Mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã là phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Minh Duệ
VINH, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Trước hết chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo và Khoa Sau đại học của nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy PGS TS GVCC Đoàn Minh Duệ, người thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh
khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của các thầy
cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 7 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Chính Vân Linh
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa 1
Lời cảm ơn 2
Mục lục 3
Các ký hiệu viết tắt trong luận văn 4
A MỞ ĐẦU 5
B NỘI DUNG 11
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 11
1.1 Một số khái niệm về dân chủ, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 11
1.2 Một số tiêu chí hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 22
1.3 Tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nước ta 26
Chương 2: Thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 36
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 36
2.2 Tình hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 45
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 74
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 74
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay 82
C KẾT LUẬN .93
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .95
Trang 4CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
UBMTQVN Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu một bước chuyển vô cùng trọng đại của dân tộc ta Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp; tình hình đất nước có nhiều thay đổi Bối cảnh đó có cả thuận lợi, thời cơ, khó khăn và thách thức đối với nước ta Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN (xã hội chủ nghĩa), dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ XHCN mà còn là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ XHCN, Đảng ta đưa ra phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Để phương châm đó trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, ngày 18/02/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDC (quy chế dân chủ)
ở cơ sở và đã xác định: “Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới” [3, tr.2] Tiếp đó, ngày 11/05/1998, để cụ thể
hoá Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29-NĐ/CP về ban hành
Trang 6quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong
phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Qua quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, thực
tế đã cho thấy kết quả bước đầu là rất quan trọng Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn
bị vi phạm, tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn tồn tại gây những hậu quả nghiêm trọng Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chậm đi vào cuộc sống
Do vậy, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tiếp tục nêu rõ: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức; xây dựng luật trưng cầu ý dân” [14, tr.134]
Để không ngừng tăng cường hiệu quả của việc thực hiện QCDC ở cơ sở
và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Vấn đề dân chủ luôn thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong nước và trên thế giới Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở trong hệ thống chính trị đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản, quyết định của Chính phủ và đã có nhiều công trình nghiên cứu (luận văn, luận
án, bài viết trên các tạp chí, các cuốn sách…) bàn về đề tài này ở những góc
độ, khía cạnh khác nhau và được chia nhiều nhóm vấn đề
Trang 7- Nhóm thứ nhất, những công trình đã được nghiên cứu sâu về vấn đề
dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở đã được đăng thành sách và các bài viết
về lĩnh vực này trên các báo, tạp chí:
Phan Xuân Sơn (Chủ biên, 2003) các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội TS Lương Gia Ban (Chủ biên, 2003) Dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Bộ Nội vụ (năm 2001), Hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Vũ Văn Hiền (2004), Quy chế dân chủ ở cơ sở - vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thu Cúc (2002), Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tình hình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; PGS TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên) (2000), Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - một số vấn đề lý luận thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Tiến Phồn (2001), Dân chủ và tập trung dân chủ -
lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Tạp chí: Đồng chí Đỗ Mười (1998) “Phát huy quyền làm chủ của nhân
dân ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản số (20); Trương Quang Được (2002) “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số (12); Trần Bạch Đằng (12/2003), "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số (35); Nguyễn Chí
Mỳ, “Dân chủ cơ sở - sự sáng tạo của Đảng ta”, Tạp chí Cộng sản, số (95, 205); Trần Quang Nhiếp, “Để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” (1999), Tạp chí
Trang 8Cộng sản, số (2); Nguyễn Văn Sáu, "Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ
sở với xây dựng chính quyền cơ sở nông thôn" (2002), Tạp chí Lý luận chính trị, số (11); Trịnh Ngọc Anh (4/2003), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh", Tạp chí Cộng sản, số (11);
Lại Quốc Khánh, “Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh từ góc nhìn triết học” (2010), Tạp chí cộng sản, số (23)
Nhóm vấn đề này các tác giả đã nghiên cứu một cách sâu sắc và làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời nêu bật tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ
- Nhóm thứ hai, các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính phủ
trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở, vừa định hướng nghiên cứu, vừa định hướng tổ chức thực hiện
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết TW 3 (khóa VIII), nêu rõ
yêu cầu tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ nhân dân qua các hình thức dân chủ đại nghị và dân chủ trực tiếp; Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (ngày 18/02/1998) ra Chỉ thị 30 CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Các cơ quan tổ chức và các tổ chức đoàn thể chính trị
xã hội phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi tới hội viên, đoàn viên và nhân dân, Chỉ thị này và các QCDC ở cơ sở, sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân đã được quy định trong QCDC, phối hợp với chính quyền trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở
Chính phủ (11/5/1998), Ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (nay là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) Ủy Ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 Pháp lệnh nêu rõ những quy định chung, những nội dung công khai để nhân dân biết, những nội dung nhân dân bàn và quyết định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan
Trang 9có thẩm quyền quyết định, những nội dung nhân dân giám sát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn
Các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, về thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như tình hình thực hiện quy chế dân chủ ở địa phương Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề
cập một cách trực tiếp, chuyên sâu đến việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Chính vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài
"Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai" làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đề xuất một số phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng thực hiện QCDC cơ sở trên địa bàn thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Góp phần làm rõ khái niệm QCDC ở cơ sở
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện dân chủ ở thành phố trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ khi QCDC ở cơ sở ra đời
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Về thời gian: trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2010 đến nay)
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp điều tra xã hội học để tiến hành thực hiện
luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống nội dung về những thực trạng của vấn đề dân chủ ở cơ sở và đề ra những hướng hoàn thiện, từ đó, liên
hệ với công tác thực hiện QCDC cở ở cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Phân tích khẳng định những mặt cần phát huy, những mặt cần khắc phục nhằm nâng cao vai trò, chất lượng của việc thực hiện QCDC ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và học viên chuyên ngành Chính trị học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 11B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1 Một số khái niệm về dân chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Dân chủ
Dân chủ và thực hiện dân chủ là nhu cầu khách quan của con người Ngay trong công xã thị tộc (thời nguyên thủy), thủ lĩnh đứng đầu bộ tộc được các thành viên của bộ tộc bầu ra hoặc phế bỏ Điều này cho thấy quyền dân chủ ra đời từ rất sớm
Trong xã hội Hy Lạp cổ đại, khi mà nhà nước dân chủ chủ nô Aten ra đời (khoảng thế kỷ VI trước công nguyên), khái niệm dân chủ được hiểu là: việc cử ra hay phế bỏ người đứng đầu là do “quyền và sức mạnh của nhân
dân” Chỉ đến giai đoạn này thì danh từ dân chủ mới chính thức được sử dụng
Dân chủ theo tiếng Hy Lạp cổ là từ ghép của hai chữ: Demos (nhân dân, quần chúng) + Kratos (sức mạnh, quyền lực) = quyền lực, sức mạnh thuộc về
nhân dân Demos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự cai trị của người
bình dân Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân - nó được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng nhân loại cần lao khỏi áp bức, xiềng xích, bất công
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều học giả đề cập đến ý nghĩa khái niệm “dân chủ”: Democritus, một triết gia Hy Lạp cổ đại, thì lại cho rằng “Thà sống nghèo trong một nước dân chủ còn hơn cái gọi là cuộc đời hạnh phúc trong một nước độc tài, vì tự do tốt hơn nô lệ” [46, tr.5]
Trang 12Các nhà chính trị học ngày nay định nghĩa “Dân chủ là hình thức tổ chức chính trị của xã hội dựa trên sự công nhận nhân dân như là nguồn gốc của quyền lực, dựa trên quyền của nhân dân trong việc tham gia giải quyết những vấn đề của quốc gia và trao cho các công dân một loạt quyền và quyền tự do thực sự” [46, tr.5]
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" [39, tr 653]
Như vậy, dân chủ có nghĩa chung là quyền lực của người dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân con người, là quyền làm chủ của nhân dân trong
xã hội Càng ngày, khái niệm dân chủ càng được mở rộng nhiều hơn, mang nội dung mới mẻ hơn, nó được gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài người
Về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những giá trị vô cùng quý báu của con người, nó còn là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu nấc thang tiến bộ của xã hội loài người Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, lực lượng sản xuất kém phát triển, trước sức mạnh của thiên nhiên hoang sơ, huyền bí, để tồn tại và phát triển, con người phải gắn bó với nhau để tạo nên sức mạnh cộng đồng, sức mạnh ấy đó chính quyền sống, quyền tự do, bình đẳng Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp đối kháng không thể điều hoà được xuất hiện, từ đây Nhà nước ra đời điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội
1.1.2 Đặc điểm, nội dung và vai trò của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.2.1 Đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trang 13Quy chế thực hiện dân chủ là một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” bằng một Nghị định của Chính phủ căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (Nghị quyết số 45-1998/NĐ-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
Vận hành của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngày càng được cụ thể hóa và hoạt động hiệu quả, thể hiện rõ tính ưu việt mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân trong chế độ XHCN ở Việt Nam Kế thừa kinh nghiệm và kết quả 30 năm thực hiện đường lối đổi mới; trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát"; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống
Trước hết, về Đảng lãnh đạo: Nhất quán với quan điểm, chủ trương,
đường lối mà Đảng ta đã nêu ra qua các kỳ đại hội, tại Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đảng lãnh đạo là yếu tố tiên quyết bảo đảm sự vận hành của cơ chế, làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đạt hiệu quả, thực sự đi vào cuộc sống Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và cách mạng Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc Đây là quy luật khách quan, không tự nhiên mà có và không phải
cứ tự nhận mà được Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt
Trang 14Nam đã được nhân dân thừa nhận từ sự kiểm nghiệm của thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
Thứ hai, về Nhà nước quản lý: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp sự
thành công, tính hiệu quả trong vận hành cơ chế Đại hội XII chỉ rõ: Nhà nước
ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; một mặt, Đảng đề cao vị trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp, pháp luật đối với mọi mặt của đời sống xã hội Mặt khác, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, bởi nó được thể chế hóa qua hoạt động của Nhà nước; đặc biệt là thông qua công tác tổ chức cán bộ, Đảng thống nhất lãnh đạo, quản lý công tác này của cả hệ thống chính trị, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả nhất Điều đó là hoàn toàn phù hợp với điều kiện nước ta, được khẳng định trong Điều lệ Đảng và hiến định trong Hiến pháp năm 2013 Bởi lẽ, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị Khâu then chốt có ý nghĩa quyết định làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ vận hành thông suốt, có hiệu quả là Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân vì nhân dân là yếu tố trung tâm của mọi quyền lực, là cội nguồn sức mạnh,
bí quyết của mọi thành công Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân, coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân…đều làm cho Đảng tự suy yếu, lỏng lẻo, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ bị phá vỡ
Trang 15Thứ ba, nhân dân làm chủ Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy
chế độ dân chủ đại nghị, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương, cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở
cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân
Sự tham gia của các cơ quan tổ chức, các đoàn thể nhân dân ở mọi khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ XHCN
Mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã là phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất
và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết Đảng và nhân dân ở xã ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, Đảng viên, các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, theo định hướng XHCN
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật, đi đôi với trật tự, kỷ cương, quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, Pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền tự
do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
1.1.2.2 Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành ngày 15/5/1998 (nay là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 11; gồm 6 chương và 28 điều)
Trang 16Về nội dung, quy chế quy định những quyền của nhân dân ở cơ sở được
biết và hình thức biết những thông tin liên quan đến pháp luật, chủ trương chính sách của Nhà nước, đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh Quy chế cũng quy định những việc để nhân dân bàn và quyết định cũng như những hình thức thực hiện; Quy định những việc nhân dân ở cấp xã có quyền giám sát, kiểm tra và những phương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra; Việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức Đặc biệt, để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, quy chế quy định cơ chế thực hiện dưới hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, trong đó ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng
QCDC cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: Dân biết, Dân bàn, Dân giám sát, Dân kiểm tra Điều 1 Quy chế quy định: “Quy chế này quy định
cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai để dân biết; Những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; Những việc dân tham gia
ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định; Những việc dân giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện quy chế dân chủ ở xã” [8, tr.2]
Về dân biết, quy chế quy định quyền của mọi người dân được thông tin
về những chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân tại cơ sở và nghĩa vụ của chính quyền phải thông tin kịp thời và công khai cho người dân
Về dân bàn, có 2 loại gồm:
- Một loại công việc cho dân bàn và quyết định trực tiếp
- Một loại công việc do dân bàn và tham gia ý kiến, HĐND và UBND
xã quyết định
Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động sự đóng góp của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hương ước, quy ước
Trang 17nội bộ Đây là quy định rất mới không những thực hiện quyền làm chủ của nhân dân mà còn chống được tệ nạn tham nhũng, lãng phí
Về dân giám sát, kiểm tra, quy chế quy định dân giám sát, kiểm tra các
loại công việc từ hoạt động của HĐND, UBND đến các việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kết quả quyết toán công trình do dân đóng góp, việc quản lý sử dụng đất đai, thu chi các quỹ, việc thực hiện chính sách đối với người có công với nước…Dân giám sát, kiểm tra tức là thực hiện quyền lực của mình trong quá trình quản lý đất nước
1.1.2.3 Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Nước Việt Nam đi lên xây dựng chế độ XHCN thời kỳ quá độ từ một chế độ phong kiến nửa thuộc địa, thời gian đầu mang nặng dấu ấn của chế độ chuyên chế quân chủ, trong xã hội yếu tố dân chủ truyền thống làng, xã và yếu
tố sơ khai của dân chủ tư sản chưa đáng kể Điều đó gây không ít khó khăn cho việc xây dựng một nước dân chủ theo định hướng XHCN
Quy chế ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta, quy chế không chỉ đơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước ta mà đó là định hướng chính trị về dân chủ, phương châm để thực hiện dân chủ như “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” đã được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật Từng bước khẳng định vai trò to lớn của việc ban hành quy chế và thực hiện QCDC ở cơ sở:
Thứ nhất: Thực hiện quy chế đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân
lao động, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay
Trong những năm đầu xây dựng đất nước với vô vàn khó khăn, thách thức, Đảng và Nhà nước ta đã chưa thật sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề của làng xã Cho nên, khi triển khai QCDC người dân rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng Nơi nào làm tốt
Trang 18việc xây dựng và thực hiện quy chế, nơi ấy sẽ xây dựng được phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác dụng đến nhiều mặt đời sống xã hội Thông qua quá trình học tập, xây dựng và thực hiện quy chế, cán bộ nhân dân thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở
cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân của người dân đã có sự chuyển biến khá rõ Ngay từ trong cộng đồng dân cư nhỏ hẹp như xã, phường, người dân đã
có thể trực tiếp bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp quyết định và giám sát các công việc của cộng đồng xã hội
Với những thông tin về chính sách, pháp luật, về nội dung các hoạt động của địa phương, của cơ sở được đưa ra kịp thời và công khai, với những điều người dân được bàn bạc, thảo luận và trực tiếp quyết định hoặc tham khảo cho cho sự quyết định của cấp chính quyền cơ sở, người dân đã từng bước học làm chủ, tập làm chủ và biết làm chủ
Thứ hai: Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hóa
quyền lực của nhà nước
Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thể hiện tập trung thông qua quyền lực của Nhà nước Với hình thức dân chủ đại diện, quyền lực Nhà nước sẽ được giao cho một số người đảm nhận, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành công việc chung Những quy luật chung là khi tập trung quyền lực thì dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền Những người đại diện cho quyền lực của nhân dân rất dễ rơi vào sự tha hóa, độc đoán, quan liêu nếu không có một cơ chế kiểm soát quyền lực Trong thời gian qua ở nước ta, hiện tượng người có chức
có quyền đã lợi dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng cho mình không phải
là ít Họ dựa vào địa vị của mình, mặc dù địa vị mà họ có được là do nhân dân bầu ra để nhận hối lộ tham nhũng, làm trái với mục tiêu của Đảng, Nhà nước
Bộ máy chính quyền trở nên quan liêu, bảo thủ trì trệ nó không còn đại diện được cho lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội nữa mà chính nó lại vi phạm
Trang 19đến lợi ích của nhân dân lao động, đến lợi ích mà nó đại diện Để hạn chế sự tha hóa quyền lực Nhà nước, cần phải làm trong sạch bộ máy lãnh đạo của Đảng và chính quyền ngay ở từng cơ sở Từ khi triển khai thực hiện quy chế, người dân đã biết sử dụng quyền làm chủ của mình để đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực ấy Từ những quy định rõ ràng các việc cần thông báo cho dân biết, những việc dân được bàn, những việc dân được giám sát, kiểm tra tài chính công khai, minh bạch đã làm hạn chế rất nhiều biểu hiện tha hóa của một
số cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước
Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ làm cho nhân dân lao động từng bước thể hiện quyền làm chủ mà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền, đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của nhân dân cũng như ý thức được trách nhiệm phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương phép nước Ở những nơi làm tốt việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ, ý thức xây dựng cộng đồng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền được nâng lên
Nó không chỉ góp phần nâng cao ý thức cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực hiện và phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân mà còn làm chuyển biến một bước về phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng, phương thức điều hành về lề lối làm việc của các cấp chính quyền, nhất là ở cơ sở Nhân dân đã mạnh dạn, thẳng thắn, cởi mở chân thành phê bình cán bộ, đảng viên, đóng góp xây dựng tổ chức Đảng giúp tổ chức Đảng loại được nhiều cán bộ đảng viên kém phẩm chất, năng lực, thoái hóa biến chất
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng sâu sắc đến ý thức và phong cách, phương thức lãnh đạo của cấp ủy, sự điều hành của chính quyền
cơ sở đối với sự tôn trọng quyền làm chủ của người dân, cán bộ bớt đi thái độ hống hách cựa quyền, nhũng nhiễu dân Từ đó, làm cho mối quan hệ giữa dân với chính quyền cởi mở hơn, suy nghĩ của người dân về chính quyền ngày một tốt đẹp hơn, góp phần làm cho chính quyền hoạt động có hiệu quả hơn
Trang 20Thứ ba: Thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của
nhân dân lao động
Phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân lao động trong quá trình xây dựng nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc tế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư Thông qua các hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở, người dân có điều kiện tham gia ý kiến,
có điều kiện tập duyệt và trưởng thành trong vai trò của người làm chủ đích thực Khi Đảng, Nhà nước quan tâm, biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mình mong muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Đảng và Nhà nước cần phải hành động như thế nào, bằng phương pháp cụ thể nào để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội Chính những những sáng kiến đầy tâm huyết của dân đã tạo nên nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triển vững chắc của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập
Thứ tư: Thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa
Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là xây dựng chăm lo con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh
tế và văn hóa; cần chú trọng đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do
Trang 21Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng
Từ khi có Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của BCH Trung ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nội dung: Triển khai quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” nhằm khắc phục những vấn đề nhức nhối về tư tưởng đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa văn minh, lành mạnh trong từng gia đình, làng xã, vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lối sống lành mạnh, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan
Bên cạnh, tổ chức công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tuyên truyền thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức các ngày lễ, tết Thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị trong việc cưới, việc tang, lễ hội Tiếp tục thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục; đẩy mạnh công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, công tác vệ sinh môi trường
Thứ năm: Thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra pháp lý để Mặt trận tổ quốc
(MTTQ) các cấp và các tổ chức chính trị xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân trong phát huy dân chủ XHCN
Do vậy, việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một cách thiết thực nhất, là cơ sở cho nhân dân lao động được làm chủ một cách thực sự trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đó cũng là một cách làm hiệu quả nhất để nhân dân lao động được đảm bảo quyền lực chính trị của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân
Trang 221.2 Một số tiêu chí hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Những tiêu chí chung
1.2.1.1 Tiêu chí về tính toàn diện
Tính toàn diện là tiêu chí quan trọng thể hiện mức độ hoàn thiện của một văn bản luật hoặc của cả một hệ thống pháp luật Tiêu chí này có ý nghĩa trong việc “định lượng” một văn bản quy phạm pháp luật cũng như một hệ thống pháp luật Bởi vậy, nó có vai trò rất quan trọng, chỉ trên cơ sở “định lượng” mới có thể tiếp tục nghiên cứu để “định tính” trong xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật
Tính toàn diện ở hai cấp độ:
- Cấp độ chung, đối với hệ thống pháp luật đòi hỏi phải có đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung logic và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng
- Ở cấp độ cụ thể, đối với mỗi ngành luật, mỗi văn bản quy phạm pháp luật phải có đủ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật
QCDC ở cơ sở là một chế định pháp luật có tính độc lập tương đối trong
hệ thống pháp luật Việt Nam, do vậy, về mặt “định lượng” quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật quy định cách thức, biện pháp thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và tham nhũng
1.2.1.2 Tiêu chí về tính đồng bộ
Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật Tính đồng bộ được đặt ra để tránh các hiện tượng bị trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy định của ngành luật hoặc giữa bộ phận của hệ thống pháp luật
Trang 23Để tạo ra tính đồng bộ thì cần phải vừa có quan điểm tổng quát vừa có quan điểm cụ thể Quan điểm tổng quát để xác định tính chất chung của mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật; quan điểm cụ thể để dự kiến chính xác các tình huống và hoàn cảnh cụ thể để đề ra các quy phạm phù hợp
1.2.1.3 Tiêu chí về tính phù hợp
Tính phù hợp thể hiện sự tương quan giữa trình độ của văn bản pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội Hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, chứ không được cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó Tính phù hợp của hệ thống pháp luật, ngành luật thể hiện ở nhiều mặt, trong đó đặc biệt chú ý sự phù hợp của pháp luật với các quy luật khách quan, nhất là các quy luật phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp với văn hóa, đạo đức, phong tục tập quán và các quy phạm
mà còn đảm bảo tính hiệu quả của văn bản pháp luật kể trên, đặc biệt là khắc phục hiện tượng trùng lắp, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật
1.2.1.4 Tiêu chí về kỹ thuật pháp lý
Tiêu chí về kỹ thuật pháp lý là tiêu chí quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật, thông thường được thể hiện ba đặc điểm sau:
Trang 24Thứ nhất, Thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật như xác định mục đích và yêu cầu của văn bản, các quan điểm của Đảng về vấn đề này, sưu tầm, tập hợp các tài liệu, văn bản pháp luật có liên quan đến văn bản dự định sẽ biên soạn
Thứ hai, thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu pháp luật
Thứ ba, thể hiện cách biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý Yêu cầu của
cách biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý là phải đảm bảo tính cô đọng, logic, chính xác và một nghĩa
1.2.2 Những tiêu chí riêng
1.2.2.1 Tiêu chí về hình thức
Hình thức của văn bản quy phạm pháp luật là tiêu chí đảm bảo cho văn bản đó có tính pháp lý, tính khuôn mẫu và dễ áp dụng trong cuộc sống Trước hết lựa chọn hình thức văn bản để ban hành là nội dung quan trọng của tiêu chí này
Pháp luật thực hiện QCDC ở cơ sở của Nhà nước ta hiện nay được ban hành dưới dạng Nghị định kèm theo quy chế như: Nghị định 29/1989/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 (sau này là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007) về việc ban hành kèm theo quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhìn chung hình thức này đã được sử dụng mục đích phù hợp với nội dung văn bản, đảm bảo giá trị pháp lý của văn bản trong giai đoạn lịch sử hiện nay
Qua thực tiễn thi hành thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian qua cho thấy vẫn còn nhiều địa phương chưa thật sự coi trọng nhiệm vụ triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở tại địa phương mình, nhiều cán bộ còn đánh giá thấp về tính pháp chế của quy chế Trên thực tiễn, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
là một văn bản pháp lý, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh bản chất
Trang 25của Nhà nước của chế độ ta cần phải nâng Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở lên thành pháp lệnh hay bộ luật thì tính hiệu quả sẽ được nâng cao hơn nữa
Tiêu chí về hình thức của thực hiện QCDC ở cơ sở đòi hỏi tính rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý sử dụng một cách chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của toàn nhân dân
1.2.2.2 Tiêu chí về nội dung
Đây là tiêu chí quan trọng và cần thiết để xem xét mức độ hoàn thiện của pháp luật nói chung cũng như pháp luật thực hiện QCDC ở cơ sở nói riêng Nội dung của pháp luật thực hiện QCDC ở cơ sở là những quy định tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện hóa các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được pháp luật quy định
Tiêu chí này đặt ra yêu cầu nội dung của pháp luật thực hiện QCDC ở cơ
sở phải phán ánh được nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội có như vậy
sự tác động của pháp luật thực hiện QCDC ở cơ sở đối với các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của nó mới đạt hiệu quả mong muốn Nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội mà các quy định của pháp luật thực hiện QCDC ở
cơ sở quy định đó là:
- Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày ở cơ sở
- Có quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến và các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất
là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày ở cơ sở
- Có quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được tham gia bàn bạc và tham gia các ý kiến và chủ trương, chính sách, nhiệm vụ
Trang 26công tác chuyên môn, công tác cán bộ của chính quyền; kết quả ý kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền ra quyết định
- Hoàn thiện cơ chế để nhân dân ở cơ sở trực tiếp và thông qua các mặt trận, các đoàn thể, Ban TTND kiểm tra, giám sát, hoạt động của chính quyền; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được thực hiện nghiêm túc
- Mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, những công việc mang tính xã hội hóa, có hỗ trợ của chính quyền
- Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại, tố cáo
- Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền định kỳ báo cáo công việc trước dân phải tự phê bình và tổ chức để nhân dân góp ý, đánh giá, phê bình nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó
Trên đây là những vấn đề lý luận về hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở
cơ sở, là cơ sở để đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở cơ sở tại thành phố Biên Hòa trong giai đoạn hiện nay
1.3 Tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nước ta
1.3.1 Góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
Con đường cách mạng Việt Nam mà Đảng ta đã vạch ra và lãnh đạo đó chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối của Đảng ta từ trước đến nay Dân chủ gắn liền với “dân
Trang 27sinh”, “dân trí”; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung và của công cuộc đổi mới nói riêng
Qua những năm đổi mới đất nước, thực hiện các Nghị quyết của Đảng quyền làm chủ của nhân dân không ngừng được nâng cao Dân chủ đã đem lại cho nhân dân không phải những giá trị dân chủ trừu tượng mà bằng những kết quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống kinh tế - xã hội Dân chủ đã trở thành nhu cầu khách quan gắn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế của nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức do tác động của nền kinh tế thế giới quy mô và tiềm lực được nâng lên, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức độ hợp lý, an sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, trong những năm tới tình hình kinh
tế thế giới sẽ có những diễn biến phức tạp sẽ tác động trực tiếp đến nước ta tiềm ẩn những nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nhà nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”,”tự chuyển hóa” trong một bộ phận đảng viên, công chức, viên chức, sự tồn tại và những diến biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ kinh tế gắn với việc thực hiện QCDC ở cơ sở Từ đây, việc thực hiện QCDC ở cơ sở đã thực sự trở thành động lực cho quá trình phát triển trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội ở cơ
sở gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể
Thực hiện QCDC ở cơ sở là bước đi mạnh mẽ để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế kinh tế thị trường để bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo quyền tự do, dân chủ trong hoạt động kinh tế theo quy định
Trang 28của Hiến pháp, pháp luật và sự tham gia có hiệu quả hơn nữa của các cơ quan,
tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện thể chế kinh tế và phát triển kinh
tế - xã hội Vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế, tham gia quản lý kinh tế cũng được nhận thức ngày càng rõ hơn, mở rộng dân chủ, hoàn thiện cơ chế để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước; tôn trọng và phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân đóng góp cho
xã hội
Bên cạnh đó, thực hiện QCDC ở cơ sở góp phần nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế - xã hội đi đôi với tuân thủ pháp luật Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, các công cụ kinh tế
và lực lượng vật chất cần thiết và phù hợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường; xây dựng hoàn thiện thể chế tạo môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh, hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường Từ đó, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế, đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế tránh lệ thuộc vào một thị trường, kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Với trí tuệ, kinh nghiệm, nhân lực và vật lực, nhiều địa phương đã tổ chức cho nhân dân bàn bạc để tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, tập trung chuyển đổi ngành nghề, áp dụng khoa học - kỹ thuật nhằm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nhân dân
Thực hiện QCDC ở cơ sở tăng cường hoàn thiện tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, đảm bảo phục vụ tốt cho người dân, doanh nghiệp Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội đối với chính quyền các cấp, cung cấp dịch vụ công, đảm bảo an sinh xã
Trang 29hội, an toàn xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện, ổn định đời sống cho người dân Từ đó, tăng cường nền an ninh quốc phòng toàn dân gắn với nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng bộ thực hiện QCDC với các giải pháp an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng xã hội kỷ cương an toàn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc gia tạo môi trường hòa bình để hợp tác quốc tế đồng thời xây dựng và bảo vệ đất nước
1.3.2 Tác động tích cực trong việc xây dựng đời sống văn hóa - xã hội
ở cơ sở
Sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa con người đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong các chính sách kinh tế - xã hội từ trung ương đến địa phương Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế có nhiều bước chuyển biến rõ rệt Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc đến việc thực hiện dân chủ phải gắn với phát triển đời sống văn hoá - xã hội gắn với nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ phát triển đất nước, xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; từng bước hình thành nên những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, có ý chí vươn lên; các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc của từng vùng, miền được kế thừa; các di sản văn hóa được bảo tồn
Dân chủ không còn là vấn đề mới trong nhận thức của cán bộ, đảng viên
và nhân dân tuy nhiên để người dân có thể hiểu đúng và tự mình thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân cần có trình độ học vấn và trình độ văn hoá nhất định Thấm nhuần tư tưởng “văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”, “văn hoá phải đi sâu vào quần chúng”, và “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” của Hồ Chủ tịch Vì vậy, khi thực hiện QCDC cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân
Trang 30dân, thì điều trước tiên là phải nâng cao trình độ nhận thức cho nhân dân lao động, để họ hiểu đúng và thực hành đúng, tránh những sai lầm như một số khuynh hướng đã cho rằng phát huy dân chủ chỉ là tổ chức những cuộc hội họp, lấy ý kiến nhân dân một cách hình thức, không gắn với việc chăm lo giải quyết những vấn đề thiết thực đến lợi ích và đời sống của nhân dân hay khuynh hướng chỉ cần phát triển kinh tế thì dân chủ sẽ tự nó phát huy; tình trạng vi phạm dân chủ, quan liêu, cửa quyền, hách dịch sẽ giảm xuống
Thực hiện QCDC ở cơ sở gắn với xây dựng văn hóa trong chính trị, kinh
tế góp phần xây dựng văn hóa trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bên cạnh đó, phát huy dân chủ ở cơ sở cũng đã hướng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng giá trị văn hóa, giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế làm cho giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi hoạt động; xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện bằng cách giải quyết một số vấn đề xã hội, như là: giải quyết việc làm, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo; đồng thời khắc phục, phòng ngừa các tệ nạn xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thu hẹp khoảng cách nông thôn và thành thị, các vùng, miền, các tầng lớp trong xã hội; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong đời sống văn hóa của nhân dân đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Trang 31Ngoài ra, việc xây dựng các hương ước, quy ước với những nội dung mới theo hướng văn minh, tiến bộ đã có tác động có hiệu quả với việc giữ gìn
và phát huy những truyền thống, phong tục, tập quán, lễ hội tốt đẹp tại cộng đồng dân cư; xây dựng môi trường lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.3.3 Góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Những năm qua, hệ thống chính trị nước ta có những đổi mới đáng kể, Đảng đã được củng cố về mọi mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội ngày càng tăng; nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân và vì dân; các cơ quan, tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng được phát huy Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã có tiến
bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp hành pháp và tư pháp; việc thực hiện QCDC đã tạo nên một luồng không khí mới đối với hệ thống chính trị ở cơ sở theo hướng dân chủ, tích cực và hiệu quả hơn Quan điểm và thể chế về Nhà nước pháp quyền XHCN được bổ sung, hoàn thiện hơn, nhận thức của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có nhiều bước phát triển Hiến pháp
2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” [19, tr.166, 167]
Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của tổ chức
bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn có nhiều bước tiến, cơ chế phân công,
Trang 32phối hợp rõ ràng hơn Các cấp ủy đã đổi mới phương thức hoạt động theo hướng dẫn chủ, dựa vào dân, chịu sự giám sát của nhân dân để xây dựng Đảng, không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức Đảng Chính quyền ở địa phương ở cơ sở đã làm việc theo hướng ngày càng khoa học và hiệu quả hơn nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước Chất lượng hoạt động tiến bộ tốt hơn, bảo vệ tốt hơn Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân, phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được chuyên nghiệp và có chuyển biến rõ nét về thái độ, ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân; năng lực và trình độ ngày càng được nâng cao Hệ thống các tổ chức và các đoàn thể nhân dân cũng ngày được đổi mới về tổ chức hoạt động, theo hướng thiết thực, hiệu quả, có trách nhiệm với dân; hạn chế một số tình trạng hoạt động phô trương và hình thức
Thực hiện QCDC ở cơ sở giúp tăng cường công tác củng cố, kiện toàn đổi mới phương thức hoạt động các cơ quan, tổ chức ở cơ sở; quan tâm, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc của nhân dân; chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở thực hiện nghiêm túc việc phân tích đánh giá chất lượng hoạt động một cách sát thực, đảm bảo đúng quy định, phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo ở cơ sở trong việc quan tâm giải quyết công việc được giao
Coi trọng việc thực hiện nghiêm túc QCDC ở cơ sở từ đó góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật thể hiện đúng ý chí nguyện vọng và quyền lực của nhân dân; thực thi có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực; đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…từ đó xây dựng hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở trong sạch, vững mạnh; củng
cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết
Trang 33toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
1.3.4 Tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quy chế dân chủ
Việc ban hành QCDC là một chủ trương hết sức đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước ta; đáp ứng kịp thời tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của người dân; QCDC ở cơ sở tiếp tục được thực hiện và ngày càng có hiệu quả thông qua các cuộc vận động xã hội ngày càng có ý nghĩa, được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng rất nhiệt tình và tích cực tham gia Qua nhiều năm thực hiện QCDC ở cơ sở thực sự đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của mỗi người dân, thiết thực củng cố, tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở, thúc đẩy nhanh tiến trình đổi mới, phát triển đất nước
Việc thực hiện QCDC ở cơ sở nhân dân được phát huy quyền làm chủ trong công tác kiểm tra, giám sát, đấu tranh phát hiện, ngăn chặn những hiện tượng tham nhũng, quan liêu Bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân quan trọng là phải làm cho người dân hiểu rõ mục đích của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ trực tiếp của chính mình trên mọi lĩnh vực Dân chủ không phải là một vấn đề mới mẻ với người dân nhưng hiện nay nhân dân ai cũng hiểu đúng về dân chủ, về thực hiện đúng quyền làm chủ của mình Hơn nữa, ý thức và nhận thức về quyền làm chủ của người dân nhiều nơi còn hạn chế Vì thế, phải đẩy mạnh tuyên truyền về quan điểm làm chủ nhân dân, về mục tiêu phát huy quyền làm chủ của nhân dân đảm bảo theo đúng pháp luật qui định Đồng thời, bằng những qui định cụ thể làm cho người dân
có ý thức, có khả năng, có trách nhiệm phát huy dân chủ và quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trang 34Trong quá trình thực hiện QCDC do được cung cấp thông tin đầy đủ hơn, kịp thời hơn nên nhân dân đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn quyền và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật Qua đó, góp phần quan trọng vào việc xây dựng Đảng, bộ máy chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; làm giảm bớt tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng Đây là nhân tố quan trọng
để đảm bảo cho tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được ổn định tại nhiều
nơi, nhiều vùng, địa phương trong cả nước
Từ khi pháp luật về dân chủ cơ sở ban hành được đi vào cuộc sống, việc thực hiện QCDC cơ sở đã khơi dậy tinh thần làm chủ của nhân dân, người lao động, tạo động lực to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà thực chất là công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cuộc vận động cách mạng to lớn, đầy ý nghĩa nhân văn của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay Phát huy tối đa việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách hiệu quả và bảo đảm nhất là thực hiện tốt quy chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” Cơ chế này phân định rõ, trong xã hội ta, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Quyền lực của nhân dân là tuyệt đối không thể
so sánh, không thể phân chia Quyền hạn của Nhà nước là sự thể hiện tập trung quyền lực của nhân dân Ở đâu thực hiện tốt QCDC thì ở đó mọi sáng kiến của người dân, nguồn lực được phát huy, được quản lý chặt chẽ, khối đại đoàn kết thống nhất trong dân được củng cố, phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân trên mọi lĩnh vực
Kết luận chương 1
Ở nước ta hiện nay, dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở
là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà Nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực
Trang 35tiếp và rộng rãi nhất Sự ra đời và tiếp tục thực hiện QCDC ở cơ sở là một bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hóa bản chất dân chủ của Nhà Nước ta QCDC là văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở
cơ sở, nhằm phát huy nội lực và sức sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở
có vai trò hết sức quan trọng và mang tính quyết định trong việc triển khai thực hiện rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân về QCDC ở cơ sở
Trang 36Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ
và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai,
là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh, là một thành phố công nghiệp lớn của cả nước, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dương có vai trò và giữ vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng của khu vực miền Đông Nam Bộ Ngoài ra, thành phố Biên Hòa còn có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển Chính vì vậy, thành phố Biên Hòa có điều kiện thu hút đầu tư làm động lực phát triển về mọi mặt kinh tế, chính trị,
xã hội, văn hóa…
Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I, có 30 đơn vị hành chính gồm 23 phường và 07 xã, với tổng diện tích tự nhiên là 26.354.82 ha, chiếm 4,46% diện tích tự nhiên của tỉnh; mật độ dân số đô thị năm 2014 đạt 10.877 người/km² Thành phố Biên Hòa nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai, được tiếp giáp bởi:
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu;
- Phía Nam giáp huyện Long Thành;
- Phía Đông giáp huyện Trảng Bom;
- Phía Tây giáp huyện Dĩ An, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh Nằm hai bên bờ sông Đồng Nai, cách trung
Trang 37tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A, cách thành phố Vũng Tàu 90 km (theo Quốc lộ 51)
Thành phố Biên Hòa có địa hình rất phức tạp và đa dạng gồm: đồng bằng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
Thành phố Biên Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm với những đặc trưng của khí hậu vùng Đông Nam bộ chia thành 02 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thường đến sớm hơn miền Tây Nam Bộ
- Mùa khô: bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau
Chế độ thủy văn của sông Đồng Nai ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống sông rạch trong khu vực Đoạn sông Đồng Nai qua thành phố Biên Hòa khoảng 10 km phân thành nhánh phụ (Sông Cái) tạo nên Cù Lao Hiệp Hòa
Tài nguyên đất
Thành phố Biên Hòa theo tài liệu “Điều tra, đánh tài nguyên đất đai – phương pháp FAO/UESCO” hiện có 4 nhóm đất chính: Nhóm đất xám (11.066,96 ha) phân bổ tập trung trung ở phía Nam của thành phố; Nhóm đất Gley (987,26ha) phân bổ tập trung chủ yếu ở Hóa An, Tân Hạnh và một phần
ở Bửu Long, Tân Mai, An Bình; Nhóm đất tầng mỏng (202,46 ha) phân bổ khu vực núi Bửu Long, Long Bình và Tân Hòa
Tài nguyên nước
Thành phố Biên Hòa có sông Đồng Nai đi qua với chiều dài khoảng 10
km, phân thành hai nhánh phụ tạo thành Cù lao Hiệp Hòa Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho thành phố Biên Hòa Do ảnh hưởng trực tiếp của chế triều biển Đông và sự điều tiết tiết của mặt hồ Trị An, nên lưu lượng nước theo mùa và lên xuống theo chế độ bán nhật triều biển Đông Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, sông Đồng Nai còn có tác dụng rất lớn trong
Trang 38hệ thống giao thông thủy không chỉ riêng cho thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mà cho cả thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam bộ
Tài nguyên khoáng sản
Thành phố Biên Hòa có một số điểm khoáng sản chủ yếu là Laterit, Kaolin, đất sét, than bùn, đá xây dựng
Tài nguyên rừng
Thành phố Biên Hòa hiện có trên 2.125ha, chủ yếu là rừng trồng với hầu hết là tràm bông vàng; phân bố chủ yếu ở vùng ven như xã Phước Tân, xã Tam Phước, phường Trảng Dài, phường Tân Biên, phường Tân Hòa, phường Long Bình, trong đó có 140 ha đất rừng phòng hộ do Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa quản lý Đối với thành phố công nghiệp như Biên Hòa thì diện tích rừng
và cây xanh trong thành phố rất có giá trị trong việc bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan cho đô thị, là lá phổi của toàn thành phố cung cấp lượng ô xy lớn cho các hoạt động sống của con người [37, tr.3]
Thành phố Biên Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của Đồng Nai và vùng Đông Nam Bộ với những dấu ấn lịch sử hào hùng của dân tộc Năm 1679 Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho phép Tổng binh Trần Thượng Xuyên cùng người dân Việt vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (còn gọi là Cù lao Phố vào thời bấy giờ hoặc Cù lao Hiệp Hòa ngày nay)
Năm 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai dựng dinh Trấn Biên Năm 1832, vua Minh Mạng thống nhất việc tổ chức đơn vị hành chính trong cả nước, Trấn Biên Hòa đổi tên thành tỉnh Biên Hòa Thời Pháp thuộc Trong chiến tranh Việt Nam, địa giới tỉnh nhiều lần thay đổi, chia tách và sáp nhập với các tỉnh khác Pháp đã xây dựng cầu Gềnh và cầu Rạch Cát vào năm 1909 để kết nối Cù lao Phố với khu vực bên kia sông Đồng Nai và hoàn thành tuyến đường sắt Việt Nam vào
Trang 39năm 1936 Năm 1940, sân bay quân sự và các khu quân sự lần lượt được xây dựng Không lâu sau, Pháp mở rộng sân bay quân sự Biên Hòa thành sân bay lớn nhất miền Nam tại thời điểm đó Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước Biên Hòa trở thành một căn cứ quân sự của Mỹ bao gồm: sân bay chiến lược quân
sự Biên Hòa, căn cứ Hốc Bà Thức (Tân Phong) của Mỹ, và Tổng kho hậu cần Long Bình Năm 1975, tỉnh Biên Hòa bị giải thể và thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa
Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 40 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia và cấp tỉnh thì trong đó thành phố Biên Hòa chiếm tới
21 di tích (15 di tích cấp Quốc gia và 6 di tích cấp tỉnh) Các loại hình di tích khá phong phú như: Di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc và di tích truyền thống đấu tranh Cách mạng, có giá trị như Đình Bình Kính (đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh); Đình Tân Linh; Đình Mỹ Khánh (đền thờ Nguyễn Tri Phương) ; di tích Lăng mộ Trịnh Hoài Đức; mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự; Đài
Kỷ niệm người Việt trận vong; Thành kèn Biên Hòa; Văn miếu Trấn Biên Bên cạnh đó còn có nhiều ngôi chùa cổ khẳng định sự tồn tại và phát triển của tôn giáo Phật giáo như: chùa Đại Giác; chùa Bửu Phong; chùa Long Thiền; chùa Thiên Long; chùa Bửu Sơn, các di tích cách mạng thể hiện phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân Biên Hòa, Đồng Nai như chùa Cô Hồn (Bửu Hưng Tự); Di tích Tòa Bố; Quảng trường Sông Phố; Nhà Hội Bình Phước; Di tích Nhà Xanh; Trung tâm Cải huấn Biên Hòa (Nhà Lao Tân Hiệp) [36, tr.2]
Thành phố Biên Hòa nằm hai bên bờ sông Đồng Nai nên rất có giá trị trong việc phát huy lợi thế tạo vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên trong việc phát triển không gian đô thị, đồng thời với việc kết hợp phát triển du lịch sinh thái trên sông Đồng Nai và các vùng sinh thái khác trên địa bàn tỉnh và trong khu vực, là một lợi thế và tiềm năng để thúc đẩy đô thị Biên Hòa phát triển
Trang 40Tính đến hết năm 2014, dân số thành phố Biên Hòa là 952.788 người (chưa tính đến dân số quy đổi), trong đó: dân số khu vực nội thành là 777.353 người, mật độ dân số đô thị năm 2014 đạt 10.877 người/km2 Tỷ lệ đô thị hóa
là 82,76%; dân số khu vực ngoại thành là 175.435 người chiếm 18,41% tổng dân số Với tỉ lệ tăng dân số tương đối nhanh những năm gần đây (đặc biệt là
tỷ lệ tăng dân số về cơ học) đã làm cho Biên Hòa trở thành thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất Việt Nam, mật độ dân số bình quân cả hai khu vực nội
và ngoại thành đạt 4.048 người/km2 Tỷ lệ đô thị hóa đạt 82,77 % [45, tr.14]
Dân số thành phố Biên Hòa có tốc độ tăng trưởng khá lớn, mức tăng dân
số bình quân giai đoạn 2012 - 2014 là 3,32% Theo tính toán sơ bộ tỷ lệ tăng dân số cơ học của thành phố Biên Hòa khoảng 2 - 3%/năm, có nghĩa là mỗi năm dân số của thành phố tăng trung bình khoảng 30.000 người do nhập cư Điều đó cho thấy thể hiện sức hút đô thị ở Biên Hòa là rất lớn Biên Hòa là thành phố có mật độ dân cư cao thứ ba của Việt Nam sau Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh
Ở khu vực đô thị, dân số tập trung cao nhất tại phường Trung Dũng với 38.687 người/km2 Các phường khác có mật độ dân số từ 15.000 - 18.000 người/km2, bao gồm: Quang Vinh, Hòa Bình, Thanh Bình, Bình Đa, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Mai và Quyết Thắng Đây chủ yếu là các phường thuộc trung tâm thành phố Hai phường có mật độ dân số thấp nhất là Long Bình và Tân Phong khoảng 2.500 - 3.000 người/km2 [45, tr.14]
Tổng lao động tham gia các ngành kinh tế của thành phố năm 2014 là: 564.221 người Lao động phi nông nghiệp là 545.779 người, chiếm tỷ lệ 96,7% tổng số lao động trong các ngành kinh tế Hiện tại trong nội thành vẫn còn hợp tác xã nông nghiệp Gò Me (phường Thống Nhất), Hợp tác xã chăn nuôi ở Trảng Dài Lao động nông nghiệp chỉ còn lại trong một số ít phường xã (nhiều nhất ở Tân Phong, Trảng Dài, Tân Hạnh, Hiệp Hòa) Trong giai đoạn đổi mới