Phần lớn HS còn gặp nhiều khó khăn khi phải lĩnh hội hay sản sinh một văn bản dài, nội dung đan xen nhau, HS chưa viết được một bài văn hoàn chỉnh, chưa nắm được trình tự bài văn miêu tả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG HOÀNG VỸ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Nghệ An, năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG HOÀNG VỸ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS CHU THỊ HÀ THANH
Nghệ An, năm 2016
Trang 3Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo và Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Trảng Bàng
- Các đồng chí Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Trảng Bàng
- Gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự hướng dẫn, góp ý của các thầy giáo,
cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 6 năm 2016 Tác giả luận văn
Đặng Hoàng Vỹ
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
TƯ DUY TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý
BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
5
1.2 Bản đồ tư duy và một số phần mềm ứng dụng vào việc thiết kế
1.3 Nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 4, 5 với việc sử
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý BÀI VĂN MIÊU
TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
27
Chương 3 SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG RÈN
LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO
HỌC SINH LỚP 4, 5
47
3.1 Các nguyên tắc đề xuất sử dụng BĐTD trong rèn luyện kĩ năng
lập dàn ý bài văn miêu tả
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT KÍ HIỆU VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng chương 2
Bảng 2.1 Mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng BĐTD, khái niệm
và đặc điểm của văn miêu tả
34
Bảng 2.6 Thực trạng khi vận dụng “bản đồ tư duy” trong lập dàn ý 44 Bảng 2.7 Kết quả học tập của HS trong lập dàn ý văn miêu tả lớp 4, 5 45 Bảng 2.8 Những khó khăn của HS khi lập dàn ý TLV miêu tả ở lớp 4, 5 46
Bảng chương 3
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học giữ một vai trò
quan trọng trong sự phát triển toàn diện con người Chất lượng giáo dục bậc Tiểu học không chỉ quyết định nền tảng cho sự hình thành nhân cách cá nhân mà còn là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia Vì vậy, việc đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đang là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Để nâng cao hiệu của giáo dục tiểu học, yêu cầu đặt ra cho giáo dục tiểu học phải có những đổi mới nhất định
Đổi mới giáo dục nói chung và GDTH nói riêng nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện con người, từ đó đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội
và thời đại Định hướng của đổi mới giáo dục đào tạo là đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Trọng tâm chính sách đổi mới giáo dục nước ta giai đoạn hiện nay là đổi mới cách thực hiện các phương pháp dạy học Theo đó, “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học…” [điều 24.2 Luật Giáo dục]
1.2 Hiện nay, ở tất cả các cấp học đã và đang tiến hành đổi mới phương
pháp dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, trong đó nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào và áp dụng các PPDH tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học PPDH bằng bản đồ tư duy được coi là một trong những PPDH tích cực Phương pháp này nhằm hướng các em đến một phong cách học tích cực và tự chủ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo Phương pháp này giúp HS khắc sâu và ghi nhớ kiến thức tốt hơn, đồng thời đem lại những giờ học nhẹ nhàng, vui vẻ, lý thú mà vẫn đạt hiệu quả cao Như vậy, đây là PPDH hướng vào người học, nó phù hợp và đáp ứng yêu cầu của đổi mới dạy học hiện nay
1.3 Trong môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn có vị trí rất quan trọng
Nó thừa kế các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn
Trang 9luyện hoặc cung cấp Trong quá trình học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng tiếng Việt khi làm bài văn, các kiến thức đó đồng thời được hoàn thiện và nâng cao dần Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản Nhờ vậy, tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập
Tuy nhiên, ở lứa tuổi tiểu học, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn
trí nhớ từ ngữ - logic Phần lớn HS còn gặp nhiều khó khăn khi phải lĩnh hội hay sản sinh một văn bản dài, nội dung đan xen nhau, HS chưa viết được một bài văn hoàn chỉnh, chưa nắm được trình tự bài văn miêu tả, một số ít viết đầy đủ cấu trúc bài văn nhưng nghèo vốn từ, thiếu hình ảnh, lại không sử dụng các biện pháp tu từ cho bài văn thêm sinh động, do HS chưa biết tạo thói quen quan sát
và ghi chép để lập dàn bài, bài văn của các em ngắn Như vậy, việc sử dụng BĐTD với sự hỗ trợ của một số phần mềm trong dạy học Tập làm văn lớp 4, 5
sẽ rất phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS tiểu học
1.4 Trên thực tế hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở tiểu học
đã được các nhà trường quan tâm triển khai thực hiện, tuy nhiên vẫn chưa thực
sự đồng bộ và hiệu quả cũng chưa thật cao Giáo viên tiểu học còn rất khó khăn khi dạy Tập làm văn, đặc biệt là dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn HS làm bài tập lập dàn ý Bên cạnh đó, giáo viên sử dụng công cụ BĐTD vào dạy học Tập làm văn ở tiểu học còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong thiết kế và chưa được đề cập đúng mực
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong
rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” để tìm
hiểu, nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Tập
làm văn ở tiểu học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình hướng dẫn học sinh vận dụng BĐTD vào việc thiết kế dàn ý trong bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 nhằm rèn luyện kĩ năng lập
Trang 10dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn ở tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học thể loại văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình hướng dẫn học sinh vận dụng BĐTD để thiết kế dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung khảo sát thực trạng và tổ chức thử nghiệm HS lớp
4, 5 ở một số trường Tiểu học trong địa bàn huyện Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Có thể rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 nếu
sử dụng được phần mềm iMindMap V4 và quy trình hướng dẫn HS vận dụng bản đồ tư duy thiết kế
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề sử dụng bản đồ tư duy trong rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
5.3 Đề xuất quy trình hướng dẫn HS vận dụng bản đồ tư duy để thiết kế dàn ý bài văn miêu tả lớp 4, 5 nhằm rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho HS
5.4 Thử nghiệm sư phạm để kiểm tra kết quả nghiên cứu của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu;
Trang 11+ Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
+ Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại
+ Phương pháp thực nghiệm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Khảo sát, xử lí các số liệu trong quá trình nghiên cứu
7 Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận,
bố cục các kiểu bài văn miêu tả nhằm rèn kĩ năng lập dàn ý cho học sinh lớp 4, 5
ở các trường tiểu học
- Về thực tiễn: Qua khảo sát đánh giá thực trạng sử dụng BĐTD trong dạy và học văn miêu tả lớp 4, 5 ở c c trường Tiểu học huyện Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh Đề xuất, thăm dò t nh cấp thiết và t nh khả thi của quy trình hướng dẫn
học sinh lớp 4, 5 vận dụng BĐTD để lập dàn ý bài văn miêu tả
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng bản đồ tư duy trong rèn luyện kĩ
năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng bản đồ tư duy trong rèn luyện kĩ năng
lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
Chương 3: Sử dụng bản đồ tư duy trong rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn
miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý
BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong lịch sử giáo dục, từ lâu vấn đề dạy học bằng phương pháp bản đồ tư duy đã được quan tâm nghiên cứu
Tony Buzan được cả thế giới biết đến bởi các công trình nghiên cứu não bộ
và phương pháp tư duy Ông chính là cha đẻ của phương pháp BĐTD, phương pháp được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỷ XX) như là một cách ghi chép mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh BĐTD đã được phổ biến rất rộng rãi trên khắp thế giới thông qua nhiều đầu sách của Tony, tiêu biểu như:
+ “Use Your Head”- Cuốn sách về hoạt động của bộ não được thiết kế để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động của bộ não và nên sử dụng nó như thế nào để có hiệu quả tối ưu hay có thể ghi nhớ lâu hơn, đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn Không những vậy, chúng ta còn hiểu được BĐTD, thấy được sự tương thích giữa BĐTD với cấu tạo chức năng và hoạt động của bộ não
+ “Mindmap at work”(BĐTD trong công việc) Với cuốn sách này, bạn không chỉ hiểu được BĐTD là gì, tại sao nên ứng dụng BĐTD mà còn trả lời được câu hỏi sử dụng BĐTD như thế nào trong công việc, học tập, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm dịch vụ
+ “BĐTD - Hướng dẫn sử dụng BĐTD” và “How to mindmap” (Lập BĐTD), hai cuốn sách này có nội dung chính tương tự nhau, cho chúng ta biết những nét khái quát về BĐTD: khái niệm, ưu điểm, các bước thành lập BĐTD và ứng dụng BĐTD trong các lĩnh vực như thế nào
+ Tháng 12/2006, Tony đã chính thức giới thiệu phần mềm iMindmap Ngoài ra, trên thế giới còn có các phần mềm khác như phần mềm Freemind, phần mềm Inspiration, phần mềm Visual Mind, phần mềm Mind Manager, v.v…
Trang 13Vào thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền
bá những kỹ xảo về giản đồ ý cho các cơ quan quốc tế cũng như các Học viện Giáo dục
Adam Khoo cũng là một trong những người tâm huyết với việc nghiên cứu
và ứng dụng BĐTD Ông đã cho ra đời tác phẩm “Tôi tài giỏi - Bạn cũng thế” Trong cuốn sách này, Adam Khoo đã trình bày cách thức tư duy sáng tạo và cách tối ưu hoá hoạt động học tập thông qua việc ứng dụng BĐTD
Với những tính năng ưu việt, BĐTD đã được ứng dụng thành công trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh Rất nhiều tổ chức đã ứng dụng BĐTD trong công việc làm ăn, chẳng hạn như các tập đoàn thương mại: British, Petroleum, Barclays, International, v.v… và nhiều công ty lớn: HB, IBM, Boeing, v.v…
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, TS Trần Đình Châu cùng với TS Đặng Thị Thu Thuỷ là hai tác giả đầu tiên phổ biến “Bản đồ tư duy” tới hệ thống các trường phổ thông ở Việt Nam
TS Trần Đình Châu đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và tham mưu được với Bộ Giáo dục - Đào tạo được thành chuyên đề ứng dụng “Bản đồ
tư duy” hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học tới các bộ quản lí và giáo viên trung học cơ sở
Trong ba năm gần đây, TS Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam, dự án phát triển giáo dục trung học
sơ sở II kết hợp với Vụ giáo dục trung học và Cục nhà giáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hi vọng sẽ giúp học sinh thoát khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục
Năm 2010 ứng dụng “Bản đồ tư duy” trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được cả giáo viên cũng như học sinh các trường hồ hởi tiếp nhận
Trang 14Năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định đưa chuyên đề phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy thành một trong năm chuyên đề tập huấn cho giáo viên trung học cơ sở trên toàn quốc Tuy nhiên, việc đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học phân môn Tập làm văn ở tiểu học vẫn chưa được quan tâm đúng mức
1.2 Bản đồ tư duy và một số phần mềm ứng dụng vào việc thiết kế “bản đồ
tư duy” trong dạy học ở tiểu học
1.2.1 Khái niệm về tư duy
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa
Hà Nội - 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người - tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận v.v…
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất Theo Gearge Wilhemr Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện
mà thôi”[1] Karl Marx nhận xét: “Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hoá dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiện thực, hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [2]
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật
chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lí thuyết, Karl Marx cho rằng: “Vận
động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo, tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh”
[3]
Trang 15Theo tâm lí học, tư duy là một quá trình phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ vào quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [92]
Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của Ivan Petrovich Pavlov nhà sinh lí học, nhà tư tưởng người Nga Bằng các thí nghiệm
tâm - sinh lí áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận: “Hoạt
động tâm lí là kết quả của hoạt động sinh lí của một bộ phận nhất định của bộ
óc” [4]
Như vậy ở đề tài này, chúng tôi xin được trình bày theo khái niệm: Tư duy
trước hết là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái quát hoá, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng Phản ánh ở đây hiểu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng “Là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức
lí tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình trong
đó con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, mà tác động tới nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục đích của mình” [2]
Đó là phản ánh tâm lí, là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản chất, quy luật vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan [3]
1.2.2 Khái niệm về bản đồ tư duy
“Bản đồ tư duy” (mindmap) là phương pháp được đưa ra để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì não bộ còn có khả năng tạo
sự liên kết giữa các dữ liệu với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng của bộ não
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì
Trang 16liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức ghi chép này, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết
để miêu tả một chiều thì BĐTD biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Bản đồ tư duy là hình thức
ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Bản đồ
tư duy - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình hoạ với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não” [11]
Đây là một hình thức ghi chép sử dụng nhiều màu sắc và hình ảnh để lập kế hoạch hay giải quyết một vấn đề nào đó Với BĐTD, chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quan và đầy đủ về các kế hoạch, dự án, đồng thời phát huy tối đa sức mạnh trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
Có quan niệm khả thi đơn giản hóa BĐTD bằng công thức:
Ghi nhớ tốt + Từ khoá + Não trái phải = Bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy của bộ não
Trang 17Theo điều tra khảo sát, phần đông những người biết đến BĐTD đều đồng ý với quan niệm rằng: BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng, đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh mà các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa vào mối liên hệ của bản thân các ý Điều này khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thông thường không thể làm được
Mặc dù diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm trên đều hướng đến một kết luận chung là: BĐTD là công cụ tổ chức tư duy, giúp con người làm việc khoa học, sáng tạo
Như vậy BĐTD là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả:
+ Mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng
+ Bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng
Nói một cách khác, BĐTD chính là sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng với nhau khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên phạm vi rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, màu sắc,… gây ra những kích thích rất mạnh mẽ trên hệ thống bộ não giúp việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi
để vỏ não phân tích, xử lý, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu Đây là một bản đồ mở, nó phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
1.2.3 Một số phần mềm ứng dụng vào việc thiết kế “bản đồ tư duy” trong dạy học ở tiểu học
1.2.3.1 Phần mềm iMindMap 5.0
Trang 18Phần mềm iMindmap 5.0 của TonyBuzan là phần mềm thiết kế bản đồ tư duy được phát triển bởi ThinkBuzan Ltd Phần mềm iMindMap chạy trên Windows, Mac OS X và GNU / Linux Phần mềm này cho phép tạo ra BĐTD bằng cách sử dụng con chuột, bàn phím, bảng tương tác hoặc máy tính bảng
* Giao diện làm việc
1.2.3.2 Phần mềm Edraw Mind Map 7.8
Edraw Mind Map 7.8 là một phần mềm lập sơ đồ tư duy hoàn hảo giúp người dùng xây dựng, chia sẻ, sao lưu, in ấn sơ đồ tư duy Ngoài ra phần mềm Edraw Mind Map 7.8 còn có thể lập một bản đồ tư duy, phác thảo suy nghĩ, phân tích SWOT hay lập một kế hoạch tư duy
Các điểm mạnh của Edraw Mind Map: Đơn giản giúp cho người dùng dễ dàng sử dụng; cung cấp nhiều sơ đồ, ví dụ, hiệu ứng, chủ đề có sẵn khác nhau;
có nhiều tuỳ chọn, sơ đồ khái niệm, bản đồ,…Có thể tuỳ chỉnh nền, viền, màu sắc, font, …Có nhiều trang Mind Map, nhiều liên kết; hỗ trợ nhiều định dạng
in khác nhau
* Giao diện làm việc
Trang 191.2.3.3 Phần mềm iMindmap 8.0.1 full crack
Phần mềm iMindmap 8.0.1 một công cụ tuyệt vời giúp bạn phác họa ý tưởng của bạn ra sản phẩm thực sự, nó giúp bạn nhanh chóng thực hiện ý tưởng của mình Từ ý tưởng đến hiện thực với iMindmap chỉ cần 3 bước đơn giản là bạn có thể thực hiện nó Đưa các ý tưởng của bạn vào khu bản đồ tư duy, phát triển và tổ chức chúng trong iMindMap của trực quan iMindMap xem và cuối cùng, đặt chúng vào công cụ quản lý công việc trực quan, DropTask Đó là một quá trình đổi mới hoàn toàn cho các nhà tư tưởng sáng tạo những người muốn kết quả, chứ không phải hệ thống quản lý dự án phức tạp và cồng kềnh
* Giao diện làm việc
Trang 20
1.2.3.4 Phần mềm Buzan's iMindMap V4
IMindMapV4 là một phần mềm chủ yếu dành cho doanh nghiệp và cá nhân dùng để hoạch định ý tưởng và giúp sắp xếp các công việc một cách thông minh Giống như Mindjet MindManager Pro, iMindMapV4 là một phần mềm dùng để tạo các sơ đồ tư duy (MindMap) Điều đặc biệt ở đây chính là: iMindMapV4 được đầu tư xây dựng và phát triển bởi chính TonyBuzan, người rất nổi tiếng với những sách viết về MindMaps Có thể nói iMindMapV4 là một chương trình rất được mong đợi của giới tin học, bởi sự quy mô, giao diện đẹp
và tính khó crack của nó! Đây là phần mềm vẽ Mindmap đẹp nhất theo ý kiến chủ quan của mình, có lẽ cũng là phần mềm vẽ MindMap đỉnh nhất
Phần mềm Buzan's iMindMapV4 là một phần mềm thương mại Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd thực hiện Phần mềm này rất thông dụng
* Giao diện làm việc
Trang 211.3 Nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4, 5 với việc sử dụng BĐTD 1.3.1 Cấu trúc dàn ý các kiểu bài văn miêu tả lớp 4, 5
Trước khi lập dàn ý cho bài TLV, HS cần nắm chắc bố cục của một bài văn miêu tả Một bài TLV miêu tả trong chương trình tiểu học gồm có 3 phần:
mở bài, thân bài, kết bài Riêng phần mở bài và kết bài HS có thể lựa chọn mở bài trực tiếp hoặc mở bài gián tiếp; kết bài mở rộng hoặc kết bài không mở rộng Chỉ khi nào nắm chắc được bố cục của bài TLV thì bài viết mới đi đúng hướng, mạch lạc, logic …
Bố cục của bài văn miêu tả đồ vật:
Trang 22- Tả chi tiết và tả những đặc điểm của đồ vật: chất liệu, hình khối, đường nét, màu sắc, âm thanh khi sử dụng,
* Kết bài:
- Nêu một số lợi ích của đồ vật
- Cách bảo quản của em để đồ vật dùng được bền đẹp
Bố cục của bài văn miêu tả cây cối:
* Mở bài:
Giới thiệu cây em tả: Do ai trồng? Trồng từ bao giờ? Em nhìn thấy cây vào thời điểm nào?
* Thân bài:
- Tả bao quát của cây
- Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kỳ phát triển của cây
+ Tả chi tiết từng bộ phận: rễ, thân, lá, hoa, quả,
(Tả thêm những hoạt động của con người, con vật tác động đến cây, làm cho cây thêm đẹp)
* Kết bài:
- Nêu ích lợi của cây
- Cách chăm sóc, bảo vệ cây
Bố cục của bài văn miêu tả con vật:
Trang 23- Hoạt động hằng ngày
- Nêu nhận xét cảm nghĩ của người viết về cảnh đã tả
- Thể hiện hành động của người viết về cảnh được tả
Bố cục của bài văn tả người:
- Tả bao quát về tuổi tác, tầm vóc, dáng điệu, cách ăn mặc
- Tả chi tiết về khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng, làn da,…)
Trang 241.3.2 Các đề bài và bài tập vận dụng BĐTD lập dàn ý bài văn miêu tả lớp 4, 5
Lớp 4:
Kiểu bài văn miêu tả đồ vật:
* Bài: Luyện tập miêu tả đồ vật (SGK – TV4, tập 1 - trang 150)
+ Bài tập 2: Lập dàn ý tả chiếc áo em mặc đến lớp hôm nay
* Bài: Quan sát đồ vật (SGK – TV4, tập 1 - trang 153)
+ Đề bài: Dựa theo kết quả quan sát của em, hãy lập một dàn ý tả đồ chơi
mà em đã chọn
Kiểu bài văn miêu tả cây cối:
* Bài: Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối (SGK – TV4, tập 2 - trang 30)
+ Bài tập 2: Lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen thuộc theo một trong hai cách đã học:
a) Tả lần lượt từng bộ phận của cây
b) Tả lần lượt từng thời kì phát triển của cây
* Bài: Luyện tập miêu tả cây cối (SGK – TV4, tập 2 - trang 83)
+ Đề bài: Tả một cây có bóng mát (hoặc cây ăn quả, cây hoa) mà em yêu thích
Kiểu bài văn miêu tả con vật:
* Bài: Cấu tạo bài văn miêu tả con vật (SGK – TV4, tập 2 - trang 112)
+ Đề bài: Lập dàn ý chi tiết tả một con vật nuôi trong nhà (gà, chim, chó, lợn, trâu, bò, )
Lớp 5:
Kiểu bài văn tả cảnh:
* Bài: Luyện tập tả cảnh (SGK – TV5, tập 1 - trang 14)
+ Bài tập 2: Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)
* Bài: Luyện tập tả cảnh (SGK – TV5, tập 1 - trang 31)
Trang 25+ Bài tập 2: Từ những điều em đã quan sát được, hãy lập dàn ý bài văn miêu tả một cơn mưa
* Bài: Luyện tập tả cảnh (SGK – TV5, tập 1 - trang 43)
+ Bài tập 1: Quan sát trường em Từ những điều đã quan sát được, hãy lập dàn ý cho bài văn miêu tả ngôi trường
* Bài: Luyện tập tả cảnh (SGK – TV5, tập 1 - trang 62)
+ Bài tập 2: Dựa vào kết quả quan sát của mình, em hãy lập dàn ý bài văn miêu tả một cảnh sông nước (một vùng biển, một dòng sông, một con suối hay một hồ nước)
* Bài: Luyện tập tả cảnh (SGK – TV5, tập 1 - trang 81)
+ Bài tập 1: Lập dàn ý tả một cảnh đẹp ở địa phương em
Kiểu bài văn tả người:
* Bài: Cấu tạo của bài văn tả người (SGK – TV5, tập 1 - trang 119)
+ Đề bài: Lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả một người trong gia đình em (chú ý những nét nổi bật về ngoại hình, tính tình và hoạt động của người đó)
* Bài: Luyện tập tả người (Tả ngoại hình); (SGK – TV5, tập 1 - trang 130)
+ Bài tập 2: Lập dàn ý cho bài văn tả một người mà em thường gặp (thầy giáo, cô giáo, chú công an, người hàng xóm, )
* Bài: Luyện tập tả người (Tả hoạt động); (SGK – TV5, tập 1 - trang 152)
+ Bài tập 1: Lập dàn ý cho bài văn tả hoạt động của một bạn nhỏ hoặc một em bé ở tuổi tập đi, tập nói
Ôn tập các kiểu bài văn miêu tả:
* Bài: Ôn tập về tả đồ vật (SGK – TV5, tập 2 - trang 66)
+ Bài tập 1: Lập dàn ý miêu tả một trong các đồ vật sau:
a) Quyển sách Tiếng Việt 5, tập hai
b) Cái đồng hồ báo thức
c) Một đồ vật trong nhà mà em yêu thích
d) Một đồ vật hoặc món quà có ý nghĩa sâu sắc với em
Trang 26e) Một đồ vật trong viện bảo tàng hoặc trong nhà truyền thống mà em đã
có dịp quan sát
* Bài: Ôn tập về tả cảnh (SGK – TV5, tập 2 - trang 131)
+ Bài tập 1: Liệt kê những bài văn tả cảnh mà em đã học trong học kì I Trình bày dàn ý của một trong các bài văn đó
* Bài: Ôn tập về tả cảnh (SGK – TV5, tập 2 - trang 134)
+ Bài tập 1: Lập dàn ý miêu tả một trong các cảnh sau:
a) Một ngày mới bắt đầu ở quê em
b) Một đêm trăng đẹp
c) Trường em trước buổi học
d) Một khu vui chơi, giải trí mà em thích
* Bài: Ôn tập về tả người (SGK – TV5, tập 2 - trang 150)
+ Bài tập 1: Lập dàn ý chi tiết cho một trong các đề bài sau:
a) Tả cô giáo (hoặc thầy giáo) đã từng dạy dỗ em và để lại cho em nhiều
1.3.3 Khả năng vận dụng BĐTD vào lập dàn ý bài văn miêu tả lớp 4, 5
Vận dụng BĐTD vào lập dàn ý bài văn miêu tả lớp 4, 5 sẽ mang lại hiệu quả cao, phát huy tính tích cực của HS BĐTD phù hợp với tâm lý HS, đơn giản,
dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lý thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức Nhờ BĐTD, HS sẽ nắm vững được cấu trúc của dàn ý bài văn miêu tả, giúp HS hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”
Sử dụng BĐTD trong khâu lập dàn ý là cách dạy mới, phá bỏ cách dạy khuôn mẫu, gò vào dàn ý chung của GV Mặt khác, góp phần kích thích hứng thú học tập, nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung Sử dụng BĐTD trong giờ học làm nổi bật tính “chủ
Trang 27động” của HS và “chủ đạo” của GV, cụ thể là HS là người chủ động tự đặt ra câu hỏi cho bài làm, tự do tìm ý và mở rộng ý, GV chỉ là người hướng dẫn và hỗ trợ
Về kĩ năng tư duy và năng lực sáng tạo của HS khi học với BĐTD giúp HS bước đầu rèn luyện năng lực tư duy thông qua các hoạt động học tập sau:
+ Kĩ năng phân tích: phân tích đề, đọc và phân tích ngữ liệu
+ Kĩ năng khái quát hoá: khái quát ý của các bài ngữ liệu mẫu để xác định các từ khoá của nhánh chính, nhánh phụ Chẳng hạn, các em biết dùng những từ ngữ như “Tả bao quát từ xa, tả chi tiết khi lại gần” để xác định vị trí của cảnh; hay các từ ngữ “Kỉ niệm với cánh đồng, lợi ích của cánh đồng” để nói về tình cảm của các em với cánh đồng
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự
do chọn màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, ), đường nét đậm nhạt, thẳng cong, Trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý và trân trọng “Tác phẩm” của mình hơn
Vận dụng BĐTD trong tìm ý và lập dàn ý khi làm văn miêu tả không chỉ tạo tiền đề tốt cho khâu viết bài mà khả năng liên tưởng, tưởng tượng của các
em cũng được rèn luyện và phát triển BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì
Việc ứng dụng bản đồ tư duy vào khâu lập dàn ý cho bài văn miêu tả là rất cần thiết phù hợp với yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học văn miêu tả Điều này thể hiện rõ qua các bước xây dựng một BĐTD, từ khâu xác định chủ
Trang 28đề chính, sau đó mở rộng, triển khai mạng lưới ý tưởng đến diễn đạt thành lời Quá trình này cũng chú trọng đến yêu cầu về tính mạch lạc, logic, đối tượng miêu tả phong phú, sinh động nhưng rất gần gũi với đời sống hằng ngày của các
em Chẳng hạn: tả chiếc áo em, tả vật nuôi trong nhà, tả một buổi trong ngày, tả một hiện tượng tự nhiên, tả trường học, tả cảnh địa phương em; hay tả thầy cô giáo, người thân trong gia đình, người bạn thân… Thông qua các bài học, HS được trang bị những kiến thức và kĩ năng cần thiết để viết được một bài tả đồ vật, tả con vật, văn tả cảnh, bao gồm: cấu trúc của bài văn; kĩ năng quan sát, lập dàn ý; viết đoạn văn trong bài văn miêu tả, liên kết đoạn văn và hoàn chỉnh bài văn
Với sự đa dạng của các kiểu bài trong chương trình TLV lớp 4, 5, việc vận dụng BĐTD vào các nội dung dạy học không nhất thiết phải áp dụng cho tất
cả các bài Có bài với sự hỗ trợ của BĐTD sẽ giúp GV thuận lợi hơn trong việc truyền thụ kiến thức cho HS và HS sẽ phát huy được tối đa khả năng lĩnh hội, thu nhận những thông tin đó Tuy nhiên, có bài không nhất thiết cần đến BĐTD
mà GV vẫn có thể truyền đạt tốt kiến thức đến HS Nói như thế để thấy rằng việc vận dụng BĐTD vào các nội dung TLV nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đòi hỏi phải có sự linh hoạt, khéo léo và phù hợp, tránh kiểu vận dụng máy móc, rập khuôn theo những gì sẵn có, …
Theo chúng tôi, một bài học được coi là phù hợp với sự vận dụng của BĐTD thì phải có những đặc điểm sau:
+ Cần sự mô tả trực quan, sinh động
+ Nhiều vấn đề có tính chất liệt kê, phân nhánh
+ Các mạch kiến thức của bài có mối quan hệ với nhau
1.4 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 4, 5 đối với việc sử dụng BĐTD
Để lập dàn ý bài văn miêu tả lớp 4, 5 có hiệu quả theo đúng tinh thần dạy học tích cực, cần phải xem xét đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của HS Trên cơ sở đó biết được khả năng nhận thức, mức độ tìm tòi, sáng tạo của HS
Trang 29- Tri giác: “Đối với học sinh tiểu học, tri giác góp phần quan trọng vào việc thu nhận kiến thức Tuy nhiên, ở học sinh tiểu học tri giác còn chung chung, mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và không chỉ định” Ở lớp 4, 5 các
em đã biết đi vào bản chất sự vật, biết phân tích và suy luận mỗi khi tri giác Các
em đã nắm được mục đích quan sát, phát hiện được kết quả quan sát một cách gãy gọn, rõ ràng Sau khi quan sát các chi tiết riêng lẻ, các em đã có năng lực tổng hợp các chi tiết đó Tri giác của các em rất nhạy cảm và đượm màu sắc cảm xúc Các em chỉ thích và chú ý quan sát đến những gì rực rỡ, động đậy, đập vào mắt các em và các em thường quên mục đích quan sát
Từ những đặc điểm trên cho thấy, khi thiết kế bài dạy lập dàn ý có sử dụng phương pháp bản đồ tư duy cần chú ý làm sao cho HS nắm được bản chất cốt lõi của vấn đề, biết tổng hợp các nội dung kiến thức một cách khái quát nhất Và việc vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào lập dàn ý bài văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 sẽ phát huy tác dụng nếu giáo viên nắm được đặc điểm tri giác của HS một cách tốt nhất
- Khả năng chú ý: Sự chú ý của học sinh có những đặc điểm sau:
+ Sức tập trung chú ý phụ thuộc vào khối lượng vật thể được chú ý của HS Cùng một lúc các em chưa chú ý đến nhiều đối tượng Do vậy, trong giờ lập dàn
ý văn miêu tả có vận dụng phương pháp bản đồ tư duy không nên đưa ra nhiều hoạt động cùng một lúc mà cần cho HS tiến hành từng hoạt động, đối tượng riêng lẻ, với từng nhiệm vụ cụ thể
+ Sức tập trung và độ bền vững về chú ý của các em phụ thuộc vào đối tượng chú ý, mức độ hoạt động với sự vật, cho nên các phương tiện như tranh ảnh phải rõ ràng, mức độ không quá phức tạp và trong đó chủ yếu chỉ thể hiện các
sự vật hiện tượng cần thiết nhất của bài học Giáo viên cũng cần tạo điều kiện tối
đa cho các em làm việc với chúng
+ Sức tập trung chú ý của các em chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định Học sinh lớp 4, 5 khoảng 30 - 35 phút và sự chú ý của HS đối với việc thực hiện những hoạt động bên ngoài thường bền vững hơn sự chú ý đối với việc thực
Trang 30hiện các hành động trí tuệ Từ hai đặc điểm này, chúng ta thấy rằng trong giờ học lập dàn ý giáo viên cần có hình thức và phương pháp dạy học, đồng thời cần tổ chức những bước chuyển tiếp thích hợp giữa hành động bên ngoài và hành động trí tuệ bên trong, nhằm làm cho HS không mệt mỏi và gây được hứng thú học tập cho các em Đồng thời giáo viên cũng biết tạo điều kiện thích hợp, thời gian hợp lí để HS có thể vận dụng bản đồ tư duy vào trong việc học của mình, cần tạo một không gian thoải mái, không gây căng thẳng cho các em để các em
tự do sáng tạo dựa trên kiến thức đã có
- Trí nhớ: Học sinh tiểu học nói chung có trí nhớ tốt Các em có khả năng nhớ được nhiều điều, thâm chí cả những điều các em không hiểu Học sinh những lớp cuối (lớp 4, 5) vẫn thường có khuynh hướng học thuộc một cách máy móc theo kiểu “học vẹt” Chính vì thế mà các em cảm thấy khó khăn khi phải vận dụng những điều mình nhớ vào trong học tập cũng như trong cuộc sống Các em nhớ các sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Càng lên lớp trên, trí nhớ có chủ định càng phát triển, năng lực ghi nhớ cũng tăng dần Vì vậy, để giúp HS nắm vững hơn, hiểu sâu hơn bản chất vấn đề và không bỏ sót bất kì ý tưởng nào thì “bản đồ tư duy”
là phương pháp tối ưu nhất
- Tư duy: Theo các nhà tâm lí học thì tư duy của trẻ tiểu học chuyển dần từ
cụ thể trực quan sang tính trừu tượng khách quan Nhà tâm lí học Tpiagie người
Thụy Sỹ cho rằng: “Tư duy của trẻ mười tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những
thao tác cụ thể, dựa trên cơ sở có diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan” [5]
Vì vậy, trong các giờ học lập dàn ý cần tổ chức cho các em tham gia, thực hiện các thao tác: Phân tích, tổng hợp, thuyết trình “bản đồ tư duy” để phát triển
tư duy cho các em
Hoạt động phân tích tổng hợp ở lứa tuổi này rất sơ đẳng, đang trong giai đoạn phân tích trực quan - hành động khi tri giác đối tượng Lên lớp 4, 5 trẻ có thể phân tích đối tượng Khi phân tích đối tượng đã có thể thoát khỏi những ảnh
Trang 31hưởng chủ quan của những dấu hiệu trực tiếp và hoàn toàn dựa vào những dấu hiệu khái niệm dễ hiểu, các em phân tích trong óc một cách tương đối tốt Mặc dù vậy, để có thể hiểu hết toàn bộ vấn đề, các dấu hiệu của khái niệm, các kĩ năng lập dàn ý văn miêu tả thì vận dụng bản đồ tư duy sẽ đem lại hiệu quả tôt nhất
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú so với trẻ mầm non, nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Đặc biệt học sinh ở cuối cấp tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Vì vậy, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các
em bằng cách biến những kiến thức “khô khan” bằng những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện
Hứng thú học tập của HS khi sử dụng BĐTD phụ thuộc vào các yếu tố: bản thân HS, GV, cơ sở vật chất Dạy học có sử dụng BĐTD sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động, thu hút được sự chú ý của HS Vì đây là hình thức học tập có tính mới lạ lại dễ thực hiện nên được các em tiếp nhận nhanh chóng Giờ học trở nên sôi nổi, các em được sáng tạo, được phát huy kỹ năng hội họa, trí tưởng tượng khiến cho các em có hứng thú học và chờ đợi tới giờ để học Nhờ thích thú, có hứng thú học nên HS phát huy được tính tích cực của mình, các em hăng hái tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học, tạo ra hiệu quả học tập cao Ứng dụng BĐTD vào dạy học sẽ tạo cho HS cảm thấy thoải mái trong giờ học, giảm bớt gánh nặng lo ngại học bài (học vẹt), giảm áp lực về học tập cho HS Bước đầu được vẽ BĐTD theo ý mình, các em cảm thấy mới mẻ, thích thú và làm tăng hứng thú học tập Với những hình ảnh sinh động, hấp
Trang 32dẫn được thiết kế theo trí tưởng tượng của mình sẽ tạo cho HS sự say mê, yêu thích môn học, kích thích được sự sáng tạo của HS
Trong quá trình dạy học bằng BĐTD, GV thiết kế trò chơi (thi đua vẽ BĐTD nhanh nhất, đẹp nhất) lồng vào tiết học giúp HS vừa học vừa chơi, tiếp thu kiến thức dễ dàng, nhanh chóng, mang lại kết quả học tập tốt hơn và HS cũng thích thú hơn Ngoài ra, với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học những hình ảnh mới lạ, có màu sắc bắt mắt, kích thích tính tò mò, muốn khám phá vì thế tính tích cực tìm hiểu của HS sẽ được phát huy Giai đoạn này, ở các
em tư duy trực quan sinh động phát triển hơn cả và việc GV sử dụng các BĐTD
có hình ảnh sẽ giúp cho HS nắm vấn đề dễ dàng hơn Cũng chính từ việc hiểu, nắm được những vấn đề cơ bản mà HS tích cực tư duy, phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh từ những vấn đề cơ bản
Như vậy, nếu áp dụng được BĐTD vào trong dạy học sẽ mang lại những hiệu quả to lớn trong dạy và học, GV có phương pháp dạy mới, có sự sáng tạo
và khoa học hơn khi trình bày bài giảng; HS có hứng thú và tiếp thu bài nhanh hơn, có điều kiện để phát triển tư duy
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy bằng BĐTD phân môn Tập làm văn nói chung và lập dàn ý bài văn miêu tả nói riêng phát huy được tính tích cực, sáng tạo cho HS, giúp cho các em giải quyết được những khó khăn trong việc tìm hiểu phân tích đề bài, lập dàn ý bài văn miêu tả Người GV không còn giảng giải một cách say sưa, truyền thụ kiến thức một chiều nữa mà chuyển sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm Với tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học: bản tính ham học hỏi, thích thú với việc được sáng tạo, được vừa chơi vừa học cùng với sự nhiệt tình tổ chức hướng dẫn của GV, dạy học bằng BĐTD sẽ thành công tốt đẹp trong giờ dạy TLV ở tiểu học
Trang 33Chúng tôi đã phân tích và khái quát về BĐTD và việc sử dụng BĐTD trong dạy học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng; Đặc điểm nhận thức -hứng thú học tập của học sinh khi sử dụng BĐTD; Khả năng vận dụng BĐTD vào các nội dung dạy học TLV miêu tả ở lớp 4, 5 Chúng tôi đã khái quát tương đối về định nghĩa và sự cần thiết của BĐTD đối với việc dạy học TLV ở Tiểu học Đặc biệt là việc sử dụng BĐTD trong lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 nhưng trên thực tế hiện nay ít được GV sử dụng
Những vấn đề về cơ sở lí luận mà chúng tôi khái quát được trong chương 1 chính là cơ sở khoa học cho việc đề xuất cách thức thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy trong rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương sau
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý
BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát vấn đề này nhằm làm căn cứ thực tiễn cho việc đưa ra quy trình thiết kế, sử dụng bản đồ tư duy và tổ chức cho HS sử dụng BĐTD trong rèn luyện kĩ năng lập dàn ý bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng nhận thức của GV về sử dụng BĐTD trong dạy học TLV
- Thực trạng sử dụng BĐTD trong dạy học TLV miêu tả lớp 4, 5
- Thực trạng về chất lượng học TLV của HS lớp 4, 5
2.1.3 Địa bàn nghiên cứu, đối tượng khảo sát
GV và HS các trường Tiểu học trong huyện Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Dùng phiếu thăm dò, thu thập ý kiến của một số GV và HS lớp 4, 5
- Dự giờ một số tiết dạy lập dàn ý bài văn miêu tả của GV lớp 4, 5
- Thu thập nhận xét từ phiếu đánh giá tiết dạy của CBQL trường học, thu thập thông tin từ kết quả làm bài của HS trong vở
- Phỏng vấn một số GV và HS lớp 4, 5 một số trường Tiểu học
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng
Chúng tôi đã khảo sát 38 phiếu thăm dò GV lớp 4, 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh: TH An Thành, TH An Phú Khương, TH Đặng Văn Trước, TH Ngô Văn Tô Ngoài việc lấy ý kiến của GV qua phiếu thăm dò, chúng tôi còn tiến hành dự giờ một số tiết dạy lập dàn ý bài văn miêu tả của GV lớp 4, 5 (4 tiết), tập hợp các nhận xét ở phiếu đánh giá tiết dạy của các thanh tra viên đã trực tiếp dự giờ tiết dạy của GV
Trang 35Trong quá trình dự giờ GV, chúng tôi đã quan sát hoạt động học của HS, xem vở TLV của các em, đồng thời trực tiếp trò chuyện - phỏng vấn nhanh một
số GV ở các lớp mà chúng tôi dự giờ để tìm hiểu về kết quả học tập phân môn LTV của các em và kĩ năng sử dụng vốn từ trong học tập và trong giao tiếp của các em
Tổng hợp số liệu khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng, chúng tôi thu được kết quả sau:
2.2.1 Thực trạng của GV về sử dụng BĐTD trong dạy học TLV miêu
Bảng 2.1 Mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng BĐTD, khái
niệm và đặc điểm của văn miêu tả
Trang 36Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Nêu đầy
đủ
Nêu chưa đầy đủ
Nêu sai
- Qua bảng kết quả điều tra chúng tôi thấy: Số GV nắm được đầy đủ khái niệm và đặc điểm của văn miêu tả rất ít (chỉ có 39,5% GV nắm được tốt khái niệm và 44,7% GV nêu chưa đầy đủ) Số GV còn lại chưa nắm được khái niệm
và đặc điểm văn miêu tả Điều này khiến cho việc đánh giá một bài văn miêu tả của học sinh chính xác chưa cao Thường khi chấm một bài văn miêu tả, các giáo viên chỉ chú trọng đến ý, độ dài của bài văn, tình cảm của HS thể hiện trong bài Có nhiều đoạn văn miêu tả được viết thiên về kể chuyện, câu đoạn rời rạc, chứa đựng những câu sáo rỗng, tình cảm giả tạo vẫn được thầy cô cho điểm cao Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt đồng bộ, mất đi tính kế
Trang 37thừa trong việc giảng dạy văn miêu tả ở hai khối lớp 4, 5 Việc nắm trình tự quan sát và lập dàn ý cho bài văn còn hạn chế thì việc hướng dẫn học sinh làm được một bài văn tốt còn rất sơ sài
- Về nhận biết các đặc điểm của văn miêu tả, phần lớn GV đã hiểu và nêu được một số đặc điểm của văn miêu tả nhưng chưa đầy đủ Số GV nêu không đủ hoặc nêu sai chiếm tỷ lệ tương đối nhiều Qua phiếu trả lời của GV, chúng tôi nhận thấy rất nhiều GV hiểu chưa thấu đáo các đặc điểm của văn miêu tả
- Cách dạy của một số GV còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, sách giáo viên hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn HS
- Nhiều GV chưa quan tâm đến việc rèn kĩ năng quan sát, kĩ năng lập dàn
ý, kĩ năng sắp xếp các ý thành đoạn văn
- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mới phương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đề trong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảng dạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế
2.2.1.2 Thực trạng khả năng hướng dẫn HS sử dụng BĐTD trong thiết kế dàn ý bài văn miêu tả
Qua nắm bắt tình hình và trao đổi với đồng nghiệp về việc giảng dạy lập dàn ý bài văn miêu tả có liên quan đến BĐTD bản thân tôi nhận thấy còn nhiều bất cập như sau:
a Về phía giáo viên:
Khi giảng dạy một tiết có liên quan đến BĐTD rất đơn giản, chỉ cần lấy sẵn một tiết nào đó có ở mạng Internet và chỉnh sửa đôi chút là được và trong giáo án thì không thể hiện rõ từng bước tiến hành hướng dẫn HS thiết kế sử dụng BĐTD như thế nào Trong giờ dạy sử dụng BĐTD giáo viên chưa hướng dẫn cụ thể cho học sinh cách thiết kế BĐTD trên giấy, cách sắp xếp các ý tưởng
và sử dụng BĐTD để nắm vững cấu trúc của dàn ý bài văn miêu tả Bên cạnh đó một số giáo viên chưa thật sự chú trọng và còn tẻ nhạt với phương pháp dạy học này
Trang 38Mặt khác, một số giáo viên còn ngần ngại sử dụng bản đồ tư duy trong lập dàn ý Vì chưa xác định rõ quy trình dạy học và vẽ bản đồ tư duy, nên khi bắt tay vào vẽ thì cứng nhắc, rập khuôn theo mẫu, trong đó các nhánh phải cong, lúc ngoặc sang trái, lúc ngoặc sang phải, chữ viết lúc xuôi, lúc ngược, khó đọc dẫn đến thiếu tính sư phạm; đồng thời khi sử dụng phần mềm vẽ bản đồ tư duy iMindMap lại gặp nhiều trở ngại nhất là cấu hình máy vi tính phải đủ mạnh Trong dạy học tập làm văn, khâu hướng dẫn HS lập dàn ý là khâu quan trọng
Để quy trình sử dụng bản đồ tư duy có tính khả thi và hiệu quả, GV cần chỉ dẫn
HS theo đúng trình tự, đúng yêu cầu để không chỉ phát triển khả năng tìm ý, triển khai ý trong môn học mà còn phát huy khả năng sáng tạo, tưởng tượng cho các em
b Về phía học sinh:
Học sinh chưa có thói quen chuẩn bị đồ dùng học tập như giấy A4, bút màu, bút chì, tẩy hoặc bảng phụ trong tiết học lập dàn ý mà chỉ dùng cho trong tiết học Mĩ thuật Mặt khác, HS chưa hiểu rõ cách thể hiện nội dung, chưa xác định được chủ đề trung tâm, các nhánh chính, nhánh phụ như thế nào trong việc thiết kế lập dàn ý và sử dụng bản đồ tư duy nhằm mục đích gì
Qua thống kê kết quả khảo sát GV các trường về thực trạng ứng dụng CNTT, cụ thể là sử dụng BĐTD trong dạy học TLV miêu tả, chúng tôi thu được các kết quả:
Bảng 2.2 Mức độ hiểu biết của thầy cô về BĐTD
Mức độ Số lượng Tỉ lệ (%)
Trang 39
Qua bảng khảo sát mức độ hiểu biết của thầy cô về BĐTD: số GV biết rất
rõ chiếm tỉ lệ 21,1%, do GV có trình độ tin học khá vững, họ thường xuyên ứng dụng CNTT trong bài giảng, số GV ít ứng dụng CNTT trong giảng dạy nên biết được vài điều về BĐTD chiếm tới 42,1%, còn lại hầu hết GV kém về CNTT nên mức độ hiểu biết chiếm 36,8%
Về mức độ sử dụng BĐTD vào dạy học TLV miêu tả, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.3 Mức độ sử dụng BĐTD vào dạy học TLV miêu tả
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa sử dụng
Tỉ lệ (%) 18,4 23,7 57,9
Nhìn vào bảng số liệu, chúng tôi rút ra được một số ý sau:
- Không ít thầy cô có sự hiểu biết, quan tâm về BĐTD, thậm chí đã vận dụng BĐTD vào dạy học Tuy nhiên, những GV từng biết về công cụ này cũng đều khẳng định, việc ứng dụng BĐTD trong dạy học gặp không ít khó khăn, đặc biệt là tốn nhiều thời gian, công sức để xây dựng BĐTD, mà nguyên nhân cũng xuất phát từ việc nhiều GV không thành thạo về BĐTD, từ những hiểu biết chung nhất cho đến kĩ thuật thiết kế (lựa chọn các bài học có khả năng ứng dụng hay các từ khoá, hình ảnh Mặc khác, khi tổ chức dạy học bằng BĐTD, do HS tiểu học chưa biết cách sử dụng BĐTD nên việc tiến hành cũng gặp một số hạn chế
- Tuy thời gian qua, hầu hết các GV đều được tập huấn và tham dự các chuyên đề về việc vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy tất cả các môn nhưng thực tế rất nhiều GV chưa sử dụng BĐTD trong dạy học TLV miêu
tả ở lớp 4, 5
- Một số GV vận dụng các kĩ thuật dạy học chưa phù hợp với nội dung bài học, điều kiện dạy học và trình độ HS
Trang 40- Việc sử dụng BĐTD vào dạy học theo hướng đổi mới và tích cực của một số GV còn máy móc, lúng túng Ngôn ngữ của một số GV còn hạn chế, diễn đạt chưa rõ ràng, xử lý tình huống sư phạm còn vụng về, bao quát lớp chưa toàn diện nên chưa phát huy được hiệu quả của BĐTD
2.2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của GV thường gặp khi vận dụng
BĐTD vào dạy học TLV miêu tả ở lớp 4, 5
a Thuận lợi:
* Đối với GV:
Nội dung, chương trình SGK được biên soạn theo quan điểm đổi mới, chú trọng việc rèn kỹ năng cho HS, kiến thức đơn giản, nhìn chung phù hợp với chuẩn kiến thức và kỹ năng, có nhiều thể loại gồm nhiều dạng khác nhau phong phú Mỗi đề bài được thể hiện dưới dạng mở rộng phù hợp cho HS từng vùng miền khác nhau Đây là điều kiện thuận lợi đầu tiên cho GV trong việc lựa chọn
và vận dụng linh hoạt các kỹ thuật dạy học, các hình thức tổ chức dạy học Đặc biệt là gợi ý cho GV cách tổ chức các hoạt động học tập tương ứng với từng kiểu bài cụ thể
CSVC trường lớp ngày càng khang trang hơn, thiết bị dạy học phong phú, hiện đại, CBQL luôn tạo mọi điều kiện và khuyến khích GV tích cực phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS bằng cách soạn giáo án điện tử, ứng dụng các phần mềm trong bài giảng, sử dụng máy chiếu Đây là điều kiện thuận lợi hỗ trợ
GV rất nhiều trong việc vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học các môn học
Về chuyên môn đã được các giáo viên thực hiện nghiêm túc hơn với một tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm trong giảng dạy Chất lượng giờ lên lớp, chất lượng đánh giá nhận xét bài làm của HS đã có những tiến bộ nhất định Việc dạy học theo lối không đúng với đặc trưng bộ môn, một trong những nhược điểm nặng nề đã giảm đi một cách đáng kể Đặc biệt, một bộ phận giáo viên, nhất là những người vừa có trình độ về chuyên môn và trình độ tin học, vừa có tâm huyết với nghề đã có ý thức tìm tòi, thể hiện phương pháp giảng dạy mới, và ít