Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có hiệu quả, mang lại giá trị sản xuất cao cho xã hội, trước hết là các cấp uỷ Đảng phải tập trung lãnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-
LÊ HOÀNG GIANG
LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-
LÊ HOÀNG GIANG
LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Viết Quang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian qua Cảm ơn quý thầy, cô Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp cho tác giã nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình tôi học tập Chuyên ngành Chính trị học tại Trường Đại học Đồng Tháp
Tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS - TS Trần Viết Quang, Phó Trưởng khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn Đồng thời, tôi xin chân trọng cảm ơn Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Cờ Đỏ, Đảng ủy các xã, thị trấn, bạn bè trong và ngoài lớp đã nhiệt tình hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi trong việc khảo sát, thu thập dữ liệu, hình ảnh, đóng góp nhiều ý kiến và những kinh nghiệm quý báu để giúp tác giã thực hiện công trình nghiên cứu luận văn; cảm ơn sự quan tâm của lãnh đạo Đảng ủy Thị trấn Cờ Đỏ và gia đình đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giã trong suốt quá trình học tập
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn khoa học này nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong được sự nhận xét, góp ý của quý thầy cô và các bạn!
Đồng tháp, ngày 15 tháng 7 năm 2016
Lê Hoàng Giang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
A MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Những đóng góp của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
B NỘI DUNG 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 12
1.1 Nội dung, mục đích và yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện hiện nay 12
1.2 Nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 15
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 22
Kết luận chương 1 27
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CỜ
ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 28
2.1 Khái quát về huyện Cờ Đỏ và Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ 28
2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ 34
2.3 Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cờ Đỏ với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thời gian qua 47
Kết luận chương 2 59
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 60
3.1 Phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 60
3.2 Một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 66
Kết luận chương 3 82
C KẾT LUẬN 83
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCKT : Cơ Cấu Kinh Tế
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắng phù hợp với tình hình thực tế nước ta, trong đó vấn đề chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng; là nội dung trọng yếu trong đường lối phát triển kinh tế thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Do đó việc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian qua của huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ cơ bản hợp lý và đúng hướng, nhiều năm liên tục có tốc độ tăng trưởng khá cao, kinh tế phát triển ổn định, bền vững, đồi sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có hiệu quả, mang lại giá trị sản xuất cao cho xã hội, trước hết là các cấp uỷ Đảng phải tập trung lãnh đạo các địa phương, đơn
vị giảm dần hình sản xuất manh mún, lạc hậu, tự cung, tự cấp và các thành phần kinh tế kém hiệu quả, chuyển dần sang mô hình sản xuất gắn với các thành phần kinh tế có hiệu quả, để góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, bền vững, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH là nhiệm
vụ trọng tâm của Đảng bộ huyện trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ luôn quan tâm lãnh đạo phát triển kinh tế trên địa bàn huyện thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, mở ra triển vọng mới về phát triển mạnh KT - XH của huyện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn còn một số vấn đề quan tâm như: kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương; việc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế chỉ là bước đầu chưa thực sự vững chắc; thu nhập của nhân dân trong huyện còn thấp; chưa kịp thời tổng kết đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm để
Trang 8định hướng, lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn Để định hương cho nên kinh tế huyện nhà phát triển với tốc độ cao, bền vững, trước hết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn, đây là nhiệm vụ mục tiêu cơ bản trong thực hiện nhiệm vụ chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn (2015 - 2020) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI đề ra, tạo tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế thời kỳ (2020 - 2030) là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài của Đảng bộ huyện
Với vai trò là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của một đơn vị địa phương trực thuộc Đảng bộ huyện, được học tập cơ bản hệ thống về lý luận Xây dựng Đảng, có thời gian công tác khá dài ở cơ sở, giữ cương vị chủ chốt nhiều năm, tác giã luôn trăn trở và xác định trách nhiệm của mình đối với việc phát triển KT - XH của huyện, góp phần thức đẩy cho kinh tế của huyện phát triển nhanh, mạnh, đúng hướng và bền vững Vì vậy, tác giã
chọn đề tài nghiên cứu: “Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn” làm luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Chính trị học
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu nội dung chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn của các địa phương đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu được nghiệm thu, công bố và đăng tải trên các sách, báo, tạp chí, tiêu biểu như:
- “Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc
dân” Nxb CTQG, tập II, Hà Nội 1994 của GS - Ngô Đình Giao
- “Mối quan hệ công - nông nghiệp, dịch vụ trong sự hình thành nền
kinh tế thị trường ở nước ta” Nxb CTQG, Hà Nội 1997 do GS - TS Trần
Ngọc Hiên chủ biên
Trang 9- “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời
sống xã hội nước ta” do PGS - TS Lê Văn Lý chủ biên, Nxb CTQG, Hà
Nội 1999
- Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (TW) và Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn: “Con đường công nghiệp hoá Nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam” Nxb CTQG, Hà Nội 2003
* Ngoài ra còn một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về vấn đề liên
quan đến CCKT và chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH đã bảo vệ thành công ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, như:
- Nguyễn Văn Phát “Chuyển dịch CCKT ngành ở Thừa Thiên Huế
theo hướng CNH, HĐH”, Luận án TS kinh tế, Hà Nội, 2004
- Nguyễn Ngọc Thanh “Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo
thực hiện chuyển dịch CCKT”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004
- Đào Thị Vân “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch
CCKT theo hướng CNH, HĐH giai đoạn 1997-2003”, Luận văn Thạc sĩ
Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004
* Các bài đăng trên báo, tạp chí về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCKT như:
- Phạm Quang Diệu “Chiến lược CNH lan toả - chuyển đổi nền kinh
tế từ nông nghiệp sang công nghiệp”, Viện Kinh tế Nông nghiệp - Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Vũ Ngọc Hùng “Chuyển dịch CCKT ở Quảng Nam”, Tạp chí
Cộng sản số 72 tháng 2/2004
Các công trình nghiên cứu nói trên, chủ yếu đề cập đến chuyển dịch CCKT nền kinh tế quốc dân Một số công trình có đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, tỉnh, thành về chuyển dịch CCKT, nhưng dưới góc độ chuyên
Trang 10ngành Chính trị học, quản lý kinh tế Các bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập các khía cạnh khác nhau về chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH
Đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu có hệ
thống, toàn diện về: “Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ lãnh đạo chuyển dịch Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, làm rõ các quan niệm, những vấn đề lý luận, thực tiễn
về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn; sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn
- Khảo sát, phân tích thực trạng quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện từ năm 2010 đến nay, chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và tổng kết những kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để tăng cường
sự lãnh đạo quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Cờ Đỏ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn; sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 11- Luận văn nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ và sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn từ năm
2010 đến nay
- Phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Cờ Đỏ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, sử dụng các phương pháp chuyên ngành như: phương pháp chuyên gia, phân tích và thống kê; phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp điều tra; phương pháp lịch sử, logíc
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện
Cờ Đỏ và những địa phương khác
- Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Cờ Đỏ và các trường Chính trị trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Trang 127 Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 13B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
CẤP HUYỆN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1.1 Nội dung, mục đích và yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện hiện nay
1.1.1 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.1.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
- Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế thực hiện một loạt chức
năng trong hệ thống phân công lao động xã hội Ngành phản ánh một loạt hoạt động nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, nó được phân biệt theo tính chất và đặc điểm của quá trình cộng nghệ, đặc tính của sản phẩm sản xuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất
- Trong một vùng lãnh thổ (quốc gia, tỉnh, huyện) bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong nông nghiệp chính là làm thay đổi các quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong GDP của vùng đó
- Các ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội Như vậy phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành các ngành và cơ cấu ngành Chính
vì vậy chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình chuyển từ trạng thái cơ cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp hơn với sự phát triển tiến bộ của khoa học công nghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi yếu tố nguồn lực của đất nước
- Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn
là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp lý, đa dạng trong đó cần phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất
Trang 14khẩu Đồng thời phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế
1.1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn
ra trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chính là sự bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng Xu thế chuyển dịch
cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn bó cơ cấu kinh tế của từng vùng với cả nước
1.1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế
- Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng Trong nông nghiệp và nông thôn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau tuỳ mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng thành phần kinh tế cũng khác nhau Các thành phần kinh tế cơ bản như: kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, hộ gia đình Trong đó kinh tế hộ gia đình và kinh
tế trang trại là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các nông, sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân và kinh tế hộ tự chủ đang trong xu hướng chuyển dịch
từ kinh tế hộ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá và từng bước tăng tỉ lệ
hộ kiêm và hộ chuyên ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
- Do đó chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế chính là sự thay đổi về các đơn vị sản xuất kinh doanh, sang thành phần kinh tế nào nắm vai trò tự chủ trong việc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu cho nền kinh tế chung của xã hội Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã khẳng định việc chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh
Trang 15tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và coi trọng việc phát triển kinh tế nhiều thành phần Cho nên xu thế chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh
tế ở nước ta đó là sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế
hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản cho nền kinh tế quốc dân
- Vì vậy để có sản xuất hàng hoá lớn, nông nghiệp nông thôn nước ta không dừng lại ở kinh tế hộ sản xuất hàng hoá nhỏ mà phải đi lên phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá lớn, kiểu mô hình kinh tế trang trại Đối với kinh tế hợp tác phải nhanh chóng hoàn thiện việc đổi mới hợp tác xã kiểu
cũ theo luật hợp tác xã Đồng thời khuyến khích mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác kiểu mới, đó là những hợp tác xã có hình thức và tính chất đa dạng, quy mô và trình độ khác nhau Hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại phát triển theo nguyên tắc tự nguyện của các hộ thành viên và bảo đảm lợi ích thiết thực giữa hai bên
1.1.2 Mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Nhằm định hướng quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của huyện phù hợp với cơ cấu kinh tế, vùng kinh tế và thanh phần kinh tế gắn với mục tiêu cơ bản là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phải làm cho nền kinh tế phát triển, bền vững, đúng hướng, mang lại giá trị kinh tế cao cho xã hội gắn với quá trình phân công lao động xã hội, sự biến đổi của lực lượng sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của quan hệ sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH - HĐH đất nước
1.1.3 Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển từ nền kinh tế có CCKT: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang CCKT: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ - Nông nghiệp, yêu cầu cơ bản của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm cho giá trị sản xuất của 3 ngành trên đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng của ngành
Trang 16nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ tăng dần Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm, trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, tạo cho kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững
1.2 Nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.2.1 Nội dung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện
Trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã được Đảng Nhà nước rất quan tâm đến vấn
đề này Do đó việc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nội dung cơ bản cần tập trung thực hiện:
- Lãnh đạo tốt công tác tư tưởng, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, của Đảng bộ thành phố và của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn đến mọi cán bộ, đảng viên và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, gương mẫu, tích cực thực hiện Nghị quyết của huyện
- Lãnh đạo các tổ chức cơ sở Đảng, trước hết là cấp uỷ Đảng thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo đúng chủ trương nghị quyết của Đảng và vận dụng sáng tạo trên địa bàn huyện; đồng thời, cụ thể hóa Nghị quyết về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện phải phù hợp, sát thực với từng địa phương, đơn vị và
tổ chức thực hiện đạt kết quả
- Lãnh đạo chính quyền cụ thể hoá nghị quyết của cấp mình, phối hợp các ban, ngành đoàn thể tổ chức thực hiện nghị quyết gắn với sơ tổng kết, rút kinh nghiệm; xây dựng các mô hình kinh tế mới, điển hình tiên tiến
và nhân rộng trên địa bàn; làm tốt công tác thi đua khen thưởng, tăng cường kỷ luật Đảng; thực hiện nghiêm Nghị quyết của huyện
Trang 17- Lãnh đạo xây dựng, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ chủ chốt, trước hết
là cấp uỷ, Thường vụ cấp ủy xã, thị trấn, các ngành; cán bộ lãnh đạo quản
lý kinh tế, có đủ trình độ chuyên môn về kinh tế nông nghiệp, nông thôn, năng lực lãnh đạo sức chiến đấu trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn
- Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát chính quyến và các ban, ngành đoàn thể trong chỉ đạo, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyện về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, qua đó nắm được thuận lợi, khó khăn để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
1.2.2 Phương thức lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện
Lãnh đạo của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn là một hệ thống các hình thức, phương pháp quy trình lề lối, tác phong công tác, trong triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, được thể hiện tính hiệu quả trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh kinh tế nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy việc xác định phương thức lãnh đạo của Đảng bộ huyện không thể xem nhẹ, tuỳ tiện mà phải trên cơ sở nội dung lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của huyện
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn, thông qua Chính quyền cụ thể hoá chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ huyện, về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn thành nghị quyết của HĐND
và kế hoạch UBND; nhưng mục tiêu, nhiệm vụ chỉ tiêu cụ thể mang tính pháp lý để thực hiện
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT thông qua công tác tư tưởng, làm tốt công tác này sẽ nâng cao nhận thức trong Đảng và quần chúng nhân dân nắm vững nội dung nghị quyết của huyện; từ đó, tạo ra chuyển biến mạnh
Trang 18mẽ trong hành động cách mạng, thực hiện các mục tiêu của nghị quyết đề
ra về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn thông qua công tác tổ chức và cán bộ, là vấn đề quan trọng, có tính quyết định và đảm bảo cho nghị quyết của Đảng bộ huyện thực hiện có hiệu quả Do vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động của cấp uỷ Đảng từ huyện đến cơ sở, trọng tâm là xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh (TSVM); xác định rõ nội dung lãnh đạo, nhằm tạo ra những chuyển biến tiến bộ mới trong chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn bằng công tác kiểm tra, giám sát của các cấp uỷ Đảng, UBKT Huyện và cơ
sở về quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn Thông qua việc đánh giá những ưu, khuyết điểm trong quá trình chuẩn bị và ra Nghị quyết, tổ chức thực hiện Nghị quyết ở Huyện, đồng thời phát huy ưu điểm, kết quả đạt được, bổ sung, hoàn thiện để khắc phục những khuyết điểm, hạn chế Đảm bảo cho Nghị quyết của Huyện được thực hiện nghiêm túc và đạt kết quả
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn bằng quy chế hoạt động của cấp uỷ Đảng trong nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên; trước hết, là BCH Đảng bộ huyện luôn đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới công tác lãnh đạo; lấy hiệu quả KT - XH làm thước đo năng lực lãnh đạo của cấp uỷ Đảng từ huyện đến cơ sở
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn bằng việc phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Đây là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng bộ huyện Khi đã có Nghị quyết của huyện thì đảng viên có vai trò rất quan trọng, gương mẫu và đi đầu trong thực
Trang 19hiện Nghị quyết của Huyện uỷ; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đồng thời, phải biết tổ chức và động viên quần chúng nhân dân cùng thực hiện Có như vậy, mới nhanh chóng đưa Nghị quyết của huyện và của cấp
uỷ Đảng đi vào cuộc sống
- Lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn bằng việc lãnh đạo xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến Quá trình lãnh đạo huyện luôn coi trọng sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo trên từng lĩnh vực; tiếp tục điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ, giải pháp sát đúng, lãnh đạo thực hiện Nghị quyết đạt kết quả
Để phương thức lãnh đạo của Đảng bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn đạt được hiệu quả cao, phải có sự quan tâm lãnh đạo của Thành phố, sự giúp đỡ của các Sở, ban, ngành thành phố về cơ chế chính sách đặt thù cho huyện về đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
1.2.3 Quy trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện
Quy trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện gồm các bước cơ bản: Chuẩn bị và ra Nghị quyết; Quán triệt triển khai tổ chức thực hiện; Kiểm tra, giám sát và sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm
Bước một, chuẩn bị và ra Nghị quyết lãnh đạo xây dựng CCKT nông nghiệp, nông thôn:
- Để Nghị quyết của Đảng bộ huyện về lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn đúng quy trình, trước hết chuẩn bị ra Nghị quyết rất quan trọng; do đó, phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn, những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, Chỉ thị, Nghị quyết của TW, Thành uỷ về phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn; từ tiềm năng, thế mạnh và điều kiện tự nhiên - xã hội;
Trang 20chương trình toàn khoá của Đảng bộ huyện; từ thực tiễn và đề xuất của các phòng, ban của huyện, các xã, thị trấn trên cơ sở chọn những lĩnh vực, vấn
đề trọng yếu tạo bước đột phá về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện để xây dựng Nghị quyết
+ Thường trực Huyện uỷ trình Ban Thường vụ Huyện uỷ lựa chọn
và quyết định lĩnh vực quan trọng, vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần ra Nghị quyết; xác định chủ đề Nghị quyết, xây dựng đề cương của Nghị quyết
+ Ban Thường vụ Huyện uỷ giao cho UBND huyện, các ban của huyện có liên quan chuẩn bị nội dung dự thảo Nghị quyết tiến hành lấy ý kiến của các ngành kinh tế, cán bộ chủ chốt trong huyện, cán bộ có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn; khi cần tổ chức hội thảo và lấy ý kiến của nhân dân; sau đó trình Ban Thường vụ Huyện uỷ và Ban Chấp hành Đảng bộ huyện thảo luận cho ý kiến bổ sung, quyết định
- Ra Nghị quyết lãnh đạo:
+ Sau khi dự thảo Nghị quyết đã được các cán bộ chủ chốt, các ngành kinh tế và Thường trực Huyện uỷ tham gia, cơ quan được giao chủ trì bổ sung, hoàn chỉnh dự thảo Nghị quyết trình Ban Thường vụ Huyện uỷ thảo luận và quyết định
+ Quá trình thảo luận, phải làm rõ và thống nhất cao những nội dung
cơ bản của Nghị quyết như: quan điểm, phương hướng, mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp chú trọng đến các điều kiện đảm bảo cho Nghị quyết được khả thi Đồng thời, xác định rõ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính trong việc quán triệt, triển khai, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện Nghị quyết
+ Để Nghị quyết có chất lượng đi vào thực tế cần phải nhấn mạnh những khâu, nhất là những Nghị quyết đột phá, thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn tăng nhanh, khả thi trọng thực hiện qui
Trang 21trình lãnh đạo, phải phân công các đồng chí trong thường trực Huyện uỷ chịu trách nhiệm chỉ đạo trong từng khâu, công đoạn tổ chức hợp, thảo luận nhiều lần trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và tranh thủ sự lãnh đạo của Thành uỷ
Bước hai, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện về lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn:
Đây là vấn đề hết sức quan trọng, đảm bảo cho Nghị quyết của Đảng
bộ huyện trở thành hiện thực Qua thực tiễn và kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học cho thấy, việc tổ chức thực hiện quyết định (Nghị quyết), được tiến hành theo nhiều bước, nhưng tập trung ở các bước: vạch kế hoạch công tác, nắm vững nhiệm vụ, xác định những khâu quan trọng; chọn những người tổ chức và giúp việc để phân công nhiệm vụ, xác định các phương tiện
và điều kiện thực hiện; tổ chức kiểm tra, phân tích hiệu quả công tác
Trên cơ sở thực tiễn Đảng bộ huyện lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn thời gian qua, có thể khái quát quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Huyện uỷ Cờ Đỏ về chuyển dịch CCKT như sau:
- Sau khi có Nghị quyết, HĐND huyện tiến hành họp và ra Nghị quyết; UBND huyện, các ban Đảng, các ngành hữu quan, soạn thảo chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết
- Uỷ ban nhân dân huyện, các ban Đảng, các ngành, đoàn thể, MTTQ hoàn thành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện
Ban Tuyên giáo Huyện xây dựng kế hoạch quán triệt, triển khai Nghị quyết của Đảng bộ huyện; chuẩn bị các tài liệu có liên quan, hướng dẫn tổ chức triển khai Nghị quyết, in phát hành Nghị quyết
- Tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết và chương trình hành động
Trang 22+ Phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện uỷ, Thường trực Huyện uỷ trực tiếp quán triệt, truyền đạt Nghị quyết và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, đến đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện Chú ý nêu rõ yêu cầu khách quan, tính cấp thiết phải ra Nghị quyết, những nội dung cơ bản của Nghị quyết
+ Thông báo kế hoạch quán triệt, triển khai đến cấp uỷ Đảng trong huyện, coi trọng đội ngũ làm công tác truyền đạt Nghị quyết, nhất là báo cáo viên và các cơ quan phổ biến, tuyên truyền, vận động như: Đài truyền thanh, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Hội đồng phối hợp tuyên truyền giáo dục và phổ biến pháp luật, truyền đạt và phổ biến sâu rộng Nghị quyết của Đảng bộ huyện đến mọi cán bộ đảng viên và nhân dân trong huyện để thực hiện
Bước ba, lãnh đạo Đảng bộ, chi bộ cơ sở, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng
bộ huyện
Trên cơ sở Nghị quyết và Chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của huyện, các cấp uỷ cơ sở, cụ thể hoá xây dựng Chương trình hành động, kế hoạch, mục tiêu cụ thể phù hợp với đơn vị, địa phương mình và quán triệt, triển khai đến tất cả cán bộ, đảng viên trong Đảng
bộ, chi bộ; tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân tổ chức thực hiện Nghị quyết đạt kết quả
Bước bốn, lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện Nghị quyết
- Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Đảng
bộ huyện về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn Đây là vấn đề quan trọng để đảm bảo cho Nghị quyết của huyện được thực hiện nghiêm túc và đạt kết quả cao, Đảng ta khẳng định: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì
Trang 23coi như không có lãnh đạo” [39, tr.201] Vì vậy, Đảng bộ huyện thường xuyên và tăng cường kiểm tra, giám sát cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các ngành trong quá trình thực hiện Nghị quyết Phải kiểm tra, giám sát ngay
từ khi chuẩn bị ra Nghị quyết và quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của cấp uỷ cơ sở và các ngành đảm bảo cho Nghị quyết của huyện thực sự
đi vào cuộc sống
- Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết, tuỳ nội dung của Nghị quyết có thể chỉ đạo điểm rút kinh nghiệm; sau đó chỉ đạo mở rộng ra toàn huyện Những mô hình mới có hiệu quả về kinh tế ở cơ sở, đơn vị tạo nên, Ban Thường vụ giao các Ban của huyện, UBND huyện, các ngành kinh tế nghiên cứu đánh giá kết quả; tham mưu cho Đảng bộ huyện có chủ trương, Nghị quyết đúng đắn, sát hợp để triển khai trên địa bàn huyện
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.3.1 Xác định nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Căn cứ những yếu tố tạo nên sự lãnh đạo, nội dung lãnh đạo, phương thức và quy trình lãnh đạo của Huyện uỷ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, có thể đưa vào các tiêu chí sau đây để xem xét, đánh giá hoạt động lãnh đạo
- Thứ nhất, nhóm tiêu chí về xác định nội dung lãnh đạo và thực
hiện phương thức, quy trình lãnh đạo:
Cần xem xét việc xây dựng qui hoạch tổng thể kinh tế nông nghiệp của huyện nằm trong quy hoạch phát triển Kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2015 - 2020 định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Việc quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Thành uỷ nhất là các Nghị quyết, quan điểm, chủ trương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xuất phát từ tình hình và yêu cầu của địa phương để đề ra các chủ trương, Nghị
Trang 24quyết về kinh tế nông nghiệp Tính đúng đắn, khả thi của các chủ trương, Nghị quyết đó Cần xem xét việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
bộ huyện đối với kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, sự đổi mới ấy đã đạt được đến mức độ nào, có tác dụng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Xem xét việc thực hiện các bước trong quy trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp đã được xác định
- Thứ hai, nhóm tiêu chí về cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các chủ
trương, nghị quyết của Đảng bộ huyện về kinh tế nông nghiệp, nông thôn:
Xem xét việc cụ thể hoá các chủ trương, Nghị quyết của huyện, các công việc đã thực hiện để cụ thể hoá các chủ trương, Nghị quyết, lựa chọn các khâu trọng tâm trong tổ chức thực hiện Tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng gắn với quán triệt, học tập Nghị quyết xem xét việc tổ chức thực hiện các chủ trương của huyện về kinh tế nông nghiệp, nông thôn
- Thứ ba, nhóm tiêu chí về lãnh đạo bồi dưỡng, bố trí cán bộ trong lĩnh
vực kinh tế nông nghiệp, việc kiểm tra, giám sát thực hiện chủ trương của Đảng bộ huyện về kinh tế nông nghiệp và việc sơ kết, tổng kết rút ra kinh nghiệm:
Tập trung quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ gắn với điều động luân chuyển cho hợp lý một số cán bộ có chuyên môn về lãnh đạo định hướng cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển Tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, nhất là công tác giám sát của Huyện uỷ với các
tổ chức đảng và đảng viên trong thực hiện Nghị quyết Tổ chức sơ kết, tổng kết theo định kỳ, từng giai đoạn trong quy trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện
- Thứ tư, nhóm tiêu chí về lãnh đạo phối hợp các ban, ngành, cơ
quan, đơn vị trong huyện, tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan thành phố,
Trang 25huyện, chỉ đạo các xã, thị trấn trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Trong đó, cần chú ý xem xét việc phối hợp giữa cấp uỷ với các đoàn thể nhân dân, như: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các cơ quan quốc phòng và an ninh trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện về kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.3.2 Việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các chủ trương Nghị quyết của Đảng bộ huyện về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Các Nghị quyết của Đảng bộ huyện về kinh tế nông nghiệp, nông thôn được quán triệt kịp thời trong cấp uỷ và được Huyện uỷ chỉ đạo các cấp uỷ huyện, đến các xã, thị trấn xây dựng xây chương trình hành động,
kế hoạch thực hiện Nghị quyết Những Nghị quyết lớn, giải quyết những vấn đề cơ bản trọng tâm có tính chiến lược được Đảng bộ huyện chỉ đạo chặt chẽ và được các ban, ngành của huyện hỗ trợ giúp đỡ các xã, thị trấn xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện sát thực tế từng địa phương đơn
vị Ngoài ra thường xuyên chỉ đạo UBND huyện, chỉ đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngành liên quan tăng cường quản lý qui hoạch các vùng sản xuất hiện có, hạn chế việc quy hoạch ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Quá trình chứng tỏ những chủ trương trên là đúng đắn, đem lại kết quả bước đầu
Trên cơ sở Nghị quyết đã triển khai huyện chỉ đạo các ngành nghề
và các địa phương tiến hành điều tra khảo sát và chuẩn bị ngay trong quá trình xây dựng triển khai Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, nhất là Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện, xây dựng
kế hoạch tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyệntheo chức năng, nhiệm vụ của mình, từng đoàn thể xây dựng chương trình
Trang 26kế hoạch hoạt động thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện gắn với phát động các phong trào thi đua trong hệ thống đoàn thể từ huyện đến cơ sở trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn một cách hiệu quả
Lãnh đạo cơ quan quân sự, công an huyện và Công ty nông nghiệp
Cờ Đỏ, Nông trường Sông Hậu tập trung quán triệt thực hiện nghị quyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, kết hợp phát triển kinh
tế với quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện
1.3.3 Về bồi dưỡng bố trí cán bộ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng bộ huyện về kinh tế nông nghiệ, nông thôn và việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
Công tác đào tạo bồi dưỡng, bố trí cán bộ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, luôn được Đảng
bộ huyện quan tâm lãnh đạo Về công tác cán bộ được thông qua các đại hội của Đảng, chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, các Nghị quyết chuyên đề của Đảng về công tác cán bộ nói chung và cán bộ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nói riêng như: đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt đến đội ngũ cán bộ chuyên môn trên tất cả các lĩnh vực của nông nghiệp từ huyện đến cơ sở; có chính sách thu hút cán bộ
có trình độ cao vào công tác trong lĩnh vực này Bố trí đội ngũ cán bộ phù hợp với chuyên môn đào tạo và thực hiện luân chuyển cán bộ quản lý theo quy hoạch cán bộ Chủ động kịp thời đề ra nghị quyết số 04/NQ-HU về công tác đào tạo cán bộ gắn với thực hiện đề án 02/ĐA-HU về mở lớp đào tạo chuyên ngành kinh tế nông nghiệp, nông thôn cho phó chủ tịch các xã Ngoài ra tập trung triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp xây dựng nâng cao chất lượng các loại cán bộ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như: đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp; bởi vì, suy cho cùng lãnh đạo chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền và
Trang 27nhất là trong điều kiện hiện nay chính là lãnh đạo kinh tế nông nghiệp có hiệu quả
Tăng cường cử cán bộ đi đào tạo bồi dưỡng ở các trường ở Trung ương, thành phố và trong huyện; đề ra các quy định tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ trong quá trình học tập và công tác; có chính sách khuyến khích
và thu hút nhân tài vào làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình triển khai thực hiện nghị quyết về lãnh đạo kinh tế nông nghệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Cùng với các hoạt động kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện Nghị quyết có những vấn đề thuận lợi, khó khăn xin ý kiến của Thường trực Huyện uỷ những công việc mới nảy sinh trong thực tiễn, để từ
đó có sự chỉ đạo kịp thời có hiệu quả
Việc sơ kết, tổng kết rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn được Đảng bộ huyện và các cấp uỷ luôn coi trọng Trong suốt quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn qua từng thời gian, từng bước thực hiện các Nghị quyết, về kinh tế nông nghiệp của huyện đã duy trì đều đặn việc chỉ đạo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm từ
cơ sở đến cấp huyện, điều này đã góp phần làm cơ sở cho việc rút kinh nghiệm lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn của các cấp uỷ Đảng, đội ngũ cán bộ xác định được nhiệm vụ, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ từ huyện đến cơ sở và rút ra được các bài học quý trong quá trình tổ chức thực hiện
1.3.4 Về phối hợp các ban, ngành, cơ quan đơn vị trong huyện, tranh thủ sự giúp đở của các cơ quan cấp trên và chỉ đạo các xã, thị trấn trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trên địa bàn
Để lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện thực
sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, Đảng bộ huyện cần tập trung lãnh đạo sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể, MTTQ từ huyện đến các xã, thị trấn
Trang 28Xác định kinh tế nông nghiệp, nông thôn là một lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến các ngành, các đơn vị khác nhau, thực hiện tốt việc lãnh đạo phối hợp này tạo nên các hoạt động nhịp nhàng trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn nghĩa là sự lãnh đạo không làm chồng chéo chức năng nhiệm vụ của các ngành có liên quan Việc thực hiện các khâu trong quá trình ra quyết định, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát đến rút kinh nghiệm của Đảng bộ huyện, Trong khâu ra Nghị quyết và khi có Nghị quyết của huyện về kinh tế nông nghiệp, nông thôn Đảng bộ huyện lãnh đạo sự phối hợp các ban, ngành, MTTQ xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết, từ khâu tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết đến triển khai các bước thực hiện
Kết luận chương 1
Trên cơ sở lý luận lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thời gian qua Đảng bộ huyện đã bám sát chủ trương, nghị quyết của Đảng, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của địa phương đã mang lại kết quả khá toàn diện trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp Tập trung quy hoạch phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu thế mạnh của địa phương, phát triển thuỷ sản đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, chuyển dịch cơ cấu, nâng cao năng suất giá trị trên đơn vị diện tích, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho nhân dân
Những chủ trương đúng đắn trên của Đảng bộ huyện đã góp phần làm cho kinh tế nông nghiệp của huyện có bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, đời sống của người nông dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn được đổi mới, vị thế của nông nghiệp, nông thôn của huyện được nâng lên, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
2.1 Khái quát về huyện Cờ Đỏ và Đảng bộ huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Cờ Đỏ là huyện ngoại thành của thành phố Cần Thơ và là cửa ngõ giao lưu với các huyện phía Bắc tỉnh Kiên Giang Từ trung tâm của huyện (thị trấn Cờ Đỏ) đến các trung tâm quận huyện khác tương đối khá đều: theo tuyến đường bộ (ĐT.919) về phía Tây, thị trấn Cờ Đỏ cách thị trấn Vĩnh Thạnh khoảng 16,1 km và thị trấn Thạnh An khoảng 28,2 km; về phía Đông Nam, cách thị trấn Thới Lai 14,4 km; về phía Đông Bắc cách quận Thốt Nốt 18,68 km theo tuyến ĐT.921 Tổng diện tích tự nhiên toàn Huyện
là 311,15 km2 chiếm 22% diện tích tự nhiên toàn thành phố, dân số trung bình năm 2015 là 127.641 người, mật độ dân số 410 người/km2
Nhìn chung về đặc điểm tự nhiên, khí hậu, thời tiết của huyện Cờ Đỏ
có điều kiện thuận lợi trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nhất là nông lâm - thuỷ sản gắn với Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ, đây là điều kiện cơ bản, là tiền đề cho huyện nhà tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới:
- Về ranh giới địa lý hành chính:
+ Phía Đông giáp quận Thốt Nốt và quận Ô Môn
+ Phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh Kiên Giang
Trang 30+ Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Thạnh
+ Phía Nam giáp huyện Thới Lai
Huyện nằm trong tiểu vùng khí hậu của Nam bộ, với hai mùa chính
là mùa hạ và mùa đông; mùa hạ khí hậu nóng ẩm, ảnh hưởng của gió tây khô nóng; mùa đông khí hậu khô hanh, lạnh Nhiệt độ trung bình trong năm là 27,50C Lượng mưa trung bình nhiều năm từ 1.711,2 - 1.750mm, mưa nhiều vào tháng 7 - 9, lượng mưa chiếm tới 80% - 86% lượng mưa cả năm, cao nhất (tháng 9) xấp xỉ 400mm, thấp nhất (tháng 01) dưới 20mm Hàng năm thường có 2 - 3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến huyện và thường gây tốc mái, sập nhà, mất mùa
Toàn địa bàn được chia thành 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Cờ Đỏ và các xã: Trung An, Trung Thạnh, Thạnh Phú, Trung Hưng, Đông Hiệp, Đông Thắng, Thới Đông, Thới Hưng và Thới Xuân
Trung tâm của huyện đặt tại thị trấn Cờ Đỏ, là nơi tập trung các
cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà nước, các cơ
sở giáo dục, y tế, văn hóa cấp huyện và cũng là trung tâm kinh tế quan trọng của huyện Thị trấn Cờ Đỏ tuy là đô thị được hình thành lâu đời nhưng phát triển chậm do các tuyến giao lưu chưa thuận lợi
Về đường bộ, huyện Cờ Đỏ là giao điểm của các tuyến đường quan
trọng sau:
- Tuyến ĐT.922: kết nối thị trấn Cờ Đỏ với Thị Trấn Thới Lai và
QL.91;
- Tuyến ĐT.921: kết nối thị trấn Cờ Đỏ với quận Thốt Nốt;
- Tuyến ĐT.919: là tuyến kết nối huyện Vĩnh Thạnh và huyện Cờ Đỏ
với các quận huyện phía Đông thành phố Cần Thơ
Ngoài ra, địa bàn có các tuyến đường huyện hoặc tương đương đường huyện như: đường Nông trường Sông Hậu, đường Cờ Đỏ - Nóc
Trang 31Bằng, đường Đông Bình - Cờ Đỏ, đường Thơm Rơm, đường nông trường
Cờ Đỏ và các tuyến đường nội thị, liên xã
Về đường thủy, trục kênh Thốt Nốt hiện là tuyến đường thủy quan
trọng nối liền các huyện vùng trung tâm tỉnh Kiên Giang ra sông Hậu, là một trong các tuyến vận chuyển lúa quan trọng của vùng Tứ giác Long Xuyên với điểm nút quan trọng là trung tâm nông sản Thốt Nốt Huyện Cờ
Đỏ có 4 sông chính nối ra sông Hậu thuận tiện cho vận chuyển và giao lưu hàng hoá, các phương tiện từ 200 - 1000 tấn vận tải ra biển thông thương trong thành phố và cả nước
Hệ thống thủy lợi: những năm gần đây được thành phố quan tâm đầu tư
nâng cấp 80,75 km kênh, hàng 100 km đê đảm bảo tưới tiêu và thoát nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, hiện tại có kênh Thơm Rơm, đã lâu không được nạo vét, nên việc tiêu thoát lũ gặp khó khăn, nhất là trong những năm xảy ra mưa lớn làm cho sản xuất và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Huyện Cờ Đỏ hiện trạng là một trong những địa bàn sản xuất nông nghiệp quan trọng của thành phố Cần Thơ, hướng đến hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu lương thực - thực phẩm của khu vực nội thị và cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đồng thời cũng là một trong các địa bàn trọng điểm xây dựng nông thôn mới Do đặc điểm tự nhiên và tiềm năng, lợi thế của địa phương, huyện Cờ Đỏ được chia thành 2 vùng khá rõ rệt:
Vùng Đô thị: Thị trấn Cờ Đỏ có diện tích là 831,97 ha, dân số 13.265
người; là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hoá của huyện, có thế mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN), thương mại - dịch
vụ và văn hoá
Trang 32Vùng Đồng bằng nông nghiệp: gồm 09 xã, có diện tích là 30.284 ha,
dân số 113.162 người Vùng này có thế mạnh phát triển nông nghiệp, trông cây ăn trái, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS)
Trong tầm nhìn dài hạn, với vị trí tiếp giáp các quận nội thành của thành phố Cần Thơ (Ô Môn, Thốt Nốt) và cửa ngõ giao lưu của các huyện trung tâm tỉnh Kiên Giang hướng về trung tâm nông sản Thốt Nốt, với lợi thế về quỹ đất công và các công ty nông nghiệp trên địa bàn, huyện Cờ Đỏ
là có nhiều tiềm năng thuận lợi trong việc xây dựng và nhân rộng các mô hình - khu - vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ - kỹ thuật cao và phát triển dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp cấp vùng, đồng thời là địa bàn trung chuyển quan trọng của trục ĐT.919 nhằm phát triển giao lưu kinh tế Trong điều kiện thu hút đầu tư thuận lợi huyện Cờ Đỏ sau năm 2020 có nhiều tiềm năng đẩy mạnh sản xuất kinh doanh công thương nghiệp cũng như góp phần giảm áp lực đô thị hóa về phương diện dân cư, cảnh quan, môi trường sống
Về tài nguyên nước: Huyện Cờ Đỏ có nguồn nước của hệ thống sông
Hậu qua sông sáng Thốt Nốt, kênh Đứng, kênh Thơm Rơm có chiều dài 25,8 km và diện tích lưu vực 250 km2
chảy ra biển tỉnh Kiên Giang Tổng lượng nước sông Hoạt trung bình nhiều năm là 150.000.000m3; lớn nhất là 223.000.000m3, nhỏ nhất là 95.000.000m3
Về tài nguyên đất: tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện: 31.115 ha,
trong đó đất nông nghiệp là 27.587 ha, chiếm 88,66% diện tích tự nhiên bao gồm: đất trồng lúa 25,230 ha, đất trồng cây hàng năm 1.037, ha; đất có mặt nước NTTS 1.320 ha Các loại đất khác chưa sử dụng 133,24 ha
Về kết cấu hạ tầng KT - XH: Hệ thống giao thông, đường bộ, đường
sắt và đường thuỷ trên địa bàn huyện, rất thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, Quận trong thành phố và cả nước
Trang 33Hệ thống điện: mạng lưới điện của Huyện Cờ Đỏ có bước phát triển
khá, 100% số xã, thị trấn có điện và 99% số dân dùng điện lưới, góp phần phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân Song, mạng lưới điện hạ thế xuống cấp khá nặng, tỷ lệ thất thoát điện năng lớn, chất lượng cung cấp điện còn nhiều hạn chế Hiện nay huyện đã quy hoạch phát triển nâng cấp lưới điện và đang từng bước đầu tư, chuyển đổi phương thức quản lý kinh doanh điện
Hệ thống thông tin, liên lạc của huyện có bước phát triển nhanh
chóng, trang thiết bị khá hiện đại đã nâng cao chất lượng dịch vụ Toàn huyện có 1 Bưu điện trung tâm và 8 điểm Bưu điện văn hóa xã; đến hết năm 2010, toàn huyện có 98.000 máy điện thoại, bình quân 80 máy/100 dân, 10/10 xã, thị trấn có máy điện thoại, đáp ứng yêu cầu phát triển KT -
XH
Hệ thống cấp, thoát nước sinh hoạt: trên địa bàn huyện hiện nay có
14 Nhà máy nước ngầm với công suất 2.000 m3/h, phục vụ cho nhân dân Huyện Cờ Đỏ Đến hết năm 2014, toàn huyện có 98% dân số sử dụng nước hợp vệ sinh Tuy nhiên, việc xử lý rác thải, cống thoát nước chưa tốt nên ảnh hưởng đến môi trường chung
2.1.2 Đặc điểm chính trị, văn hoá - xã hội
Huyện Cờ Đỏ nằm ở phía Bắc thành phố, có vị trí rất quan trọng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm Nơi đây có Chi bộ An Nam Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cần Thơ tại huyện Cờ Đỏ, cái nôi truyền thống cách mạng, đánh thắng 2 quân xâm lược đế quốc Pháp và Mỹ giành lại độc lập tự
do cho Tổ quốc, đã đóng góp không nhỏ sức người, sức của giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đem lại ấm no hạnh phúc cho dân tộc Huyện có 01
xã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Trang 34- Về chính trị: trong công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Huyện
uỷ, KT - XH có bước phát triển khá tốt, chính trị ổn định; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, phương thức lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, hoạt động của chính quyền trong huyện có nhiều đổi mới, năng động, sáng tạo và hiệu quả hơn Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng; trình độ, năng lực tổ chức chỉ đạo và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảng viên trong huyện được nâng lên một bước Nhân dân trong huyện phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là Huyện uỷ và cấp uỷ Đảng trong huyện, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thử thách, đoàn kết thống nhất; ra sức thi đua lao động sản xuất, chuyển dịch CCKT, xây dựng nông thôn mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc
- Về văn hoá, xã hội:
+ Dân số trung bình của huyện năm 2015, có 126.427 người Trong
đó, nam chiếm 51%, nữ chiếm 49% Dân tộc Kinh có 117.273 người, chiếm 92,75%; dân tộc khemer 8.697 người, chiếm 6,87%; Hoa 442 người chiếm 0,34%; dân tộc khác 15 người, chiếm 0,01% dân số toàn huyện Dân
cư nông thôn chiếm 76,27%, dân cư đô thị 23,73% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm là 0,1%o, toàn huyện có 29.752 hộ, trong đó số
hộ nông nghiệp là 22.692 hộ, chiếm 76,27% tổng số hộ trong huyện; Dân
số trung bình phi nông nghiệp 38.840 khẩu, chiếm 30,72%; lao động nông nghiệp 69,27%, chiếm 81,2% lao động xã hội Huyện đạt phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và Trung học cơ sở; có trên 50% số trường đạt chuẩn quốc gia, số phòng học kiên cố đạt 100%, tỷ lệ người biết chữ chiếm trên 99% dân số; mỗi năm có từ 400 - 450 em đậu vào Đại học, Cao đẳng Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân được quan tâm, nâng lên một bước đáng kể về chăm sóc sức khoẻ về y tế
Trang 35+ Số lượng và chất lượng lao động: năm 2015, toàn huyện có 82.745 lao động, chiếm 65,44% dân số Tỷ lệ lao động được đào tạo chiếm 22,3% tổng số lao động toàn huyện; trong đó, số lao động có trình độ Đại học, trên Đại học chiếm 11% số lao động được đào tạo; Trung cấp chiếm 24,6%, công nhân và lao động qua đào tạo 62,9%
Bên cạnh những đặc điểm thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội nêu trên, Huyện Cờ Đỏ đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển: điểm xuất phát thấp
về kinh tế, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh, thiếu tính bền vững; sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu và thường bị thiên tai, gây nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống, CN - TTCN phát triển chưa mạnh; CCKT nông nghiệp chuyển dịch chậm, cơ cấu lao động chủ yếu là trong nông nghiệp, số lao động có tay nghề kỹ thuật trên các lĩnh vực còn thấp, chủ yếu là lao động giản đơn, thủ công; việc thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH; văn hoá, xã hội tuy có nhiều tiến bộ; song, nhiều mặt còn hạn chế, chưa tạo ra động lực mạnh để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp trên địa bàn huyện
2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
2.2.1 Khái quát về sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cờ Đỏ
Hơn 10 năm qua, Đảng bộ huyện Cờ Đỏ đã lãnh đạo các cấp, các ngành và nhân dân khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách, năng động, sáng tạo, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
và Nghị quyết của Thành uỷ Cần Thơ, tích cực chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn gắn với thực hiện các chỉ tiêu KT - XH thời kỳ 2011 -
2015 và nghị quyết Đại hội X Đảng bộ huyện (2010 - 2015) tiếp tục thực
Trang 36đạt được thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện Đảng bộ huyện Cờ Đỏ
có 51 chi bộ, đảng bộ cơ sở trực thuộc, với 2.445 đảng viên, tỷ lệ tổ chức
cơ sở đảng trong sạch vững mạnh hàng năm đạt trên 90%, đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ bình quân hàng năm đạt trên 98%
- Kinh tế của huyện phát triển khá toàn diện, thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước giai đoạn (2010 - 2015), tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 11,91%/năm; Năm 2015, NN - LN - TS tăng 6,35%, CN - XD tăng 25,08%, DV tăng 19,05% So với thời kỳ 2006 - 2010, tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 9,5%; trong đó NN - LN - TS tăng 5,52
%/năm; CN - XD tăng 19,45%/năm; DV tăng 16,67 %/năm (xem phụ lục 1)
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng đạt 10,52%; năm 2015, tốc độ tăng trưởng đạt 12,69%, CCKT tiếp tục chuyển dịch đúng hướng
- Sản lượng lương thực không ngừng tăng lên, năm 2014 đạt 435.000 tấn, tăng 1,36 lần so với năm 2010 (319.375 tấn), bình quân lương thực đạt 3.440 kg/người/năm (toàn thành phố 2.100 kg/người/năm) (xem phụ lục 4)
Năm 2010 đạt 319.375 tấn, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2006 (245.673 tấn), bình quân lương thực 2.559 kg/người/năm; Năm 2014 đạt 435.000 tấn, bình quân lương thực 3.440 kg/người/năm; Năm 2015 đạt 404.480 tấn, bình quân lương thực 3.169 kg/người/năm, giải quyết tương đối vững chắc về lương thực (xem phụ lục 4)
Một số cây ăn trái được đầu tư, mở rộng diện tích và thâm canh, đang dần hình thành các vùng chuyên canh và các cơ sở chế biến nông sản Nhiều mô hình kinh tế đạt hiệu quả cao, như: mô hình cánh đồng mẫu lớn 127,8 triệu đồng/ha/năm, hộ thu nhập 85 triệu đồng/hộ/năm, trang trại tập trung NTTS; chăn nuôi phát triển mạnh, tăng cả về số lượng, chất lượng và
Trang 37giá trị Giá trị sản xuất trên một ha canh tác tăng nhanh từ 111,5 triệu đồng (năm 2011) lên 136,9 triệu đồng (năm 2015) (xem phụ lục 4)
- Thu ngân sách hàng năm tăng nhanh, bình quân hàng năm đạt 110% dự toán; thu nội địa thường chiếm xấp xỉ 50% tổng nguồn thu Năm
2010 thu 21,9 tỷ đồng, năm 2014 thu 67,6 tỷ đồng, năm 2015 thu được 62,8 tỷ đồng
Thu nhập bình quân của người dân ngày càng tăng, năm 2010 (13,7 triệu) đạt 685 USD Năm 2015 (28,4 triệu) đạt 1.419 USD (xem phụ lục 4)
- Kết cấu hạ tầng KT - XH: đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT -
XH trong những năm gần đây tăng đáng kể, vốn đầu tư bình quân thời kỳ (2010 -2015), đạt gần 757,818 tỷ/ năm; nhiều công trình quan trọng phục
vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương như: trụ sở Huyện uỷ, UBND huyện, hạ tầng kỹ thuật khu hành chính huyện giai đoạn 1, xây dựng 154,853 km đường giao thông và 165 cây cầu các loại, củng cố hệ thống đê bao phục vụ sản xuất
- Hệ thống điện từng bước được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển sản xuất, chuyển dịch CCKT nông nghiệp của huyện
2.2.2 Sự hợp lý và đúng hướng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện thực sự hợp lý, đúng hướng được sự đồng tình ủng hộ tích cực của bà con nhân dân tham gia Góp phần nâng cao giá trị sản xuất của các thành phần kinh tế được thể hiện rõ nét từ: NN - TS, TM, DV chuyển dịch nhanh sang
cơ cấu: CN, TTCN, TM-DV, NN - TS, đây là bước chuyển cơ bản quan trọng, tạo thuận lợi cho sự phát triển chung của huyện
- Ngành nông nghiệp - thuỷ - sản:
Trang 38Cờ Đỏ là huyện thuần nông độc canh cây lúa, thường bị ảnh hưởng thiên tai mất mùa; đã ảnh hưởng đến đời sống của bà con nhân dân Trước thực tế trên huyện đã chủ động mạnh dạng chuyển đổi cơ cấu giống chất lượng cao, cơ cấu mùa vụ, ngành nghề phù hợp; xây dựng mô hình sản xuất cánh đồng mẫu lớn mang lại hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất của huyện cụ thể từng giai đoạn
Thời kỳ 2006 - 2010, đạt 2.012,3 tỷ đồng Tốc độ tăng bình quân là 5,0%/năm, trong đó, nông nghiệp tăng 5,1%, thuỷ sản tăng 4,6%
Thời kỳ 2011 - 2015, giá trị sản xuất đạt 2.894,8tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân là 6,7%/năm, cao hơn thời kỳ 2006 - 2010 là 1,7%/năm (Nông nghiệp tăng 7,5%, thuỷ sản tăng 1,8%) (xem phụ lục 3)
Năm 2015, diện tích sản xuất vụ đông xuân 25.000 ha, chủ yếu là lúa Jasmine 85, năng suất bình quân đạt 7,5 tấn/ha, sản lượng đạt 187.500 tấn
Trong những năm gần đây, NTTS phát triển khá mạnh, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2015 đạt 150,0 tỷ đồng
Năm 2013, huyện đã thử nghiệm mô hình sản xuất mới: Lúa - cá, lúa – tôm, lúa - màu ở 8 xã Trung Thạnh, Trung an, Thạnh phú, Trung Hưng, Đông Thắng, Đông Hiệp, Thới Đông, Thới Xuân, trên diện tích 6.918 ha
đã đem lại hiệu quả Năm 2014, Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo chuyển diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS, thực hiện dự án NTTS chân ruộng, tập trung có quy mô từ 850 - 900 ha ở các xã Thới Hưng, Thạnh Phú, Thới Đông, Thới Xuân, Đông Thắng, Đông Hiệp đều đạt kết quả tốt
Năm 2012, diện tích nuôi thăm canh, bán thăm canh 6.621 ha (trong
đó 3.853 ha nuôi kết hợp lúa cá), sản lượng thuỷ sản đạt 13.335 tấn; năm
2015, đạt 31.460 tấn, gấp 2,4 lần so với năm 2012 Năm 2015 diện tích nuôi trồng ổn định 6.835 ha (trong đó 6.617 ha nuôi kết hợp), sản lượng đạt
Trang 3931.460 tấn, đáng chú ý là nuôi theo mô hình lúa - cá đem lại hiệu quả cao hơn từ 2 - 3 lần so với 2 vụ lúa (xem phụ lục 5)
Trong kinh tế trang trại huyện Cờ Đỏ phát triển khá mạnh, số lượng trang trại tăng nhanh và có hiệu quả
Năm 2010, có 06 trang trại, diện tích 40 ha chủ yếu là trang trại nuôi
bò, heo, vịt, đến năm 2014 có 08 trang trại và năm 2015 có 11 trang trại; trong đó, có 08 trang trại đạt tiêu chí của Trung ương qui định (xem phụ lục 5)
Huyện đã qui hoạch 170 ha xây dựng khu trang trại tổng hợp tập trung ở vùng 3 xã: Thới Hưng, Thạnh phú, Thới Đông đạt kết quả tốt Mở
ra hướng đi mới, nhiều triển vọng, đó là sản xuất tập trung, sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết được việc làm, tăng thu nhập, tăng giá trị/đơn vị diện tích, khẳng định việc làm giàu của hộ sản xuất nông nghiệp
Từng bước thực hiện chủ trương dồn điên đổi thửa (mở rộng diện tích nhỏ, dồn điền thành diện tích lớn, người dân quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thông qua nhà nước làm trung gian gắn với xây dựng cánh đồng lớn có bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân)
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; thương mại - dịch vụ
CN - TTCN tốc độ tăng trưởng khá cao, tỷ trọng CN - TTCN tăng nhanh trong nền kinh tế, đã hình thành khu sản xuất công nghiệp xay xát chế biến lúa gạo huyện Cờ Đỏ có thế mạnh về tài nguyên lúa gạo xuất khẩu; các khu vực sản xuất CN - TTCN được qui hoạch, xây dựng và phát triển… phục vụ đắc lực cho phát triển công nghiệp phục vụ trong nước và xuất khẩu
Các cơ sở sản xuất CN - TTCN được củng cố và phát triển; năm
2015, trên địa bàn huyện có 114 cơ sở sản xuất CN - TTCN, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước, 112 doanh nghiệp tư nhân và tổ cá thể, thu hút trên 5.000 lao động; Năm 2010, giá trị sản xuất CN đạt 966,05 tỷ đồng, đến
Trang 40năm 2012, đạt 1.265,57 tỷ đồng và năm 2015 đạt 1.792,10 tỷ đồng (xem phụ lục 7)
Tốc độ tăng trưởng Công nghiệp của huyện bình quân hàng năm thời
kỳ (2011 - 2015), đạt 15,07%/năm, trong đó khối công nghiệp quốc doanh đạt 8,42%/năm; đáng chú ý là tỷ trọng công nghiệp ngoài quốc doanh tăng nhanh năm 2010 chiếm 5,7%; năm 2015, tăng lên 49,9% trên tổng giá trị sản xuất trên địa bàn
+ Thương mại - dịch vụ
Nhìn chung phát triển khá đồng bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn cho sản xuất và đời sống của nhân dân được thể hiện
Tốc độ tăng GDP ngành dịch vụ thời kỳ (2006 - 2010), đạt bình quân là 16,67% (xem phụ lục 1), đã hình thành một số tụ điểm kinh tế, xã, thị trấn rõ nét như: Thị trấn Cờ Đỏ, Chợ Trung An, Thới Đông, Đông Hiệp, Thới Hưng…
Thời kỳ 2010 - 2015, tốc độ tăng bình quân là 11,91%, đã quy hoạch
và từng bước xây dựng 2 vùng kinh tế, 3 trung tâm kinh tế trọng điểm, cải tạo
và xây dựng mới các chợ Giá trị ngành dịch vụ tăng lên, năm sau cao hơn năm trước và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong CCKT nông nghiệp, nông thôn của huyện; năm 2010 đạt 166.847 tỷ đồng; năm 2015, đạt 176.334 tỷ đồng (xem phụ lục 8)
Ngành thương mại, dịch vụ được đổi mới hoạt động, phù hợp với cơ chế thị trường và phát triển khá nhanh như: vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, tài chính ngân hàng…Theo đó, cơ cấu ngành dịch vụ cũng thay đổi, theo hướng từng bước hiện đại, chất lượng phục vụ cho sản xuất
và đời sống ngày càng tốt hơn