1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở việt nam

111 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH MAI HỒNG CÔNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Chính tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH MAI HỒNG CÔNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

VINH – NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

MAI HỒNG CÔNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN VIẾT QUANG

VINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm, quý Thầy Cô Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Vinh, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS.Trần Viết Quang, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em hoàn thành luận văn

Trong quá trình làm luận văn, em đã không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy Cô hướng dẫn, giúp em hiểu được vấn đề một cách chính xác và sâu sắc hơn Từ đó, em có thể rút kinh nghiệm cho các đề tài sau

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06 năm 2016

Học viên: Mai Hồng Công

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 12

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC 12

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước 12

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước 33

Kết luận Chương 1 49

Chương 2: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM 51

2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là cơ sở lý luận xây dựng Nhà nước pháp quyền và là động lực của công cuộc kháng chiến kiến quốc 51

2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước để xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 58

2.3 Những giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh 71

Kết luận Chương 2 98

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới đã để lại cho nhân dân ta và nhân dân tiến bộ một di sản tinh thần vô giá Tư tưởng Hồ Chí minh nói chung, nhất là tư tưởng của Người về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã trở thành động lực của cách mạng và kim chỉ nam cho

sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

Đặc biệt là, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do dân, vì dân đã hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện cùng với

sự phát triển của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ XX Đó là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc

Trong thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn đổi mới đất nước; Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn “bản chất dân chủ và pháp quyền của Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân ” [9, tr.141] Bản chất dân chủ và pháp quyền đó bắt nguồn từ nguyên lý “dân

là gốc nước” (không có dân thì không có đất nước và nhà nước) Vì vậy, “dân

là chủ” và “dân làm chủ” là lẽ tự nhiên Trong xã hội hiện đại, để bảo đảm cho “dân là chủ” và “dân làm chủ”, trước hết phải có pháp quyền và nhà nước pháp quyền

Trong những năm đổi mới qua, Nhà nước ta đã phát huy cao độ vai trò

tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của đất nước và đạt được những thành tựu quan trọng trong mọi lĩnh vực đời

Trang 6

sống xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh những thành tựu vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế và phức tạp cần tập trung giải quyết như: Vấn đề quyền lực thuộc về nhân dân còn mang tính hình thức, hệ thống pháp luật vừa thừa vừa thiếu lại chưa đồng bộ Nhất là, “Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ còn nhiều yếu kém” [20, tr.173-174] Đặc biệt là những khuyết tật trong đạo đức công mà sinh thời Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán như căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, hách dịch, tham ô, lãng phí làm tổn hại đến dân chủ, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn ” [20, tr.185]

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay là cần thiết, hữu ích và có ý nghĩa lý luận - thực tiễn sâu sắc

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí minh nói chung, nhất là tư tưởng của Người về nhà nước và pháp luật đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học bởi giá trị và ý nghĩa lý luận - thực tiễn của nó Các công trình đã

Trang 7

công bố liên quan trực tiếp đến đề tài thể hiện chủ yếu ở các hướng nghiên cứu dưới đây

Hướng thứ nhất, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và

pháp luật, có các công trình tiêu biểu: Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh (Bùi Ngọc Sơn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004); Pháp quyền nhân nghĩa Hồ

Chí Minh (Vũ Đình Hòe, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001); Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật (Viện Nghiên cứu Khoa

học pháp lý, Hà Nội, 1993); Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền (Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2007); Tư

tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới – Sự hình thành và phát triển

(Hoàng Văn Hảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); Hồ Chí Minh vận

dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng nhà nước pháp quyền (Phan Ngọc Dũng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009); Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật (Nguyễn Xuân Tế, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); Hồ Chí Minh bàn về nhà nước và pháp

luật (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 2001); Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật (Nguyễn Ngọc

Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998); và những công trình khác

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích khá đầy đủ quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cùng vai trò của chúng trong

tổ chức, quản lý xã hội Tuy nhiên, vấn đề pháp luật và quan hệ của pháp luật với đạo đức, văn hóa cùng vấn đề giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và đưa pháp luật, đạo đức vào đời sống xã hội chưa được các tác giả quan tâm đúng mức

Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Theo hướng nghiên cứu này có những công

Trang 8

trình tiêu biểu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân (Nguyễn Đình Lộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam (Phạm Ngọc

Anh - Bùi Đình Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003); Tư tưởng Hồ Chí

Minh về dân chủ (Phạm Hồng Chương, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,

2004); Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (Phạm Văn Bính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển chủ

nghĩa Mác - Lênin về xây dựng nhà nước pháp quyền (Phan Ngọc Dũng, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009); Xây dựng hệ thống chính trị theo tư tưởng

Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

2000); Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống

chính trị ở Việt Nam hiện nay (Bùi Thị Thu Hiền, Luận án Tiến sĩ triết học,

TP Hồ Chí Minh, 2015); Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Tô

Huy Rứa, Tạp chí Cộng sản, Số 1(122) - 2007); Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây

dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam (Nguyễn Anh Tuấn chủ biên, Nxb TP

Hồ Chí Minh, 2003); và những công trình khác

Như vậy, ở hướng nghiên cứu thứ hai đã có khá nhiều công trình đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân, vì dân Trong đó, nhiều tác giả phân tích và chỉ ra rằng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước kiểu mới là nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra và được nhân dân ủy quyền; nhà nước đó đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc; và rằng, nhân dân lao động là người chủ chân chính và thực hiện quyền làm chủ thông qua hệ thống luật pháp, hệ thống chính trị Tuy nhiên, có những vấn đề quan trọng trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới (của dân, do dân, vì dân) chưa được các công trình trên đề cập đến đầy đủ, sâu sắc đúng với tầm

Trang 9

quan trọng của nó Cụ thể là: 1 Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến xây dựng

“Nhà nước kiểu mới” để phân biệt với “nhà nước kiểu cũ” (là những nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản – những nhà nước của một số ít người, của giai cấp thống trị để thống trị đa số người là nhân dân lao động, mà bản chất của chúng là thống trị và bóc lột) Còn “Nhà nước kiểu mới” mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là nhà nước của đa số người trong xã hội, của nhân dân lao động mà bản chất của nó không phải là “thống trị, bóc lột”, mà chính là dân chủ thực sự (bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân

dân lao động); 2 Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến xây dựng nhà nước pháp

quyền dân chủ để phân biệt với nhà nước quân chủ và nhà nước pháp quyền thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình thức Theo Hồ Chí Minh, một nhà nước pháp quyền dân chủ thực sự là nhà nước dựa trên cơ sở vững chắc là nền chính trị dân chủ Trong nhà nước pháp quyền dân chủ thì mọi quyền lực của đất nước

đều thuộc về nhân dân và nhân dân là chủ thể quyền lực; 3 Vấn đề kết hợp

hài hòa giữa đạo đức và pháp luật, giữa “đức trị” và “pháp trị” trong nhà nước pháp quyền dân chủ của tư tưởng Hồ Chí Minh cần được phân tích kĩ hơn và sâu sắc hơn Quan điểm “pháp luật là thượng tôn” và “quản lý xã hội bằng pháp luật” là nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, giữa thực thi pháp luật với thực hiện đạo đức xã hội Bởi lẽ, như Người thường tâm niệm: suy cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác là vấn đề ở đời và làm người – ở đời và làm người là phải thương người, thương nước, thương dân

Hướng thứ ba, các công trình nghiên cứu về vấn đề vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới (của dân, do dân, vì dân) vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay Theo hướng nghiên cứu này, có

Trang 10

các công trình tiêu biểu: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước

pháp quyền (Đỗ Nguyên Phương – Trần Ngọc Đường, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1992); Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong

điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (Phạm Ngọc Quang – Ngô Kim Ngân đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2007); Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của

dân, do dân và vì dân – Lý luận và thực tiễn (Nguyễn Duy Quý – Nguyễn Tất

Viễn đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Xây dựng nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (Nguyễn

Văn Yếu – Lê Hữu Nghĩa đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006); Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Trần Hậu Thành, Nxb Lý

luận chính trị, Hà Nội, 2005); Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và công

cuộc đổi mới đất nước (Nguyễn Thế Nghĩa – Nguyễn Thanh Bình đồng chủ

biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); Di sản Hồ Chí Minh trong thời

đại ngày nay (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); Một số vấn

đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta (Trần Thành,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009); Triết lý “Lấy sức dân, của dân, tài

dân làm lợi cho dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay (Nguyễn Cương, Tạp chí Cộng

sản, Số 15(207) - 2010); Phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân

theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2012); và những công trình khác

Các công trình nói trên góp phần làm sáng tỏ giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và việc

Trang 11

vận dụng sáng tạo chúng vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay

Như vậy, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Những kết quả và thành tựu của các công trình đã công bố kể trên là những tài liệu khoa học quý báu để tác giả tiếp thu, kế thừa trong luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ dưới đây:

Thứ nhất, phân tích điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí

Minh về nhà nước

Thứ hai, phân tích và trình bày rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí

Minh về nhà nước

Thứ ba, phân tích và luận chứng ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà

nước đối với việc vận dụng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà

nước và những yếu tố liên quan đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở

nước ta hiện nay

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ

Chí Minh về nhà nước và việc vận dụng chúng vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn: Luận văn được thực hiện dựa trên thế giới

quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, nhất là

về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,

vì dân

Phương pháp nghiên cứu của luận văn: Luận văn được tiếp cận chủ

yếu dưới góc độ triết học chính trị và chính trị học; và được nghiên cứu, trình bày bằng các phương pháp khoa học như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ và sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh

về nhà nước như một lý luận khoa học; trong đó làm nổi bật quan điểm về nhà nước pháp quyền dân chủ, về nhà nước của dân, do dân, vì dân và về sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố pháp luật với yếu tố đạo đức trong quản lý xã hội

- Luận văn làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước

ta hiện nay

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 Chương với 5 tiết

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

1.1.1 Điều kiện hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

- Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc Lúc này, chủ nghĩa đế quốc

đã trở thành hệ thống thế giới, vừa tranh giành thuộc địa, vừa liên kết với nhau để bóc lột các dân tộc thuộc địa và người lao động trên khắp thế giới

Để xuất khẩu tư bản, mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động rẻ mạt, chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược các dân tộc nhỏ yếu và biến chúng thành thuộc địa “nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa” [35, tr.18]

Đến đầu thế kỷ XX, chỉ “sáu nước (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mỹ, Hà Lan) với tổng số dân là 320 triệu người, với diện tích 11 triệu

của chính quốc, còn dân số của các nước chính quốc bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa” [44, tr.277] Trong điều kiện đó, “tính mạng của người thuộc địa,

da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [68, tr.30] Hồ Chí Minh đã nhận rõ tính chất tiêu cực và tàn bạo của chế độ chính trị tư sản và nhà nước

tư bản; Người ví nó như “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân chính

Trang 14

quốc và một vòi hút máu nhân dân thuộc địa Và, bằng khảo sát thực tiễn, Người đã đi đến kết luận rằng, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng bóc lột tàn bạo, còn người lao động ở đâu cũng đau khổ; vì vậy, “trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [44, tr.266]

Tuy nhiên, chính sự áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã làm tăng mâu thuẫn của thời đại, làm thức tỉnh tinh thần đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc của các dân tộc thuộc địa và những người lao động trên toàn thế giới Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc đã gắn phong trào đấu tranh của công nhân với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa thành phong trào đấu tranh chung chống giai cấp tư sản, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân trên thế giới

Chủ nghĩa đế quốc với bản chất bóc lột tàn bạo, tranh chấp thuộc địa và phân chia lại thị trường thế giới đã gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh này không những làm tăng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu, mà còn thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của quần chúng lao động, góp phần tạo điều kiện cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga “Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ là Đảng Bônsêvích lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản

và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” [54, tr.300-301]

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra thời đại mới trong lịch sử phát triển của loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Trang 15

trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng Tháng Mười Nga (trong đó có bài học sâu sắc là: dùng bạo lực cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân lao động, xây dựng chế độ xã hội mới, thiết lập nhà nước kiểu mới ) không chỉ

cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, mà còn thổi bùng ngọn lửa cách mạng vào phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Có thể nói, chính chủ nghĩa Mác - Lênin và ngọn cờ Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ, tạo nên sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh, trong đó có nhận thức về một nhà nước kiểu mới – nhà nước của nhân dân lao động “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người

bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [54, tr.300] Từ đó, Hồ Chí Minh quyết định đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường Cách mạng Tháng Mười Nga để giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội Và cũng từ

đó, trong tư duy của Người đã dần hình thành mô hình nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân

Như vậy, trong những thập niên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực tiễn lịch sử thế giới có những biến đổi to lớn, tác động đến việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về pháp luật và nhà nước kiểu mới Chính chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược, tranh giành và phân chia lại thị trường thế giới, biến các dân tộc nhỏ yếu (trong đó

có Việt Nam) thành hệ thống thuộc địa và phụ thuộc Cách mạng Tháng Mười Nga trở thành ngọn cờ và động lực thúc đẩy mạnh mẽ phong trào công nhân

và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Thực tiễn cách mạng thế giới

đã đặt ra nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam là phải tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ chính trị và nhà nước kiểu mới để đưa đất nước phát triển phồn vinh Tất cả những yếu tố nói

Trang 16

trên trở thành những sự kiện chính trị quan trọng, tác động trực tiếp đến việc hình thành tư tưởng chính trị, nhất là tư tưởng pháp luật và xây dựng nhà nước kiểu mới của Hồ Chí Minh

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, đã biến Việt Nam từ quốc gia phong kiến độc lập thành chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến Thực dân Pháp liên kết với chính quyền bù nhìn phong kiến áp đặt bộ máy cai trị thực dân tàn bạo để bóc lột kinh tế, áp bức chính trị và nô dịch văn hóa lên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Về kinh tế, thực dân Pháp duy trì kinh tế nông nghiệp, đồng thời đẩy

mạnh chính sách khai thác thuộc địa bằng cách vơ vét tài nguyên thiên nhiên

và bóc lột sức lao động rẻ mạt Chúng xây dựng một số cơ sở công nghiệp ở Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn để khai thác tài nguyên, chế biến nông sản xuất khẩu Chúng mở các đồn điền cao su, cà phê ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, các đồn điền trồng lúa ở Tây Nam Bộ để vơ vét nông sản Chúng áp dụng các chính sách hạn chế sự phát triển tư bản Việt Nam và khuyến khích tư bản Pháp phát triển

Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị thực dân, chia Việt

Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) kết hợp với Lào và Campuchia thành lập Liên bang Đông Dương trực thuộc nước Pháp Ở mỗi

kỳ và ở mỗi tỉnh, thành phố chúng đưa các quan người Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị cùng với hệ thống quân đội, cảnh sát, nhà tù của Pháp Đồng thời, chúng biến triều đình Nhà Nguyễn và hệ thống chính quyền phong kiến địa phương thành công cụ tay sai đắc lực phục vụ người Pháp Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế để khống chế, bóc lột người dân Dưới ách thống trị như

Trang 17

vậy, người dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, không chỉ mất độc lập và tự do, mà còn mất cả quyền tối thiểu của con người

Về văn hóa, thực dân Pháp áp dụng triệt để chính sách nô dịch văn hóa

Chúng xây dựng nhà tù, các cơ sở ma túy, mại dâm, cờ bạc nhiều hơn bệnh viện và trường học; khuyến khích các hoạt động tôn giáo, mê tín dị đoan Hồ Chí Minh nhận xét: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém

và nhà tù làm nốt phần còn lại” [44, tr.28] Trên thực tế, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách ngu dân để cai trị “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho học sinh, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một tổ quốc không phải tổ quốc của mình và đang áp bức mình Nền giáo dục

ấy dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình Nó làm cho thanh niên trở nên ngu ngốc” [44, tr.399]

Về xã hội, dưới ách cai trị hà khắc của thực dân Pháp, người dân An

Nam rơi vào cảnh cùng cực, lầm than Bởi vì, “chính sách thực dân ăn cướp, chẳng những đã tước đoạt mất ruộng đất của cải, đã xóa bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do – kể cả quyền tự do thân thể của người dân bản xứ, mà còn bắt họ phải nộp thuế về những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa” [44, tr.408]

Dưới ách thống trị hà khắc của thực dân háp đã làm cho các mâu thuẫn trong lòng xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt (mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, mâu

Trang 18

thuẫn giữa nhân dân lao động với bọn thực dân và phong kiến áp bức bóc lột, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với các nhà tư bản Pháp, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với bọn địa chủ phong kiến, ) Tất cả những mâu thuẫn nói trên, một mặt, thúc đẩy phong trào yêu nước, đấu tranh chống thực Pháp xâm lược và bè lũ tay sai; mặt khác, chúng đặt ra nhiệm vụ lịch sử mới: tìm ra con đường cứu nước và xây dựng một chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

- Phong trào yêu nước, đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước

Ngay sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta (với truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường chống ngoại xâm được rèn luyện qua hàng ngàn năm lịch sử) đã liên tục đứng dậy chống thực dân Pháp và bè

lũ tay sai Nổi bật trong các phong trào chống thực dân Pháp là phong trào

“Cần Vương” (1858 - 1896) và phong trào “Duy Tân” Dưới chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước liên tục nổ ra: Khởi nghĩa Trương Định (1859 - 1864) đã làm thiệt hại lớn cho quân Pháp và Ông được nhân dân suy tôn là “Bình Tây đại nguyên soái” Năm 1861, Nguyễn Trung Trực lãnh đạo nghĩa quân ở Tân An đốt cháy tàu Espérance (Hy vọng) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, sau đó xây dựng căn cứ địa chống Pháp khắp vùng Hà Tiên, Rạch Giá và Phú Quốc Năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật lập căn cứ chống Pháp ở Bãi Sậy, dựng cờ khởi nghĩa, kiên trì đánh Pháp trong nhiều năm Cũng năm 1885, Phap Đình Phùng chiêu mộ nghĩa quân, xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), tiến hành cuộc kháng chiến hơn mười năm trời Năm 1886, Đinh Công Tráng cùng với các cộng sự chiêu mộ nghĩa quân, lập căn cứ địa ở Ba Đình (Thanh Hóa), tổ chức các cuộc tập kích gây tổn thất lớn cho quân Pháp Hoàng Hoa Thám, lãnh tụ của nghĩa

Trang 19

quân Yên Thế, kiên trì đánh Pháp suốt 25 năm, làm cho quân Pháp tổn thất nặng nề Tuy nhiên, tất cả các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp nói trên đều thất bại “Rõ ràng là, đối với kẻ thù mới tư bản chủ nghĩa phương Tây, không thể dùng vũ khí cũ đã được ông cha ta dùng một cách đắc lực để đối đầu với kẻ thù phong kiến xưa kia nữa” [23, tr.371-372] Thực tiễn cuộc đấu tranh chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo đã làm bộc lộ ra vấn đề mới: Cần phải có ngọn cờ tư tưởng mới với đường lối chính trị mới để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc

Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có những sự kiện và biến đổi quan trọng Chủ nghĩa đế quốc tiếp tục tranh giành thuộc địa và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất; cuộc cách mạng Nga diễn

ra vào năm 1905; công cuộc duy tân của Nhật Bản thắng lợi; chủ trương canh tân đất nước của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi như một luồng gió mới thổi vào Việt Nam làm “thức tỉnh” các nhân sĩ yêu nước Việt Nam Trong bối cảnh đó, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã “thức tỉnh” và nhận thấy rằng, tư tưởng tư sản với nền chính trị tư bản chắc chắn là tiến bộ hơn tư tưởng phong kiến với nền chính trị quân chủ; rằng, nền chính trị giữ vai trò quyết định đối với nhân dân; “Họa phúc của nhân dân gốc ở nền chính trị” [8, tr.428] Với nhận thức đó, cả hai cụ Phan quyết chí tìm đường cứu nước

Phan Bội Châu chủ trương đánh Pháp, giành độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế ở Việt Nam (giống nhà nước quân chủ lập hiến Nhật Bản hoặc nhà nước cộng hòa dân chủ theo kiểu Tây Âu [65, tr.198]) Để thực hiện chủ trương trên, ông đi theo con đường dựa vào Nhật bản, sau đó là dựa vào Trung Hoa dân quốc với phương châm: “cầu cứu nghĩa đồng văn đồng chủng; chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội” [30, tr.40] Phan Châu Trinh chống đối triều đình quyết liệt và đấu tranh cho một nền cộng hòa

ở Việt Nam [6, tr.31] Ông chủ trương dựa hẳn vào chính quyền thực dân

Trang 20

Pháp, với phương châm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” [30, tr.40] Tuy nhiên, chủ trương và con đường cứu nước của cả hai cụ Phan đều thất bại Bởi vì, “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương Còn cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa

hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [68, tr.10] Cả hai cụ đều chưa hiểu được rằng, muốn cứu nước, trước hết và chủ yếu là phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” [45, tr.293] Trên thực tế, do ảnh hưởng của tư tưởng tư sản mà

cả hai cụ Phan Châu Trinh và cụ Phan Bội Châu đều chưa nhận rõ được lực lượng to lớn và năng lực cách mạng tuyệt vời của quần chúng lao động trong công cuộc giải phóng dân tộc; chưa nhận rõ được sự lạc hậu của tư tưởng tư sản và đường lối cách mạng tư sản cùng với mô hình nhà nước quân chủ lập hiến hay cộng hòa dân chủ của giai cấp tư sản Có thể nói, đến đầu thế kỷ XX,

hệ tư tưởng tư sản đã lỗi thời, đường lối cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản và kiểu nhà nước tư sản hoàn toàn không phù hợp với đặc điểm của thời đại mới và thực tiễn cách mạng Việt Nam

Như vậy, từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến hai thập niên đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã liên tục diễn ra phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống thực dân Pháp, nhưng cuối cùng đều thất bại Điều

đó bộc lộ sự thực là: 1 Hệ tư tưởng phong kiến và con đường cứu nước của

tập đoàn phong kiến đã hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn bạo của chủ

nghĩa tư bản phương Tây; 2 Hệ tư tưởng tư sản, chế độ chính trị tư sản cùng

với kiểu nhà nước tư bản đã lỗi thời và con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản hoàn toàn không phù hợp với thời đại mới và thực tiễn

cách mạng mới ở nước ta; 3 Hoàn cảnh thế giới và thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc đó đặt ra một nhiệm vụ mới, cấp bách: phải tìm ra con đường cứu

nước mới gắn với chế độ chính trị và kiểu nhà nước mới, đáp ứng được yêu

Trang 21

cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và đặc điểm của thời đại mới – thời

đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại Nhiệm vụ quan trọng

đó được lịch sử đặt lên vai người con ưu tú của dân tộc – Nguyễn Tất Thành

và Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước Có lần Người đã tâm sự với nhà văn Mỹ Lui Xtơrông: “Nhân dân Việt nam trong đó có ông cụ thân sinh

ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ; sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở

về giúp đồng bào tôi” [26, tr.41]

1.1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

Trong khi phản ánh tiến trình cách mạng Việt Nam và thế giới những thập niên cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về nhà nước nói riêng đã kế thừa, phát triển giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa - chính trị Việt Nam cùng với tinh hoa văn hóa - chính trị của nhân loại

- Giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa - chính trị của dân tộc Việt

Nam

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sáng tạo ra hệ giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa chính trị nổi bật: chủ nghĩa yêu nước Việt nam; ý chí tự lập, tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và nhân ái khoan dung; đức tính cần cù, trí tuệ thông minh và tư duy sáng tạo

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn trước hết từ tình cảm yêu con

người, yêu dòng tộc và cộng đồng cùng sinh sống trên mảnh đất quê hương Tình cảm đó được nuôi dưỡng trong cuộc sống lao động, chiến đấu và phát

Trang 22

triển trở thành ý thức yêu nước (ý thức về tổ quốc, về tổ tiên và cộng đồng quốc gia dân tộc, về nghĩa vụ của công dân đối với đất nước ) Từ ý thức yêu nước trải qua thực tiễn dựng nước, giữ nước phát triển thành triết lý yêu nước

Và, từ triết lý yêu nước được mở rộng ra, nâng cao lên và khái quát hóa thành

chủ nghĩa yêu nước Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng, chủ

nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ thống quan điểm và học thuyết về đất nước, về

tổ tiên và cộng đồng quốc gia dân tộc cùng với lòng tự hào và nghĩa vụ công dân đối với tổ quốc Việt Nam [28, tr.518]

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước, chủ nghĩa yêu nước đã thẩm thấu vào tâm hồn mỗi người, mỗi thế hệ Việt Nam và làm cho họ thấu hiểu được cảnh “nước mất, nhà tan” Vì vậy, bất luận trong hoàn cảnh nào thì “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Và, để đánh giặc và chiến thắng được kẻ thù tàn bạo, lớn hơn, mạnh hơn mình gấp nhiều lần, thì chúng ta không chỉ dừng lại ở tri thức “biết địch, biết ta”, mà còn phải biết nâng nó lên trình độ khoa học và nghệ thuật “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh”; và hơn nữa, phải biết “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” Khi nói về yêu nước (hay chủ nghĩa yêu nước Việt Nam), Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [49, tr.171]

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển thành khoa học

và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, thắng lợi của cuộc kháng chiến

Trang 23

chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã đưa Việt Nam đến thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội đã chứng minh cho giá trị cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với những nguyên lý bất tử: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; và, để bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc

và xây dựng đất nước phồn vinh thì “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Đó không chỉ là tiền đề quan trọng hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và quan điểm về nhà nước kiểu mới của Người, mà còn là yếu tố nền tảng vững chắc cho việc hình thành chế độ chính trị mới và nhà nước kiểu mới ở nước ta

Ý chí tự lực, tự cường dân tộc là phẩm chất quý báu của dân tộc được

hình thành từ thời cổ đại và luôn được tăng cường, phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Ý chí đó được thể hiện không chỉ ở việc tôn vinh quốc hiệu “Đại Việt”, “Đại Cồ Việt”, “Đại Ngu”, “Đại Nam”, “Việt Nam”, mà còn khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, cùng với hành động dũng cảm đánh giặc giữ nước, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng không khuất phục trước bất kỳ thế lực nào

dù chúng có hùng mạnh và tàn bạo đến đâu

Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc (1117 năm), mặc dù bị áp bức bóc lột, nhưng dân tộc Việt Nam quyết không để mất đất, mất nước, mất dân; quyết không bị đồng hóa và cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù, giành lại độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Trong thời kỳ phong kiến độc lập, ý chí tự lập tự cường dân tộc đã phát triển lên một trình độ mới, với việc khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập, có quốc hiệu riêng, có nhà nước và vị thế vua ngang hàng với các quốc gia trên thế giới:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Trang 24

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [4, tr.77]

Trong thời kỳ hiện đại, ý chí tự lập tự cường dân tộc được Hồ Chí Minh và nhân dân ta phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và được thể hiện mạnh mẽ trong “Tuyên ngôn độc lập” (1945): “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự

do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tư do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [46, tr.555-557] “Lời thề độc lập” ấy không chỉ tiếp sức cho dân tộc đánh thắng thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền quốc gia và lãnh thổ của đất nước, mà còn trở thành kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng nền dân chủ mới, nhà nước mới ở Việt Nam

Tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và nhân ái khoan dung

là giá trị nổi bật của dân tộc Việt Nam Nhờ có đoàn kết, tình yêu thương quý trọng con người và văn hóa nhân ái khoan dung mà ông cha ta đã huy động và phát huy được mọi sức mạnh của nhân dân để khẩn hoang, mở cõi, khắc phục

“thiên tai, địch họa”, xây dựng được giang sơn gấm vóc

Đoàn kết, trước hết bắt nguồn từ “con Hồng cháu Lạc”, sinh ra trong

“bọc trăm trứng” (đồng bào), phát triển thành cộng đồng “Nhà - Làng - Nước” với ý thức về quốc gia dân tộc và ý chí tự lực tự cường Đó là điểm tựa vững chắc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Bởi lẽ, “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không

có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [51, tr.276]

Trang 25

Tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được hình thành, phát triển trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, chiến đấu suốt hàng ngàn năm với phương châm “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa tắt đèn có nhau”, đi đến triết lý “bầu ơi thương lấy bí cùng” Đó không phải là lòng “thương hại”, không phải là kiểu thương tiêu cực “há miệng chờ sung”, mong đợi “ảo ảnh” cứu giúp của đấng siêu nhiên,

mà chính là hành động vì nghĩa cứu người, cứu dân, cứu nước Vì vậy, tình thương người luôn gắn với tinh thần vì nghĩa “Nghĩa là điều phải, đối chọi với điều trái Vì nghĩa là làm điều phải một cách có ý thức, chống điều trái Nghĩa cũng là tình cảm chính đáng gắn bó người với người trong sinh hoạt gia đình, xã hội, dân tộc, cho đến quốc tế Theo nội dung ấy, nghĩa là một sức mạnh tinh thần có thể khuyến khích, thúc giục, chỉ thị cho người ta hành động trên hướng tốt đẹp, cho dù làm việc nghĩa, mình chẳng được lợi riêng gì, mà lắm khi bị thiệt hại nữa là khác” [22, tr.297]

Cùng với tình yêu thương con người, lòng nhân ái khoa dung của con người Việt Nam thể hiện rất rõ trước hết không chỉ ở sự cảm thông với những người “lầm đường lạc lối” (“đánh kẻ chạy đi, không ai nỡ đánh người chạy lại”), mà còn bao dung độ lượng đối với kẻ xâm lược khi chúng đã thất bại Trên thực tế, “Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, cha ông chúng ta luôn vì đại nghĩa – “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” Khi kết thúc chiến tranh, chúng ta không giết tù binh, mà còn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men và phương tiện để họ về nước Sau đó, chúng ta thực hiện chủ trương hòa giải “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” để cùng hợp tác và phát triển vì hòa bình và tiến bộ xã hội” [21, tr.150]

Như vậy, tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và nhân ái khoan dung là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được Hồ Chí Minh kế

Trang 26

thừa, phát triển và nâng lên một trình độ mới trong toàn bộ tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng chính trị về xây dựng nền dân chủ mới và nhà nước kiểu mới

Đức tính cần cù, trí thông minh và sáng tạo là phẩm chất đặc trưng của

con người Việt Nam, được hình thành, phát triển trong lịch sử và thể hiện một cách sinh động, đặc sắc trong thực tiễn Trong suốt lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải luôn hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt với cái “rét cắt da cắt thịt” đan xen với cái “nóng như thiêu như đốt” để vừa sản xuất vừa chiến đấu chống những thế lực xâm lược to lớn và hung bạo của cả phương Đông và phương Tây Chính trong thực tiễn đó, hình thành và phát triển đức tính cần cù, trí thông minh và sáng tạo Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhà báo nổi tiếng Pháp R.Grilan đã nhận xét: “nhân tố của cuộc chiến tranh này là cái nhân tố mà không có một bộ máy điện tử nào của Mỹ có thể tính nổi, nhưng đó lại là nhân tố quyết định: khả năng chịu đựng gian khổ phi thường của người Việt Nam Khả năng này là phẩm chất vốn có của người Việt Nam nhờ ý chí tự cường và lòng yêu nước cực kỳ mãnh liệt” [38, tr.388] Nhiều học giả nước ngoài khi nghiên cứu về Việt Nam đều có nhận xét rằng, mọi cơ năng của người Việt Nam đều được huy động để làm việc: đầu nghĩ, vai gánh, lưng cõng, tay xách, chân chạy như bay Giáo sư Phan Ngọc đã khái quát: “công sức lao động dựng nên đất nước này của người dân Việt đã ở mức độ tột đỉnh, hiếm có dân tộc nào trên thế giới có thể sánh được” [62, tr.36]

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với “thiên tai địch họa”, luôn phải chống lại những kẻ ngoại xâm lớn hơn và mạnh hơn gấp bội lần Trong những hoàn cảnh ngặt nghèo đó, không chịu đựng gian khổ, không phát triển trí thông minh, sáng tạo, thì có thể mất nước, thậm chí có thể mất cả nòi giống dân tộc Những chiến công oanh liệt của dân tộc ta, mà tiêu

Trang 27

biểu là chiến thắng của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938; ba lần quân và dân nhà Trần đánh tan quân xâm lược Nguyên

- Mông trong thế kỷ XIII; quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh thắng 20 vạn quân Thanh năm 1789; thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khai sinh ra nước Việt Nam mới; chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” năm 1954, chiến thắng pháo đài bay B.52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội năm 1972 và Đại Thắng mùa xuân năm 1975 là những minh chứng hùng hồn, đầy sức thuyết phục cho đức tính cần cù, trí thông minh và sáng tạo của con người và dân tộc Việt Nam

Như vậy, chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự lập tự cường, tinh thần đoàn kết và tình yêu thương con người với nhân ái khoan dung, đức tính cần cù và trí thông minh sáng tạo là những giá trị truyền thống tiêu biểu, đã trở thành tinh hoa văn hóa chính trị của dân tộc Việt Nam, được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng Chúng được nở hoa, kết trái và “thăng hoa” trong con người, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh; trong đó, nổi bật tư tưởng chính trị về nhà nước kiểu mới

- Tinh hoa văn hóa - chính trị phương Đông

Với tính cách là tiền đề của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, trong đó

có tư tưởng về nhà nước, tinh hoa văn hóa - chính trị phương Đông bao gồm những giá trị tư tưởng chính trị - đạo đức của Phật giáo (Ấn Độ cổ đại), Nho giáo (Khổng Tử), tư tưởng “Pháp trị” của Hàn Phi Tử và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn

Phật giáo Ấn Độ cổ đại (Thích Ca Mâu Ni sáng lập) phản đối chế độ

cai trị dựa trên sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại, phê phán sự bất công của cuộc đời và xã hội, “khẳng định quyền sống tự do, bình đẳng về mặt tinh thần của con người Phật giáo kêu gọi con người sống từ bi, hỉ xả,

Trang 28

yêu thương lẫn nhau, không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, quý tiện” [63, tr.62] Đồng thời, Phật giáo “Thiết tha kêu gọi giải phóng con người chống lại

áp bức bóc lột, bất công, đưa ra mẫu hình xã hội lý tưởng, phản ánh khát vọng

tự do bình đẳng của quần chúng lao khổ” [63, tr.67]

Với nhữg ưu điểm mang tính nhân văn nói trên, Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên và phát triển trở thành quốc giáo của Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV

Nho giáo Trung Quốc cổ đại (Khổng Tử sáng lập) là học thuyết “Nhân

trị” Theo Khổng Tử, để yên dân, đất nước thái bình thịnh trị, thì không thể dùng “Pháp trị”, mà phải dùng “Nhân trị” Tức là, nhà cầm quyền phải “lấy lòng nhân ái để trị dân, lo cho dân đông đúc, giàu có và được giáo hóa, giữ cho dân được hòa bình, an lạc, ” [63, tr.79] Để làm được điều đó, Người cầm quyền phải học hành, tu dưỡng, rèn luyện và đạt được những phẩm chất quan trọng; nhân, trí và dũng Và, để quản lý xã hội có hiệu quả, thì người cầm quyền phải áp dụng phương pháp “chính danh, định phận”

Với nội dung và ý nghĩa nhân văn nói trên, Nho giáo được truyền vào nước ta từ đầu công nguyên và phát triển trở thành quốc giáo từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX Từ tuổi niên thiếu, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu Phật giáo, học Nho giáo và “Trước khi đi Tây Âu đã có đủ “mười năm đèn sách” và đạt trình độ cao về Nho học” [24, tr.125] Vì vậy, “Người hiểu biết Nho giáo rất sâu, rất rộng nữa Nhưng Cụ không phải là một nhà nho kiểu cũ mà là một người biết rõ những nhược điểm, những sai lầm nữa, của Nho giáo để mà tránh, song thấm nhuần những ưu điểm của nó để mà ứng dụng theo lợi ích của cuộc giải phóng dân tộc” [24, tr.129] Sau này, khi trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh viết rằng: “Đức Khổng Tử vĩ đại (năm 551 trước Giesu) đã khởi xướng nền đại đồng và thuyết giáo quyền bình đẳng về của cải Ngài nói tóm gọn là: Nền hòa bình thế giới chỉ nảy nở từ nền đại

Trang 29

đồng trong thiên hạ Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng”[29] Và, “học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”[67]

“Pháp trị” của Hàn Phi Tử cho rằng, người cầm quyền theo nhân

nghĩa để trị dân chỉ là ảo tưởng của Nho gia, điều đó chỉ làm hại cho nước vì bản tính con người là ác và tất cả các quan hệ xã hội đều hình thành, phát triển dựa trên lợi ích cá nhân Vì vậy, “Thánh nhân trị nước không cậy người

tự làm thiện, mà khiến người không được làm trái Cậy người tự làm thiện thì trong nước chẳng được mười người, khiến người không được làm trái thì một nước có thể khiến cho yên Kẻ trị nước dùng số đông mà bỏ ít, cho nên không

vụ đức mà vụ pháp” (Hàn Phi Tử, Hiển học)

“Pháp trị” của Hàn Phi Tử bao gồm ba yếu tố cơ bản: “Pháp - Thế - Thuật” “Pháp” là nội dung của phép trị nước, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội (trong đó, quy định những điều được làm và những điều không được làm đối với vua chúa, quan lại và thường dân; đồng thời quy định hình thức và mức độ thưởng phạt công minh) “Thế” là công cụ và phương tiện để thực hiện pháp; nó không chỉ là địa vị, thế lực, quyền uy của người đứng đầu chính thể (vua), mà còn là sức mạnh của dân chúng “Thuật”

là cách thức, phương pháp và nghệ thuật vận dụng pháp sao cho có hiệu quả

Có thể nói, “Pháp trị” của Hàn Phi Tử đã góp phần quan trọng vào công

cụ trị nước, an dân của các triều đại Trung Hoa trong lịch sử Bằng kiến thức

“Hán học” uyên bác, từ rất sớm Hồ Chí Minh đã tiếp cận “Pháp trị” và sớm hình thành ý thức về pháp luật trong công việc tổ chức nhà nước và quản lý

xã hội Theo Người, pháp luật ở một nước dân chủ phải dựa vào dân và phục

vụ nhân dân Trong khi đề cao yếu tố pháp luật, Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng yếu tố đạo đức trong việc xây dựng, thực thi pháp luật và quản lý xã hội

Trang 30

Như vậy, khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã có vốn sống

và tri thức “Quốc học”, “Phật học”, “Hán học” phong phú cùng tri thức

“Dương học” ban đầu rất quan trọng (tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, Người đã đọc và hứng thú phân tích từng luận điểm trong “Khế ước xã hội” của Rútxô) GS Trần Văn Giàu nhận xét: “Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước thì đã có một khối kiến thức không nhỏ gồm Quốc học, Hán học và phần nào “Dương học”, cái “Dương học” không phải Hồ Chí Minh chủ yếu tiếp thu từ trường Pháp Việt mà chủ yếu tiếp thu từ “tân thư”, “tân văn”” [24, tr.130]

- Tinh hoa văn hóa - chính trị phương Tây

Trong suốt 30 năm sống và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, chủ yếu là ở châu Âu, Hồ Chí Minh đã tiếp thu có phê phán và chắt lọc tinh hoa văn hóa - chính trị phương Tây để hình thành tư tưởng chính trị của mình Ờ

Mỹ (1912 - 1913), Hồ Chí Minh đã đọc luận văn của Linhcôn về nhà nước, nghiên cứu kỹ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ, chiêm ngưỡng tượng Nữ Thần tự do và khảo sát khu Brúclin – nơi sinh sống của người da đen Háclem

Ở Đức (1916), ở Anh và Pháp (1917 - 1920), Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền của phong trào Phục hưng châu

Âu, tư tưởng chính trị nhân văn của phong trảo Khai sáng Pháp; nhất là nghiên cứu kỹ cách mạng tư sản, nhà nước tư sản và dân chủ tư sản với những khẩu hiệu hoa mỹ về tự do, bình đẳng, bác ái Từ đó, Người rút ra kết luận rằng, Tuyên ngôn độc lập của cách mạng Mỹ phản ánh quyền lực tối cao của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền nhà nước, nhưng nhà nước Mỹ lại rơi vào tay một bọn ít người (bóc lột, ăn bám); vì vậy, “cách mạng thành công

đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ” [45, tr.270], và nguyên nhân của nó “là vì cách mạng Mỹ là cách mạng tư bản, mà cách mạng

tư bản là chưa phải cách mạng đến nơi”; rằng, “Cách mang Pháp cũng như

Trang 31

cách mạng Mỹ, nghĩa là cách mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa ” [45, tr.274]

Đặc biệt là, trong thời gian hoạt động ở châu Âu, Hồ Chí Minh có điều kiện nghiên cứu trực tiếp các tác phẩm của những nhà khai sáng nổi tiếng như Vônte, Rútô, Môngtexkiơ – những lý luận gia của cách mạng Pháp (1789) Tư tưởng đặc sắc của Vônte (trong tác phẩm “Những bức thư triết học, 1734) thể hiện tinh thần chống nhà nước quân quyền và nhà thờ, giáo hội; ủng hộ quyền

tự do, bình đẳng của dân chúng tham gia vào các công việc nhà nước

“Khế ước xã hội” của Rútxô đi tìm một “thỏa thuận chung” (Khế ước)

để bảo đảm cho cả nhà nước và thần dân đều thực hiện được quyền tự do, bình đẳng; trong đó nhấn mạnh đến “ý chí tối cao”, “quyền lực tối cao” của nhân dân đối với đất nước

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân của Môngtexkiơ được thể hiện trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (1741) với những nội

dung nổi bật: 1 Con người sinh ra tự do và bình đẳng, vì vậy mọi người đều

có quyền tham gia vào công việc nhà nước; 2 Trong xã hội có giai cấp, quản

lý xã hội bằng luật pháp là tất yếu và có hiệu quả; 3 Thể chế chính trị phải

bảo đảm tính khách quan, công bằng, không vụ lợi và pháp luật thể hiện ý chí

chung, không thể bị vi phạm; 4 Quyền lực chính trị của đất nước bao gồm

quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và các quyền này tồn tại độc lập và bình đẳng với nhau do ba cơ quan cũng độc lập, bình đẳng với nhau thực hiện Như vậy, các cơ quan nhà nước dùng quyền lực để đối trọng với quyền lực làm cho tính khách quan và tính tối thượng của pháp luật được bảo đảm, đồng thời có thể hạn chế được tình trạng lạm dụng quyền lực

Những tư tưởng tiến bộ mang tính nhân văn của các nhà khai sáng Pháp như luồng gió mới, kích thích tư duy chính trị Hồ Chí Minh, khám phá

Trang 32

ra con đường cứu nước trên cơ sở chắt lọc những tinh hoa văn hóa - chính trị của nhân loại để đi đến giá trị đích thực của tinh hoa văn hóa - chính trị Mác - Lênin

- Tinh hoa văn hóa - chính trị Mác - Lênin

Trên cơ sở kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa - chính trị của nhân loại, học thuyết chính trị Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, trong điều kiện chủ nghĩa tư bản thống trị, bóc lột và chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới, để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức bóc lột thì không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; rằng, giai cấp vô sản cùng với quần chúng lao động dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đấu tranh dùng bạo lực cách mạng đập tan nhà nước tư sản, giành quyền lực chính trị, thiết lập nhà nước kiểu mới (nhà nước xã hội chủ nghĩa) và dùng nhà nước như một công cụ đắc lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội; và rằng, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, cần phải xây dựng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh, xây dựng và thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đưa lại nhiều nhất những cơ hội và điều kiện để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình V.I.Lênin cho rằng, trong sự nghiệp cách mạng này, thành công trong công tác lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước thể hiện ở chỗ là: biết sống trong lòng quần chúng, hiểu tâm trạng quần chúng và giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng [33, tr.608]

Học thuyết chính trị Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng, đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc, giai cấp vô sản đứng đầu là Đảng Cộng sản có thể lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau khi giành thắng lợi, với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản chiến thắng ở các nước tiên tiến có thể thực hiện bước quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua giai đoạn

Trang 33

phát triển tư bản chủ nghĩa Trong quá trình cách mạng này, vấn đề quan trọng là phải xây dựng được Đảng Cộng sản trong sạch vững mạnh, xây dựng được một nền chính trị dân chủ (dựa trên liên minh “công - nông - trí”) và nhà nước kiểu mới của nhân dân lao động, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân

Có thể nói, học thuyết chính trị Mác - Lênin về Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ sở để Hồ Chí Minh phê phán, đánh giá các học thuyết nhà nước tư sản và thực tiễn tổ chức nhà nước tư bản Lý luận nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhất là mô hình nhà nước Xôviết có ảnh hưởng quyết định đến quá trình định hình nhà nước cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh Chính phủ

“công nông binh” mà Hồ Chí Minh đặt vấn đề cần phải xây dựng ở Việt Nam trong “Chính cương vắn tắt” là biểu hiện sinh động của mô hình Nhà nước Xôviết [42, tr.1]

Như vậy, trên nền tảng giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa - chính trị Việt Nam, từ những tinh hoa văn hóa - chính trị nhân loại, Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa - chính trị Mác - Lênin và tìm ra con đường cứu nước, cứu dân – con đường cách mạng vô sản Sau này, Người kể lại: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [53, tr.128]; và, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [52, tr.314] Suốt chặng đường tìm đường cứu nước và sau khi đã tìm ra con đường cứu nước, Hồ Chí Minh vẫn “đau đáu” nghĩ suy về mô hình nhà nước của cách mạng Việt Nam, sao cho nhà nước đó thực sự là nhà nước của dân,

do dân, vì dân Người không ngừng nghiên cứu lý luận về nhà nước, khảo sát thực tiễn các mô hình nhà nước trong lịch sử, nhất là nghiên cứu kỹ học

Trang 34

thuyết Mác - Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là khảo sát thực tiễn mô hình nhà nước Xôviết Trên cơ sở đó và căn cứ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh định hình nhà nước cách mạng Việt Nam là Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công

Tóm lại, bối cảnh thế giới và hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong những

thập niên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những điều kiện khách quan; tinh hoa văn hóa - chính trị của dân tộc và nhân lại, nhất là tinh hoa văn hóa - chính trị Mác - Lênin trở thành tiền đề tất yếu của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người về Nhà nước

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

1.2.1 Nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, dựa trên Mặt trận dân tộc thống nhất mà nền tảng là liên minh “Công - Nông

- Trí”

Trong một nền chính trị, vấn đề bản chất và quyền lực nhà nước luôn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các giai cấp, các lực lượng xã hội: Bản chất và quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp nào? Giai cấp đó sử dụng quyền lực thế nào và nó phục vụ lợi ích của ai? Đó là những vấn đề lớn, thuộc về lĩnh vực chính trị

Suốt quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng (từ năm

1911 đến năm 1945), Hồ Chí Minh đã trải nghiệm thực tiễn, khảo sát các giai cấp, các nhà nước trong lịch sử; và Người nhận thấy rằng: Nhà nước mang bản chất giai cấp, quyền lực nhà nước chỉ thuộc về một giai cấp nhất định và

nó phục vụ chủ yếu cho lợi ích của giai cấp thống trị Trong xã hội phong kiến, nhà nước mang bản chất giai cấp địa chủ phong kiến, quyền lực nhà nước thuộc về vua chúa và quan lại phong kiến và phục vụ cho lợi ích của chúng Còn trong chủ nghĩa tư bản, nhà nước mang bản chất của giai cấp tư

Trang 35

sản, tiếng là dân chủ, nhưng kỳ thực đó là thứ dân chủ giả hiệu, vì quyền lực nhà nước chỉ nằm trong tay một số ít những nhà tư bản và phục vụ cho giai cấp tư sản Từ đó, Hồ Chí Minh kết luận: “Nhà nước phong kiến là công cụ của địa chủ để thống trị nông dân Nhà nước tư sản là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị giai cấp công nhân Song từ cách mạng Nga thành công, một

xã hội mới ra đời, nhà nước đã trở nên công cụ thống trị của nhân dân lao động” [59, tr.261]

Như vậy, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam không thể đi theo mô hình nhà nước phong kiến đã lỗi thời và cũng không thể

là nhà nước tư bản với những hạn chế “chết người” của nó: “Tiếng là cộng hòa dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [55, tr.232] Vì vậy, Người luôn trăn trở, khám phá để tìm ra mô hình nhà nước kiểu mới, có thể khắc phục được những hạn chế của nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản và mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Những nguyên lý chung của học thuyết chính trị Mác - Lênin về nhà nước kiểu mới và tính ưu việt của nhà nước Xôviết là cơ sở để Hồ Chí Minh sáng tạo ra mô hình tổ chức Chính phủ công - nông - binh được thể hiện trong

Chính cương vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi (năm 1930) [42, tr.1,10] Tuy

nhiên, mô hình tổ chức Chính phủ công - nông - binh chỉ mang tính chất phác thảo; sau đó tình hình thế giới và Việt Nam có biến đổi, công cuộc giải phóng dân tộc (1941 - 1945) phát triển mạnh mẽ đã cung cấp những tư liệu mới giúp Hồ Chí Minh phát triển và hoàn thiện mô hình nhà nước kiểu mới của cách mạng Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII của Đảng (tháng 05/1941) khẳng định: Trong lúc này “quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh

tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”; Mặt trận Việt Minh phải đoàn kết

Trang 36

toàn dân, “thu hút mọi tầng lớp nhân dân”, “không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái miễn là họ có lòng tha thiết yêu nước” [39, tr.200] để tập trung lực lượng và sức mạnh “giải phóng dân tộc”

Và, “Sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ, chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, bọn thù” [3, tr.197] “Chương trình Việt Minh” nhấn mạnh: “Việt Nam độc lập đồng minh (nói tắt là Việt minh) chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị

áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam

Sau khi đánh đuổi được đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên chính phủ của nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ” [42, tr.583]

Trong giai đoạn 1941 - 1945, cách mạng Việt Nam có sự chuyển hướng chiến lược quan trọng: huy động và tập trung sức mạnh toàn dân, đánh đổ phát xít Nhật giành độc lập dân tộc Sự chuyển hướng quan trọng này tất yếu dẫn đến sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển mô hình tổ chức chính quyền nhà nước, từ mô hình “chính quyền Xôviết công - nông - binh” phát triển lên mô hình “chính quyền dân chủ nhân dân” Trên thực tế, ngay khi Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi, Hồ Chí Minh đã khẳng định và thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với tư cách là Nhà nước dân chủ nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình [52, tr.586]

Như vậy, trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa - chính trị nhân loại, nhất là tinh hoa văn hóa - chính trị Mác - Lênin vào việc thành lập nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

Trang 37

trong hoàn cảnh một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lại bị chiến tranh tàn phá nhiều năm Đó là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, dựa vào Mặt trận dân tộc thống nhất mà nền tảng là liên minh “Công - Nông - Trí”

Trong xã hội có giai cấp, bất kỳ nhà nước nào cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có và cũng không thể có một nhà nước phi giai cấp Một chính phủ nhân dân không phải là một chính phủ phi giai cấp Bởi

lẽ, bản thân khái niệm nhân dân đã mang tính giai cấp Nhân dân là “cộng đồng người thay đổi trong lịch sử, bao gồm một bộ phận, những tầng lớp, những giai cấp của dân cư mà theo địa vị khách quan của mình, có khả năng cùng nhau tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ của một nước nhất định trong một thời kỳ nhất định” [66, tr.401] V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng, khi dùng khái niệm “nhân dân”, Mác không thông qua khái niệm ấy để xóa đi sự khác biệt về giai cấp, mà Mác đưa vào khái niệm ấy những thành phần nhất định của dân cư, có khả năng làm cách mạng đến cùng Còn đối với

Hồ Chí Minh, “Nhân dân là bốn giai cấp: công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp này đoàn kết lại bầu ra chính phủ của mình Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ Đối với đế quốc, phong kiến và lũ phản động thì thực hành chuyên chính chống lại chúng, đàn áp chúng Trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều của nhân dân, tức là của giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công, nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính” [50, tr.217]

Giai cấp công nhân Việt Nam, do “sứ mệnh lịch sử” của mình, do “đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn” của mình, nên có đủ năng lực và điều

Trang 38

kiện đại diện cho lợi ích và quyền lực của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam hiện đại Vì vậy, khi khẳng định bản chất giai cấp công nhân của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đồng thời là khẳng định lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, tinh thần khoa học và cách mạng của nhà nước trong việc bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ đất nước; trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Để nhà nước có thể bộc lộ đầy đủ bản chất của mình và thực hiện được

“sứ mệnh cao cả” của mình, nhà nước cần được xây dựng trên cơ sở Mặt trận dân tộc thống nhất mà nền tảng là khối liên minh “Công - Nông - Trí” Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 02/1951) khẳng định: “Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính quyền dân chủ nhân dân, nghĩa là của công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản tri thức, tư sản dân tộc, và các thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ Những tầng lớp nhân dân ấy chuyên chính với đế quốc và bọn phản quốc Cho nên nội dung chính quyền đó là nhân dân dân chủ chuyên chính Chính quyền đó dựa vào Mặt trận dân tộc thống nhất, lấy liên minh công nhân, nông dân và trí thức làm nền tảng do giai cấp công nhân lãnh đạo” [1, tr.121] Có thể nói, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng và củng cố nhà nước, trên cương vị là nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò to lớn của đại đoàn kết dân tộc, của quần chúng nhân dân đối với vận mênh đất nước Đặc biệt là, Người luôn nhất quán trong tư tưởng và kiên trì trong sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân

1.2.2 Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Lịch sử phát triển của nhân loại và lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã chỉ ra rằng, khi nào chính quyền trọng dân, an dân, vì dân, “lấy dân làm gốc”, thì đất nước phát triển thịnh trị; trái

Trang 39

lại, khi nào chính quyền xa dân, coi thường dân, thì đất nước suy yếu; rằng,

“dân là gốc nước” không chỉ là “lẽ trời”, mà còn là triết lý chính trị định hướng cho sự biến đổi hưng thịnh hay suy vong đối với quốc gia dân tộc; và rằng, dân là nguồn sống “sinh tồn” của đất nước, là sức mạnh của quốc gia, dân có yên ổn thì quốc gia mới yên ổn, dân có giàu thì nước mới mạnh

Kế thừa và phát triển tư tưởng tiến bộ về “dân” (“nhân dân”) trong lịch sử; đồng thời, vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, nhất là trong các cuộc cách mạng xã hội và đổi mới,

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “dân là gốc nước”; vì vậy, tất cả đường lối, chủ trương, chính sách của cách mạng phải “lấy dân làm gốc” Trong tư tưởng chính trị

Hồ Chí Minh, “dân là gốc nước” được thể hiện trên bốn phương diện: 1 Dân

là vốn quý báu nhất; 2 Dân là cội nguồn của mọi sức mạnh vô địch; 3 Dân là chủ và dân làm chủ; 4 Dân là đối tượng phục vụ của mọi cuộc cách mạng

chân chính trong lịch sử Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh kiên quyết xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân

- Nhà nước của dân

Nhà nước của dân, trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, có nghĩa là:

“dân là gốc nước”, mọi quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân; vì vậy, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước Hồ Chí Minh khẳng định:

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân” [49, tr.515]; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân Chính phủ chỉ có một mục đích là: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” [50, tr.499]

Ở đây, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách thấu đáo và sâu sắc mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Khi dân là chủ thể quyền lực nhà nước,

Trang 40

thì “các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” [47, tr.56]

Rõ ràng là, trong một xã hội, khi dân là chủ thể của quyền lực thì mối quan hệ giữa nhà nước và cán bộ, nhân viên nhà nước với nhân dân đã thay đổi về chất Nếu trong nhà nước quân chủ phong kiến, vua là thiên tử (thực hiện chức năng “thế thiên hành đạo”), quan lại là “phụ mẫu chi dân”; thì trong nhà nước của dân, nhà nước và cán bộ, viên chức nhà nước chỉ là người được

ủy quyền, được trao quyền để gánh vác công việc chung của dân, của nước, chứ không phải là những ông “quan cách mạng” [47, tr.21]

Một phương diện quan trọng trong “Nhà nước của dân” là nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, trước hết là quyền bầu ra nhà nước, bầu ra chính quyền các cấp Vì vậy, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã rất kiên quyết trong việc tổ chức tổng tuyển cử để người dân thực hiện quyền làm chủ, thiết lập bộ máy nhà nước hợp hiến, hợp pháp bằng dân chủ Người chỉ rõ: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà

Trong cuộc tồng tuyển cử hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không phân chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái Hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó

Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết

Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân” [47, tr.133]

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm