1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đấu tranh phòng, chống các hiện tượng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở tĩnh hà tĩnh

106 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 762,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (7)
  • B. NỘI DUNG (13)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC HIỆN TƯỢNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN (13)
    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm của lứa tuổi chưa thành niên (13)
    • 1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chăm sóc, giáo dục thanh, thiếu nhi và đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên (24)
    • 1.3. Khái quát về công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên (30)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (42)
    • 2.1. Đặc điểm vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội tác động đến tình trạng vi phạm pháp luật do người chưa thành niên gây ra (42)
    • 2.2. Tình hình và nguyên nhân vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay (44)
    • 2.3. Những kết quả đạt được và hạn chế trong phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở Hà Tĩnh (58)
    • 3.1. Dự báo tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên và một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật (76)
    • 3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới (82)
    • C. KẾT LUẬN (101)

Nội dung

- Góp phần tìm hiểu các điều kiện và nguyên nhân phát sinh tội phạm để có những đánh giá chính xác, đồng thời đề xuất những khuyến nghị và giải pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và tội

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC HIỆN TƯỢNG VI PHẠM PHÁP LUẬT

CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 Khái niệm và đặc điểm của lứa tuổi chưa thành niên

Sự phát triển của trẻ em từ lúc chào đời đến khi trưởng thành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố có tác động lẫn nhau, bao gồm các yếu tố về điều kiện chăm sóc, môi trường sống, sự giáo dục, dạy dỗ của gia đình, nhà trường… Chính vì vậy, mỗi quốc gia khi thể chế hóa các quy định liên quan đến NCTN đều có những quan điểm, cơ sở tiếp cận khác nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, dân trí, phong tục, tập quán của mỗi nước

Tại Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em có ghi: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13, tr.1] Như vậy, có thể thấy việc quy định độ tuổi còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, là điều kiện riêng có của mỗi quốc gia, nhà nước Ở Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong một số văn bản quy phạm pháp luật Ở các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và đồng thời đều có những chế định pháp luật riêng áp dụng đối với NCTN theo từng lĩnh vực, cụ thể:

Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự để áp dụng các chế định liên quan đến NCTN, Điều 68, Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chỉ rõ: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC HIỆN TƯỢNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Khái niệm và đặc điểm của lứa tuổi chưa thành niên

Sự phát triển của trẻ em từ lúc chào đời đến khi trưởng thành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố có tác động lẫn nhau, bao gồm các yếu tố về điều kiện chăm sóc, môi trường sống, sự giáo dục, dạy dỗ của gia đình, nhà trường… Chính vì vậy, mỗi quốc gia khi thể chế hóa các quy định liên quan đến NCTN đều có những quan điểm, cơ sở tiếp cận khác nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, dân trí, phong tục, tập quán của mỗi nước

Tại Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em có ghi: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13, tr.1] Như vậy, có thể thấy việc quy định độ tuổi còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, là điều kiện riêng có của mỗi quốc gia, nhà nước Ở Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong một số văn bản quy phạm pháp luật Ở các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và đồng thời đều có những chế định pháp luật riêng áp dụng đối với NCTN theo từng lĩnh vực, cụ thể:

Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự để áp dụng các chế định liên quan đến NCTN, Điều 68, Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chỉ rõ: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [22, tr.83] Điều 12, Bộ Luật hình sự năm 1999 cũng quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [22, tr.52] Điều 18, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [29, tr.4] Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 cũng đã quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [24, tr.4] Tuy nhiên, khi nói về khái niệm trẻ em, Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016, lại xác định: “Trẻ em là người dưới

16 tuổi” [13, tr.1] Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành quy định NCTN thuộc đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm: NCTN từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra [15, tr.166]

Qua trình bày ở trên, ta thấy thực tế hiện nay có rất nhiều quy định khác nhau trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, khi áp dụng tuổi được coi là NCTN, trẻ em Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng, mỗi văn bản quy phạm pháp luật có những phạm vi điều chỉnh riêng phù hợp với từng lĩnh vực của đời sống xã hội, đây là vấn đề phù hợp Và tựu chung lại, chúng ta có thể thống nhất về khái niệm người chưa thành niên, đó là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về tinh thần, thể chất và nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân

1.1.1.2 Phòng, chống vi phạm phạm pháp luật của người chưa thành niên

Theo quan điểm của các nhà khoa học thì: Phòng tức là phòng ngừa; đó là hệ thống các biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm chủ động ngăn chặn không để cho hành vi VPPL của NCTN xẩy ra, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu hậu quả tiêu cực do hành vi VPPL của NCTN gây nên Phòng ngừa vi phạm pháp luật mang tính hệ thống, đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

Chống VPPL của NCTN là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ và hệ thống các biện pháp khác, để nếu có VPPL xảy ra thì phải kịp thời phát hiện, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Tiến hành giáo dục, cải tạo NCTN VPPL trở thành công dân có ích cho xã hội, xử lý kịp thời các hành vi VPPL, vừa để kịp thời ngăn chặn hậu quả xấu, đồng thời, kịp thời giáo dục NCTN vi phạm để họ trở thành những người có ích cho xã hội

Hai hướng hoạt động này có mối liên hệ hữu cơ, gắn chặt với nhau trong cùng một chỉnh thể thống nhất của công tác phòng, chống VPPL Muốn đấu tranh phòng ngừa VPPL có kết quả thì phải điều tra, phát hiện các loại VPPL và áp dụng các biện pháp xử lý Có điều tra phát hiện được VPPL thì mới có cơ sở để nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh VPPL và đề ra biện pháp phòng ngừa thích ứng

Qua nghiên cứu ở trên, có thể đưa ra khái niệm về phòng, chống VPPL do NCTN gây ra như sau: Phòng, chống VPPL của NCTN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp để răn đe, ngăn chặn, xử lý không cho hành vi vi phạm pháp luật phát sinh, phát triển, hạn chế và từng bước loại bỏ các nguyên nhân và điều kiện vi phạm pháp luật của NCTN, không để các hành vi vi phạm pháp luật do NCTN xảy ra, gây hậu quả thiệt hại cho con người và cho xã hội

1.1.2 Đặc điểm của lứa tuổi chưa thành niên

1.1.2.1 Sự phát triển của người chưa thành niên Đối với NCTN, giai đoạn từ 12 đến dưới 18 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Giai đoạn này trong đời sống trẻ em có sự biến đổi rất lớn về mặt sinh lý, sự phát triển tâm lý và tâm lý - xã hội Thể hiện qua các phương diện khác nhau đó là:

* Sự phát triển sinh lý và thể chất: Trẻ em ở lứa tuổi này phát triển nhanh về chiều cao Đôi khi giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn “nhảy vọt về tầm vóc” của con người Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu và giữa lứa tuổi này, ở trẻ có sự mất cân đối giữa chiều cao và cơ bắp Vì thế, các em thường lóng ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu, gây ra sự mất cân bằng, là nguyên nhân gây ra rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim - mạch Điều đó được biểu hiện dưới các dạng như: tim thường đập mạnh, huyết áp cao, hay bị chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc chóng suy giảm

Do đó, các em dễ xúc động, dễ bực tức, nổi khùng Vì thế, ta thấy ở các em thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động mạnh Hệ thần kinh của các em chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu kéo dài Tác động của những kích thích, kích động thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại xảy ra tình trạng bị kích động mạnh Đây cũng là thời kỳ phát dục Biểu hiện của thời này là cơ quan sinh dục phát triển và xuất hiện những dấu hiệu của giới tính

Trong thời kỳ đầu và giữa của lứa tuổi này các em chưa biết đánh giá, chưa biết kìm hãm và hướng dẫn bản năng, ham muốn của mình một cách đúng đắn, chưa biết kiểm tra tình cảm và hành vi, chưa biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với người bạn khác giới Vì vậy, người lớn cần giúp đỡ các em một cách tế nhị, khéo léo để các em hiểu đúng đắn vấn đề, không làm các em lo ngại

* Phát triển về trí tuệ: Ở giai đoạn chưa thành niên, các em phát triển khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo, có căn cứ và nhất quán hơn Tính phê phán của tư duy cũng phát triển Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan Tuy nhiên, nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực tư duy độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Ở độ tuổi này, các em đang bắt đầu phát triển năng lực lập luận và lập kế hoạch

“theo kiểu người lớn”, tuy nhiên chưa thực sự nhất quán

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chăm sóc, giáo dục thanh, thiếu nhi và đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã luôn luôn quan tâm, chăm lo cho trẻ em các dân tộc Việt Nam Thực tế cho thấy, tuổi trẻ là khởi đầu của một đời người, NCTN là thế hệ kế cận chuẩn bị bước vào lứa tuổi trưởng thành để trở thành chủ nhân đất nước Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đánh giá đúng đắn vai trò của thế hệ trẻ, đặt niềm tin sâu sắc vào thế hệ trẻ, thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục và tạo điều kiện để thế hệ trẻ nhanh chóng phát triển, trưởng thành, phát huy tiềm năng to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dành muôn vàn tình thương yêu sâu sắc, chăm sóc, dìu dắt, giáo dục thanh, thiếu niên và nhi đồng - lớp tuổi trẻ tương lai của đất nước Bác đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, mong mỏi thanh, thiếu nhi Việt Nam là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và truyền thống quý báu, tốt đẹp của dân tộc Trong thư gửi các cháu thiếu niên và nhi đồng nhân ngày khai trường đầu tiên dưới chế độ mới, Người căn dặn “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [30, tr.41]

Xuyên suốt quá trình giành, giữ độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò, tính tiên phong cách mạng của thế hệ trẻ; Nghị quyết 04 ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh đến công tác giáo dục thế hệ trẻ trong giai đoạn cách mạng mới Từ Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã có những chế định cụ thể làm cơ sở pháp lý trong bảo vệ các quyền tự do cơ bản của NCTN, phù hợp với truyền thống đạo lý, tính nhân đạo, nhân văn của người Việt Nam Bên cạnh đó, một số luật như: Luật Hôn nhân và gia đình quy định quyền nghĩa vụ của cha mẹ đối với giáo dục con cái Luật Trẻ em cũng quy định trách nhiệm trong bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, nhà nước, xã hội và mọi công dân

Tại Hội nghị toàn quốc về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2001, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nêu rõ quan điểm cơ bản chi phối toàn bộ đường lối của Đảng ta là “Coi trọng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trẻ em là tương lai của dân tộc Các em sẽ là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng khi các em còn chưa phát triển đầy đủ, còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, dễ bị tổn thương thì việc bảo vệ, chăm sóc về giáo dục trẻ em luôn luôn là mối quan tâm đặc biệt, hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Đó không chỉ thể hiện tình cảm và đạo lý của dân tộc, mà còn là trách nhiệm chính trị của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, là nhiệm vụ của mỗi công dân, mỗi gia đình và xã hội” “Trong phạm vi quốc gia, ưu tiên cho trẻ em có nghĩa là các vấn đề chăm sóc, bảo vệ, phát triển trẻ em, trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước phải thực hiện chính sách đầu tư ngày một tăng, để mọi trẻ em đều có cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thể thao một cách bình đẳng” [2, tr.7]

Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20/CT/TW, ngày 15/11/2012 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới Chỉ thị nêu rõ: Sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị khóa VIII, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả quan trọng Hệ thống pháp luật về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã từng bước được hoàn thiện Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được tăng cường

Tuy nhiên, Chỉ thị cũng nêu rõ: Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vẫn còn một số hạn chế, yếu kém Hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em chưa hoàn thiện Nhiều mục tiêu cụ thể quan trọng trong Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001

- 2010 thực hiện chưa đạt Đạo đức, lối sống xuống cấp, lệch chuẩn của một bộ phận trẻ em đang trở thành nỗi lo của gia đình và xã hội Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, bị lạm dụng sức lao động có xu hướng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng Tình trạng trẻ em phạm tội, trẻ em lang thang, bị tai nạn, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn là những vấn đề xã hội bức xúc… Các điểm vui chơi và các hình thức giải trí phù hợp với trẻ em còn thiếu Tình trạng học sinh bỏ học còn khá phổ biến ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nguồn lực trong xã hội dành cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em chưa đáp ứng yêu cầu Huy động cộng đồng vào chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, nhất là ở nông thôn còn yếu

Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể, gia đình, nhà trường và toàn xã hội Để tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong thời gian tới, Chỉ thị số 20 của Bộ Chính trị yêu cầu quán triệt và thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, các cấp ủy đảng, chính quyền cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động để mọi người dân thấy được tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Kịp thời tuyên truyền các điển hình tiên tiến, các tấm gương người tốt, việc tốt; quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; phê phán, lên án các hành vi VPPL, xâm hại, bạo lực, lôi kéo trẻ em vào hoạt động tội phạm và cản trở việc thực hiện các quyền của trẻ em

Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng mở rộng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; gắn với Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020; Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng trường học an toàn, thân thiện và xây dựng cộng đồng vững mạnh

Ba là, xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch hàng năm và 5 năm về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, từng ngành Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ, cần xác định các mục tiêu chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là một trong những nội dung trọng tâm của mục tiêu xã hội

Bốn là, xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Các địa phương ưu tiên bố trí quỹ đất cho việc xây dựng các công trình phúc lợi cho trẻ em Từng bước bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; trong đó ưu tiên kinh phí đầu tư các công trình cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em các gia đình chính sách, gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội Khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em Tổ chức thực hiện tốt Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các công ước, điều ước quốc tế khác có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế, khu vực nhằm trao đổi kinh nghiệm, huy động nguồn lực bên ngoài cho công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

Năm là, tăng cường quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, chính sách liên quan đến trẻ em và thực hiện các quyền của trẻ em

Sáu là, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em; Tăng cường giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em; phát hiện, ngăn chặn, lên án các hành vi bạo lực, VPPL, vi phạm quyền trẻ em

Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng đã xác định ba nội dung trọng tâm cần đạt trong xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam đó là: giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống lành mạnh cho thanh niên; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên và xây dựng môi trường, địa điểm vui chơi giải trí lành mạnh cho thanh, thiếu nhi Thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống VPPL trong lứa tuổi vị thành niên, làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng giáo dục cho thanh thiếu niên sẽ tạo cơ sở quan trọng cho việc thực hiện hiệu quả các yêu cầu nhiệm vụ trong chiến lược phát triển con người, xây dựng thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên” để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Đảng, Nhà nước ta luôn quán triệt: Trong đấu tranh NCTN VPPL luôn đặt việc giáo dục thuyết phục lên hàng đầu Việc xử lý NCTN VPPL phải chủ yếu lấy giáo dục thuyết phục, giúp đỡ họ để họ trở thành công dân có ích cho xã hội Đồng thời, phải xử lý nghiêm những đối tượng NCTN VPPL nhiều lần, nghiêm trọng, kéo dài, đặc biệt là các trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức Công tác phòng, chống NCTN VPPL phải được sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, sự quản lý trực tiếp, cụ thể và thường xuyên của các cấp chính quyền Phải sử dụng tổng hợp, có hiệu quả các biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, huy động được sự tham gia của các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội, gia đình và mọi công dân Phải lấy biện pháp phòng ngừa từ xa, ngăn chặn từ đầu, không cho NCTN vi phạm đạo đức xã hội và VPPL, nhất là phạm tội và trượt dài trên con đường phạm tội Bên cạnh đó, phải biết phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong đấu tranh phòng, chống NCTN VPPL, tạo thành một hệ thống quản lý, giáo dục về mặt tâm lý, xã hội đối với NCTN, tạo điều kiện cho NCTN phát triển toàn diện Sự phối hợp này sẽ tạo ra sự bổ sung các chức năng, nhiệm vụ và thế mạnh cho nhau, giúp giáo dục và phòng, chống NCTN VPPL hiệu quả hơn Nâng cao ý thức của toàn xã hội và mọi công dân đối với công tác này, xã hội hoá công tác phòng, chống NCTN VPPL Việc chăm sóc, giáo dục, phòng - chống NCTN

Khái quát về công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

1.3.1 Căn cứ pháp lý để đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam chưa có một đạo luật riêng về tư pháp NCTN Tuy nhiên, trên cơ sở thừa nhận sự hạn chế về nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của NCTN VPPL, các văn bản về xử lý NCTN VPPL có những quy định đặc thù về xử lý NCTN VPPL Hệ thống pháp luật liên quan đến phòng ngừa, xử lý NCTN VPPL nhìn chung có thể chia thành các nhóm:

Nhóm 1: Các văn bản về bảo vệ trẻ em nói chung, kể cả NCTN VPPL: gồm Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004); Luật Trẻ em (2016); Nghị định 71/2011/NĐ-CP, ngày 22 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nhóm 2: Các văn bản liên quan đến chế tài và thủ tục xử lý NCTN VPPL gồm: Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải cơ sở (1998); Luật Xử lý vi phạm hành chính (2012); Bộ luật Hình sự (1999, sửa đổi năm 2009); Bộ luật Tố tụng hình sự (2015); Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là NCTN

Nhóm 3: Các văn bản liên quan đến thi hành chế tài đối với NCTN VPPL gồm: Luật Thi hành án hình sự (2010), Nghị định 163/2002/NĐ-CP ngày 19/12/2003 quy định chi tiết biện pháp thi hành giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10/2000 quy định việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với NCTN phạm tội Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định số 66/2009/NĐ-CP ngày 01/8/2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003; Nghị định số 118/2010/NĐ-CP ngày 29/12/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26/7/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào các cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính về chế độ áp dụng đối với NCTN, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh Nghị định số 52/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định số 81/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định chế độ ăn, mặc, chăm sóc và quản lý học sinh trường giáo dưỡng Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ Nghị định số 61/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định việc thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng

Nhóm 4: Các chương trình, đề án quốc gia có liên quan như: Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống tội phạm; Đề án: Đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em trong lứa tuổi chưa thành niên Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao kiến thức pháp luật cho thanh, thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015, ban hành kèm theo Quyết định 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, ban hành kèm theo Quyết định 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ

Tóm lại, có thể thấy rằng, về cơ bản chúng ta đã có được một hệ thống các căn cứ tạo cơ sở để triển khai hiệu quả công tác phòng, chống VPPL, các văn bản nói trên đã tạo thành hệ thống cơ sở pháp lý, định hướng và là cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng, chống VPPL nói chung, phòng, chống VPPL do NCTN gây ra nói riêng

1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Là một bộ phận cấu thành nên tình trạng VPPL nói chung, VPPL trong lứa tuổi vị thành niên cũng gây ra những tác động tiêu cực và những hệ lụy nghiêm trọng trong xã hội Vì vậy, việc phòng, chống VPPL do NCTN gây có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện trên một số mặt như sau:

Vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm là một hiện tượng xã hội phức tạp, có tác động tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Công tác đấu tranh phòng, chống VPPL nói chung, công tác phòng, chống VPPL do người chưa thành niên gây ra mang ý nghĩa tích cực, thể hiện tính chủ động trong công tác đảm bảo an ninh trật tự, góp phần ngăn chặn, kiềm chế tình trạng VPPL, nhất là tội phạm, không để xảy ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội Trong trường hợp phát sinh VPPL, thì công tác phòng ngừa, giúp thu hẹp diện đối tượng, thực hiện chức năng răn đe, giáo dục, cải tạo, giúp đỡ NCTN tiến bộ và trở về với cộng đồng, xã hội, trở thành những con người có ích

Phòng, chống VPPL của NCTN mang ý nghĩa nhân đạo và tiến bộ xã hội sâu sắc, đảm bảo cho đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội được diễn ra thuận lợi, đời sống người dân ngày càng nâng cao, đảm bảo cho thế hệ trẻ có điều kiện được phát triển toàn diện về mọi mặt, định hướng cho các em những giá trị đúng đắn, không để các em sa vào con đường tội lỗi và phải chịu hình phạt của pháp luật

Công tác phòng, chống VPPL còn đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho công tác đấu tranh, xử lý VPPL trong lứa tuổi vị thành niên Trong những năm gần đây, vấn đề NCTN phạm tội có nhiều diễn biến phức tạp, qua thống kê của Bộ Công an, trung bình hàng năm phát hiện khoảng trên 10.000 vụ với trên 13.000 đối tượng phạm tội là thanh, thiếu niên Nếu chỉ bằng công tác điều tra, tập trung xử lý các hành vi phạm tội thì sẽ không hạn chế được tình trạng tội phạm trong xã hội Bên cạnh đó, công tác phòng ngừa VPPL giúp điều tra, nghiên cứu về đặc điểm các loại VPPL, nhất là hình sự do NCTN gây ra, các đặc điểm tâm, sinh lý, nhận thức của NCTN, phục vụ cho quá trình tiến hành các hoạt động điều tra, xử lý của của lực lượng Công an và các ngành chức năng

Về mặt kinh tế, phòng, chống VPPL do NCTN gây ra với mục đích ngăn chặn, kiềm chế tình trạng VPPL trong xã hội, sẽ góp phần hạn chế những thiệt hại về kinh tế, về con người mà xã hội phải gánh chịu; tiết kiệm chi phí, tiền của và sức lực của Nhà nước và xã hội bỏ ra để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khắc phục hậu quả của các hành vi VPPL gây ra cho xã hội và trong công tác cải tạo, giáo dục, thi hành án, thi hành các quyết định xử phạt đối với người chưa thành niên VPPL

Về mặt quản lý xã hội, thông qua hoạt động phòng, chống VPPL do NCTN gây ra, giúp nhà nước có thể kiểm soát được tình hình VPPL trong lứa tuổi vị thành niên trong xã hội, trên cơ sở đó hoạch định được các kế hoạch, giải pháp mang tính chiến lược về giáo dục, bảo vệ và phát triển thế hệ trẻ, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và có các biện pháp tăng cường hiệu quả trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Về mặt chính trị, xã hội: phòng, chống VPPL đối với NCTN, chính là bảo vệ chăm sóc thế hệ tương lai của đất nước, thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển con người Đặc biệt hơn, khi kẻ thù của chúng ta đang thực hiện nhiều ý đồ đen tối, mong muốn làm tha hoá đi thế hệ kế cận, chúng rắp tâm thực hiện ý đồ lôi kéo, tập hợp thế hệ trẻ quên đi quá khứ, truyền thống dựng và giữ nước của cha anh, biến lực lượng này tương lai sẽ là lực lượng đối trọng với Đảng, chính quyền cách mạng PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm đã viết: "Dưới chế độ ta, tội phạm và các vi phạm pháp luật khác được xem như những nhân tố bảo thủ làm cản trở sự tiến bộ của xã hội, kìm hãm việc hoàn thiện các quan hệ xã hội, chống lại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và là nhân tố chính gây nên sự bất ổn định về an ninh xã hội Bởi vì, bất kỳ một sự vi phạm pháp luật nào nhất là tội phạm đều gây ra cho xã hội những thiệt hại nhất định, gây nên nỗi bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân, làm tổn hại đến tính mạng và tài sản, làm rạn nứt lòng tin của nhân dân đối với uy tín của Đảng và chế độ nhà nước" [45, tr.247]

1.3.3 Biện pháp phòng, chống vi phạm phạm pháp luật của người chưa thành niên

1.3.3.1 Phòng ngừa vi phạm pháp luật

Có hai loại là phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ Phòng ngừa xã hội, đây là biện pháp có tính chất chung, rộng rãi và phòng ngừa từ xa, như biện pháp phát triển kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục, văn hóa với sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ trung ương xuống địa phương Đây là hoạt động phòng ngừa mang tính tổng thể, được thể hiện qua một số biện pháp sau:

Trước hết, là các biện pháp về kinh tế, nội dung của biện pháp này tập trung vào việc giải quyết các chính sách về kinh tế - xã hội liên quan đến các yếu tố là nguyên nhân điều kiện tác động, thúc đẩy các em rơi vào con đường VPPL mà trọng tâm là những giải pháp mang tính cấp bách, như: ưu tiên bố trí việc làm, có các chính sách về giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề cho NCTN đến tuổi lao động Xây dựng và triển khai các chính sách về kinh tế đối với các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, những nơi điều kiện sống có nhiều khó khăn với mục tiêu lâu dài là giảm thiểu cách biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các vùng miền, thu hút nguồn lao động, hạn chế tình trạng các em bỏ học do điều kiện kinh tế khó khăn, thoát ly gia đình, lang thang kiếm sống ở các thành phố lớn

THỰC TRẠNG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w