1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện cần giờ, thành phố hồ chí minh

89 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 907,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (7)
  • B. NỘI DUNG (13)
  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH (13)
    • 1.1. Một số khái niệm (13)
    • 1.2. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cần giáo dục (22)
    • 1.3. Tính tất yếu của việc giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh các trường trung học phổ thông (34)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG (69)
    • 2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giáo dục giá trị truyền thống ở các trường trung học phổ thông huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh (45)
    • 2.2. Công tác giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Cần Giờ thời gian qua (53)
  • Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG (0)
    • 3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị truyền thống cho học (69)
    • 3.2. Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh các trường Trung học phổ thông huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay (71)

Nội dung

Những đức tính đó đã trở thành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế hệ con người Việt Nam đã nâng niu, gìn giữ, đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lý như lòng yêu nước,

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

CHO HỌC SINH 1.1 Một số khái niệm

Truyền thống là một chủ đề được nhắc tới nhiều trong xã hội Việt Nam, và khi nói về khái niệm này, có nhiều cách nhìn nhận và nhiều định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất cho rằng truyền thống là hệ thống các giá trị, tập quán, lễ nghi và phong tục được lưu truyền từ đời này sang đời khác, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và gắn kết cộng đồng.

“Truyền thống là những thói quen hình thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”

Dựa trên cơ sở các định nghĩa chung nhất về truyền thống, các nhà khoa học đã khái quát khái niệm này ở nhiều cấp độ khác nhau trong từng lĩnh vực chuyên môn Cụ thể, GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn quan niệm: “Nói đến truyền thống là nói đến phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí…của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [10, tr.11] Trong định nghĩa này GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn đã cụ thể hóa khái niệm truyền thống được hình thành ở nhiều cấp độ khác nhau, đó là “phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử….” của con người đã được hình thành trong lịch sử và có tính bền vững, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

GS, TS Trần Đình Sử khi nghiên cứu về truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thống lại cho rằng: “Truyền thống là mối liên hệ của lịch sử, mà một đầu là những giá trị văn hóa được sáng tạo trong quá khứ lịch sử

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH

Một số khái niệm

Truyền thống vốn là một vấn đề luôn được đề cập đến rất nhiều trong xã hội Việt Nam Vì thế, khi bàn đến khái niệm truyền thống lại có nhiều cách nhìn nhận khác nhau và nhiều định nghĩa khác nhau Nhưng tựu chung định nghĩa mang tính phổ thông và được nhiều người chấp nhận nhất đó là:

“Truyền thống là những thói quen hình thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”

Dựa trên cơ sở các định nghĩa chung nhất về truyền thống, các nhà khoa học đã khái quát khái niệm này ở nhiều cấp độ khác nhau trong từng lĩnh vực chuyên môn Cụ thể, GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn quan niệm: “Nói đến truyền thống là nói đến phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí…của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [10, tr.11] Trong định nghĩa này GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn đã cụ thể hóa khái niệm truyền thống được hình thành ở nhiều cấp độ khác nhau, đó là “phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử….” của con người đã được hình thành trong lịch sử và có tính bền vững, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

GS, TS Trần Đình Sử khi nghiên cứu về truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thống lại cho rằng: “Truyền thống là mối liên hệ của lịch sử, mà một đầu là những giá trị văn hóa được sáng tạo trong quá khứ lịch sử dân tộc và một đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của người hiện đại”

[43, tr 45] Như vậy, khi định nghĩa khái niệm truyền thống tuy các nhà khoa học có những cách biểu đạt khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất ở chỗ coi: Truyền thống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trong cuốn Bàn về văn hóa Việt Nam, GS Vũ Khiêu đã đưa ra một định nghĩa sâu sắc về truyền thống: đó là những thói quen lâu đời được hình thành và duy trì trong nếp sống, suy nghĩ và hành động của cả một dân tộc, của mỗi gia đình, dòng họ và làng xã, cũng như của các tập đoàn lịch sử Truyền thống không chỉ là tập tục lặp lại qua nhiều thế hệ mà còn là quá trình gắn kết các giá trị, chuẩn mực và cách ứng xử đã hình thành nên bản sắc cộng đồng Nó hiện hữu ở nhiều cấp độ xã hội — từ gia đình và dòng họ cho tới làng xã và các tập đoàn lịch sử — và đóng vai trò định hình hành vi, nhận thức và mối quan hệ trong xã hội.

Khi nghiên cứu về “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã đưa ra định nghĩa: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [32, tr.11]

Các nhà triết học tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật Mác-xít, thông qua các tác phẩm của mình, thể hiện quan điểm về truyền thống như một hiện tượng lịch sử được hình thành và biến đổi bởi lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội Họ phân tích truyền thống không chỉ ở mức lưu giữ tập quán mà còn ở mức ý thức xã hội, sự tái hiện của các giá trị trong từng giai đoạn phát triển của xã hội Theo đó, truyền thống phản ánh sự đấu tranh giữa yếu tố bảo tồn và yếu tố đổi mới, đồng thời có thể bị hạn chế hoặc được cách mạng hóa dưới tác động của sự thay đổi kinh tế và cấu trúc xã hội Các tác phẩm của họ nhấn mạnh vai trò của tư duy phê phán và sự chuyển hóa xã hội để hiểu và định hình truyền thống một cách có ý thức, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ và công bằng hơn.

“Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph Ăngghen khảng định: “Lịch sử chẳng qua chỉ là nối tiếp của các thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế hệ trước đó để lại, do đó mỗi thế hệ một mặt tiếp tục phương thức hoạt động được truyền lại, nhưng trong mỗi hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác lại biến đổi những hoàn cảnh cũ một hoạt động hoàn toàn thay đổi” [38, tr 65]

Khi tiếp cận truyền thống dưới góc độ triết học, TS Nguyễn Lương Bằng trong luận án tiến sĩ triết học “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay”, đã đưa ra định nghĩa:

“Truyền thống là một khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng như tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứng xử… được hình thành trên cơ sở những điều kiện địa lý- tự nhiên, kinh tế- xã hội cũng như hoạt động của con người trong qúa trình lịch sử và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng người nhất định” [3, tr.18]

Khi nghiên cứu truyền thống, các nhà khoa học có nhiều góc nhìn khác nhau nên hình thành các định nghĩa khác nhau cho cùng một vấn đề Tuy nhiên, điểm chung ở họ là đều dựa trên thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng, làm cho các định nghĩa đã nêu chứa đựng những yếu tố hợp lý.

Những đặc trưng cơ bản của truyền thống

Trên cơ sở sự nghiên cứu của các nhà khoa học về truyền thống, từ đó ta có thể khái quát thành 4 đặc trưng cơ bản của truyền thống như sau:

Thứ nhất, truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý, đạo đức…

Thứ hai, truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, gia đình, làng xã ), là bản sắc của các cộng đồng người

Thứ ba, truyền thống đã được hình thành trong lịch sử do tác động của môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất và kết cấu kinh tế xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môi trường văn hóa khu vực và thế giới

Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cần giáo dục

Mỗi dân tộc có những truyền thống riêng trong quá trình phát triển và xây dựng đất nước Trải qua hơn bốn nghìn năm xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành một hệ những giá trị truyền thống, đó là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; tình đoàn kết, tương thân tương ái lẫn nhau; truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa; là những giá trị về gia đình, văn hóa, phong tục tập quán…và rất nhiều những hệ giá trị quý báu mà cha ông ta đã đúc rút và truyền lại cho thế hệ sau Trải qua một thời gian dài như vậy, những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn không hề bị mất đi mà ngược lại nó càng được bảo tồn và phát huy trong đời sống của nhân dân Khi bàn về các giá trị truyền thống của dân tộc thì hầu hết các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đều nhất trí với quan điểm của GS Trần Văn Giàu về giá trị tinh thần truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam là: “Yêu nước, đoàn kết, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [25, tr 94] Trong đó, yêu nước là bậc thang giá trị cao nhất, là giá trị cốt lõi định hướng cho mọi giá trị khác

Lòng yêu nước là cảm xúc phổ biến ở mọi quốc gia và dân tộc, nhưng điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước sẽ khiến nó thể hiện theo những nét khác nhau Với dân tộc Việt Nam, yêu nước được xem là tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Yêu nước là khái niệm được hình thành từ hai yếu tố căn bản là “yêu” và “nước”, gắn kết tình yêu quê hương với nghĩa vụ phát triển và bảo vệ đất nước.

“Yêu” theo nghĩa chung nhất, là trạng thái tình cảm của chủ thể này đối với một chủ thể khác ở mức cao hơn sự thích thú và phải nảy sinh ý muốn được gắn kết với chủ thể đó ở một khía cạnh hay mức độ nhất định “Yêu” không chỉ thể hiện qua lời nói, ý thức mà còn thể hiện bằng hành động “Nước” ở đây có nghĩa là đất nước, quê hương, Tổ quốc, quốc gia, non sông [24, tr.10] Theo Từ điển Bách khoa thì chủ nghĩa yêu nước được hiểu chính là biểu hiện quan điểm tích cực về quê hương của một cá nhân hay tập thể, trong đó quê hương có thể là một vùng, một thành phố nhưng thường gắn với khái niệm quốc gia Nó gồm những quan điểm như: tự hào về thành tựu hay văn hóa của quê hương, mong muốn bảo vệ những đặc điểm đó, đồng hóa mọi thành viên của quốc gia Chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, vì thế chúng thường được dùng như những từ đồng nghĩa Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủ nghĩa yêu nước liên quan tới quan niệm nhiều hơn

Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người như tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào về truyền thống…Yêu nước là một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Yêu nước cũng có quá trình phát triển cùng với lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc, theo quá trình đó thì tình cảm yêu nước có tính chất cảm tính ấy dần dần trở thành lý tinh có nội dung tư tưởng, lý luận

Việt Nam có vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình và tài nguyên, sinh thái thuận lợi, khí hậu nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng Với vị trí và đặc điểm ấy, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhưng cũng đặt ra không ít thử thách đối với con người Vì thế, qúa trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với qúa trình thống nhất quốc gia Điều đó đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của ý thức dân tộc, tạo nên sự cố kết cộng đồng Tinh thần yêu nước được thể hiện qua ý thức cộng đồng và phát triển trong qúa trình xây dựng và bảo vệ đất nước Nó là sản phẩm riêng của dân tộc Việt Nam

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước Có xây dựng đất nước vững mạnh mới có thể ngăn chặn được họa ngoại xâm, Ngược lại, có bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ quốc gia mới tạo tiền đề cho việc xây dựng đất nước Yêu nước đối với nhân dân ta trước hết là chăm lo phát triển đất nước trên mọi phương diện như kinh tế, văn hóa, chính trị, từ đó đảm bảo sức mạnh nội sinh cho sự bảo tồn của dân tộc Đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là : xuất hiện rất sớm và luôn luôn được củng cố, đối mặt bởi vô số những cuộc khởi nghĩa chống đô hộ và nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thành một thứ vũ khí tinh thần cực kỳ sắc bén Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, chủ nghĩa yêu nước có những biểu hiện khác nhau Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam, có chiều sâu trong tâm linh, trong tâm tưởng của dân tộc Tình cảm, ý chí ấy hết sức mãnh liệt, được kết tinh lại trở thành những làn sóng ngầm và được thể hiện rõ nét nhất trong những thời kỳ dân tộc gặp nguy nan

Dân tộc nào cũng có tinh thần yêu nước, nhưng mức độ sâu đậm là khác nhau do hoàn cảnh lịch sử tạo ra Điều đặc biệt là trong hoàn cảnh lịch sử dân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục trong nhiều nghìn năm, nhiều thời đại với nhiều đế quốc lớn, hùng mạnh hơn ta gấp nhiều lần, vì vậy tinh thần yêu nước ở đây như một "tôn giáo" chính thống của dân tộc Nó còn cao hơn cả một tôn giáo vì nó có chiều sâu tâm linh, chiều cao của niềm tin, chiều rộng của cộng đồng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ mọi người đánh giặc cứu nước, sẵn sàng tử vì đạo yêu nước

Yêu nước là giá trị truyền thống hàng đầu và là đặc trưng nổi bật trong bản sắc văn hóa Việt Nam, được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến hiện đại Tình yêu nước đã hình thành một triết lý xã hội và nhân sinh quan của người Việt, thấm đượm trong mọi tầng lớp và mọi hoạt động của xã hội Dùng từ "đạo" với nghĩa nguyên thủy của nó, khái niệm này nhấn mạnh sự gắn kết giữa cá nhân, cộng đồng và đất nước, từ đó hình thành ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết trong cộng đồng.

"đường", là hướng đi, thì chủ nghĩa yêu nước đích thực là đạo Việt Nam" [25, tr.30]

Chủ nghĩa yêu nước bắt nguồn từ thời vua Hùng dựng nước và phát triển mạnh mẽ qua các cuộc khởi nghĩa giữ nước của dân tộc; tinh thần này được thể hiện rõ ở Hai Bà Trưng với khẩu hiệu "đền nợ nước, trả thù nhà", biểu hiện ý chí quật khởi và quyết tâm bảo vệ độc lập trước mọi xâm lược Những chương sử ấy đã hun đúc tinh thần tự lực, đoàn kết và lòng tự hào dân tộc, đóng vai trò then chốt trong quá trình hình thành và phát triển của tinh thần yêu nước Việt Nam qua các thời kỳ.

Bà Trưng, ý chí quật cường "không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người" của Bà Triệu, ở ý chí giải phóng dân tộc của nhân dân ta suốt nghìn năm Bắc thuộc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nhân lên gấp bội, sau khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở ra thời kỳ lịch sử mới trong lịch sử dân tộc Lòng yêu nước đó được khẳng định trong bài thơ

Thần Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, cùng với lòng tự tôn dân tộc cao quý của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, thể hiện tinh thần kiên cường của các thế hệ người Việt đấu tranh gần một thế kỷ chống thực dân Pháp Trên khắp đất nước có nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc đã có công và xả thân vì nước Dân tộc ta tôn kính Hùng Vương, Trần Hưng Đạo và Hồ Chí Minh như những vị thánh và luôn coi trọng nền văn hóa cùng sắc thái văn hóa của các địa phương và các dân tộc trong nước Ý thức dân tộc được thể hiện rõ ở việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, và tinh thần ấy đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ dân tộc khỏi nguy cơ diệt vong và giữ gìn bản sắc văn hóa không bị hòa trộn với các nền văn hóa khác.

Có thể nói rằng lịch sử dân tộc ta từ khi dựng nước đến nay là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm Cho nên yêu nước tập trung trước hết ở tinh thần chống giặc ngoại xâm, tinh thần "nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", thực hiện chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!"

Chủ nghĩa yêu nước là sức mạnh tinh thần, nguyên khí của dân tộc, đưa dân tộc giành được những thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Đúng như nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân tộc ta có truyền thống nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xa tới nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" [34, tr 472] Chủ nghĩa yêu nước không những đưa dân tộc ta giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm mà còn giành thắng lợi trước âm mưu đồng hóa của kẻ thù trong suốt nghìn năm đô hộ và nhiều lần hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và không ngừng làm giàu thêm kho tàng giá trị truyền thống của dân tộc mình

Chủ nghĩa yêu nước là động lực nội sinh của cả dân tộc, tạo nên ý chí, quyết tâm, nghị lực và trí tuệ để đất nước nhanh chóng vượt qua nghèo nàn, lạc hậu và bắt kịp văn minh của thời đại Sức mạnh của lòng yêu nước thúc đẩy sự phát triển toàn diện và tiến trình đổi mới, đồng hành với quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế Đây cũng là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, bảo đảm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập và giao lưu toàn cầu.

1.2.2 Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng và dân tộc

Tinh thần cố kết, đoàn kết cộng đồng được coi là một nét đẹp trong giá trị truyền thống của dân tộc Dân tộc ta là một cộng đồng nhỏ sinh cơ lập nghiệp bên các cộng đồng lớn, bởi vậy nguy cơ bị thôn tính về lãnh thổ, bị đồng hóa về văn hóa là thường trực Để tồn tại và phát triển cư dân ở đây đã gắn bó với nhau thành một khối thống nhất một cách tự nguyện và bình đẳng Mặt khác đất nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng lắm cam go, thử thách, đe dọa sự sinh tồn của con người Khí hậu nhiệt đới gió mùa thường xuyên gây mưa nhiều, bão lụt, áp thấp, hạn hán Đấu tranh chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên đòi hỏi con người cần phải đóng góp công sức, phải chung lưng đấu cật cùng nhau

Tính tất yếu của việc giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh các trường trung học phổ thông

1.3.1 Xuất phát từ đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh Trung học phổ thông

1.3.1.1 Học sinh Trung học phổ thông là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, dễ tiếp thu cái tiến bộ, cũng như các tàn dư xã hội cũ, những cái lạc hậu

Học sinh THPT là những thanh niên mới lớn, tuổi đời còn trẻ, thường từ

Độ tuổi từ 15 đến 18 thường đi kèm với trình độ học vấn chưa cao, nhưng các em lại có tư duy năng động và sáng tạo, nuôi dưỡng ước mơ và hoài bão lớn Họ luôn khao khát thể hiện cái tôi của mình một cách tích cực, đồng thời duy trì phẩm chất đạo đức tốt để định hình hành vi và lựa chọn trong tương lai.

Học sinh THPT là lớp người ở lứa tuổi sung sức, ham hiểu biết, thích khám phá, thích tự thể nghiệm mình, nhạy cảm với cái mới, cái đẹp Bên cạnh đó, các em cũng là lớp người còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống do tuổi đời ít, chưa từng trải Chính vì vậy, nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tính cách, tâm lý, tạo ra sự say mê với lý tưởng sống cao đẹp thì sẽ phát huy được tính năng động, sáng tạo và sẽ có đóng góp xứng đáng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc

1.3.1.2 Học sinh Trung học phổ thông là lớp người trẻ, năng động, sẽ đóng vai trò chủ nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Thế kỷ XXI là thời kỳ văn minh, trí tuệ và khoa học công nghệ, đòi hỏi những người trẻ có trình độ, năng lực sáng tạo và khả năng tiếp nhận, vận dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật hiện đại vào đời sống hằng ngày Trong bối cảnh cơ chế thị trường, xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mọi quốc gia, dân tộc và mỗi người đều có cơ hội tham gia phát triển, đặc biệt là thanh niên và học sinh Học sinh THPT không chỉ được trang bị kiến thức văn hóa mà còn được tiếp cận kiến thức tin học, ngoại ngữ và các phương tiện truyền thông hiện đại qua mạng internet; việc mở rộng hình thức giáo dục đa dạng giúp các em hội nhập quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi, tác động tích cực đến quá trình phát triển đất nước.

Các quan niệm về đạo đức của mỗi cộng đồng, bên cạnh cái chung đang xuất hiện những cái riêng Chính điều đó đã mở ra những cơ hội để mỗi người giao lưu, học hỏi, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Có thể dự đoán về một xu hướng đạo đức được quốc tế hoá, vừa trên cơ sở thống nhất những quy tắc đạo đức chung của con người, vừa giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc Những quan niệm về tốt, xấu, công bằng, bình đẳng… cũng đang có sự chuyển dịch nhất định Những dịch chuyển này tạo ra một sự giải phóng về mặt tư tưởng, hướng sinh viên đến sự chuẩn bị cho những hành động có tính hiệu quả sau này khi hội nhập thị trường nguồn nhân lực Những quy tắc ứng xử vì thế cũng biến đổi, điều chỉnh theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp Những rào cản đạo đức nào không còn phù hợp trong việc điều chỉnh hành vi sẽ bị dần dần loại bỏ

1.3.1.3 Học sinh Trung học phổ thông dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo nên cần được định hướng tốt

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi học sinh THPT là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, học sinh THPT có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn học sinh THPT phần lớn bước đầu đã có nhận thức rõ ràng về năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của xu hướng lựa chọn nghề nghiệp nghề nghiệp, qua đó các em sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày Nhờ khả năng tự đánh giá sự phát triển mà học sinh THPT có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập Ở học sinh THPT đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập, rèn luyện trong các trường THPT là cơ hội tốt để các em trải nghiệm bản thân Vì thế, học sinh rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, các em cũng thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

1.3.1.4 Học sinh Trung học phổ thông bước đầu định hình cho mình nghị lực, ước mơ và hoài bão

Phát triển tâm lý và thể chất ở học sinh THPT không đồng đều do các yếu tố như điều kiện sống, hoàn cảnh và phương pháp giáo dục khác nhau Điều này cho thấy sự tiến bộ phụ thuộc nhiều vào tính tích cực hoạt động của từng học sinh Sự quan tâm đúng mức từ gia đình và phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường có thể phát huy thế mạnh và khắc phục các hạn chế tâm lý ở học sinh THPT.

Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, học sinh THPT không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của lứa tuổi thanh niên, do đó, học sinh THPT dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ

Lứa tuổi học sinh THPT có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có năng lực và trí tuệ, khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá, có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế về kinh nghiệm sống, học sinh THPT còn nhiều hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của học sinh THPT

1.3.2 Giáo dục giá trị truyền thống dân tộc cho học sinh Trung học phổ thông là một tất yếu

Học sinh THPT là tương lai của đất nước và cũng là tầng lớp đang hình thành nhân cách, dễ tiếp thu cái mới nhưng cũng dễ bị cuốn theo các tác động bên ngoài, vì vậy giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc nhằm định hướng, tu dưỡng để trở thành người tốt có ích cho xã hội là một yếu tố tất yếu Theo chúng tôi, khẳng định này xuất phát từ những nguyên nhân và yêu cầu sau.

1.3.2.1 Đất nước ta đang hội nhập và phát triển cùng với khu vực và thế giới, giáo dục các giá trị truyền thống cho học sinh trung học phổ thông sẽ giúp các em có bản lĩnh hơn trong quá trình xây dựng đất nước

Xã hội càng phát triển thì truyền thống dân tộc càng chịu nhiều thử thách được củng cố và phát huy Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề phát huy giá trị truyền thống dân tộc, coi đây là một trong những công tác nghiên cứu và là một nhiệm vụ chính trị mà Đảng và nhân dân cùng tiến hành để khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết sức mạnh, làm cho truyền thống dân tộc được củng cố vững mạnh

Hiện nay, những giá trị truyền thống dân tộc, bên cạnh sự giữ gìn, củng cố và phát triển thì cùng với quá trình CNH- HĐH và xu thế toàn cầu về kinh tế- xã hội, những giá trị truyền thống của dân tộc ta đang mai một Vì vậy, bảo vệ và phát triển những giá trị truyền thống của dân tọc Việt Nam theo định hướng XHCN, phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển đang là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân và của mỗi học sinh THPT

Có thể nói nền kinh tế thị trường mang lại sự năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời hiện đại hoá đời sống xã hội; song mặt trái của nó là lối sống thực dụng, hưởng thụ và sự sùng bái đồng tiền cùng với sự xâm nhập ồ ạt các yếu tố phản văn hóa từ bên ngoài khiến đạo đức và lối sống của một bộ phận người Việt Nam, đặc biệt giới trẻ, thanh niên và học sinh THPT, bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các giá trị văn hóa của mỗi dân tộc có sức sống riêng và góp phần hình thành bản sắc dân tộc, nhưng tiếp thu vô chọn lọc tư tưởng ngoại bang có thể làm mất đi truyền thống quý báu, gây lệch hướng trong thưởng thức nghệ thuật và lối sống ngắn hạn, thiếu nghĩa, khác với truyền thống văn hóa Việt Nam Vì vậy công tác giáo dục giá trị truyền thống cho tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên và học sinh THPT, trở nên cần thiết nhằm trang bị bản lĩnh để vượt qua thử thách và giữ gìn sự đa dạng, bản sắc của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Triết học Mác-Lênin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc và văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa tinh thần của xã hội XHCN V.I Lênin cho rằng văn học vô sản là sự phát triển hợp quy luật của tổng hợp tri thức loài người được tích lũy dưới ách thống trị của tư bản, địa chủ và quan liêu Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc càng trở nên thiết yếu; trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, cần đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc, đồng thời tiếp thu và chọn lọc tinh hoa văn hóa từ các dân tộc trên thế giới để làm giàu và làm đẹp thêm văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, quá trình kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc không phải là một quá trình kế thừa giản đơn hay máy móc mà mang tính phức tạp.

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng, Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu học tập nghị quyết Trung ương X, khóa IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết Trung ương X
Tác giả: Ban Tư tưởng, Văn hóa Trung ương
Năm: 2004
2. Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Luận án Tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Tác giả: Đỗ Tuyết Bảo
Năm: 2001
3. Nguyễn Lương Bằng (2001), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục- đào tạo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục- đào tạo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2001
4. Nguyễn Lương Bằng, Giáo dục đạo đức cho học sinh Phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, Nxb Nghệ An quý I/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh Phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Nhà XB: Nxb Nghệ An quý I/2015
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chiến lược phát triển giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề triết học – con người – xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề triết học – con người – xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, Tạp chí Triết học,1998, số 2, tr 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển
12. TS. Đoàn Minh Duệ (2004), Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An, Nxb Nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An
Tác giả: TS. Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: Nxb Nghệ
Năm: 2004
13. Đoàn Minh Duệ (1997), Tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng các tỉnh Bắc miền Trung hiện nay, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng các tỉnh Bắc miền Trung hiện nay
Tác giả: Đoàn Minh Duệ
Năm: 1997
14. Thành Duy (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
16. Trần Thị Anh Đào (chủ biên) (2010), Công tác giáo dục lý luận cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giáo dục lý luận cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Thị Anh Đào (chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
17. Đoàn Nam Đàn (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên
Tác giả: Đoàn Nam Đàn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
18. TS. Đinh Thế Định (2005), Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho sinh viên đại học Vinh, Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho sinh viên đại học Vinh
Tác giả: TS. Đinh Thế Định
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1992
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w