1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an

100 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 749,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chưa có một cộng trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, chi tiết, chưa chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân và chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể trong việc nâng cao chất lượng

Trang 1

_

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

_

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC,

TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

TS VŨ THỊ PHƯƠNG LÊ

NGHỆ AN, 2016

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Vũ Thị Phương Lê - Giảng viên Trường Đại học Vinh, là người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được bổ sung hoàn chỉnh hơn và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2016

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 12

1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn 18

1.3 Những nhân tố tác động và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn 29

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN 45

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 45

2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc 49

2.3 Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc 54

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN 63

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 63

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc 71

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ cán bộ cơ sở 49

Bảng 2.2 Số lượng đội ngũ công chức cơ sở 50

Bảng 2.3 Cơ cấu tỷ lệ độ tuổi cán bộ, công chức 50

Bảng 2.4 Chất lượng cán bộ, công chức cơ sở 51

Bảng 2.5 Chất lượng cán bộ, công chức cơ sở 52

Bảng 2.6 Trình độ quản lý nhà nước 52

Bảng 2.7 Trình độ tin học, ngoại ngữ 53

Bảng 2.8 Kết quả luân chuyển cán bộ giai đoạn 2011 - 2015 55

Bảng 2.9 Kết quả điều động, luân chuyển công chức giai đoạn 2011 - 2015 55

Bảng 2.10 Kết quả tuyển dụng công chức từ năm 2010 đến năm 2015 56

Bảng 2.11 Kết quả luân chuyển điều động công chức giữa các xã, thị trấn từ năm 2011 đến năm 2015 56

Bảng 2.12 Kết quả đào tạo chuyên môn giai đoạn 2011 - 2015 57

Bảng 2.13 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị giai đoạn 2011 - 2015 57

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định cán bộ có một vai trò hết sức quan trọng Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [16, tr.33]

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quá trình giao lưu, hội nhập hiện nay đang đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn đối với nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp

Đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn là những người hàng ngày tiếp xúc với dân, họ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và triển khai, hướng dẫn, vận động quần chúng nhân dân thực hiện và phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng cho Đảng đề ra chủ trương, chính sách đúng Vì thế, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới là nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng

Trong những năm qua, mặc dù việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc đã được quan tâm; số lượng cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có trình độ văn hóa, trình

độ chuyên môn và lý luận chính trị đã tăng lên đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh

đó vẫn còn nhiều bất cập: một số cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc không được quy hoạch, đào tạo một cách có hệ thống; việc bố trí, sử dụng chưa phù hợp Một số cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn chưa có trình độ chuyên môn, trình độ chính trị đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác; làm việc theo lối kinh nghiệm, thiếu khoa học; trình độ, phương pháp làm việc còn hạn chế, thậm chí có nhiều sai phạm

Trang 8

Từ thực tế đó, cần có một sự nghiên cứu toàn diện, trên cơ sở tổng quan những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn; phân tích đúng thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện một cách đồng bộ, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Xuất phát từ những suy nghĩ đó, tác giả

chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính

trị học

Vấn đề xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong

đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học

xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Nhiều công trình đã góp phần giải đáp những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn đối với yêu cầu xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã nói riêng

Một số công trình đã đề cập khá sâu các quan điểm, giải pháp về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và nâng cao chất

lượng hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã như bài viết Nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức - Góc nhìn từ cơ sở của tác giả Cao Diệu Linh

- Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật trường Chính trị tỉnh Nghệ An Bài viết đã nêu khá rõ thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Nghệ An; đồng thời chỉ ra được một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã trong toàn Tỉnh Tuy nhiên, ở bài viết này còn nêu chung

về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh, bao gồm các đặc điểm như tôn giáo, dân tộc, vùng miền Không đi sâu giải quyết phù hợp với một đơn

vị cụ thể như trên địa bàn huyện Nghi Lộc vốn có không nhiều những đặc điểm chung đó

Trang 9

Tác giả Đoàn Văn Tình - Đại học Nội vụ Hà Nội có bài viết Nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, góp phần xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh Ở bài viết này, tác giả Đoàn Văn Tình đã đánh giá khái

quát tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn, đồng thời chỉ ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn cả nước

Tác giả Trần Thị Hạnh, trường Đại học Nội vụ - Bộ Nội vụ có bài Chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến nghị Ở bài viết này, tác giả đã trình bày những kết quả đạt được

cũng như những tồn tại, hạn chế, những khó khăn trong quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, đồng thời, tác giả Trần Thị Hạnh đã đề ra được những giải pháp cụ thể để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế yếu kém trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Trung ương

Tác giả Mạch Thị Khánh Trinh – Giảng viên trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra kinh nghiệm trong việc xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã, thị trấn ở tỉnh An Giang qua bài viết Xây dựng đội ngũ

cán bộ cấp cơ sở của tỉnh An Giang đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay

Cùng quan tâm nghiên cứu về đề tài xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

cấp xã, tác giả Lê Thị Lý có Luận văn thạc sĩ về: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức xã trước yêu cầu đổi mới cũng đã làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận về

vai trò của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; những tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong điều kiện đổi mới và cải cách nền hành chính; đưa ra được những giải pháp để đổi mới tổ chức, hoạt động chính quyền cấp xã và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới

Có một số đề tài chỉ đi sâu vào việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp

về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung như: Luận văn thạc sỹ chuyên

Trang 10

ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà về: Nâng cao chất lượng

công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoan hiện nay Đề tài này đã

đánh giá khá sâu và giải quyết tốt nội dung về đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, vì giới hạn vấn đề nghiên cứu nên đề tài này chưa có đánh giá, giải quyết tổng thể, toàn diện để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn Huyện nói chung

Khi nghiên cứu đối tượng là cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Nghi

Lộc còn có Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Bá Châu về: Phát triển đội ngũ

cán bộ quản lý cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Ở

Luận văn này, tác giả đã chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân và đề ra những giải pháp để phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm quản lý, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc Tuy nhiên, hạn chế của để tài là chưa bao quát toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã để nâng cao chất lượng toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc

Như vậy, có thể thấy rằng, ở các bài viết, ở những công trình nghiên cứu khác nhau đều có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên từng lĩnh vực hoặc từng đối tượng cụ thể Tuy nhiên, chưa có một cộng trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, chi tiết, chưa chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân và chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Ở tỉnh Nghệ An, cũng đã có một số Nghị quyết, Đề án của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân Tỉnh về vấn đề quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, như: Nghị quyết số 05-NQ/TU của

Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh ban hành năm 2005 về Xây dựng, nâng cao chất

Trang 11

lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã giai đoạn 2005 - 2010 và những năm tiếp theo; Đề án của Ủy ban nhân dân Tỉnh về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

xã thuộc tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 2020 Huyện Nghi Lộc đã có Nghị

quyết số 02 - NQ/HU của Ban Chấp hành Đảng bộ Huyện ban hành năm 2006

về Củng cố, nâng cao chất lượng và nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT

cơ sở; Đề án số 05-ĐA/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy về Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ huyện và các xã giai đoạn 2005 - 2010 và đến năm 2015, Chương trình Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2011-2015, trong

đó đã quan tâm đề cập vấn đề quy hoạch, đào tạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên, chưa cũng chưa có một đề

án, đề tài hay văn bản nào của cấp ủy, chính quyền, cá nhân đề cập cụ thể về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn

Nhìn chung, việc nghiên cứu về chính quyền cấp xã, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập và có nhiều công trình, đề tài công bố có giá trị cả về lý luận và ứng dụng trong thực tiễn Tuy nhiên, trong các tác phẩm,

đề tài, mỗi tác giả thường chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và thường đề cập ở dạng chung nhất hoặc chỉ giới hạn trong một địa phương cụ thể; chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong giai đoạn hiện nay Đây là nội dung mà bản thân nhận thấy cần phải có sự nghiên cứu cụ thể để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã trên địa bà Huyện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao nhiệm vụ nâng cao chất lượng kinh tế, xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong quá trình nghiên cứu, một số nội dung có liên quan đến đề tài đã được công bố sẽ được tham khảo có tính kế thừa và chọn lọc, nhất là những vấn

đề về lý luận đối với cán bộ, công chức cấp xã Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề cập

Trang 12

sâu hơn đến một số vấn đề về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn, từ

đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện nhà

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã, thị trấn ở 29 xã, 01 thị trấn thuộc huyện Nghi Lộc giai đoạn từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

Trang 13

về cán bộ, và công tác cán bộ, đồng thời sử dụng các phương pháp khác như:

phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh,

6 Những đóng góp của luận văn

- Làm sáng tỏ chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và ở cấp

xã nói riêng; đặc biệt là vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã; nội dung nâng cao chất lượng, tiêu chí và những nhân tố tác động đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã

- Phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế

về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong thời gian qua

- Đề xuất được một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã, thị trấn đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức

Theo Từ điển Tiếng Việt 2011 của Trung tâm từ điển học thì cán bộ có

nghĩa là: “người làm việc trong cơ quan, đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo, quản lí, hoặc một công tác nghiệm vụ chuyên môn nhất định” [51, tr.148] Còn công chức là: “người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [51, tr.280] Trong thực tế, khái niệm cán bộ, công chức thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt là khái niệm cán bộ thường được dùng để chỉ những người làm việc trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và nhà nước Từ năm 2008, khái niệm cán bộ, công chức được quy định rõ trong luật Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ, công chức:

“1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an

Trang 15

nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

3 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND,

Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị

- xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [40, tr.11]

Từ quy định trên có thể hiểu cán bộ và công chức là:

+ Công dân Việt Nam;

+ Được bầu cử hoặc tuyển dụng vào các vị trí công tác ở các cấp;

+ Trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Từ khái niệm được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có thể phân biệt sự khác nhau giữa cán bộ và công chức cấp xã như sau:

+ Cán bộ do bầu cử theo nhiệm kỳ, có thể nhiệm kỳ này đang là cán bộ nhưng nhiệm kỳ sau thì không là cán bộ khi nhân dân không bầu Công chức do tuyển dụng qua xét tuyển hoặc thi tuyển

+ Cán bộ giữ vị trí cấp trưởng, phó hoặc thường trực của cơ quan Đảng, chính quyền, trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã; còn công chức là những người làm chuyên môn, nghiệp vụ

1.1.2 Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức

Khi nói đến “đội ngũ” chúng ta thường nói đến một lực lượng có số đông, bao gồm nhiều cá nhân hoặc cá thể được tập hợp lại thành lực lượng có quy mô,

có tổ chức

Trang 16

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2011, Đội ngũ là: “tập hợp một số đông

người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp” [51, tr.446]

Chúng ta thường nói: Đội ngũ chiến sỹ, đội ngũ giáo viên, đội ngũ y bác

sỹ, đội ngũ cựu chiến binh Đây là những người có cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp được tập hợp trong những tổ chức phù hợp, có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất với những tôn chỉ, mục đích hoạt động nhất định

Như trên đã nói, cán bộ, công chức là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn hoặc là người có chức vụ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các cơ quan trong HTCT và các tổ chức chính trị xã hội

Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức là tập hợp những cán bộ, công chức

có cùng chức năng, nhiệm vụ, hay nói cách khác là tập hợp những người có chức vụ và làm công tác nghiệp vụ chuyên môn, làm việc thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội

1.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

Theo điểm 3 điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 nêu trên: “Cán bộ

xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân,

Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội cấp xã; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [40, tr.11]

Điều 61, Luật Cán bộ, công chức quy định rõ đối tượng nào là cán bộ và đối tượng nào là công chức Cụ thể,

“2 Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;

c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;

Trang 17

d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

3 Công chức cấp xã có các danh sau đây:

a) Trưởng Công an;

b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

g) Văn hóa - xã hội.” [40, tr.45-46]

Bên cạnh đó Luật Cán bộ, công chức còn nói rõ cán bộ, công chức cấp xã, bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

1.1.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã

Ở nước ta, chính quyền địa phương được tổ chức thành 3 cấp:

Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là

cấp tỉnh);

Chính quyền cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là

cấp huyện);

Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Chính quyền cấp xã là chính quyền gần dân nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp Gọi chính quyền cấp xã, thị trấn là chính quyền cấp cơ sở bởi những lý do sau:

Trang 18

Thứ nhất, cấp này thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một cấp

Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên

Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền nào

thấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn Đây là cấp gần dân nhất, sâu sát nhân dân nhất so với các cấp chính quyền khác

Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ thống

“Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi” [36, tr.371

Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân Trong HTCT nước ta, chính quyền cấp xã, thị trấn

có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, bảo đảm các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống

Trang 19

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn và HTCT nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực

và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Có thể nói, đây là vấn

đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình

từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp xã, thị trấn nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [16, tr.66] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [36, tr.269] Vì vậy, theo Người, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cấp xã, thị trấn nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở Cấp xã, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, thị trấn

Cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước Không có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn vững mạnh thì dù đường lối chủ trương

có đúng đắn cũng khó trở thành hiện thực Cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh,

sử đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn Ở khía cạnh này, cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có vai trò là cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với quần chúng nhân dân

Trang 20

Cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có vai trò quan trọng trong quản lý và

tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mảng tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương Cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn còn có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền

tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình

Chính vì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn vững vàng

về chính trị, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của HTCT và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ

1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

Để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn, chúng ta cần căn cứ vào nghĩa vụ, tiêu chuẩn, tiêu chí đối với cán bộ, công chức Trong đó:

Về nghĩa vụ, Luật Cán bộ, công chức quy định rõ:

“Điều 8 Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

Trang 21

1 Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

2 Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

3 Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân

4 Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

và pháp luật của Nhà nước

Điều 9 Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ

1 Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn được giao

2 Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi

vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước

3 Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

4 Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao

5 Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định

đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

6 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” [40, tr.14-16]

Đối với người đứng đầu, ngoài việc thực hiện quy định trên còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

Trang 22

“1 Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

2 Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

3 Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

4 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

5 Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị

cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân,

tổ chức;

6 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” [40, tr.16-17]

Về tiêu chuẩn chung quy định cho đội ngũ công chức, Nghị định

112/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn đã quy

định rõ:

“1 Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng -

đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội:

a) Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

b) Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

Trang 23

c) Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm

số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.” [12, tr.1-2]

Theo Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ về

“Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức

xã, phường, thị trấn” quy định rõ tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã, thị trấn như sau:

“a) Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;

b) Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

c) Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;

d) Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; đ) Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu

số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu

số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;

Trang 24

e) Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản

lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm” [10, tr.1-2]…

Từ những quy định về tiêu chuẩn và căn cứ vào nghĩa vụ của cán bộ, công chức, Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn được đánh giá trên những tiêu chí nhất định Cụ thể:

1.2.1 Quy mô, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức

Khi nói về cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn một trong những yếu tố đầu tiên để đánh giá đó là quy mô, cơ cấu Về quy mô, có thể hiểu đó là số lượng cán

bộ, công chức của các xã, thị trấn Theo quy định của Nhà nước để đánh giá đơn

vị đó đủ hay thiếu, hay thừa cán bộ, công chức theo quy định Bên cạnh đó, số lượng cán bộ công chức có đảm bảo cơ cấu theo các chức danh lãnh đạo, đảm bảo phụ trách tham mưu các lĩnh vực thuộc lĩnh vững chuyên môn hay không để đánh giá hiệu quả, chất lượng hoạt động của bộ máy, cán bộ công chức đó

Về số lượng cán bộ, công chức ở từng xã, phường, thị trấn có sự khác nhau căn cứ vào vùng miền, số lượng dân cư của từng đơn vị Theo Nghị định

số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một

số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã như sau:

“1 Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:

a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;

b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;

b) Cấp xã loại 3: không quá 21 người;

Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Trang 25

2 Số lượng cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã” [13, tr.2-3]

Về cơ cấu, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn đảm bảo cơ cấu cán

bộ giữ các chức vụ trong công tác Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị -

xã hội như: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Và cơ cấu các chức danh chuyên môn như: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội

Trình độ chuyên môn còn là quá trình bồi dưỡng, tập huấn, cập nhật kiến thức mới để đáp ứng sự vận động biến đổi của công việc

Đối với cán bộ cấp xã, thị trấn, hiện nay nhìn chung đã được đào tạo về chuyên môn, có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học trên đại học Tuy nhiên,

Trang 26

bên cạnh đó, vẫn còn một số cán bộ chưa qua đào tạo về chuyên môn Đối với công chức cấp xã nhìn chung đã thực hiện đúng theo quy định “Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;” [10, tr.2]

1.2.3 Trình độ lý luận chính trị

Ở nước ta, lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vị trí chủ đạo

về tư tưởng, lý luận và phương pháp luận cho khoa học xã hội - nhân văn đồng thời là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chung cho mọi hoạt động nghiên cứu khoa học, là hệ tư tưởng của xã hội nên việc học tập hệ thống lý luận này lại càng cần thiết và càng có ý nghĩa hơn

Có thể nói, học tập lý luận chính trị là hoạt động có chủ đích nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên cơ sở hệ tư tưởng, lập trường của giai cấp công nhân

- đó là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo dục lý luận chính trị thực sự tạo thành nền tảng tư tưởng trong đời sống xã hội Do đó, việc học và nghiên cứu lý luận chính trị đối với cán bộ, công chức, đảng viên hiện nay thực

sự có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng:

Học tập và nghiên cứu lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một công việc khó khăn song rất quan trọng và có ý nghĩa Nó không chỉ cung cấp cho chúng ta tri thức khoa học lý luận về xã hội, tự nhiên và con người mà còn giúp chúng ta nhận thức đúng đắn thế giới quan, phương pháp luật khoa học về mọi mặt đời sống, về con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đang phấn đấu thực hiện

Tùy từng nhiệm vụ, vị trí công tác của từng cấp, từng người, trình độ lý luận được quy định đối với, mỗi cán bộ, đảng viên có khác nhau như sơ cấp chính trị, trung cấp chính trị, cao cấp chính trị hoặc cử nhân chính trị Riêng ở cấp cơ sở quy định trình độ chính trị phải có tối thiểu là sơ cấp chính trị, các chức danh chủ chốt, trưởng các ngành, đoàn thể là trung cấp chính trị Các xã, thị trấn muốn đạt chuẩn nông thôn mới thì cán bộ, công chức cấp xã phải đạt 100% trình độ Trung cấp chính trị

Trang 27

1.2.4 Trình độ quản lý nhà nước

Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất - tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế

Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là Quản lý toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước

Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện mà Hiến pháp và pháp luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nưoc, còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước, hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành

Tương ứng với từng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý từng cấp, từng ngành mà

có yêu cầu về trình độ quản lý nhà nước có khác nhau như chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp Đối với cán bộ quản lý cấp xã, thị trấn yêu cầu

về trình độ quản lý nhà nước cần có tối đa là chuyên viên, chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước, hoặc Trung cấp lý luận chính trị - hành chính

1.2.5 Trình độ tin học, ngoại ngữ

Trong điều kiện nền kinh tế xã hội đang phát triển nhanh chóng như nước

ta hiện nay, nhu cầu trau dồi và nâng cao kỹ năng ngoại ngữ cần phải được quan tâm Như một xu hướng tất yếu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm gần đây, việc học tập, nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ giúp cho mọi người nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn nói riêng có điều kiện tiếp cận các thông tin, nắm bắt các cơ hội giải quyết việc làm, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, cũng như phương pháp quản lý hiệu quả

Yêu cầu cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn cần phải có trình độ tin học ngoại ngữ đã được đặt ra để đáp ứng yêu cầu công tác Về Trình độ tin học: “Có

Trang 28

chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên” [10, tr.2] Ngoại ngữ cần có trình độ chứng chỉ A, B, có khả năng giao tiếp…

1.2.6 Kỹ năng và thái độ giải quyết công việc

Kỹ năng là cách thức mà người cán bộ, công chức có thể vận dụng để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Trong thực tế, người cán bộ công chức cần có

cả kỹ năng “cứng” (Kỹ năng được đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành, đào tạo bồi dưỡng về quản lý ) đồng thời phải có kỹ năng “mềm” đó là khả năng xử lý tình huống, kỷ năng giải quyết vấn đề linh hoạt hiệu quả nhất

Đối với người cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn cần phải có các kỹ năng

cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, Kỹ năng kiểm tra, kỹ năng giám sát

Kỹ năng giao tiếp thể hiện ở quá trình trao đổi, chia sẻ những ý nghĩ, cảm xúc và thông tin giữa các cá nhân mang lại sự hiểu biết và tăng cường mối quan

hệ lẫn nhau Đây là quá trình trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nhất định Đối với người cán bộ, công chức cấp

xã, thị trấn cần có kỹ năng giao tiếp hành chính như kỹ năng chủ trì cuộc họp,

kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ năng tiếp dân giải quyết thủ tục hành chính, kỹ năng tiếp dân khi giải quyết khiếu nại tố cáo…

Đối với kỹ năng thuyết trình, yêu cầu người cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn cần rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như: Tư thế, cách nói, chuẩn bị nội dung, phương tiện, giao tiếp với người nghe, trình bày vấn đề cần truyền đạt

Kỹ năng làm việc nhóm yêu cầu người cán bộ, công chức cần xác định được rõ chức năng, nhiệm vụ một cách rõ ràng Trên cơ sở đó xây dựng nhóm, phân công nhiệm vụ rõ ràng để cùng thực hiện để đạt múc đích chung đã đề ra Các thành viên trong nhóm phải biết hỗ trợ nhau trong công tác…

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên, phổ biến trong đời sống hàng ngày

và công vụ Kiểm tra việc thực hiện công việc là một khâu quan trọng trong quá

Trang 29

trình lãnh đạo, quản lý được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền quản lý Kiểm tra được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện những vẫn đề cần điều chỉnh, bổ sung, tăng cường các biện pháp cần thiết, để đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch và đạt được mục tiêu đã định Đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn cần phải có kỹ năng kiểm tra hành chính nhà nước như kiểm tra việc tuân thủ pháp luật; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; việc thực hiện kế hoạch, chương trình công tác; chất lượng hiệu quả hoạt động; phát hiện những khó khăn vướng mắc để có biện pháp giải quyết…

Bên cạnh kỹ năng thì thái độ giải quyết công việc là một đòi hỏi đối với người cán bộ, công chức Người cán bộ, công chức nói chung, cấp xã, thị trấn nói riêng cần phải xác định được thái độ làm việc tích cực, thực sự là “công bộc của nhân dân”, “lấy dân làm gốc”, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân Tuyệt đối tránh thái độ làm việc bàng quang, hời hợt, thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu, gây khó khăn đối với nhân dân nhằm trục lợi Luật Cán bộ, công chức quy định rõ yêu cầu này như sau:

“Điều 15 Đạo đức của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ

Điều 16 Văn hóa giao tiếp ở công sở

1 Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc

2 Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng,

vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ

3 Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp

Điều 17 Văn hóa giao tiếp với nhân dân

Trang 30

1 Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc

2 Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.” [40, tr.19-20]

bi quan và lối sống không lành mạnh

Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và

có đạo đức Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm

Bên cạnh đó, sức khỏe thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên trong gia đình, công cộng, cơ quan

Nó thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội Cơ sở của yếu tố sức khỏe này là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội

Đối với người cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn cũng cần phải đảm bảo

“Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ” [40, tr.30] Sức khỏe là yếu tố quan trọng

Trang 31

để xác định, người cán bộ, công chức có thể đảm bảo để hoàn thành được nhiệm

Thứ nhất, các quy định, các chính sách pháp luật của Nhà nước

Các quy định, chính sách, pháp luật của nhà nước đều có tác động đến tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

Đã có nhiều văn bản quy định về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn như: Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, cũng từ ngày này các Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998,

2000, 2003 hết hiệu lực); Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2010); Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ;

Riêng Cán bộ, công chức cấp xã có Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (có hiệu lực thi hành từ ngày 25/10/2003) và thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực thi hành từ ngày 31/01/2004) 2 Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (có hiệu lực thi hành từ ngày 31/01/2004) 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010) Nghị định này

Trang 32

thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP Về công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ về Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn

Các quy định đó đều tác động đến số lượng và chất lượng của đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã, thị trấn Trong đó quy định ngày càng rõ số lượng cán bộ, công chức cho từng xã, phường, thị trấn, từng vùng miền khác nhau Đồng thời quy định rõ tiêu chuẩn trình độ đối với cán bộ, công chức cũng như hình thức thi tuyển, xét tuyển bổ nhiệm, bầu cử, luân chuyển

Nhìn chung các chủ trương chính sách, pháp luật từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, thực hiện tốt CCHC theo hướng tinh giản biên chế, nâng cao hiệu quả, năng lực quản lý nhà nước

Thứ hai, chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm

Tuyển dụng công chức là việc lựa chọn và chấp nhận một người tự nguyện gia nhập hệ thống công vụ sau khi đã xác nhận người đó có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật để bổ nhiệm vào một ngạch công chức theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần tuyển Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức trách nhất định hay để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà nước trao cho công chức Còn bổ nhiệm là là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật

Vì vậy việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ có tác động rất lớn đến chất lượng, số lượng cán bộ, công chức

Nếu việc tuyển dụng, bổ nhiệm được tổ chức khách quan, công bằng Quy trình đảm bảo thì sẽ lựa chọn được cán bộ công chức có trình độ, trách nhiệm, phát huy được năng lực, thế mạnh của mình Hình thành được đội ngũ cán bộ, công chức có chuyên môn, năng lực kế cận vào biên chế nhà nước, trực tiếp góp

Trang 33

phần vào việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội Ngược lại, tổ chức không chặt chẽ, thiếu công bằng ngoài việc không có được đội ngũ cán bộ, công chức tốt mà còn ảnh hưởng đến công tác cán bộ nói chung, hiệu quả, chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức không cao, gây mất lòng tin của nhân dân

Tuyển dụng công chức còn làm thay đổi các chính sách phát triển của

cơ quan hành chính nhà nước Giúp cơ quan tiết kiệm chi phí đào tạo, bồi dưỡng Tuyển dụng khách quan tạo nên tính cạnh tranh, thúc đẩy các ứng viên không ngừng rèn luyện nâng cao trình độ của cá nhân để phù hợp với yêu cầu công việc

Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vừa là căn cứ để tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện để bố trí vào công tác trên các lĩnh vực quản lý, nhưng đồng thời cũng là cơ chế để thu hút cán bộ có tâm huyết, trách nhiệm, năng lực về làm nhiệm vụ quản lý ở cấp xã Nếu có cơ chế phù hợp thì sẽ tạo điều kiện tuyển dụng và thu hút được nhiều cán bộ có trình

độ, khả năng, tâm huyết về xã công tác và ngược lại

Việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ quản lý ở cấp xã bao gồm 2 đối tượng: Cán bộ lãnh đạo quản lý và công chức làm công tác chuyên môn

- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý được thực hiện thông qua chế độ bầu

cử Các chức danh lãnh đạo quản lý nhà nước, như Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Ủy ban nhân dân chủ yếu thực hiện theo cơ chế: Đảng cử, dân bầu Trong thực tế, mặc dù đã có quy chế về giới thiệu cán bộ ứng cử và bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, song việc bầu cử cán bộ ở cấp xã thường bị chi phối bởi các mối quan hệ làng xóm, anh em, dòng họ nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự để bầu cử và kết quả bầu cử Với cơ chế này khó tránh khỏi việc lựa chọn người không đảm bảo phẩm chất, năng lực vào đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo quản lý ở cấp xã

- Đội ngũ công chức làm công tác chuyên môn được tuyển dụng, thu hút thông qua hình thức thi tuyển Việc tuyển dụng cán bộ công chức tuy đã có sự

Trang 34

đổi mới, từ xét tuyển và bố trí theo đề nghị của địa phương sang chế độ thi tuyển, nên chất lượng về trình độ chuyên môn đã có những tiến bộ hơn, song vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm Việc thi tuyển còn sa vào lý thuyết, chưa đánh giá được khả năng, năng lực của cán bộ Thực tế công tác quản lý, nhất là quản

lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế ở cấp xã đã nảy sinh những vấn đề đòi hỏi đội ngũ cán bộ vừa phải có trình độ chuyên môn, vừa phải thực sự có sự nhanh nhạy trong xử lý Do đó việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ quản lý cần phải tiếp tục đổi mới theo hướng vừa đảm bảo có trình độ chuyên môn, nhận thức chính trị nhưng phải có khả năng, phương pháp xử lý linh hoạt những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn ở cấp cơ sở Cơ chế tuyển dụng của Huyện quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chính vì vậy sẽ xuất hiện các nhu cầu bồi dưỡng bổ sung kiến thức của đội ngũ này

Từ thực tiễn, Nhà nước đã đề ra các quy định cụ thể về tiêu chuẩn, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ công chức theo hướng chú trọng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức như: đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt để làm căn cứ tuyển dụng công chức Hàng năm, cơ quan sử dụng công chức xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức, báo cáo cơ quan quản lý công chức để phê duyệt và tổ chức tuyển dụng công chức Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển hoặc tiếp nhận đối với một số trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển Quy định cơ quan tuyển dụng công chức phải xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng Đây là một trong những nội dung quy định mới nhằm mục đích tuyển dụng được đúng người đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước, hạn chế việc tuyển dụng công chức một các tùy tiện

Trang 35

Về thi tuyển công chức: Trước đây, văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định cụ thể các môn thi, giao Bộ Nội vụ quy định và chỉ quy định có ba môn thi

là môn hành chính nhà nước, môn ngoại ngữ, môn tin học Hiện nay, Nghị định

số 24/2010/NĐ-CP đã quy định cụ thể 4 môn thi bắt buộc, bao gồm môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành, môn ngoại ngữ, môn tin học để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế

Về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức: Pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm của người tham gia tuyển dụng công chức và người có thẩm quyền tuyển dụng công chức như: Thông báo tuyển dụng, hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng, gia hạn thời hạn hoàn thiện hồ sơ, quyết định tuyển dụng, người trúng tuyển đến nhận việc

Thứ ba, công tác đào tạo, bồi dưỡng

Cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân: Cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời là cấp chịu trách nhiệm thực hiện

và kiểm tra việc thực hiện Chủ trương, chính sách có được thực thi hay không

và mức độ thực thi như thế nào phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Một chủ trương đúng nhưng khi xuống cấp xã, cán bộ hiểu không đúng dẫn đến toàn thể nhân dân thực hiện sai Như vậy giá trị của một chủ trương không còn

Cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống nên họ đánh giá được mức độ phù hợp của chủ trương, chính sách

đó đối với cơ sở như thế nào Cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp tiếp nhận phản ánh hiệu quả của chủ trương chính sách từ nhân dân và có trách nhiệm phản ánh trung thực lên các cấp có thẩm quyền

Cán bộ, công chức cấp xã có một vị trí đặc biệt quan trọng, vì thế cần phải được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực

Trang 36

Việc đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác, phương pháp quản lý và bản lĩnh chính trị Hơn nữa hoạt động của cán bộ được bầu thường kéo dài 2 nhiệm kỳ (10 năm), trong thời gian dài như vậy có rất nhiều biến động: chủ trương đường lối của Đảng, sự thay đổi của tình hình xã hội, sự biến đổi của khoa học, công nghệ… đòi hỏi cán bộ, công chức phải được bồi dưỡng, cập nhật

Về đội ngũ công chức chuyên môn được tuyển chọn qua thi tuyển có trình

độ chuyên môn nhưng thiếu về kinh nghiệm thực tiễn, thường chủ quan và thiếu phương pháp giải quyết những tình huống xẩy ra tại cơ sở; kỹ năng vận động nhân dân và xử lý các vướng mắc tại địa bàn còn nhiều hạn chế Đặc điểm của công chức là làm việc thời gian dài cho một vị trí, hoạt động của công chức mang tính thường xuyên, ổn định, công việc lặp đi lặp lại hàng ngày, dẫn đến tâm lý an bài, nhàm chán… Thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng cho công chức mà còn là một phương thức giúp cho công chức có tình cảm, thái độ tốt hơn, hứng khởi hơn trong công việc, góp phần phát huy tiềm năng nguồn nhân lực Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ có sự thăng tiến, đề bạt, bổ nhiệm lên một vị trí khác hoặc sang vị trí mới Để đảm nhiệm được nhiệm vụ ở vị trí mới cần phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng

Làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Trước hết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý, nhiệm vụ chuyên môn cũng như công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ, công chức theo quy hoạch bố trí sử dụng

Thứ tư, chế độ, chính sách đãi ngộ

Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn như lương, phụ cấp, khen thưởng, học tập, nghỉ ngơi, tham quan học hỏi kinh nghiệm,… vừa là điều kiện đảm bảo cuộc sống để đội ngũ cán bộ yên tâm công tác, vừa là động lực để khuyến khích đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã phấn đấu vươn lên

Trang 37

Nếu có một chế độ, chính sách phù hợp thì không những khuyến khích được đội ngũ cán bộ cấp xã an tâm công tác và phấn đấu vươn lên mà còn là căn cứ để thu hút nhân lực có trình độ, năng lực tiếp tục về công tác tại địa bàn xã, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

Cải thiện thu nhập, chăm lo đời sống vật chất và điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước Lợi ích kinh tế vẫn

là động lực quan trọng nhất đối với việc kích thích tính tích cực lao động của cán bộ, công chức hiện nay Thực tế chỉ cho thấy, khi cuộc sống của cán bộ, công chức ổn định thì họ mới toàn tâm, toàn ý làm việc tận tuỵ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và có hiệu quả Thu nhập cá nhân cho cán bộ, công chức là vấn

đề nhạy cảm có tác động làm lay động tâm tư, tình cảm, tư tưởng của họ Do đó, cần phải tính toán giữa việc giảm biên chế, xã hội hóa dịch vụ công và chi trả lương cho cán bộ, công chức sao cho nguồn ngân sách của Nhà nước có thể đáp ứng được và mức lương của cán bộ, công chức phải đạt ở mức trung bình khá của xã hội thì mới có thể yêu cầu cao về tính tích cực lao động của họ được

Trước ngày 01/7/2003, cán bộ cấp xã không được coi là công chức nhà nước, cán bộ cấp xã không được hưởng lương trong ngân sách nhà nước và lương thì gọi là phụ cấp được lấy từ ngân sách xã để chi trả Đã có nhiều trường hợp khi ngân sách xã thiếu thì khoản phụ cấp của cán bộ cấp xã cũng không được chi trả kịp thời Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn tới sự an tâm, nỗ lực phấn đấu của cán bộ và tất nhiên là ảnh hưởng lớn tới sự phát triển đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã Hiện nay, chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý cấp

xã đã được quy định khá cụ thể, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, công chức, hưởng theo bằng cấp Tuy nhiên, các chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý ở cấp xã vẫn còn nhiều bất cập Do điều kiện ngân sách ở cấp xã còn nhiều khó khăn, nhất là ở các xã vùng núi, vùng biển, vùng giáo, nên ngoài chế độ tiền lương và phụ cấp thì các chế độ làm việc thêm giờ, công tác phí, khen thưởng, tham quan học hỏi kinh nghiệm hầu như rất ít được quan tâm Vì thế đã ảnh hưởng lớn tới việc nỗ lực học tập, phấn đấu vươn lên của cán bộ cấp xã

Trang 38

Thứ năm, môi trường và điều kiện làm việc

Môi trường làm việc luôn được các cá nhân quan tâm và coi trọng vì đây

là yếu tố thiết thân giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Vì vậy, thông qua quan sát, qua các cuộc điều tra hoặc qua những trao đổi trực tiếp, các cấp quản lý cần nhận biết, nắm bắt được môi trường làm việc của cán bộ, công chức trong tổ chức để điều chỉnh theo hướng tích cực làm cơ sở tạo động lực làm việc cho họ

Để cán bộ, công chức làm việc được tốt hơn, cần phải trang bị đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất cần thiết như phòng làm việc, trang thiết bị máy móc, phương tiện làm việc khác

Đồng thời tạo ra môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, có tính xây dựng cao giữa cán bộ, công chức với nhau

Thứ sáu, đặc điểm bản thân

Đặc điểm bản thân có tác động không nhỏ đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Trong đó sức khỏe, tâm sinh lý, điều kiện, hoàn cảnh gia đình, truyền thống văn hóa, phong tục địa phương đều có những tác động nhất định đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức

Mặc dù làm tốt các công tác khác như quan tâm công tác tuyển dụng, chế

độ đãi ngộ hay đào tạo bồi dưỡng thì ở cán bộ, công chức đặc biệt là cấp xã thì yếu tố đặc điểm bản thân có tác động rất lớn đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đặc biệt là yếu tố tình cảm gia đình, dòng họ có thể quyết định đế công tác quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ, nảy sinh những vấn đề tiêu cực như mất đoàn kết nội bộ, chia bè, phái, không đoàn kết

1.3.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở và của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn

HTCT cấp cơ sở có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật

Trang 39

của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh dân chủ, công bằng, văn minh

Cơ sở vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của HTCT cấp

cơ sở, nhưng nó là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ HTCT cấp cơ sở của nước ta Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của nhân dân, nơi chính quyền gần dân nhất Nơi tổ chức và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọi đường lối, chủ trương có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của HTCT cấp cơ sở, mà nhất là phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở Chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT cấp cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước

Ổn định chính trị và làm lành mạnh xã hội bắt đầu từ sự ổn định và lành mạnh cơ sở với một HTCT được lòng dân Cơ sở là nền tảng của chế độ, nếu cơ

sở suy yếu, rệu rã là khởi đầu cho những suy yếu và sụp đổ của chế độ Chăm lo xây dựng HTCT cấp cơ sở vững mạnh là làm cho HTCT ở cơ sở thật sự là HTCT của dân, do dân, vì dân, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, nếu

có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả

Cơ sở là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng nhìn theo cấp độ quản lý từ trên xuống hoặc từ dưới lên Là cấp thấp nhất nhưng cơ sở lại là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ mô phải tác động đến Cơ sở là địa chỉ quan trọng nhất vì xét đến cùng là nơi quyết định mà mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải tìm đến, đó là dân, lòng dân, ý dân, trí tuệ, sáng tạo của dân Là sự đoàn kết, thống nhất của cán bộ, đảng viên và nhân dân, giữa người đại diện được nhân dân ủy quyền với toàn thể nhân dân Phải bằng mọi

Trang 40

cách tổ chức, tuyên truyền, vận động cho nhân dân hiểu, dân tin và dân làm có như vậy thì cơ sở xã hội của Đảng, Nhà nước và chế độ mới thực sự bền vững

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã là nội dung trọng tâm, then chốt góp phần xây dựng HTCT, chính quyền vững mạnh từ cơ sở

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã từng bước phát triển cả số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thời kỳ mới Đa số cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi với nhân dân, tâm huyết với công việc Đây là nhân

tố quan trọng góp phần đảm bảo tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế -

xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra

Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận cán

bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dân chủ cơ sở; có dấu hiệu, tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nội bộ; tinh thần phê bình và tự phê bình còn thấp, gây tổn hại đến uy tín và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Mặt khác, tỉ

lệ cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn còn cao

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, đến nay

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước (2000), Chính quyền cấp xã và QLNN ở cấp xã, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền cấp xã và QLNN ở cấp xã
Tác giả: Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[3]. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nghi Lộc (2011), Đề án "Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2011 - 2015 và những năm tiếp theo”, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2011 - 2015 và những năm tiếp theo
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nghi Lộc
Năm: 2011
[4]. Ban Tổ chức Huyện ủy Nghi Lộc (2011), Báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2006-2010, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Ban Tổ chức Huyện ủy Nghi Lộc
Năm: 2011
[5]. Ban Tổ chức Huyện ủy Nghi Lộc (2013), Báo cáo thống kê phê duyệt quy hoạch cán bộ các giai đoạn 2000- 2005, giai đoạn 2005-2010 và giai đoạn 2010-2015, Nghi Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê phê duyệt quy hoạch cán bộ các giai đoạn 2000- 2005, giai đoạn 2005-2010 và giai đoạn 2010-2015
Tác giả: Ban Tổ chức Huyện ủy Nghi Lộc
Năm: 2013
[7]. Nguyễn Ngọc Biên (2016), “Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Hàng Hải Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”, "Luận văn thạc sỹ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Biên
Năm: 2016
[8]. Vương Nhất Bình (2003), “Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng”
Tác giả: Vương Nhất Bình
Năm: 2003
[9]. Bộ Nội Vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 về "việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội Vụ
Năm: 2004
[10]. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 06/2012/TT-BNV Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2012/TT-BNV Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2012
[11]. Nguyễn Bá Châu (2014), “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc”, "Luận văn thạc sỹ
Tác giả: Nguyễn Bá Châu
Năm: 2014
[12]. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ.CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã phường thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 121/2003/NĐ.CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã phường thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
[13]. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2009/NĐ-CP Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
[14]. Chính phủ (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ-CP Về công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 112/2011/NĐ-CP Về công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Tài liệu học tập Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[19]. Đảng bộ huyện Nghi Lộc (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc
Tác giả: Đảng bộ huyện Nghi Lộc
Năm: 2010
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
[22]. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w