Theo báo cáo kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Huyện ủy Lâm Hà đã nêu: “ Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong mộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN TÌNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN TÌNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 3Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp tỉnh Long An, Phòng Liên kết đào tạo Sau đại học; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng, Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, Chi cục Thống kê, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện, Phòng Tư pháp, đảng
ủy và các chi bộ, lãnh đạo doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà, đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình hoàn thiện Luận văn, song luận văn vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA 14 NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 14
1.1.1 Khái niệm nghị quyết 14
1.1.2 Khái niệm pháp luật và giáo dục pháp luật 15
1.2 Nội dung, hình thức học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp 22
1.3 Tầm quan trọng của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC 35
DOANH NGHIỆP Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 35
2.1 Khái quát chung về huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng và các doanh nghiệp trên địa bàn 35
2.2 Tình hình học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2015 43
Trang 5CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH
LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 62
3.1 Quan điểm về học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công nhân viên chức lao động trong các doanh nghiệp 62
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công nhân lao động trong doanh nghiệp 67
C KẾT LUẬN 86
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
F PHỤ LỤC 95
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FDI : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Dân số huyện Lâm Hà năm 2015 36 Bảng 2.2 Về cơ cấu tổ chức và các loại hình doanh nghiệp 40 Bảng 2.3 Số lượng các cuộc tập huấn, hội nghị liên quan đến pháp luật (2010 -
2015) 47 Bảng 2.4 Hình thức thi tìm hiểu pháp luật cho CNLĐ giai đoạn (2010-2015) 49
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định về vai trò của Đảng: "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" [45; tr.1]
Đảng lãnh đạo Nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội bằng Cương lĩnh chính trị, chiến lược, chính sách, chủ trương; bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện Đảng lãnh đạo, tổ chức mọi lực lượng cách mạng trong xã hội thực hiện cho được đường lối, chủ trương mà Đảng đề ra Còn Nhà nước với chức năng của mình thể chế hóa bằng pháp luật, quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo Hiến pháp và pháp luật Nhà nước quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội Uy tín và quyền lãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua hoạt động của Nhà nước Nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả là điều kiện rất quan trọng để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với Nhà nước và xã hội Nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước chính là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
Trong những năm qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc đổi mới học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng Ngày 08/02/2008, Bộ Chính trị khóa X đã ban
hành Thông báo kết luận số 169-TB/TW về tổ chức triển khai nghiên cứu, quán
triệt nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy và Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, trong đó nhấn mạnh nội dung: “Đổi mới việc nghiên cứu, quán
triệt các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận và các nghị quyết
Trang 9của Bộ Chính trị” [18, tr.1]; Ngày 17 tháng 3 năm 2011, Bộ Chính trị đã ra Chỉ
thị số 01-CT/TW về học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Doanh nghiệp và CĐCS trong doanh nghiệp là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Vì vậy, cán bộ, đảng viên, CNLĐ ở cơ sở phải nắm bắt sâu, kỹ các nghị quyết của Đảng, của cấp ủy các cấp tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương Thực tiễn cho thấy nghị quyết của Đảng dù đúng đắn, nhưng không thực sự thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân thì nghị quyết đó cũng chỉ trên giấy tờ, không thể đi vào cuộc sống Những năm qua, việc tổ chức học tập, quán triệt những chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước cho CNLĐ trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, trên thực tế vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện
nay Theo báo cáo kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Huyện ủy Lâm Hà đã nêu: “ Tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đoàn viên hội viên trong các tổ chức đảng, đoàn thể là khá phổ biến, nhất là những hội nghị học tập, quán triệt nghị quyết, tình trạng này chưa được đẩy lùi” [55, tr.2]; Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 07/01/2013 của Tỉnh ủy Lâm Đồng về việc tăng cường công tác đấu tranh phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng; chống “diễn biến hoà bình” trên địa bàn tỉnh,
đã nhận định và nêu rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống, ý thức tham gia học tập để nắm bắt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước còn yếu” [57, tr.1] Công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ CNLĐ trong các doanh nghiệp thời gian qua còn nhiều hạn chế, yếu kém cụ thể là: Cấp
Trang 10ủy Đảng, lãnh đạo doanh nghiệp coi đó là việc của các sở ngành của Tỉnh, Công đoàn cấp trên cơ sở, Ban tuyên giáo Huyện ủy, cơ quan quản lý lao động tại địa phương, Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong khi các ngành lại ít quan tâm triển khai thực hiện, đồng thời ý thức của CNLĐ còn nhiều hạn chế nên số nhiều CNLĐ ít hiểu biết chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, quyền lợi hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm mà không biết hoặc có biết không dám đấu tranh
để tự bảo vệ chính mình Vì vậy, việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công lao động là yêu cầu rất cần thiết và cấp bách
Cho đến nay, trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng chưa có một hệ thống giải pháp toàn diện, cụ thể, khả thi để đổi mới, nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với CNLĐ trong các doanh nghiệp Từ thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu cấp bách tìm giải pháp nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đối với CNLĐ trong các doanh nghiệp, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng
cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” để làm đề tài
luận văn thạc sĩ Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu
Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng để đưa nghị quyết vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” Cho đến nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp Qua nghiên cứu, tìm hiểu của học viên, có một số công trình tiêu biểu như sau:
+ Nhóm các cuốn sách, bài viết về tuyên truyền nghị quyết của Đảng pháp luật của Nhà nước:
Trang 11Năm 1997, Vụ giáo dục pháp chế Bộ tư pháp đã xuất bản cuốn sách: Một
số vấn đề về tuyên truyền phổ biến pháp luật trong giai đoạn hiện nay, xem
công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật là bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị
Tác giả Trần Giang Hàn với cuốn sách: Nữ công nhân khu vực công
nghiệp ngoài quốc doanh và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, do Trung tâm
Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ Việt Nam xuất bản năm 2015, đã đề cập đến việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cho lao động nữ khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh
Trong tác phẩm Đổi mới trong triển khai Nghị quyết của Đảng (2011), tác
giả Việt Anh đã phân tích về những thực trạng của việc triển khai nghị quyết của Trung ương đến các đảng bộ và chi bộ cơ sở, đồng thời đề xuất một số giải pháp đổi mới trong triển khai nghị quyết của Đảng
Tác giả Lê Thế Đạt (2005) với tác phẩm Triển khai, quán triệt Nghị quyết
thế nào cho có hiệu quả, đã tập trung làm rõ về những đòi hỏi cấp bách của sự
nghiệp cách mạng và yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp đó
Tác giả Nguyễn Quỳnh Giao với tác phẩm Kinh nghiệm rút ra từ quá
trình triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn hiện nay, Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc, đã đưa đến một cách nhìn mới về các bài
học rút ra từ triển khai nghị quyết ở các đảng bộ tỉnh; tác giả cho rằng đây là một khoa học và là nghệ thuật
Là một người công tác ở ngành Tuyên giáo, Phương Hằng đã đánh giá rất
sâu sắc khi tìm hiểu vấn đề Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống - công tác
Tuyên giáo luôn đi trước một bước, tác giả khẳng định rằng việc đưa nghị quyết
vào cuộc sống là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết ngành Tuyên giáo phải giữ vai trò tiên phong
Trang 12Viện Xây dựng Đảng, Giáo trình Xây dựng Đảng (Hệ cử nhân chính trị),
Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004; một số công trình nghiên cứu khoa học đã được in thành giáo trình dùng giảng dạy trong các trường chính trị
đã nghiên cứu sâu về cơ sở phương pháp luận, những yêu cầu cơ bản cũng như quá trình ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết
+ Nhóm các luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài như:
- Hoàng Ngọc Doanh, Chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của
Đảng trong Đảng bộ khối cơ quan kinh tế Trung ương giai đoạn hiện nay, Luận
văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, Hà Nội, 2007
- Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Hà Nội (2008) của tác giả Nguyễn
Đình Hiếu về Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của
Huyện uỷ Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện nay, đưa ra một cách nhìn
mới với góc độ người làm công tác triển khai nghị quyết của Đảng nhiều năm
- Ngô Xuân Minh, Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị
quyết của các huyện ủy ở Tuyên Quang giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Khoa học chính trị, Hà Nội, 2009
- Lê Quang Sơn, Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị
quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa
học chính trị, Hà Nội, 2010
- Tác giả Nguyễn Thị Thu Ba với đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo
dục, Vinh (2012) “Nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho
công nhân tại các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay”
- Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh của tác giả
Nguyễn Thị Việt Hà năm 2013 với đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục pháp
luật của hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay”
- Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục của Phạm Văn Triều năm 2014:
“Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng đối với cán bộ cơ
sở xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay”
Trang 13- Luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị của Lê Thanh Nhã với đề tài:
“Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở các doanh
nghiệp ngoài khu vực nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay” bảo vệ thành công năm 2015 tại Trường Đại học Vinh…
Các công trình nêu trên đã trình bày tương đối hệ thống về cơ sở lý luận của việc ra nghị quyết, học tập nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng như tình hình thực tiễn các địa phương đó tác động đến việc tổ chức thực hiện nghị quyết và tuyên truyền phổ biến pháp luật; đồng thời nêu lên những giải pháp nhằm đổi mới học tập nghị quyết và pháp luật cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu
Có thể khẳng định rằng, trên địa bàn huyện Lâm Hà thời gian qua, chưa
có công trình khoa học, luận văn thạc sĩ nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này Bởi vậy, tôi chọn đề tài để đi sâu khảo sát, đánh giá nhằm làm rõ thực trạng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Hà Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể, khả thi cho việc nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ công nhân lao động trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nhằm đưa ra các giải pháp toàn diện, cụ thể, khả thi để nâng cao chất
lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với
công nhân lao động trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nghị quyết, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Nghiên cứu thực trạng học tập, quán triệt nghị quyết và pháp luật trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng từ năm 2010 đến năm 2015
Trang 14Đề xuất những nhóm giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết và pháp luật trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Luận văn nghiên cứu quá trình học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Tỉnh ủy, của huyện ủy Huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Đội ngũ CNLĐ trong các doanh nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn đại diện tại: Một số doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI trên địa bàn huyện Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tuyên truyền quán triệt nghị quyết của Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp; thống kê số liệu; phỏng vấn trực tiếp; điều tra bằng phiếu, phương pháp đối chiếu so sánh;
điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa của đề tài
Làm rõ lý luận việc học tập, quán triệt nghị quyết và thực trạng công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công nhân lao động trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng từ năm
Trang 152010 đến nay Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công nhân lao động trong các doanh nghiệp ở huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo và
tổ chức thực hiện để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công nhân lao động ở huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở doanh nghiệp, và tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 20/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp theo tinh thần Chỉ thị số 22-CT/TW ngày
05/6/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X)
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 16B NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm nghị quyết
Tại Hội nghị Hội đồng Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô), họp từ ngày 15 đến ngày 17/01/1904, lần đầu tiên
thuật ngữ “nghị quyết” xuất hiện trong Dự thảo Nghị quyết về những biện pháp
nhằm khôi phục hòa bình trong Đảng Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của nhà
xuất bản Văn hóa thông tin năm 1999 định nghĩa như sau:"Nghị quyết là quyết định đã được thông qua ở hội nghị, sau khi vấn đề đã được tập thể thảo luận"
[60, tr.838]
Quyết định số 31-QĐ/TW ngày 01/10/1997, của Bộ Chính trị, khóa VIII, ban hành quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng đã nêu: "Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường
lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch các vấn đề cụ thể” [17, tr.2] Theo quy
định của Đảng, chỉ các cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp từ Trung ương đến
cơ sở, các cơ quan lãnh đạo của tổ chức đảng được lập ra theo quy định của Điều lệ Đảng hoặc theo quyết định của Bộ Chính trị và các đảng đoàn, ban cán
sự đảng các cấp mới có thẩm quyền ban hành nghị quyết
Nghị quyết là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội cho cả nước hay cho từng vấn đề cụ thể của một địa phương, cơ sở Nghị quyết phải được hình thành trên
cơ sở khách quan khoa học Tùy theo từng cấp, từng ngành, từng địa phương,
Trang 17đơn vị khác nhau mà có nghị quyết của cấp mình, nhưng mục đích cuối cùng là phải thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có hiệu quả cao nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới mà Đảng ta
đề ra Nghị quyết của tổ chức Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa thành viên trong tổ chức đảng tán thành Tổ chức Đảng quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên Tổ chức Đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng, toàn Đảng phải chấp hành nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết do vậy, các nghị quyết được ban hành thể hiện ý chí của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân và là cơ sở cho mọi quyết định, chủ trương của Nhà nước Mọi nghị quyết của Đảng đều tác động trực tiếp đến xã hội và đời sống nhân dân
Như vậy, Nghị quyết của Đảng là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên
về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch các vấn đề cụ thể với trên một nửa số thành viên của tổ chức Đảng tán thành
1.1.2 Khái niệm pháp luật và giáo dục pháp luật
+ Khái niệm pháp luật
Khi xuất hiện nhà nước thì cũng đồng nghĩa với việc pháp luật được ra đời, hay xét về một phương diện khách quan thì nhà nước và pháp luật phát sinh cùng một nguồn gốc, khi mà chế độ tư hữu được xác lập, xã hội phân hóa thành các giai cấp đối kháng, và mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và trở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Để làm rõ khái niệm về pháp luật, ngoài việc tìm hiểu những vấn đề nghiên cứu của các
Trang 18nhà khoa học khác, trước hết chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc ra đời của nhà nước và pháp luật theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong buổi ban đầu, trước tiên và phổ biến nhất là nhiều phong tục tập quán được "nhà nước hóa" thành tập quán pháp Có những tập quán pháp không được nhà nước chính thức thừa nhận nhưng được mặc nhiên công nhận, và được giai cấp thống trị sử dụng như là một công cụ đắc lực cho quá trình điều hành xã hội của giai cấp mình Nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của xã hội thì sự ra đời của luật thành văn là một tất yếu, bởi vì tập quán pháp không thể "đảm đương" được việc điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng rãi, phong phú, sâu rộng nảy sinh trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt thì “Pháp luật là những quy phạm hành vi
do nhà nước ban hành mà mọi người buộc phải tuân theo nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” [60; tr 951]
Vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
+ Khái niệm giáo dục pháp luật
Tuyên truyền phổ biến pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng
cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
Từ việc phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm tuyên truyền phổ
biến pháp luật theo hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: là truyền đạt tinh thần nội dung pháp luật, giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù
hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành
Trang 19Nghĩa thứ hai: tuyên truyền, phổ biến pháp luật là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến, pháp luật; xây dựng chương trình kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tỏng kết việc thực hiện chương trình; kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng
cao trình độ lý luận về tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền phổ biến pháp luật cần thực hiện rộng rãi cách truyền đạt thông tin hai chiều Nghĩa là, trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải sử dụng đa dạng các hình thức thông tin phản hồi từ cơ sở, coi trọng ý kiến của đông đảo nhân dân Thông tin phản hồi được thực hiện dưới nhiều hình thức như: tọa đàm, đói thoại, trao đổi, góp ý từ những hình thức này, mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước sau khi phổ biến, lấy ý kiến nhân dân sẽ được thực tiễn cuộc sống ở cơ sở kiểm nghiệm, bổ sung và kiến nghị, như vậy có thể hiểu, tuyên truyền, phổ biến pháp luật là làm cho các cá nhân người lao động và toàn thể xã hội ý thức được pháp luật, để họ tham gia
một cách tự giác, có trách nhiệm và hiệu quả trong việc thực thi pháp luật
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật không những thông qua nói và viết, mà bằng việc làm, bằng hành động cụ thể, nói đi đôi với làm; người làm công tác tuyên truyền phổ biến, pháp luật phải là những người nắm chắc các kiến thức pháp luật, có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn mà cần phải có phương pháp thực hiện hiệu quả và phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói tay làm trong quá trình truyền đạt và trong các hoạt động bổ trợ cho việc truyền
đạt
1.1.3 Khái niệm học tập, quán triệt nghị quyết
Học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là công tác tổ chức học tập, nghiên cứu, tiếp thu và quán triệt các nghị quyết của Đảng từ Trung ương đến
Trang 20các cấp ủy địa phương, từ trong nội bộ Đảng ra các tầng lớp nhân dân Tức là, phổ biến, quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng nhằm chỉ đạo, hướng dẫn một nội dung công tác, một lĩnh vực nào đó để thông suốt từ trên xuống dưới Đảng lãnh đạo toàn diện cách mạng Việt Nam bằng đường lối, thông qua các nghị quyết của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan cao nhất của Đảng, thường thì cứ nhiệm kỳ 5 năm tổ chức một lần để thông qua nghị quyết về đường lối toàn diện phát triển đất nước cho nhiệm kỳ 5 năm tới và tầm nhìn 10, 20, 30 năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cơ quan cao nhất của Đảng giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ cụ thể hóa đường lối của Đảng trong từng lĩnh vực, bằng các nghị quyết chuyên đề, được thông qua trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Vì vậy, việc tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc những nội dung cơ bản nghị quyết của Đảng trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp là việc làm đầu tiên và có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng đến kết quả của quá trình tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết Do tầm quan trọng của công tác tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước nên nó là trách nhiệm của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phải cụ thể hóa thành các nghị quyết chuyên đề, các chương trình hành động, hoặc các kế hoạch để thực hiện nhằm đưa nghị quyết vào cuộc sống
Thực tiễn cho thấy nghị quyết đúng đắn nhưng không được thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, thì nghị quyết ấy không đi vào cuộc sống, kém hiệu quả; vì vậy công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt
Bên cạnh đó ta có thể hiểu học tập, quán triệt pháp luật của Nhà nước là công tác tổ chức học tập, nghiên cứu, tiếp thu và quán triệt các văn bản pháp luật
Trang 21của nhà nước cho mọi tầng lớp nhân dân Nghĩa là, phổ biến, quán triệt hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình thể hiện
ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sự thuyết phục và giáo dục mọi
người tôn trọng thực hiện và bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
1.1.4 Khái niệm doanh nghiệp
Theo Điều 4, Luật Doanh nghiệp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh”
Đất nước ta thời kỳ bao cấp chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế đó là kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh, vì vậy kinh tế chậm phát triển, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Đại hội VI năm 1986 của Đảng cộng sản Việt Nam đã đổi mới tư duy nhận thức, đổi mới tư duy kinh tế Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội năm 2011, nhờ đó, đất nước ta kinh tế phát triển, xã hội ổn định Từ khi đổi mới đến nay, đất nước ta luôn tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và cùng nhau phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước bằng cả hệ thống pháp luật
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có
cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 22DNNN là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%), DNNN nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có
cổ phần, vốn góp chi phối có tỷ lệ trên 50% và dưới 100%
Tại khoản 8 Điều 4 Luật số 68/2014/QH 13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 Luật Doanh nghiệp 2014 có đưa ra DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Cũng tại Điều này, khoản 9 có nêu Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam
Khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp 2014 có nêu: Doanh nghiệp tư nhân
là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu tự trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cũng đều được Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp
Vậy Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh (Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005); Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014)
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo
Trang 23Theo công bố của cục thống kê, đến hết tháng 12 năm 2014, cả nước có hơn 401.400 doanh nghiệp đang hoạt động và là con số cao nhất kể từ năm
2011 Trong số đó 3.100 doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước, 11.300 doanh nghiệp thuộc khu vực vốn đầu tư nước ngoài và 387.000 doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài nhà nước Tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là hơn 11,8 triệu người
Đóng góp của các loại hình doanh nghiệp vào GDP năm 2015 là khá lớn,
cụ thể Doanh nghiệp nhà nước là 27,8%; Doanh nghiệp dân doanh là 46,1% và Doanh nghiệp FDI là 17,9%
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương
Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập
Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội
Sau khi các luật về đăng ký kinh doanh được ban hành và sửa đổi như: Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Ðầu tư trực tiếp của nước ngoài và đặc biệt
là Luật Doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống, hoạt động trong khu vực doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường thông thoáng hơn, sản xuất kinh doanh sôi động hơn, vai trò của doanh nghiệp được ghi nhận và có nhiều tiến bộ, nhất là trong các ngành công nghiệp, thương mại, vận tải
Trang 241.2 Nội dung, hình thức học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp
1.2.1 Các nghị quyết của Đảng được quán triệt ở doanh nghiệp
- Các nghị quyết của Trung ương
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, nhiệm kỳ 2005 -
2010 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng diễn ra trong thời điểm lịch
sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng Sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta trải qua 20 năm Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vừa mới kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được tổ chức từ ngày 18 đến 25 tháng 4 năm 2006, tại Hà Nội, 1.176 đại biểu, đại diện cho 3,1 triệu đảng viên đã tham dự Đại hội Chủ đề của Đại hội là:
"Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển" Đại hội X của Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật để kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu to lớn đã đạt được
và cả những yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc thực hiện nghị quyết Đại hội IX của Đảng và nhìn lại 20 năm đổi mới; từ đó tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm, định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2006 - 2010); phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, có đủ trí tuệ, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X, đặc biệt là thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mở ra những
triển vọng cho đất nước ta trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Nghị quyết, kết luận của các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ Hội nghị lần thứ ba đến Hội nghị lần thứ chín, khóa X
Trang 25Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, nhiệm kỳ 2011
- 2015 Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng được khai mạc ngày 12/01/2011 và
bế mạc vào ngày 19/01/2011 tại Hà Nội; 1377 đại biểu đại diện cho trên 3,6 triệu đảng viên về dự Đại hội Đại hội XI của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc thập kỷ đầu của thế kỷ XXI và đã trải qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua Báo cáo chính trị; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011
- 2020) và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (đã được bổ sung, sửa đổi); thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là những văn bản quan trọng, có ý nghĩa to lớn, sâu sắc cả trước mắt và lâu dài Nội dung các văn kiện có nhiều điểm mới Chẳng hạn, đối với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 201l), có nhiều điểm mới nhưng vẫn đảm bảo tính kế thừa, trung thành với Cương lĩnh 1991 trên những vấn đề có tính nguyên tắc nhưng có bổ sung phát triển, căn cứ vào đặc điểm của tình hình mới, bối cảnh mới, yêu cầu phát triển của đất nước Những nội dung mới này được phân tích, luận giải làm rõ hơn, đảm bảo tính kế thừa và nguyên tắc kiên định chủ nghĩa xã hội Các văn kiện Đại hội XI có nhiều điểm mới bổ sung, phát triển về: đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế; xây dựng nhà nước pháp
Trang 26quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, v.v… Các quan điểm mới trong các văn kiện đảm bảo tính thống nhất, thể hiện sự nhất quán của Đảng ta trong việc làm
rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cụ thể hóa trong từng chặng đường, bước đi cụ thể Nội dung các văn kiện có nhiều điểm mới, cần làm rõ những luận điểm lớn, luận điểm cơ bản, để cung cấp cho phù hợp với các đối tượng khác nhau
Những nội dung quan trọng trong văn kiện cần quán triệt và tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả ở các ngành, các cấp Muốn vậy, phải quán triệt sâu rộng từ trong nội bộ Đảng ra quần chúng Nhân dân, phải tạo được sự thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành và Nhân dân, nhất là quán triệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp nêu trong Nghị quyết Từ đó, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi các Nghị quyết
- Nghị quyết, kết luận các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
từ Hội nghị lần thứ ba đến Hội nghị lần thứ mười hai, khóa XI
- Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở do Bộ Chính trị ban hành
- Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28-1-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước",
- Kết luận 65-KL/TW ngày 04/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở do Ban Bí thư ban hành
- Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 14/5/2011, về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
- Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban bí thư TW Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09-12-2003 của Ban bí thư
Trang 27TW Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
- Các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng IX
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX, nhiệm
kỳ 2010 - 2015 (Đại hội được tiến hành từ ngày 27/9 đến ngày 29/9/2010)
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ X (tổ chức
từ ngày 13 đến 16/10/2015)
Các nghị quyết nêu trên là những nội dung cơ bản làm cơ sở để tổ chức học tập, quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cho CNLĐ trong các doanh nghiệp ở huyện lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng trong những năm qua
1.2.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước được tuyên truyền, phổ biến
Quá trình giáo dục pháp luật (GDPL) cho CNLĐ phải có những nội dung nhất định, nội dung giáo dục không chỉ gắn liền với thực tiễn của công việc hàng ngày, mà nó còn phải đảm bảo đi chuyên sâu vào các nội dung của các văn bản pháp luật Việc xác định đúng nội dung GDPL sẽ đảm bảo cho hiệu quả giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao, chất lượng và hơn hết với hiệu quả đạt được sẽ giúp cho CNLĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
- Luật Doanh nghiệp số 68 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015
- Luật Đầu tư số 67 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015
Trang 28- Luật Phá sản số 51 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014,
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015
- Luật Cạnh tranh số 27 năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm
2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005
- Luật Giao thông đường bộ số 23 năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng
11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009
- Luật Bảo vệ môi trường số 55 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015
- Bộ luật Lao động số 10 năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm
2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013
- Luật Công đoàn số 12 năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm
2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
- Luật Bảo hiểm xã hội số 58 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 (Trừ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018)
- Luật Bảo hiểm y tế số 25 năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm
2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế
số 46 năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
Trang 29XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 13 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015
- Luật Việc làm số 38 năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 16 tháng 11 năm
2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 (Trong đó Bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Chương VI của Luật)
- Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 phê duyệt chương trình hành động quốc gia phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành cho cán bộ, nhân dân
- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
- Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012
- Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng quản lý, khai thác tủ sách pháp luật
- Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 05/11/2010 của Bộ tư pháp quy định
về báo cáo viên pháp luật
- Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa XI)
Trang 30- Quyết định số 27/2013/NĐ-CP ngày 19/5/2013 của Thủ tướng chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
- Một số Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các bộ ngành Trung ương… có liên quan trực tiếp đến hoạt động của địa phương, doanh nghiệp
- Nghị định 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ về việc hướng dẫn Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc
1.2.3 Các Nghị quyết của Công đoàn
Các doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn, bên cạnh việc tuyên truyền tìm hiểu pháp luật của Nhà nước còn phải triển khai các nghị quyết của Công đoàn
từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đến cấp mình, các nghị quyết cần triển khai đó là : Nghị quyết Đại hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2008-
2013 và các nghị quyết chuyên đề như: Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT ngày 18
tháng 6 năm 2009 của đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về “
đổi mới, nâng cao chất ượng thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể”; Nghị quyết số 4a/NQ-TLĐ ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Ban
chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa X về “ Tiếp tục đẩy mạnh
và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn giai đoạn 2020”; Nghị quyết số 6a/NQ-TLĐ ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Ban chấp
2010-hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa X về “ Tiếp tục đổi mới nội
dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở”;
Nghị quyết số 6b/NQ-TLĐ ngày 29 tháng 01 năm 2011 của Ban chấp hành
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa X về “ Công tác vận động nữ công
nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nghị quyết đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2013-
2018 và các nghị quyết chuyên đề như: Nghị quyết số 4b/NQ-TLĐ ngày 15 tháng 7 năm 2014 của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa
Trang 31XI về “ Nâng cao hiệu quả công tác tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật
trong công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới”; Nghị quyết số
6b/NQ-TLĐ ngày 03 tháng 8 năm 2015 của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam khóa XI về “ Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban
kiểm tra công đoàn” Nghị quyết Đại hội lần thứ VI và VII Liên đoàn Lao động
tỉnh Lâm Đồng; Nghị quyết Đại hội IV và V Liên đoàn Lao động huyện Lâm Hà
và các nghị quyết chuyên đề của công đoàn cấp trên cơ sở Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa X và khóa XI
1.2.4 Hình thức học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng và tuyên truyền, giáo dục pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ công nhân lao động ở doanh nghiệp
Sau khi có hướng dẫn học tập, quán triệt nghị quyết của cấp trê, các cấp
uỷ đảng chỉ đạo các tổ chức đảng ở cơ sở căn cứ vào tài liệu Hỏi - Đáp về các văn kiện Đại hội của Đảng do Ban Tuyên giáo Trung ương phát hành, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến qua sinh hoạt của công nhân viên chức, người lao động; chỉ đạo báo chí của ngành, địa phương tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội của Đảng… Các cơ quan thông tin đại chúng chủ động xây dựng kế hoạch, có chuyên trang, chuyên mục phổ biến, tuyên truyền sâu rộng các văn kiện Đại hội của Đảng
Còn đối với việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, qua lý luận và cả thực tiễn trong đời sống hoạt động hàng ngày, GDPL có rất nhiều hình thức khác nhau tùy vào từng điều kiện và nội dung cụ thể để có các hình thức GDPL phù hợp Tuy nhiên, đối tượng giáo dục này chính là phổ biến, giáo dục pháp luật quy định hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật dưới các hình thức như sau:
1 Phổ biến pháp luật trực tiếp như: Tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật
2 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa đài truyền thanh, truyền hình, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động, đăng tải trên Công báo,
Trang 32đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư
3 Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi viết, sân khấu hóa…
4 Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải
ở cơ sở
5 Lồng ghép trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở
6 Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả tốt nhất
1.3 Tầm quan trọng của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Thực tiễn cách mạng nước ta 86 năm qua từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã chứng minh công tác lý luận, công tác tuyên truyền, cổ động là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, viết cuối năm 1843, C.Mác đã khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập
vào quần chúng” [23; tr.588] Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình
liên tục, V.I.Lênin khẳng định công tác tư tưởng có ba hình thái: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: Sản xuất ra hệ tư tưởng; phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện
Trang 33Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào quần chúng Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị, công tác tuyên truyền nhằm giác ngộ lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ
cách mạng do Đảng đề ra Trong tác phẩm Đường cách mệnh do Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết năm 1927, Người đã trích hai câu trong tác phẩm “Làm gì” của Lênin: "Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong" [38; tr.342] Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công tác thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [39; tr 273-274] Tháng 5 năm 1966, tại lớp huấn luyện đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức, Người nói: "Không có lý luận
về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng Vì vậy, các cô các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ” [43; tr.113]
Nghị quyết, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) chỉ rõ: “Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo
trong đời sống tinh thần xã hội”
Trong quá trình đổi mới, nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều biện pháp nhằm
Trang 34nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân Đặc biệt là những năm gần đây, công tác tuyên truền phổ biến, giáo dục pháp luật đã được thực hiện theo các chương trình, kế hoạch cụ thể được Chính phủ phê duyệt
Với nhận thức đúng đắn như vậy, trong nhiều năm qua, công tác GDPL luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về GDPL được ban hành
Ngày 09/12/2003 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số 32/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Chỉ thị
đã nêu rõ việc tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm
"góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân" Ngày 11/5/2007 của Ban bí thư Trung ương Đảng thông báo kết luận số 74-TB/TW về kết luận của Ban bí thư tiếp tục thực hiện chỉ thị 32-CT/TW của Ban bí thư TW Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, GDPL nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân Thông báo đã chỉ rõ những điểm tích cực đã đạt được trong quá trình thực hiện Chỉ thị, nêu lên những tồn tại, hạn chế và đề ra phương hướng trong thời gian tới cho công tác GDPL là "Tiếp tục quán triệt sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân theo đúng tinh thần của Chỉ thị 32-CT/TW, gắn với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, các nghị quyết của Bộ Chính trị (khoá IX) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)"
Đảng ta trong suốt chặng đường lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo công cuộc đổi mới đã xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội
Trang 35Ban hành nghị quyết đúng, tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết có hiệu quả góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị Nhà nước đã chủ động hơn, năng động hơn, nêu cao trách nhiệm hơn trong quản
lý đất nước và xã hội theo pháp luật Cơ quan quản lý Nhà nước trong sạch, vững mạnh hơn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh là công việc mới, chưa có trong tiền lệ Đảng ta đã xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991) Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 Tại Đại hội XI của Đảng, Đảng đã bổ sung và phát triển Cương lĩnh dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 2011) Cùng với việc hoàn thiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó tập trung đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Cùng với sự đổi mới trong hoạch định đường lối, ở các cấp ủy địa phương Việc tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết, các quy định của pháp luật có hiệu quả trong đó có huyện huyện Lâm Hà, qua đó đã giúp phát huy lợi thế, khai thác các tiềm năng và thế mạnh như đất đai, nguồn lực con người, truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương, đất nước ở địa phương
Kết luận chương 1
Việc quán triệt nghị quyết của Đảng và tuyên truyền phổ biến pháp luật của Nhà nước đến với đối tượng CNLĐ trong giai đoạn hiện nay được chú trọng
Doanh nghiệp là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của công tác học tập, quán triệt nghị quyết ở doanh nghiệp là đội ngũ
Trang 36CNLĐ Chính vì vậy, làm tốt công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay gồm nhiều hình thức phong phú, đa dạng đây cũng chính là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể ở các địa phương
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo định hướng nhằm nâng cao hiệu quả công tác này Bởi vậy đã góp phần quan trọng trong việc định hướng cho các tổ chức cơ sở đảng thực hiện hiệu quả học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương nhất là trong các doanh nghiệp
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
2.1 Khái quát chung về huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng và các doanh nghiệp trên địa bàn
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tổ chức Đảng
bộ huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Lâm Hà là huyện miền núi thuộc tỉnh Lâm Đồng và có 30 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc gốc Tây nguyên là người Kơ ho chiếm tỷ lệ 12% dân số,
có 04 tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài và Tin lành); Lâm Hà thuộc khu vực nam Tây nguyên, nằm ở phía tây bắc tỉnh Lâm Đồng, ở tọa độ vĩ tuyến
11040’ - 12005’ , phía Bắc giáp huyện Đam Rông và thành phố Đà Lạt, phía Nam giáp huyện Di Linh, phía Đông giáp thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng và huyện Lạc Dương, phía Tây giáp huyện Đam Rông và tỉnh Đắc Nông Trung tâm huyện cách thành phố Đà Lạt về phía Tây - Tây Nam theo Quốc lộ 27 khoảng 47 km, nằm trên quốc lộ 27 nối trục đường chính của tỉnh Lâm Đồng với tỉnh Đắc Lắc và tỉnh lộ 725 nối liền thành phố Đà Lạt - huyện Lâm Hà - huyện
Di Linh - huyện Bảo Lâm Với vị trí này huyện Lâm Hà rất thuận lợi trong kết nối phát triển kinh tế - xã hội Tiền thân của huyện Lâm Hà là vùng Kinh tế mới
Hà Nội tại Lâm Đồng từ năm 1976 sau giải phóng Sài Gòn Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 157/HĐBT sáp nhập 05 xã thuộc huyện Đức Trọng của Tỉnh Lâm Đồng với vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng để thành lập huyện Lâm Hà Ngày 28 tháng 10 năm 1987, huyện Lâm Hà chính thức được thành lập Từ khi thành lập
Trang 38đến nay gần 30 năm, huyện Lâm Hà luôn có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh
tế, chính trị, quốc phòng, an ninh của tỉnh
Huyện Lâm Hà có tổng diện tích tự nhiên 93.976.5 ha, bằng 16,3% diện tích của tỉnh Lâm Đồng, là huyện nằm trên cao nguyên Di Linh và một phần cao nguyên Lang Biang, có độ dốc cao trung bình trên 900m so với mực nước biển Khi mới thành lập huyện, dân số 90.033 người [26; tr.7], hiện nay (năm 2015) toàn huyện có tổng số dân là 146.616 người với 36.588 hộ, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây nguyên là 19.542 người với 3.618 hộ chiếm 13,3% dân
số, với 30 dân tộc anh em; số dân sống ở đô thị chiếm 20,5%, nông thôn chiếm 79,5%, mật độ dân số 153 người/ km2 So với 12 huyện, thành trong tỉnh thì Lâm Hà thuộc huyện đông dân số đứng thứ hai của tỉnh Lâm Đồng
Bảng 2.1 Dân số huyện Lâm Hà năm 2015
Trang 39Huyện Lâm Hà hiện có 16 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 02 thị trấn gồm: Thị trấn Đinh Văn, thị trấn Nam Ban và 14 xã: Tân Văn, Đạ Đờn, Phú Sơn, Phi Tô, Tân Hà, Liên Hà, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Tân Thanh,
Mê Linh, Đông Thanh, Gia Lâm, Nam Hà Thị trấn Đinh Văn là trung tâm hành chính của huyện Lâm Hà
Huyện Lâm Hà thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Tỉnh sau thành phố Đà Lạt và thành phố Bảo Lộc; nằm trên tuyến đường giao thông quan trọng xuyên qua các tỉnh Đắc Nông và Đắc Lắk của khu vực Tây nguyên, đây là điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế như: xuất nhập khẩu, du lịch sinh thái, phát triển thương mại biên giới, tiếp cận khoa học - kỹ thuật cao ; là vùng đất tốt, khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển mạnh các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, tiêu, cây ăn quả ; chăn nuôi đại gia súc, gia cầm cung cấp các thành phố lớn Nguồn nhân lực trong huyện dồi dào Đảng bộ và Nhân dân huyện Lâm Hà
có truyền thống đấu tranh cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đó là những tiềm năng, thế mạnh, lợi thế để huyện Lâm Hà phát triển nhanh và bền vững
Khi mới thành lập, huyện Lâm Hà là một trong những huyện nghèo, chủ yếu là nông - lâm - nghiệp chiếm hơn 80%; công nghiệp - thương mại - dịch vụ nhỏ bé; cơ sở hạ tầng thấp kém Sau gần 30 năm thành lập, với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện, cùng với sự quan tâm hỗ trợ tích cực về vật chất và tinh thần của Thủ đô Hà Nội, đến nay nền kinh tế thực sự có bước phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh năm 1994) bình quân giai đoạn 2010 - 2015 đạt 12,2% Cơ cấu kinh
tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy từ 81,25% năm 1987, đến nay giảm còn 54%; công nghiệp - xây dựng năm 1987 là 6,5%, đến nay là 13%; thương mại dịch vụ năm 1987 là 8,5%, đến nay 33%
Trang 40Tính đến tháng 12/2015, toàn huyện có 350 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Năm 2000 chỉ có 31 doanh nghiệp đăng ký với số vốn hơn 27 tỷ VNĐ, đến nay đã 350 doanh nghiệp hoạt động với số vốn đăng ký 4.233 tỷ
VNĐ Thu ngân sách nhà nước ngày càng tăng cao, đến năm 2015 đã đạt trên
300 tỷ đồng Tốc độ tăng thu bình quân hàng năm gần 14% GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 1987 chỉ có 3,8 triệu VNĐ, năm 2015 đạt 47,4 triệu
VNĐ, tăng hơn 11 lần, cao hơn mức bình quân của Tỉnh (39,6 triệu đồng)
Toàn huyện đã có hệ thống đường giao thông với tổng chiều dài 1.605
km, trong đó quốc lộ 27 và quốc lộ 28 dài 36 km bằng bê tông, nhựa hóa và hiện đang tiếp tục nâng cấp mở rộng, đường tỉnh lộ ĐT 724, ĐT 725 và ĐT 726 dài
130 km đã được nhựa hóa 96,07 km tỷ lệ 73,9%, đường huyện liên xã dài 121,0
km, trong đó đường bê tông nhựa và bê tông xi măng 84,4 km đạt 70%, đường cấp phối sỏi đồi dài 36,6 km, đạt 30% Đường liên xã, liên thôn dài 377 km, đường thôn, xóm nội đồng có tổng chiều dài 942 km, trong đó đường bê tông xi măng và cấp phối đồi 330 km, tỷ lệ 35% Điện lưới quốc gia đã có trên 95% số
hộ dân được sử dụng
Văn hóa xã hội có bước phát triển mạnh, chính sách an sinh xã hội được thực hiện có hiệu quả Đặc biệt công tác xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng Là một huyện có số lượng dân di cư tự do cao, khoảng 22.000 hộ, hầu hết các hộ gia đình đều từ các tỉnh miền núi phía bắc và khu vực miền trung vào sinh sống lập nghiệp Đến nay đã cơ bản ổn định được số dân di cư tự do, đời sống ngày càng ổn định Năm 1987, toàn huyện có hơn 37% hộ đói nghèo, đến nay tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số là 13% (theo chuẩn mới)
Giáo dục và Đào tạo huyện Lâm Hà có nhiều tiến bộ vượt bậc, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Các hoạt động văn hóa văn nghệ ở cơ sở được tổ chức rất phong phú, đa dạng, nhất là các lễ hội truyền