Sự lãnh đạo của Đảng đối với UBND các cấp là một vấn đề quan trọng có tính cấp bách, thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và cán bộ khoa học của Đảng và Nhà nước, nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM HỒNG PHÚC
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN
Ở HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LONG AN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM HỒNG PHÚC
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN
Ở HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS BÙI VĂN DŨNG
LONG AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Quý Thầy, Cô Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng Đào tạo Sau đại học và cán bộ các phòng, ban chức năng của Trường Đại học Vinh; đặc biệt là sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Bùi Văn Dũng đã giúp
tôi hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Chính trị học: “Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ
sở đối với Ủy ban nhân dân ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang”
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa liên kết đào tạo sau đại học Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An; các anh, chị, em lớp Cao học Chính trị khóa 22; Đảng ủy 13 xã, thị trấn trên địa bàn Huyện Gò Công Đông, Văn Phòng Huyện ủy, Ban Tổ chức Huyện ủy, Ủy Ban kiểm tra Huyện ủy, Ban Tuyên giáo huyện ủy Huyện Gò Công Đông và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành Luận văn này
Với đề tài này và những kiến thức đã học được tôi sẽ vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Gò Công Đông, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Phúc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN 13
1.1 Khái quát về hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta 13
1.2 Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở 22
1.3 Quan niệm, nội dung, phương thức, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND 33
Kết luận chương 1 42
Chương 2 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN Ở HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG 43
2.1 Khái quát về Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang 43
2.2 Kết quả thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân các xã ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang 5252
2.3 Nguyên nhân của những kết quả và những hạn chế trong việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân các xã ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang 7070
Kết luận chương 2 7575 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC XÃ
Trang 5Ở HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG TRONG THỜI
GIAN TỚI 7676
3.1 Quan điểm về nâng cao sự lãnh đạo Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân các xã ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang 7676
3.2 Một số giải pháp nâng cao sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân các xã ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới 811
Kết luận chương 3 10707
KẾT LUẬN 10808
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11111
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống chính trị ở nước ta, Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân Mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều phải thông qua Nhà nước để đến dân thực hiện Ngược lại, Nhà nước muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì phải thực hiện đúng đắn đường lối, chủ trương do Đảng đề ra Nội dung này đã được khẳng định trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước
và xã hội” [56, tr.9] Nhà nước có làm tốt, làm đúng theo chủ trương của Đảng thì sẽ được nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực tạo nên sức mạnh to lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu ngược lại, Nhà nước không làm tốt vai trò trung gian của mình thì sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
uy tín của Đảng sẽ bị mất đi, đó là nguy cơ đe doạ đến sự tồn vong của Đảng
và chế độ
Nằm trong hệ thống chính quyền bốn cấp, UBND xã, thị trấn ở Huyện
Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang có vai trò làm cầu nối trực tiếp giữa toàn bộ
hệ thống chính trị với nhân dân Đây là đơn vị hằng ngày tiếp xúc và làm việc với nhân dân UBND xã, thị trấn có nhiệm vụ chuyển hóa đường lối của Đảng
bộ huyện, xã thành những chính sách đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực
tế địa phương nhằm mục đích phát triển địa phương Ngoài ra, UBND cũng là đơn vị nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm cho nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực
Những năm qua, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, các Đảng bộ xã, thị trấn ở Huyện Gò Công Đông luôn chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xem đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng
Trang 8Nhờ đó, UBND xã, thị trấn luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng đồng bộ, hiệu quả; bộ mặt nông thôn Gò Công Đông ngày càng khởi sắc, tạo được niềm tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân
Trước yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế - quốc tế trên địa bàn Tỉnh Tiền Giang và mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Huyện Gò Công Đông, nhằm tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở Huyện Gò Công Đông, vấn đề rất cần thiết và cấp bách đặt ra là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra những giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND Vì
thế, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với
UBND ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Sự lãnh đạo của Đảng đối với UBND các cấp là một vấn đề quan trọng
có tính cấp bách, thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu
và cán bộ khoa học của Đảng và Nhà nước, như: chương trình khoa học cấp Nhà nước: Đề tài cấp Nhà nước KX 05.09 (giai đoạn 2001 - 2005) có các
chuyên đề: Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền; đề tài cấp Nhà nước KHXH 05.03 (giai đoạn 1996 - 2000), Phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước do tác giả Trần Đình Nghiêm làm chủ biên đã nghiệm thu
và in thành sách [48]; đề tài cấp Nhà nước (giai đoạn 2001 - 2005), Đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và chính quyền các cấp do
tác giả Phạm Ngọc Quang làm chủ nhiệm đã nghiệm thu và xuất bản thành
sách [53]; sách Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong
điều kiện Đảng cầm quyền của tác giả Lê Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội (2014) [47]… Nội dung các đề tài, sách, các tác giả đữ đề cập đến: sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là tất yếu khách quan, là tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững tính chất xã hội chủ nghĩa, bản chất của nhân dân,
Trang 9do nhân dân, vì nhân dân của mình Trong những năm đổi mới, Đảng luôn củng cố, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, nắm chắc vai trò cầm quyền của mình - cầm quyền vì lợi ích của nhân dân Nội dung chủ yếu sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là Đảng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; tăng cường quản lý cán bộ, Đảng viên trong bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm tra tổ chức Đảng và Đảng viên trong cơ quan Nhà nước, các tổ chức sự nghiệp, đơn
vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp Nhà nước trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước…
Tác giả Nguyễn Trọng Phúc trong bài, Nhà nước pháp quyền và vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số
7/2014 [51], đã khẳng định: Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền càng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đảng lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước Quyết định tổ chức bộ máy Nhà nước và bố trí, phân công cán
bộ Kiểm tra hoạt động của Nhà nước và lãnh đạo nhân dân, hệ thống chính trị tham gia xây dựng, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức…
Tác giả Hà Thị Khiết trong bài, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để
nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 3/2014 [35], đã nêu lên rằng: xây dựng
Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc của nhân dân Nhân dân luôn góp ý, nêu sáng kiến tham gia xây dựng đường lối của Đảng
và chính nhân dân là lực lượng thực hiện hăng hái, có hiệu quả đường lối đó; nhân dân giám sát cán bộ, Đảng viên, công chức và các tổ chức Đảng, chính
Trang 10quyền các cấp trong việc hiện thực hiện chủ trương, chính sách và pháp
luật…; Liên quan đến vấn đề này, tác giả Nguyễn Thế Trung cũng có bài Về
lòng dân, ý Đảng trong giai đoạn hiện nay đăng trên Tạp chí Cộng sản số
5/2015 [63], đã đưa ra kết luận: Đảng ta từ nhân dân mà ra, ý Đảng bắt nguồn
từ lòng dân và chính lòng dân đã kết thành ý Đảng Đảng lãnh đạo Nhân dân thì Nhân dân cũng có quyền nói lên ý kiến của mình Ý Đảng không thể khác với lòng dân…
Tác giả Văn Thị Thanh Mai trong bài, Tăng cường mối quan hệ mật
thiết giữa Đảng với nhân dân, nguồn sức mạnh nội lực của Đảng đăng trên
Tạp chí Cộng sản số 4/2014 [41], đã khẳng định rằng: lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, không phải ngẫu nhiên Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, và cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đó
chính là Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân…
Ngoài ra, một số luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị cũng đã luận giải
về sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp độ khác nhau: Đổi mới phương thức lãnh
đạo của thành ủy đối với chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp, của Trần Vĩnh Tuyến, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính
trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2005) [61]; Sự lãnh đạo của
Huyện ủy đối với chính quyền huyện Đông Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, của Tô Văn Minh, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006) [45]; Sự lãnh đạo của Đảng bộ
xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, của Trần Văn Tường, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính
trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006) [60]; Sự lãnh đạo của
Đảng đối với HĐND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay, của Nguyễn Hoàng Giang, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Trường
Đại học Vinh (2015) [28]… Các tác giả đã bàn đến sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đãnh của Đảng đối với chính quyền, HĐND trên từng địa
Trang 11bàn cụ thể trong thời gian qua cũng như những năm tiếp theo trong khuôn khổ
của một luận văn thạc sĩ
Như vậy, các chương trình, đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học nêu trên phần lớn đi vào nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về Đảng lãnh đạo Nhà nước, hoạc tới từng địa phương cụ thể với những góc độ và mục đích khác nhau Nhưng dưới góc độ của chuyên ngành Chính trị học, sự lãnh đạo của Đảng đối UBND nói chung và đối với UBND cấp cơ sở nói riêng chưa được các tác giả đi sâu nghiên cứu Có thể nói, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang
Do đó, sự nghiên cứu vấn đề này vừa có tính cấp bách về lý luận và có tính cấp bách thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn hiện nay; mục đích nghiên cứu của đề tài sẽ đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện ba nhiệm vụ:
- Thứ nhất, lý giải những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối
với UBND;
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở
đối với UBND ở Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua;
- Thứ ba, đưa ra những quan điểm và giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm
nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở Huyện
Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trong đề tài là chỉ nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND của 13 xã, thị trấn thuộc địa bàn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi chủ yếu tập trung nghiên cứu ở 13 Đảng bộ xã, thị trấn thuộc địa bàn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang trong khoảng thời gian từ năm
2010 đến 2015
Phạm vi địa lý sẽ được giới hạn ở 13 xã, thị trấn của huyện Gò Công
Đông, tỉnh Tiền Giang
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử - lôgic,
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh
- Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa
- Phương pháp thống kê…
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Về lý luận: Đề tài luận giải những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của
Đảng bộ cơ sở đối với UBND; phân tích đóng góp những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của các Đảng bộ cơ sở đối với UBND ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Những nét đặc thù của địa phương sẽ giúp cho Đảng bộ địa
Trang 13phương có cách thức lãnh đạo sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể có khả năng làm cơ sở để tạo ra một phương thức lãnh đạo mới, làm bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác Đồng thời, những kinh nghiệm, giải pháp của quá khứ cũng sẽ làm cơ sở cho sự tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ
đối với UBND trong các năm sắp tới
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài
liệu nghiên cứu tham khảo cho Đảng bộ cơ sở Gò Công Đông và nhất là các Đảng bộ xã, thị trấn trong quá trình lãnh đạo chính quyền Ngoài ra, luận văn
có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy môn xây dựng Đảng ở Trường Chính trị tỉnh Tiền Giang và các Trung tâm bồi
dưỡng chính trị các huyện của tỉnh Tiền Giang
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1 Khái quát về hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta
1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở
Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và phương Tây trước Mác chưa có khái niệm hệ thống chính trị Các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác vẫn chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị Tuy nhiên, nội dung sự hiểu biết về
hệ thống chính trị đã được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị
và các thiết chế tương ứng…
Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị; cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản chủ nghĩa)
Trên quan điểm hệ thống cấu trúc, có thể xem hệ thống chính trị là tổng
thể các cơ quan, tổ chức Nhà nước, Đảng phái, đoàn thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chi phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ Chính trị quốc gia, con đường phát triển của xã hội
Cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các tổ chức và các quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp
độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống
Có các cấp độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn
Trang 15thể) quy định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trên với cấp dưới trong phạm vi một tổ chức của sự tác động của bộ máy tương ứng với từng cấp Hệ thống chính trị được cấu tạo thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có cấp độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương và cơ sở
Giữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ thống và trong từng cấp độ Cụ thể, ở cấp Trung ương là quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Ở cấp cơ
sở là quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền và Mặt trận các đoàn thể trong từng địa phương
Theo đó, hệ thống chính trị cấp cơ sở là hệ thống chỉnh thể các tổ chức
Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở xã, phường, thị trấn, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị trên địa bàn Hệ thống chính trị cơ sở cũng bao gồm 3 bộ phận cấu thành:
Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở phường, xã Mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động ở phường, xã về các lĩnh vực của đời sống
1.1.2 Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã Tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2013, Việt Nam có 11.148 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 1.545 phường,
612 thị trấn và 8991 xã Cả nước có trên 1.270.000 cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn và dưới
xã, phường, thị trấn; bình quân một xã, phường, thị trấn có 114 người; trong
đó số cán bộ, công chức có 222.735 người, tăng 28.377 người so với năm 2002; bình quân một xã có 20 người
Trang 16Mỗi cấp trong hệ thống quản lý có vị trí, vai trò, chức năng riêng của
nó Nhận thức và giải quyết không đúng vấn đề này chẳng những gây trở ngại tới hoạt động và hiệu quả của cả hệ thống mà còn làm tổn hại trực tiếp tới cơ
sở Cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính ở nước ta hiện nay và có vị trí vai trò rất quan trọng như:
Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Nếu giữ vững ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để thực hiện đổi mới và phát triển thì phải đặc biệt chú trọng và chăm lo
sự ổn định và phát triển ở cơ sở Kinh nghiệm lịch sử và bài học của ông cha
ta về việc an dân, trị quốc, cũng như kinh nghiệm đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ do Đảng lãnh đạo đã cho thấy: việc yên dân, lấy dân làm gốc có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự bền vững của chế độ, sự ổn định chính trị-
xã hội Chính quyền trong lòng dân, cơ sở xã hội của chế độ là lòng dân, là sức mạnh đồng thuận xã hội của dân chúng từ cơ sở như Nguyễn Trãi có câu:
“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã
từng khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong” đã khẳng định vị trí, vai trò của cơ sở cũng chính là khẳng định nguyên lý về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong hoạt động sáng tạo lịch sử Do vậy, để ổn định chính trị và phát triển xã hội, nhất thiết phải sớm khắc phục những yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở, phải xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trở thành hệ thống chính trị thực sự của dân, do dân và vì dân Có một hệ thống chính trị được lòng dân, được dân tin, dân yêu mến, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ từ cơ sở thì ổn định chính trị sẽ được đảm bảo, mục tiêu của đổi mới sẽ được thực hiện thắng lợi
Trang 17Thứ hai, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nhằm phát triển toàn diện và chăm lo đến cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân
- Cấp vĩ mô - toàn quốc và Trung ương lẽ dĩ nhiên là hết sức quan trọng, bởi đó là cấp hoạch định đường lối, chiến lược phát triển quốc gia, ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển của dân tộc và xã hội Nhưng cấp cơ sở cũng
có tầm quan trọng của riêng nó Mỗi phường, xã, khu dân cư như là mỗi tế bào góp thành cái vĩ mô của toàn xã hội, như Hồ Chí Minh nói: Kết cấu nhà - làng - nước là một kết cấu bền vững, định hình từ lâu trong lịch sử tạo thành sức sống của dân tộc, truyền thống, bản sắc của một nền văn hoá Hơn nữa, mỗi một làng, xã, khu dân cư là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tới cuộc sống của người dân Theo đó, làng, xã, khu dân cư thực sự là một thực thể kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa đóng vai trò nền tảng của cả xã hội, là động lực trực tiếp của phát triển xã hội Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm nhuần và nhất quán quan điểm dân là gốc của nước thì cơ sở thực sự mang nội dung và tính chất vĩ mô
- Cơ sở không chỉ là địa bàn cư trú của dân, mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động của đời sống xã hội Đó vừa là địa bàn diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của người lao động, của các cơ sở doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế vừa là nơi diễn ra trao đổi, lưu thông hàng hoá, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng Do đó, nói tới cơ
sở là nói tới người dân (các chủ thể) và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội
- Cấp cơ sở địa phương, không chỉ là cấp thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của cộng đồng xã hội Đây là nét đặc trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính cố kết cộng đồng đặc biệt nổi bật ở cơ sở Tính chất vừa quản lý, vừa tự
Trang 18quản ở cơ sở thể hiện trong mối quan hệ giữa phường, xã và thôn, xóm, khu phố Đây là mối quan hệ tác động qua lại, phân công, phối hợp chứ không phải
là sự tách bạch cứng nhắc, siêu hình Về nguyên tắc, cấp cơ sở có chức năng quản lý hành chính Nhà nước Nhưng để quản lý trên địa bàn xã, phường thì phải xuống tận thôn, làng, khu dân cư - đơn vị tự quản cộng đồng Trưởng khu phố, thôn có thể được UBND phường, xã uỷ nhiệm cho một số công việc của phường, xã được tổ chức thực hiện trong cộng đồng dân cư ở thôn, khu phố Song điều chủ yếu của thôn, làng, khu dân cư là tự quản Việc tự quản các hoạt động cũng không khép kín, biệt lập trong từng khu phố, thôn, làng càng không được đối lập với quản lý Có những công việc và hoạt động tự quản diễn ra trên quy mô phường, xã Do đó, quản lý và tự quản, phường, xã và khu phố, thôn không được cản trở nhau mà phải phối hợp nhịp nhàng, với một chuẩn mực là tuân thủ đúng pháp luật Đây chính là điểm đặc trưng về sự kết hợp và đan xen giữa quản lý với tự quản, nên cơ sở tuy là một cấp quản lý hành chính Nhà nước nhưng lại là một cấp không hoàn chỉnh, rõ nhất là ở chỗ, cán bộ cơ sở không phải tất cả đều là công chức Nhà nước, theo đúng thể thức bổ nhiệm, điều động, thuyên chuyển, luân chuyển của Nhà nước Ở địa phương phường,
xã, khu dân cư chỉ một số ít chức danh gắn trực tiếp với chuyên môn như tài chính, địa chính, văn hóa, văn phòng trong UBND phường, xã là cơ quan hành chính của cơ sở mới xếp theo ngạch công chức, còn đa số là cán bộ dân cử, dân bầu Cán bộ ở cơ sở thường là người sở tại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp với dân Trong quan hệ với dân, họ có bị chi phối, ràng buộc rất mạnh mẽ bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng, xã, khu dân cư
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở là nơi trực tiếp và thường xuyên với nhân dân
- Cơ sở địa phương vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo chức năng và thẩm quyền, nhưng nó lại vừa là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền
Trang 19tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của quần chúng, nơi tổ chức các phong trào xã hội của quần chúng để triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống Đặc điểm này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều tuỳ thuộc vào việc tổ chức triển khai thực hiện ở cơ sở có chu đáo, cụ thể, rộng rãi, có tập hợp được lực lượng dân chúng hay không Nó liên quan trực tiếp tới hệ thống chính trị cơ sở, tới chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở Có cán
bộ tốt thì mới có phong trào mạnh mẽ, sôi nổi Từ các phong trào của quần chúng ở cơ sở mà nảy sinh rất nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay tại cơ sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước trong quần chúng Cơ sở địa phương chẳng những cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn
là nơi quần chúng chứng thực tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc từ thực tiễn cơ sở mà kiểm nghiệm, phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa, làm cho đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với thực tiễn, càng hợp với lòng dân và được lòng dân hơn
- Cơ sở địa phương là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ vĩ mô phải tác động tới Vì cơ sở gắn liền với dân, có quy mô dân số và diện tích Do đó, cơ sở tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhưng lại là tầng sâu nhất trong quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất mà mọi chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải tìm đến, phải bằng mọi cách tổ chức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu, dân tin và dân làm
- Cơ sở địa phương là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là
Trang 20cấp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Do đó, bố trí tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải rất chú trọng tới tính thiết thực, hiệu quả, cán bộ phải giỏi thực hành, biết thực hành lý luận một cách sáng tạo, muốn vậy phải được trang bị tri thức và lý luận khoa học,
có kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời lại phải có phương pháp, đặc biệt là làm công tác dân vận, biết vận động thuyết phục quần chúng, miệng nói tay làm tai lắng nghe
- Cơ sở địa phương là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở từ dân mà ra Do đó, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cơ sở là cấp có nhiều lợi thế
và khả năng nhất để giảm thiểu xuống mức thấp nhất những thói tật quan liêu, hành chính, mệnh lệnh, tệ hại tham ô, tham nhũng Vì nhờ dân chúng thường xuyên kiểm tra, giám sát hành vi cán bộ
- Tại cơ sở xã, phường, thị trấn hiện nay vẫn tồn tại các thể chế quản lý, pháp luật Nhà nước, quy chế dân chủ và các bản hương ước của thôn, làng, khu dân cư Phải tổ chức thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát sao cho không thể xảy ra các hiện tượng tuỳ tiện, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật Phải khắc phục từ tâm lý, ý thức đến hành vi, hoạt động một nhược điểm thâm căn cố đế là “lệ làng cao hơn phép nước”, là tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” Đó là những nét chung về đặc điểm, vai trò cơ sở địa phương
Tóm lại, cơ cấu kinh tế của xã, phường, thị trấn đang chuyển đổi Cơ
cấu xã hội ở phường, xã đang ngày một đa dạng hơn Đời sống chính trị trong
ấp, làng, khu phố đang đan xen cả những biến đổi tích cực, ổn định, phát triển lẫn những suy thoái, biến dạng, những tiêu cực và tệ nạn xã hội Đây là một trong những vấn đề chính trị hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược Chính vì thế, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ra kết luận số 64 ngày 28/5/2013 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”
Trang 211.1.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, nên nó mang những đặc điểm chung của toàn
bộ hệ thống như tính nhất nguyên chính trị, tính thống nhất và sự gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì hệ thống chính trị
cơ sở còn mang đặc trưng riêng:
Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ
bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay Xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất Bởi vì, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện được hay không lại
là ở cơ sở
Thứ hai, hệ thống chính trị cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách được hưởng chế độ thấp nhất
Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người Bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy Các mối quan hệ ở đây không phải là không phức tạp Tính phức tạp ở đây được quy định bởi các yếu tố gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống Tuy phức tạp nhưng cán bộ, công chức, người hoạt động chuyên trách
ở cơ sở lại hưởng các chế độ thấp nhất, thậm chí công an viên hiện nay không được chế độ bảo hiểm y tế
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất
Trang 22Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở biến động nhất là vì do cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường Tâm lý không ổn định, chi phối rất lớn đến từng người ở từng thời kỳ khác nhau Cái nọ là nguyên nhân của cái kia Chúng là nhân quả của nhau dẫn đến việc họ ít được chuyên môn hoá, ít được đào tạo cơ bản và họ cũng còn nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyên môn nghiệp vụ theo xu hướng tâm
lý “quan nhất thời, dân vạn đại” Phần lớn những người được đào tạo cơ bản cả
về lý luận và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi xã, thị trấn để lại hệ thống chính trị cơ sở với đội ngũ cán bộ nổi bậc đặc điểm này
Thứ tư, hệ thống chính trị cơ sở là cấp trực tiếp nhất với nhân dân
Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân đều qua cấp cơ sở Vì vậy, nó là cấp gần dân nhất và thế hiện tính nhân dân một cách rõ ràng, trực tiếp nhất Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư Vì vậy, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở mang tính tự quản cao
Thứ năm, hệ thống chính trị cơ sở nhất là ở cơ sở nông thôn là cấp
mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo tác động mạnh nhất
Hê thống chính trị ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã
có thể tác động mạnh, làm ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã
Những đặc điểm trên của hệ thống chính trị cơ sở, phản ánh sự thống nhất, duy nhất của cả hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động theo tính thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc Mặt khác, nó phản ánh nhiều mâu
Trang 23thuẫn, có loại mâu thuẫn biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu sự phát triển Vấn đề là phát hiện mâu thuẫn và có những giải pháp cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ thể để đổi mới và hoàn thiện
hệ thống chính trị cơ sở đáp ứng vị trí, vai trò quan trọng cần phải có của nó
trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay
1.2 Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở
1.2.1 Đảng bộ trong hệ thống chính trị cơ sở
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Mục đích của Đảng là xây dựng đất nước độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh Để thực hiện mục đích đó, Đảng phải được tổ chức theo một
hệ thống chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) quyết định hệ thống tổ chức Đảng gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), huyện (thị xã, khu) và cơ sở Đảng, hệ thống đó được duy trì cho đến nay
Theo tinh thần đó, tổ chức cơ sở Đảng được thành lập tương ứng với cấp hành chính Nhà nước ở cơ sở (xã, phường, thị trấn); cơ quan, đơn vị sự nghiệp hoặc đơn vị cơ sở trong công an nhân dân và quân đội nhân dân, tổ chức kinh tế (các loại hình hợp tác xã, các doanh nghiệp) Ở các cơ sở trên, nếu có từ ba Đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở Đảng Nếu tổ chức Đảng có dưới ba mươi Đảng viên, lập Chi bộ cơ sở có các tổ chức Đảng trực thuộc Nếu tổ chức Đảng có trên 30 Đảng viên, lập Đảng bộ có các tổ chức Đảng trực thuộc Như vậy, Đảng bộ cơ sở là tổ chức cơ sở Đảng có trên
30 Đảng viên, chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của Đảng bộ trực thuộc
* Vị trí, vai trò, chức năng của Đảng bộ cơ sở
- Vị trí, vai trò của Đảng bộ cơ sở
Đảng bộ cơ sở vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng là nơi góp phần
Trang 24phát triển hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Là một thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, song Đảng bộ cơ sở có vị trí, vai trò đoàn kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Trong mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của Đảng bộ cơ sở là những “sợi
dây chuyền” nối liền Đảng với dân
Vị trí hạt nhân chính trị của Đảng bộ cơ sở thể hiện vai trò đoàn kết và lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ Đồng thời cơ sở Đảng còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đảng bộ cơ sở cơ sở là trung tâm quy tụ, tập hợp được mọi lực lượng ở
cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của cơ sở
Đảng bộ cơ sở sẽ không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị của mình nếu không quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm Điều lệ Đảng, không làm tốt công tác xây dựng Đảng, quản lý Đảng viên, nội bộ mất đoàn kết, xa rời quần chúng, bị lôi cuốn vào những việc làm tự phát, coi thường kỷ cương, pháp luật; chất lượng sinh hoạt Đảng và chất lượng Đảng viên yếu kém, sa sút
- Chức năng của Đảng bộ cơ sở
Đảng bộ cơ sở có 02 chức năng quan trọng:
Một là, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở
Trang 25Đảng bộ cơ sở có chức năng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ và hoạt động
ở cơ sở theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo sản xuất, kinh doanh, công tác chuyên môn, nghiệp vụ, quốc phòng, an ninh, văn hóa - xã hội… đạt hiệu quả ngày càng cao, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; hoàn thành nghĩa
vụ đối với Nhà nước
Mọi chủ trương, giải pháp đề ra về quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, Đảng bộ cơ sở phải luôn luôn bảo đảm phương hướng chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời phải tạo được sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội…, tích cực xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng, ức hiếp quần chúng, kịp thời giải quyết những nguyện vọng, lợi ích chính đáng, thiết thực, hợp pháp của nhân dân
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, đấu tranh giai cấp vẫn tồn tại với nội dung và biểu hiện mới Vì thế, không có lĩnh vực hoạt động nào trong xã hội không mang tính chính trị Đảng bộ cơ sở phải rất nhạy cảm, nắm vững những vấn đề chính trị chung của đất nước cũng như của địa phương, cơ sở mình Buông lỏng lãnh đạo chính trị, tư tưởng sẽ dễ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế, hoặc chuyên môn thuần tuý Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên suy nghĩ, tìm mọi cách thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chủ động
đề phòng và khắc phục mọi biểu hiện chệch hướng xã hội chủ nghĩa
Đảng bộ cơ sở cơ sở thực hiện chức năng là hạt nhân chính trị đối với chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở Do chức năng, nhiệm vụ của xã, phường, doanh nghiệp… khác nhau nên sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng cơ sở cũng khác nhau Tuy vậy, bất cứ ở đâu, Đảng bộ cơ sở trong hoạt động lãnh đạo của mình cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 26Đảng bộ cơ sở là nơi gần dân, sát dân nhất, trực tiếp lắng nghe, tiếp thu
ý kiến và giải quyết những vấn đề quần chúng đặt ra hàng ngày hoặc báo cáo kịp thời lên cấp trên; tiến hành vận động nhân dân và làm công tác phát triển Đảng viên Đảng bộ cơ sở có mạnh thì nền tảng của Đảng mới vững chắc
Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, phát triển sản
xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả công tác của cơ sở; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên quần chúng nhân dân hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của cơ sở, đơn vị đối với Nhà nước, cụ thể:
Để thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở đơn vị mình phụ trách, Đảng bộ cơ sở phải đoàn kết và lãnh đạo các tổ chức và quần chúng trong đơn vị chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện những nhiệm vụ của Đảng bộ cơ sở và giải quyết những vấn đề do thực tiễn đơn vị đặt ra, làm cho đơn vị không ngừng đổi mới và phát triển, góp phần xây dựng cơ sở ngày càng giữ vị trí, vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở đơn vị Xem nhẹ chức năng của Đảng bộ cơ
sở là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong đơn vị được giao phụ trách
* Nhiệm vụ của Đảng bộ cơ sở
Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) quy định 05 nhiệm vụ của Đảng bộ cơ sở (chung cho các tổ chức cơ sở Đảng) như sau:
- Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ cơ sở và lãnh đạo thực hiện
có hiệu quả
- Xây dựng Đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, Đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển Đảng viên
Trang 27- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng và Đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng
Năm nhiệm vụ trên là năm nội dung cơ bản, chung nhất để thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở Năm nhiệm vụ có vị trí và yêu cầu riêng, không thể coi nhẹ nhiệm vụ nào Bất kỳ Đảng bộ cơ sở nào cũng đều phải thực hiện đầy đủ và thường xuyên các nhiệm vụ đó Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền, ngoài những nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách, xây dựng Đảng thì nhiệm vụ về lãnh đạo xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổ chức kinh tế, hành chính, văn hoá, xã hội và thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, lãnh đạo quần chúng tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền là những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ kiểm tra của Đảng bộ cơ sở cũng cần chú trọng đúng mức vì “kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng”
Thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trên trong tình hình hiện nay cần kiểm tra để phát hiện, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hoạt động cụ thể cho phù hợp với các loại hình Đảng bộ cơ sở, đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành, đúng pháp luật của Nhà nước Các Đảng bộ cơ sở phải bảo đảm sinh hoạt Đảng bộ cơ sở thường lệ hàng tháng, nâng cao chất lượng sinh hoạt, thực hiện tốt việc phân công và kiểm tra công tác của Đảng viên Đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh
Trang 28nghiệp, đơn vị sự nghiệp phải thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, Đảng
ủy nơi cư trú theo quy định của Bộ Chính trị và gương mẫu thực hiện nghĩa
vụ công dân nơi cư trú Đổi mới công tác phân tích chất lượng tổ chức Đảng
và Đảng viên hàng năm, để công tác đánh giá chất lượng tổ chức Đảng, Đảng viên hàng năm đi vào nề nếp và đánh giá đúng thực chất
* Cơ cấu tổ chức của Đảng bộ cơ sở
Cơ cấu tổ chức của Đảng bộ cơ sở được quy định cụ thể tại Điều lệ Đảng Tuy nhiên, trong thực tế, tùy vào những đặc điểm đặc thù về số lượng Đảng viên, công tác, địa bàn mà mỗi Đảng bộ cơ sở có cơ cấu tổ chức phù hợp
Xét trong mối quan hệ tổ chức - bộ máy của Đảng, Đảng bộ ở hệ thống chính trị cơ sở cũng đều có các cơ quan lãnh đạo: Đại hội (cơ quan lãnh đạo cao nhất ở mỗi cấp) và Ban Chấp hành (gọi tắt là Cấp uỷ) do Đại hội từng cấp bầu ra Cấp uỷ Đảng là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở mỗi cấp giữa hai kỳ Đại hội, do Đại hội cùng cấp bầu ra Đây là một bộ phận hữu cơ của Đảng bộ cơ
sở nhưng là bộ phận hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng bộ cơ sở, là người đại biểu cho trí tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của Đảng bộ cơ sở
Chức năng chung của cấp ủy Đảng là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Trong đó, chức năng chủ yếu là lãnh đạo và kiểm tra Phương pháp lãnh đạo của cấp uỷ Đảng chủ yếu là phương pháp dân chủ, giáo dục thuyết phục, nêu gương và thông qua công tác tư tưởng và tổ chức của Đảng
Trách nhiệm và quyền hạn của tập thể cấp uỷ Đảng bao gồm những nội dung chủ yếu như: Quyết định các chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng để cụ thể hoá đường lối tổ chức chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng cấp trên; quyết định các chủ trương, biện pháp lớn về tổ chức và cán bộ,
về bố trí, đề bạt và thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý; thường xuyên chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, công tác vận động nhân dân, công tác xây dựng chính quyền, định kỳ nghe báo cáo và chỉ đạo các cấp uỷ
Trang 29Đảng trực thuộc, các Đảng đoàn, các ban của Đảng thực hiện chức trách, nhiệm vụ; xây dựng và điều hành bộ máy của cấp uỷ Đảng bảo đảm sự lãnh đạo các mặt hoạt động của cấp uỷ; chuẩn bị Đại hội, thường xuyên báo cáo với cấp trên và thông báo cho cấp dưới tình hình chung và công việc của cấp
uỷ, bảo đảm việc thông tin tình hình trong và ngoài nước cho từng cấp ủy trực thuộc một cách thường xuyên theo quy định của Điều lệ Đảng
1.2.2 Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở
Trong hệ thống chính trị cơ sở, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính ở địa phương, có nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước một cách toàn diện trên địa bàn xã, tổ chức thực hiện nghị quyết và quyết định của HĐND cùng cấp
* Cơ cấu tổ chức của UBND xã
Cơ cấu của UBND xã theo luật định gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Chủ tịch UBND phải là đại biểu HĐND cùng cấp
UBND cấp xã do HĐND cùng cấp bầu ra theo nguyên tắc bỏ phiếu kín Theo pháp luật hiện hành, số thành viên UBND cấp xã được qui định như sau:
- Đối với xã đồng bằng, trung du có dân số dưới 8000 người thì số thành viên UBND là 03 người, gồm 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 01 Ủy viên Các thay đổi về số lượng phải được Chủ tịch UBND huyện phê chuẩn
- Đối với xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8000 người trở lên và xã biên giới thì số thành viên UBND là 05 người, gồm 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 02 Ủy viên
UBND xã không có các cơ cấu trực thuộc mà chỉ có các chức danh chuyên trách để phụ trách các mảng công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã Các mảng công việc đó là: công an; quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng; tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội
* Cơ chế hoạt động của UBND xã
Hoạt động của UBND xã dựa trên nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân
Trang 30phụ trách, kết hợp với chế độ thủ trưởng Chủ tịch UBND là người chịu trách nhiệm chính trong việc lãnh đạo và điều hành hoạt động của UBND
Các vấn đề UBND xã phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số là:
- Chương trình làm việc của UBND;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách xã, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của xã trình HĐND xã quyết định;
- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở xã trình HĐND xã quyết định;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của HĐND xã về kinh tế - xã hội, thông qua báo cáo của UBND xã trước khi trình trình HĐND xã;
- Đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
ở xã
UBND xã họp ít nhất mỗi tháng một lần Các quyết định của UBND xã phải được ít nhất quá nửa thành viên UBND xã tán thành Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND xã là quyết định và chỉ thị Chủ tịch UBND xã thay mặt ký xác nhận
Chủ tịch UBND xã là người lãnh đạo, điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn luật định, cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND xã và cơ quan Nhà nước cấp trên
Chủ tịch UBND phân công công tác cho các Phó Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND Những cán bộ, công chức này chịu trách nhiệm trước Chủ tịch về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Cá nhân Chủ tịch UBND xã có những nhiệm vụ quyền hạn sau:
+ Lãnh đạo công tác của UBND xã, các thành viên của UBND, bộ phận chuyên môn thuộc UBND xã;
+ Đôn đốc công tác của các bộ phận chuyên môn thuộc Uỷ ban trong thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND xã;
Trang 31+ Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể UBND giải quyết;
+ Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc, quản lý, điều hành bộ máy hành chính xã hoạt động có hiệu quả;
+ Ngăn ngừa và đấu tranh chống các hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vô trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác trong bộ máy chính quyền xã
+ Tổ chức việc tiếp dân, xét, giải quyết kiến nghị, khiếu nại tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật
+ Triệu tập và chủ toạ các phiên họp của UBND xã; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức ở xã
+ Chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh, trật
tự và báo cáo UBND xã trong kỳ họp gần nhất
Trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chủ tịch UBND ra quyết định,
chỉ thị
* Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã
UBND xã là cơ quan Nhà nước ở địa phương, giữ vai trò quản lý xã hội, triển khai đưa các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch của Đảng đi vào cuộc sống Trong hệ thống chính trị ở cơ sở thì bộ máy chính quyền là lớn nhất Quyền lực của chính quyền vừa xuất phát từ nhân dân sở tại, vừa xuất phát từ Nhà nước Chính quyền cơ sở vừa đại diện cho quyền lực của nhân dân trong địa hạt, được nhân dân bầu ra, thực hiện ý chí chung của nhân dân địa phương; đồng thời cũng thay mặt quyền lực của Nhà nước tại địa phương Quyền lực của chính quyền cơ sở biểu hiện ở quyền đưa ra những quy định, quyết định; quyền cưỡng chế thực hiện những quy định, quyết định đó; quyền xét xử những vi phạm các quy định, quyết định và pháp luật nói chung theo phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định cho chính quyền cơ sở
Trang 32UBND tổ chức hoặc tham gia tổ chức những hoạt động chủ yếu của người dân; là người phối hợp, hỗ trợ không thể thiếu được đối với các hoạt động của tổ chức Đảng và đoàn thể trong phạm vi của đơn vị hành chính Có thể nói, các công việc xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền đều được tổ chức Đảng, các đoàn thể quan tâm Ngược lại, hầu hết các hoạt động của tổ chức Đảng, các đoàn thể đều cần đến sự phối hợp, giúp đỡ (bằng tài chính, phương tiện vật chất ) của UBND
1.2.3 Mối quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở
Mối quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị
cơ sở ở tầm vĩ mô chính là mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là một mối quan
hệ tất yếu Tuy nhiên, tùy tình hình cụ thể ở từng quốc gia mà mối quan hệ này có những dạng cụ thể khác nhau Nhìn chung, ở các quốc gia trên thế giới, Đảng là tổ chức đưa ra đường lối còn Nhà nước là tổ chức chuyên thực thi các đường lối này
Ở hệ thống chính trị cơ sở, mối quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở và UBND
là mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Đây là hai thực thể độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau theo hai hướng
Thứ nhất, mối quan hệ giữa hai thực thể này là mối quan hệ giữa lực
lượng chính trị và bộ máy công quyền Lực lượng chính trị là một nhóm người trong dân cư và nó đại diện cho những người đó Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho hàng triệu Đảng viên của Đảng Nhà nước là cơ quan công quyền đại diện cho toàn dân Đây là lực lượng thực hiện các nhiệm vụ công ích Cụ thể hơn, Nhà nước là đơn vị cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công nhằm tạo ra một môi trường sống tốt đẹp cho người dân Do Đảng đại diện cho người dân trong một quốc gia, nên Đảng phải có trách nhiệm lãnh đạo bộ máy Nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích được giao Nhà nước là công cụ
Trang 33quản lý đại diện cho công dân nhưng chịu sự chi phối của Đảng cầm quyền Chi phối bằng chủ trương, quyết sách, định hướng, hành động đưa chúng vào đời sống qua luật pháp, điều hành hoặc phán quyết của tòa án
Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước mà đại diện là UBND cấp
xã không đơn thuần là sự tác động một chiều UBND trên cơ sở sự lãnh đạo, định hướng của Đảng sẽ tự đề ra giải pháp, chiến lược cụ thể để có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ đề ra Đảng định hướng lãnh đạo nhưng không độc đoán, chuyên quyền, không làm thay nhiệm vụ của UBND
Thứ hai, mặc dù độc lập với nhau về mặt tổ chức, hai thực thể này có
thể có sự đan xen nhau về mặt nhân sự Có nghĩa là một cá nhân nhất định có thể vừa là Đảng viên vừa giữ chức vụ nào đó trong Nhà nước Sự đan xen này mang lại ba ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc quản lý đất nước Lợi ích đầu tiên là tận dụng được tài năng của quốc gia Nhân tài hàng đầu quốc gia
về mặt chính trị đồng thời cũng có khả năng quản lý đất nước cực kỳ tốt Do
đó, nếu không có sự đan xen này, tức nếu đã là Đảng viên thì không được giữ chức vụ trong bộ máy Nhà nước, thì sẽ làm hạn chế cơ hội phát triển của người tài Đồng thời, hoặc là Đảng, hoặc là Nhà nước đã bị mất đi một nhân
sự tốt Ngoài ra, sự đan xen này còn mang lại lợi ích thứ hai, đó là sự chuyển tải tinh thần chính trị qua điều hành xã hội Mặc dù hệ thống Nhà nước làm việc của công quyền nhưng phải quán triệt tinh thần chính trị của Đảng cầm quyền Sự quán triệt này sẽ giúp cho cả hệ thống chính trị và hệ thống Nhà nước đồng thuận với nhau, tạo sức mạnh đoàn kết trong việc lãnh đạo đất nước Thông qua những người này Đảng cầm quyền Nhà nước và định hướng đối với xã hội Cuối cùng, sự đan xen nhân sự này còn có tác dụng giám sát hành vi của cá nhân Một cá nhân sẽ bị giám sát bởi hai thực thể, điều này khiến cho cá nhân khó có hành vi vi phạm hơn Ví dụ, một cá nhân khi vi phạm kỷ luật Đảng nhưng chưa có hành vi vi phạm khi công tác bên hệ thống Nhà nước thì họ cũng sẽ bắt đầu bị giám sát chặt chẽ hơn Biểu hiện ra bên
Trang 34ngoài của hai mối quan hệ này là chất lượng của công quyền phản ánh năng lực chính trị của Đảng cầm quyền Một bộ máy công quyền yếu kém, năng lực không hoàn thành được nhiệm vụ, tham nhũng, mắc lỗi tác phong trong điều hành (hách dịch, chây lười, cẩu thả) thì Đảng cầm quyền không thể “vô can” được Tất nhiên đó là trách nhiệm chính trị của Đảng (uy tín với xã hội,
cơ hội và niềm tin trong nhân dân…) Bộ máy công quyền đưa xã hội phát triển, tình hình ổn định thì vị thế chính trị của Đảng được củng cố [xem 34]
1.3 Quan niệm, nội dung, phương thức, yếu tố chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND
1.3.1 Quan niệm về lãnh đạo và sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
Để hiểu được sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với chính quyền địa phương, trước hết chúng ta cần đưa ra so sánh vấn đề này với sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cấp Trung ương Ở cả hai cấp, sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với UBND là sự lãnh đạo toàn diện về mọi mặt Tuy nhiên, khi
so sánh sự lãnh đạo ở hai cấp với nhau chúng ta sẽ thấy được một số nét đặc trưng riêng
Khác với sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và các cơ cấu lãnh đạo cấp Trung ương của Đảng đối với bộ máy Nhà nước, trước hết, sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND là sự cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với một cấp chính quyền ở địa phương Chính quyền cơ sở là cấp chính quyền cao nhất ở địa phương nên sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở là sự lãnh đạo tổng hợp, bao trùm nhất đối với địa phương Sự lãnh đạo này bao trùm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Đảng lãnh đạo Nhà nước trước hết là bằng đường lối, chính sách, chủ trương Ở cấp Trung ương, Đảng trực tiếp quyết định đường lối, ban hành chính sách Còn ở địa phương thì tổ chức Đảng chỉ quyết định nhiệm vụ chính trị của địa phương và thảo luận, đóng góp ý kiến để Trung
Trang 35ương quyết định, ban hành đường lối, chính sách phù hợp với địa phương Xác định nhiệm vụ của địa phương không được trái với đường lối, chủ trương
do Trung ương Đảng ban hành, không được trái với pháp luật, nghị định, quy định của Nhà nước Đồng thời địa phương cụ thể hóa đường lối đó và lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối đó thông qua tổ chức Đảng và Đảng viên, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
Điểm khác nhau thứ hai nằm ở mức độ, phạm vi, tính chất của các quyết định và ở sự giới hạn quyền lực Đối với Trung ương, các quyết định của Trung ương Đảng được tổ chức Đảng và cán bộ Đảng trong các cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm thể chế hóa thành luật, chính sách, quy định Đối với địa phương, Đảng bộ cơ sở lãnh đạo việc cụ thể hóa nghị quyết của cấp Trung ương, tổ chức thi hành pháp luật và phối hợp với cơ quan quản lý ngành dọc chịu trách nhiệm trước Trung ương về sự lớn mạnh hay yếu kém của cơ quan Nhà nước Điểm giới hạn ở chỗ, Đảng bộ cơ sở không thể có những quyết định riêng và đặt yêu cầu tổ chức Đảng hoặc cá nhân Đảng viên trong cơ quan Nhà nước thi hành những quyết sách đó nếu nó vượt quá thẩm quyền và trái với các quy định hiện hành của cơ quan Nhà nước Trong trường hợp này, Đảng bộ cơ sở chỉ có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước thuộc quyền kiến nghị với cấp có thẩm quyền
Điểm khác nhau thứ ba, chính quyền không tự đề ra kế hoạch, chương trình để thực hiện mà thường là cụ thể để tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của cấp ủy cơ sở Đối với các nhiệm vụ như tư pháp, an ninh-quốc phòng, vừa lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng bộ địa phương đề
ra, vừa thực hiện các chủ trương, chính sách được cụ thể hóa qua các kế hoạch, chương trình hành động của cấp huyện, tỉnh vừa thực hiện các chủ trương, chỉ thị của ngành dọc Riêng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cấp ủy địa phương quyết định những vấn đề chung, còn kế hoạch cụ thể, các phương
án phòng thủ do ngành dọc quyết định Đối với lĩnh vực tư pháp, cấp ủy địa
Trang 36phương lãnh đạo, chỉ đạo về tư tưởng, ý chí đấu tranh chống tiêu cực, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã không can thiệp vào việc xét xử, tuyên án
Lẫn lộn chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước là sai, nhưng tách biệt hoàn toàn hai chức năng lãnh đạo và quản lý, nhất
là ở cấp độ địa phương cũng là một sai lầm lớn Nếu không phân biệt được thì
dễ dẫn đến bao biện, cấp ủy quyết định quá nhiều công việc thuộc chức năng thẩm quyền của chính quyền, thành cơ quan hành chính, đánh mất sứ mệnh lãnh đạo, vai trò “đầu não” của mình Đồng thời, chính quyền Nhà nước sẽ thụ động, ỷ lại, chờ đợi thực hiện các sứ mệnh của Đảng - không thực hiện được chức năng quản lý, không phát huy được quyền làm chủ, tính năng sáng tạo của nhân dân Nếu tách biệt chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ở cấp địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở, phường - xã, thực chất là
bỏ rơi lãnh đạo hoặc buông lỏng lãnh đạo, hình thức, không hiệu quả Điều
đó, vừa không đảm bảo được sự lãnh đạo, vị trí, vai trò của Đảng, vừa không phát huy thực sự vai trò của Nhà nước, của nhân dân Do vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền Nhà nước ở các cấp, từ Trung ương đến cơ sở, có nguyên tắc, tính chất, nội hàm chung, nhưng hình thức thể hiện
và nội dung công việc có sự khác nhau Đương nhiên càng xuống thấp cơ sở, việc lựa chọn, quy định rạch ròi việc gì thuộc lãnh đạo của Đảng, việc gì thuộc quyền quản lý của Nhà nước là hết sức khó khăn Ở đây, Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân gắn quyện với nhau thành một khối thống nhất, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
1.3.2 Nội dung lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở vừa mang tính chất lãnh đạo, chỉ đạo, vừa mang tính chất hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trên thực tế Để lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của cả nước,
Trang 37Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn và chỉ đạo hệ thống tổ chức Đảng trong các cơ quan Nhà nước cụ thể hoá thành các văn bản pháp luật
Để thể hiện vai trò hướng dẫn của mình, Đảng bộ cơ sở sẽ cụ thể hóa đường lối của Đảng bằng những chủ trương tại địa phương làm cơ sở cho UBND hoạt động Thông thường, chủ trương được thể hiện trong các văn bản của Đảng bộ từ cấp cao xuống cấp thấp (Tỉnh ủy, Huyện ủy) với mỗi thể loại nhất định, từ nghị quyết đại hội, nghị quyết hội nghị (còn có tên khác là chương trình hành động), chỉ thị, kế hoạch, thông tri, công văn chỉ đạo
Đảng bộ cơ sơ lãnh đạo công tác cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ của UBND Hoạt động này có vai trò quyết định đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ là vì bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không phần lớn dựa phần lớn vào hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ Ở nước ta, Đảng cộng sản là người lãnh đạo Nhà nước Thực hiện sự lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền thì việc nắm chắc công tác cán bộ của bộ máy Nhà nước là một trong những nội dung quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng Để thực hiện được vai trò lãnh đạo về quản lý cán bộ, Đảng bộ thực hiện thông qua ba kênh chính
Thứ nhất, Đảng đưa ra quan điểm, đường lối về xây dựng, sắp xếp,
giáo dục, đào tạo, đãi ngộ cán bộ trong bộ máy Nhà nước Đảng xác định tiêu chuẩn, yêu cầu về sử dụng, đánh giá, lựa chọn, đề bạt, kiểm tra cán bộ Đảng thống nhất lãnh đạo về quan điểm, đường lối trong công tác cán bộ, bảo đảm cho những tư tưởng chỉ đạo đó được nhận thức, quán triệt, chấp hành trong công tác cán bộ ở mọi cấp, ngành, địa phương cả nước
Thứ hai, Đảng thực hiện việc xây dựng quy hoạch, lựa chọn, bố trí cán
bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt trong bộ máy chính quyền theo đúng các nguyên tắc và thủ tục pháp luật Đảng chủ trì việc phân bổ, điều chỉnh cán bộ giữa các cơ quan Trung ương, giữa Trung ương và địa phương để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng Trong công việc
Trang 38này, cấp ủy các cấp của Đảng chỉ quản lý chắc số cán bộ chủ chốt trong cơ quan Nhà nước của cấp mình trên những quyết định quan trọng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”
Thứ ba, Đảng giáo dục, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong bộ máy
Nhà nước về mặt lý luận chính trị nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, tầm nhìn đáp ứng những nhiệm vụ được giao
Để đảm bảo việc UBND thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của mình đúng theo đường lối, chủ trương của Đảng bộ đề ra, Đảng bộ còn đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của UBND Trong tình hình mới hiện nay, công tác kiểm tra ngày càng được Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đổi mới trong lãnh đạo công tác kiểm tra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức trong hệ thống chính trị Đại hội X của Đảng đã giao thêm chức năng giám sát cho Ủy ban kiểm tra các cấp Việc kiểm tra của Đảng bộ tập trung vào việc xem xét
về mặt quan điểm, phương hướng chính trị, bảo đảm thực hiện đúng đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước Nội dung kiểm tra, giám sát hướng vào việc quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết hội nghị Trung ương, các nghị quyết hội nghị của Tỉnh uỷ, Huyện ủy; việc chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước Thông qua kiểm tra, Đảng bộ kịp thời phát hiện những thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước của UBND, cũng như những sai lầm trong chủ trương, đường lối do mình đề ra và có biện pháp khắc phục Việc kiểm tra của Đảng không trùng lắp với thanh tra, giám sát của Nhà nước Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo UBND thực hiện đúng quy định của pháp luật Việc kiểm tra của Đảng được tiến hành chủ yếu thông qua các Đảng viên và tổ chức Đảng Đảng đứng về phía quần chúng nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền địa
Trang 39phương Qua đó, phát hiện những vấn đề và kiến nghị với Nhà nước những giải pháp uốn nắn lệch lạc trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước của cán bộ, công chức UBND
1.3.3 Phương thức lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
Phương thức lãnh đạo là hệ thống những hình thức, biện pháp, cách thức mà chủ thể lãnh đạo là Đảng tác động vào đối tượng lãnh đạo (ở đây là Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội) nhằm thực hiện mục đích của mình Phương thức lãnh đạo không phải là bất biến mà cũng vận động, biến đổi tùy thuộc vào sự biến đổi của điều kiện khách quan, vào đặc điểm của đối tượng lãnh đạo và năng lực của chủ thể lãnh đạo Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và ngoài xã hội… thì phương thức lãnh đạo của Đảng không thể không thay đổi
so với thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm hoặc thời kỳ còn cơ chế kinh tế tập trung bao cấp trước đây
Phương thức lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với chính quyền địa phương là hệ thống các phương pháp, hình thức, cách thức, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc mà Đảng bộ cơ sở sử dụng để tác động vào các yếu tố, các lĩnh vực, các tổ chức, lực lượng, các quan hệ liên quan nhằm xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả Đảng bộ cơ
sở lãnh đạo chính quyền địa phương bằng nghị quyết; định hướng, chỉ đạo giải quyết các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng của địa phương; lãnh đạo bằng công tác tổ chức, cán bộ; bằng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện; bằng công tác tư tưởng của Đảng
Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng bộ cơ sở xây dựng và ban hành các nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương, giải pháp phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn, nhất là các nghị quyết, chủ trương giải quyết những vấn đề lớn có ý nghĩa chính trị quan trọng Trên cơ sở đó,
Trang 40HĐND thảo luận và ra nghị quyết, ủy ban nhân dân thực hiện nghị quyết của HĐND Đảng bộ cơ sở cho ý kiến giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong đời sống xã hội trên địa bàn, cho ý kiến về đề án, chương trình, kế hoạch của ủy ban nhân dân trước khi trình HĐND quyết định các biện pháp giải quyết
Ngoài ra, Đảng bộ cơ sở còn có thể thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua công tác tư tưởng Đảng bộ cơ sở tiến hành các mặt công tác lý luận, tuyên truyền cổ động để giáo dục, thuyết phục, tuyên truyền vận động đội ngũ cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức trong các cơ quan thuộc hệ thống chính quyền thông suốt tư tưởng và chấp hành sự lãnh đạo của Đảng Bên cạnh đó, Đảng bộ cơ sở lãnh đạo tổng kết kinh nghiệm, cung cấp những thông tin, dữ liệu và các căn cứ khoa học phục vụ quá trình ra nghị quyết lãnh đạo
và đưa nghị quyết vào cuộc sống
Đảng bộ cơ sở còn có thể lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức Đảng, thông qua HĐND, Đảng viên trong bộ máy chính quyền Đảng bộ cơ sở lãnh đạo chính quyền thông qua tổ chức Đảng và Đảng viên làm việc trong các cơ quan của HĐND, ủy ban nhân dân Các tổ chức Đảng trong các cơ quan này trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý, kiểm tra, giám sát Đảng viên của mình về phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, làm nòng cốt trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng bộ cơ sở, HĐND, các chủ trương, giải pháp của ủy ban nhân dân và thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đảng bộ cơ sở lãnh đạo chính quyền bằng công tác cán bộ Đảng bộ cơ
sở chăm lo xây dựng, kiện toàn về tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, ủy ban nhân dân; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ trong các cơ quan của chính quyền, lựa chọn và bố trí đúng các chức danh cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của HĐND, ủy ban nhân dân; quản lý chặt chẽ toàn diện, kiểm tra, giám sát những cán bộ đó trong thực thi công vụ và trong các quan hệ xã hội