1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của đảng bộ thành phố vinh trong giai đoạn hiện nay

112 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 762,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp, và sự lãnh đạo của Đảng đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong số các bài viết, các đề tài, công trình nghiên cứu, các luận văn đã công bố l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG

TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ: KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

ĐỒNG THÁP - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ: KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN QUANG THÁI

ĐỒNG THÁP - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Phòng sau Đại học, Khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi theo học lớp Cao học K22; Quý thầy, cô trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và PTNN huyện Tam Nông, bạn bè trong

và ngoài lớp đã nhiệt tình hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi trong việc khảo sát, thu thập dữ liệu, đóng góp nhiều ý kiến và những kinh nghiệm quý báu để giúp tôi thực hiện công trình nghiên cứu đề tài của mình; cảm ơn sự quan tâm của gia đình đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Trần Quang Thái, Trưởng khoa Giáo dục Chính trị - Công tác xã hội Trường Đại học Đồng Tháp

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn chắc còn nhiều thiếu sót, với ý thức luôn tự học hỏi và nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn

Thị trấn Tràm Chim, 2016

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG

SẢN VIỆT NAM TRONG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 13

1.1 Tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở nước ta hiện nay 13

1.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tái cơ cấu

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA BAN CHẤP HÀNH

ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM NÔNG TRONG TÁI CƠ CẤU NGÀNH

2.1 Đặc điểm huyện Tam Nông và những nội dung cơ bản trong Đề án

tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tỉnh Đồng Tháp liên quan đến huyện

2.2 Thực trạng lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trong tái

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ

LÃNH ĐẠO CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM NÔNG,

TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 73

3.1 Dự báo tình hình thuận lợi, khó khăn và thách thức trong tái cơ

cấu nông nghiệp huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới 73

3.2 Phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ

huyện trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng

3.3 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chấp

hành Đảng bộ thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện Tam

Trang 5

05 PTNN - NT Phát triển nông nghiệp – nông thôn

06 TCCNNN Tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

-

1 Diện tích đất huyện Tam Nông năm 2010 và 2015

2 Sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Nông năm 2010 và 2015

3 Dân số và lao động năm 2010 và 2015

4 Lao động và cơ cấu lao động năm 2010 và năm 2015

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, mở ra bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta Từ đó đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới và đang lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nhằm xây dựng cơ sở kinh tế của CNXH

Thực tiễn 30 năm đổi mới ở nước ta chứng minh đầy sức thuyết phục về chủ trương bắt đầu từ đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, nhằm giải phóng các nguồn lực của đất nước Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước, gia nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới Nền kinh tế nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, phát triển ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế -

xã hội, trở thành nước có thu nhập trung bình Tuy vậy, nền kinh tế còn lạc hậu, tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên, kinh tế phát triển chưa bền vững, hiệu quả sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển đất nước Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn khó khăn, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Nông nghiệp và nông dân Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu trong cách mạng và là động lực quan trọng của quá trình phát triển kinh tế thời gian qua Mặc dù là một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước, đóng góp nhiều nông sản xuất khẩu có giá trị Song, ngành nông nghiệp đang tồn tại khá nhiều vấn đề đó là: phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, chưa đồng đều giữa các vùng, quy mô ruộng đất quá nhỏ, manh mún, năng suất lao

Trang 8

động thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, phương thức sản xuất chỉ chú trọng mục tiêu tăng sản lượng, chưa quan tâm đến chất lượng, giá thành sản phẩm cao, giá trị sản phẩm thấp, đầu ra nông sản bấp bênh, thu nhập và đời sống của người nông dân còn thấp Những yếu kém của nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng nếu không được giải quyết tốt sẽ gây phức tạp về chính trị và ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất chế độ XHCN Để từng bước giải quyết những vấn đề đó, đòi hỏi vô cùng cần thiết và cấp bách là phải tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Đại hội XI đã xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu của nhiệm kỳ

là : “Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững ”[ 16, tr 188]

Trên cơ sở Nghị quyết XI của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh

tế đã được thể chế hóa và thực hiện như một nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt

Trên lĩnh vực nông nghiệp, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ( 2011 – 2020) nêu định hướng: “ Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại,

hiệu quả, bền vững…”[ 19, tr113]

Ngày 10 – 6 – 2013, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định

số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kết luận trong Thông báo số 2867/TB-BNN-VP giao cho Viện Chính sách và Chiến lược PTNN-NT xây dựng đề án chuyển dịch cơ cấu, tái cơ cấu trong ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp

Ngày 16 – 6 -2014 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp đã ban hành Chỉ thị số 11- CT/TU về việc triển khai thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Trang 9

Tam Nông là một huyện có tiềm năng lợi thế phát triển nông nghiệp của Tỉnh Đồng Tháp, được chọn là huyện trọng điểm triển khai ngành hàng lúa, gạo trong Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Tỉnh Qua 2 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Tỉnh, sản xuất nông nghiệp đang từng bước phát triển đi vào chiều sâu, vấn đề đổi mới tổ chức sản xuất; đẩy mạnh liên kết giữa sản xuất và thị trường được đặc biệt quan tâm, đã hình thành được vùng sản xuất nguyên liệu tập trung đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xuất khẩu Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, thách thức phải tiếp tục tập trung giải quyết như:

Tổ chức và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp ở một số địa phương còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán chưa hình thành được vùng nguyên liệu tập trung; diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao còn thấp; Người dân chưa mạnh dạn đầu tư chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chỉ sản xuất độc canh cây lúa nên chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế hiện có; Việc thực hiện hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân và doanh nghiệp vẫn còn bất cập, có lúc chưa chặt chẽ, thiếu bền vững

Vì vậy, vấn đề tái cơ cấu nông nhiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng

và phát triển bền vững là vấn đề sống còn trong phát triển kinh tế của địa phương nhằm khai thác lợi thế quan trọng, nâng cao thu nhập, đời sống của nông dân, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới

Để thực hiện thành công quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện, thì vai trò lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ là nhân tố mang tính quyết định

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, việc tiếp tục nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực, khả thi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nông nghiệp tại địa phương đạt kết quả cao nhất là hết sức cần thiết Vì vậy tôi chọn đề tài

“Sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp ” làm luận văn thạc sĩ

Trang 10

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp, và sự lãnh đạo của Đảng đã

có nhiều công trình nghiên cứu, trong số các bài viết, các đề tài, công trình nghiên cứu, các luận văn đã công bố liên quan đến tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhiều công trình bài viết đã có những đóng góp, những giải pháp hết sức quan trọng, có giá trị thực tiễn cao như:

- “Nội dung và phương thức lãnh đạo kinh tế của Đảng hiện nay”,

Nguyễn Minh Tuấn, Tạp chí Cộng sản chuyên đề cơ sở số 86 (2-2014) Tác giả nêu và phân tích 04 nội dung và phương thức lãnh đạo kinh tế của Đảng trong giai đoạn hiện nay là: 1/ Đảng đề ra đường lối chủ trương phát triển kinh tế đúng đắn và lãnh đạo thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó; 2/ Đảng lãnh đạo tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện, tăng cường kiểm tra giám sát, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng về kinh tế; 3/ Đảng lãnh đạo kinh tế thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế; 4/ Đảng lãnh đạo bằng công tác cán bộ trên lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nền kinh tế

- “Đoàn kết nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung

ương “ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Nguyễn Sinh Hùng, Tạp chí

Cộng sản số 858 (4-2014) Theo tác giả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa

X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” là bước tiến mới trong kế thừa tư duy

và đường lối đổi mới thể chế kinh tế mở đầu từ Đại hội VI, là lần đầu tiên Đảng

ta đề ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp toàn diện,

cơ bản cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và giai cấp nông dân nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khẳng định tầm vóc

to lớn và hệ trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tác giả nêu lên những thành tựu, cũng như những hạn chế qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; đồng thời nêu lên các quan điểm, tư tưởng cần quán triệt sâu sắc, các giải pháp và bước đi cụ thể trong quá trình thực hiện

Trang 11

- “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta hiện nay”, Vương Đình Huệ,

Tạp chí Cộng sản số 854 (12-2013) Tác giả đã nêu lên thực tiễn và những hạn chế, tồn tại trong phát triển nông nghiệp của nước ta từ khi đổi mới đến nay; các thách thức, mâu thuẫn cần tập trung giải quyết trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp ở nước ta; các mục tiêu cần chú trọng khi tái cơ cấu nông nghiệp; một số nội dung cần lưu ý khi thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp; đồng thời nêu lên một

số giải pháp cần quan tâm khi thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp để nông nghiệp nước ta nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong giai đoạn tới

- “Đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp, góp phần nâng cao

sức cạnh tranh cho nông nghiệp Việt Nam”, Cao Đức Phát, Tạp chí Cộng sản số

870 (4-2015) Tác giả nêu lên sự cần thiết phải cơ cấu lại ngành nông nghiệp, một số kết quả trong thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp và nêu 8 giải pháp đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp

- “Tái cơ cấu nông nghiệp: Hành động quyết liệt để tạo chuyển biến lớn”,

Cao Đức Phát, ( Báo Nông nghiệp, 13 – 8 – 2015) Tác giả đã khái quát một số kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chỉ ra nguyên nhân chủ yếu trong sự chuyển biến chậm, chưa sâu rộng ở các địa phương trong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và nêu quan điểm “Thực tiễn đã cho thấy thực hiện tốt tái cơ cấu là cách duy nhất để khắc phục cơ bản những tồn tại, tạo điều kiện cho nông nghiệp chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đạt kết quả cao hơn Để thực hiện thành công chủ trương lớn này cần có sự vào cuộc với quyết tâm cao và nỗ lực to lớn của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể cùng với nông dân và các doanh nghiệp”

- “Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam”,

Nguyễn Đình Cung, (Tạp chí Bộ ngoại giao – Vụ Thông tin Báo chí – Bộ ngoại giao) Tác giả đặt ra câu hỏi: Tại sao phải tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ?

Trang 12

- “Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp ở ĐB sông Cửu Long”, Võ Tòng

Xuân, (Báo điện tử Tia Sáng – Bộ Khoa học và Công nghệ 18-12-2013) Tác giả đề cập đến vấn đề xác định sản phẩm kinh doanh chính trong tái cơ cấu nông nghiệp để phát huy tiềm năng lợi thế, những điều kiện chủ yếu nhằm chọn mũi chiến lược để tái cấu trúc, đề xuất mô hình phát triển tam nông bằng kinh doanh nông sản theo hướng chuỗi giá trị và sự đổi mới tư duy quản lý đối với "Chính sách nông nghiệp" trong quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp

- Tái cơ cấu nông nghiệp – Bước đi mang tính đột phá, Lê Minh Hoan –

Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp ( Bài phát biểu tại buổi giao lưu với Đài Truyền hình Việt Nam – ngày 26-10-2015) Tác giả đã khái quát những kết quả Đồng Tháp đã đạt được trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Tỉnh trong 2 năm qua và xác định những điểm nghẽn trong quá trình thực hiện tái cơ cấu, đồng thời xác định

3 nội dung cốt lõi trong Đề án tái cơ cấu nông nghiệp của Đồng Tháp là hợp tác, liên kết, thị trường

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Hiền ( Trường Đại học Vinh) “Sự

lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp”

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận về Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên hầu hết các công trình, đề tài nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu

ở lĩnh vực hay ngành cụ thể hoặc nghiên cứu trong phạm vi tầm quốc gia Đối với địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp chưa có công trình nghiên cứu nào

về vấn đề lãnh đạo của Đảng trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Đề tài “Sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp ” tiếp thu có chọn lọc về

mặt lí luận cũng như thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại huyện Tam Nông

Trang 13

2 Mục đích, nghiên cứu

Luận văn làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm phát huy hiệu quả lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện Tam Nông, tỉnh đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng sự lãnh đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Ban Chấp hành

Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

tại địa phương

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

5 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được tiến hành trên cơ sở

phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử, các nghị quyết của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, đặc biệt xem trọng phương pháp tổng kết thực tiễn

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Đánh giá đúng thực trạng lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

- Đề xuất các giải pháp cơ bản, có tính khả thi đối với sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho các cấp uỷ đảng trong lãnh đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại địa phương

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

- Chương 2: Thực trạng lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam

Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

- Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Ban

Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT

NAM TRONG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP

1.1 Tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở nước ta hiện nay

1.1.1 Khái niệm về tái cơ cấu kinh tế – tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nội dung tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Theo Wikipedia "Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một

số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó"

Thuật ngữ "Tái cơ cấu" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cơ cấu là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay một lĩnh vực Tái cơ cấu có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức

có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại một tổ chức hay một bộ phận nào đó

Trong lĩnh vực kinh tế, những mối quan hệ bền vững giữa các chủ thể kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, hay giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế: ngành kinh tế công nghiệp, ngành kinh tế nông nghiệp, ngành kinh tế dịch vụ Tất cả các mối quan

hệ trên đều do các thể chế kinh tế hay các cơ chế, chính sách kinh tế quy định

Do vậy, tái cơ cấu kinh tế có thể hiểu là những thay đổi có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra Với quan niệm này, khái niệm tái cơ cấu nền kinh tế có nghĩa gần với khái niệm cải cách kinh tế hay đổi mới kinh tế Tuy nhiên, có quan niệm rằng:

Trang 16

tái cơ cấu kinh tế chính là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp hơn Trên cơ sở

lý luận rằng, phát triển kinh tế là quá trình vận động liên tục, không ngừng của các bộ phận kinh tế và điều đó cũng làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi hay là sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Theo khái niệm này,tái cơ cấu kinh tế sẽ trùng hợp với quan niệm là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành,

cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý

Xuất phát từ quan điểm tái cơ cấu kinh tế; đến nay quá trình tái cơ cấu đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, các thành phần kinh tế và đối với cả các ngành kinh tế, trong đó có ngành nông nghiệp Về quan điểm tái cơ cấu ngành nông nghiệp (TCCNNN) có thể hiểu một cách tổng quan thông qua các khái niệm như sau

+Cơ cấu nền kinh tế: Cơ cấu nền kinh tế là sự phân chia nền kinh tế thành

những bộ phận kinh tế thành phần khác nhau Trong đó tổng thể các bộ phận kinh tế thành phần là một thể hoàn chỉnh của cả nền kinh tế Bằng cách xác định

tỷ trọng của các bộ phận kinh tế thành phần theo một đơn vị tính nhất định (tuỳ theo yêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu) sẽ xác định được cơ cấu của nền kinh tế

+Cơ cấu ngành kinh tế: Từ khái niệm về cơ cấu nền kinh tế cho thấy, cơ

cấu ngành kinh tế là một nhóm loại biểu hiện của cơ cấu nền kinh tế Theo cách hiểu đơn giản nhất, cơ cấu ngành kinh tế chính là cơ cấu nền kinh tế xác định theo các nhóm ngành chủ đạo.Những ngành sản xuất này tương đối độc lập với nhau, dựa trên những đối tượng và sản phẩm sản xuất khác nhau để phân loại được rõ ràng Trong đó, theo các nhóm ngành chính hiện nay, cơ cấu ngành kinh

tế bao gồm: Cơ cấu ngành nông, lâm, ngư nghiệp; ngành công nghiệp và xây dựng; ngành thương mại, dịch vụ

+Cơ cấu ngành nông nghiệp: Cơ cấu ngành nông nghiệp là một trong ba

bộ phận lớn nằm trong cơ cấu ngành kinh tế, bằng cách phân chia ngành nông

Trang 17

nghiệp thành các tiểu ngành nhỏ như: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Cơ cấu ngành nông nghiệp được cấu thành bởi chính cơ cấu của các tiểu ngành thành phần tương ứng như trên và nằm trong nội bộ của ngành nông nghiệp

Theo Quyết định 899/ QĐ - TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” Đề án đưa ra quan điểm rõ ràng: “Tái cơ cấu nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh

tế quốc dân”[42] Do đó tái cơ cấu ngành nông nghiệp có quan điểm nhất quán với tái cơ cấu nền kinh tế

Từ các quan điểm, nhận định và một số công trình nghiên cứu, có thể

hiểu: Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu nền kinh tế,

trong đó có sự đổi mới căn bản và toàn diện về chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của ngành Thông qua các tác động của chính sách, mà thực chất là sự thay đổi

về chính sách đầu tư công và đổi mới các can thiệp đối với ngành nông nghiệp, nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý và hiệu quả hơn nữa, từ đó giúp điều chỉnh

cơ cấu của ngành từ chưa hợp lý, kém hiệu quả thành cơ cấu có hợp lý và hiệu quả hơn, phù hợp với tín hiệu thị trường Hay nói cụ thể hơn: Tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình tổ chức sắp xếp lại tất cả các yếu tố liên quan tác động đến chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp, từ quy hoạch, cơ sở hạ tầng sản xuất, chế biến, bảo quản; tổ chức sản xuất, chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu thụ

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị BCH

TW lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: “ …Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị trường và lợi thế từng vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả, duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường Phát

Trang 18

triển sản xuất với quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá xuất khẩu có lợi thế nông sản thay thế nhập khẩu

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, thông tin hoá, thay thế lao động thủ công, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản

Phát triển ngành trồng trọt, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thực hiện đầu tư thâm canh, áp dụng các giống và quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao; hoàn thiện hệ thống tưới tiêu; đẩy nhanh cơ giới hoá đồng bộ các khâu sản xuất; hiện đại hoá công nghiệp bảo quản, chế biến, nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa Bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ và giống để giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phù hợp với điều kiện của từng vùng Tiếp tục đẩy mạnh thâm canh sản xuất lúa, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong phát triển nông nghiệp Có chính sách bảo đảm lợi ích cho người trồng lúa, địa phương và vùng trồng lúa Xây dựng các vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, hoa hàng hoá tập trung, trước hết là các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu

Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, an toàn dịch bệnh, phù hợp với lợi thế của từng vùng; tập trung cải tạo và nâng cao chất lượng giống, áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch bệnh; phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp; tổ chức lại và hiện đại hoá cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm

Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch sinh thái

Trang 19

Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng Cho phép khai thác lợi ích kinh tế từ rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo nguyên tắc bền vững, lấy nguồn thu từ rừng để bảo vệ, phát triển rừng và làm giàu từ rừng Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trồng rừng thâm canh, hiện đại hoá công nghệ khai thác, chế biến nhằm nâng cao giá trị lâm sản, chú trọng phát triển lâm sản ngoài gỗ

Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng, theo quy hoạch, phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi, trồng, trước hết là thuỷ lợi; áp dụng rộng rãi các quy trình công nghệ sinh sản nhân tạo; xây dựng hệ thống thú y thuỷ sản; kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống, thức ăn, môi trường nuôi; hiện đại hoá các cơ sở chế biến, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm

Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ phục vụ sản xuất,

đời sống của dân cư nông thôn” [ 1]

Đề án TCCNNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 899/ QĐ - TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 trong đó tập trung cụ thể vào các lĩnh vực sau:

+ Trồng trọt:

- Tái cơ cấu trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành

và thích ứng với biến đổi khí hậu Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế

Trang 20

biến, đặc biệt là chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm

- Duy trì và sử dụng linh hoạt 3,8 triệu ha diện tích đất trồng lúa để bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, sản lượng lúa đạt trên

45 triệu tấn vào năm 2020; tập trung cải tạo giống lúa để nâng cao năng suất, chất lượng gạo; tiếp tục mở rộng diện tích gieo trồng ngô để đạt sản lượng trên 8,5 triệu tấn nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, giảm nhập khẩu

- Tập trung sản xuất rau, hoa, quả công nghệ cao, quy mô lớn ở những địa phương có lợi thế; đồng thời khuyến khích phát triển vườn nhà

- Cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị

- Hỗ trợ tập huấn, khuyến nông và các dịch vụ tư vấn nhằm nâng cao kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cho nông dân; mở rộng hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp; tăng thu nhập cho nông dân thông qua việc chia sẻ bình đẳng lợi nhuận giữa nông dân, cơ sở chế biến và doanh nghiệp tiêu thụ xuất khẩu

- Áp dụng các biện pháp thâm canh bền vững, thực hiện tốt các quy định

về môi trường trong sử dụng phân bón, hóa chất và xử lý chất thải nông nghiệp;

áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước

+ Chăn nuôi:

- Từng bước chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại; chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao (đồng bằng) đến nơi có mật độ dân số thấp (trung du, miền núi), hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng

tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi; khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản

Trang 21

xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng

- Hỗ trợ chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp, áp dụng kỹ thuật

và công nghệ phù hợp để vừa tạo cơ hội sinh kế cho hộ nông dân vừa hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vừa bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi

- Giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; tăng cường dịch vụ thú y; quy định chặt chẽ việc quản lý và sử dụng thuốc thú y; áp dụng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp chế biến đa dạng sản phẩm; cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn

- Áp dụng hệ thống quản lý kiểm soát nguy cơ ô nhiễm đất và nước từ chất thải chăn nuôi và phát triển nguồn năng lượng tái tạo từ các phụ phẩm của ngành chăn nuôi; quản lý vùng nuôi an toàn về môi trường

+ Thủy sản:

- Tập trung sản xuất thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, rô phi, nhuyễn thể); tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương pháp nuôi để khai thác cơ hội thị trường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế; ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long, các khu vực ven biển Trung Bộ

- Giảm dần, tiến tới ổn định sản lượng khai thác thủy sản gần bờ; quản lý khai thác theo kích cỡ; khuyến khích phát triển mô hình đồng quản lý nguồn lợi ven bờ nhằm nâng cao khả năng tự phục hồi và tính bền vững của nguồn lợi thủy sản; chuyển khai thác bằng tàu công suất nhỏ hoạt động gần bờ sang khai thác bằng tàu công suất lớn hoạt động xa bờ, viễn dương; chuyển đối tượng, mùa vụ, ngư trường khai thác theo hướng khai thác các đối tượng có giá trị kinh

tế cao, thị trường tiêu thụ tốt; phát triển lực lượng kiểm ngư trên biển

Trang 22

- Đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại trong chế biến nâng cao giá trị sản phẩm; cơ cấu lại sản phẩm chế biến đông lạnh theo hướng giảm tỷ trọng các sản phẩm sơ chế, tăng tỷ trọng các sản phẩm ăn liền, giá trị gia tăng cao; mở rộng áp dụng hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (theo ISO, HACCP, GMP, SSOP); nghiên cứu và đầu tư ứng dụng công nghệ bảo quản trong và sau thu hoạch để giảm tỉ lệ thất thoát và xuất khẩu thủy sản sống có giá trị cao

- Có cơ chế hỗ trợ người nghèo tham gia chuỗi giá trị và chương trình bảo hiểm nông nghiệp; khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn kiểm soát xã hội vào nuôi trồng và chế biến thủy sản; phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt vùng cao góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo sinh kế bền vững

- Thiết lập khu bảo tồn biển và bảo tồn nội địa; cải thiện hệ thống dữ liệu thủy sản, phân tích nguồn, trữ lượng thủy sản và giám sát mức độ đánh bắt; tăng cường các biện pháp quản lý hành chính đối với các hoạt động khai thác và nuôi trồng gây tác động xấu đến môi trường; tăng cường bảo vệ nguồn lợi và môi trường

+ Lâm nghiệp:

- Phát triển lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực, hiệu lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao sinh kế cho người dân miền núi, đặc biệt là các nhóm dân tộc ít người, là hướng đi bền vững của ngành lâm nghiệp trong thời gian tới Phấn đấu năm 2020 đạt cơ cấu kinh tế ngành là: 25% giá trị dịch vụ môi trường rừng, 25% giá trị sản xuất lâm sinh và 50% giá trị công nghiệp chế biến đồ gỗ và lâm sản khác

- Tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế trong tổng diện tích rừng của cả nước, phát triển trồng rừng sản xuất thành một ngành kinh tế có vị thế quan trọng đem lại việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng; cải thiện sinh kế cho cộng đồng các dân tộc thiểu số và những đối tượng khác được hưởng lợi thông qua phí dịch vụ môi trường rừng; tiếp tục thực hiện giao

Trang 23

đất lâm nghiệp, giao rừng cho người dân Nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng phát triển lâm nghiệp đa chức năng, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ non xuất khẩu dăm gỗ sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu

- Quản lý, sử dụng bền vững diện tích rừng tự nhiên, thay thế các diện tích kém hiệu quả bằng rừng trồng có năng suất cao, đáp ứng tiêu chí bền vững; điều chỉnh cơ cấu giống cây lâm nghiệp trồng trong rừng phòng hộ theo hướng tăng cây đa tác dụng, đa mục tiêu tạo điều kiện tăng thu nhập cho người làm nghề rừng

- Phát triển và tăng cường quản lý hệ sinh thái đặc dụng, bảo vệ quỹ gen, bảo đảm đa dạng sinh học và các mô hình bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ môi trường (quỹ bảo tồn, các mô hình đền bù sinh thái); khuyến khích phát triển mô hình kết hợp chăn nuôi, trồng cây ăn quả và lâm sản ngoài gỗ với trồng rừng và khai thác rừng bền vững để tăng thu nhập;

mở rộng áp dụng chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý rừng

+ Phát triển công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn:

- Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị kết hợp với các biện pháp về tổ chức sản xuất, tiêu thụ hàng hóa nhằm nâng cao giá trị gia tăng nông, lâm, thủy sản; phấn đấu mỗi ngành hàng có mức tăng ít nhất 20% giá trị gia tăng trong vòng 10 năm

- Quy hoạch phát triển làng nghề với quy mô, cơ cấu sản phẩm, trình độ công nghệ hợp lý đủ sức cạnh tranh, thích hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương; gắn hoạt động kinh tế của các làng nghề với hoạt động dịch vụ du lịch và bảo tồn phát triển văn hóa truyền thống Đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất ở các làng nghề; hiện đại hóa công nghệ xử lý chất thải, kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề; yêu cầu các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực chế biến

Trang 24

nông lâm thủy sản và ngành nghề nông thôn phải đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải, chất thải, khí thải, bảo vệ môi trường…[42]

Từ các cơ sở trên thì nội dung TCCNNN cần thiết kế không gian, chuỗi ngành hàng, đối tượng tham gia (kinh tế hộ trong đó coi trọng hộ sản xuất với quy mô lớn); và giải pháp cần chú trọng đến các yếu tố đất đai, đầu tư, chuỗi giá trị thị trường và dịch vụ công cụ thể như sau:

+ Thứ nhất, tái cơ cấu không gian sản xuất nông nghiệp :

Trên mỗi vùng của đất nước, nông nghiệp có lợi thế và chức năng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường khác nhau Do vậy, cần thiết có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng vùng Quá trình tái cơ cấu cần định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển các mô hình sản xuất phù hợp theo vùng, miền

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp hiện đại, tập trung quy mô lớn: Đây là khu vực có quy mô sản xuất lớn và hiện đại, dùng những tiêu chuẩn

hiện đại nhất về sản xuất, quản trị nông nghiệp để tạo ra giá trị gia tăng về kinh

tế, có chuỗi thương mại mạnh được quản trị tốt, có thương hiệu, giá trị gia tăng cao Mô hình này có thể triển khai: 1- Ở vùng đã đủ điều kiện cho phát triển nông nghiệp hiện đại như lao động nông nghiệp giảm nhiều, công nghiệp hóa (CNH) và đô thị hóa (ĐTH) mạnh, tỷ trọng nông nghiệp thấp; 2- Ở vùng dù CNH và ĐTH chưa thực sự mạnh, nhưng nông nghiệp là thế mạnh có lợi thế so sánh cao, công nghiệp hóa nông nghiệp là động lực chính phát triển kinh tế địa phương, có những ngành hàng xuất khẩu quan trọng Cần phát triển một bộ phận nông nghiệp thành ngành hiện đại tập trung quy mô lớn; 3- Ở những vùng sản xuất trồng trọt khó khăn, CNH và ĐTH thấp, nhưng lao động dồi dào, trình độ cao, thì cần phát triển nền nông nghiệp quy mô lớn, tập trung nhưng sử dụng ít đất đai, cần nhiều lao động trình độ cao, như chăn nuôi quy mô lớn, nông nghiệp công nghệ cao Tại những địa phương này, cần có quy hoạch những vùng sản xuất với cơ chế quản lý về đất đai khuyến khích quy mô lớn Chính sách phát

Trang 25

triển nông nghiệp tuân thủ quản trị hiện đại, hệ thống hạ tầng, quản lý sản xuất, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuẩn quốc tế cao nhất, sản phẩm nông sản đáp ứng yêu cầu của những nhà nhập khẩu lớn và khắt khe, cung ứng cho thị trường trong nước những sản phẩm cạnh tranh và vệ sinh an toàn thực phẩm cao Đây là khu vực, mô hình tăng trưởng nông nghiệp dựa trên kinh tế quy mô, với bản chất là nông sản được sản xuất đồng loạt ít có tính đặc thù, cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở giá bán, thương hiệu doanh nghiệp, sản xuất quy mô lớn đồng loạt, chi phí thấp Ở vùng này, kinh tế hộ nông trại quy mô lớn đóng vai trò chủ đạo và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp thành chuỗi khép kín, chuyên môn hóa cao, quản trị minh bạch, có giám sát của Nhà nước và xã hội về tài chính và quản trị chất lượng

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp sinh thái, tự nhiên: Tại các

khu vực miền núi, ven biển, nông nghiệp đồng thời có chức năng kinh tế và chức năng sinh thái, cần xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng quản trị chặt chẽ về sinh thái, không đòi hỏi mức độ thâm canh cao Có thể tổ chức sản xuất chăn nuôi thả ở vườn, rừng, nuôi ong gắn với rừng, nuôi thủy sản gắn với khu bảo tồn sinh thái, rừng nước lợ, trồng trọt theo mô hình nông, lâm kết hợp ít thâm canh, trồng lúa hữu cơ Giá trị sinh thái chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo hình ảnh sản phẩm và thương hiệu làm cơ sở tăng trưởng nông nghiệp và tăng thu nhập của nông dân Sản phẩm có nhãn mác sinh thái sẽ có giá cao hơn sản phẩm thường, được các nước phát triển ưu đãi trong lưu thông, bù lại những hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ hơn, ít thâm canh, năng suất thấp hơn

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp chỉ dẫn địa lý: Những khu

vực mà chất lượng sản phẩm nông sản có tính đặc thù xuất phát từ hệ sinh thái

và văn hóa bản địa, có sự khác biệt rõ nét so với sản phẩm cùng loại từ địa phương khác, thì có thể quy hoạch phát triển vùng sản xuất chỉ dẫn địa lý Mô hình này có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập của người

Trang 26

sản xuất, doanh nghiệp dựa trên nhân tố đặc thù bản địa của sản phẩm Mặt khác, sản phẩm đóng gói nhãn mác dùng chỉ dẫn địa lý có thuận lợi thương mại rất lớn thông qua những thỏa thuận bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ song phương hoặc đa phương,đồng thời gắn kết với du lịch nông nghiệp sinh thái tạo giá trị tổng hợp cho địa phương Như kinh nghiệm các nước và Việt Nam, vùng sản xuất đặc sản thường gắn với sinh kế hộ nghèo, vùng dân tộc nên đây là một cách tiếp cận tốt để phát triển nông thôn các vùng khó khăn Quy mô sản xuất có thể lớn, nhưng phần lớn là quy mô nhỏ, rất đa dạng về chất lượng sản phẩm và phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, tính đặc thù cao về chất lượng

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp kết hợp an ninh, quốc phòng:

Tại nhiều vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn, sản xuất nông nghiệp không chỉ với mục đích kinh tế mà còn để ổn định xã hội, bảo đảm

an ninh, quốc phòng Cần nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp với sự hỗ trợ mạnh của Nhà nước về dịch vụ công theo cơ chế thị trường Cần hình thành cơ chế, chính sách về: 1- Quy hoạch những khu vực đồng bào dân tộc rất khó khăn trong hội nhập kinh tế thị trường; 2- Xây dựng các hệ thống sản xuất nông nghiệp, có thể kết hợp mô hình sản xuất sinh thái và chỉ dẫn địa lý nếu có điều kiện, với sự hỗ trợ mạnh của mạng lưới dịch vụ công; 3- Xây dựng các chuỗi ngành hàng với sản phẩm từ vùng này được đưa ra thị trường; 4- Ban hành cơ chế, chính sách, thể chế về mô hình sản xuất, tổ chức dân cư, trên cơ sở các cụm tái định cư đồng bộ cả tổ chức sản xuất nông nghiệp, chế biến, thương mại và tổ chức xã hội

Khu vực sản xuất nông hộ quy mô nhỏ: Đây là mô hình phổ biến hiện nay

và vẫn sẽ tồn tại trong thời gian dài ở nhiều vùng, do sinh kế của người dân vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Mô hình sản xuất này sẽ dần thu hẹp phạm vi, địa bàn và số lượng nông dân tham gia không phải bằng giải pháp hành chính mà phải trên cơ sở thực thi các biện pháp kinh tế, tạo việc làm mới cho

Trang 27

nông dân Để giúp cho hộ sản xuất quy mô nhỏ tham gia thị trường, tăng thu nhập

Khu vực tổ chức cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ: Nhà

nước cần có quy hoạch tổng thể quốc gia, vùng, tỉnh về mạng lưới cụm công - nông nghiệp - dịch vụ phục vụ nông nghiệp Căn cứ vào mạng lưới các kênh ngành hàng, quy hoạch các khu vực dự trữ và giao dịch hàng hóa, đóng gói, chế biến, thương mại, sàn giao dịch quốc tế Các nhà phân phối, doanh nghiệp nên được hỗ trợ về tín dụng, tiếp cận đất đai, quản trị doanh nghiệp Phương thức đầu tư có thể theo mô hình hợp tác công tư (PPP) hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các hình thức đầu tư xã hội khác để phát triển các kênh thương mại hàng hóa Các điểm nút lớn của các kênh hàng lớn có thể được quy hoạch phát triển thành các cụm công, nông nghiệp và dịch vụ để kết nối với các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm

+ Thứ hai, tái cơ cấu chuỗi ngành hàng nông sản:

Tái cơ cấu sản xuất sản phẩm nông lâm ngư: Cần có chính sách sử dụng

linh hoạt đất trồng lúa trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực và chuyển đổi một

số diện tích đất lúa sang trồng những cây khác phù hợp với điều kiện và lợi thế từng vùng nhưng không đựợc làm thay đổi điều kiện cơ bản của đất lúa Như vậy, cần chuyển đổi cơ cấu nông sản, ưu tiên tăng giá trị những cây trồng khác

có lợi thế và giá trị gia tăng cao hơn, Mỗi vùng cần có quy hoạch ưu tiên sản phẩm lợi thế để thúc đẩy tái cơ cấu không chỉ về sản lượng mà về giá trị, thu nhập của người dân Tuy nhiên trong thực hiện việc chuyển đổi này, nhất là khi hình thành mới những vùng có sản lượng lớn cần chủ động quy hoạch và tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tránh cách làm tự phát mang tính phong trào

Tái cơ cấu phân chia giá trị gia tăng trong ngành hàng: Cần có cơ chế,

chính sách thúc đẩy các công đoạn giá trị gia tăng cao của các ngành nông, lâm, thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam, như chế biến, dịch vụ logistic, đóng gói, nhất là chế biến sâu thành thực phẩm và hàng sử dụng cuối cùng.Trước hết, cần ưu tiên

Trang 28

đối với các ngành hàng mà Việt Nam có thế mạnh, kêu gọi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài cùng với doanh nghiệp Việt Nam vì họ có thương hiệu và kênh phân phối, nhằm dịch chuyển chế biến, đóng gói, logistics của nước ngoài

về Việt Nam Hạn chế cấp phép dự án đầu tư nước ngoài không có chế biến đến sản phẩm cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam Có chính sách ưu tiên về giao đất, thuế, tín dụng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước có chế biến sâu đến sản phẩm cuối cùng Với những ngành hàng nhỏ, đặc sản nên khuyến khích chế biến, đóng gói quy mô nhỏ ở các cụm công - nông nghiệp địa phương, hộ gia đình Cần thúc đẩy kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước để hình thành cụm công nghiệp chế biến, dịch vụ cho các ngành hàng nông, lâm, thủy sản quốc tế trong điều kiện hội nhập, biến Việt Nam thành trung tâm chế biến và dịch vụ nông sản quốc tế

+ Thứ ba, tái cơ cấu đối tượng tham gia sản xuất nông nghiệp: Trong tái

cơ cấu nông nghiệp, cần chú ý tăng nhanh số lượng và chất lượng các tác nhân sau: Tăng số lượng và chất lượng các nông trại quy mô lớn có quản trị chuyên nghiệp và hiện đại Ở những vùng CNH và đô thị hóa mạnh, lao động đã rút đáng kể ra khỏi nông nghiệp, Nhà nước từng bước cần có chính sách điều tiết hạn chế sản xuất quy mô nhỏ, khuyến khích tập trung và tích tụ ruộng đất theo quy định của Luật Đất đai (sửa đổi) thành trang trại quy mô lớn Ban hành cơ chế, chính sách quản trị trang trại theo quy mô sản xuất , gắn với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đòi hỏi trong thương mại quốc tế và quản lý tài nguyên, môi trường Chính sách tái cơ cấu cần thúc đẩy sự phát triển các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu mới, trên cơ sở liên kết của những nông dân cùng nghề nghiệp để tăng quy

mô, ứng dụng khoa học công nghệ, cùng đầu tư, quản lý chất lượng sản phẩm, cung ứng sản phẩm ra thị trường, mua vật tưvà dịch vụ đầu vào Những ngành hàng sản xuất quy mô lớn, xuất khẩu cần được ưu tiên phát triển các HTX chuyên ngành trong sản xuất, liên kết thương mại theo chuỗi, cần thúc đẩy vai trò của HTX trong kết nối với doanh nghiệp xây dựng chuỗi thương mại, củng

Trang 29

cố các hiệp hội ngành hàng, trong đó HTX, nông trại của nông dân cần có vai trò xứng đáng và quan trọng hơn, nhất là vùng sản xuất hàng hóa lớn Ở các vùng nông hộ sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, thúc đẩy phát triển các HTX dịch

vụ tổng hợp Ở vùng sản xuất tự cung tự cấp, nên phát triển các hình thức tổ chức cộng đồng Với những HTX dịch vụ, cần thiết có chính sách hỗ trợ để trở thành tác nhân quan trọng trong cung ứng dịch vụ nông nghiệp, làm đầu mối đón nhận và triển khai dịch vụ công ở cộng đồng, như khuyến nông, tín dụng, hỗ trợ marketing, quản lý chất lượng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản

lý mặt nước Có chính sách quy hoạch phát triển mạng lưới doanh nghiệp nông nghiệp, cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp trong các lĩnh vực, theo vùng, miền để có thể làm cơ sở liên kết với nông dân, kết nối với bên ngoài, phát triển các hoạt động chế biến sâu, dịch vụ, logistics Ưu tiên các liên kết đầu tư trong sản xuất và chế biến, thương mại; sản xuất theo cùng quy trình kỹ thuật chung để có sản phẩm đồng đều và cùng chất lượng; xây dựng kế hoạch chung toàn chuỗi ngành hàng; cùng quản trị thương hiệu; toàn chuỗi ngành hàng

có cùng quản trị về truy suất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm; chia sẻ rủi ro; chia sẻ giá trị gia tăng và lợi nhuận Các chính sách hỗ trợ nên thúc đẩy, ưu đãi

sự hình thành và phát triển các yếu tố liên kết, để làm động lực cho liên kết giữa nông dân với nhau, giữa nông dân và doanh nghiệp Mục đích là tạo ra được sản phẩm rẻ hơn nhờ hiệu ứng của kinh tế quy mô, quản trị chất lượng sản phẩm tốt hơn nhờ hành động tập thể, tính cạnh tranh cao hơn, cung ứng ra thị trường sản phẩm có chất lượng đồng đều, ổn định và tin cậy

1.1.2 Tính tất yếu về vai trò lãnh đạo của Đảng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Trong những năm gần đây, kinh tế thế giới tuy đang phục hồi, nhưng trong điều kiện liên tục xảy ra các xung đột về sắc tộc và nội chiến ở Trung Đông, Châu Âu và những nơi khác Tình trạng này tiếp tục trên diện rộng sẽ ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp ở các nước và sẽ đưa đến tình trạng thiếu

Trang 30

hụt lương thực, thực phẩm tại các quốc gia có tranh chấp, gây biến động thị trường nông sản toàn cầu và tác động khó lường đến phát triển nông nghiệp các nước, trong đó có Việt Nam, cụ thể:

Gia tăng số lượng các nước tham gia vào sản xuất, xuất khẩu các loại nông sản có giá trị cao và thiếu hụt trên thị trường, dẫn đến tăng cung và làm giảm giá nông sản trên thị trường, làm giảm thu nhập và lợi nhuận của nông dân các nước sản xuất truyền thống Cạnh tranh trên thị trường nông sản thế giới tăng lên, gây ra tình trạng giành giật thị trường thị trường, bạn hàng phức tạp và gay gắt hơn

Gia tăng chính sách bảo hộ sản xuất trong nước bằng nhiều biện pháp phi thuế ở các nước nhập khẩu nông sản, nhất là các nước có kinh tế phát triển nhằm bảo vệ người sản xuất nông nghiệp bằng các biện pháp đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, và áp dụng quy trình sản xuất tốt trong nông nghiệp (GlobalGAP) và truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm nhập khẩu từ các nước đang phát triển, tạo ra quan hệ thương mại bất bình đẳng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, thiệt hại sẽ thuộc về các nước đang phát triển có xuất khẩu hàng hóa nông sản

Các cam kết thương mại của các nước thành viên “ Tổ chức Thương mại Thế giới” (WTO) và các cam kết song phương về tự do thương mại khu vực (FTA) trong những năm tới có xu hướng ngày càng mở rộng và sẽ làm gia tăng cạnh tranh trên thị trường nông, lâm, thủy sản toàn cầu;

Hiệp định “Đối tác Xuyên Thái Bình Dương” (TPP) được ký kết sẽ hình thành khu vực kinh tế khu vực mới với trên 790 triệu dân, đóng góp trên 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu Sẽ hình thành một khu vực tự do hóa thương mại và đầu tư với phạm vi rộng nhất, bao gồm cả thương mại truyền thống, thương mại theo phương thức mới với nhiều thách thức đối với những nước tham gia và sẽ tác động mạnh đến nhiều ngành kinh tế,trong đó có các loại hàng nông sản Việt Nam có thể hưởng lợi nhiều khi tham PPP với các

Trang 31

thế mạnh về khả năng xuất khẩu các hàng hóa nông sản, nhưng với điều kiện phải nâng cao chất lượng, mẫu mã các sản phẩm xuất khẩu hiện nay ngang bằng với chất lượng sản phẩm cùng loại được sản xuất ở các nước khác trên thế giới

Đối với kinh tế Việt Nam, trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, nền kinh tế sẽ đối mặt với sự gia tăng áp lực về thời hạn thực hiện các cam kết WTO và các cam kết tự do thương mại đa phương và song phương (FTA) của Việt Nam với các tổ chức và các nước, trong khi Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ các biện pháp bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong phạm vi cho phép của các hiệp định thương mại song phương

và đa phương; Biến đổi khí hậu đang và sẽ tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp từ Bắc xuống Nam, các tỉnh ven biển có thể bị ngập nhiều hơn và mất hoặc giảm đất canh tác, các vùng trung du, miền núi sẽ mưa nhiều hơn và hệ thống canh tác hiện tại sẽ biến đổi với nhiệt độ tăng vào mùa hè và lạnh giá hơn vào mùa đông

Cây trồng và vật nuôi sẽ bị ảnh hưởng xấu do dịch bệnh hoặc thời tiết thay đổi nóng- lạnh , hạn hán-lũ lụt đột biến trên quy mô lớn và làm thiệt hại lớn đối

với người sản xuất và toàn ngành nông nghiệp Việt Nam

Bên cạnh những cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới như: Sau

thời gian gia nhập WTO, Việt nam đã mở rộng được thị trường xuất khẩu hàng nông sản vào các thị trường lớn và cao cấp như: ASIAN, EU, Mỹ, Trung quốc, Nhật bản, Úc, Hàn Quốc, Nga …do được xóa bỏ thuế quan sâu hơn so với mức thuế trong WTO, nhờ đó giá trị xuất khẩu nông sản tăng liên tục với các mặt hàng như: gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sản phẩm gỗ và thủy sản…Các sản phẩm xuất khẩu này đã thể hiện rõ những điểm mạnh, điểm yếu trên các thị trường, từ đó đã gợi ra những điểm phải bổ sung, hoàn thiện và nâng cấp để có thể giữ vững và mở rộng thị trường Đây là cơ hội để Việt Nam thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo định hướng xuất khẩu nhiều hơn trong tương lai

Trang 32

Song nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp phải tiếp tục đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn phải giải quyết về tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn như: quy mô sản xuất của hộ nông dân quá nhỏ, manh mún, kết cấu hạ tầng nghèo nàn, trình độ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thấp, các hình thức tổ chức dựa trên hợp tác, liên kết như: tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp, hiệp hội…chưa phát triển tương xứng với đòi hỏi của nông dân nên chưa liên kết được từng hộ nông dân nhỏ và các tác nhân khác như: doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức dịch vụ nông nghiệp cùng tham gia vào vào quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên từng vùng để hình thành các chuỗi giá trị nông sản mạnh, có năng lực cạnh tranh cao, xuất khẩu có hiệu quả

và chiếm giữ được thị trường nông sản trong nước trước sự xâm nhập ngày càng nhiều của hàng nông sản nhập khẩu; Trình độ, kỹ năng của người lao động nông nghiệp Việt Nam thấp, cùng với quy mô sản xuất nhỏ, kỹ thuật canh tác truyền thống, lạc hậu đã dẫn tới năng suất lao động thấp hơn nhiều so với năng suất lao động nông nghiệp ở các nước trong khu vực, từ đó dẫn tới thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hơn lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, dịch vụ ở trong nước và đi lao động ở nước ngoài Tình trạng này

đã thúc đẩy bộ phận lao động trẻ rời bỏ nông nghiệp, để lại trong nông nghiệp

bộ phận lao động nữ và người lớn tuổi không phù hợp với sản xuất hàng hóa lớn, tiếp tục làm cho năng suất lao động giảm đi và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp khó tăng lên Các hoạt động công nghiệp và phi nông nghiệp trong nông thôn còn quá nhỏ bé về quy mô, phân tán và trình độ công nghệ lạc hậu, tạo ra sản phẩm chất lượng thấp, mẫu mã không hấp dẫn khách hàng, giá thành cao nên giá trị thấp và khó tiêu thụ Tình trạng này làm cho khu vực công nghiệp và phi nông nghiệp nông thôn chưa tạo thêm được nhiều việc làm mới để thu hút lao động nông nghiệp rời bỏ nghề nông, khả năng chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp hạn chế dẫn đến cơ hội hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có quy mô sản xuất

Trang 33

thích ứng với nông nghiệp hàng hóa lớn, có hiệu quả và năng lực cạnh tranh ngang tầm với các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia gặp nhiều khó khăn Ngành nông nghiệp còn phải đối mặt với những thách thức lớn khác từ: việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu hàng hóa nông sản từ nước ngoài vào Việt Nam; các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) và hàng rào

kỹ thuật thương mại (TBT) và siết chặt các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, rào cản kỹ thuật, tăng cường minh bạch hóa về nguồn gốc sản phẩm làm ra…của các nước đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam; mâu thuẫn lớn giữa nhu cầu cao về vốn đầu tư dài hạn để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng và các quá trình (khâu) sản xuất với hiệu quả đầu tư thấp, rủi ro cao, chưa thực sự hấp dẫn các dòng vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước Tỷ trọng đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp ngày càng giảm thấp, ngược với xu thế FDI của thế giới đầu tư vào nông nghiệp đang ngày một tăng… Để thu hút nhiều vốn FDI vào nông nghiệp, đòi hỏi phải xử lý hàng loạt vấn đề bất cập về: đất nông nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài; các mối quan hệ giữa người nông dân Việt Nam với Nhà đầu tư; kết cấu hạ tầng ở các vùng thu hút đầu tư; thay đổi các chính sách về thuế, tài chính; phát triển các dịch vụ logicstic đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất nông nghiệp…

Với những dự báo tình hình thế giới và trong nước, những cơ hội thách thức đối với nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam có thể khẳng định: tái cơ cấu ngành nông nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp nếu đảm bảo đúng định hướng, quan điểm, mục tiêu của Đảng, Chính phủ đề ra sẽ giải quyết tốt các khó khăn thách thức trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và những yếu kém mâu thuẫn với tiềm năng to lớn của sản xuất nông nghiệp và năng lực sáng tạo của người nông dân Việt Nam góp phần

ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế

thị trường hội nhập toàn cầu

Trang 34

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chưa bao giờ Đảng xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế Trái lại, nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng ở tầm chiến lược, vĩ mô, tạo ra những đột phá trong đổi mới, mở cửa và hội nhập, đưa đất nước phát triển với thế và lực như hiện nay Hơn nữa, từ những trải nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo kinh tế và quản lý kinh tế, Đảng đã từng bước trưởng thành về năng lực, không ngừng đổi mới phương thức và phương pháp lãnh đạo; tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, đường lối lãnh đạo kinh tế - một lĩnh vực trọng yếu, huyết mạch của lãnh đạo xã hội

Đối với Đảng cầm quyền, lại là Đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam như Đảng ta thì mọi vấn đề về cuộc sống của nhân dân, về sự ổn định và phát triển đất nước, về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cũng như tương lai, triển vọng của dân tộc theo lý tưởng, mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cả đối nội và đối ngoại đều thuộc về nội dung, thẩm quyền và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng Đây là những lĩnh vực của tồn tại và phát triển con người và xã hội, đất nước và dân tộc, trong hiện tại và tương lai, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN mà Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Đó là trọng trách lịch sử của Đảng,

do dân tộc và nhân dân ủy thác Điều này được thể chế hóa, hiến định trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013 “ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”[ 32]

Như vậy, lãnh đạo kinh tế không chỉ thể hiện nội dung, mà còn là trách nhiệm và thẩm quyền của Đảng, là một tất yếu cần thiết đối với Đảng trên tư cách Đảng chính trị cầm quyền Tất yếu cần thiết này còn xuất phát từ chính đòi hỏi của cuộc sống người dân với những lợi ích và nhu cầu thường nhật của họ

Trang 35

Nhân dân là lực lượng, động lực to lớn của cách mạng luôn tin tưởng, đi theo Đảng, đòi hỏi Đảng phải có đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, lãnh đạo đất nước phát triển, mang lại cuộc sống mới cho nhân dân Đây cũng chính

là mục đích của Đảng Bởi vậy, mọi hoạt động của Đảng, qua các chặng đường lịch sử, tranh đấu, hy sinh đều chỉ vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân Đảng lãnh đạo kinh tế, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội chỉ nhằm mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân; làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người dân có cơm ăn, áo mặc, có nhà ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe… như mong nguyện của Bác Hồ

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, đảm bảo dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng, trong đó có lãnh đạo kinh tế Đó cũng là những điều kiện để xây dựng nền dân chủ ở nước ta, tất cả đều vì dân, hướng tới cuộc sống và quyền làm chủ của dân trong một xã hội dân chủ, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, để đạt được điều đó, thì “phát triển kinh tế

là trung tâm” Vì vậy, lãnh đạo kinh tế của Đảng trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Sự tất yếu quy định Đảng lãnh đạo kinh tế còn được ghi nhận có tính chính trị - pháp lý trong Hiến pháp của Nhà nước ta về chế độ chính trị và chế độ kinh tế Đó là sự thừa nhận của nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng, trong đó có lãnh đạo kinh tế

Kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định

và chế ước lẫn nhau Vì vậy, Đảng không thể tách rời lãnh đạo chính trị với lãnh đạo kinh tế Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương, nghị quyết đại hội và các nghị quyết Trung ương Trong

đó, không chỉ là quan điểm, nguyên tắc chính trị mà còn là các quyết sách ở tầm chiến lược về xây dựng và phát triển kinh tế, kể cả kinh tế đối ngoại Một cách tổng quát, có thể nói, lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, là đưa ra đường

Trang 36

lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn Đường lối chính trị của Đảng cầm quyền là một chỉnh thể định hướng cho sự phát triển về mọi mặt của xã hội, trong đó nổi bật ở đường lối phát triển kinh tế, gắn liền với phát triển xã hội và quản lý xã hội Do đó, lãnh đạo chính trị của Đảng một cách tất yếu, tự nhiên đã bao hàm lãnh đạo kinh tế Chất lượng, hiệu quả lãnh đạo kinh tế theo mục tiêu đã xác định, phục vụ lợi ích của người dân và phát triển cộng đồng, tạo ra tiềm lực, năng lực kinh tế của quốc gia là tiêu chí, thước đo để đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng chính trị cầm quyền…

Mặt khác, những thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh tế trong hơn 30 năm đổi mới đã chứng minh đầy thuyết phục về vai trò lãnh đạo của Đảng Kinh

tế nông nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu nền kinh tế, trước yêu cầu cấp bách về cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả theo hướng bền vững thì vai trò lãnh đạo của Đảng trong tái cơ cấu kinh tế, TCCNNN là một tất yếu khách quan.Vai trò ấy đặc biệt quan trọng và tăng lên trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, trước sự cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường

1.2 Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

1.2.1 Lãnh đạo tuyên truyền, quán triệt chủ trương tái cơ cấu ngành

nông nghiệp

Tuyên truyền, quán triệt chủ trương TCCNNN là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, quán triệt Nghị quyết để từng cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, chính quyền, các cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt là người đứng đầu

Trang 37

các tổ chức, cơ quan và mọi người dân hiểu đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng

và Nhà nước về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của TCCNNN thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể:

- Trước hết tập trung vào đối tượng là chủ thể trong lĩnh vực nông nghiệp, vừa là người thực hiện, đồng thời, trực tiếp được thụ hưởng thành quả từ TCCNNN đem lại Xác định vai trò làm chủ của người nông dân, họ phải là người nắm vững thế nào là TCCNNN ? Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn

đề này như thế nào? Mục tiêu của đề án tại địa phương cụ thể là gì, cách thức để thực hiện mục tiêu đó ra sao? Nhận thức về sản xuất hàng hóa, về cạnh tranh, tầm quan trọng của sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Từ đó, để từng người dân đồng thuận cao, sẵn sàng tham gia cùng thực hiện đề án một cách thiết thực, hiệu quả

- TCCNNN là nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua việc ứng dụng khoa học công nghệ, gắn KHCN trong sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ sinh học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hình thành cơ chế kết hợp và thúc đẩy lẫn nhau giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đảm bảo an ninh lương thực góp phần giảm nghèo bền vững

- TCCNNN là một bộ phận không thể tách rời với xây dựng nông thôn mới

- TCCNNN và xây dựng nông thôn mới là vấn đề phức tạp, khó khăn và lâu dài, cần tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế-xã hội từ Trung ương đến địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện

Tập trung tuyên truyền cho người dân nông thôn nâng cao vai trò, trách nhiệm của mình là chủ thể trong TCCNNN Mỗi người dân phải: nhận thức

Trang 38

đúng về mục đích, yêu cầu TCCNNN ,thay đổi tư duy về cách thức sản xuất trong nền kinh tế thị trường; tuân thủ quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp

đã được phê duyệt tham gia cùng với nhà nước, doanh nghiệp trong liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng hàng nông sản để nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh tế từ đó không ngừng nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống ngày càng tốt hơn Thông qua công tác tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ trương TCCNNN , nếu các cấp các ngành và người nông dân không nhận thức được sâu sắc, rõ rang tầm quan trọng của công tác đổi mới, thực hiện đồng bộ các giải pháp TCCNNN thì chúng ta sẽ tụt hậu so với các nước khác, và ngay trên quê hương nông nghiệp chúng ta vẫn phải nhập khẩu hàng hóa nông sản vẫn không thể sống bằng nguồn lợi, bằng lợi thế của chính

mình ân

1.2.2 Lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền kiện toàn tổ chức thực hiện tái

cơ cấu ngành nông nghiệp

TCCNNN vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình củng cố, kiện toàn tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Thực hiện Kết luận số 74-KL/TW, ngày 17 – 10 – 2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nhấn mạnh: “ Tiếp tục đẩy mạnh ba trọng tâm tái cơ cấu ” với

“ Triển khai có hiệu quả đề án tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”[ 3] Ngày 17 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 508/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành về TCCNNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững thực hiện chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành về TCCNNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2020

Trang 39

Theo đó, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo các Bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành hỗ trợ thực hiện Đề án TCCNNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được phê duyệt tại Quyết định

số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều hòa, phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành thực hiện TCCNNN trên toàn quốc; giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm huy động nguồn lực tham gia và hỗ trợ thực hiện TCCNNN

Ban Chỉ đạo bao gồm: Trưởng ban: Phó Thủ tướng Chính phủ ; Phó Trưởng ban: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; và các Ủy viên gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, UBND tỉnh Lào Cai, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND tỉnh Nam Định, UBND tỉnh Thanh Hóa, UBND tỉnh Hà Tĩnh, UBND tỉnh Bình Định, UBND tỉnh Lâm Đồng, UBND tỉnh Đồng Tháp

Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành Quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên Ban Chỉ đạo; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định thành lập Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo; quyết định thành lập Văn phòng thường trực theo dõi thực hiện Đề

Trang 40

của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của

tổ chức phối hợp liên ngành

Ngày 26 tháng 10 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về đẩy mạnh thưc hiện Đề án TCCNNN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng theo hướng bền vững trong đó yêu cầu thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành tái cơ cấu nông nghiệp tại địa phương từ cấp tỉnh đến cấp xã, trong đó ở cấp xã, Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới thực hiện kiêm nhiệm nhiệm vụ TCCNNN

Thực hiện Quyết định và chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, huyện xã tùy theo tình hình thực tế đã thành lập các Ban Chỉ đạo, Ban điều hành và các bộ phận giúp việc thực hiện nhiệm vụ TCCNNN của địa phương mình

Tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng hoàn chỉnh Đề án TCCNNN của địa phương và tổ chức thực hiện theo lộ trình đề ra

Sự lãnh đạo tập trung của cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong kiện toàn tổ chức, xây dựng chương trình kế hoạch đã thể hiện quyết tâm của Đảng, chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ TCCNNN

1.2.3 Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội nâng cao vai trò trách nhiệm trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Trong tiến trình cách mạng dân tộc, dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, để xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, Đảng ta đã tổ chức ra Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

để tập hợp, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, chính kiến, hợp thành lực lượng to lớn đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w