So với các trường THPT chuyên, các trường THPT không chuyên có những khó khăn riêng trong việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, nhất là trong bối cảnh các môn khoa học xã hội nó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG THU TRANG
PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHÔNG CHUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG THU TRANG
PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHÔNG CHUYÊN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN - 2016
Trang 3BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Mục tiêu giáo dục THPT 7
1.1.2 Tính đặc thù của văn học 9
1.1.3 Khả năng tiếp cận các kỹ năng văn học ở học sinh THPT 10
1.1.4 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở THPT 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Vị trí môn Ngữ văn trong chương trình THPT 15
1.2.2 Thực trạng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn ở trường THPT không chuyên hiện nay 18
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT KHÔNG CHUYÊN 21
2.1 Phương pháp phát hiện học sinh giỏi Ngữ văn 21
2.1.1 Nhận biết tố chất, năng lực ở học sinh qua những dấu hiệu bên ngoài 21
2.1.2 Thử nghiệm, đánh giá năng lực văn chương của học sinh 23
2.2 Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 26
2.2.1 Phát triển đam mê, hứng thú văn chương của học sinh 26
2.2.2 Nâng cao khả năng tiếp nhận, trải nghiệm và vốn sống cho học sinh 28
Trang 52.2.3 Trang bị kỹ năng học Ngữ văn ở học sinh THPT 30
2.2.4 Rèn kỹ năng phân tích văn học cho học sinh 32
2.2.5 Hình thành phương pháp đọc hiểu văn bản văn học và năng lực tư duy khái quát cho học sinh 34
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40
3.1 Mục đích, yêu cầu của hoạt động thực nghiệm 40
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 40
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 40
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 40
3.2.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 40
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 41
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 42
3.3.1 Giáo án TN 1: Hình thành cách tiếp nhận kiến thức cho HS 42
3.3.2 Giáo án TN 2: Hình thành phương pháp đọc hiểu văn bản văn học 50
3.3.3 Giáo án TN 3: Trang bị kỹ năng làm văn nghị luận xã hội 66
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 78
3.4.1 Nội dung thực nghiệm 78
3.4.2 Hình thức đánh giá kết quả thực nghiệm 78
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 78
3.4.4 Đánh giá chung 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động dạy học ở trường THPT Và môn Ngữ văn cũng không là ngoại lệ Nhưng do đặc thù của môn học nên việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn vừa thú vị vừa khó khăn trong nhận thức lẫn thực tiễn Vậy làm thế nào để phát hiện sớm, chính xác học sinh có năng khiếu văn chương? Cần bồi dưỡng học sinh giỏi Văn theo những nguyên tắc
và phương pháp nào? Để giải quyết những vấn đế đó, không chỉ dựa kinh nghiệm thực tiễn của giáo viên mà cần phải xây dựng được những nguyên tắc, phương pháp mang tính lý luận
1.2 So với các trường THPT chuyên, các trường THPT không chuyên có những khó khăn riêng trong việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, nhất là trong bối cảnh các môn khoa học xã hội nói chung, môn Ngữ văn nói riêng đang mất dần vị thế trong nhà trường phổ thông như hiện nay Trong thực tế, niềm hứng thú văn chương của học sinh cũng như đam mê nghề nghiệp của giáo viên Ngữ văn có xu hướng giảm dần.Trong bối cảnh đó, việc phát hiện đúng và bồi dưỡng hiệu quả sẽ góp phần khởi động lại hứng thú cho người học và người dạy.Vì vậy, vấn đề không chỉ có ý nghĩa mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn
1.3 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Văn là công việc thường xuyên của giáo viên và tổ bộ môn ở các trường THPT Tuy nhiên, cho đến nay, việc này được thực hiện chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của giáo viên.Trong khi đó, những nghiên cứu về khoa học Giáo dục chưa có nhiều thành tựu.Thực tế đó đòi hỏi phải có một cái nhìn hệ thống toàn diện, sâu sắc từ nhiều góc độ.Từ
đó, hình thành các nguyên tắc, phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Văn một cách khoa học, có tính khả thi.Xuất phát từ những nhận thức nói
Trang 7trên, chúng tôi chọn đề tài Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ
văn ở trường THPT không chuyên, làm luận văn Thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, việc phát hiện và bồi dưỡng HSG đã có từ rất lâu.Theo
Đỗ Ngọc Thống, ở Mỹ, vấn đề giáo dục HSG và tài năng được chú ý từ thế kỉ XIX Hình thức giáo dục linh hoạt được thực hiện tại các trường như cho phép những HSG học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm.Kể từ đó, HSG
đã trở thành vấn đề được quan tâm của ngành giáo dục ở Mỹ với hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng HSG ra đời.Đến năm
2002, ở 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục HSG.Theo đó, việc bồi dưỡng HSG được đáp ứng đầy đủ và thuận lợi.Ở Anh, chính phủ đã cho thành lập một Viện hàn lâm quốc gia dành cho HSG và tài năng trẻ và Hiệp hội quốc gia dành cho HSG.Còn ở New Zealand, chính quyền đã phê chuẩn kế hoạch phát triền chiến lược HSG từ năm 2001.Ở Hàn Quốc, giáo dục phổ thông có một chương trình đặc biệt dành cho HSG, nhằm giúp chính quyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm.Năm 1994 có khoảng 57/174 cơ sở giáo dục
ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đăc biệt dành cho HSG.Ở Trung Quốc, từ năm 1985 đã có chương trình đặc biệt dành cho HSG,trong đó, cho phép các HSG có thể học vượt lớp
Có thể thấy, hầu hết các nước có nền giáo dục phát triển đều coi trọng vấn đề bồi dưỡng HSG trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông Nhiều nước ghi riêng thành một mục dành cho HSG, một số nước coi
đó là một dạng của giáo dục đặc biệt hoặc chương trình đặc biệt
Ở Việt Nam, “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” là mục tiêu quan trọng mà ngành giáo dục hướng tới Từ đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương về công tác bồi dưỡng HSG Chúng ta đã tập trung bồi dưỡng HSG trong mục tiêu chung là nâng cao mặt bằng dân trí và
Trang 8cung cấp nhân lực chất lượng cao cho xã hội Theo đó, xây dựng hệ thống các trường chuyên hoàn thiện hơn, mở lớp chuyên ở trường THPT không chuyên Bên cạnh đó Bộ Giáo dục và Đào tạokhuyến khích và tạo điều kiện cho những HS có năng khiếu không nằm trong hệ thống trường chuyên được học chương trình nâng cao phù hợp với năng lực và nguyện vọng của các em Những năm gần đây, những HS đạt giải Nhất, Nhì, Ba được tuyển thẳng vào Đại học theo nguyện vọng…Điều này mang lại hiệu ứng tích cực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên và kích thích tinh thần say mê học tập của HS Chất lượng học sinh giỏi, nhờ đó được nâng cao
Song song với hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường THPT là hội thảo, đúc kết kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát hiện bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có môn văn Nhiều sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên đã ra đời, trong đó đáng chú ý là Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi” của Đỗ Tuấn Long ở trường Cao Thịnh, Thanh Hóa Tác giả đã thể hiện nhiều tâm huyết trăn trở nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Bước đầu, tác giả đã đưa ra được những cơ sở lý luận đáng tin cậy, có tính khả thi Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề xuất một số phương pháp dạy bồi dưỡng theo kiểu gợi mở, định hướng qua việc cung cấp tài liệu co học sinh chủ động trong học tập Trên bình diện nghiên cứu, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào bàn về phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên Tuy nhiên, đó đây trong các công trình nghiên cứu về dạy học văn; những bài báo nhỏ lẻ những cuốn hướng dẫn dạy học văn, hay những tài liệu tham khảo bồi dưỡng học sinh giỏi
môn văn cũng đã có một số ý kiến đáng quan tâm Trong cuốn Văn - Bồi dưỡng học sinh giỏi THPT của Nguyễn Đăng Mạnh - Đỗ Ngọc Thống, đã đưa
ra những vấn đề, những quan điểm mang tính gợi mở Chẳng hạn, trả lời câu
Trang 9hỏi thế nào là học sinh giỏi văn? tác giả viết: “Học sinh giỏi phải có khả năng
và phương pháp tự học, tự cảm thụ, tự phân tích, lý giải và đánh giá các hiện tượng văn học, bằng những cảm nhận và ý kiến của riêng mình.” [37,12] Theo các tác giả ,“Năng khiếu văn chương là một khả năng thiên phú, không thể cố gắng mà có; nhà trường phổ thông không thể mở lớp dạy cho HS biết viết văn, làm thơ (biết sáng tác văn học nghệ thuật) mà chỉ có thể góp phần phát hiện, bồi dưỡng vốn văn hóa, tạo điều kiện cho năng khiếu văn chương phát triển.”[37,14].Từ quan niệm đó, các tác giả cho rằng: “Việc chú ý cung cấp và hình thành tri thức, kỹ năng viết bài nghị luận, phê bình văn học một cách sâu sắc và toàn diện hơn đối với HSG văn THPT là nhằm giúp các em chuẩn bị những hành trang cần thiết để học ở bậc cao hơn.”[37,15] Đó là mục tiêu của dạy học phân hóa và góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước Bàn về thiên hướng nghề nghiệp và cách thức bồi dưỡng học sinh giỏi văn, các tác giả viết: “Những HS giỏi văn THPT là những HS có thiên hướng đi vào các ngành khoa học xã hội, ngành văn Vì thế yêu cầu làm văn đối với những HS này có khác so với HS THPT ở ban khoa học tự nhiên và các HS THPT bình thường khác Các HS bình thường chỉ cần viết đúng quy cách một số loại văn bản, trong đó có văn nghị luận Ngay với văn nghị luận, cũng không cần thiết phải viết nhiều bài về nghị luận văn học mà đôi khi văn nghị luận chính trị, xã hội và các loại văn bản khác như thuyết minh, tự sự, miêu tả biểu cảm và các loại văn bản hành chính công vụ lại cần thiết hơn nhiều cho những HS này sau khi ra đời HS giỏi môn văn có xu hướng đi vào ngành văn và các ngành khoa học xã hội thì khác NGoài những yêu cầu cần đạt như các HS bình thường đã nêu ở trên, những HS này cần được giới thiệu, luyện tập và đi sâu vào loại nghị luận, phê bình văn học Việc chú ý cung cấp và hình thành tri thức, kỹ năng viết bài nghị luận, phê bình văn học một cách sâu sắc và toàn diện hơn đối với HSG văn THPT là nhằm giúp các em chuẩn bị những hành trang cần thiết để học ở bậc cao hơn.Đó cũng chính là mục tiêu của dạy học
Trang 10phân hóa và góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước”[37,23].Có thể nóiđây là những kiến mang tính gợi mở, định hướng cho việc phát hiện bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn Tuy nhiên, do mụcđích của cuốn sách là có thiên hướng bàn về cách thức, thao tác thực hành, nên ý nghĩa lý luận, tính khái quát không có nhiều
Điểm lại một số vấn đề trên đây để thấy, cho đễn nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở trường THPT không chuyên Chúng tôi xem những ý kiến trên đây
là những gợi mở để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định nguyên tắc, phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, xác lập cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
Thứ hai, đề xuất nguyên tắc, nội dung, phương pháp phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
Thứ ba, thực nghiệm khoa học, từ đó có những đánh giá bước đầu về
tính khả thi và hiệu quả của các nguyên tắc, phương pháp đã đề xuất
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những nguyên tắc, nội dung, phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
5.1 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương 1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Những nguyên tắc và phương pháp phát hiện, bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
Chương 3.Thực nghiệm giáo dục và đánh giá bước đầu
Cuối cùng là bảng Phụ lục kết quả khảo sát điều tra
Trang 12tự lập của người lao động năng động sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu đào tạo, nhu cầu cuộc sống của bản thân và gia đình, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được UNESCOxácđịnh, là:"Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" Đó là 4 trụ cột của Giáo dục thế kỷ XXI mà bất kỳ chương trình đào tạo nguồn nhân lực
Trang 13nào cũng hướng đến Trong đó nhân tố giao tiếp, hợp tác quản lý làm việc và khả năng học tập suốt đời là các mục tiêu nhân văn cơ bản bên cạnh những mục tiêu giáo dục truyền thống Ở nước ta, mục tiêu giáo dục phổ thông đã
được xác định rõ trong Luật giáo dục (2005) Điều 27Luật Giáo dục đã chỉ rõ
"Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc" Điều 28, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông: phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học Giáo dục trung học phổ thông phải củng
cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông, ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh Trong đó nhấn mạnh đến phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, đồng thời rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Từ cách hiểu trên, có thể thấy, mục tiêu của giáo dục ở bậc THPT là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trong những phẩm chất, năng lực có khả năng hình thành, phát triển ở học sinh THPT, có năng lực văn chương Nó được thể hiện trên nhiều phương
Trang 14diện gắn với ở thích, quan điểm, thái độ sống, cách ứng xử, đặc biệt là sự nhạy cảm của các em trước những vấn đề của hiện thực đời sống Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, năng lực văn chương cho các em, vì vậy là yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục đã được luật định
Truyện Kiều thành một kiệt tác văn chương, Nguyễn Du không chỉ có "những điều trông thấy" mà còn phải có cả trái tim thổn thức "đau đớn lòng" trước
hiện thực xã hội, mà nổi bật bật là thân phận của những người phụ nữ tài sắcbị dập vùi, chàđạp Tầm vóc, ý nghĩa của một tác phẩm văn chương phụ
Trang 15thuộc nhiều vào tư tưởng, tình cảm, vốn sống, vốn văn hóa, đặc biệt là tài năng cá tính của nhà văn Tác phẩm văn ọc ra đời như một sinh mệnh, có số phận, cuộc đời riêng, tồn tại khách quan trong đời sống văn học Tiếp nhận văn học, trong đó cóhoạt động, dạy học văn ở nhà trường được xem là khâu hoàn tất cuối cùng của tác phẩm văn học Theo đó, không có tiếp nhận văn học, sáng tác của nhà văn chỉ tồn tại dưới dạng một văn bản văn học Nó chỉ thực sự trở thành tác phẩm khi có sự tham gia của ngườiđọc Từ góc nhìnấy,
có thể thấy, hoạt động dạy học văn ở nhà trường phổ thông là một công đoạn trong quá trình hoàn thiện tác phẩm văn học
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ Không có ngôn từ không thể có văn học Lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật, văn học có những ưu thế riêng trong việc nhận thức và tái hiện hiện thực đời sống Trong
đó nổi bật nhất là khả năng diễn tả những cái tinh tế, mong manh, hưảo trong đời sống tinh thần của con người, làm thảo mãn nhu cầu nhận thức và thẩm
mỹ của ngườiđọc Việc tiếp nhận một hình tượng văn học, do đó có những nguyên tắc, cách thức riêng so với tiếp nhận các loại hình tượng khác Để đọc hiểu một văn bản văn học, người đọc không chỉ có vốn sống, vốn văn hóa mà còn phải có một tâm hồn nhạy cảm, một trí tưởng tượng phong phú Chỉ có như vậy, người tiếp nhận mới có thể trở thành người đồng sáng tạo với nhà văn Đây là điều cần được chú ý trong dạy học văn ở nhà trường phổ thông, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn
1.1.3 Khả năng tiếp cận các kỹ năng văn học ở học sinh THPT
- Khả năng sáng tạo
Sáng tạo, theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học, Nxb Đà Nẵng,
2014) là tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần; có cách giảiquyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Theo đó, khả năng sáng tạo của học sinh được hiểu là khả năng suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng
Trang 16mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống Từ đó, đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực và phù hợp Quá trình này các em bộc lộ nhu cầu khám phá Đây cũng là cơ sở giúp học sinh xác định được các tình huống và những ý tưởng mà các nhà văn gửi gắm vào trong các sáng tác văn học Và trong quá trình tìm hiểu tác phẩm, học sinh biết cách xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, đưa ra được những suy nghĩ, cảm xúc riêng trước một vẻ đẹp, một giá trị của đời sống Chính khả năng sáng tạo giúp các em thể hiện sự say mê và khao khát được tìm hiểu tác phẩm cũng như các vấn đề xã hội nhưng có được góc nhìn riêng, không theo lối mòn Từ
đó, học sinh với tư cách là người đọc văn bản, sẽ trở thành người đồng sáng tạo tác phẩm Nhiều giá trị của văn học được khám, tái tạo qua những rung động thẩm mỹ của các em
- Khả năng giao tiếp tiếng Việt
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất nên được sử dụng một cách phổ biến Quá trình này thể hiện rõ nét điểm mạnh của một số học sinh
về sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết đó vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích Trong môn học Ngữ văn, năng lực giao tiếp ngôn ngữ thể hiện thế mạnh mang tính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh thể hiện được sự hiểu biết nhất định về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong nhiều tình huống cụ thể Chính quá trình giao tiếp (phát biểu, phát vấn, làm bài…) học sinh thể hiện được khả năng giao tiếp tiếng Việt Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo điều kiện để học sinh được giao tiếp cùng tác giả, được hiểu rõ bối cảnh thời đại, văn hóa vùng miền…và thể hiện qua việc chia sẻ trong quá trình tìm hiểu văn bản Đây cũng chính là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn Theo đó, dạy học Ngữ văn là
Trang 17dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống Khả năng giao tiếp tiếng Việt của học sinh thể hiện qua các kỹ năng cơ bản như: nghe, nói, đọc, viết Dựa vào đó giáo viên có thể nhận diện được tố chất của một học sinh có năng lực về văn chương
- Khả năng thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ
Cảm thụ thẩm mỹ thể hiện khả năng của học sinh trong việc nhận ra các giá trị thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống…thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện Từ đó, các em hướng suy nghĩ, hành động theo cái đúng và cái tốt Đây là dấu hiệu thể hiện năng lực, trí tuệ xúc cảm của học sinh – một đặc thù của môn học Ngữ văn Khả năng này giúp học sinh tự nhận thức để đánh giá và và điều tiết cảm xúc của chính mình và của người khác Các em cũng sẽ thể hiện qua việc gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Từ việc tiếp xúc với tác phẩm văn chương mà người học có cơ hội bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính tâm hồn của mình,cảm, hiểu được những giá trị của bản thân từ những nhận thức, những rung động thẩm
mỹ trong quá trình tiếp nhận văn học Từ đó, hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mỹ của cá nhân,biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống Qua đó, các em có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mỹ cho chính mình qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương Năng lực này được học sinh thể hiện rõ qua việc cảm nhận những giá trị về tư tưởng cảm hứng nghệ thuật của nhà văn khi phát biểu, thuyết trình và khi làm bài viết Quan trọng hơn, các em biết rung động thực sự trước cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội Biết sống với đam mê
và có những hoài bão phù hợp với thời đại và cộng đồng
Trang 18Từ những phân tích, trình bày trên đây, có thể thấy, ở độ tuổi học sinh THPT, bộc lộ và hoàn thiện dần nhiều phẩm chất, năng lực, trong đó có năng lực sáng tạo và cảm thụ văn chương Đó là cơ sở khoa học cho việc phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu năng lực văn chương cho các em, một bước chuẩn bị
tích cực để các em nhận biết và lựa chọn con đường phát triển trong tương lai
1.1.4 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở THPT
Như chúng ta đã biết, tính chất nhân bản của giáo dục môn Ngữ văn tại nhiều nước trên thế giới thể hiện ở người học văn là người đọc, người viết, người suy nghĩ tự do và sáng tạo Triết lý này dẫn đến những cách tiếp cận đặc trưng đối với quá trình dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT
Thứ nhất, điều này thể hiện ở lý thuyết về phản ứng của người đọc
(Reader response theory) ra đời ở Canada, cho rằng phản ứng đối với văn chương của học sinh không chỉ là phản hồi đối với một loại văn bản cụ thể mà
là hành động thâm nhập một cách tự giác và sâu sắc của người đọc vào các văn bản đọc Vì vậy, không ai có thể đưa ra một phản ứng được xác định trước cho học sinh
Thứ hai, là tập trung vào việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ, tư duy phê
phán, khả năng giải quyết vấn đề và tinh thần hợp tác qua học Văn Chẳng hạn, ngay từ cấp Tiểu học, giáo viên Singapore đã tạo điều kiện cho học sinh làm việc nhóm với một số công cụ như tranh ảnh và sơ đồ để so sánh nôi dung hai bản khác nhau của truyện cổ tích…Kỹ năng này tiếp tục phát huy và nâng cấp khi các em lên bậc trung học
Thứ ba, là quan điểm khuyến khích người học đưa ra những nhận định
phê bình của cá nhân về văn bản Qua đó, học sinh có thể đưa ra những cách giải quyết vấn đề bằng những phương pháp không thông thường hoặc không logic Tại Hoa Kỳ, giáo viên được đòi hỏi phải biết sử dụng các công cụ hoặc
Trang 19kỹ thuật dạy học nhằm thúc đẩy học sinh mong muốn tự mình nắm vững tài liệu đọc
Hơn nữa, giáo viên phải tạo điều kiện cho người học đưa ra những chứng
cớ, lý lẽ để thiết lập các tiến trình lập luận phê bình, giải quyết một cách táo bạo những vấn đề đặt ra từ văn bản hoặc về lý thuyết văn học Để thực hiện được triết lý người học văn là người đọc, người biết, là người suy nghĩ tự do
và sáng tạo, cần hai điều kiện cơ bản:
- Nội dung học tập không bị giới hạn vào sách giáo khoa, các tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình; đồng thời phổ biến những nguồn tư liệu gồm nhiều loại văn bản khác nhau, có thể phục vụ nhiều đối tượng khác nhau Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, nhiều loại tài liệu dạy học ngữ văn đã được đưa lên mạng
Điều kiện ấy còn là việc tích hợp văn xuyên chương trình Giáo viên đứng lớp và các chuyên viên thư viện nhà trường được yêu cầu phải tìm ra những mối liên kết tốt nhất giữa nội dung chương trình với các nguồn tài liệu khác trong và ngoài phạm vi nhà trường Nói cách khác, hợp tác giữa nhà trường với các thư viện địa phương được xem là phương thức quan trọng nhằm mở rộng viêc đọc cho học sinh và đáp ứng nhu cầu đọc của thế hệ trẻ cũng như phát triển thói quen đọc sách cho họ
- Đa dạng hóa hoạt động học Văn Bên cạnh những hoạt động học tập truyền thống là nghe giảng, trả lời câu hỏi của giáo viên, nhiều kiểu loại hoạt động học tập khác đã xuất hiện trong quá trình giảng dạy học Văn ở nhiều nước trên thế giới: dựng nghệ thuật kịch để phát triển khả năng nói và viết cho học sinh; các loại hình múa rối, làm báo, hát, vẽ, điêu khắc, nghiên cứu tiểu thuyết, nghiên cứu tác giả, sử dụng công nghệ thông tin để hình ảnh hóa nội dung học văn, làm poster, viết nhật ký, học văn qua trao đổi thư từ và thư điện tử, tham quan thực tế và viết báo cáo… sẽ giúp mang đến cho học sinh
Trang 20nhiều điều thú vị trong học văn hơn Từ đó, kích thích, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trong suốt một thời gian dài, chúng ta bị ràng buộc bởi một quan niệm giáo dục lỗi thời Theo đó, vai trò người thầy gần như là tối thượng trong dạy học, trong đó có dạy học văn Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay dựa trên một triết lý giáo dục hoàn chỉnh để hình thành một triết lý dạy Văn thích ứng Trong lịch sử giáo dục của thế giới, từng
có thời đại muốn đào tạo những con người khổng lồ, bách khoa, từng có thời muốn đào tạo những người quân tử, những kẻ trượng phu Nếu nền giáo dục Việt Nam hôm nay muốn đào tạo những con người Việt Nam sáng tạo ở mọi lĩnh vực thì chúng ta phải có một triết lý dạy Văn đúng như bản chất sáng tạo của loại hình này
Tiềm năng sáng tạo của học sinh được nuôi dưỡng, được kích thích, được tạo điều kiện phát triển và thử thách từ nhỏ đến lớn như một hệ thống sẽ
đẻ ra những con người sáng tạo Đừng nghĩ tính thẩm mỹ và chất sáng tạo của văn học chỉ kích thích, nuôi dưỡng sự sáng tạo trong phạm vi nghệ thuật Hơn
ai hết, những nhà khoa học lớn luôn luôn khẳng định “nghệ thuật và khoa học
là đôi cánh của nhân loại”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vị trí môn Ngữ văn trong chương trình THPT
Trong nhà trường phổ thông nước ta hiện nay, môn Ngữ văn là môn học bắt buộc, thuộc nhóm công cụ Từ những năm trước cách mạng tháng Tám, trong chương trình trung học của nhà trường thực dân Pháp, môn văn đã có mặt với tư cách là môn học chính thức với tên gọi Việt văn, hay là quốc văn, như cách gọi của Dương Quảng Hàm Cách gọi này là nhằm phân biệt với môn văn học Pháp Từ sau cách mạng tháng Tám, vị trí của môn văn học trong nhà
Trang 21trường ngày càng được khẳng định Năm 1948, tại Hội nghị của Bộ quốc gia giáo dục ở Việt Bắc, trong chương trình bậc trung học, ban văn học chính thức được thành lập Kể từ đây, môn văn học đã trở thành môn học chính thức bên cạnh các môn học khoa học tự nhiên Năm 1956, trong chương trình trung học, môn văn học chính thức trở thành môn bắt buộc.Nhắc lại những điều này để thấy, cùng với quá trình tiếp nhận và hình thành nền giáo dục kiểu mới, vai trò,
vị trí của môn văn trong chương trình phổ thông đã được ý thức một cách rõ ràng Bởi lẽ, so với nhiều môn học khác, môn văn có những ưu thế riêng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.Ở nước ta, mục tiêu giáo dục phổ thông đã được xác định rõ trong Luật giáo dục (2005) Đó là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Với mục tiêu đó, rõ ràng môn văn trong nhà trường luôn giữ một vị trí quan trọng Khi nhân loại bước vào thiên niên kỷ thứ III với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, quá trình toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc Trong bối cảnh đó, học sinh cần phải được trang
bị một tư duy năng động, sáng tạo, có khả năng liên kết và giải quyết vấn đề, đề xuất các ý tưởng độc đáo, giao tiếp và làm việc trong môi trường rông lớn, đa quốc gia Có thể hiểu, tất cả kiến thức và kỹ năng như đã hình dung trên tạo thành các kỹ năng tư duy của con người trong thế kỷ 21 Đó là các kỹ năng vô cùng cần thiết, đòi hỏi học sinh cần có, và phải có để sau này bước vào môi trường làm việc trong một không gian năng động, toàn cầu Đó chính là phương tiện và vũ khí chiến lược giúp giới trẻ tồn tại và cạnh tranh hiệu quả trong kỷ nguyên thay đổi không ngừng của thế giới Kỹ năng tư duy tốt sẽ là điều kiện tiên quyết giúp học sinh trở thành những công dân tốt Cuộc sống của chúng ta luôn đối mặt với quá nhiều những vấn đề phức tạp, thách thức, những lạc hậu cản trở tiến bộ, những mối hiểm nguy đe dọa cuộc sống Kiến thức thì mênh
Trang 22mông vô hạn như biển cả, sau một chặng đường học tập có thể nhiều kiến thức hay định lý sẽ quên đi, cái còn lại lâu dài ở trong mỗi con người lại là phương pháp: phương pháp tư duy, phương pháp ứng xử, phương pháp giải quyết vấn đề điều đó mới là quan trọng cho cuộc đời và nghề nghiệp của con người trong thời đại ngày nay Như vậy, nếu cụ thể hoá những nội dung đã được luật định thì mục tiêu ở bậc trung phổ phổ thông ở nước ta hiện naylà hình thành và
phát triển được nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới, bao gồm:những kiến thức và kỹ năng cơ bản (đọc, viết, tính toán, những kiến thức
cơ bản của các môn học phổ thông); các kỹ năng tư duy (biết cách suy luận,
phát hiện, giải quyết vấn đề, biết cách học, cách tự học, có tư duy sáng tạo); các
phẩm chất nhân cách và đạo đức (có lòng tự tin, có ý thức và tinh thần trách
nhiệm, trung thực, biết tự quản lý và làm chủ được bản thân, có đời sống nội tâm phong phú và nhân cách cao đẹp) Với cách nhìn đó, môn văn đóng vai trò quan trọng mà không một môn học nào có thể thay thế, nhất là trong việc hình thành nhân cách cho học sinh Không thể có con người phát triển toàn diện mà méo
mó về nhân cách, xơ cứng trong tâm hồn, vô cảm trước cuộc đời Đào tạo ra những con người có phẩm chất, nhân cách không phải là độc quyền của môn văn, song là sứ mệnh và là ưu thế riêng của môn văn Khi học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến các môn học khác Điều đó sẽ giúp các em
có được tiền đề về cách tư duy và biểu đạt suy nghĩ, tình cảm của bản thân trước một vấn đề, trước sự vật hiện tượng trong đời sống Chính môn Ngữ văn mang đến cho học sinh những tri thức cần thiết để các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái chuẩn mực trong cuộc sống Văn học là khoa học nhân văn kết tinh những tinh hoa văn hóa của nhân loại, lưu truyền những giá trị tốt đẹp của con người qua các thời đại Giúp các em nuôi dưỡng tâm hồn, có suy nghĩ đúng đắn, lành mạnh và tạo dựng cuộc sống ý nghĩa Điều này mang lại cho xã hội sự cân đối về giá trị Tránh lối sống thực dụng, vô cảm – nguồn gốc của bạo lực và độc
ác Đó là đích đến của môn ngữ văn ở trường THPT
Trang 231.2.2 Thực trạng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữvăn
ở trường THPT không chuyên hiện nay
Cùng với sự ra đời, phát triển của hệ thống trường chuyên ở các tỉnh thành, trong nhiều thập kỷ qua việc phát hiện bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó
có môn Ngữ văn ở các trường THPT không chuyên không còn được quan tâm
Có chăng cũng chỉ làm theo tính chất thời vụ, gắn với các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành Đây là lối làm thêíu căn cơ, mang tính thực dụng, do sự chi phối
của căn bệnh chạy theo thành tínhảo trong giáo dục nước ta hiện nay
Để có một cái nhìn khách quan về thực trạng phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏiở các trường THPT không chuyên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát quan điểm của giáo viên ở các trường THPT ở Thành phồ Hồ Chí Minh như: trường Mạc Đĩnh Chi, trường Trần Quang KHải, trường Hoa Lư Kết quả cho thấy, trong số những giáo viên được xin ý kiến còn có nhiều giáo viên cho rằng, đây là công việt không cần thiết Dướiđây là kết quả khảo sát:
Bảng 1 Nhận thức của giáo viên về tính cần thiết của việc phát hiện
và bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn ở trường THPT không chuyên
Nội dung Quan điểm Số lượng
Trang 24Với nhận thứcđó, nên khi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi hầu hết giáo viên đều tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu Cộng việc chủ yếu được thực hiện theo nhiệm vụ, dựa trên chútít kinh nghiệm cá nhân, ít có hứng thú, say mê Một thực tế là hiện nay ở các trườngTHPT không chuyên không có chương trình dành cho lớp chuyên.Định hướng và tính liên thông trong hệ thống chương trình cũngkhông rõ ràng.Thêm vàođó, ở các trường THPT không chuyên, không có giáo viên chuyên trách bồi dưỡng học sinh giỏi Họ phải hoàn tất công tác giảng dạy, kiêm nhiệm như mọi giáo viên khác Thời gian đầu tư cho công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi vì vậy không có nhiều Trong khi đó, đây lại là công việc nặng nề, đòi hỏi không chỉ tri thức, kỹ năng mà cả tâm huyết, đam mê.Hầu hết các giáo viên đều tỏ ra ngại phải bồi dưỡng học sinh giỏi, vì theo họ“Khó sắp xếp thời gian” Thêm vàođó không có chế ngộđãi ngộ thỏađáng, lại phải chịuáp lực thành tích Điều này có nhiều nguyên nhân
Có nguyên nhân thuộc về khách quan, có nguyên nhân thuộc về cơ chế, và có nguyên nhân ở tâm huyết, năng lực, kỹ năng của giáo viên Hệ quả của những điều nói trên là việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giởi Ngữ văn chưa có nhiều kết quả
Bên cạnh một thực trạng có phần bi quan, đó là nhữngđiểm sáng, tích cực, mà trước hết là thái độ, quan điểm của học sinh về bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Nhiều học sinh được hỏi đều tỏ ra thích được tham gia lớp bồi dưỡng Các em nhận thức được lợiích, tác dụng của việc học bồi dưỡng học sinh giỏi văn Theo các em, đây không chỉ vì mụcđíchđạt giải trong các kỳ thi ở trường, ở tỉnh, thành, mà còn là sự thảo mãn nhu cầu hiểu biết, thưởng thức văn học Có thể thấyđiều này qua bảng tổng hợp kết quả khảo sát học sinh sau đây:
Bảng 2 Nhận thức của học sinh về tác dụng của việc học bồi dưỡng HSG văn
(đơn vị: %)
Trang 25Tự tin
Yêu môn Văn hơn
Hiểu biết sâu rộng hơn
Tất cả các ý kiến
Trường
THPT Mạc Đĩnh Chi 120 0 28,0 6,0 19,0 47,0 THPT
Trần Quang Khải
120 0 28,4 5,8 20,0 45,8
THPT Hoa Lư 120 0 29,0 4,0 18,0 49,0
Trang 26Chương 2 PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT KHÔNG CHUYÊN
2.1 Phương pháp phát hiện học sinh giỏi Ngữ văn
Trong chương trình THPThiện nay, bên cạnh môn Ngữ văn, học sinh còn được học nhiều môn học về khoa học tự nhiên, xã hội, kỹ thuật công nghệ Sở trường, năng lực của học sinh ở các môn học là không đồng đều Thực tế cho thấy, ít có học sinh nào lại có năng lực và học giỏi tất cả các môn Bởi vậy, phát hiện tố chất, năng lực của học sinh theo từng môn học làđiều cóý nghĩa,
có tính khả thi Tuy nhiên, do đặc thù của môn học, mỗi môn học lại có phương pháp, cách thức phát hiện khác nhau Với môn văn, học sinh không chỉ học kiến thức sách vở mà còn phải thể hiện những trải nghiệm văn chương, cuộc sống của mình Sự tác động của văn chương, nhất làở những em có sở thích, hứng thú, năng lực là rất rõ rệt Dựa vàođó, giáo viên có thể phát hiện
để bồi dưỡng, phát triển năng lực văn chương ởcác em
2.1.1 Nhận biết tố chất, năng lực văn chương ở học sinh qua những dấu hiệu bên ngoài
Ở trên chúng tôi đã đề cập đến quan niệm thế nào là học sinh giỏi văn và bước đầu cónhữnglý giải, chỉ ra cái có thể và không thể trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn Theo cách hiểuđó, so với sốđông học sinh trong lớp, trường, những học sinh cótố chất, năng lực văn chương thường có những dấu hiệu biểu hiện bên ngoài, dễ nhận biết Dựa vào quan sát, bằng quan sát, trao đổi giáo viên có thể phát hiện được tố chất, năng lực văn chương ở các em
Cũng nhưở mọi môn học khác, tố chất năng lực văn chương của học sinh được thể hiện trước hếtở tình yêu, niềmhứng thú, say mê môn học Nó được thể hiệntrong học tập, sinh hoạt hàng ngày;không phảinhất thời mà làthường
Trang 27xuyên, liên tục Trong học tập, các em luôn thể hiệnmộtý thức tự giác, say mêchuẩn bị bài đầy đủ, cẩn thận, chu đáo, luôn cóý thứcchủ động tìm kiếmmở rộng phạm vi tìm hiểu để nâng cao kiến thức Trong giờ học các em luôn chủ động tiếp thu sự hướng dẫn giảng dạy của thầy cô,tập trung cao, tích cựcphát biểu, phát vấn, trao đổi về những vấn đề đặt ra trong bài học và cuộc sống hàng ngày Niềm say mê, hứng thú học văn của các em còn được thể hiệnở việc tham gia đầyđủ, nỗ lực, cố gắng để thể hiện mình qua những bài kiểm tra trên lớp và về nhà Mặt khác, các em thíchchia sẻ với các bạn trong lớp về những gì mình đọc được, học được, xem đó như một cách để khẳngđịnh, thể hiện mình trước mọi người
Tố chất, năng lực văn chương của học sinh còn được thể hiện qua những cảm nhận tinh tế, nhạy bén trước những vấn đề của cuộc sống So với nhiều học sinh khác, những học sinh có năng lực văn chương, tố chất văn chương thường là những người dễ xúc động Đọc một tác phẩm văn học, xem một bộ phim, vở kịch, hay bắt gặp một tình huốngéo le, một cảnh ngộ thương tâm, các em thường không kìm nén được cảm xúc, và thường có cách bày tỏ thái
độ, tình cảm của mình.Trong giờ học, các em luôn thể hiện thái độ, tình càm qua ngôn ngữ hình thể hoặc phát biểu bày tỏ quan điểm cá nhân Đó cũng là những học sinh sống tình cảm, có chiều sâu trong cách biểu lộ cảm xúc, sốnggần gũi với thầy cô và bạn bè Trong cuộc sống hàng ngày, các em thường tham gia các hoạt động cộng đồng mang tính nhân văn,luôn có ý thức trải nghiệm cuộc sống và thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình bằng những bài viết, trang viết mang tính chất một nhật ký tâm trạng
Bên cạnh những dấu hiệu trên đây, một học sinh có tố chất, năng lực văn chương còn được thể hiện niềmđam mêđọc sách, đặc biệt là sách văn học Các em luôn cóý thức tìmđọc những tài liệu tham khảo mà thầy cô hướng dẫn, chủ động tìmđọc những tác phẩm văn chương được dư luân quan tâm, nhiều
Trang 28người bàn tán Đọc sách văn học với các em, không phải vì tò mò, hiếu kỳ chuyện lạ, mà là thỏa niềmđam mê, hứng thú văn chương Nó được thể hiệnở những ghi chép, bày tỏ thái độ, cảm xúc của mình với bạn bè, thầy cô
Ở lứa tuổi học sinh THPT, tâm sinh lý của các em đã phát triển và dần dần hoàn thiện Theo đó, tố chất, năng lực cũng được bộc lộ khá rõ nét Là môn học tác động nhiều đến đời sống tinh thần, tư tưởng tình cảm của học sinh, dấuấn của môn văn ở các em, nhất là những em có tố chất, năng lực là khá rõ nét Nó thể hiện trong lối sống, cách thể hiên mình của các em Thực tế cho thấy, những em có tố chất, năng lực văn chương, thường có lốisống mơ mộng, thiên về tình cảm, thích hướng nội Trong cách sống, các em luôn cóý thức thể hiện mình bằng nhiều hình thức khác nhau Lúcồnào, náo nhiệt, lúc thầm lặng, kínđáo Nói cách khác, ở các em, cái tôi cá nhân, sựý thức về cá nhân khá rõ nét
Những phân tích, dẫn giải trên đây cho thấy, dựa vào quan sát, bằng quan sát, và trải nghiệm cá nhân, giáo viên có thể phát hiện tố chất, năng lực văn chương ở học sinh qua những dấu hiệu biểu hiện bên ngoài Dĩ nhiên, đó mới chỉ là cảm tính Để có cái nhìn chính xác, dưới nhiều hình thức, bằng nhiều cách, phải có những thử nghiệm, đánh giá bước đầu của giáo viên
2.1.2 Thử nghiệm, đánh giá năng lực văn chương của học sinh
Tố chất và năng lựcđó là thước đo của một học sinh giỏi, không chỉ đối với môn văn, mà là với mọi môn học trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên,
sự biểu hiện của nóở các môn học lại có những khác biệt nhấtđịnh Với môn văn, tố chất năng lực của học sinh được thể hiệnở ba phương diện: tri thức, kĩ năng, dấuấn cá nhân
Nói tới tri thức văn chương là nói đến những hiểu biết của các em không chỉ về văn học mà cảvềđời sống xã hội Bởi lẽ, không thể nào hiểu sâu sắcmột
Trang 29vấn đề đặt ra trong tác phẩm nếu các em không có tri thức về văn hóa, xã hội Nói cách khác, để hiểu văn phải hiểu đời Ở lứa tuổi THPT, kinh nghiệm sốngcònít, sự trải nghiệmchưa nhiều, tuy nhiên nóđã để lại dấuấn trong nhận thức, cảm thụ văn chương Vốn tri thức văn học của các em được tích lũy từ trong chương trình trung học cơ sở và qua quá trìnhtựđọc, tự học Nó thể hiện trên nhiều phương diện, như: văn học dân gian, văn học viết; văn học sử, tác giả, tác phẩm trong và ngoài nước; vàở một chừng mực nàođó là những tri thức lý luận giản yếu Những em có năng lực văn chương không chỉ hiểuđúng
mà còn hiểu sâu; không chỉ nhận thức bằng lý trí mà còn bằng cả cảm xúc, tâm hồn Nghĩa làở những mức độ, cách thức khác nhau, các em có khả năng sống với tác phẩm, hóa thân vào trong tác phẩm, buồn vui cùng con người, nhân thế trong văn chương, cuộc đời
Theo Từđiển Tiếng Việt, kĩ năng là "khả năng vận dụng những kiến thứcđã thu nhận được trong một lĩnh vực nàođóáp dụng vào thực tế" Theo đó,
kĩ năng văn chương ở học sinh là khả năng vậndụngnhững tri thức văn chương để xử lý những vấn đề trong lĩnh vực văn chương Ở THPT, đã có những em bước đầu tập sáng tác văn học, như làm thơ, viết truyện Tuy nhiên, đó được xem là những hiện tượng cá biệt, vàít gặp, nhất làở những trường không chuyên Bởi vậy, kĩ năng văn chương của các em chủ yếu được thể hiệnở khả năng vận dụng tri thức văn học, tri thức xã hội vào những bài tập làm văn, hay qua nhưng ý kiến phát biểu, những trao đổi trong giờ học, hay trên các diễnđàn, những câu lạc bộ văn học Nó thể hiệnở những thao tác lập luận, khả năng tư duy, phát hiện vấn đề của các em Vấn đề không chỉ là các em vận dụng trì thức nào, mà quan trọng hơn là vận dụng như thế nào Những em có tố chất, năng lực văn chương thường tỏ ra vượt trội trong việc trình bày vấn đề một cách chặt chẽ, khúc chiết; cókhả năng thuyết phục người nghe bằng cả cảm xúc vàtrí tuệ Đọc bài của các em, nghe các em nói, quan
Trang 30sát thái độcủa các em khi phát biểu, tham luận, giáo viên có thể phát hiện, bước đầuđánh giá, năng lực của các em Từđó, bồi dưỡng cho các em, giúp các em bổ sung tri thức, phát triển kĩ năng văn chương Hứng thú văn chương của các em, nhờđó ngày càng được nâng lên Cần nhớ, một trong những phương pháp giáo dục được xem là có hiểu quả là biết động viên và khích lệ, nuôi dưỡng niềmđam mê hững thú học tập cho các em
Bàn về văn học, M Gorki cho rằng, "văn học là nhân học" Đó là một quan niệmđúng đắn, chứa đựng trong đó nhiều tầng ngữ nghĩa Theo đó nó được hiểu và vận dụng theo nhiều cách, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Trong dạy, học văn ở nhà trường phổ thông, quan niệm trên đây của M Gorki góp phầnđịnh hướng mụcđính, sứ mệnh của môn Ngữ văn Ở nước ta, từ rất sớm, sứ mệnh của môn văn đã được xácđịnh là góp phần hình thành, bồi dưỡng nhân cáchđạo đức, tâm hồn, lỗi sống cho học sinh Để làm đượcđiềuđó, không thể chỉ dừng lạiở những bài giảng, những sinh hoạt văn học, mà còn phải tạo ra hứng thú, hình thànhở các em tình yêu, niềmđam mê văn chương Qua mỗi bài học, mỗi tác phẩm đượcđọc, các em phải thể hiện được sự trải nghiệm văn chương của mình Dấuấn trong tiếp nhận văn học của các em thể hiệnởđó Các em phải sống với tác phẩm, hóa thân vào tác phẩm, biết buồn vui với số phận nhân vật, với những cảnh đời được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm Đó là sự trải nghiêm văn chương đầy thú vị Như vậy, dấuấn văn chương của các em chính làở sự trải nghiệm này Trong những bài làm văn, hay trong những lời phát biểu, những bài tham luận, các em luôn nói viết với
vị thế của người trong cuộc Không phải bàn về người, nói về người, cho người mà là bàn, nói về mình, cho mình Ởđó, nhu cầu được bộc lộ, chia sẻ của các em luôn được thể hiện Đọc bài viết của các em, nghe các em phát biểu, giáo viên có thể phát hiện ra những dấuấnđó của các em Tố chất văn chương, dấuấn văn chương của các em một phần làởđó
Trang 31Từ quan sát, nhận biết những dấu hiệu bên ngoài đến thử nghiệmđánh giá qua những bài làm văn, những phát biểu trên lớp, những tham luận trong các buỏi sinh hoạt câu lạc bộ văn học phải diễn ra liên tục, thường xuyên Điềuđóđòi hỏi giáo viên phải có tâm huyết với nghề, có kỉ năng sư phạm, luôn biết lắng nghe và chia sẻ với học sinh Thời gian họcở bậc THPT hiện nay là ba năm Trong ba năm đó, năm đầu tiên của cấp học (lớp 10) là năm khởi đầu, cóý nghĩa đối với việc phát hiện tố chất, năng lực văn chương cho các em Bởi lẽ, so với bậc THCS, bậc học THPT có nhiều khác biệt cả về chương trình, nội dung môn học và phương pháp, cách thức học tập của các
em Mặt khác, đó là năm đầu cấp học, do vậy, việc phát hiện sớm sẽ cóý nghĩa tích cực đối với quá trình bồi dưỡng năng lực văn chương cho các em Hiệu quả của việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn phụ thuộc nhiều vào kết quả phát hiện tố chất năng lực văn chương ở học sinh
2.2 Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn
Trong bồi dưỡng học sinh giỏi văn, vấn đề phương pháp luôn cóý nghĩa quan trọng Không có phương phápđúng, phù hợp với từng đối tượng, sẽ không có thành công Tuy nhiên, khái niệm phương pháp được hiểuởđây, không chỉ là cách thức mà còn là nội dung vấn đề Những đề xuất sau đây của chúng tôi được trình bày theo cách hiểuđó
2.2.1 Phát triển đam mê, hứng thú văn chương của học sinh
Ở trên, chúng tôi có dịp nói đến niềm hứng thú văn chương, và xem đó
là một dấu hiệu để nhận biết những học sinh có tố chất, năng lực văn chương Không chỉở môn ngữ văn, mà bất kỳ môn học nào, muốn thành công, có kết quả cao, người học đều phải có hứng thú học tập Tuy nhiên, với môn ngữ văn, điều này đặc biệtcóý nghĩa Bởi lẽ, nói đến văn học trước hết là nói đến tâm hồn, tình cảm Điều này không chỉđúng với qua trình sáng tạo, mà cònđúng với tiếp nhận văn học Đọc văn, học văn phải trở thành niềmđam mê, hứngthú,
Trang 32một nhu cầu tự nhiên Chỉ có như thế, ngườiđọc, người học mới có thể hóa thân vào tác phẩm, sống với tác phẩm để phát hiện ra những giá trị sâu sắc, độcđáo của tác phẩm Trong bối cảnh ngày càng có nhiều học sinh không muốn học văn, chán học văn, việc phát hiện ra những em còn chútđam mê, hứng thú văn chương ở những trường không chuyên, là điều rấtđáng được trân trọng, nâng niu để phát triển Có thể xem đó như một nụmầm, mộtđiểm sáng cần phát triển và nhân rộng
Để bồi dưỡng, phát triển hứng thu văn chương ở các em là công việc không hềđơn giản Nóđòi hỏi người giáo viên không chỉ cóđam mê, ý thức trách nhiệm mà còn phải có phương pháp, kĩ năng sự phạm Gần gũi, chia sẻ với học sinh những vấn đề văn học các em quan tâm là công việc hàng đầucủa giáo viên Với tâm lý của tuổi học trò THPT, các em sẽ rất vui, thậm chí là hãnh diện khi được chia sẻ với thầy cô hứng thú văn chương của mình, dù có thể chỉ là sở thíchđọc sách văn học, hay yêu một bài thơ, quyển sách nàođó Khi được thầy cô quan tâm, chia sẻ, khích lệ, các em sẽ rất vui Nhờđó, hứng thúđọc văn, học văn cũng tăng lên Đặc biệt các em rất vui, thậm chí là phấn khích, tự hào khi được thầy, cô động viên, biểu dương trước tập thể trong giờ học văn, hay giờ sinh hoạt
Bên cạnh những biện pháp tâm lý nêu trên, giáo viên cần cóý thức thường xuyên vềđiều này qua những giờ dạy và bài kiểm tra đánh giá Cũng như các bộ môn khác trong nhà trường phổ thông, dạy văn cần cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức nhất định Tuy nhiên, ở mỗi bài học, giáo viên cần xácđịnh cho mình một dung lượng kiến thức, một phương pháp thích hợp
Sự hấp dẫn qua mỗi giờ dạy của thầy cô, sẽ mang đến cho các em niềm hứng thú học văn Với giờ học văn, từ “hiểu” đến “cảm”, "say" là một quá trình Những tri thức chủ yếu của bài học phải được thể hiện qua hệ thống câu hỏi,
từ dễ đến khó, từđơn lẻ, chi tiêt, đến khái quát tổng hợp Nó giúp học sinh
Trang 33định hướng được bài học, bị dẫn dụ, cuốn hút vào bài học Ởđó học sinh chủ động tìm kiếm tri thức, phát hiện vấn đề với sự gợi mở, dẫn dắt của giáo viên
Dĩ nhiên đễ làm đượcđiềuđó, đòi hỏi người giáo viên phải có niềm say mê, có kiến thức, kĩ năng sư phạm, có sự phối hợp nhịp nhàng giũa người dạy và người học Khi thầy tâm huyết, trò sẽ say mê Muốn thế, người giáo viên phải cóý thức không ngừng tích lũy tri thức Trong giảngdạy,phải biếtlàm chủ kiến thức,biết tiết chế nội dung, tránh lan man hoặc thiếu linh hoạt về phương pháp
Từ đó, học sinh sẽ bị cuốn hút Hứng thú, đam mê học văn sẽ được nuôi dưỡng, phát triển
Cũng như mọi một học khác, hứng thú học tập của học sinh, không chỉ phụ thuộc vào việc dạy, học mà còn làở qúa trình và cách thức kiểm tra đánh giá Đây làđiều giáo viên cần phảiý thức một cách sâu sắc Nó thể hiện qua việc ra đề, lời phê và chấmđiểm Đề bài kiểm tra, dù một tiết hay hai tiết, làmở nhà hay làmở lớp, giáo viên phải cần nhắc, suy nghĩ, đầu tư thời gian, trí tuệ để có được những câu đề hay, có chất văn, tránh lối ngẫu hứng, tùy tiện Trong đó, cần quan tâm đến những đề ra có tính mở, hoặc mở, loại bỏ dần kiểu đề ra hạnđịnh Đề ra phải tránh lối hàn lâm, thay vàođó là những vấn đề văn học, xã hội gần gũi với các em Điều này có tác dụng kích thích sự tìm tòi, thể hiện mình của học sinh Qua mỗi bài viết, giáo viên phải phát hiện đượcnhững điểm mạnh trong tư duy, cách đặt vấn đề, cách lập luận của các
em, từđóđộng viên, khích lệ các em Qua đó, giúp các em hoàn thiện và tìm thấy sự tự tin trong học tập Xúc cảm và tri thức của các em đượcđánh thức, các em nhận ra văn chương thật gần gũi và hữu ích Theo đó, niềm hứng thú văn chương của các em được nuôi dưỡng khơi dậy
2.2.2.Nâng caokhả năng tiếp nhận, trải nghiệm cá nhân và vốnsống cho học sinh
Định hướng cách tiếp nhận kiến thức cho học sinh đóng vai trò quan
Trang 34trọng nhằm giúp các em hình thành thói quen tự học và có thể học tập suốt đời Điều này càng ý nghĩa hơn khi chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổcông nghệ thông tin Việc tiếp thu thiếu định hướng, thiếu chọn lọc sẽ khiến học sinh dễ bị lạc lối, dẫn tới sự chán nản trong học tập Để giúp học sinh thực hiện việc tiếp nhận kiến thức hiệu quả, giáo viên cầnxác định những nguồn kiến thức chủ yếuđể định hướng cho học sinh Về cơ bản có những loại kiến thức sau:
Kiến thức từ sách vở là nền tảng để học sinh có cơ sở tìm hiểu trên phạm
vi rộng mà không bị lạc hướng Chính những giai đoạn văn học từ thời trung đại đến hiện đại, những thể loại văn học từ cổ chí kim, những phong cách sáng tác của các tác giả qua nhiều thời kỳ, những tác phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới sẽ giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về bức tranh văn học nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Vì vậy, đây là nguồn kiến thức quan trọng học sinh cần được trang bị Mở rộng nguồn kiến thức từ sách vở cần định hướng cho các em còn có kiến thức lịch sử, địa lý, triết học và cả những cuốn sách có chủ đề bàn về giứoi trẻ, hướng tới giới trẻ, ví như: “Hạt giống tâm hồn”, “Hạt giống hạnh phúc”, “Suy nghĩ của những người trẻ” Việc bổ sung, mở rộng những nguồn tri thức này được thực hiện theo phươngg pháp tích hợp trong những bài dạy, giờ dạy của giáo viên sẽ tạo hứng thú học tập, mở rộng tầm nhìn hco các em Qua đó, năng lực nhìn nhận
và khai thác vấn đề văn học sẽ được nâng cao
Kiến thức từ đời sống mang đến cho học sinh sự thẩm thấu cần thiết
trong tâm hồn trước những điều “tai nghe mắt thấy” Giáo viên định hướng cho các em tạo thói quen quan sát cuộc sống qua những hoạt động, sự việc, tình huống và ghi nhận lại bằng cảm xúc, bằng nhận thức để có vốn sống cần thiết cho bản thân Hiểu đời, hiểu người sẽ giúp các em sống tốt hơn Từđó, có những bài viết sâu sắc, thiết thực, chân thành về vấn đề tư tưởng đạo
Trang 35lý, về hiện tượng đời sống xã hội Với niềm say mê, hứng thú, lại có thêm chútít tố chất, năng lực văn chương, các em sẽ có cách thể hiện mình một cách chân thực, xúc động, sâu sắc khi có thêm tri thức về đời sống xã hội
Những trải nghiệm của bản thân học sinh sẽ có sức thuyết phục sâu sắc khi đưa vào bài văn một cách tư nhiên và phù hợp Để giúp học sinh có được điềunày, giáo viên cần gợi ý cho các em một số hoạt động cộng đồng mang tính nhân văn, thể hiện trách nhiệm của thanh niên với xã hội như: “Thanh niên tình nguyện”, “Mùa hè xanh”, “Hoa phượng đỏ”, “Tiếp sức mùa thi” Khi đặt mình vào nhiều vai trò khác nhau các em sẽ hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống, con người, về văn hóa ở nhiều vùng miền khác nhau Từ những điều thu nhận được qua thực tế, các em sẽ soi mình vào đó để biết tiết chế bản thân trong cuộc sống, tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống Chỉ có như vậy, các em mới
có được cảm nhận sâu sắc về văn chương, về cuộc sống Những bài viết của các em, theo đó sẽ là những đối thoại với bản thân, với cuộc sống qua những tình huống nhưng vấn đề cụ thể được thầy cô gợi mở
2.2.3 Trang bị kỹ năng học Ngữ văn ở học sinh THPT
Cũng như mọi hoạt động khác, việc học văn của học sinh cũng cần phải
có kỹ năng, nhất là với những em có tố chất, thiên hướng văn chương Có nhiều loại kỹ năng cần thiết đối với các em Có kỹ nay đọc hiểu văn bản; kỹ năng nghị luận một vấn đề văn học, xã hội; kỹ năng trình bày trực tiếp một vấn đề trướcđámđông Đó là những vấn đề thiết yếu, hữuíchđể nâng cao chất lượng học văn cho các em
Ở những phần trước chúng tôi đã có dịp đề cập đến tầm quan trọng của
kỹ năng đọc hiểu văn bản văn học, ởđây chỉ xin nói thêm một số vấn đề về cóý nghĩađịnh hướng, phương pháp Một văn bản văn học xuất hiện như một phim âm bản, ẩn dấu trong đó nhiều bíẩn cần được khám phá Để khám phá, tiếp nhận nó, ngườiđọc có nhiều cách thức, hướng đi Cóhướngđi trực
Trang 36cảmtheo kiểu "đem hồn ta để hiểu hồn người"; có hướngđi theo kiểu thi pháp học, tìm cái lý của nghệ thuật Tuy nhiên, đi theo hướng nào, thì việcđọc hiểu cũng phải dựa trên văn bản, bám vào văn bản, không được thóat ly văn bản Nghĩa là phải dựa trên các yếu tố bề mặt, từđó thâm nhập sâu vào văn bản, lý giải, cắt nghĩa vấn đề Muốn làm đượcđiềuđó, ngườiđọc phải hóathân vào trong tác phẩm, đặt mình vào ví thế của người trong cuộc Đây là một nguyên tắc, giáo viên cần truyền đạt, cung cấp cho các em, hình thành dần cho các em kỹ năng đọc hiểu văn bản
Bên cạnh kỹ năng đọc hiểu, cần trang bị cho học sinh kỹ năng trình bày một vấn đề nghị luận, có thể trực tiếp hay gián tiếp bằng bài làm văn Đối với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần nói lên những suy nghĩ nghiêm túc, chính chắn, sâu sắc của bản thân về một vấn đề xã hội Không phải viết về người khác, mà là viết về mình, đối thoại với mình, với người, là dịp để các
em bày tỏ suy nghĩ, quan điểm cá nhân về một vấn đề nàođó Đối với học sinh giỏi, các kỳ thi các em tham gia đều chịu nhiều áp lực từ chọn đội tuyển cấp trường, đến cấp tỉnh thành và đến kỳ thi quốc gia Vì vậy, rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập, nêu vấn đề và giải quyết vấn đề theo quan điểm của cá nhân là cần thiết Giáo viên cầncung cấp cho học sinh những kiểu bài nghị phổ biến, có tính tiêu biểu Qua đó rèn luyện cho các em kỹ năng phân tích đề;
kỹ năng tìmý, lập dàný; kỹ năng lập luận; kỹ năng diễnđạt Ở mỗi dạng đề, giáo viên cần ra cho các em tham gia bồi dưỡng họ sinh giỏiít nhất là hai đề, yêu cầu các em lập dàný, hoàn chỉnh bài viết Sau đó, giáo viên đọc, nhận xét
và chỉnh sửa cho các em theo yêu cầu cảu đề ra Vấn đềởđây không phải là khen chê, mà là nhận xétđánh giáchỉ ra những ưu, nhược của mỗi bài viết Trên cơ sởđó, hướng dẫn học sinh sửa chữa Công việc này phảiđược tiến hành liên tục, thường xuyên Qua đó, kỹ năng làm văn nghị luận của các em
sẽ được hoàn thiện dần
Trang 372.2.4 Rèn kỹ năng phân tíchvăn học cho học sinh
Phân tíchvăn học là kỹ năng quan trọng, cần thiết dối với HS học văn nói chung, đặc biệt là đối tượng HS giỏi Nó là cơ sở để tiếp nhận văn bản Từ đó, mới có thể sángtạo văn bản, viết những bài văn thực sự có chất văn Bài viết cần có những nét độc đáo, mới mẻ, thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm, cá tính, tâm hồn mang đậm dấuấn cá nhân Tuy nhiên, rèn luyện kỹ năng phân tích văn học là công việc vô cùng khó khăn Bởi lẽ, năng lực phân tích văn họcphụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thiên bẩm Ởđây, chung tôi chủ yêu
đề xuẩt một số giải pháp, cách thức để phát hiệný, mở rộngýcho học sinh trong khi đọc hiểu văn bản
Một trong những thao tác cần thiết trong phân tích văn học là thao tác so sánh.So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với
sự vật khác, miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe Vì vậy, vận dụng phương pháp này vào việc rèn kỹ năng phân tíchvăn học giúpcho HS trong qúa trìnhđọc hiểu văn bảnhiểu rõ hơn đối tượng (có thể
là những chi tiết, nhân vật, hình tượng, quan niệm, phát hiện ) Từ đó, cảm nhận được sự mới mẻ, độc đáo của đối tượng cũng như những sáng tạo của nhà văn Để hướng dẫn HS thực hiện tốt phương pháp này giáo viên cần đặt
ra những yêu cầu cụ thể đối với HS, gợi mở trường liên tưởng cho các em
Trước hết cầnxác định mục đích và tiêu chí so sánh Thực hiện bước đầu tiên
này gợiýHS trả lời cáccâu hỏi: so sánh để làm gì? Nhằm mục đích gì? Tại sao cần so sánh? Từ đó, các em xác định được cơ sở so sánh Thông thường, mục đích so sánh là để làm rõ, nhấn mạnh cái hay, cái độc đáo mới mẻ cũng như cái giá trị của đối tượng văn học và những sáng tạo của nghệ sĩ Cũng có trường hợp so sánh là là để làm rõ những điểm hạn chế, chưa đạt của đối tượng và nguyên nhân của điều đó Trường hợp khác, so sánh là để thấy được
Trang 38sự cộng hưởng, sự gặp gỡ, đồng sáng tạo của nghệ sĩ ở các loại hình nghệ thuật khác nhau Từ mục đích đặt ra, người so sánh sẽ xác định tiêu chí so sánh dựa trên các khía cạnh tương đồng hay tương phản về nội dung, tư tưởng,
về hình thức biểu hiện Việc xác định rõ tiêu chí và mục đích so sánh sẽ làm nổi bật vấn đề, giúp người đọc hiểu rõ đối tượng và phát huy trí tưởng tượng, làm phong phú thêm kiến thức ở dạng liên văn bản, biết cách tìm hiểu đối tượng không tách rời hoàn cảnh lịch sử và thời đại mà tác phẩm ra đời
Sau khi đã xácđịnh được mụcđích so sánh, bước tiếp theo là giúp các em xácđịnh phạm vi so sánh Về cơ bản, có hai phạm vi so sánh: cùng loại hình nghệ thuật và khác loại hình nghệ thuật
So sánh trong cùng loại hình nghệ thuật: là so sánh thường gặp và phổ biến nhất trong quá trình đọc hiểu, tiếp cận một văn bản văn học Một văn bản văn học khi được tiếp cận đúng nghĩa sẽ trở thành một chỉnh thể nghệ thuật sống động Quá trình hướng dẫn HS tiếp cận, khai thác văn bản, GV tập cho
HS cách so sánh những vấn đề từ đơn giản đến phức tạp So sánh sẽ gợi mở cho HS những cảm nhận, thẩm bình khác nhau HS sẽ được đặt mình vào những tình huống, những hoàn cảnh khác nhau để nhìn nhận, đánh giá vấn đề Khi khám phá ra những nét mới mẻ, người học sẽ ấn tượng và hứng khởi, tạo được những cảm xúc thẩm mỹ lâu bền So sánh trong cùng loại hình nghệ
thuật có hai loại Thứ nhất là so sánh tương đồng (những nét chung, sự tương
đồng về đề tài, bút pháp, nội dung tư tưởng, hiệu quả nghệ thuật ) của hai đối tượng Trong đó, có một đối tượng là vấn đề chính cần làm nổi bật và một
đối tượng là phụ được dùng để đối chiếu nhằm làm nổi bật cái chính Thứ hai
là so sánh tương phản Dạng này ít gặp hơn và thường là phức tạp hơn so với khả năng của HS Vì vậy, GV cần kiên trì và khéo léo hơn khi gợi mở vấn đề, dẫn dắt nhằm giúp HS huy động kiến thức để liên tưởng và so sánh
So sánh không cùng loại hình nghệ thuật Trong thực tế, khi đối chiếu
Trang 39văn bản văn học với các loại hình nghệ thuật khác sẽ làm hiện hình cảm thụ của HS, thúc đẩy HS hình thành những ấn tượng về văn bản Thông thường,
GV có thể cho HS đối chiếu văn bản văn học với hội họa, âm nhạc hoặc sân khấu, điện ảnh Tuy nhiên, không nên lạm dụng mà nên sử dụng hình thức so sánh nàynhư một phương tiện để bổ trợ nhằm mục đích khơi gợi HS cảm thụ tốt hơn Nếu dùng không đúng cách sẽ phản tác dụng
Trong dạy và học ngữ văn, ngôn ngữ luôn là yếu tố hàng đầu cần phải làm phong phú cho các em Nó bao gồm sự hiểu biết giá trị của từ ngữ, hình ảnh, câu, thanh điệu Ngôn ngữ chính là phương tiện để hiểu, cảm thụ việt văn HS càng giàu vốn ngôn ngữ, càng có khả năng cảm thu, phân tich sâu sắc hơn vẻ đẹp của câu chữ trong tác phẩm văn học Muốn phong phú vốn từ, HS phải biết tích lũy ngôn ngữ từ việc đọc, nghe, nói và có thói quen ghi nhớ để
bổ sung vốn từ Nếu vốn từ nghèo nàn, khả năng cảm thụ sẽ rất hạn chế, năng lực phân tích diễnđạt cũng bị giới hạn
2.2.5 Hình thành phương pháp đọc hiểu văn bản văn học và năng lực tư duy khái quát cho học sinh
Dạy đọc hiểu văn bản văn học ở bậc THPT hiện nay là dạy đọc hiểu văn bản theo thể loại và phương thức biểu đạt Vì vậy, đối tưởng của hoạt động đọc không chỉ là câu chữ, đoạn bài; không chỉ là thơ hay truyện mà còn các phương thức biểu đạt trong thơ và truyện Thể loại nào cũng phải sử dụng phối hợp các phương thức biểu đạt gồm: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận Mỗi phương thức biểu đạt quy định một cách đọc, một cách hiểu Thế nên GV cần rèn cho HS biết cách nhận diện phương thức biểu đạt trong mỗi văn bản và nắm vững đặc điểm văn bản theo thể loại để đọc hiểu thực sự mang lại cho HS
cơ sở cảm thụ tốt tác phẩm văn học
GV hướng dẫn HS đọc theo hình thức chủ yếu là đọc thầm, đọc nhanh, đọc lướt, đọc để trả lời những câu hỏi hướng dẫn Từ đọc đến hiểu, người đọc phải
Trang 40giải mã văn bản, tức là hiểu những thông tin chứa trong ngôn từ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật…Những điều này HS chỉ có thể thực hiện một phần, những phần khác GV cung cấp thêm Cùng với yêu cầu giải mã, có một việc HS phải tự mình thực hiện, đó là hình dung tưởng tượng để kết nối tất cả nghĩa của ngôn từ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật thành bức tranh “hình tượng văn học” hoặc “thế giới nghệ thuật” Đến đây thì GV đã giúp HS đọc hiểu đạt được mức độ 1.Tiếp theo, GV hướng dẫn HS đọc ngôn ngữ đặc thù của văn chương Bởi văn chương không không chỉ nói bằng ngôn từ mà bằng nhân vật, bằng hình ảnh, bằng kết cấu, bằng bức tranh thiên nhiên và bằng những biện pháp nghệ thuật… Vì thế, đọc ngôn ngữ đặc thù không thể đọc bằng mắt, bằng miệng, mà phải đọc bằng các thao tác tư duy Trong đó, có phân tích, bình phẩm, đánh giá, đối thoại… Đây là yêu cầu đọc ở trình độ cao mà HS giỏi phải đạt được dưới sự hướng dẫn của GV thông qua các hoạt động học tập
Từ đặc điểm của mỗi thể loại khác nhau và nhiệm vụ khác nhau ở mỗi tiết học mà GV tổ chức cho HS theo bố cục, theo nhân vật, hay theo khía cạnh của chủ đề Sản phẩm của hoạt động này là chiều sâu của tác phẩm chứa trong văn bản Mỗi HS được GV hướng dẫn cách đọc theo thể loại từ một văn bản mẫu và hoàn thành phần luyện tập Qua đó, sẽ định hình được cách thức đọc văn bản nghệ thuật và tự xử lý được các văn bản mới theo cách tương tự
Để giúp HS có định hướng nhất định trong việc đọc hiểu văn bản nghệ thuật, GV có thể giới thiệu đến các em quy trình đó như sau:
- Đọc hiểu những nội dung về ngữ cảnh (Tiểu dẫn)
+ Đọc thông tin về hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh cảm hứng
+ Đọc thông tin về nhà văn, về sáng tác của nhà văn
+ Đọc thông tin về thể loại, đặc điểm thể loại, cách tiếp nhận thể loại
- Đọc văn bản, tìm hiểu cấu trúc văn bản