay nói một cách cụ thể hơn, việc ghi nhớ một thông tin mới chỉ đơn giản là liên kết thông tin đó với một thông tin khác chúng ta đã biết BĐTD đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để

có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Vì vậy, BĐTD hỗ trợ đắc lực cho việc ghi nhớ các kiến thức, đồng thời nhớ lại và vận dụng các kiến thức đã học

Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ não, thì BĐTD cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi nó được sinh ra vào một hệ thống có tổ

Trang 29

chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn

Cách tốt nhất là sử dụng các hình ảnh, bức tranh, kí hiệu, mã số, màu sắc, sự liên tưởng bởi trí nhớ được tạo thành, bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau BĐTD đã kết hợp tất cả những kĩ năng của bộ não để tạo ra một công cụ trí nhớ đa chiều tiên tiến Sử dụng BĐTD sẽ tăng khả năng ghi nhớ lên bội phần, nhớ chi tiết cụ thể trong từng sự kiện, nhớ rõ thông tin, sắp xếp theo từng nhóm có hệ thống Cùng với những hình ảnh nổi bật, bạn có thể ghi nhớ tất cả các ý rất chính xác BĐTD chuyển kiến thức vào hình ảnh để lưu vào bộ não một cách dễ dàng nên việc ghi nhớ bài học sẽ đơn giản hơn

Thông qua việc tạo lập BĐTD sẽ hỗ trợ trí nhớ đồng thời giúp rèn luyện các năng lực tư duy sáng tạo lại nâng cao khả năng nhớ tạo thành một đường xoắn ốc cùng tương trợ nhau đi lên.Đây là một điểm ưu việt của BĐTD nhằm hỗ trợ thiết thực cho việc ghi nhớ, qua đó giúp việc học tập của học sinh trở nên có hiệu quả hơn

- Thứ tư: Tiết kiệm thời gian

Từ trước tới nay với cách ghi chép thông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con số thì chúng ta mới chỉ sử dụng nửa bộ não – não trái, mà chưa hề sử dụng kĩ năng nào bên não phải – nơi giúp chúng ta xử lí các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng Cách ghi chép này khiến chúng ta phải đọc từng từ trong bài như vậy sẽ chiếm một lượng thời gian rất lớn Cách ghi chép của BĐTD không chỉ sử dụng kí tự, con số mà còn sử dụng cả màu sắc, hình ảnh nên đã huy động tối đa khả năng của bộ não Lập BĐTD bằng việc lựa chọn hình ảnh biểu trưng và những từ ngữ quan trọng thể hiện nội dung chính của vấn đề rồi liên kết chúng lại với nhau một cách rõ ràng, hợp lí sẽ giảm lượng thời gian đáng kể Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khối lượng lớn kiến thức có thể được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất

kì một thông tin quan trọng nào Như vậy, chúng ta đã có thể tiết kiệm được 60 – 80% thời gian học một cách hiệu quả

Trang 30

- Thứ năm: Tạo hứng thú học tập

Trong học tập, sự hứng thú có một vai trò quan trọng Nếu không có hứng thú thì cũng chẳng có sự tích cực trí tuệ Hình thành hứng thú học tập rất quan trọng, đó là cơ sở để phát huy tính tích cực của người học Để tạo được hứng thú học tập điều cốt yếu là làm cho nhu cầu nảy sinh, hình thành và phát triển

Một lí do khiến vẽ BĐTD trở thành một phương pháp học dành cho mọi lứa tuổi là vì nó đã làm cho việc học trở nên thú vị hơn và bổ ích hơn Quá trình vẽ, sử dụng hình ảnh, kí hiệu, màu sắc và việc khuyến khích ghi lại những ý tưởng theo cách đặc biệt là một cơ hội để nghỉ ngơi, thư giãn trước việc quá tải thông tin trên giấy hoặc trên màn hình máy tính Hơn nữa, BĐTD còn giúp giáo viên (GV) nhìn thấu được suy nghĩ của học sinh (HS) và có thể biết chúng hiểu như thế nào về bài học BĐTD có tính độc nhất Mỗi một BĐTD là một cách nhìn riêng của mỗi một

bộ não – thế giới nội tâm đa dạng của mỗi người

Vẽ BĐTD là cách tốt nhất để phân loại cảm xúc, suy nghĩ, giảm bớt sự căng thẳng Trong giờ học, nếu GV cứ nói liên tục với giọng đều đều, tẻ nhạt chắc chắn

sẽ tạo không khí nặng nề, kết quả là HS cảm thấy chán, không thích học, không tập trung chú ý nên hiệu quả đạt được cũng không cao Thay vào đó nếu sử dụng BĐTD thì kiến thức được truyền tải bằng hình ảnh, từ khóa, sự liên kết và cả những yếu tố khác như màu sắc, hình dạng, kích thước làm cho những điều quan trọng được nổi bật lên chắc chắn rằng sẽ thu hút sự tập trung của HS Một khi đã tạo được hứng thú học tập thì bộ não cảm thấy hưng phấn, lĩnh hội kiến thức được tốt hơn, phát huy được tính độc lập, sáng tạo và khả năng tư duy

- Thứ sáu: Truyền đạt thông tin

BĐTD có chức năng truyền đạt thông tin rất tốt Nó có thể chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ từ một văn bản viết tay hay một lát cắt của văn bản thành một sơ đồ rất đơn giản nhưng ý nghĩa quan trọng Thông tin trên Bản đồ đòi hỏi phải chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng phải bao hàm nội dung vấn đề, chúng có mối liên kết chặt chẽ, không thể tách rời nhau BĐTD có tác dụng tạo hứng thú cho người đọc không chỉ bởi màu sắc, hình ảnh mà còn giúp phát triển trí sáng tạo

Trang 31

Thông tin được thể hiện theo từng cấp độ thứ bậc và có tính minh họa rất tốt Để hiểu dụng ý trong BĐTD đòi hỏi người đọc phải có tư duy và phải suy nghĩ vấn đề một cách rõ ràng

Thông tin trong BĐTD được trình bày ở dạng thức cô đọng nhất với sự hỗ trợ của hình ảnh, màu sắc Điều này góp phần tạo hứng thú tiếp nhận kích thích trí tưởng tượng và sáng tạo

BĐTD mặc dù rất ngắn gọn nhưng nó chứa đựng một lượng thông tin lớn hơn nhiều so với hình thức của nó Đó là những kiến thức trọng tâm mà thông qua

đó người học có thể tưởng tượng, phát triển thêm rất nhiều

Những tác dụng của BĐTD trong truyền đạt thông tin giúp học sinh tiếp nhận tri thức một cách hứng khởi từ đó hướng tới một phương pháp làm học tập hiệu quả

1.3.2 Ưu, nhược điểm của việc vận dụng BĐTD trong dạy học

- Ưu điểm: Theo Gabriela Melano, chuyên gia dịch vụ tư vấn giải quyết mâu

thuẫn sau khi sử dụng BĐTD đã đưa ra nhận định rằng: “BĐTD là một công cụ vô giá Đó là một công cụ có giá trị đặc biệt đối với những nhóm đến từ những nền văn hóa, ngôn ngữ và trình độ học vấn khác nhau Bằng cách kết hợp từ khóa với hình ảnh, nó đề cập đến sự đa trí tuệ, làm cho những cuộc đối thoại giao thoa văn hóa trở nên dễ dàng hơn”

So với các cách thức ghi chép truyền thống, thì phương pháp BĐTD có những điểm vượt trội như sau:

+ Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

+ Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì

sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính

+ Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác + Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn

+ Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ

+ Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ

Trang 32

+ Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng

và linh hoạt cho việc ghi nhớ

+ Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính

- Nhược điểm:

Bên cạnh những ưu điểm thì BĐTD cũng có một số hạn chế sau:

+ Người sử dụng cần một chút ít khả năng hội họa, tốn nhiều bút màu, giấy vẽ + Khả năng tư duy của mỗi người một khác, do đó muốn hiểu BĐTD đôi lúc

sẽ khó khăn nếu không có những lưu ý, ghi chú kèm theo

+ Làm suy giảm khả năng ngôn ngữ viết và diễn đạt bằng ngôn từ của người thực hiện

+ Với các nhánh bên trái của BĐTD, khác với trình tự thông thường, chúng

ta phải đọc từ phải sang trái nên sẽ khó tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, linh hoạt, dễ dàng

+ Đối với vẽ thủ công, việc bổ sung một số lượng lớn thông tin một phần làm mất thẩm mĩ, một phần tốn thời gian, công sức chỉnh sửa Vẽ tay thường khó lưu trữ

+ Vẽ BĐTD bằng máy đòi hỏi người thực hiện cần có vốn hiểu biết cơ bản

về các phần mềm vẽ BĐTD.Vẽ máy phần nào hạn chế sự sáng tạo

+ Trong giáo dục, BĐTD thường chỉ áp dụng với các môn học thuộc khoa học xã hội và một số ít môn thuộc khoa học tự nhiên, nói chung là các môn học có nhiều phần lý thuyết GV cũng cần có những thủ pháp sư phạm khéo léo, hướng HS tập trung phát biểu, xây dựng theo chủ ý của mình

Trang 33

mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức Nghiên cứu về hoạt động của bộ não con người, người ta chỉ ra rằng bộ não hoạt động gồm hai nhánh:

- Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng sẽ tác động kích thích não trái

- Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy, phân tích cho ra sản phẩm

Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất Trình bày vấn đề theo

sơ đồ, biểu đồ bao giờ cũng gây hứng thú Trong các hình thức ấy, sơ đồ mà Tony Buzan đưa ra được đánh giá cao nhất và đã trở thành công cụ làm việc hiệu quả của hàng triệu người trên thế giới

BĐTD hoạt động trên nguyên tắc sử dụng sức mạnh về khả năng nhớ hình ảnh của não Các nghiên cứu chỉ ra rằng, não trái và não phải của con người có chức năng khác nhau Trong khi não trái phù hợp với các hoạt động lôgic thì não phải lại phù hợp với các hoạt động có tính tưởng tượng như vẽ và âm nhạc

BĐTD sử dụng công cụ hình ảnh, màu sắc, từ khóa, liên kết để thể hiện vấn

đề, làm cho vấn đề trở nên trực quan và có tổ chức Nguyên tắc cơ bản của BĐTD

là sử dụng hình vẽ, màu sắc, thứ tự dạng cây để thể hiện ý tưởng Ở trung tâm hình

vẽ là chủ đề chính, các chủ đề con được phát triển từ chủ đề chính bằng các đường dạng cây, các chủ đề được phát triển theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ bên trái và

mở rộng dần ra Các ý lớn gồm chủ đề trung tâm, các ý nhỏ được phát triển ra từ các ý lớn Các chủ đề được viết dưới dạng từ khóa Khuyến khích sử dụng màu sắc

và hình ảnh để thể hiện ý tưởng

BĐTD có nguyên lí hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng "ý này gợi ý kia" của bộ não Chúng ta có thể tạo ra một BĐTD ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: Từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận Ví dụ như chúng ta muốn lập BĐTD cho một tuần làm việc, hãy vẽ chủ đề trung tâm tuần sau vào giữa trang giấy trắng Từ chủ đề chúng ta vẽ 7 nhánh lớn là thứ 2, thứ 3 cho đến Chủ nhật, mỗi nhánh một màu Rồi từ mỗi thứ chúng ta lại vẽ ra các nhánh nhỏ là các công việc chúng ta định làm trong thứ đó, mỗi công việc lại triển khai ra các ý chi tiết hơn như chúng ta định

Trang 34

làm công việc đó với ai (who), ở đâu (where), bao giờ (when), bằng cách nào (how)

Cứ như vậy chúng ta sẽ có trên cùng một trang giấy các công việc mà mình định làm trong một tuần và cái hay của BĐTD ở chổ là nó giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng, từ đó chúng ta có thể dễ dàng đánh số thứ

tự ưu tiên các công việc trong tuần để sắp xếp và quản lí thời gian một cách hiệu quả và hợp lí hơn so với một quyển sổ liệt kê các công việc thông thường

Mặc dù nguyên tắc cơ bản của BĐTD là sử dụng hình vẽ, màu sắc, thứ tự dạng cây để thể hiện các ý tưởng nhưng chúng ta cần lưu ý:

Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Tuy nhiên chúng ta cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc Chúng ta có thể sử dụng hai đến

ba màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian Nếu chúng ta thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh thì chúng ta nên gạch chéo, đánh dấu cộng (+) hay chấm bi trong đó

Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại cuốn hút

Khi chúng ta sử dụng những từ khóa riêng lẽ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, cách suy nghĩ mới

Nếu trên mỗi nhánh chúng ta viết đầy đủ câu thì vô hình chung chúng ta đã dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não Não của chúng ta sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh Vì vậy, lưu ý trên mỗi nhánh chúng ta chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi Khi đó chúng ta sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại não chúng ta sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của chúng ta

1.3.4 Cách lập BĐTD

BĐTD sẽ giúp chúng ta trong việc phát triển ý tưởng, ghi nhớ lại kiến thức,

từ đó sẽ nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức bằng cách tự ghi lại một bài học, một chủ đề nào đó theo cách hiểu của mình Tuy nhiên, chỉ khi nào các em học sinh

tự mình thiết lập BĐTD và sử dụng nó trong học tập thì mới thấy rõ được hiệu quả

Trang 35

khó có thể diễn tả được bằng lời của BĐTD, qua đó các em sẽ thích học hơn và đặc biệt là cảm nhận được niềm vui của việc học

Trước tiên, chúng ta cho học sinh làm quen với BĐTD

Giáo viên có thể cho học sinh làm quen, đọc hiểu BĐTD bằng cách giới thiệu cho học sinh một số BĐTD cùng với sự dẫn dắt của giáo viên để các em nhận biết Cho học sinh nghiên cứu, quan sát, tìm hiểu một vài BĐTD và tập cho học sinh thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó Khi các em đã thành thạo thì chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kì một học sinh nào cũng thuyết minh được một cách trôi chảy, mạch lạc

Sau khi học sinh đã làm quen với BĐTD thì chúng ta tiến hành cho các em tập vẽ BĐTD

Để dạy học sinh vẽ BĐTD, giáo viên có thể tiến hành theo những cách sau:

- Hoàn thiện các BĐTD do giáo viên đã vẽ sẵn

- Sử dụng các BĐTD thiếu nhánh, thiếu nội dung học sinh dùng bút chì, bút màu vẽ thêm nhánh, điền thêm kiến thức, vẽ thêm hình ảnh liên tưởng

- Cần để học sinh vẽ thật thoải mái, sau đó gắn lại "tác phẩm" của mình và hoàn thiện lại sao cho bố cục vừa gọn vừa đẹp mắt

Và cuối cùng là thực hành vẽ BĐTD trên giấy, vở, bìa, bảng phụ

Để hoàn thành một BĐTD thì chúng ta cần tiến hành qua 4 bước:

 Bước 1:Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa, keyword)

Là tên của một bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác hoặc là một hình ảnh, hình vẽ mà chúng ta cần phát triển

Quy tắc vẽ chọn từ trung tâm:

- Cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác

- Có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc ưa thích

- Không nên đóng khung hoặc che mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật, dễ nhớ

- Có thể bổ sung hình vẽ vào chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

- Chủ đề nên được vẽ to cỡ hai đồng xu "500 đồng"

Trang 36

 Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1(tiêu đề phụ)

Các nhánh cấp 1 thể hiện nội dung chính của chủ đề đó

Quy tắc vẽ tiêu đề phụ:

- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh đơn

- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm

- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

 Bước 3:Vẽ nhánh cấp 2, 3

Bước 3 là quá trình lặp lại bước 2, các cụm từ nghi trên nhánh cấp 1 bao giờ cũng đóng vai trò từ khóa của nhánh đó Các nhánh con cấp 2, 3, của mỗi nhánh cấp 1 chính là các nhánh con của nhánh con trước nó hay nói rõ hơn, là các ý của nội dung của các nhánh con trước đó

 Bước 4: Hoàn thiện BĐTD

BĐTD là một sơ đồ mở, mỗi người có thể vẽ theo mỗi cách khác nhau, màu sắc khác nhau sao cho vừa truyền tải được nội dung kiến thức, vừa phù hợp với năng khiếu thẩm mĩ riêng Vì vậy chúng ta có thể bổ sung, thêm bớt nhánh, tô màu nếu cần thiết

BĐTD chú trọng tới kênh hình, màu sắc và các ví dụ, không đưa ra các phát biểu bằng lời về các tính chất, quy tắc nên khi thiết kế một BĐTD cần lưu ý:

- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh chủ đề Vì một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn

- Luôn sử dụng màu sắc

Trang 37

- Nối các nhánh cấp 1 đến với hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2, bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.Khi chúng ta nối các đường với nhau sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng

- Mỗi từ/ hình ảnh/ ý nên đứng độc lập và được nằm trên một dòng kẻ

- Nên tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc )

- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng thu hut được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

- Bố trí các thông tin đều quanh các hình ảnh trung tâm

1.4 Một số vấn đề về vận dụng BĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4

1.4.1 Khái quát về nội dung, chương trình môn Toán lớp 4

1.4.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán lớp 4

Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh:

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượngthông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

1.4.1 2 Nội dung dạy học môn Toán lớp 4

Bao gồm : 5 tiết / tuần x 35 tuần = 175 tiết

A Số học:

a Số tự nhiên Các phép tính về số tự nhiên:

- Lớp triệu Đọc, viết, so sánh các số đến lớp triệu.Giới thiệu lớp tỉ

- Tính giá trị các biểu thức chứa chữ dạng:

Trang 38

a + b; a – b; a x b; a : b; a + b + c; a x b x c; (a + b) x c

- Tổng kết về số tự nhiên và hệ thập phân

- Phép cộng và phép trừ các số có đến 5, 6 chữ số không nhớ và có nhớ tới 3 lần Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các số tự nhiên

- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích có không quá 6 chữ số Tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các số tự nhiên, tính chất phân phối của phép nhân với phép cộng

- Phép chia các số có nhiều chữ số cho số có không quá 3 chữ số, thương có không quá 4 chữ số

- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9

- Tính giá trị các biểu thức số có đến 4 dấu phép tính Giải các bài tập dạng:

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các phân số

- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên (trường hợp đơn giản, mẫu số của tích có không quá 2 chữ số)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số Giới thiệu nhan một tổng hai phân số với một phân số

- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho số tự nhiên khác 0

- Thực hành tính: tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, phép tính không có nhớ, tử số của kêt quả tính có không quá 2 chữ số; tính nhẩm về nhân phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ

Trang 39

- Tính giá trị các biểu thức có không quá 3 dấu phép tính với các phân số đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính có không quá 2 chữ số)

c Tỉ số

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số

- Giới thiệu về tỉ lệ bản đồ

B Đại lượng và đo đại lượng:

- Bổ sung và hệ thống hoá các đơn vị đo khối lượng Chủ yếu nêu mối quan

hệ giữa ngày và giờ; giờ và phút, giây; thế kỉ và năm; năm và tháng ngày

- Giới thiệu về diện tích và một số đơn vị đo diện tích (dm2, m2, km2) Nêu mối quan hệ giữa m2 và cm2; m2 và km2

- Thực hành đổi đơn vị đo đại lượng (cùng loại), tính toán với các số đo Thực hành đo, tập làm tròn số đo và tập ước lượng các số đo

C Yếu tố hình học:

- Góc nhọn, góc tù, góc bẹt

- Nhận dạng góc trong các hình đã học

- Giới thiệu hai đường thẳng cắt nhau, vuông góc với nhau, song song với nhau

- Giới thiệu về hình bình hành và hình thoi

- Giới thiệu công thức tính diện tích hình bình hành (đáy, chiều cao) hình thoi

- Thực hành vẽ hình bằng thước và êke; cắt, ghép, gấp hình

D Yếu tố thống kê:

Giới thiệu bước đầu về số trung bình cộng

- Lâp bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu

- Giới thiệu biểu đồ Tập nhận xét trên biểu đồ

E Giải bài toán:

- Giải các bài toán có đến 2 hoặc 3 bước tính, có sử dụng phân số

- Giải các bài toán có liên quan đến: tìm hai số biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của chúng; tìm hai số biết tổng và hiệu của chúng; tìm số trung bình cộng; các nội dung hình học đã học

Trang 40

1.4.2.Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4

1.4.2.1.Nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập

Tính tích cực học tập của học sinh tác động bới hai loại kích thích: Kích thích bên trong và kích thích bên ngoài Trong đó, những yếu tố kích thích bên trong đóng vai trò quan trọng Nó bao gồm: nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập

Về hứng thú học tập của học sinh tiểu học, các nhà tâm lí học cho rằng: "Ở tiểu học phần lớn học sinh chưa hứng thú chuyên biệt với từng môn học Việc các

em tiểu học thích môn nào, bài nào là phụ thuộc vào khả năng sư phạm của giáo viên" [8] Các nhà nghiên cứu còn cho thấy: "Động cơ học tập không sẵn có, cũng không thể áp đặt từ ngoài vào mà phải hình thành dần trong quá trình học sinh ngày càng đi sâu vào chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên"[2]

Như vậy, muốn công tác giáo dục đạt kết quả thì việc gây hứng thú, tạo động

cơ cho các em trong từng tiết học, môn học là hết sức cần thiết không thể thiếu được K.Đ.U.Sinki đã nói: "Một sự học mà chẳng có hứng thú gì cả chỉ biết hoạt động bằng sức mạnh cưỡng bức thì giết chết mất lòng ham muốn học tập của cá nhân" Học sinh tiểu học hứng thú, động cơ liên quan chặt chẽ với thành tích học tập Thành tích mang lại niềm vui, sự thỏa mãn Điều đó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập của các em đạt hiệu quả cao hơn

Từ trên cho thấy trong dạy học môn Toán việc tổ chức vận dụng BĐTD cho học sinh một cách phù hợp sẽ góp phần kích thích nhu cầu, hình thành động cơ đúng đắn, hứng thú học tập cho học sinh Tuy nhiên, để làm được điều đó trước hết cần phải dựa vào đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh Có dựa trên cơ sở đó thì mới biết được khả năng nhận thức, mức độ hình thành kĩ năng tương ứng của các

em để giáo viên hướng dẫn, điều khiển các em hình thành kĩ năng tương ứng với năng lực của mình

1.4.2.2.Đặc điểm của quá trình nhận thức:

Để tổ chức dạy học Toán có hiệu quả theo đúng tinh thần dạy học tích cực cần phải xem xét đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh Trên cơ sở đó biết được khả năng nhận thức, mức độ tìm tòi, sáng tạo của học sinh

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adam Khoo (Trần Đăng Khoa dịch), (2010), Tôi tài giỏi, Bạn cũng thế. NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, Bạn cũng thế
Tác giả: Adam Khoo (Trần Đăng Khoa dịch)
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2010
2. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, (1997), Giáo trình giáo dục tiểu học,NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
3. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Phương pháp day học các môn lớp 5,(tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp day học các môn lớp 5,(tập 2)
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy (2009),Sử dụng BĐTD góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, Tạp chí khoa học giáo dục, số chuyên đề thiết bị dạy học năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học giáo dục
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy
Năm: 2009
6. Trần Đình Châu (2009), Sử dụng BĐTD - một số biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán, Tạp chí giáo dục, kì 2, tháng 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Trần Đình Châu
Năm: 2009
8. Tô Xuân Giáp (1998),Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Trương Tinh Hà (2010), Bài giảng Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ từ duy. Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ từ duy
Tác giả: Trương Tinh Hà
Năm: 2010
10. Phạm Minh Hạc(1995), Giáo trình Tâm lý học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
11. Nguyễn Thị Diệu Hiền (2010), lớp: mar4–k3, bài viết “Hãy để bộ não của bạn không bao giờ ngừng tư duy” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy để bộ não của bạn không bao giờ ngừng tư duy
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Hiền
Năm: 2010
12. Đổ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Chung, (1996), Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học
Tác giả: Đổ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Chung
Năm: 1996
13. Bùi Văn Huệ (1999), Tâm lý học Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
14. Ngô Thị Mỹ Huế, (2012), Sử dụng “BĐTD” trong dạy học phân môn lịch sử ở trường tiểu học, Luận văn Thạc sỹ Khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng “BĐTD” trong dạy học phân môn lịch sử ở trường tiểu học
Tác giả: Ngô Thị Mỹ Huế
Năm: 2012
15. Nguyễn Bá Kim (2007), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2007
16. Ngô Đức Thọ, Dương Minh Châu, (2010), Tạp chí giáo dục số 252, Nhà xuất bản giáo dục 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục số 252
Tác giả: Ngô Đức Thọ, Dương Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục 12/2010
Năm: 2010
17. Tony Buzan (2007), How to Mindmap, lập sơ đồ tư duy, NXB LĐ–XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2007), How to Mindmap, lập sơ đồ tư duy
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB LĐ–XH
Năm: 2007
18. Tony Buzan (2007), BĐTD trong công việc, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐTD trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2007
19. Tony Buzan và Barry Buzan (2008), Sơ đồ tư duy, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ đồ tư duy
Tác giả: Tony Buzan và Barry Buzan
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
20. Tony Buzan (2008), Sử dụng trí tuệ của bạn, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng trí tuệ của bạn
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
21. Tony Buzan (2008), BĐTD cho trẻ em, NXB Hồng Đức Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐTD cho trẻ em
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Hồng Đức Hà Nội
Năm: 2008
22. Phạm Lê Trang, (2012), Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5, Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5
Tác giả: Phạm Lê Trang
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh. - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
h ỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh (Trang 18)
Khi đó màn hình xuất hiện giao diện - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
hi đó màn hình xuất hiện giao diện (Trang 20)
Cách 2: Hoặc click lên biểu tượng ngoài màn hình. - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
ch 2: Hoặc click lên biểu tượng ngoài màn hình (Trang 20)
- Để chèn hình ảnh vào BĐTD → click chuột phải →Format Topic/ Imagine/ From Library hoặc From file/ chọn ảnh thích hợp - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
ch èn hình ảnh vào BĐTD → click chuột phải →Format Topic/ Imagine/ From Library hoặc From file/ chọn ảnh thích hợp (Trang 22)
Với Powerpointđể tạo được từ khóa hay hình ảnh chúng ta có thể làm như sau:  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
i Powerpointđể tạo được từ khóa hay hình ảnh chúng ta có thể làm như sau: (Trang 25)
c. Tình hình đội ngũ CB – GV – NV và chất lượng đội ngũ: - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
c. Tình hình đội ngũ CB – GV – NV và chất lượng đội ngũ: (Trang 50)
Bảng 2.1. Các mức độ nhận thức của giáoviên về vai trò của BĐTD trong quá trình dạy học môn Toán lớp 4 - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 2.1. Các mức độ nhận thức của giáoviên về vai trò của BĐTD trong quá trình dạy học môn Toán lớp 4 (Trang 60)
Từ Bảng 2.2 cho thấy: nhìn chung giáoviên nắm được mục đích của việc vận dụng BĐTD vào trong quá trình dạy học Toán - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 2.2 cho thấy: nhìn chung giáoviên nắm được mục đích của việc vận dụng BĐTD vào trong quá trình dạy học Toán (Trang 61)
Bảng 2.3. Đánh giá ưu điểm của việc vận dụngBĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 2.3. Đánh giá ưu điểm của việc vận dụngBĐTD trong dạy học môn Toán lớp 4 (Trang 63)
góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần). - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
g óp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần) (Trang 73)
Diện tích hình bình hành Dạy học hình thành kiến thức mới 104 - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
i ện tích hình bình hành Dạy học hình thành kiến thức mới 104 (Trang 74)
Sử dụngBĐTD để dạy học hình thành kiến thức mới bài: Diện tích hình bình hành  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
d ụngBĐTD để dạy học hình thành kiến thức mới bài: Diện tích hình bình hành (Trang 75)
3.2.1.2. Sử dụngBĐTD trong dạy học hình thành kiến thức với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin:  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
3.2.1.2. Sử dụngBĐTD trong dạy học hình thành kiến thức với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin: (Trang 76)
+ Giáoviên đưa ra một hình chữ nhật có chiều dài là a, chiều rộng là h và hỏi học  sinh tính diện tích hình chữ nhật   - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
i áoviên đưa ra một hình chữ nhật có chiều dài là a, chiều rộng là h và hỏi học sinh tính diện tích hình chữ nhật (Trang 86)
- Gọi HS đọc tên hình chữ nhật. - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
i HS đọc tên hình chữ nhật (Trang 87)
-GV chỉ hình bình hành và nói: nhìn vào hình vẽ ta thấy a chính là độ dài đáy, h là  chiều cao và S = a*h chính là công thức  tính diện tích hình bình hành - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
ch ỉ hình bình hành và nói: nhìn vào hình vẽ ta thấy a chính là độ dài đáy, h là chiều cao và S = a*h chính là công thức tính diện tích hình bình hành (Trang 88)
Từ bảng 3.1 cho thấy kết quả ở các lớpthực nghiệm cao hơn kết quả ở các lớp đối chứng, chứng tỏ rằng TN sư phạm đã có kết quả rõ ràng - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
b ảng 3.1 cho thấy kết quả ở các lớpthực nghiệm cao hơn kết quả ở các lớp đối chứng, chứng tỏ rằng TN sư phạm đã có kết quả rõ ràng (Trang 89)
Bảng 3.1: Kết quả bài thựcnghiệm 1 Tên  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 3.1 Kết quả bài thựcnghiệm 1 Tên (Trang 89)
Bảng 3.2: Bảng phân phối mức độ kết quả bài thựcnghiệm 1 - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 3.2 Bảng phân phối mức độ kết quả bài thựcnghiệm 1 (Trang 90)
Nhìn vào bảng phân phối mức độ kết quả TN của bảng 3.2, chúng tôi thấy ở các  lớp  TN  không  có  HS  kém,  tỉ  lệ  HS  đạt  trung  bình  cũng  được  hạn  chế  chiếm  13,70% còn số học sinh đạt kết quả khá, giỏi chiếm tỉ lệ tương đối cao 86,3% - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
h ìn vào bảng phân phối mức độ kết quả TN của bảng 3.2, chúng tôi thấy ở các lớp TN không có HS kém, tỉ lệ HS đạt trung bình cũng được hạn chế chiếm 13,70% còn số học sinh đạt kết quả khá, giỏi chiếm tỉ lệ tương đối cao 86,3% (Trang 90)
Bảng 3.4: Bảng phân phối mức độ kết quả bài thựcnghiệ m2 - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
Bảng 3.4 Bảng phân phối mức độ kết quả bài thựcnghiệ m2 (Trang 93)
Tra bảng T-Student với bậc tự do df = n1+n2 -2 = 144 với α= 0,05 ta có: tα =  1,98  - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
ra bảng T-Student với bậc tự do df = n1+n2 -2 = 144 với α= 0,05 ta có: tα = 1,98 (Trang 93)
HÌNH ẢNH THIẾT KẾ BĐTD - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
HÌNH ẢNH THIẾT KẾ BĐTD (Trang 102)
HÌNH ẢNH THIẾT KẾ BĐTD - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
HÌNH ẢNH THIẾT KẾ BĐTD (Trang 102)
Bản đồ tư duy bài: BẢNG ĐƠN VỊ ĐO KHỐI LƯỢNG - Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn toán lớp 4
n đồ tư duy bài: BẢNG ĐƠN VỊ ĐO KHỐI LƯỢNG (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w