Trong thời kỳ hoà bình, đổi mới, nhất là giai đoạn hiện nay các Đảng bộ xã, thị trấn đã cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng bằng các chương trình hành động sát với tình hình
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN CAO LƯƠNG
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI
CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐỨC THỌ,
TỈNH HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN CAO LƯƠNG
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI
CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐỨC THỌ,
TỈNH HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ LAN
Nghệ An, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu nhà trường cùng tập thể các thầy giáo cô giáo của trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức quý báu, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Thị Lan đã dìu dắt, hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn đến các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Đức Thọ đã tạo điều kiện về thời gian cho tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cám ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Trần Cao Lương
Trang 4BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân
UBKT: Ủy ban kiểm tra
UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận tổ quốc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1 Cơ sở lý luận về Đảng lãnh đạo chính quyền 10
1.1 Một số khái niệm liên quan về tổ chức Đảng và chính
quyền
10
1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ và chính quyền ở địa phương 24
1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
chính quyền cơ sở
31
Chương 2 Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối
với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao sự lãnh đạo của
Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ
68
3.1 Phương hướng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ
xã, thị trấn
68
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự lãnh đạo của
Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở
72
Trang 6Đạt được những thành tựu, đó điều cơ bản chính là nhờ việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã biết vận dụng phương thức triển khai quyền lực lãnh đạo một cách hợp lý, làm cho những giá trị dân chủ, công bằng và văn minh đến được một cách thực sự và toàn diện tới nhân dân Đảng bộ cấp xã, thị trấn
- Với tư cách “nhịp nối” giữa Đảng với nhân dân trên địa bàn nông thôn, được coi là cấp căn bản, trực tiếp trong việc triển khai quyền lực của Đảng Một mặt,
nó bảo đảm cho đường lối, chủ trương của trung ương, tỉnh, huyện đến với cơ sở Đảng, đi vào quần chúng; mặt khác, nó kịp thời phản ánh, sơ kết, tổng kết thực tiễn phong phú của từng địa phương, đơn vị, để khẳng định hoặc bổ sung đường lối, chủ trương của Đảng nhằm thực hiện tốt hơn
Đức Thọ là huyện đồng bằng nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, nhân dân Đức Thọ đã đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân Đức Thọ đã vùng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước làm nên thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đánh thắng trong các cuộc
Trang 7chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần bảo vệ và dựng xây Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ hoà bình, đổi mới, nhất là giai đoạn hiện nay các Đảng
bộ xã, thị trấn đã cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng bằng các chương trình hành động sát với tình hình đặc điểm của địa phương, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương Trong lĩnh vực xây dựng và phát triển chính quyền, các Đảng bộ đã từng bước nhận thức đúng vị trí, vai trò, quyền hạn của mình trong quan hệ đối với chính quyền; xác định những nhiệm vụ chính trị ngắn hạn và dài hạn để định hướng hoạt động; có những chủ trương, biện pháp cụ thể, củng cố bộ máy tổ chức, bố trí cán bộ có năng lực công tác chính quyền; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và thiết lập các quan hệ công tác ngày càng hợp lý hơn
Tuy nhiên qua quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế, thiếu sót dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở Nhiều khâu trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ đối với chính quyền còn trong tình trạng chồng chéo, thiếu phân định rõ ràng; Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020 cũng đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm như: năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ở một số tổ chức cơ sở Đảng còn hạn chế, kiến thức, kinh nghiệm lãnh đạo quản lý, năng lực chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của cán bộ trong bộ máy chính quyền còn nhiều hạn chế, nhưng các cấp uỷ Đảng chưa có giải pháp kịp thời, hữu hiệu để khắc phục những vấn đề trên điều đó đã hạn chế, cản trở việc giải quyết các công việc, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội
Thực tiễn lãnh đạo của các Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp đã bộc lộ những mặt hạn chế chủ yếu sau đây: chưa xác định rõ phạm vi chức trách, thẩm quyền của cấp uỷ địa phương, cấp ủy bao biện, làm thay chính quyền, xem chính quyền là công cụ “hợp thức hóa” các quyết định của cấp ủy;
Trang 8cấp ủy Đảng buông lỏng, bỏ mất vai trò lãnh đạo dẫn dắt của mình, sự lãnh đạo của cấp ủy bị từ chối…
Cùng với những vấn đề nêu trên, tình trạng chồng lấn về quyền lực được biểu hiện dưới dạng lấn sân bao biện, làm thay và buông lỏng là hiện tượng có tính phổ biến; nhiều khi khắc phục khuyết điểm này lại rơi vào khuyết điểm kia một cách không tự giác
Chính vì vậy nó làm ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, vì thế ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý của chính quyền các
xã, thị trấn và thành tựu kinh tế xã hội của địa phương
Trong thời gian qua, sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với chính quyền các cấp
là một vấn đề quan trọng, có tính thời sự, được nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiển quan tâm ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Đó là nguồn tư liệu quý báu giúp tôi kế thừa trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện đề tài của mình
Ví dụ như:
Về sách đã xuất bản: Văn kiện đại hội Đảng XI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (đã được sữa đổi bổ sung) và những quy định mới về chức năng nhiệm vụ quy chế hoạt động của các cơ sở Đảng, NXB lao động-2011; Nghiệp vụ công tác đảng viên và các văn bản hướng dẫn thực hiện, NXB Chính trị Quốc gia-2010; “Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước”, Trần Đình Huỳnh, NXB Hà Nội - 2001; Văn hoá và con người, Nguyễn Trần Bạt, NXB Hội nhà văn - 2011; Cải cách và sự phát triển, Nguyễn Trần Bạt, NXB Hội nhà văn - 2011; Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, Lê Minh Quân, NXB Chính trị Quốc gia - 2010; Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay, Mai Đức Ngọc, NXB Chính trị - Hành chính - 2008; Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, Phạm Ngọc Trâm, NXB Chính trị Quốc gia - 2011; Phát triển kỹ năng lãnh đạo, John C.Maxwell, NXB Lao động & xã hội - 2012; 21 nguyên tắc vàng của nghệ thuật lãnh đạo, John C.Maxwell, NXB Lao động - xã hội - 2012; Đất và người Đức Thọ, Đoàn Tử Huyến chủ biên, NXB Đại
học Vinh - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Trang 9Các công trình khoa học công bố trên các tạp chí:
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân góp phần nâng cao văn hoá dân chủ và văn hoá pháp luật cho nhân dân ở nước ta hiện nay, Tống Đức Thảo (2011), tạp chí Báo cáo viên số 1
- Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong thời kỳ mới, Trần Đình Thắng (2010), Tạp chí Lịch sử Đảng, số chuyên đề
- Bí thư Đảng uỷ đồng thời Chủ tịch UBND xã ở Hà Tĩnh từ “Điểm” đến
“Diện”, Thành Châu – Văn Học (2010), Tạp chí Thông Tin Tư Tưởng - Ban
chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh, số 1
Các bài viết trên đây đã đề cập được những chủ đề lớn, ở những góc độ
và mục đích khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ
sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, trên cơ sở
kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tôi mong muốn được góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Để phát huy ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp ở huyện Đức Thọ, vấn đề đặt ra là, cần nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp, bản thân nhận thấy rằng, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp ở huyện Đức Thọ, là
Trang 10một đòi hỏi khách quan, không những có ý nghĩa cho thực tiễn, mà còn có giá trị về mặt lý luận, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị trước mắt, vừa đặt cơ
sở cho việc nghiên cứu khoa học sau này, vì vậy tôi chọn vấn đề “Sự lãnh
đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về Đảng lãnh đạo Nhà nước, phạm vi, cách thức thực hiện và thực chất, nội dung, yêu cầu của sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở
- Phân tích, khảo sát thực trạng, làm rõ những ưu điểm, hạn chế, trong sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất phương hướng, các giải pháp đổi mới sự lãnh đạo của Đảng bộ
xã, thị trấn đối với chính quyền trong giai đoạn hiện nay, nhằm xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở
ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ trong giai đoạn hiện
Trang 11nay; dẫn chứng tư liệu từ thực tiễn của 27 xã, 01 thị trấn trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010- 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát thống kê, tổng kết thực tiễn, đồng thời kết hợp phương pháp lôgic để rút ra những kết luận cần thiết, chính xác và khoa học
6 Đóng góp của đề tài
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu học tập cho học viên, sinh viên chuyên ngành Chính trị học Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho Đảng ủy xã ở huyện Đức Thọ trong việc đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo đối với chính quyền cơ sở trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 7 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận về Đảng lãnh đạo chính quyền
Chương 2: Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao sự lãnh đạo của Đảng
bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ
Trang 12B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG LÃNH ĐẠO
CHÍNH QUYỀN 1.1 Một số khái niệm liên quan về tổ chức Đảng và chính quyền
1.1.1 Khái niệm Đảng lãnh đạo
Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy trong các quan hệ xã hội, thì quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo là một trong những quan hệ chính yếu trong lịch
sử phát triển của xã hội loài người Cho nên, vấn đề lãnh đạo và quản lý đã trở thành đối tượng nghiên cứu và bàn luận của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị Ở Việt Nam, mãi tới những năm gần đây, mới xuất hiện những đầu sách, chuyên luận bàn về lãnh đạo, quản lý, vấn đề lãnh đạo và quản lý cũng dần được làm rõ Trong cuốn sách Phát triển kỹ năng lãnh đạo của John C Maxwell đã định nghĩa lãnh đạo “là gây ảnh hưởng” [28,tr.18] Có người làm rõ nội hàm khái niệm: “lãnh đạo là sự ảnh hưởng mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo, thông qua quá trình thông tin để đạt tới mục tiêu cụ thể” [28,tr.14] Từ tìm dấu hiệu chung của khái niệm, có tác giả đã khái quát: “lãnh đạo là một chức năng hoạt động xã hội của con người (cá nhân hay tập thể) bằng phương pháp tác động, gây ảnh hưởng, thuyết phục (một cá nhân, một tập thể, một cộng đồng xã hội, một dân tộc) nhằm tổ chức các mối quan hệ, tập hợp các thành viên, để huy động mọi khả năng và ý chí của họ, hành động đạt những mục tiêu chung, đã xác định”[31,tr.35]
Một số tác giả đi sâu vào việc phân biệt khái niệm lãnh đạo với khái niệm quản lý, chỉ ra dấu hiệu đặc trưng của khái niệm lãnh đạo ở chỗ nó hướng vào việc “nhận thức, lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của
hệ thống; làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (bao gồm việc phân tích các mâu thuẫn trong quá trình phát triển), phát hiện nhân tố mới; tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống; đề xuất các phương án chiến
Trang 13lược phát triển hệ thống” [37,tr.18] Nói khái quát nhất, lãnh đạo là: “đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [45,tr.568]
Mặc dù, phân tích, đánh giá ở những điểm khác nhau, nhưng điểm chung các tác giả đều nhất trí đặc trưng của lãnh đạo là tính định hướng và sự vươn tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu rằng Lãnh đạo là khả năng, tài năng vạch phương hướng, chỉ đường và bằng ý chí, niềm tin, phẩm hạnh của mình (của tổ chức) nhằm lôi cuốn, cổ vũ mọi người
thực hiện mục tiêu của cá nhân, tổ chức đã định
Từ nhận thức về khái niệm lãnh đạo, nhiều tác giả đã đề cập đến khái niệm đảng lãnh đạo Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, đã lý giải nhiều về đảng lãnh đạo
Sự tương đồng cao về khái niệm đảng lãnh đạo thể hiện ở chỗ: tính định hướng chính trị, tổ chức lực lượng, thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư tưởng nhằm lôi kéo các tầng lớp khác trong xã hội đi theo và thực hiện những mục tiêu chính trị của đảng Còn khi nói Đảng Cộng sản lãnh đạo là nói Đảng đưa ra những định hướng về quan điểm, nguyên tắc xây dựng đất nước theo mục tiêu của CNXH; lựa chọn các nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vận động thuyết phục, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện cho bằng được các mục tiêu ấy
Một số tác giả còn phân tích khái niệm “Đảng cầm quyền” để phân biệt với khái niệm “Đảng lãnh đạo” Theo các nhà Chính trị học, nhà tư tưởng ở phương tây, thì thuật ngữ “Đảng cầm quyền”, “Đảng chấp chính”, “Đảng nắm chính quyền” đã được dùng từ lâu ở các nước phương tây để chỉ rõ vai trò, vị thế
và trách nhiệm của Đảng khi đã có chính quyền; phân biệt Đảng nắm chính
quyền với những Đảng không nắm chính quyền, chưa dành được chính quyền hoặc vị trí đối lập Dù diễn đạt ngôn từ hay chỉ ra các đặc điểm khác nhau trong chi tiết, nhưng hầu hết các ý kiến đều thể hiện quan điểm chung đó là: Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối của
Trang 14Đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà Đảng đó đại diện Xét về bản chất, Đảng cầm quyền tức là Đảng lãnh đạo trong điều kiện có chính quyền Đảng cầm quyền là Đảng đã chi phối, dẫn dắt chính quyền, sử dụng quyền lực nhà nước trên thực tế để thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Như vậy chúng ta có thể hiểu dù ở cấp nào, từ trung ương đến chính quyền cơ sở thì đều chịu sự lãnh đạo của Đảng cấp đó
1.1.2 Khái niệm chính quyền
Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” được phổ biến trong đời sống chính trị - xã hội, khoa học, chính trị, luật học, trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong một số văn bản pháp luật ở nước ta từ trước đến nay Tuy nhiên, chưa có một văn bản hiện hành nào giải thích rõ ràng và đầy đủ về khái niệm “Chính quyền địa phương”
Trong từ điển Tiếng Việt cũng chưa đưa ra khái niệm chính quyền địa phương mà mới chỉ đưa ra thuật ngữ chính quyền được hiểu là “bộ máy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước ở các cấp” Chính quyền hay quyền lực, được hiểu là quyền và khả năng buộc một ai đó phải lệ thuộc vào ý chí của mình” [45,tr.450]
Nhà nước là thiết chế gắn với lãnh thổ quốc gia nên một trong những công việc đầu tiên của Nhà nước là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đồng thời thiết lập quyền lực, bộ máy quản lý trên các đơn
vị hành chính lãnh thổ Số lượng cơ quan hành chính địa phương được quyết định bởi số lượng đơn vị lãnh thổ, số lượng các cấp chính quyền nhằm thực hiện quyền lực trên lãnh thổ đó Vì vây, có thể hiểu rằng bộ máy quản lý, điều hành trên các đơn vị hành chính lãnh thổ được gọi là chính quyền địa phương hay Chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức ở địa phương thực hiện quản lý, điều hành công việc của nhà nước trên địa bàn địa phương Ở đây ta có thể nghiên cứu đến bản chất của vấn đề chứ không phải bản thân thuật ngữ chính quyền địa phương Có thể thấy rằng thuật ngữ chính quyền địa phương chỉ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế được thành lập
Trang 15để quản lý, điều hành trên đơn vị lãnh thổ nhất định và để quản lý, điều hành trên một đơn vị lãnh thổ thì có những thiết chế đó có nhiệm vụ, quyền hạn như pháp luật quy định và như vậy đó là những thiết chế quyền lực nhà nước hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo những quy định của từng quốc gia Điều này phụ thuộc vào hệ thống chính trị, hình thức chỉnh thể của nhà nước, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền dân chủ xã hội, vào cách thức quản lý xã hội của nhà nước và nhiều yếu tố khác
Chính quyền được thiết lập trên các đơn vị hành chính của quốc gia luôn
là quyền lực nhà nước chính thống nên nhà nước thực hiện quyền lực trên đơn
vị hành chính lãnh thổ theo đúng các quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ
Nhà nước là một tổ chức công quyền, chính thống trong xã hội, vì vậy Chính quyền được thiết lập trên đơn vị hành chính của quốc gia là quyền lực nhà nước chính thống, do đó những thiết chế được thành lập để thực hiện quyền lực nhà nước trên đơn vị lãnh thổ luôn phải hợp hiên và hợp pháp, có nhiệm vụ quyền hạn được Hiến pháp và pháp luật quy định và bảo vệ
Các thiết chế được thành lập để quản lý trên các đơn vị lãnh thổ, có thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân, đồng thời những cơ quan đó đại diện cho quyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước hay nhân dân địa phương tham gia vào các mối quan hệ mang tính quyền lực hay một số quan hệ kinh tế với tư cách là một pháp nhân công pháp - đại diện cho cộng đồng lãnh thổ để thực hiện những công việc chung của cộng đồng lãnh thổ thông qua việc
ký kết các hợp đồng hành chính, thực hiện công vụ nhà nước Các thiết chế được thành lập để quản lý có các nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do pháp luật quy định đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định
Như vậy có thể hiểu chính quyền địa phương là thiết chế nhà nước hay thiết chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thực hiện một cách hợp hiến, hợp pháp để quản lý, điều
Trang 16hành mọi mặt đời sống mọi mặt đời sống xã hội trên một đơn vị hành chính lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định
Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng, khái niệm chính quyền địa phương được phân hóa theo hai quan điểm: quan điểm quan niệm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp và quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa rộng
Theo quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp: Hiến pháp và pháp luật nước ta khi quy định về chính quyền địa phương thường đề cập đến 2
cơ quan: Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương tức là HĐND (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương là UBND (Ủy ban nhân dân) hay còn gọi là Ủy ban hành chính
Theo quy định về chính quyền địa phương được thể hiện trong các bản Hiến pháp cụ thể như sau: Chương V của Hiến pháp năm 1946 và chương VII của Hiến pháp năm 1959 quy định “HĐND và Ủy ban hành chính”, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 cũng có tên chương là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, chúng ta có các luật với tên gọi của hai luật cũng là 2 cơ quan này Ví dụ Luật
Tổ chức HĐND và UBND năm 1983, năm 1989, năm 2003 Nhưng có một ngoại lệ là sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, ngày 29/4/1958 tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã thống qua Luật số 110 với tên gọi là: “Luật tổ chức chính quyền địa phương”, hiện nay là Luật tổ chức Chính quyền địa phương
Để xác định rõ bản chất pháp lý, cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương và sự khác nhau cơ bản, có nguyên tắc giữa khái niệm “ Chính quyền địa phương”, “Quản lý và tự quản địa phương”… của các nước, cần nhấn mạnh một số điểm chủ yếu sau:
- Chính quyền địa phương của nước ta hiện nay được quan niệm là bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình ở địa phương
Trang 17- Không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương Điều này không có nghĩa chỉ trừ các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân,
mà còn bao gồm các cơ quan của các bộ, ngành trung ương đóng ở địa phương như Công an, Quân sự, Hải quan, Thuế,… Vì những cơ quan này không do nhân dân địa phương thành lập ra dù trực tiếp hay gián tiếp, mà do các cơ quan bộ, ngành ở trung ương thành lập, bổ nhiệm thủ trưởng các cơ quan này và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chúng
Như vậy chính quyền địa phương của nước ta, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 được tổ chức 3 cấp đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã (gọi chung là cấp huyện); xã, thị trấn, phường (gọi chung là cấp xã) Ở tất cả các đơn
vị hành chính nói trên, không phân biệt sự khác nhau về vị trí, tính chất, vai trò
ở thành thị hay nông thôn, đều được xác định cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều
Trang 18Trong cuộc đấu tranh giai cấp có tính lịch sử này, giai cấp vô sản cần
có một đảng chân chính lãnh đạo - Đảng cộng sản Bởi vì lịch sử đấu tranh giai cấp đã khẳng định một điều, để giành được thắng lợi tất yếu phải xây dựng được cho mình một Đảng cách mạng Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp
vô sản Đó là những người kiên quyết nhất, là bộ phận cổ vũ tất cả các bộ phận khác; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản Mục đích của những người cộng sản, cũng là mục đích của tất cả các Đảng
vô sản khác; tổ chức của những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền Tính quy luật của lịch
sử là: chủ nghĩa tư bản nhất định được thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản và người có vai trò thực hiện bước thay đổi thế giới là giai cấp công nhân mà Đảng cộng sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo
Theo C Mác và Ph.Ăngghen: “cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản ở nước mình đã” [16,tr.611] Và “Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”[16,tr.623-624]
V.I Lênin đã chỉ ra, chỉ có một Đảng chân chính mới bảo đảm duy nhất cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản tác động đến mọi quá trình
xã hội, trước hết là thông qua hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ nó lãnh đạo nhà nước, các tổ chức xã hội, thông qua các tổ chức này, lãnh đạo toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Lênin chỉ
ra rằng: “Trong nước cộng hoà chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban Chấp hành trung ương Đảng”[44,tr.38] Tuy nhiên, sau khi lãnh đạo chính quyền, Lênin cũng đã phát hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Trang 19có dấu hiệu không cụ thể, chồng chéo Lênin đã yêu cầu: cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng (và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ chính quyền Xô Viết và các cơ quan Xô-Viết, còn về Đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy
và thường là nhỏ nhặt như hiện nay
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành
sự quan tâm đến việc xây dựng tổ chức Đảng Người xác định: “Trước hết phải
có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”[24,tr.267-268] Người đã tập trung xây dựng và rèn luyện những người ưu
tú từ các giai cấp, tầng lớp lao động để hình thành một Đảng cách mạng chân chính Người cũng yêu cầu chính phủ (suy rộng ra là cơ quan nhà nước các cấp) phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết: “việc gì có lợi cho dân thì phải làm, việc
gì có hại cho dân thì phải tránh”[25,tr.22] Bác luôn khẳng định nhà nước là của dân Đảng đại diện cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lãnh đạo nhà nước thực thi nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Do vậy, quyền lực là thống nhất, không có sự phân chia quyền lực Người cho rằng: “trong Đảng và Nhà nước ta
có sự phân công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc kim đồng hồ; cái kim dây cót khác nhau nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau Thiếu một bộ phận nào cũng không được”[23,tr.555-556] Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã từng lưu ý rằng, trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, để tránh những sai lầm, khuyết điểm, Đảng phải không ngừng phát huy dân chủ trong sinh hoạt và công tác, đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, đi đúng đường lối quần chúng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, chống độc quyền, độc đoán, kéo bè, kéo cánh Để phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng cầm quyền, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” Đảng lãnh đạo là một cách thức (quan trọng nhất) mang lại lợi ích cho giai cấp công nhân, cho
Trang 20dân tộc và quốc tế Lợi ích đó là chính trị, kế tiếp là các lợi ích khác, nhằm đạt được dân chủ, bình đẳng, công bằng, văn minh,… Ngoài ra, không có một tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản trong việc mang lại lợi ích cho số đông người lao động
Thực hiện quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan Nhà nước các cấp
Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý Đó là các nhiệm vụ: Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quản lý hành chính - xã hội và hành chính - kinh tế; điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỹ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh
Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nêu rõ quan điểm cần thiết sữa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước
Tổ chức và hoạt động bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó
Đại hội VII cũng đã chủ trương cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và HĐND, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi trọng hoạt động của tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn các
cá nhân của người đúng đầu chính phủ, đứng đầu bộ, ngành trong quản lý và điều hành Theo đó, nghị quyết hội nghị Trung ương 2 (12-1991), khoá VII,
Trang 21nhấn mạnh: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là điều kiện quan trọng nhất để tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm cho sự lãnh đạo của Đảng có chất lượng và có hiệu quả hơn, đồng thời làm cho sự quản lý và điều hành của Nhà nước có hiệu quả, pháp luật được tôn trọng, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy”[17,tr.56] Đảng lãnh đạo Nhà nước chứ không làm thay Nhà nước Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Nhà nước thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng
Thực hiện quan điểm chỉ đạo đó, ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội khoá VIII đã thông qua Hiến pháp sữa đổi, quy định những vấn đề cơ bản nhất
về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (1/1995), khoá VII, chủ trương tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính “Tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”[18,tr.78] Nghị quyết Trung ương 3 (6/1997), khoá VIII, đã khẳng định những thành tựu quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và những đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan Nhà nước
Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII (năm 1999), khoá VIII, chủ trương tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong tổng thể bộ máy của hệ thống chính trị Coi cải cách hành chính là nhiệm vụ thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính
Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định nội dung tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho
sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của đảng
Trang 22và Hiến pháp, pháp luật của nhà nước”[19,tr.98] Để cụ thể hoá nghị quyết đại hội, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX đã ban hành Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn”
Việc khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng (Văn kiện Đại hội
IX của Đảng và Điều 2, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi,
bổ sung) đã thể hiện bước phát triển mới về quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời cũng là sự đổi mới có tính nguyên tắc trong quan hệ giữa Đảng với Nhà nước nói chung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng Nó đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn chỉnh cả về phía Đảng và cả phía Nhà nước
Đại hội X đã nêu rõ “Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân Phải xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các ngành, các cấp Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”[20,tr.67]
Hội nghị Trung ương 5, khoá X khẳng định: Trong điều kiện ở nước ta một Đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến hoạt động của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị Phương thức lãnh đạo tốt, sẽ tạo động lực cho các tổ chức trong
hệ thống chính trị phát huy vai trò, vị trí của mình Ngược lại, nếu phương thức lãnh đạo của Đảng không tốt, sẽ kìm hãm sự phát huy năng lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị Do vậy, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đó cũng chính là điều kiện để tổ chức cơ sở Đảng thực hiện tốt chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở cơ sở
Trang 23Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế, quy định, quy trình công tác để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước”[21,tr.264]
Như vậy, qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương Đảng, Đảng ta từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan nhà nước các cấp Có thể nhận thấy rằng, mạch tư duy về nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước được xác định khá rõ: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, các nghị quyết, nguyên tắc giải quyết các vấn
đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng Đảng tập trung lãnh đạo xây dựng Nhà nước thực sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, có phân công, phân cấp quản lý, tôn trọng, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và người đứng đầu các tổ chức trong công tác cán bộ Đảng kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo và kiểm tra bộ máy nhà nước thông qua tổ chức Đảng và các nhân đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là hệ thống các phương pháp, các hình thức, các biện pháp mà Đảng tác động vào Nhà nước để hiện thực hóa ý chí và mục tiêu của Đảng Về nguyên tắc, mục tiêu cao nhất của Đảng lãnh đạo Nhà nước là tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân bằng Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quá trình xây dựng xã hội mới, nhằm làm cho mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nói chung, của từng thời kỳ nói riêng được thực hiện có hiệu quả cao Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bị quy định bởi đặc tính khách quan và chức năng cơ bản của hệ thống tổ chức Nhà nước và tính chất lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Trong những năm đổi mới, trên cơ sở đổi mới tư duy và cùng với đổi mới về
Trang 24kinh tế, về hệ thống chính trị, văn hóa - xã hội, phương thức lãnh đạo của Đảng cũng được đổi mới, có những bước tiến, khác xa so với thời kỳ chiến tranh
và thời kỳ tập trung bao cấp Bước tiến về đổi mới phương thức lãnh đạo thể hiện ở chỗ:
- Đảng và các cấp ủy Đảng ngày càng coi trọng và quan tâm đến đổi mới phương thức lãnh đạo - một yêu cầu cơ bản và cấp bách của đổi mới, chỉnh đốn Đảng cho phù hợp với tình hình đã thay đổi
- Đảng ngày càng xác định rõ hơn nội dung của phương thức lãnh đạo và các "kênh", các con đường đổi mới phương thức lãnh đạo Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), đã chỉ rõ: "Đảng lãnh đạo
xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu
tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị" "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được đổi mới theo hướng không ngừng mở rộng dân chủ và công khai; các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân và vai trò người phản biện đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Đảng và các tổ chức Đảng ngày càng coi trọng và tôn trọng vai trò các
cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, HĐND và UBND các cấp Vai trò của các tổ chức Nhà nước ngày càng được phát huy, được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động, tính chủ động, hiệu lực và hiệu quả ngày càng được nâng cao Ngày càng
Trang 25phân định rõ hơn chức năng của các tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nước, nhất là ở trung ương, giảm bớt sự chồng chéo, lấn sân của nhau
- Đảng đã bố trí cán bộ, đảng viên của mình giữ những cương vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền các cấp, nhờ đó, giữ vững được sự lãnh đạo toàn diện
và tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị
- Ngày càng xác định rõ hơn nội dung, phạm vi lãnh đạo, mối quan hệ lãnh đạo của cấp ủy với cơ quan nhà nước, nhất là ở trung ương Đã xây dựng được quy chế làm việc của trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, cũng như xây dựng chương trình công tác của cấp ủy toàn khóa, hàng năm
Thông qua đó, xử lý đúng đắn hơn, rành mạch hơn (nhưng không phải cứng nhắc, máy móc) mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, giữa cơ quan đảng và cơ quan chính quyền, giúp cho cấp ủy tập trung trí tuệ và sức lực lãnh đạo những vấn đề lớn và quan trọng
- Quá trình xây dựng và ban hành Nghị quyết của Đảng đã được cải tiến (chú ý hơn đến công tác tham mưu, tư vấn, sử dụng chuyên gia, làm thí điểm), việc phổ biến nghị quyết cũng giảm bớt tính hình thức, tăng tính thiết thực, ngắn gọn, gắn với chương trình hành động
Tuy có những bước tiến quan trọng trên đây, song, những đổi mới về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình, yêu cầu cần đổi mới Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trên vấn đề này, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc làm hạn chế cả vai trò lãnh đạo của Đảng lẫn hiệu lực quản lý của Nhà nước và vai trò làm chủ của nhân dân Vẫn còn tình trạng Đảng bao biện, làm thay, lấn sân công việc của chính quyền, cơ quan Đảng chạy theo những việc sự vụ, "buông cái to nắm cái nhỏ", can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền Vẫn còn tình trạng cơ quan chính quyền thụ động, ỷ lại vào cấp ủy,
né tránh không dám chịu trách nhiệm, hoặc đẩy các công việc đáng lẽ thuộc thẩm quyền mình giải quyết sang cho cấp ủy để giữ "chốt an toàn"; vẫn còn tình trạng cấp trên ôm đồm nhiều việc của cấp dưới mà không dám mạnh dạn phân
Trang 26cấp, nên cấp trên không còn thời gian và sức lực để đầu tư suy nghĩ những vấn đề lớn, quan trọng hơn hoặc có tầm chiến lược Đồng thời, cũng vẫn còn tình trạng cấp ủy buông lỏng lãnh đạo chính quyền, không phát huy được vai trò lãnh đạo, thậm chí bị cơ quan chính quyền lấn sân v.v và v.v
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX): "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng sự lãnh đạo, hoặc bao biện, làm thay, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước"[37,tr.18]
1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ, chính quyền ở địa phương
1.2.1 Vị trí, vai trò của Đảng bộ cấp xã
Đảng bộ các xã, thị trấn là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ
sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi tiến hành trực tiếp công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đảng bộ xã, thị trấn là nơi giáo dục, rèn luyện, đề nghị kết nạp đảng viên mới và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng
Về hoạt động lãnh đạo, Đảng bộ các xã, thị trấn vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa là nơi góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách thông qua tổng kết hoạt động thực tiễn năng động, sáng tạo của đảng viên và quần chúng Thực tiễn phong phú, sinh động ở cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng góp phần tạo nên trí tuệ cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
Đảng bộ xã, thị trấn là một thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở, nhưng là thành viên giữ vị trí, vai trò hạt nhân lãnh đạo hệ thống đó, bảo đảm cho hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng của Đảng
Vị trí hạt nhân chính trị của Đảng bộ xã, thị trấn thể hiện vai trò đoàn kết
và lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Trang 27Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Đảng bộ xã, thị trấn còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên cán bộ, đảng viên và quần chúng thực hiện có hiệu quả cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đảng bộ xã, thị trấn là trung tâm, tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
Các Đảng bộ xã, thị trấn lãnh đạo qua các kỳ Đại hội đại biểu “Đại hội thảo luận văn kiện của cấp uỷ cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua; quyết định nhiệm kỳ tới; bầu cấp uỷ; bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên”[34,tr.16] Giữa 02 kỳ đại hội, cấp uỷ chịu trách nhiệm với đại hội đại biểu “lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên”[34,tr.19]
Như vậy, cấp uỷ Đảng địa phương mà cụ thể ở đây là Đảng uỷ, Ban Thường vụ Đảng uỷ, được Đảng bộ uỷ nhiệm, giao quyền là “vị chỉ huy tối cao” trong địa phương của mình Từ thẩm quyền chung được quy định trong Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và các văn bản hướng dẫn của cấp ủy cấp trên, Đảng
uỷ phân công, giao quyền và uỷ quyền cho tập thể Ban Thường vụ Đảng uỷ, tập thể Thường trực Đảng uỷ và các cá nhân đồng chí Bí thư Đảng uỷ Vị trí, vai trò
và chức năng, nhiệm vụ của tập thể và các cá nhân trong đảng uỷ được Đảng bộ các xã, thị trấn xác định như sau
Đảng uỷ có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ của địa phương
Có trách nhiệm quán triệt Nghị quyết của Đảng và các chỉ thị của trung ương, của tỉnh, của huyện và nghị quyết đại hội Đảng bộ xã, Đảng uỷ tiến hành thảo luận và quyết định những đề án chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 28quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách xã hàng năm do UBND xã trình bày Thông qua báo cáo, ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò của chính quyền, mặt trận, các đoàn thể quần chúng trong xã Chuẩn bị đại hội Đảng bộ
xã, thị trấn nhiệm kỳ tiếp theo Đề xuất với huyện uỷ các vấn đề xét thấy cần thiết thuộc thẩm quyền của Huyện uỷ và cấp uỷ cấp trên
Đối với Ban Thường vụ Đảng uỷ:
Ban Thường vụ Đảng uỷ xã, thị trấn là cơ quan thay mặt Đảng uỷ lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Đảng bộ giữa hai lần hội nghị Đảng uỷ Thẩm quyền chủ yếu của Ban Thường vụ Đảng uỷ là: Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng uỷ xã, thị trấn và các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, các cấp uỷ tỉnh, huyện Quyết định một số chủ trương, biện pháp thực hiện nghị quyết mà không triệu tập Ban Chấp hành, sau
đó báo cáo lại trước hội nghị Ban Chấp hành kỳ họp gần nhất Triệu tập các cuộc họp thường kỳ của Đảng uỷ, báo cáo tình hình và đề xuất chủ trương chỉ đạo tiếp theo Lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức như Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang, công an về các mặt công tác trên địa bàn xã, thị trấn; kiểm tra việc thi hành Nghị quyết đại hội
và cấp uỷ theo phân công, nghị quyết và chỉ thị của cấp uỷ cấp trên Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện những công việc quan trọng Quyết định, bố trí cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của xã, thị trấn Báo cáo tình hình
về các mặt công tác của Đảng bộ xã, thị trấn về Ban thường vụ Huyện uỷ
Đối với Thường trực Đảng uỷ:
Thường trực Đảng uỷ gồm Bí thư và các Phó bí thư Đảng uỷ Thường trực Đảng uỷ không phải là một cấp, một cơ quan của tổ chức Đảng Thẩm quyền của Thường trực Đảng uỷ chủ yếu do Ban Thường vụ uỷ quyền Thay mặt Ban Thường vụ Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ chỉ đạo, kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ, của Ban Thường vụ và của cấp uỷ cấp trên, giải quyết
Trang 29công việc hàng ngày của Đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Thường vụ
Đối với Bí thư Đảng uỷ:
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, Bí thư Đảng uỷ có vai trò rất quan trọng trong Đảng bộ
Là người chịu trách nhiệm cao nhất trong Đảng bộ, Ban Thường vụ và thường trực Đảng uỷ; cùng Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Đảng bộ chịu trách nhiệm trước Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ, trước Đảng bộ và nhân dân trong xã, thị trấn về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực ở địa phương
Chuẩn bị việc chỉ đạo chủ trì và kết luận các cuộc họp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ, các hội nghị giao ban thường trực; chuẩn bị cho đại hội đảng bộ nhiệm kỳ tiếp theo; Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành; chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp uỷ những vấn đề lớn, quan trọng để đưa ra Ban Thường vụ, Ban Chấp hành; Chỉ đạo việc
sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
Cùng với đồng chí Phó Bí thư Thường trực và Phó Bí thư - Chủ tịch UBND xã, thị trấn giải quyết công việc hàng ngày của Đảng bộ, lãnh đạo HĐND, UBND xã tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ
có liên quan đến công tác quản lý nhà nước ở địa phương Chỉ đạo các đồng chí Phó bí thư Đảng uỷ thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của cấp uỷ và phụ trách một số công việc theo quy chế
Đối với Phó Bí thư - Chủ tịch UBND xã, thị trấn:
Chịu trách nhiệm chính, trực tiếp về những nội dung công việc được phân công cụ thể:
- Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước cấp xã, thị trấn Chỉ đạo xây dựng bộ máy chính quyền từ xã đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và HĐND về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, Quốc phòng – An ninh,
Trang 30công tác tổ chức và cán bộ thuộc thẩm quyền Chỉ đạo công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch hằng năm, 5 năm, các chương trình, đề án kinh tế - xã hội, Quốc phòng - An ninh… trình Ban Thường vụ, Ban Chấp hành xem xét, quyết định
- Thay mặt thường trực chủ trì thực hiện quy chế phối hợp giữa UBND
xã, thị trấn với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể; phụ trách công tác dân vận chính quyền, công tác tiếp dân Chủ động đề xuất những vấn đề thuộc trách nhiệm của UBND với Thường trực, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, điều
hành giữa cấp uỷ Đảng và chính quyền
1.2.2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã
Chính quyền địa phương ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (HĐND) và các
cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo qui định của pháp luật (UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND,…), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ
và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
Ở cấp xã, thị trấn thì chính quyền địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
- Vị trí, vai trò của HĐND xã, thị trấn trong hệ thống chính trị ở địa phương Trong điều kiện cụ thể của thể chế Nhà nước Việt Nam, pháp luật quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc: trực tiếp, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín; chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
HĐND cấp xã, thị trấn quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương
Trang 31về kinh tế - xã hội, cũng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
HĐND xã, thị trấn thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND, UBND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân ở địa phương
Tính quyền lực của HĐND thể hiện ở chỗ:
HĐND là cơ quan nhà nước ở địa phương được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực nhà nước
Quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương, biến ý chí của nhân dân địa phương trở thành quy định bắt buộc đối với dân cư trên lãnh thổ ở địa phương
Tính đại diện của HĐND thể hiện ở chỗ:
Ở địa phương, chỉ có HĐND là cơ quan duy nhất do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín HĐND là đại diện, tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện trí tuệ tập thể nhân dân
Trong hệ thống chính trị ở địa phương sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong hoạt động của HĐND là một phương thức thể hiện cụ thể cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đây là yếu tố cơ bản để các quyết sách của Hội đồng nhân dân đúng “ý Đảng, lòng dân” Mặt khác đây còn là vấn
đề mang tính nguyên tắc đã được quy định trong Điều 4 Hiến pháp năm 1992 Nội dung công tác lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của HĐND có tính toàn diện, từ việc lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, đến việc định hướng cho các hoạt động của HĐND Trong quá trình lãnh đạo thì phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng có tác động rất lớn đến chất lượng hoạt động của HĐND
Trong thể chế dân chủ như hiện nay thì mọi quyết định của HĐND đều phải dựa trên cơ sở chủ trương, đường lối, nghị quyết của cấp ủy Đảng HĐND
Trang 32có trách nhiệm thể chế hóa Nghị quyết của cấp ủy Đảng nhằm đưa chủ trương, đường lối, Nghị quyết đó vào cuộc sống nhưng đồng thời phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân mà HĐND là người đại diện, có như vậy thì các quyết định của HĐND mới khả thi, mang lại hiệu quả và thực sự đi vào cuộc sống nhân dân
- Vị trí, vai trò của UBND xã, thị trấn trong hệ thống chính trị ở địa phương UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên
UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước ở cơ sở
Đây là chính quyền của các đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn UBND cấp
xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần dân nhất UBND cấp xã có từ 4 đến 5 thành viên, gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 ủy viên quân sự và 1 ủy viên công an Người đứng đầu UBND cấp xã là Chủ tịch UBND do do HĐND của
xã, thị trấn bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín Thông thường, Chủ tịch UBND
xã, thị trấn sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Đảng ủy của xã, thị trấn UBND cấp
xã hoạt động theo hình thức chuyên trách và không chuyên trách
Nhiệm vụ quyền hạn của UBND được thực thi trên các lĩnh vực: kinh tế; văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành
chính,… và việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cấp uỷ
1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cơ sở
Trang 33Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu phát triển kinh tế của huyện Đức Thọ có rất nhiều nhiệm vụ đối với chính quyền cơ sở, chính vì vậy để chính quyền cơ sở hoạt động có hiệu quả đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy
là việc làm hết sức cần thiết nhằm phát triển trên mọi lĩnh vực của địa phương
Qua thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng trong sạch, vững mạnh, quan tâm lãnh đạo chỉ đạo chính quyền địa phương thì nơi đó đạt hiệu quả cao trong hoạt động, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, quyền dân chủ của người dân được phát huy Mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với đối với chính quyền được thể hiện trên ba nội dung chủ yếu là: chỉ đạo việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng trên địa bàn địa phương và thông qua định hướng phát triển của địa phương; thông qua công tác tổ chức cán bộ; thông qua việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là bảo đảm cao nhất cho quyền dân chủ của nhân dân, cho sự tồn tại và hoạt động
có hiệu quả của cơ quan nhà nước ở địa phương Vì vậy, bảo đảm tốt sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là một điều kiện quyết định để tăng cường xây dựng chính quyền địa phương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Một trong những công cụ chủ yếu để cấp ủy Đảng lãnh đạo chính quyền địa phương là thông qua nghị quyết, chủ trương, định hướng của cấp ủy Đảng Những văn bản của chính quyền một mặt phải đúng pháp luật nhưng mặt khác phải thể hiện được chủ trương, định hướng, nghị quyết của Đảng
Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với chính quyền, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đồng thời phát huy được vai trò, chức năng của chính quyền cần phải thực hiện những nội dung sau:
Một là, xây dựng cơ chế ban hành văn bản của cấp ủy Đảng và chính
quyền Nội dung quy chế cần xác định rõ những vấn đề nào thì cần cấp ủy ra nghị quyết, những vấn đề nào thuộc HĐND, những vấn đề nào thuộc thẩm quyền của UBND; quy định thời hạn HĐND, UBND ra văn bản sau khi cấp ủy
có nghị quyết
Hai là, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy Đảng, chất lượng các kỳ
Trang 34họp HĐND, UBND Sinh hoạt của cấp ủy đảng cần chú trọng đến quan điểm chính trị trong các lĩnh vực mà tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo; các kỳ họp của HĐND, UBND cần thể hiện được tính chiến đấu trong việc triển khai nghị quyết của cấp ủy đảng, phải đóng vai trò là “cầu nối” để đưa nghị quyết, chủ trương của cấp ủy vào cuộc sống
Ba là, cấp ủy Đảng và đảng viên phải tôn trọng pháp luật và cơ quan nhà
nước Đảng bắt buộc tất cả các tố chức, các cán bộ, đảng viên của Đảng phải tôn trọng quyền lực của HĐND, UBND, nghiêm chỉnh chấp hành văn bản pháp quy của HĐND, UBND, coi đó là kỷ luật của Đảng
Bốn là, để thực hiện tốt và tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với
HĐND, UBND, cần kiện toàn đảng đoàn, ban cán sự, có chế độ sinh hoạt định
kỳ với nội dung được xác định, mà không lẫn lộn hoặc kết hợp làm một với sinh hoạt của lãnh đạo chính quyền Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của chính quyền địa phương, cũng cần chú trọng, kiện toàn, củng cố cấp ủy đảng và
bộ máy tham mưu của Đảng Bộ máy tham mưu cho cấp ủy đảng dù ở cấp nào cũng cần phải tinh gọn, làm đúng chức năng tham mưu của Đảng, đủ năng lực
để giúp cấp ủy thẩm tra, kiểm tra việc quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng trong hoạt động của HĐND, UBND và giúp cấp ủy quản lý cán bộ chủ chốt Đồng thời cũng cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa bộ máy tham mưu của Đảng với bộ máy giúp việc của HĐND, UBND, có thực hiện được như vậy thì cấp ủy đảng mới thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiện toàn tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương Nâng cao năng lực tổ chức của Đảng trước hết chính là nâng cao năng lực của cấp ủy và bộ máy tham mưu trong việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng chính quyền địa phương như là một công cụ sắc bén nhất để tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của cấp ủy Vai trò và hiệu lực quản lý của HĐND, UBND được nâng cao là dấu hiệu quan trọng nhất nói lên trình độ và năng lực tổ chức của cấp ủy đảng địa phương Hiệu lực của chính quyền địa phương do cán bộ quyết định Cấp ủy Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ thì trước hết phải có sự thống nhất nhận thức về tiêu
Trang 35chuẩn, cơ cấu cấp ủy Xuất phát từ chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng, cán bộ cấp ủy phải là những nhà chính trị, được rèn luyện thử thách vững vàng về chính trị, đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và biết vận dụng vào thực tiễn địa phương để xem xét, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra Đây là vấn đề không mới trong khoa học tổ chức Để tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy với HĐND, UBND, đồng thời đảm bảo HĐND
là cơ quan quyền lực thực sự, đại diện cho nhân dân ở địa phương thì bí thư hoặc phó bí thư cấp ủy nên kiêm chức vụ Chủ tịch HĐND cùng cấp Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đưa ra việc thực hiện thí điểm đề án nhất thể hóa một số tổ chức và chức danh lãnh đạo Đảng, chính quyền ở các cấp chính quyền địa phương, trong đó có cấp xã, thị trấn, trong đó việc tiếp tục thực hiện mô hình bí thư đồng thời là chủ tịch UBND ở cấp xã
Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi chung đối với mọi cấp chính quyền, trong đó có huyện Đức Thọ Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nguyên tắc chủ đạo, căn bản nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nhằm đảm bảo cho chính quyền thực sự là của dân, tăng tính chủ động, hiệu quả của chính quyền, phát huy dân chủ, khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước Tất cả mọi
cơ quan, tổ chức, cá nhân làm việc trong bộ máy của Đảng và Nhà nước đều phải triệt để tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với chính quyền cơ sở nhằm khắc phục những yếu kém trong lãnh đạo tại địa phương Huyện Đức Thọ vẫn là một trong những huyện có những vấn đề nổi cộm trong thời gian vừa qua liên quan đến một phần trách nhiệm trong lãnh đạo của cấp ủy Đảng còn thiếu quan tâm sâu sát nên để xảy ra những vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh trật tự ở một
số địa phương trên địa bàn huyện chưa được đảm bảo Chính vì vậy tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cơ sở ở huyện Đức Thọ trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần thiết
Trang 36Kết luận chương 1
Về khái niệm lãnh đạo chúng ta có thể hiểu, đó là việc đề ra đường lối, chỉ đạo mọi hoạt động có mục đích và có tổ chức của chủ thể đến các đối tượng, nhằm đạt tới những lợi ích của chủ thể, thực hiện mục tiêu do chủ thể đặt ra
Đối với Chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt trong việc điều hành, quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn, để xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, phát huy có hiệu lực hiệu quả hoạt động, trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
Trong các cấp của nhà nước thì cấp xã, thị trấn có vị trí đặc biệt quan trọng, là cấp trực tiếp với đảng viên và nhân dân Có thể khẳng định rằng, sự phát triển của đất nước không thể tách rời sự phát triển của các địa phương Nhân tố làm nên phát triển đó, trước hết phải nói đến các Đảng bộ xã, thị trấn
Từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy, mọi sự thành bại của địa phương đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng bộ, cấp uỷ Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ
xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp để không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng là vấn đề có tầm quan trọng hiện nay
Chính vì vậy trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phương thức lãnh đạo và yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bằng nhiều hình thức, biện pháp, cách thức lãnh đạo và đã mang lại những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của chính quyền các cấp
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐỨC THỌ TRONG GIAI ĐOẠN
Huyện có vị trí địa lý tự nhiên khá thuận lợi, hệ thống kênh mương, sông ngòi đảm bảo cho việc tưới tiêu phát triển kinh tế và giao thông đường thuỷ như sông Ngàn Sâu chảy từ Hương Khê về, sông Ngàn Phố từ Hương Sơn xuống hợp lưu Tam Soa thành sông La chảy qua trung tâm huyện lỵ dài 12 km Có đường sắt Bắc – Nam đi qua 9 xã với chiều dài 15 km, có hai nhà ga trong đó ga Yên Trung là ga chính của tỉnh Hà Tĩnh Có đường quốc lộ 8A, tỉnh lộ 15A và đường 5A đi qua Dựa vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, đất đai, thổ nhưỡng Đức Thọ được chia thành ba vùng rõ rệt: vùng thượng đức, vùng trong đê và vùng ngoài đê Mỗi vùng đều có thế mạnh riêng trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, công nghiêp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch,v.v
Trang 38Bên cạnh những thuận lợi, Đức Thọ vẫn có những khó khăn, hạn chế:
Đó là huyện nằm ở Bắc miền Trung nên chịu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu khắc nghiệt; lụt bão xẩy ra thường xuyên, hạn hán kéo dài ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Là huyện thuần nông, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển còn hạn chế, người dân chủ yếu làm nghề nông, nên đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Qua khảo sát hiện nay huyện Đức Thọ có tổng giá trị sản xuất là 4.028,8
tỷ đồng, đạt 99,56% kế hoạch, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,8%, cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp: 23,7%, Công nghiệp - TTCN-XD: 34,7%, Thương mại - Dịch vụ: 41,6%; thu nhập bình quân đầu người đạt 30,7 triệu đồng/người/năm Nông nghiệp - Lâm -Thủy sản tăng nhanh, giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 966,2 tỷ đồng Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị đạt
740 tỷ đồng, tăng 12,8% Thương mại - Dịch vụ, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu đạt giá trị 1.060 tỷ đồng, tăng 21,8% Về lĩnh vực xây dựng
cơ bản: Giá trị xây dựng cơ bản đạt 470,5/315 tỷ đồng, đạt 149,4% so với kế hoạch, tăng 47,6% so với cùng kỳ Công tác Tài chính - Ngân hàng: Tổng thu ngân sách đạt 582 tỷ đồng bằng 138% kế hoạch Chi ngân sách cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn huyện
- Trên lĩnh vực xây dựng nông thôn mới: tập trung cao việc chỉ đạo xây dựng nông thôn mới theo các đề án đã được phê duyệt Đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng và thu nhập cho
cư dân nông thôn theo lợi thế sản phẩm chủ lực Tiếp tục xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuất liên kết có hiệu quả kinh tế trên cả 3 loại hình quy mô lớn, vừa, nhỏ, đến nay toàn huyện đã có 227 hợp tác và tổ hợp tác sản xuất kinh doanh, 138 doanh nghiệp, hoàn thành 364/495 tiêu chí nông thôn mới phải xây dựng, có 7 xã được công nhận đạt 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Quan tâm đầu tư hoàn thiện các thiết chế văn hoá, xây dựng khu dân cư
Trang 39nông thôn mới kiểu mẫu và các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh được đảm bảo
- Trên lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đới sống văn hoá ở khu dân cư, làng xã văn hoá, gia đình văn hoá đạt kết quả cao, đến nay có 23.000/30.000 hộ gia đình đạt gia đình văn hoá; 86 đơn vị văn hoá, các phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao được đẩy mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
- Về Giáo dục đào tạo được các cấp, các ngành và toàn xã hội chăm lo nên chất lượng giáo dục kể cả đại trà và mũi nhọn được nâng lên rõ rệt Số học sinh giỏi ngày càng tăng, hàng năm có từ 600 đến 750 em đậu vào các trường đại học, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học ngày càng được đảm bảo Đến nay 100% xã có trường học cao tầng, 55/70 trường đạt chuẩn quốc gia, ngành giáo dục luôn dẫn đầu toàn tỉnh
Hà Tĩnh
- Về lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được quan tâm Đến nay 19/28 trạm xã đã có bác sỹ, trung tâm y tế huyện luôn dẫn đầu ngành y tế nhiều năm; 24 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, các trạm y tế đều đảm bảo chất lượng khám và chữa bệnh cho người dân
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%, giảm tỷ lệ nghèo từ 6,5% năm 2013 xuống còn 4,96% năm 2014 Hộ cận nghèo 11,71% năm 2013 xuống còn 9,35% năm 2014 Giải quyết kịp thời các chế độ chính sách người có công và bảo trợ
xã hội, đảm bảo an sinh xã hội
- Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Quốc phòng – an ninh được giữ vững và ngày càng được cũng cố vững mạnh Xây dựng và thực hiện tốt phương án bảo
vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Các cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu được tập trung chỉ đạo và thu được nhiều kết quả thiết thực Ngành công an đạt danh hiệu đơn vị dẫn đầu phong trào bảo vệ an ninh trong nhiều năm và được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng
vũ trang trong thời kỳ đổi mới”
Trang 40Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thực hiện kịp thời, nghiêm túc, đúng thẩm quyền, không có đơn thư khiếu kiện kéo dài, công tác tuyên truyền pháp luật từng bước được tăng cường
- Về lĩnh vực xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể:
Về công tác xây dựng Đảng: Toàn huyện có 49 tổ chức cơ sở Đảng, trong
đó có 28 Đảng bộ xã, thị trấn và 21 Đảng bộ, chi bộ khối cơ quan Tổng số đảng viên toàn huyện là 8450 đồng chí, trong đó có 72 đồng chí đảng viên giáo dân Các cấp uỷ Đảng đã ngày càng nâng cao nhận thức, xác định một cách đầy đủ vai trò, vị trí của Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở cơ sở, nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị hướng vào phục vụ nhân dân
Bộ máy lãnh đạo trong hệ thống chính trị được kiện toàn đảm bảo về số lượng, chất lượng, đội ngũ cán bộ ngày càng được trẻ hoá và chất lượng phục vụ nhân dân từng bước được nâng lên
Hoạt động của Hội đồng Nhân dân từ huyện đến cơ sở đã được đổi mới việc tổ chức điều hành, các kỳ họp của Hội đồng Nhân dân thực sự là diễn đàn chính trị để nhân dân bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng, công tác giám sát của đại biểu Hội đồng Nhân dân được thực hiện thường xuyên
Uỷ ban Nhân dân các cấp đã từng bước thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức quản
lý Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật Đã tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã có bước cải tiến phương pháp hoạt động, bám sát vào các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước để tổ chức tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên thực hiện đạt hiệu quả Chủ động hướng dẫn đoàn viên, hội viên áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, kinh doanh, tổ chức thực hiện các chương trình xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho nhân dân, vận động nhân dân xây dựng các mô hình kinh tế để phát triển sản xuất