Đứng trước đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới toàn diện nền giáo dục và đào tạo cũng như yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đặc thù của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, đội ngũ g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
VŨ TRUNG KIÊN
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Đồng Tháp, năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
VŨ TRUNG KIÊN
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
VĨNH LONG
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH TRUNG THÀNH
Đồng Tháp, năm 2016
Trang 3NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, em
đã nhận được sự quan tâm của nhiều đơn vị, thầy cô, đồng nghiệp và gia đình
Em xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh; Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Đồng Tháp cùng quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Chính Trị học khóa 22
Ban Giám hiệu, các đơn vị phòng, khoa, đội ngũ cán bộ, viên chức của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đinh Trung Thành, người hướng dẫn trực tiếp và tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cùng các anh, chị học viên lớp Cao học Chính Trị học khóa 22 đã dành nhiều tình cảm, giúp
đỡ, động viên em hoàn thành khóa học
Đồng Tháp, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Vũ Trung Kiên
Trang 51.3 Vai trò của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên 28
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VĨNH LONG
36
2.1 Khái quát về Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long 36 2.2 Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
42
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VĨNH LONG
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục chính trị, tư tưởng là một trong những khâu quan trọng của việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm xây dựng những con người, những tập thể tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, luôn có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, góp phần tăng cường cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nằm trong hệ thống giáo dục đào tạo của quốc gia, các học viện, trường đại học ngoài nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, còn có nhiệm
vụ rất quan trọng là tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi đội ngũ giảng viên ở các học viện, trường đại học phải không ngừng nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận của mình Hơn
nữa, với nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên” lực lượng kế cận,
nguồn lực quan trọng để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng Do vậy, trước những yêu cầu, nhiệm vụ trên mặt trận tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, các học viện, trường đại học cần phải đặc biệt quan tâm việc bồi dưỡng năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận, đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho giảng viên
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, với sứ mệnh là trung tâm đào tạo giáo viên dạy nghề và cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học đạt chuẩn quốc gia, là trung tâm bồi dưỡng và đánh giá kỹ năng nghề của khu vực trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, công nghệ kỹ thuật, nhà trường đã không ngừng ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động đào tạo và quản lý, từng bước hoàn thiện và nâng trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên về nhiều mặt Trong đó, quan trọng nhất là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên trong nhà trường, nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo ra đội ngũ giáo viên dạy nghề và công nhân kỹ thuật chất lượng cao cho khu vực và trong cả nước
Trang 7Đứng trước đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới toàn diện nền giáo dục và đào tạo cũng như yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đặc thù của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, đội ngũ giảng viên trong nhà trường còn bộc
lộ hạn chế và yếu kém ở nhiều mặt như: tư tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị, trình độ nhận thức chính trị, trình độ lý luận chính trị; phẩm chất đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp; năng lực tổ chức quản lý, năng lực hoạt động thực tiễn,… Để khắc phục tình trạng trên cần phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến công tác phát triển đội ngũ trong nhà trường, trong đó, vấn đề có ý nghĩa cấp bách là phải đổi mới và tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong nhà trường
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Giáo dục chính trị, tư
tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long” làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà cho đến nay đã có rất nhiều nguồn tài liệu, văn bản, sách báo, các công trình khoa học của Đảng, Nhà nước, các cơ quan khoa học và nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề ở những mức độ khác nhau
Đó là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả tham khảo, kế thừa, phát triển trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn của mình như:
Trang 8Vũ Ngọc Am (2003), Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên cơ sở trong giai đoạn hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội;
Ngô Ngọc Thắng (2004), Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản Lý luận chính trị;
Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị (2007), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Vũ Ngọc Am (2009), Một số vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị, Nhà xuất bản Thông tấn;
Phạm Huy Kỳ (2010), Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính quốc gia, Hà Nội;
GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Trần Ngọc Hiên, GS Đoàn Trọng Truyến,
Nguyễn Văn Thảo, PGS.PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên, 1999), Đổi mới
và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, PGS.TS
Đặng Bá Lãm, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến (2013), Quản lý nhà nước hệ thống giáo dục Việt Nam trong đổi mới căn bản, toàn diện và hội nhập quốc tế, Nxb
Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội;
PGS.TS.GVCC Đoàn Minh Duệ - Ths Hồ Thị Hồng Cúc (Đồng chủ
biên, 2014), Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cơ
sở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ hội nhập và phát triển, Nxb
Nghệ An
Trong các tài liệu nói trên, các tác giả đã bàn đến và làm sáng tỏ về lý luận chính trị, trình độ lý luận chính trị, tầm quan trọng của việc giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, vai trò của vấn đề này trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta, góp phần làm cơ sở nghiên cứu phương pháp giảng dạy, cách thức bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng Tuy nhiên, các công trình trên cũng chưa đi vào nghiên
Trang 9cứu có hệ thống về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đối tượng là đội ngũ giảng viên trong trường đại học
Các tài liệu là công trình khoa học gồm:
Luận án Tiến sĩ Triết học của Lê Hanh Thông (2003), Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Đề tài cấp Bộ mã B.08 – 23 do PGS.TS Ngô Ngọc Thắng (chủ nghiệm đề
tài, 2008), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay;
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số quan điểm cơ bản của C.Mác, PH Ăngghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh về Công tác tư tưởng (2012), Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, Khoa Tuyên truyền, Hà Nội;
Luận văn Thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn chính trị, Đại
học Vinh (2010), Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên chi bộ xã Tân Hội, Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay của Trần Văn Hòa;
Luận văn Thạc sĩ chính trị học, Đại học Vinh (2014), Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên các trường trung học phổ thông huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa của Phạm Xuân Dinh;
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Đại học Vinh (2015), Văn hóa chính trị của đội ngũ giảng viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay
của Nguyễn Hồng Hải;
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Đại học Vinh (2015), Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở của huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay của Hứa Thị Diễm Phương
Qua nghiên cứu nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống và sâu sắc về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong thời kỳ đổi mới căn
Trang 10bản, toàn diện giáo dục đào tạo hiện nay Đề tài của tác giả không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong giai đoạn 2010 – 2015 và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long giai đoạn 2016 – 2020
Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu, tác giả đã vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Các quan điểm toàn diện, phát triển, lịch sử
cụ thể,…), coi trọng phương pháp lịch sử - logic
Đề tài còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp quan sát thực tiễn nhằm phát hiện vấn đề
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
6 Những đóng góp về mặt khoa học của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên trong Trường Đại học
Trên cơ sở đánh giá khái quát thực trạng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên của Trường trong giai
đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc hoạch định công tác phát triển đội ngũ ở Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long nói chung; về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên hiện nay trong nhà trường nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên trong các trường cao
đẳng nghề, các cơ sở dạy nghề thuộc hệ thống
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia làm 3 chương, 07 tiết
Trang 12B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ,
TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.1 Những vấn đề chung về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
1.1.1 Giáo dục chính trị, tư tưởng
Theo Từ điển Tiếng Việt, giáo dục là “hoạt động nhằm tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [50, tr.394]
Dưới một góc độ khác, giáo dục được hiểu “là hiện tượng truyền đạt lại những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử - xã hội đã được tích lũy qua các thế
hệ Các thế hệ nối tiếp nhau tiếp thu có chọn lọc hệ thống những tri thức, những kinh nghiệm ấy, tham gia cải tạo xã hội, cải tạo bản thân, thúc đẩy cuộc sống phát triển không ngừng” [29, tr.3]
Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu “là sự hình thành nhân cách có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế - xã hội” [39, tr.25-26]
Trang 13Theo nghĩa hẹp, “giáo dục bao gồm quá trình hoạt động nhằm hình thành thế giới quan khoa học, lí tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người, kể cả việc phát triển, nâng cao thể lực” [39, tr.27] Quá trình này được xem là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể mà kết quả được xem xét trên phương diện ý thức, thái độ, hành vi, thói quen biểu hiện sự phát triển của trình độ “có giáo dục” của mỗi người
Trong lịch sử phát triển giáo dục của nhân loại, đã có nhiều hình thức giáo dục khác nhau Mỗi hình thức đều phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn cảnh lịch sử đã sản sinh ra nó Lịch sử đã chứng minh rằng giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, luôn luôn là thành phần trong cơ cấu, thiết chế xã hội và gắn liền với sự thỏa mãn nhu cầu phát triển và tiến bộ xã hội: bất cứ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tổ chức và thực hiện việc giáo dục liên tục đối với các thế hệ Vì giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội cho nên trong tiến trình phát triển, xã hội sẽ tìm ra phương thức thích hợp để đáp ứng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu về giáo dục để duy trì sự tồn tại và phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn
1.1.1.2 Chính trị
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau
về chính trị Thuật ngữ “chính trị” (politica) theo nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp có nguồn gốc từ “thành bang” (polis) Theo đó, chính trị là công việc của Nhà nước
Platôn coi chính trị là “nghệ thuật cung đình”, liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự thông minh; chính trị là nghệ thuật cai trị
Arixtốt coi con người là “động vật chính trị”; chính trị là khoa học lãnh đạo con người
Thời kỳ phục hưng ở phương Tây, chính trị được coi là hoạt động điều tiết của những cá nhân trong xã hội Chính trị có nhiệm vụ xây dựng những “kế ước” cho phép tạo ra một xã hội dân sự và các quy định để mọi người cùng chung sống trong xã hội đó
Trang 14Max Weber cho rằng, chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực, định rõ vị thế của từng cá nhân trong một trật tự nhất định
Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại coi chính trị là sự tác động, điều tiết để xã hội phát triển đúng đắn; là sắp đặt, quản lý để xã hội có kỷ cương, nề nếp,
ổn định Trong thời kỳ cận đại, Tôn Trung Sơn định nghĩa: chính là việc của dân chúng, trị là quản lý Chính trị là quản lý việc của dân chúng Các nhà nghiên cứu
Nhật Bản xem chính trị là hoạt động tìm kiếm những khả năng áp đặt quyền lực chính trị
Theo quan điểm của C.Mác, chính trị là vấn đề giai cấp, quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp và đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là đấu tranh giành quyền lực cho một giai cấp nhất định C.Mác cho rằng: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: Tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” [12, tr.615] Bước ngoặt của đấu tranh chính trị là sự bùng nổ cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền nhà nước, lật đổ chế độ cũ và thiết lập chế độ mới: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [12, tr.628] Theo C.Mác, chính trị là vấn đề quyền lực, biểu hiện trực
tiếp là quyền lực nhà nước, C.Mác luận giải: “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống
trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất” [12, tr.626] C.Mác kết luận: “Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là cuộc đấu tranh chính trị” [12, tr.608]
V.I Lênin cho rằng, chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến công việc của nhà nước, là một thực thể tồn tại trong đời sống xã hội với những
Trang 15cấp độ khác nhau (cá nhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhà nước, nhân
loại,…) Từ đó, Lênin nêu ra những quan điểm chủ yếu về chính trị như sau: một
là, chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích gia cấp; hai là, cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà
nước, là sự tham gia vào công việc nhà nước, là định hướng cho nhà nước, xác
định hình thức, nội dung, nhiệm vụ của nhà nước; ba là, chính trị là biểu hiện
tập trung của kinh tế, là việc xây dựng nhà nước về kinh tế, đồng thời chính trị
không thể không chiếm hàng đầu so với kinh tế; bốn là, chính trị là lĩnh vực
phức tạp nhất, nhạy cảm nhất, liên quan đến vận mệnh hàng triệu con người Giải quyết những vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đó đều quan trọng như nhau Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người đã chỉ rõ nội hàm của khái niệm chính trị rất cơ bản và dễ hiểu Theo Người, chính trị bao gồm: Quan
hệ giữa các giai cấp trong xã hội; Chế độ xã hội do giai cấp xác lập; Đấu tranh giữa các giai cấp trên cơ sở lợi ích kinh tế, động lực cách mạng và con đường giải phóng của người nghèo; Quyền và lợi ích của nhân dân; Nhiệm vụ của Nhà nước; Đảng chính trị, quyền và nghĩa vụ của đảng viên; Quan hệ quốc tế và xu thế phát triển hợp quy luật của quốc gia, dân tộc
Theo Người, “mấu chốt của vấn đề chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX là giành và giữ chính quyền, là thực hiện dân chủ kiểu mới, làm cho nhân dân thực sự là người làm chủ, làm cho dân giàu, nước mạnh và sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên tinh thần hòa hiếu, tôn trọng chủ quyền và
hợp tác cùng có lợi” [34, tr.201,252]
Theo Từ điển Triết học: “Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn
đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [51, tr.269]
Trang 16Theo Từ điển Tiếng Việt, chính trị là “những tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước về quan hệ chính thức giữa các nước với nhau”,
“những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành lấy hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước”, “những hiểu biết về mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành lấy hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước” [50, tr.163]
Như vậy, chính trị là một hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng Khi xã hội có sự phân chia giai cấp dựa trên các cơ sở kinh tế, thì đồng thời chính trị cũng có vị trí độc lập và có tác động lớn đối với kinh tế Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, nói tới chính trị, trước hết là bao hàm vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, hiệu lực quản lý của nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Giành và giữ chính quyền; những vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng chế độ mới, xây dựng và thực thi quyền làm chủ của nhân dân
Từ tất cả các quan điểm trên, có thể rút ra: Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia, các lực lượng xã hội xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà cơ bản nhất là quyền lực nhà nước
1.1.1.3 Tư tưởng
Theo nghĩa rộng, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan của ý thức dưới dạng những hiểu biết về khái niệm, phạm trù, quy luật
Theo nghĩa hẹp, tư tưởng được xem là hệ thống các khái niệm, quan điểm,
lý luận do một giai cấp, đảng phái được xác định trên cơ sở phản ánh những lợi ích giai cấp và các quan hệ chính trị của các giai cấp trong một xã hội nhất định
Hiểu theo nghĩa chung nhất, tư tưởng là một hình thức tồn tại của ý thức
xã hội, kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sự hiểu biết trong tâm trí mỗi con người V.I Lê nin coi tư tưởng là hình thức cao của nhận thức, là mục tiêu, chương trình, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Trang 17Theo Từ điển Triết học, “Tư tưởng là hình thức phản ánh thế giới bên
ngoài, trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng của việc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài Tư tưởng khái quát hoá kinh nghiệm của
sự phát triển tri thức trước đó và được dùng làm nguyên tắc để giải thích các hiện tượng” [51, tr.451]
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh Là những quan điểm, ý nghĩa phản ánh thế giới vật chất trong nhận thức con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của thế giới khách quan” [50, tr.1071]
Như vậy, tư tưởng là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện của quan
hệ giữa con người với thế giới xung quanh Nó bao gồm tư tưởng triết học, tư tưởng tôn giáo, tư tưởng quân sự, tư tưởng văn học – nghệ thuật, tư tưởng chính trị,… Trong đó, tư tưởng và chính trị, hay tư tưởng và tư tưởng chính trị là hai yếu tố có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời Trong đó, tư tưởng chính trị là nội dung, là yếu tố quan trọng hàng đầu trong tư tưởng
Tư tưởng bị quy định bởi tính chất của chế độ xã hội, do điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng luôn mang bản chất giai cấp, tư tưởng là biểu hiện lợi ích vật chất của các giai cấp, cuộc đấu tranh về tư tưởng thực chất là một dạng thức của cuộc đấu tranh giai cấp
1.1.1.4 Giáo dục chính trị, tư tưởng
Trong thời gian gần đây có nhiều quan niệm khác nhau về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Có quan niệm cho rằng đây là lĩnh vực riêng của công tác tư tưởng, của những người làm công tác tư tưởng Lại có quan niệm cho rằng giáo dục chính trị, tư tưởng là một nội dung của giáo dục, chỉ cần thực hiện giảng dạy những môn lý luận chính trị theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, hiểu như vậy là phiến diện Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của nước ta dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam Mọi lĩnh
Trang 18vực Đảng đều lãnh đạo nhất quán, trong đó có công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Đó là hoạt động có chủ đích của Đảng nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên cơ sở hệ tư tưởng là Chủ nghĩa Mác-Lênin Giáo dục chính trị, tư tưởng
là truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa tới cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị, lý tưởng xã hội chủ nghĩa
và năng lực lãnh đạo hoạt động thực tiễn của họ, hướng họ vận dụng những hiểu biết đó vào đời sống chính trị Mặt khác cũng cần hiểu rõ hơn về công tác tư tưởng của Đảng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính Đảng nhằm hình thành và phát triển hệ tư tưởng, truyền bá hệ tư tưởng cho quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng
Công tác tư tưởng trong chế độ xã hội chủ nghĩa là hoạt động có mục đích của đảng cộng sản và nhà nước nhằm hình thành phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, biến hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thành hệ tư tưởng thống trị xã hội, động viên cổ vũ con người hành động tích cực sáng tạo vì lý tưởng mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Giáo dục chính trị, tư tưởng là sự tác động có mục đích, có hệ thống với các hình thức, biện pháp khác nhau của một chủ thể đến khách thể nhằm nâng cao tri thức của khách thể về hệ tư tưởng, đường lối chính trị, thực hiện tập hợp,
tổ chức, định hướng và giác ngộ họ tự giác trong hoạt động thực tiễn theo mục tiêu đã đề ra
Như vậy công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là một bộ phận của công tác
tư tưởng quan trọng của Đảng, mà mọi ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng đều phải thực hiện và tham gia Ngành giáo dục phải làm tốt công tác tư tưởng cho đảng viên thông qua việc giáo dục chính trị tư tưởng mà hình thành nền văn hóa chính trị cho đội ngũ đảng viên, cổ vũ hành động của họ ngày một tích cực hơn trên cơ sở nhận thức niềm tin biến thành hành động cụ thể để họ trở thành con người mới - con người xã hội chủ nghĩa, cống hiến sức lực cho cuộc cách mạng
Trang 19xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước Bác Hồ đã khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa, những con người
đó có được khi thực hiện giáo dục toàn diện: chuyên môn, đạo đức, tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng bằng nhiều nội dung, hình thực, phương tiện nhất là trong các lớp tập huấn cán bộ, đảng viên
Tóm lại, giáo dục chính trị, tư tưởng là một hoạt động quan trọng của Đảng ta trong việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm xây dựng những con người, những tập thể tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, luôn có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, góp phần tăng cường sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
1.1.2.1 Giảng viên
Có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về giảng viên, nhà giáo Theo Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, tại điều 70, chương IV quy định: “Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [45] Trình độ chuẩn được đào tạo của giảng viên: Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến
sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ [13]
Nhiệm vụ và quyền hạn của giảng viên: 1 Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo; 2 Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo; 3 Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy; 4 Giữ gìn phẩm
Trang 20chất, uy tín, danh dự của giảng viên; 5 Tôn trọng nhân cách của người học, đối
xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; 6 Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác; 7 Được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật; 8 Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật; 9 Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật [13]
Giảng viên trường đại học thực hiện nhiệm vụ và quyền theo quy định tại Điều 55 của Luật Giáo dục đại học và các nhiệm vụ, quyền cụ thể sau đây:
Giảng viên được Nhà nước đảm bảo các quyền: Được bảo đảm trang thiết
bị, phương tiện, điều kiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn được giao Được hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và các chính sách khác theo quy định của pháp luật; giảng viên trong các trường đại học công lập làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp và chính sách
ưu đãi theo quy định của Chính phủ Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo kế hoạch và điều kiện của nhà trường; được tham gia vào việc quản lý và quản trị nhà trường; được tham gia các hoạt động xã hội theo quy định của pháp luật Giảng viên tham gia hoạt động khoa học và công nghệ được hưởng quyền theo quy định tại Luật Khoa học và công nghệ; giảng viên làm công tác quản lý trong trường đại học nếu tham gia giảng dạy thì được hưởng các chế độ đối với giảng viên theo quy định của pháp luật và quy định hợp pháp của trường Tham gia quản lý người học và đóng góp trách nhiệm với cộng đồng [13]
Như vậy, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các trường đại học, cao đẳng Là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy
và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường
Trang 21đại học hoặc cao đẳng Giảng viên chính là công chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng và sau đại học, thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học, cao đẳng (Ở đây khái niệm giảng viên trong khái niệm nhà giáo, khác với khái niệm giảng viên theo tiêu chuẩn ngạch, bậc giảng viên, một chức danh của cao đẳng và đại học ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 28/2015/TTLT-BGDĐT-BNV về việc Hướng dẫn thực hiện bổ nhiệm và xếp lương chức danh nghề nghiệp đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập)
Thông qua đội ngũ giảng viên, ngành giáo dục đào tạo thực hiện chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Cả ba chức năng này đều quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Song chức năng thứ hai là bao trùm và quan trọng nhất Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phấn đấu trong những năm tới tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [21, tr.114-115]
1.1.2.2 Đội ngũ giảng viên
Khi nói đến đội ngũ giảng viên, chúng ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành
tố trong đó có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, chịu sự ràng buộc bởi những cơ chế, quy ước nhất định nào đó Vì vậy, mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của
hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa toàn diện Nếu xét trên phương
Trang 22diện nguồn nhân lực, thì đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt của giáo dục đại học Và đội ngũ giảng viên có những đặc điểm như sau:
- Thứ nhất: Những thành viên trong đội ngũ đã được tuyển chọn tương
ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp
- Thứ hai: Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ, chức năng mà Nhà nước đã giao phó đối với hoạt động đào tạo ở đại học
- Thứ ba: Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của đội ngũ thực hiện những chức
trách và nhiệm vụ chuyên biệt tùy thuộc vào vị trí, đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lý thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn theo quy định của Nhà nước
- Thứ tư: Đội ngũ giảng viên hoạt động trong môi trường đào tạo nhằm
hình thành nhân cách nghề nghiệp cho đối tượng đào tạo (người học), vì thế nó mang đậm sắc thái văn hóa sư phạm trong các mối quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa nhà trường với xã hội
Như vậy, đội ngũ giảng viên là tập hợp những nhà giáo, nhà khoa học, được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đào tạo đã đề ra ở các trường đại học và cao đẳng Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội
1.1.2.3 Giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
Giáo dục chính trị, tư tưởng là quá trình truyền bá và tiếp thu những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Về mặt bản chất, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho cán bộ,
Trang 23đảng viên và quần chúng, hướng họ đi theo cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng
ta lãnh đạo
Mục đích cơ bản nhất của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho giảng viên là xây dựng cho đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học, cao đẳng thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cộng sản, giúp học khắc phục những tư tưởng lạc hậu, những tàn tích của xã hội cũ, nâng cao trình độ chính trị, tinh thần nhiệt tình cách mạng, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Giáo dục chính trị, tư tưởng cũng chính là sự truyền đạt đối với con người trên các lĩnh vực tư tưởng, tình cảm nhằm xác lập ở họ bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, tuân thủ pháp luật, giác ngộ lý tưởng và lòng hăng say làm việc, thực hiện nhiệm vụ được phân công Mà trước hết là kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn
Đại hội VII của Đảng xác định rõ, công tác chính trị, tư tưởng có nhiệm
vụ làm cho thế giới quan Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần trong Đảng và giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, nâng cao ý chí phấn đấu, xây dựng niềm tin vững chắc của đội ngũ giảng viên vào con đường xã hội chủ nghĩa, đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, xây dựng phương pháp tư duy khoa học, chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc; khắc phục những biểu hiện bi quan, dao động, giảm sút ý chí phấn đấu, bảo thủ trì trệ, chủ quan nóng vội
Từ những nội dung trên có thể khẳng định: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ giảng viên là hoạt động nhằm bảo vệ, phát triển, truyền bá
và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn công tác, hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Trang 241.2 Nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
1.2.1 Nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
Từ những ngày đầu thành lập Đảng, Đảng ta luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ giảng viên, nhằm nâng cao nhận thức chính trị và xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống; luôn tận tâm phục vụ lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc; luôn có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tốt; có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác chuyên môn
Ở nước ta hiện nay, đối với đội ngũ giảng viên, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.2.1.1 Giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động Công tác giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, đối với đội ngũ giảng viên nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của Đảng
Với chức năng giáo dục thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, trang bị hệ thống tri thức cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin, những quan điểm cơ bản về đường lối đổi mới và kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội, làm cho đội ngũ giảng viên hiểu rõ các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng sáng tạo lý luận đó vào thực tiễn, góp phần bổ sung, vận dụng sáng tạo và phát triển, làm phong phú thêm đường lối chính sách của Đảng
ta Từ đó củng cố, nâng cao niềm tin vững chắc của đội ngũ giảng viên vào mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vào sự nghiệp cách mạng của Đảng Kiên định và trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Hiểu đúng, bảo vệ và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn công tác giảng dạy Đồng thời góp phần nâng cao phẩm chất đạo đức và lối sống của người giảng viên: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có tinh thần cách
Trang 25mạng trong sáng, có ý thức tổ chức và kỷ luật, tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình, có quan hệ mật thiết với đồng chí, đồng nghiệp và học sinh, sinh viên
1.2.1.2 Học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
Đội ngũ giảng viên là một tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy
và nghiên cứu khoa học ở các trường cao đẳng, đại học gắn kết với nhau để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ, theo hệ thống, mục tiêu giáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên theo sự ràng buộc những nguyên tắc
có tính chất của ngành giáo dục và của nhà nước Do đó cần chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Một mặt, tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin Mặt khác, phải đẩy mạnh giáo dục cho đội ngũ giảng viên về nội dung
tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW
ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Nắm vững những quan điểm lý luận
của Người về việc nhận thức và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Trong muôn vàn vấn đề của cuộc sống và thực tiễn công tác giảng dạy đặt ra, người giảng viên phải nắm được những nội dung chính yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh để cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
việc xem xét, xử lý, hành động đúng đắn của mình
Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung bồi dưỡng cho giảng viên viên hiện nay gồm: Nhận thức rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh là gì, tư tưởng ấy có nguồn gốc từ đâu, cơ sở khoa học của
nó ở chỗ nào, cái cần tiếp thu là gì, bằng cách nào, vì sao? Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh là vô cùng phong phú, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; người giảng viên phải hiểu sâu những căn cứ khoa học của lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về đảng cộng sản, đảng cầm quyền và lý luận
Trang 26về công tác xây dựng Đảng hiện nay; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp cách mạng và tác phong công tác Qua học tập, bồi dưỡng cung cấp cho đội ngũ giảng viên những tri thức mới, những nhận thức đúng, những phương pháp tư duy và hành động đúng Tùy theo mỗi người có thể nhận thức sâu, nông, rộng, hẹp khác nhau, song các vấn đề trên đây rất thiết thực với mọi người giảng viên đang giảng dạy trong bất kỳ trường đại học, cao đẳng nào ở nước ta hiện nay
1.2.1.3 Giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình chính trị thời sự cho giảng viên
Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ
và giải pháp của cách mạng Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta Qua mỗi kỳ đại hội, bằng trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Đảng ta đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước một cách phù hợp từng thời kỳ Do vậy, văn kiện, nghị quyết được đại hội thông qua là cương lĩnh chính trị của Đảng, là chương trình hành động dẫn dắt nhân dân ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc một cách cụ thể, phù hợp
Giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình chính trị thời sự cho đội ngũ giảng viên nhằm trang bị cho đội ngũ này những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng Việt Nam, thông qua đó
có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục phẩm chất chính trị, truyền thống cách mạng về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính, về lòng tự hào dân tộc Việt Nam, bồi dưỡng ý chí chiến đấu cách mạng chân chính, thôi thúc người
Trang 27giảng viên biết noi gương những người đi trước tiếp tục chiến đấu để bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn công tác giảng dạy của mình
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối chuyển tải pháp luật đến đội ngũ giảng viên Pháp luật chỉ thực sự phát huy tác dụng trong đời sống xã hội khi việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được coi trọng và làm cho mọi người biết, thực hiện một cách có hiệu quả Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên về đường lối, chính sách, pháp luật là cần thiết và không thể xem nhẹ, đồng thời không thể thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ về nội dung chương trình, biên soạn tài liệu, các điều kiện và phương tiện cần thiết khác Đặc biệt là trong các trường đại học, học viện phải chuẩn bị đội ngũ báo cáo viên có kinh nghiệm, có trình độ đáp ứng người nghe với yêu cầu ngày càng cao
Ngoài ra, đội ngũ giảng viên hiện nay cần phải tự bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, cập nhật, nắm bắt tình hình thời sự trong nước và quốc tế, cập nhật tin tức nhanh chóng, chính xác và thường xuyên Bởi lẽ, quá trình mở cửa, hội nhập với thế giới và khu vực đang hằng ngày, hằng giờ có những biến động không ngừng và những biến động ấy hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động đến
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta Người giảng viên dù làm bất cứ chuyên môn gì, ở lĩnh vực nào cũng cần phải biết, tùy theo mức độ phải xử lý trong phạm vi công việc và quyền hạn của mình Từ đó góp phần đổi mới mạnh
mẽ tư duy lý luận, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra, nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đổi mới toàn diện nền giáo dục và đào tạo nói riêng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung Góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, từng bước phát huy tốt vai trò của tự giáo dục, tự học tập, tự nghiên cứu của đội ngũ giảng viên
Giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình chính trị thời sự cho giảng viên bằng cách nghiên cứu, giáo
Trang 28dục hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp; tiếp cận thông tin về tình hình chính trị, thời sự; nắm bắt những nội dung chính của tình hình; quan điểm phân tích, đánh giá tình hình, rút
ra những nhận xét, phê phán và tìm nguyên nhân của vấn đề là nội dung thiết thực, mang lại hiệu quả cao trong các nội dung của công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng Điều này giúp cho người giảng viên có nhận thức đúng trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng của tình hình, giúp họ không bị lúng túng, hiểu biết sai lệch, bị bọn xấu lợi dụng; người giảng viên sẽ có đủ trình độ giải thích cho những đối tượng giảng dạy của mình về những tình hình chính trị, thời sự ở trong nước và thế giới một cách đúng đắn, chính xác, kịp thời Từ đó, thông qua môn học của mình, người giảng viên tự bảo vệ mình, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính
quyền, chống lại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch
1.2.1.4 Giáo dục nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của người giảng viên
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là trung thành với Đảng,
với Tổ quốc và nhân dân, là thực hành “Cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư”
Theo Người, đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng Khi “cái gốc”
bị lung lay thì bản lĩnh chính trị sẽ không còn được giữ vững Vì vậy, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ giảng viên không tách rời việc nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc
tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Muốn vậy, trước hết, mỗi giảng viên, giáo viên thấm nhuần tư tưởng của
Hồ Chí Minh: Giáo dục phải tạo ra được những người lao động mới, là người vừa có tài vừa có những phẩm chất cách mạng, lòng yêu nước, có đạo đức trong sáng, có chí khí hăng hái vươn lên, không sợ hy sinh gian khổ, dũng cảm, khiêm tốn, thật thà, cần cù, tiết kiệm, giản dị, có sức khỏe để sẵn sàng lao động, xây
dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh; thứ hai, là rèn luyện tài, phải
không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Bác dạy: Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội
Trang 29ngày càng đi tới, công việc ngày càng nhiều, máy móc ngày càng tinh xảo Mình
mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình;
thứ ba, là rèn luyện đức, Bác từng nói: Có tài mà không có đức thì vô dụng, có
đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Người thầy cần có thái độ, tác phong, ngôn ngữ ứng xử chuẩn mực khi thực hiện giảng dạy và trong lối sống của mình Người thầy cần phải có cái tâm trong sáng, thể hiện ở đạo đức và hành vi hết lòng vì học sinh, tận tâm dạy bảo học sinh, luôn tìm tòi, sáng tạo để tìm ra cách dạy hay nhất Người thầy phải công bằng, công tâm đối với học viên,
không bị “khúc xạ” bởi những cám dỗ vật chất tầm thường, kiên quyết đấu
tranh chống những cái xấu, cái sai trong xã hội, trong chính bản thân mình và
trong đồng sự; thứ tư, là rèn luyện tâm, người thầy phải có tâm huyết với nghề
Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong mọi nghề cao quý Tâm yêu nghề thể hiện ngay trong bài giảng của mình, trong từng trang giáo án mà người thầy hàng ngày bổ sung kiến thức Tâm huyết với nghề còn được đánh dấu và ghi nhận
bằng sự sáng tạo của người giáo viên trong sự nghiệp “trồng người” Câu khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yêu” làm kim chỉ nam hành động đối với những
người làm công tác giáo dục, đào tạo Hết lòng trong từng tiết giảng, công tâm trong từng điểm chấm đối với người học là biểu hiện rõ nét của ý thức trách nhiệm ở từng giảng viên Mọi sự hách dịch khi lên lớp, tư tưởng trù dập học viên, vòi vĩnh tiền bạc… dựa trên quyền lực người thầy là hoàn toàn đi trái với đạo đức nghề nghiệp đối với ý thức trách nhiệm của người thầy
1.2.2 Phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
Các hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng chủ yếu tại các học viện, các trường đại học bao gồm: học tập chính trị; sinh hoạt chính trị - tư tưởng; nghiên cứu chuyên đề của giảng viên, giáo viên; thông báo chính trị - thời sự; đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; thông qua các hoạt động thực hiện nhiệm vụ, gắn với việc tuyên truyền, giáo dục trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động, kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, của ngành giáo dục, ngày truyền thống của Trường; hoạt động văn hóa - văn nghệ và các thiết chế
Trang 30văn hóa, thiết chế dân chủ trong môi trường giáo dục với những phương pháp phong phú, thiết thực Luôn coi trọng phương pháp tuyên truyền, động viên, giáo dục chính trị, tư tưởng với giáo dục truyền thống, đẩy mạnh phong trào thi đua, các cuộc vận động, làm tốt công tác tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, phổ biến, giáo dục pháp luật, đạo đức nghề nghiệp người giáo viên.
Qua thực tiễn nghiên cứu ở các học viện, các trường đại học cho thấy: các hình thức, phương tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng nêu trên đã và đang phát huy tác dụng thiết thực đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức nói chung, đội ngũ giảng viên nói riêng về chính trị, tư tưởng Đã từng bước đổi mới cách thức tổ chức học chính trị cho các đối tượng giảng viên; đồng thời đã đề ra được các chuyên đề học tập của giảng viên theo hướng tích cực hóa, phát huy tính năng động, sáng tạo của người học Khắc phục triệt để tình trạng xơ cứng trong học tập, giáo dục chính trị, tư tưởng hiện nay Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng luôn chú trọng khơi dậy ý thức vận dụng, liên hệ thực tiễn và tạo dựng bầu không khí dân chủ trong nhà trường Ở đó, trên cơ sở những tri thức được trang bị, người giảng viên vận dụng xem xét tình hình cơ quan, đơn vị
và nhiệm vụ chuyên môn của cá nhân mình để tìm ra được những mạnh, yếu và đặc biệt là tìm ra cho được phương hướng, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm Sau mỗi đợt học tập, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng, nghiên cứu chuyên đề, đã tạo được sự chuyển biến về tư tưởng chính trị, thái độ chính trị và hành vi chính trị tích cực trong toàn thể đội ngũ giảng viên
1.3 Vai trò của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên
1.3.1 Bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cho đội ngũ giảng viên
Giáo dục chính trị, tư tưởng trước hết là trang bị những nguyên lý, quy luật, phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng lập trường thế giới quan cho đội ngũ giảng viên Đó chính là cái gốc để đội ngũ giảng viên nhận thức và tiếp thu những nguyên lý, phạm trù, quy luật khác Thế giới quan là toàn
Trang 31bộ hệ thống các quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và về vi trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Thế giới quan có vai trò không thể thiếu được trong hoạt động của con người, là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin quy định phương hướng hành động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay một xã hội nói chung đối với thực tại
Việc giáo dục chính trị, tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển thế giới quan khoa học – thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ giảng viên Bởi lẽ, các môn khoa học Mác-Lênin, đặc biệt là Triết học Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy, cung cấp cho đội ngũ giảng viên một cách nhìn khoa học đối với hiện thực khách quan và khẳng định vai trò, vị trí của con người trong việc nhận thức cũng như cải tạo thế giới Từ đó giúp họ có thái độ đúng đắn, khoa học đối với hiện thực, có niềm tin, lý tưởng chính trị vững vàng, có khả năng nhận biết, phân tích các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trên tinh thần thế giới quan Mác-Lênin Thế giới quan khoa học là nền tảng tư tưởng, lý luận định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn chuyên môn
Tuy nhiên, thế giới quan không hình thành một cách tự động, tức là cứ trang bị tri thức là có ngay thế giới quan, mà quá trình hình thành thế giới quan khoa học phải là quá trình chuyển hóa tri thức thành niềm tin khoa học trong mỗi con người Đó chính là quá trình hình thành, phát triển và củng cố các quan điểm, quan niệm, niềm tin, lý tưởng, và qua đó nâng cao năng lực nhận thức và cải tạo thế giới Đối với đội ngũ giảng viên, cơ sở để hình thành và phát triển thế giới quan là sự nhận thức về tự nhiên và xã hội, là kết quả của quá trình giáo dục
và những kinh nghiệm được tích lũy trong thực tiễn công việc giảng dạy chuyên môn của bản thân
Như vậy, giáo dục chính trị, tư tưởng chính là nhân tố đặc biệt quan trọng trong bồi dưỡng thế giới quan khoa học cho đội ngũ giảng viên Bên cạnh việc bồi dưỡng tri thức, niềm tin, lý tưởng đúng đắn để hình thành thế giới quan, giáo
Trang 32dục chính trị, tư tưởng còn góp phần xây dựng nhân sinh quan Cộng sản chủ nghĩa cho đội ngũ giảng viên Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giúp đội ngũ giảng viên hiểu được mục đích cao nhất của người cách mạng là xây dựng một
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, trong đó mỗi người có cuộc sống đầy đủ
về vật chất và tinh thần Một xã hội mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người
Với việc trang bị những kiến thức cơ bản về những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, sẽ từng bước xây dựng và bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho đội ngũ giảng viên Ví dụ, khi phân tích về sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận rằng: Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên Kết luận đó tạo cho con người có một niềm tin mãnh liệt vào tương lai của loài người, vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công lựa chọn và vun đắp
Đồng thời, thông qua hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng sẽ giúp đội ngũ giảng viên có được nhận thức đúng đắn và phát hiện ra những quan điểm sai trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; vững vàng về lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh
chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
1.3.2 Trang bị cho đội ngũ giảng viên phương pháp luận khoa học và những kiến thức cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội
Với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò không thể thiếu đối với đội ngũ giảng viên Cùng với chức năng thế giới quan,
lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin còn trang bị cho người cách mạng chức năng phương pháp luận
Trong lịch sử triết học không chỉ diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, mà còn thể hiện cuộc đấu tranh giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Mỗi một trường phái triết học trong lịch
Trang 33sử khi lý giải về thế giới quan theo một quan điểm nhất định, đồng thời cũng thể hiện một phương pháp luận nhất định Phương pháp luận, nói một cách ngắn gọn, là hệ thống những quan điểm, nguyên tắc chung dùng để chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, áp dụng chúng một cách hợp lý
và có hiệu quả
Giáo dục chính trị, tư tưởng trang bị cho đội ngũ giảng viên phương pháp luận biện chứng, là một công cụ sắc bén để thực hiện công việc chuyên môn được giao Nó là tổng thể tri thức của con người về nhiều lĩnh vực, nó đem lại lợi ích thiết thực và trực tiếp cho đời sống con người Trình độ phát triển của tư duy lý luận này là thước đo quan trọng nhất để đánh giá trình độ văn minh của con người và sự ưu việt của dân tộc này so với dân tộc khác
Phương pháp biện chứng duy vật mà đội ngũ giảng viên được trang bị là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong sự ràng buộc, sự vận động, phát triển và diệt vong của chúng Ph.Ăngghen cho rằng, phép biện chứng… là môn khoa học về nhũng quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Theo đó, phép biện chứng không còn là một phương pháp nghiên cứu đơn thuần, mà nó là kết quả của sự khái quát cao những thành tựu của khoa học tự nhiên và tư duy biện chứng, là hình thức tư duy mềm dẽo, linh hoạt, không còn biết đến những ranh giới tuyệt đối, nghiêm ngặt
Giáo dục chính trị, tư tưởng giúp người giảng viên nắm bắt tốt đường lối cách mạng của Đảng, đặc biệt là những vấn đề về định hướng, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay như: Xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nhà nước pháp
Trang 34quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,…
Thực chất của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là hình thành phương pháp luận biện chứng, các nguyên tắc, các phương pháp nhận thức và hành động thực tiễn cho đội ngũ giảng viên Việc trang bị đầy đủ tri thức khoa học và phương pháp luận biện chứng giúp người cán bộ hoạt động một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, xác định được phương hướng và đề ra những biện pháp hoạt động, từ đó có thể né tránh được những sai lầm trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân
1.3.3 Góp phần tích cực bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ giảng viên
Giá trị đạo đức là một trong những yếu tố cấu thành nên diện mạo của nền văn hóa dân tộc và nhân cách con người Phẩm chất đạo đức, lối sống tốt đẹp là tiêu chí cơ bản hàng đầu của giảng viên Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, người giảng viên phải luôn giữ vững và phát huy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, phải có bản lĩnh và ý chí vươn lên, năng động, sáng tạo, cầu thị để ngày càng làm chủ bản thân và đóng góp cho xã hội Làm tốt công tác bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức truyền thống và hiện đại cho đội ngũ giảng viên có ý nghĩa thiết thực trong cuộc đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện về suy thoái đạo đức, giúp họ chủ động cảnh giác và thoát khỏi những tác động tiêu cực của những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sống có tình nghĩa, có bản lĩnh, tinh thần nhiệt tình cách mạng, tận tụy với đồng nghiệp, tận tâm với công việc
Giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức, một mặt được hình thành từ chính cuộc sống hàng ngày của mỗi con người, mặt khác, đạo đức được hình thành thông qua quá trình giáo dục và tự giáo dục Đó là con đường quan trọng nhất Đối với đội ngũ giảng viên, do trình độ chuyên môn, tâm lý
Trang 35cũng như tính chất công việc nên việc bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cũng có những nét đặc thù Trong đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giảng viên Vai trò đó thể hiện ở những điểm đáng chú ý sau:
- Thứ nhất, giáo dục chính trị, tư tưởng chỉ ra nguồn gốc, bản chất và
những quy luật đạo đức, từ đó giúp người giảng viên nắm bắt được tính tất yếu của sự hình thành và phát triển của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa
Giáo dục chính trị, tư tưởng giúp người giảng viên nhận thức rõ sự vận động của các nền đạo đức xã hội, tính tất yếu của sự hình thành và phát triển của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa Đây là tiền đề để mỗi người giảng viên tin tưởng vào tính nhân đạo của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa và sự thành công tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Niềm tin, tình cảm đạo đức đó của người giảng viên được hình thành trên một nền tảng vững chắc của hệ thống tri thức đạo đức học Mác-Lênin và hiện thực đạo đức đang diễn ra trong xã hội thôi thúc họ tự nguyện tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội
- Thứ hai, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng luận giải một cách khoa
học về những nguyên tắc, những chuẩn mực và lý tưởng đạo đức xã hội chủ nghĩa
Nhờ những tri thức đạo đức đã được trang bị trong quá trình học tập và rèn luyện khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đội ngũ giảng viên có cơ sở khoa học để tự phân biệt những giá trị đạo đức chân thực trong cuộc sống Điều này
có vai trò quan trọng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay Đồng thời, với những giá trị đạo đức được trang bị, đội ngũ giảng viên sẽ luôn ý thức được đầy đủ chiều sâu và những yêu cầu của chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp đối với bản thân mình, từ đó có thêm quyết tâm, lý tưởng và niềm tin để cống hiến công sức nhỏ
bé của mình vào sự nghiệp trồng người cao quý cho xã hội
Trang 36- Thứ ba, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần giúp đội
ngũ giảng viên nhận thức sâu sắc những phẩm chất đạo đức cần có để tu dưỡng, rèn luyện
Trong xã hội Việt Nam hiện đại, mỗi một công dân, mà trong đó trước hết
là một người giảng viên luôn luôn cần phải có những phẩm chất đạo đức như: tinh thần yêu nước, tự lực tự cường, chủ quyền biên giới, biển đảo của quốc gia dân tộc, phấn đấu vì lý tưởng cách mạng cao cả, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội; có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, văn minh, nghĩa tình, cần kiệm, trung thực, tôn trọng pháp luật,
kỷ cương, có ý thức bảo vệ môi trường sống trong lành; có tinh thần lao động chăm chỉ với lương tâm trong sáng, đạo đức nhà giáo cao cả, kỷ luật, sáng tạo, lao động có năng suất cao, vì lợi ích của đất nước, dân tộc, xã hội, tập thể, gia đình và bản thân Thường xuyên học tập, trau dồi để tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Thứ tư, giáo dục chính trị, tư tưởng giúp đội ngũ giảng viên nhận thức
sâu sắc những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc để giữ gìn và phát triển
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đạo đức là lẽ sống, hạnh phúc, nghĩa vụ đạo đức, lương tâm, thiện ác,… giúp người giảng viên nhận thức sâu sắc bản chất và giá trị cốt lõi to lớn của những giá trị đạo đức truyền thống Mặt khác, nó giúp họ thấy được sự cần thiết và quan điểm kế thừa, phát triển những giá trị đạo đức trong điều kiện hiện nay Những tri thức và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về đạo đức chính là cơ sở khoa học quan trọng đối với đội ngũ giảng viên trong việc nhận thức và tiếp thu các giá trị đạo đức mới trên cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Trang 37Kết luận chương 1
Giáo dục chính trị, tư tưởng là một hoạt động quan trọng của Đảng ta trong việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm xây dựng những con người, những tập thể tha thiết gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, luôn
có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, góp phần tăng cường sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ giảng viên là hoạt động nhằm bảo vệ, phát triển, truyền bá và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn công tác, hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển thế giới quan khoa học – thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ giảng viên Vì vậy cần phải xác định rõ những quan điểm, nguyên tắc và đề ra những giải pháp giáo dục chính trị, tư tưởng phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên ngày càng vững mạnh về tư tưởng chính trị, có đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, góp phần đào tạo ra những người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ,
TƯ TƯỞNG CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VĨNH LONG
2.1 Khái quát về Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long là trường công lập thuộc hệ thống đào tạo quốc dân của Việt Nam Hiện tại nhà trường do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý về nhân sự và Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý
Tháng 6/1980 Trường đổi tên thành Trường Sư phạm Kỹ thuật 4 Trường
đã từng bước cải tạo và đổi mới nội dung hoạt động, tự khẳng định được vị thế của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngày 24 tháng 9 năm 1997, Thủ tướng chính phủ ký quyết định nâng cấp Trường thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật 4, sau đổi thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long Vĩnh Long
Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 2152/QĐ-TTg, thành lập Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trên cơ
sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
Với vị trí nằm giữa trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long là một trong những trường trọng điểm về dạy
nghề của cả nước, do dự án “Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề” đầu tư Trong
những năm qua trường đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao hàng ngàn giáo viên dạy nghề và cán bộ kỹ thuật cho các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu
Trang 39Long và các tỉnh thành khác của đất nước Với sứ mệnh là trung tâm đào tạo giáo viên dạy nghề và cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học, sau đại học đạt chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế; là trung tâm bồi dưỡng và đánh giá kỹ năng nghề, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của khu vực trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, công nghệ kỹ thuật Trong những năm vừa qua nhà trường đã không ngừng ứng dụng khoa học công nghệ trong đào tạo và quản lý, từng bước hoàn thiện và nâng trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực và trong cả nước Phấn đấu đưa trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trở thành trung tâm đào tạo giáo viên dạy nghề và cán bộ kỹ thuật có trình
độ đại học, sau đại học đạt chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế; là trung tâm bồi dưỡng và đánh giá kỹ năng nghề, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của khu vực trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, công nghệ kỹ thuật, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo
- Ban Giám hiệu: 01 Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng
Trang 40+ Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế
+ Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục
+ Phòng Công tác Học sinh – Sinh viên
- Các khoa, bộ môn:
+ Khoa Khoa học Cơ bản
+ Khoa Lý luận Chính trị
+ Khoa Cơ khí Động lực
+ Khoa Cơ khí Chế tạo máy
+ Khoa Điện – Điện tử
+ Khoa Công nghệ Thông tin
+ Khoa Công nghệ Thực phẩm
+ Khoa Sư phạm
+ Bộ môn Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng
+ Bộ môn Ngoại ngữ
- Các trung tâm phục vụ đào tạo và chuyển giao công nghệ:
+ Trung tâm Thông tin – Thư viện
+ Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm
+ Trung tâm Đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
+ Trung Tư vấn tuyển sinh
+ Trung tâm Ngoại ngữ
+ Trung tâm Tin học
+ Trung tâm Thực hành
+ Trung tâm An toàn – Lao động