1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường dự bị đại học dân tộc sầm sơn

108 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, hoạt động giáo dục NGLL còn tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc và trải nghiệm các vấn đề được đặt ra trong thực tiễn giúp các em có khả năng ứng phó với những tình huống của cu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ THỊ LÝ

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG DỰ BỊ

ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ THỊ LÝ

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG DỰ BỊ

ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN

Chuyên ngành: LL& PPDH Bộ môn Giáo dục Chính trị

Mã số: 60 14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM THỊ BÌNH

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng

dẫn của cô giáo TS Phạm Thị Bình, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

chân thành tới cô - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình viết luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Khoa Giáo dục chính trị, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Vinh cùng các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Dự bị Đại học dân tộc Sầm Sơn, các thầy, cô giáo trong Trường đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong sự chỉ dẫn góp ý của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 4

A MỞ ĐẦU 5

B NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN 13

1.1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc Sầm Sơn 40

Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN 51

2.1 Kế hoạch thực nghiệm 51

2.2 Quá trình thực nghiệm 52

2.3 Kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm 67

Chương 3 QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN 75

3.1 Quy trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc Sầm Sơn 75

3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc Sầm Sơn 81

C KẾT LUẬN 95

D DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 98

E DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

F PHỤ LỤC 103

Trang 5

NGLL : Ngoài giờ lên lớp

UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc WHO : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước thì vấn

đề phát triển nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng Con người mới trong thời kì CNH, HĐH ngoài việc nắm vững tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ,

có phẩm chất đạo đức tốt cần phải có kĩ năng sống (KNS), kĩ năng hoà nhập Nền giáo dục nước ta cũng đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận KNS, đó là: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống

Giáo dục KNS nói chung và giáo dục KNS phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh nói riêng là điều rất quan trọng Cuộc sống ngày càng rủi ro

và phức tạp bởi sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, tất cả những điều đó đều ảnh hưởng một cách gián tiếp hoặc trực tiếp đến con người sống trong xã hội và mức độ ảnh hưởng đáng lưu tâm nhất là học sinh, đặc biệt với học sinh dân tộc thiểu số (DTTS), bởi đây là đối tượng mà KNS còn hạn chế do bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân như: môi trường sống, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý

Thực tế cho thấy, tình trạng học sinh thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiện qua hành vi ứng xử không phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với các tình huống trong cuộc sống như: ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho người khác khi sử dụng điện thoại di động; tình trạng bạo lực học đường, học sinh có lối sống lệch lạc,

bỏ học, vi phạm pháp luật… ngày càng gia tăng Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên nhưng nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu KNS, chưa được tiếp cận với chương trình giáo dục KNS nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh DTTS nói riêng còn thiếu hụt những KNS cần thiết Chính vì

Trang 7

thiếu KNS nên nhiều học sinh đã giải quyết các vấn đề gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến rủi do và các tệ nạn xã hội

Có thể nói KNS của học sinh được hình thành qua nhiều con đường như thông qua hoạt động học tập và giảng dạy, các sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa, chương trình phối hợp giữa Nhà trường và các tổ chức xã hội cũng như các hoạt động khác Nhưng một trong con đường có tác động nhiều và ảnh hưởng đến sự hình thành KNS cho học sinh là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (NGLL) Hoạt động giáo dục NGLL có liên quan đến việc mở rộng kiến thức, tình cảm, tư tưởng, thể chất và tinh thần của học sinh Việc kết hợp học tập

và rèn luyện kỹ năng thực hành giúp học sinh hiểu sâu hơn, nắm được bản chất các sự vật hiện tượng, tạo niềm tin khoa học, óc sáng tạo trong giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này

Hơn nữa, hoạt động giáo dục NGLL còn tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc và trải nghiệm các vấn đề được đặt ra trong thực tiễn giúp các em có khả năng ứng phó với những tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người xung quanh, sống tích cực, chủ động

và lành mạnh Thế nhưng hoạt động giáo dục KNS trong các nhà trường hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra Nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục KNS chưa đa dạng, phong phú, chưa thu hút học sinh tham gia

Trường Dự bị đại học dân tộc (DBĐHDT) Sầm Sơn là trường chuyên biệt thuộc hệ thống các trường đại học Nhiệm vụ của Trường là bổ túc, nâng cao trình độ văn hóa cho học sinh DTTS đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học bổ túc để có đủ kiến thức vào học các trường đại học, cao đẳng Thực tiễn dạy và học ở trường DBĐHDT Sầm Sơn cho thấy, trình độ của học sinh dân tộc còn hạn chế nhiều mặt như chất lượng đầu vào còn thấp, trình độ văn hóa chung chưa cao, còn hạn chế về các kỹ năng Học sinh DBĐHDT Sầm Sơn hầu hết là con em các DTTS từ vùng sâu, vùng xa xuống học tập và sinh hoạt tập thể mang

Trang 8

theo rất nhiều tập tục lạc hậu, nhiều thói quen sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kinh nghiệm thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống

Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay đòi hỏi thế hệ trẻ là người dân tộc không chỉ làm chủ tri thức, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền mà còn phải thực sự tự tin và có những kỹ năng nhất định nhằm thích ứng với những biến động của hoàn cảnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn chưa có chiều sâu đặc biệt là việc giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL chưa đạt được hiệu quả mong muốn; kỹ năng thực hành của một số học sinh trong các hoạt động thường ngày chưa tốt; một số giáo viên còn lơ là, xem nhẹ vai trò của nội dung giáo dục này dẫn đến chưa nhiệt tình, năng nổ trong việc phối hợp thực hiện Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn

vấn đề: “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục

ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc Sầm Sơn” làm đề tài

nghiên cứu luận văn Thạc sĩ chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị

Có nhiều công trình khoa học, cuốn sách và đề tài luận văn Thạc sĩ, luận

án Tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề KNS và giáo dục KNS Qua bước đầu tìm hiểu, chúng tôi thấy:

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ KNS đã xuất hiện trong một

số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục

những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ Những

nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan điểm chung về KNS cũng như đưa ra một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống

Trang 9

HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng

Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau Hội

thảo Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống do UNESCO tài trợ được tổ chức từ

ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về khái niệm KNS và trách nhiệm giáo dục KNS cho người học

Năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số

453/KH-BGDĐT ngày 30/07/2010 về việc tăng cường thực hiện giáo dục KNS

trong tất cả các bậc học Theo chủ trương này, Bộ đã cho phép thực hiện biên

soạn và xuất bản bộ tài liệu về tích hợp giáo dục KNS qua dạy học các môn học

ở cả ba cấp học phổ thông Trong các tài liệu này, các tác giả đã nêu khá rõ khái niệm, các cách phân loại, nguyên tắc, phương pháp tiếp cận, quy trình để giáo dục KNS, đồng thời chỉ ra nội dung KNS được tích hợp trong các môn học ở nhà trường và đưa ra những hướng dẫn cụ thể để giáo viên trong trường phổ thông có thể thực hiện được tốt việc đưa giáo dục KNS vào tích hợp giảng dạy trong các môn học ở nhà trường Tuy nhiên, các hướng dẫn của Bộ được đưa ra trong các tài liệu này mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung, cơ bản về KNS và giáo dục KNS cho tất cả các cấp học phổ thông ở tất cả các khu vực, địa bàn trên

cả nước, chưa có những hướng dẫn, chương trình cụ thể cho việc giáo dục KNS trong các nhà trường cho các đối tượng học sinh khác nhau ở các khu vực sinh sống khác nhau Nhất là đối với đối tượng học sinh DTTS

Ngày 28/7/2013, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển

đã ký duyệt Kế hoạch số 1088/KH-BGDĐT về hoàn thiện bộ tài liệu giáo dục

KNS trong một số môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở

và trung học phổ thông trên toàn quốc với mục tiêu nâng cao chất lượng và đảm

bảo tính thiết thực của bộ tài liệu theo ý kiến góp ý của các cán bộ quản lý giáo

Trang 10

dục các cấp và giáo viên trực tiếp giảng dạy; bổ sung nội dung hướng dẫn đánh giá kết quả giáo dục KNS và bộ công cụ đánh giá KNS theo từng môn học và hoạt động giáo dục

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung

ương về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH

- HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nội dung Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục đang chuyển

hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học Điều đó cũng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục KNS vào trường học cùng các môn học

và các hoạt động giáo dục

Một trong những người đầu tiên nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS

và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình, với hàng loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình, tài liệu tham khảo…Tác giả

là người đã tạo ra nhiều hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt

Nam Trong đó có các tác phẩm tiêu biểu như: Giáo trình giáo dục kỹ năng

sống, Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục KNS cơ bản cho học sinh THPT…

Tài liệu tập huấn, bồi dưỡng giáo viên tập 1, tập 2 (2010) của Nguyễn Thị

Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa về giáo dục giá trị và KNS cho học sinh phổ thông đã làm rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quan đến giá trị và KNS và những nội dung cơ bản của giáo dục KNS cho học sinh Đồng thời, các tác giả

cũng đưa ra quy trình tổ chức hoạt động và cấu trúc bài soạn về giáo dục KNS

cho học sinh phổ thông

Tài liệu tập huấn tích hợp giáo dục KNS trong chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông môn Giáo dục công dân (2014) của Bộ

Giáo dục và Đào tạo đã cung cấp những lý luận chung về KNS và tầm quan

Trang 11

trọng của việc giáo dục KNS, định hướng giáo dục KNS cho học viên trung tâm giáo dục thường xuyên

Luận án Tiến sĩ của Phan Thanh Vân với đề tài “Giáo dục KNS cho học

sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”

(2010) đã khai thác được thế mạnh của hoạt động giáo dục NGLL để giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường Đồng thời, tác giả cũng đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động giáo dục NGLL

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hằng về vấn đề giáo dục KNS cho

học sinh DTTS khu vực miền núi Phía Bắc Việt Nam qua các môn tự nhiên và xã hội, khoa học (2013) Nội dung của đề tài đã nêu rõ việc giáo dục KNS cho học

sinh tiểu học người DTTS thông qua dạy học các môn tự nhiên và xã hội, khoa học Đồng thời tác giả đã đề xuất được hai giải pháp nhằm giúp học sinh tìm

kiếm tri thức, nâng cao KNS và cải thiện chất lượng giáo dục KNS

Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Trường Nguyên (2013) với đề tài “Quản lý

hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay” Nội dung của đề tài đã làm rõ thực

trạng giáo dục KNS và một số biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay

Luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Hiền với đề tài “Quản lý giáo dục KNS

cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Tuyên Quang” (2014) Đề tài đã đề xuất được

một số biện pháp quản lý nhằm nâng có chất lượng hoạt động giáo dục KNS cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của Nhà trường

Như vậy, vấn đề KNS và giáo dục KNS đã được nghiên cứu và đang tiến hành triển khai rộng rãi tới tất cả các tỉnh thành trong cả nước Nhìn chung, cơ

sở lý luận về KNS và giáo dục KNS đã được hình thành khá rõ Tuy nhiên, vấn

Trang 12

đề đi sâu nghiên cứu về từng kỹ năng để làm rõ bản chất, các dấu hiệu đặc thù của từng KNS, các biện pháp cơ bản để hình thành rèn luyện từng KNS Nội dung và biện pháp giáo dục KNS cho một số đối tượng giáo dục khác nhau như học sinh ở nông thôn, thành thị, miền núi, DTTS chưa được sáng tỏ

Từ những phân tích và đánh giá ở trên có thể khẳng định: Các công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu phân tích về vai trò của KNS và giáo dục KNS dưới nhiều góc độ khác nhau Nội dung và kết quả nghiên cứu đó cũng là những điểm nhìn tham chiếu quý báu cho chúng tôi trong quá trình triển khai nội dung luận văn của mình Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa thực sự có một công trình nào có được cách nhìn nhận, đánh giá cách sâu rộng, toàn diện về KNS và giáo dục KNS cho học sinh Trường DBĐHDT Sầm Sơn để từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp có tính thiết thực khoa học, đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh DBĐHDT Sầm Sơn Do đó, chúng tôi cho rằng đề tài đã lựa chọn có tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đề xuất các giải pháp giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục KNS và tạo cơ hội giúp học sinh nâng cao KNS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn

- Thực nghiệm sư phạm về giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL

ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Học sinh trường DBĐHDT Sầm Sơn

Nghiên cứu quá trình giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL trong năm học 2015 - 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài

sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp…

6 Giả thuyết khoa học

Việc giáo dục KNS hiện nay tại các Trường DBĐHDT nói chung và Trường DBĐHDT Sầm Sơn nói riêng còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất được các giải pháp giáo dục KNS cho học sinh trường DBĐHDT phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục KNS

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo

luận văn bố cục gồm ba chương, 7 tiết

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN

1.1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Kỹ năng sống

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình

của UNICEF (1996) thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và

phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do

Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng thực hiện Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng Cho đến nay, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, dựa trên các quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về KNS Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [9, tr.7]

Quan niệm này nhấn mạnh khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kĩ năng cụ thể

Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), “KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý sự cân bằng

Trang 15

về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng” [9, tr.7] Vì kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), “KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn

đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như: kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự nhận thức,…; Học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như: kỹ năng giao tiếp thương lượng, kỹ năng tự khẳng định, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thể hiện sự cảm thông,…; Học để làm gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đạt mục tiêu, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm…” [9 tr.7-8]

Như vậy, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kỹ năng tự quản

lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Từ các quan niệm về KNS nêu trên có thể thấy: Khái niệm KNS được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, tùy theo cách tiếp cận vấn đề KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lí xã hội Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lí xã hội mà còn bao gồm cả những kĩ năng tâm vận động Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm đều khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực chứ không thuộc phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi

Trang 16

Với phân tích nêu trên, chúng tôi sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu đó là: Khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các

nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày

KNS có nhiều tên gọi khác nhau như: Kỹ năng tâm lý xã hội, kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy Một kỹ năng có thể có những tên gọi khác nhau như:

kỹ năng hợp tác còn gọi là kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kỹ năng xử lý cảm xúc, kỹ năng làm chủ cảm xúc…; Kỹ năng thương lượng còn gọi là kỹ năng đàm phán, kỹ năng thương thuyết…

KNS không tự nhiên có được mà phải hình thành dần dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra

cả trong và ngoài hệ thống giáo dục KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính

xã hội Bởi vì, KNS là khả năng của cá nhân nhưng phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc

1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục Đó là những hoạt động do các cơ sở giáo dục tổ chức, thực hiện theo kế hoạch, chương trình giáo dục và trực tiếp điều hành, chịu trách nhiệm về chúng

Giáo dục KNS là trang bị cho người học những kiến thức, thái độ, giá trị

và tạo cơ hội cho họ rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn từ đó giúp

họ có thể làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống Vì vậy, giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở nhà trường là quá trình tổ chức các hình thức hoạt động nhằm giúp người học vừa chiếm lĩnh được kiến thức vừa rèn luyện để có được những KNS nhất định

Trang 17

UNICEF và UNESCO cũng quan niệm rằng, giáo dục KNS không phải là lĩnh vực hay môn học nhưng nó được áp dụng lồng ghép vào các kiến thức, giá trị và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời Có thể nói, giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mục đích giúp con người có những khả năng tâm lý để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả

Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững

Vì vậy, giáo dục KNS cho học sinh được hiểu là giáo dục những kỹ năng mang

tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống

Có bốn con đường giáo dục KNS cho học sinh: Có thể tích hợp giáo dục KNS thông qua khai thác tiềm năng giáo dục trong nội dung môn học, qua phương pháp dạy học tích cực khuyến khích sự tương tác, cùng tham gia, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo của học sinh; Giáo dục thông qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thức hoạt động NGLL của các tổ chức Đoàn thanh niên, câu lạc bộ; Giáo dục KNS qua tiếp cận 4 trụ cột: Học để biết (Kỹ năng nhận thức); Học để làm (Các kỹ năng thực tiễn); Học để cùng chung sống (Các kỹ năng xã hội); Học để tự khẳng định bản thân (Các kỹ năng cá nhân); Thông qua

tham vấn trực tiếp với cá nhân hoặc nhóm học sinh

Trang 18

Giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL cho học sinh có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống nói chung và chính bản thân các em nói riêng KNS là cây cầu nối giúp cho con người vượt qua những bến bờ của thử thách, ứng phó với những thay đổi của cuộc sống hàng ngày Qua đó, giúp mỗi con người xác định rõ giá trị của bản thân và tập thể, sống tự tin và có trách nhiệm với chính mình và xã hội Khi học sinh được trang bị những KNS cần thiết giúp cho các em có thể giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập, rèn luyện đặt ra trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em tự chủ, tự tin, mạnh dạn trong cuộc sống Giáo dục KNS giúp các em có thể sống an toàn mạnh khoẻ trong xã hội luôn luôn biến đổi

1.1.1.3 Hoạt động ngoài giờ lên lớp

* Khái niệm hoạt động giáo dục NGLL:

Hoạt động giáo dục NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và

hành động Đây là điều kiện thuận lợi để học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức

các môn học, mở rộng và nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú hơn vốn tri thức kinh nghiệm hoạt động tập thể, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin và sự phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh

Theo T.A.Ilina: “Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là công tác giáo dục ngoại khóa Công tác này bổ sung và làm giàu thêm công tác giáo dục nội khóa Trước tiên là phương tiên để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” [19, tr.61-62]

Tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Hoạt động giáo dục NGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ

Trang 19

thuật, thẩm mỹ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành

và phát triển nhân cách” [16, tr.7]

Theo quan điểm của chúng tôi: Hoạt động giáo dục NGLL là hoạt động có mục đích, có kế hoạch được tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp Đây là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với các hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ, đặc biệt đáp ứng yêu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ cho khu vực miền núi

* Mục tiêu, vị trí, nhiệm vụ của hoạt động giáo dục NGLL:

Mục tiêu: Nhằm củng cố và mở rộng kiến thức cơ bản, phổ thông mà học sinh đã học trên lớp, đồng thời mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết thực tiễn của học sinh; Rèn luyện các kỹ năng cơ bản phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tư duy, tự quản, tổ chức, giao lưu, hoạt động xã hội… Hình thành và củng cố hệ thống thái độ đúng đắn, phẩm chất đạo đức trong sáng, có cảm xúc, tình cảm đối với con người, quê hương đất nước, với nghĩa vụ công dân tương lai, với Đảng, với dân tộc

Vị trí: Hoạt động giáo dục NGLL là một bộ phận cấu thành trong hoạt động động dạy học giáo dục Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho học sinh ý thức, hành vi, kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật… còn phải tạo cơ sở cho các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp Vì vậy, quá trình giáo dục không chỉ được thực hiện qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn qua các hoạt động giáo dục NGLL

Kết quả giáo dục cuối cùng được đánh giá qua hành vi, kỹ năng của học sinh Quá trình học tập trên lớp, việc hình thành hành vi, kỹ năng gặp rất nhiều khó khăn do hạn chế về thời gian và tình huống thực tế và học sinh khó có khả năng thể nghiệm tri thức thu nhận được qua các bài học Vì vậy, việc nhà trường

Trang 20

tổ chức các hoạt động vào thời gian NGLL là điều kiện để hình thành thái độ, hành vi và rèn luyện KNS cho học sinh

Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục NGLL: Giúp học sinh bổ sung, củng

cố và hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp, đồng thời giúp các em có những hiểu biết mới đặc biệt là những vấn đề có tính chất thời đại như: bảo vệ môi trường, dân số, hòa bình thế giới… Hoạt động giáo dục NGLL giúp học sinh có điều kiện để vận dụng tri thức đã học vào hoạt động hằng ngày, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp, từng bước làm giàu thêm những kinh nghiệm thực tế xã hội cho học sinh Thông qua hoạt động giáo dục NGLL còn giúp học sinh định hướng chính trị xã hội, có những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của đất nước Từng bước hình thành cho học sinh niềm tin vào chế độ xã hội, vào tương lai của đất nước từ đó các em

có lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp truyền thống của trường, quê hương đất nước

Hoạt động giáo dục NGLL xây dựng cho học sinh lối sống phù hợp với đạo đức, pháp luật, truyền thống tốt đẹp của địa phương và đất nước, bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, năng động sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội, hoạt động tập thể vì lợi ích chung và sự tiến bộ của bản thân

Hoạt động giáo dục NGLL rèn luyện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự quản, tự giáo giáo dục, tự điều chỉnh, hòa nhập để thực hiện các nhiệm

vụ do thầy cô hoặc tập thể lớp giao

Như vậy, hoạt động NGLL thực sự rất cần thiết và có nhiều khả năng giáo dục KNS thông qua việc chuyển tải các nội dung của hoạt động giáo dục NGLL bằng các hình thức, phương pháp tích cực theo định hướng tiếp cận sẽ rất có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục ở nhà trường

Trang 21

1.1.2 Giáo kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc

1.1.2.1 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường Dự bị đại học dân tộc

Hoạt động giáo dục NGLL là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu, nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên Bản chất của hoạt động này là thông qua các loại hình hoạt động, các mối quan hệ nhiều mặt, nhằm giúp người học chuyển hoá một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động, biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp học sinh và của cá nhân học sinh tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng giáo dục

Thông qua hoạt động NGLL có thể giúp học sinh sống một cách an toàn, khoẻ mạnh, có khả năng thích ứng với biến đổi của cuộc sống hàng ngày và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như: kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hoá; kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội Có thể nói hoạt động giáo dục NGLL thực sự rất cần thiết và có nhiều khả năng giáo dục KNS cho học sinh nên cần phát huy tối

đa vai trò, tác dụng và hiệu quả của hoạt động giáo dục NGLL để tăng cường giáo dục KNS cho học sinh

Hoạt động giáo dục NGLL tạo điều kiện để học sinh thực hành và tăng cường những KNS theo những cách thức phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng vùng Chẳng hạn như: hoạt động kỉ niệm các ngày lễ lớn; hoạt động học tập và tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp của trường, của địa phương; hoạt động kết nghĩa, giao lưu với các trường bạn, các đơn vị bộ đội; các hoạt động tìm hiểu về văn hóa các dân tộc, các danh nhân, các nhà khoa học Thông qua

Trang 22

hoạt động NGLL các em tiếp nhận không chỉ tri thức, mà còn hình thành đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ và rèn các KNS cơ bản trong cộng đồng; thích ứng với những đổi mới diễn ra hằng ngày trong gia đình, xã hội hiện đại như: Giao tiếp, ứng xử với những người trong gia đình: ông, bà, cha, mẹ, anh chị em; với người trên và bạn bè ở trường, ở ký túc xá; biết kính trọng thầy giáo, cô giáo; biết cảm thông chia sẻ, giúp đỡ bạn bè,… biết thương lượng, chia sẻ, hợp tác, thích nghi với sự đa dạng về văn hoá gia đình, nhà trường, địa phương; hình thành được các kĩ năng tư duy như sáng tạo, phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, phát triển trí tưởng tượng…

Hoạt động giáo dục NGLL là những hoạt động gần gũi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, lôi cuốn các em tham gia; phạm vi kiến thức kỹ năng rộng lớn, thuận lợi cho giáo viên hướng dẫn lựa chọn các hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp Học sinh dễ tiếp thu, được trực tiếp tham gia hoạt động từ đó hình thành kỹ năng một cách nhanh chóng Hơn nữa hoạt động giáo dục NGLL góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ năng, hành vi, giáo dục tình cảm, niềm tin ở học sinh, đặc biệt là hình thành và phát triển KNS giúp học sinh sống một cách an toàn khỏe mạnh và thích ứng với môi trường sống luôn biến đổi, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện đáp ứng với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục dục và đào tạo

Việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường, ngoài việc lồng ghép vào các môn học hàng ngày thì hoạt động giáo dục NGLL là một trong những con đường giáo dục có hiệu quả Đây là dịp để học sinh củng cố kiến thức đã học trên lớp, biến tri thức thành niềm tin ở mỗi học sinh, là cơ hội cho mỗi học sinh có thể tự so sánh bản thân mình với những người khác, kích thích các em vươn lên trong quá trình giáo dục Môi trường nội trú là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện các hoạt động giáo dục NGLL, nếu thực hiện tốt hoạt động này sẽ phát triển tối đa năng lực, nhu cầu và thiên hướng của học sinh

Trang 23

Như vậy, có thể nói thông qua hoạt động giáo dục NGLL có thể rèn luyện các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi học sinh ở Trường DBĐHDT như: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn; kỹ năng hợp tác; kỹ năng tư duy sáng tạo… việc học sinh tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể hoạt động, khả năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, củng cố phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động

để đưa ra các nguyên tắc giáo dục phù hợp Học sinh Trường DBĐHDT là con

em đồng bào các DTTS đã tốt nghiệp THPT thi trượt đại học được xét tuyển vào học hệ DBĐHDT Học sinh DTTS thường rụt dè nhút nhát, KNS còn hạn chế

Vì thế, khi giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở trường DBĐHDT cần tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo sự tương tác

KNS không chỉ hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và đọc tài liệu chỉ giúp người học thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNS như:

Kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề… được hình thành tốt trong quá trình học sinh tương tác với bạn bè và những người xung quanh thông qua hoạt động học tập hoặc hoạt động xã hội trong Nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, người học có cơ hội thể hiện ý kiến của mình và

Trang 24

xem xét ý kiến của người khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt động giáo dục NGLL sẽ tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS một cách hiệu quả

Thứ hai, đảm bảo được trải nghiệm

KNS được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Người học chỉ có kỹ năng khi được tự mình làm việc đó Kinh nghiệm

có được khi người học được hành động trong các tình huống đa dạng, qua đó giúp người học sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực

tế Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục NGLL sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác

Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo tính quá trình

Giáo dục KNS không thể hình thành trong thời gian ngắn mà đòi hỏi phải

có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới Do đó, giáo dục KNS có thể tác động lên bất cứ mắt xích nào trong chu trình đó: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi, hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ Do vậy, giáo dục KNS không thể là ngày một ngày hai mà phải là một quá trình và cần duy trì nó không thể cứng nhắc, nửa vời được

Thứ tư, đảm bảo thay đổi hành vi

Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNS giúp người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, giáo dục KNS cần kiên trì và tổ chức các hoạt động liên tục để người học duy trì hành vi

Trang 25

mới và có thói quen mới; tạo động lực cho người học điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới

Thứ năm, thời gian và môi trường giáo dục KNS

Giáo dục KNS cần được thực hiện mọi lúc mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo điều kiện cho người học

áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống trong cuộc sống Giáo dục KNS được giáo dục trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã hội Người tổ chức giáo dục có thể là cha mẹ, thầy cô, bạn học hay là các thành viên cộng đồng Trong phạm vi trường học, giáo dục KNS được thực hiện trong các giờ học, trong lao động, lồng ghép, thông qua các hoạt động đoàn thể xã hội, hoạt động NGLL và các hoạt động giáo dục khác Khi giáo dục KNS, cần đảm bảo nguyên tắc phù hợp với đối tượng Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý và môi trường của đối tượng mà lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp

Đặc biệt trong quá trình giáo dục KNS cần phải tạo điều kiện tối đa cho học sinh tham gia vào các tình huống thật trong cuộc sống Do đó, khi tổ chức hoạt động giáo dục NGLL nhằm tăng cường giáo dục KNS cho học sinh phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc giáo dục KNS

1.1.2.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc

Giáo dục KNS phải xuất phát từ thực tiễn và gắn liền với thực tiễn, KNS

có bản chất tâm lí nhưng được thể hiện dưới những hành động, hành vi cụ thể, gắn liền với việc tham gia giải quyết vấn đề của con người Vì vậy, giáo dục KNS phải được tiến hành thông qua những vấn đề, nội dung cụ thể nhất định, nội dung đó phải đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, môi trường văn hóa, hoàn cảnh sống của học sinh người DTTS

Trang 26

Nội dung giáo dục KNS phải được xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân người học, phù hợp với cuộc sống sinh hoạt, học tập, môi trường văn hóa, giao tiếp xung quanh cuộc sống hàng ngày của học sinh Bên cạnh đó,

tư duy của học sinh DTTS chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể, do đó, giáo dục KNS cần phải đưa ra những dẫn chứng và thường xuyên lấy những ví dụ minh họa, liên hệ thực tế, phân tích những mẫu hành vi cụ thể gắn liền với thực tiễn Trong giáo dục KNS, người giáo dục phải gần gũi, tình cảm, thường xuyên khuyến khích, tạo môi trường học tập công bằng và tôn trọng: Học sinh người DTTS thường rụt rè, nhút nhát, vì vậy người giáo viên cần tình cảm để tạo mối quan hệ thân thiện với học sinh Bên cạnh đó, việc tạo môi trường học tập công bằng, tôn trọng rất cần thiết, nó sẽ giúp các em thêm yêu quý, gần gũi giáo viên

và bạn học; biết hợp tác, tương trợ lẫn nhau để cùng hướng đến việc thực hiện các hành vi tích cực; dần chủ động bộc lộ những giá trị, kĩ năng liên quan đến cuộc sống của bản thân, của gia đình và của cả cộng đồng, tích cực rèn luyện KNS cả ở trong và ngoài cộng đồng

Việc giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT có thể giáo dục rất nhiều KNS khác nhau Tuy nhiên, theo giới hạn nghiên cứu luận văn chỉ tập trung đi sâu phân tích các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy sáng tạo và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn… Đây là những kỹ năng rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh DTTS và điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường Nội dung giáo dục KNS cho học sinh tập trung vào các kỹ năng tâm lý -

xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Nó rất phù hợp với đặc điểm học sinh ở môi trường nội trú giúp các em tự tin hơn, tự lập và trưởng thành hơn trong cuộc sống

Kỹ năng tự nhận thức: là tự mình nhìn nhận, đánh giá về bản thân Kỹ

năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ

Trang 27

thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân: biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, của bản thân; luôn quan tâm và ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng

Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình con người mới

có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác

Kỹ năng giao tiếp: là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo

hình thức nói viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm

Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ

sự cảm thông, hợp tác, giải quyết mâu thuẫn Kỹ năng này giúp học sinh biết cách ứng xử phù hợp với bạn bè, thầy cô, cha mẹ và những người xung quanh, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp đỡ họ khi cần thiết Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với những mong đợi của người khác, có cách cư xử khi làm việc cùng và ở cùng với người khác trong môi trường tập thể, quan tâm tới những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn: Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi,

bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa… Mâu thuẫn thường

có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên

Trang 28

Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn

Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình

Yêu cầu trước hết của kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất

Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kĩ năng giải quyết vấn đề Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều kĩ năng liên quan khác như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng ra quyết định…

Kỹ năng hợp tác: Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ

lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người

hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung Kĩ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác

Kĩ năng tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải

quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng

Trang 29

tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp

Khi một người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất

Ngoài những kỹ năng nói trên, việc giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL còn có khả năng giáo dục cho học sinh nhiều kỹ năng khác trong qua trình thực hiện các hoạt động giáo dục NGLL như giáo dục kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng đặt mục tiêu…

1.1.2.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc

Trong quá trình giáo dục nói chung và giáo dục KNS cho học sinh nói riêng, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp phù hợp có ý nghĩa vô cùng quan trọng là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động giáo dục Do đặc thù của KNS là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn nên trong quá trình giáo dục KNS người ta thường hay sử dụng các phương pháp tạo

ra sự tương tác cao để học sinh được tham gia một cách chủ động, tích cực Qua

đó, hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết cho các em Trong quá trình giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL ở Trường DBĐHDT, căn cứ vào môi trường nội trú, đối tượng học sinh, văn hóa, phong tục tập quán chúng

ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho phù hợp như: Phương pháp cùng tham gia; phương pháp làm việc theo nhóm; phương pháp trải nghiệm;

Trang 30

phương pháp trò chơi; phương pháp giải quyết vấn đề; phương pháp nghiên cứu tình huống; phương pháp đóng vai…

Phương pháp cùng tham gia: Học sinh cùng tham gia các hoạt động do

giáo viên thiết kế dựa trên mục tiêu, nội dung, tính chất của chủ đề giáo dục Căn cứ vào trình độ của học sinh và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Nhà trường, điều quan trọng nhất là tất cả học sinh tham gia các hoạt động một cách chủ động, tự tin, thoải mái với tinh thần làm chủ Muốn vậy ngay từ đầu phải xây dựng được bầu không khí cởi mở, thân thiện, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong quá trình cùng tham gia, cần khen ngợi động viên và khích lệ học sinh tránh thái độ phê phán coi thường ý kiến học sinh

Phương pháp làm việc theo nhóm: Làm việc theo nhóm là một hình thức

xã hội của học tập, trong đó học sinh được chia làm các nhóm nhỏ trong khoảng không gian giới hạn, thời gian cụ thể Mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được thành viên trong nhóm trình bày và được đánh giá trước toàn lớp

Phương pháp trải nghiệm: Là phương pháp mà giáo viên tạo cơ hội cho

học sinh hồi tưởng lại những gì mà các em đã trải qua trong cuộc sống hoặc đặt các em trước nhiều tình huống để giải quyết theo nhóm thông qua thảo luận, trò chơi, sắm vai… Qua đó, các em được thực hành bài học trong những tình huống của cuộc sống, tự quyết định với sự giúp sức của nhóm theo hướng tích cực

Phương pháp nghiên cứu tình huống: là một câu chuyện được viết nhằm

tạo ra một tình huống “thật” để chứng minh một vấn đề hay loạt vần đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện qua quan sát băng video, hay băng casset mà không phải ở dạng văn bản Tình huống sử dụng cần phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các nhân vật và những hoàn cảnh khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

Phương pháp giải quyết vấn đề: Phương pháp sử dụng kỹ năng giải quyết

vần đề làm kỹ năng cơ bản giúp học sinh hình thành những kỹ năng xác định

Trang 31

“phát hiện” vấn đề; xem xét; phân tích vấn đề; tiến hành thử nghiệm về các giải pháp khác nhau; lựa chọn các giải pháp tốt nhất; xây dựng những kế hoạch tạo

ra những thay đổi để cải thiện; kết thúc vấn đề

Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho người học chơi một trò chơi nào đó

để thông qua đó tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm Qua trò chơi, người học có cơ hội thể hiện những thái độ, hành vi bởi con người thể hiện như thế nào trong trò chơi thì phần lớn thể hiện như thế trong đời sống thật Chính nhờ sự thể hiện này sẽ hình thành được ở các em những niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống

Phương pháp đóng vai: Phương pháp tổ chức cho người học thực hành

“làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà học sinh quan sát được Việc

“diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy Qua việc sắm vai người học được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường

an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng Tùy theo từng hoạt động cụ thể, điều kiện thực tế của Nhà trường và đối tượng học sinh

mà lựa chọn và sử dụng các phương pháp phù hợp

1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Dự bị đại học dân tộc

Thứ nhất, xuất phát từ việc giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với học sinh Trường DBĐHDT

KNS là thuật ngữ liên quan đến mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động Có thể nói, KNS chính là nhịp cầu nối con người biến kiến thức thành thái

Trang 32

độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu KNS thường

bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống KNS không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề xã hội như: nghiện rượu, ma túy,

cờ bạc, mại dâm… Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm các vấn đề xã hội

Trường DBĐHDT thuộc loại hình trường chuyên biệt Chức năng nhiệm

vụ chính là bồi dưỡng thêm về mặt kiến thức, bổ túc, nâng cao trình độ văn hoá

cho con em người DTTS thi trượt đại học, trước tiên là những học sinh người dân tộc vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh để có đủ trình độ vào đại học Học sinh Trường DBĐHDT được Đảng, Nhà nước ưu tiên về mọi mặt trong thời gian học DBĐH; 100% học sinh được bố trí ở trong ký túc xá Nhà trường quản lý hoạt động học tập của học sinh một buổi học trên lớp và hai buổi tự học, tự nghiên cứu trên giảng đường và thư viện, có sự hướng dẫn của giáo viên môn học và giáo viên trực quản lý Giáo viên Trường DBĐHDT phải am hiểu đặc điểm tâm

lý, văn hóa của học sinh dân tộc Việc am hiểu đặc điểm tâm lý diễn biến tư tưởng tình cảm của học sinh DTTS là một vấn đề cần thiết, giúp giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và hình thành những KNS cơ bản cho học sinh

Học sinh Trường DBĐHDT là con em đồng bào DTTS có những đặc điểm riêng khác biệt so với các bạn cùng trang lứa Một trong đặc điểm khác biệt đó là yếu tố tâm lý, tác động và liên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả học tập, khả năng học tập của học sinh DTTS còn nhiều hạn chế, chưa có phương pháp học tập, kỹ năng để giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống Học sinh DTTS vốn giàu ước mơ, ham hiểu biết,

Trang 33

thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động… Nếu không được giáo dục KNS, họ dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Vì vậy, việc giáo dục KNS, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Trường DBĐHDT là rất quan trọng giúp học sinh có thể thích ứng với những thay đổi của xã hội và giải quyết tốt những vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống

KNS là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh Trường DBĐHDT nói riêng càng trở nên cấp thiết Với trọng trách là những chủ nhân tương lai của đất nước, sống trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, thường xuyên đương đầu với những khó khăn, thách thức, nếu không được trang bị KNS họ sẽ không thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước

Với những đặc điểm nêu trên cho thấy học sinh Trường DBĐHDT rất cần được trang bị những KNS cần thiết, phù hợp để học tập tốt hơn và quan trọng là

để thích ứng với những thay đổi của xã hội và giải quyết tốt những vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống

Thứ hai, việc giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp CHH, HĐH đất nước cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục Mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn

Trang 34

diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả” [26; tr 3]

Trên tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đã chuyển từ cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Mục tiêu giáo dục của nước ta thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỷ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống Do đó, việc giáo dục KNS trong nhà trường nói chung và giáo dục KNS cho học sinh Trường DBĐHDT nói riêng đang hướng đến mục tiêu cơ bản là: Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

Với những ý nghĩa đã trình bày ở trên có thể khẳng định, việc giáo dục KNS cho học sinh Trường DBĐHDT thông qua hoạt động giáo dục NGLL là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trường Dự bị đại học dân tộc

1.1.4.1 Hoàn cảnh, môi trường sinh sống của học sinh Trường Dự bị đại

học dân tộc

Học sinh Trường DBĐHDT hầu hết đều sinh ra và lớn lên ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có địa hình tương đối đa dạng, phức tạp với nhiều sông, suối, độ dốc cao, vừa có cao nguyên và cả những vùng đồng bằng nhỏ nhưng chủ yếu vẫn là đồi núi, giao thông đi lại khó khăn, điều kiện kinh tế nghèo nàn, phương thức sản xuất vẫn còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp, phân công lao động theo giới tính, tuổi tác, kỹ thuật canh tác lạc

Trang 35

hậu, lao động cơ bắp là chủ yếu Đây là vùng thuộc diện nghèo, trình độ dân trí còn thấp và chậm phát triển so với các khu vực khác trong cả nước Là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của các yếu tố thời tiết bất lợi như bão, lũ lụt, hạn hán… cũng như của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Hơn nữa, điều kiện hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông còn nhiều bất cập, đặc biệt là ở khu vực vùng núi phía Tây Vì vậy, vùng này còn nhiều khó khăn và chậm phát triển so với các vùng khác trong cả nước

Giáo dục ở khu vực này còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên thiếu

về số lượng, yếu về chất lượng, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn Bên cạnh cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ học sinh kém nhiều so với vùng đồng bằng, một số học sinh DTTS còn chưa thạo tiếng phổ thông Đây là những nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục ở miền núi thấp hơn so với những vùng khác trong cả nước Trong những năm gần đây, chất lượng văn hoá của học sinh khu vực miền núi đã được nâng lên do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về đầu tư bổ sung trang thiết bị công nghệ thông tin hiện đại như máy tính nối mạng để giáo viên và học sinh có thể tiếp cận, nắm bắt những thông tin, kiến thức mới Tuy nhiên, chất lượng văn hoá của học sinh miền núi khu vực Bắc Trung bộ còn thấp Điều kiện tự nhiên, kinh tế của khu vực ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập cũng như việc hình thành và phát triển KNS

Hơn nữa, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào DTTS

đã được hình thành lâu đời, trở thành cách nghĩ, nếp sống, sinh hoạt… ổn định Đồng bào DTTS có rất nhiều truyền thống tốt đẹp như: truyền thống đấu tranh cách mạng, đoàn kết, lòng thương người, tinh thần cần cù, dũng cảm, đức tính chất phác, thật thà… Đặc biệt, tinh thần quý trọng người đem “cái chữ”, ánh sáng văn minh đến cho mình, sống tình nghĩa, quý sự chân thành… là những giá trị quý báu tồn tại vững chắc trong tâm lý đồng bào miền núi Tuy nhiên, một số phong tục tập quán lạc hậu đã trở thành yếu tố cản trở cho sự phát triển kinh tế - văn hóa ở miền núi như: tục tảo hôn, tục ma chay, cưới xin tốn kém, các lễ nghi

Trang 36

cúng bái quanh năm… Những tập tục này có sức cuốn hút lớn đối với con người miền núi, nhiều khi trở thành nhu cầu tinh thần, một nét điển hình trong nếp sống văn hóa khó thay đổi Người miền núi, trong quan hệ gia đình dòng tộc có

sự ràng buộc gắn bó nên học sinh đi học xa họ sợ “mất gốc” Điều này có thể lý giải cho hiện tượng học sinh miền núi bỏ học về nhà lấy chồng, lấy vợ, đi làm…

từ các trường DBĐH hay các trường Đại học, cao đẳng

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của đồng bào DTTS được nâng lên, song cũng nảy sinh nhiều tác động tiêu cực Việc mở cửa biên giới cùng với sự xuất hiện các tệ nạn

xã hội như buôn lậu, ma túy, buôn bán trẻ em… đang làm cho đời sống tình thần

ở một số nơi biến dạng Xét về bình diện tâm lý xã hội dễ nhận thấy học sinh miền núi đã có sự chuyển biến tích cực trong lối sống dưới tác động của môi trường, điều kiện mới do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, ảnh hưởng của hệ thống các trường DBĐH, đại học, cao đẳng…Tuy nhiên, sự tiếp nhận này có sự phân hóa theo chiều hướng đối ngược nhau: Một bộ phận học sinh miền núi hấp thụ nhanh chóng nền văn minh của giáo dục, môi trường, điều kiện mới… tạo ra sinh khí mới tốt đẹp trong lối sống, tự lực tự cường phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình Mặt khác một số học sinh do “choáng ngợp” trước sự thay đổi, tiếp thu không chọn lọc nên có lối sống thực dụng, đua đòi, ham lối sống vật chất… nét tâm lý này tuy không đặc trưng song cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong công tác giáo dục, nhất là việc giáo dục KNS phù hợp cho các em Do đó, trong việc giáo dục KNS cần phải chú ý đến nét văn hoá đặc trưng của từng dân tộc, coi nó như một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nội dung và phương pháp giáo dục KNS

Từ những nét khái quát trên cho thấy: Sự tác động ảnh hưởng tất yếu của môi trường, điều kiện sống tới sự hình thành và phát triển KNS của học sinh DTTS Vì vậy, trong công tác giáo dục KNS cần chú ý đến những điều kiện về môi trường sinh sống, kinh tế xã hội, văn hóa, phong tục tập quán để giáo dục

Trang 37

những KNS phù hợp với đặc điểm vùng, đặc điểm dân tộc, làm được điều này chính là tạo nên hiệu quả trong phát triển giáo dục

1.1.4.2 Đặc điểm về tâm sinh lý của học sinh dân tộc

Nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm học sinh dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục Theo Phạm Hồng Quang [29], Mai Công Khanh [23] học sinh DBĐHDT có những nét tâm lý chung của lứa tuổi học sinh THPT

và những nét tâm lý đặc thù của đối tượng học sinh người DTTS Học sinh DBĐHDT có những đặc điểm tâm lý nổi bật sau:

Học sinh Trường DBĐHDT ở độ tuổi trưởng thành, là đoàn viên, thanh niên tính năng động và độc lập cao hơn so với học sinh phổ thông Xuất thân trong cộng đồng các dân tộc, sinh sống ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn, giáo dục chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ học vấn thấp, tiếng phổ thông còn hạn chế Học sinh về trường học tập, sống trong môi trường nội trú, thay đổi hình thức hoạt động Trong quá trình học tập chịu ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán, các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, tính kiên trì, tính kỷ luật chưa cao

Trong quá trình học tập, sự biến đổi nhận thức của người học chịu sự tác động của nội dung, phương pháp và các hình thức dạy học trong điều kiện dạy

và học cụ thể dưới ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, lối sống đã được hình thành ở học sinh Đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh dân tộc bao gồm những yếu tố đã ổn định và những yếu tố mới phát triển trong quá trình dạy học và giáo dục

Trước hết là sự chuẩn bị tâm lý đến trường: Có thể quan niệm sự chuẩn bị này là tiền đề, thế năng quan trọng cho quá trình nhận thức trước khi đi học của học sinh Ở miền núi, các tổ chức xã hội, gia đình, trường học chưa tạo ra một bước chuyển biến rõ nét về mặt tâm lý đến trường cho học sinh cũng như việc tạo ra nhu cầu, hứng thú thích đi học Các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc

Trang 38

quan sát, trí nhớ, tính kiên trì, tính kỷ luật…của học sinh dân tộc chưa được chuẩn bị chu đáo

Do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của học sinh dân tộc phát triển khá tốt Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy nhiên còn thiếu toàn diện, cảm tính, mơ hồ, không thấy được bản chất của sự vật, hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật đã tạo ra hưng phấn xúc cảm ở học sinh Đối tượng tri giác của học sinh dân tộc chủ yếu là sự vật gần gũi, cây con, thiên nhiên

Trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, các em coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi Tình cảm của học sinh dân tộc thầm kín, ít biểu hiện ra ngoài một cách mạnh mẽ Học sinh dân tộc rất gắn bó với quê hương, làng bản, muốn thoát ly, bay nhảy nhưng khi xa quê lại nhớ nhung da diết Bên cạnh những học sinh rụt rè, mặc cảm, tự ti, nhiều em có lòng vị tha, ham hiểu biết, đặc biệt là ý chí phấn đấu theo tấm gương thầy cô và bạn bè Học sinh dân tộc thường nghĩ thế nào thì nói như thế, không có chuyện thêm bớt, có lòng tự trọng cao nhưng hay bảo thủ, tự ái Trong lối sống, các em ưa phóng khoáng, tự

do, không thích gò bó, nhiều thói quen chưa tốt như tác phong lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp cũng ảnh hưởng đến công tác giáo dục, nhất là việc giáo dục KNS cho các em

Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh dân tộc là thói quen lao động

tri óc chưa bền, ngại suy nghĩ, ngại động não Trong học tập nhiều học sinh không biết lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ thiếu sâu sắc về học tập

Tư duy của học sinh dân tộc còn kém nhanh nhạy và linh hoạt, khả năng thay đổi giải pháp chậm, nhiều khi máy móc, rập khuôn Có thể sống trong điều kiện

tự túc, cuộc sống ít va chạm, ít phức tạp, ít giao tiếp nên học sinh dân tộc thường thỏa mãn cái đã có sẵn, ít động não đổi mới, khả năng độc lập tư duy và óc phê

Trang 39

phán còn hạn chế Khả năng tư duy trực quan-hình ảnh của học sinh dân tộc tốt hơn khả năng tư duy trừu tượng-logic

Về nhu cầu: Đối với học sinh dân tộc đến trường đi học là sự thay đổi căn bản Lúc này, nhận thức của các em có sự chuyển biến tích cực, ý thức về mình

là học sinh, là những cán bộ tương lai của địa phương, đất nước Vì vậy, Nhà trường cần phải duy trì được nhu cầu thích học, khẳng định vị trí mới cho người học là một trong những yêu cầu sư phạm cần thiết để giáo dục học sinh ý thức tập thể, kỷ luật học tập phải trở thành nếp sống mới, thói quen mới và dần được khắc sâu trong học sinh Đồng thời với yêu cầu trên là phải hình thành nhu cầu học tập Tiếng Việt, coi đây là phương tiện giao tiếp và học tập quan trọng cho học sinh dân tộc Đối với học sinh dân tộc, tiếng Việt phải được các em ý thức như một công cụ, một phương tiện quan trọng để học tốt các môn khoa học khác, phải trở thành nhu cầu không chỉ dừng ở ý nghĩa chỉ là học tập như học một tri thức môn học Tuy nhiên, đối với học sinh dân tộc, tiếng mẹ đẻ đã có chiều sâu nhất định, do vậy không thể hạn chế, cưỡng ép, xoá bỏ ngay thói quen

sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh trong giao tiếp, trong học tập Điều quan trọng

là hình thành cho học sinh một cách nhìn mới về giá trị của ngôn ngữ công cụ và ngôn ngữ mẹ đẻ trong học tập và đời sống xã hội

Nhu cầu được khen, có được uy tín trước bạn bè, hoặc nhu cầu được chơi, hoạt động ngoại khoá đều có tác dụng tích cực đối với hoạt động học tập của học sinh dân tộc Do vậy, việc mở rộng phạm vi nhu cầu qua các hoạt động như:

tổ chức hoạt động tập thể, lao động, vui chơi, giao lưu hoạt động xã hội, văn hoá thể thao là tiền đề nảy sinh nhu cầu mới - nhu cầu nhận thức Tổ chức học tập theo các hình thức khác nhau như tự học, học qua tình huống, học qua hoạt động ngoại khoá… đều có tác dụng bổ sung tri thức, mở ra những nhu cầu mới cho học sinh dân tộc

Trong môi trường mới - môi trường học tập ở trường DBĐHDT, hoạt động của bản thân học sinh là động lực để thúc đẩy họ trở thành thành viên của

Trang 40

xã hội, phát triển nhân cách Các dạng hoạt động khác như: học tập, vui chơi, hoạt động xã hội đều thông qua giao lưu quan hệ với người khác (thầy - trò, bạn bè, gia đình, xã hội ) Trong đó, nhu cầu tự khẳng định mình trong học tập

và rèn luyện ngày càng chiếm ưu thế và là một đặc điểm quan trọng của học sinh Trường DBĐHDT

Từ những đặc điểm nhu cầu của học sinh dân tộc, có thể thấy việc quan trọng là tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh Hình thành và phát triển nhu cầu cho học sinh dân tộc gắn liền với tổ chức học tập thích hợp để nâng cao kết quả học tập và hình thành những KNS cơ bản cho học sinh

Về giao tiếp: Trước khi đến trường, học sinh dân tộc đã được tiếp xúc với cộng đồng dân tộc, tiếp thu truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc mình Môi trường giao tiếp hẹp, đối tượng giao tiếp chủ yếu trong gia đình, làng bản nhưng có sức hấp dẫn lớn đối với học sinh Do đó, trong giao tiếp của học sinh dân tộc cũng có những đặc điểm riêng Khi giao tiếp với người thân, bạn bè rất thẳng thắn, nói trống không, với người lớn và thầy cô ít thưa gửi, gặp người lạ ngại giao tiếp, chủ yếu là tò mò quan sát Kỹ năng định hướng trong giao tiếp chưa được hình thành chắc chắn Quá trình học tập ở Trường DBĐHDT, giao tiếp của học sinh dân tộc ngày càng đa dạng và phong phú hơn, phương tiện giao tiếp chủ yếu khi các em học ở Trường là tiếng phổ thông Đây là bước chuyển biến căn bản về giao tiếp của các em Nhiều em do vốn từ hạn chế, khả năng diễn đạt chưa tốt nên ngại tiếp xúc, ngại phát biểu, ngại tham gia thảo luận vì sợ sai

Tính tích cực giao tiếp của học sinh DBĐHDT chưa cao Trong việc thiết lập quan hệ mới, học sinh dân tộc gặp khó khăn, thiếu chủ động Trong học tập, học sinh dân tộc còn bị động trong cách học, ngại trao đổi với bạn bè, thầy cô, một phần do tính tích cực giao tiếp chi phối Thông qua các dạng hoạt động như: hoạt động tự học, vui chơi, thể thao, văn hóa, lao động, ngoại khóa tham quan

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn (2003), Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam, Viện chiến lược và chương trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn
Năm: 2003
[2]. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Nâng cao chất lượng đào tạo các trường phổ thông DTNT, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đào tạo các trường phổ thông DTNT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2000
[5]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tài liệu hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[6]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[8]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[11]. Dương Tự Đam (1999), Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[15]. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (2001), Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[16]. Đặng Vũ Hoạt (1998), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[17]. Nguyễn Văn Hồng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[18]. Vương Thanh Hương, Nguyễn Minh Đức (1995), Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong Nhà trường, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong Nhà trường
Tác giả: Vương Thanh Hương, Nguyễn Minh Đức
Năm: 1995
[19]. Ilina. T. M (1979), Giáo dục học tập 1.2.3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tập 1.2.3
Tác giả: Ilina. T. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
[20]. Phạm Vũ Kích (Chủ biên) (1997), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Phổ thông dân tộc nội trú, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Phổ thông dân tộc nội trú
Tác giả: Phạm Vũ Kích (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[21]. Trần Ngọc Khuê (1998), “Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Trần Ngọc Khuê
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[22]. Nguyễn Công Khanh (2012), Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2012
[23]. Mai Công Khanh (2013), Quản lý dạy học ở trường Dự bị Đại học dân tộc: Quan điểm và giải pháp, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dạy học ở trường Dự bị Đại học dân tộc: Quan điểm và giải pháp
Tác giả: Mai Công Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w