1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam, chi nhánh bắc hải dương

108 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH (20)
    • 1.1. Rủi ro và rủi ro tín dụng (20)
      • 1.1.1. Khái niệm (20)
      • 1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng (22)
      • 1.1.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng (26)
    • 1.2. Quản trị rủi ro tín dụng (28)
      • 1.2.1. Khái niệm (28)
      • 1.2.2. Bản chất của quản trị rủi ro tín dụng (29)
      • 1.2.3. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng ở các ngân hàng thương mại (31)
    • 1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro trong cho vay (40)
      • 1.3.1. Nhân tố chủ quan (40)
      • 1.3.2. Nhân tố khách quan (43)
    • 1.4. Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng (44)
      • 1.4.1. Ý nghĩa của đo lường rủi ro (44)
      • 1.4.2. Các chỉ tiêu rủi ro chính (45)
      • 1.4.3. Phương pháp thống kê (48)
      • 1.4.4. Tiêu chí đánh giá kết quả quản trị rủi ro tín dụng (52)
      • 1.4.5. Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng (59)
    • 2.1. Khái quát chung về Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Hải Dương (0)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển (61)
      • 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức (62)
    • 2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Hải Dương (0)
    • 2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại BIDV, chi nhánh Bắc Hải Dương (69)
      • 2.3.1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu tín dụng (69)
      • 2.3.2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng (71)
      • 2.3.3. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng (73)
    • 2.4. Chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (0)
    • 2.5. Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương (78)
      • 2.5.1. Kết quả đạt được (78)
      • 2.5.2. Những hạn chế, tồn tại (79)
      • 2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại (80)
  • CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG BIDV, CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG (61)
    • 3.1. Bối cảnh và định hướng quản trị rủi ro tín dụng cho ngân hàng BIDV, chi nhánh Bắc Hải Dương (83)
      • 3.1.1. Bối cảnh (83)
      • 3.1.2. Định hướng quản trị rủi ro tín dụng cho ngân hàng BIDV, chi nhánh Bắc Hải Dương, giai đoạn 2019-2025 (85)
      • 3.2.1. Tăng cường nhận diện và quản trị rủi ro trong các sản phẩm và hoạt động ngân hàng (91)
      • 3.2.2. Giải pháp về quy trình cấp tín dụng đúng và chuẩn xác (93)
      • 3.2.3. Giải pháp về giám sát tín dụng hiệu quả (93)
      • 3.2.4. Giải pháp hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra (96)
      • 3.2.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng (98)
      • 3.2.6. Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng (101)
    • 3.3. Khuyến nghị (101)
      • 3.3.1. Đối với ngân hàng nhà nước (101)
      • 3.3.2. Đối với Chính Phủ (103)
  • KẾT LUẬN (105)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (106)

Nội dung

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN LÊ VĂN HIẾU QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM, CHI NHÁNH BẮC H

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH

Rủi ro và rủi ro tín dụng

Trong bối cảnh hoạt động kinh tế-xã hội ngày càng phức tạp và sự đa dạng ngày càng tăng của các quan hệ kinh tế-xã hội, rủi ro xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực khoa học xã hội, phản ánh nhu cầu thực tiễn của con người Đặc biệt trong quản lý, các chủ thể đang nỗ lực kiểm soát và phòng ngừa những bất ổn, đồng thời biến chúng thành cơ hội và động lực cho đột phá và phát triển tổ chức.

Xét về ý nghĩa từ ngữ, trong văn phong nói/hay trình bày thông thường, "rủi ro" mang hàm ý xấu, không tốt, là sự tổn thất, mất mát, thiệt hại Tuy nhiên, cũng có những cách nhìn nhận khách quan mối quan hệ giữa hệ giữa thiệt hại và lợi ích mà rủi ro có thể mang lại, ví dụ như quy tắc trong kinh doanh như rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn hay nhiều người cho rằng "rủi ro vừa là nguy cơ nhưng lại vừa là cơ hội

Thuật ngữ 'rủi ro' có thể được hiểu dưới nhiều giác độ khác nhau, cho thấy tính đa chiều của khái niệm này Trong các tài liệu tham khảo chính, rủi ro được mô tả như sự kết hợp giữa xác suất xảy ra và mức độ tác động đến mục tiêu, đồng thời đòi hỏi các phương pháp đánh giá, đo lường và quản trị phù hợp Trước hết, cần tìm hiểu nội dung khái quát của khái niệm rủi ro để làm nền tảng cho các phân tích và ứng dụng tiếp theo.

Ngày nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro, tuy nhiên, có thể chia khái niệm rủi ro trên có sở quan điểm tiếp cận của 2 trường phái: trường phái truyền thống (trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa 1

1 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn Quản trị rủi ro và khủng hoảng, NXB Lao đông – Xã hội, 2014, 411tr

Theo trường phái truyền thống, rủi ro được coi là sự không may, sự tổn thất, mất mát và nguy hiểm có thể xảy đến Theo từ điển Tiếng Việt 2, rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến Còn theo các nhà nghiên cứu cổ điển, rủi ro được nhìn nhận như một yếu tố bên ngoài tác động lên con người, đòi hỏi biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhằm hạn chế thiệt hại.

GS Nguyễn Lân (1998) 3 , “rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” Tác giả Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Mạnh Hùng 4 cho rằng, rủi ro là sự không chắc chắn về thu nhập mà nhà đầu tư cóthể thu được từ tài sản

Một số từ điển khác đưa ra các khái niệm tương tự, như “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại” hay “Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn” Trong hoạt động doanh nghiệp, rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Theo tiếp cận truyền thống, rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra thiệt hại hoặc mất mát, cùng với các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể ảnh hưởng đến con người Định nghĩa này nhấn mạnh mối liên hệ giữa nguy cơ và hậu quả tiềm ẩn, giúp nhận diện các tình huống có thể đe dọa an toàn và sức khỏe của con người.

Trường phái trung hòa: Theo Frank Knight, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Còn theo Allan Willett, rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi Trong một nghiên cứu của nhóm tác giả Arthur, Micheal, Smith cho rằng, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro xuất hiện bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước

Theo trường phái Trung hòa, điển hình là David Apgar, rủi ro được xem là sự bất trắc có thể đo lường được Theo đó, rủi ro mang tính hai mặt: vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực Rủi ro có thể gây ra tổn thất, mất mát và nguy hiểm, nhưng đồng thời cũng mang đến cho con người những cơ hội Việc nhận diện và đo lường rủi ro giúp khai thác cơ hội đồng thời kiểm soát rủi ro trong quyết định kinh doanh và cuộc sống.

2 Trung tâm từ điển học Hà Nội Từ điển tiếng Việt, Xuất bản năm 1995

3 Nguyễn Lân Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Lao đông-Xã hội, 1998, tr 1540

4 Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Mạnh Hùng Câm nang QTRR trong kinh doanh ngân hàng, NXB Lao động,

Trên cơ sở phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu rủi ro, nhận diện, đo lường rủi ro, QTRR cho phép tìm ra những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại do rủi ro gây ra mà có thể biến thách thức thành những cơ hội mang lại những kết quả tốt đẹp trong tương lai, đặc biệt đặt vấn đề nghiên cứu về rủi ro trong lĩnh vực đầy biến động khó lường, như trong hoạt động tài chính – ngân hàng

Rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra, mang đến những tổn thất về tài sản cho ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn thanh toán Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng

Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng, tức là giảm thu nhập ròng Trong trường hợp nghiêm trọng có thể khiến ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản Đối với các nước đang phát triển, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kì vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kì vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn) Rủi ro là một yếu tố khách quan nên người ta không thể nào loại bỏ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của rủi ro cũng như các tác hại do chúng gây ra

1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Có thể phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh và khả năng trả nợ của khách hàng Cụ thể như sau:

(1) Phân loại theo nguyên nhân phát sinh

Theo Trần Huy Hoàng (2010, trang 5), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân thành hai loại: rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk), như minh họa trong hình 1.1.

Hình 1.1 Phân loại rủi ro tín dụng

(Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2010) Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận:

Quản trị rủi ro tín dụng

1.2.1 Khái niệm Đầu tiên, ta cần hiểu rằng, quản trị nếu xét ở khía cạnh ngôn từ bao gồm: quản và trị Quản được hiểu là đưa đối tượng vào khuôn mẫu quy định sẵn, còn Trị là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định Nếu đối tượng không thực hiện đúng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành nhằm đạt được mục tiêu.Do vậy, quản trị là quá trình hoạch định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch mà đối tượng quản lý cần đạt được trong một giai đoạn nhất định, tổ chức thực hiện các chiến lược, mục tiêu đó, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong tổ chức một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra

7 Ví dụ như, ở Việt Nam, một số NHTM đã áp dụng một số công nghệ cho vay, như: ngân hàng Agribank sử dụng hệ thống IPCAS, Ngân hàng Quân đội (MB) sử dụng hệ thống T24, Ngân hàng Đại dương (Ocean bank) sử dụng hệ thống FCC, Ngân hàng công thương (Vietinbank) sử dụng hệ thống Incas, Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội (SHB) sử dụng hệ thống Intellect…

Trong quá khứ, nói đến khái niệm QTRR phần lớn người ta nghĩ đến các hoạt động trong ngành bảo hiểm Đây là các dịch vụ trọn gói, người mua bảo hiểm sẽ không phải chịu các rủi ro trong trường hợp nó xảy ra Tuy nhiên, khái niệm QTRR ngày nay đã thay đổi rất nhiều Với những yêu cầu của pháp luật, yêu cầu của người lao động, QTRR đã trở thành một yếu tố quản trị ngày càng quan trọng như quản trị tài chính hay quản trị các nguồn lực khác trong tổ chức Điển hình cho khái niệm QTRR phải kể đến trong nghiên cứu của Kloman, Haimes, theo đó, QTRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

Như vậy, QTRR ngày nay được hiểulà quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công

1.2.2 Bản chất của quản trị rủi ro tín dụng

Theo phân loại của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel, rủi ro mà các định chế tài chính có thể gặp phải được chia thành 3 nhóm: (i) Rủi ro thị trường, như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, chứng khoán…; (ii) RRTD, như vỡ nợ, sự cố tín dụng…; (iii) rủi ro hoạt động, như: giao dịch thất bại, giao dịch bất hợp pháp… Như vậy, RRTD là một trong 3 nhóm rủi ro chính của hoạt động kinh doanh của NHTM Theo đó, có thể hiểu đây là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng

Theo Ủy ban Basel, một cách đơn giản, RRTD được định nghĩa là khả năng bên vay hay đối tác năng bên vay hay bên đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo điều khoản đã thỏa thuận Theo Thông tư 02/2014/TT-NHNN ngày 21/01/2014 của ngân hàng nhà nước Việt Nam,RRTDtrong hoạt động ngân hàng, hay còn gọi là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kế Theo đó, RRTD là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc khôngcó khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Rủi ro tín dụngkhông chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động tín dụng khác của ngân hàng như: chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, mở L/C(Letter of Credit), cam kết thanh toán và các hình thức tài trợ thương mại khác

Nhìn chung, các tiếp cân kể trên và trong thực tế, đa số khái niệm về RRTD thường được tiếp cận theo một chiều tiêu cực, nghĩa là chỉ bao gồm tổn thất (loss)đối với người cho vay (ngân hàng),mà không bao gồm giá trị gia tăng (gain) Định nghĩa này có thể coi RRTD được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa thực tế cuộc sống của dân chúng Rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ mà khách hàng nợ lại không thực hiện, không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Như đã phân tích ở trên, ngay này khía cạnh RRTD, cũng như quản trị nó được đặt ở phạm vi rộng, do đó QTRRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTMđược hiểu là toàn bộ quá trình nhận điện, đo lường, đánh gái, giám sát, kiểm soát và báo cáo RRTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức độ RRTD chấp nhận được (Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Mạnh Hùng, 2010) Bên cạnh đó, quá trình QTRRTD hiệu quả còn cho phép các NHTM tận dụng tốt hơn cơ hội kinh doanh, phân tích và dự báo được chính xác hơn hoạt động tín dụng của mình Nói cách khác, nghiên cứu về rủi ro nói chung, hay QTRRTD nói riêng cần tiếp cận ở hai khía cảnh, cả về tổn thất, lẫn giá trị gia tăng

1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng ở các ngân hàng thương mại

Quy trình QTRR được chia thành bốn giai đoạn nhưng các khâu trong quy trình này lại luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau tạo thành một chu trình khép kín để đảm bảo kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã đề ra

Hình 1.1: Quy trình QTRR tín dụng

(1) Nhận biết rủi ro Để nhận biết rủi ro, những công việc mà ngân hàng cần phải làm là:

 Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng

Phân tích toàn diện danh mục tín dụng của ngân hàng nhằm nhận diện rủi ro liên quan đến quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, phân bổ theo ngành và loại tiền Quá trình này cần xem xét mức độ tập trung và tiềm ẩn tổn thất từ từng nhóm ngành, từng loại tiền tệ, cũng như biến động trong cấu trúc cho vay Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro tổng thể của toàn bộ danh mục tín dụng và điều chỉnh chiến lược cấp vốn, quản trị rủi ro và giới hạn phê duyệt cho vay nhằm tối ưu hóa hiệu quả và an toàn tài chính.

 Phân tích đánh giá khách hàng

Việc phân tích này nhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể Công việc này được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng, phân tích trong quá trình cho vay và phân tích sau khi cho vay Ngân hàng cần thu thập thông tin về khách hàng rồi phân tích theo các tiêu chí định lượng và định tính để có thể có những kết luận chính xác về tình trạng của khách hàng

 Các chỉ tiêu định tính: Mô hình 6C được xem như công cụ hữu hiệu

Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không

- Tư cách khách hàng: Khách hàng phải có mục đích vay vốn rõ ràng và có thiện chí trả nợ khi đến hạn

Nhận biết rủi ro lường Đo rủi ro phó rủi Ứng ro

Kiểm soát và xử lý

- Năng lực của của khách hàng: Khách hàng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp

- Thu nhập của khách hàng: Là cơ sở để xác định nguồn trả nợ

- Bảo đảm tiền vay: Là nguồn để thu hồi nợ khi khách hàng không còn khả năng trả nợ

- Các điều kiện: Tùy theo xu hướng phát triển của nền kinh tế mà ngân hàng có những chính sách tín dụng, những điều kiện quy định cho khách hàng trong từng thời kỳ

- Kiểm soát: Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng

Mô hình 6C tương đối đơn giản Tuy nhiên nó lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của CBTD

Mô hình điểm số Z, hay Z-score, là công trình của E I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp dùng để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào: (i) trị số của các chỉ số tài chính của người vay (X_j); (ii) tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ Từ đó Altman đã xây dựng công thức cho điểm Z nhằm phân loại và dự báo rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp.

X1 = Tỷ số Vốn lưu động ròng /Tổng tài sản

X2 = Tỷ số Lợi nhuận giữ lại /Tổng tài sản

X3 = Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi /Tổng tài sản

X4 = Tỷ số Thị giá cổ phiếu /Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn

X5 = Tỷ số Doanh thu /Tổng tài sản

Sau khi thay lần lượt các giá trị X vào mô hình, ta tính được Z Nếu:

Z < 1,81 : Doanh nghiệp có rủi ro vỡ nợ lớn

1,81 < Z < 2,99 : Doanh nghiệp có thể được coi là có rủi ro vỡ nợ trung bình

Z > 2,99 : Doanh nghiệp có rủi ro vỡ nợ thấp

Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro trong cho vay

(1) Chính sách tín dụng và quy trình tín dụng Chính sách tín dụng bao gồm nhiều nội dung như quy định về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay,giới hạn cho vay,bảo lãnh…;xác định trách nhiệm và quyền hạn đối với từng cán bộ tín dụngnhững tài liệu cần thiết phải kèm theo khi vay vốn và phải được lưu giữ trong hồ sơ tín dụng; hướng dẫn việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản bảo đảm cho các khoản cấp tín dụng…Việc quy định rõ từng khâu, từng đối tượng chịu trách nhiệm ở mỗi khâu sẽ giúp công tác quản trị rủi ro tại ngân hàng trở lên rõ ràng, chặt chẽ hơn Mỗi cá nhân có trách nhiệm trong quy trình có thể nắm rõ trách nhiệm pháp lý của mình đến đâu trong quyết định cho vay vốn đầu tư Do đó, xác định cụ thể chính sách cho vay từng thời kỳ, xây dựng hoàn chỉnh quy trình cho vay tại đó quy định cụ thể trách nhiệm từng cá nhân liên quan sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quản trị rủi ro trong cho vay

Hình 1.4 Sơ đồ quy trình cho vay cơ bản của NHTM tại Việt Nam

(Nguồn: Tổng hợp tác giả)

 Cán bộ quản trị rủi ro

 Giám đốc/Tổng giám đốc

Xác định thị trường và các thị trường mụctiêu

 Tiếp nhận yêu cầu Khách hàng

 Tham khảo ý kiến bên ngoài

 Thủ tục hồ sơ hoàn tất

 Kiểm tra tài sản bảo đảm

 Miễn bỏ giấy tờ pháplý

 Cố gắng thu hồi nợ

Dấu hiệu bất thường ĐỀ XUẤT TÍN DỤNG

THỦ TỤC HỒ SƠ & GIẢI NGÂN

Thông báo bằng văn bản đến

KH trong trườnghợp từ chối cho vay

Trong sơ đồ quy trình cho vay, có thể thấy khâu thẩm định và quản lý tín dụng được các NHTM đặc biệt chú trọng Thẩm định tốt sẽ giúp ngân hàng nhận diện được phương án tốt, quản lý tín dụng sau cho vay tốt giúp ngân hàng thu hồi vốn đúng hạn, cảnh báo rủi ro khi dự án gặp vấn đề về thanh khoản Trong đó, tuy mỗi ngân hàng có cách thẩm định khác nhau nhưng đều cùng quy định rõ những nội dung cần phải thẩm định: Hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế, hồ sơ vay vốn, hồ sơ tài sản đảm bảo Theo đó, khách hàng nhất thiết phải đáp ứng hợp pháp, đầy đủ, trung thực và chịu trách nhiệm trước những thông tin cung cấp cho ngân hàng trong các hồ sơ nói trên

Tiếp đến, mỗi NHTM đều có những đặc điểm riêng, vì vậy muốn quản trị được rủi ro tín dụng, ngoài việc xây dựng được chính sách và quy trình cho vay cụ thể, hợp lý, mỗi ngân hàng cần xây dựng một hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong cho vay như: Nguồn nhân lực, chất lượng công nghệ thông tin, chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ…

(2) Về chất lượng đội ngũ cán bộ Nhân tố này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, khi ngân hàng xây dựng mô hình hoạt động, quy trình tín dụng và các chính sách tín dụng thì phải có đội ngũ cán bộ đủ trình độ và kinh nghiệm để thực hiện đồng thời đảm bảo thực hiện tốt các mục đích mà ngân hàng đã đặt ra Nếu chất lượng cán bộ không đáp ứng được các yêu cầu thực hiện thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến thực hiện các mục tiêu trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng

(3) Công nghệ ngân hàng Công nghệ ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro Bởi nó chính là công cụ để giúp con người có thể theo dõi, đo lường rủi ro tín dụng Bởi vậy hệ thống công nghệ phải đảm bảo được yêu cầu sau:

- Theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự phòng và dự trữ Theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng

- Có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thống nhất với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động của ngân hàng

Có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích được triển khai để cho phép lãnh đạo đo lường rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội bảng và ngoại bảng Hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp đầy đủ thông tin về cơ cấu danh mục đầu tư tín dụng, bao gồm xác định sự tập trung rủi ro, từ đó hỗ trợ đánh giá, giám sát và quản trị rủi ro một cách hiệu quả.

(1) Môi trường kinh tế vĩ mô Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế, chính sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởi các chính sách này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng của ngân hàng Khi Chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuất trong nước của một ngành nào đó bằng cách đề ra hạn ngạch xuất khẩu, hoặc cấm nhập hay tăng thuế nhập khẩu vàngượclại, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giá đồng nội tệ thì cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng Một đất nước mà các chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng và ảnh hýởng đến khả nãng trả nợ của khách hàng ðối với ngân hàng

Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới, do đó biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ở nước ngoài ảnh hưởng tới đời sống kinh tế, chính trị và xã hội trong nước và từ đó tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng Các doanh nghiệp cũng như ngân hàng cần nắm bắt xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và khu vực, nhận biết những ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của đất nước cũng như đối với từng khách hàng để có những bước đi và kế hoạch đổi mới, phát triển cho phù hợp Việc thụ động trước xu hướng phát triển toàn cầu sẽ khiến khách hàng bị tụt lại, không đạt được hiệu quả kinh doanh và khó có thể cạnh tranh trên thị trường.

(2) Môi trường pháp lý Ngân hàng không thể duy trì công tác quản trị rủi ro nếu môi trường pháp lý trong nước liên tục thay đổi Môi trường pháp lý ổn định là điều kiện cần thiết để khách hàng yên tâm kinh doanh tạo lợi nhuận thanh toán nợ với ngân hàng, cũng là tạo điều kiện cho những chính sách quản trị vốn của ngân hàng dễ dàng thực thi và có hiệu lực trong thời gian dài Công tác quản trị rủi ro không thể là việc có thể thay đổi trong ngày một ngày hai, do đó rất cần một hệ quy chiếu luật pháp đầy đủ và có tính ổn định lâu dài Những thay đổi đường đột, thiếu nhất quán từ hành lang pháp lý sẽ gây rủi ro lớn cho cả ngân hàng do quy định pháp luật muốn được thực thi luôn phải chịu một độ trễ nhất định Điều này sẽ gây bất lợi cho cả khách hàng và ngân hàng

Trong công tác quản trị rủi ro, hệ thống thông tin đóng vai trò then chốt giúp ngân hàng nhận diện và kiểm soát rủi ro từ sớm Thông tin càng nhanh và đầy đủ thì công tác quản trị rủi ro càng hiệu quả, nhưng thông tin đó phải chính xác và có thể kiểm chứng được Trước thực trạng có nhiều kênh thông tin không chính xác và khó kiểm chứng, việc lọc và xác thực thông tin đồng thời áp dụng công nghệ vào quản trị rủi ro trong cho vay sẽ giúp ngân hàng tăng cường hiệu quả quản trị và tạo lợi thế cạnh tranh lớn với các đối thủ trong hệ thống.

Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng

1.4.1 Ý nghĩa của đo lường rủi ro

Có nhiều phương pháp khác nhau, vừa mang tính truyền thống,vừa mang tính hiện đại được sử dụng đan xen để đo lường rủi ro tài chính nói chung và RRTD nói riêng Một số mô hình được các ngân hàng sử dụng phổ biến để đo lường RRTD như: Mô hình các chỉ tiêu rủi ro chính (Key Risk Indicators - KRIs); Các mô hình theo phương pháp thông kê; …

Sau khi RRTD được nhận diện, khâu tiếp theo trong quy trình quản trị RRTD là tiến hành đo lường (lượng hóa) RRTD Kết quả đo lường RRTD có ý nghĩa rất lớn trong quản trị kinh doanh của ngân hàng Đo lường rủi ro là một giai đoạn quan trọng, cần sự kết hợp tổng hòa của rất nhiều yêu tố, như quy trình nghiệp vụ, con người và công nghệ,tạo thành hệ thống đo lường rủi ro Đo lường rủi ro góp phần tính toán vốn kinh tế cho ngân hàng, được xác định bằng phần tốn thất ngoài dự tính (Unexpected Loss - UL), theo đó UL sẽ được bù đắp bằng vốn tự có của ngân hàng Vốn tự có mạnh là nền tảng chính giúp ngân hàng vượt qua các cú sốc trong hoạt động kinh doanh và giảm thiêu tác động dây chuyền của khủng hoảng hệ thống Việc xác định được rủi ro chính xác là cơ sở hình thành một tấm đệm vốn tự có, đủ lớn nhằm đối phó với các: tổn thất không thê dự tính có khả năng xảy ra

Do xác định được chính xác mức độ RRTD của từng cán bộ tín dụng/từng đơn vị kinh doanh, là cơ sở để ngân hàng đánh giá và phân loại cán bộ tín dụng đơn vị kinh doanh theo mức lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro,đảm bảo tính công bằng và hiệu quả Đo lường rủi ro còn là cơ sở để định giá các khoản tín dụng tương ứng với mức độ rủi ro của chúng Khi mức độ rủi ro đã được lượng hóa, ngân hàng có cơ sởđể xác định lãi suất cho vay phù hợp với quan hệ “rủi ro/lợi, nhuận, thông qua cơ chế tính bù đắp rủi ro Với cơ chế định giá như trên, ngân hàng sẽ đủ bù đắp được đầy đủ RRTD mà vẫn thu được lợi nhuận dự tính Hơn nữa, căn cứ vào khẩu vị RRTD, ngân hàng tiến hành sàng lọc và lựa chọn khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả của danh mục tín dụng Đo lường rủi ro góp phần hỗ trợ quản lý danh mục tín dụng theo phương pháp chủ động, nhằm tái cấu trúc danh mục tín dụng theo hướng giảm rủi ro tập trung và phù hợp với khẩu vị RRTD của ngân hàng Giúp ngân hàng tính toán và trích lập mức dự phòng RRTD phù hợp nhất với mức độ rủi ro của khoản vay, từ đó xác định mức dự phòng cho toàn bộ danh mục tín dụng và giúp ngân hàng tập trung giám sát, xử lý tín dụng có rủi ro cao và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay

1.4.2 Các chỉ tiêu rủi ro chính

Cách tiếp cận truyền thống đo lường RRTD là dùng hệ thống các chỉ tiêu chính để phản ánh mức độ RRTD Ở Việt Nam, theo quy định về phân loại nợ và cam kết ngoại bảng (phân loại tín dụng), trích lập và sử dụng dự phòng RRTD là một phương pháp đo lường tổn thất đối với danh mục cho vay của ngân hàng Theo, đó, ngân hàng có thể sử dụng hai phương pháp phân loại nợ làđịnh lượng hay định tính, trên cơ sở đó trích lập hai loại dự phòng là dự phòng chung cho các nhóm nợ từ 1 đến 4 và dự phòng cụ thể cho các nhóm nợ từ 2 đến 5 Điểm cần lưu ý là, dự phòng chung thực chất là dự phòng để bù đắp rủi ro ngoài dự tính (UL), còn dự phòng cụ thể là dự phòng để bù đắp rủi ro trong dự tính

* Phương pháp định lượng 9 Được thực hiện chủ yếu căn cứ vào "tuổi nợ”, tức đơn thuần chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ, nên chưa chú trọng phân loại nợ theo chất lượng của khoản nợ Bên cạnh tiêu chí "tuổi nợ", các ngân hàng còn dùng một hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá mức độ RRTD, như:

- Tốc độ tăng trưởng tín dụng: Nếu chỉ tiêu này tăng trưởng quá nóng, có thể dẫn đến việc ngân hàng mắt kiểm soát chất lượng tín dụng Cũng có ngân hàng nhằm che giấu tỷ lệ nợ xấu cao đã tăng cường cấp tín dụng trước khi bị thanh tra Chính vì vậy, nếu chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín quá nóng thì thường là tín hiệu về mức độ RRTD sẽ gia tăng trong tương lai Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở các đang phát triển thường từ 10 - 20%, trong khi đó ở các nước phát triển thường từ 5 - 10%

Dư nợ tín dụng trên tổng tài sản (hệ số sử dụng vốn) ở các ngân hàng hiện đại thường ở mức 50–60%, cho thấy danh mục tài sản không tập trung quá mức vào tín dụng và rủi ro được phân tán Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này thường cao hơn, vào khoảng 70–80%, cho thấy mức độ rủi ro tập trung tín dụng lớn hơn Mặc dù tín dụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng, đây là hoạt động có tiềm ẩn rủi ro lớn nhất, vì vậy xu hướng chung là các ngân hàng ngày càng đa dạng hóa danh mục tài sản nhằm phân tán rủi ro và giảm sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng.

- Tỷ lệ nợ xấu "Tổng dư nợ xấu/Tông dư nợ": Nợ xấu là nợ được phân vào nhóm 3, 4 và 5; tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu với tông nợ từ nhóm đến nhóm 5 Đẩy là chỉ tiêu trực quan và chủ yếu phản ánh chất lượng danh mục tín đụng của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao phản ảnh chất lượng tín dụng càng thấp, tức RRTD càng cao Tỷ lệ nợ xấu mức dưới 4% được xem là chấp nhận được Tỷ lệ nợ xấu 'Tổng dư nợ xấu/Tổng dư nợ": Tỷ lệ nợ xấu có thể được xem là tỷ lệ nợ xấu

9 Trong phần này, tác giả sẽ hệ thống hóa các chỉ tiêu phản ánh RRTD, trong đó các ngưỡng được nêu ra theo quy định của NHNN Việt Nam và được sử dụng để phân tích trong chương 2 được mở rộng thêm nợ xấu thuộc nhóm 2 Thông thường, tỷ lệ ở mức < 2% được xem là rất tốt, từ 2 - 5% được xem là tốt, từ 5 - 10% chấp nhận được, và trên 10% là có vấn đề

Khả năng bù đắp rủi ro được đo bằng tỷ lệ (Vốn CSH + DPRR) / Tổng dư nợ xấu Mục đích của DPRR là bù đắp các rủi ro trong dự tính, trong khi vai trò của vốn CSH là để hấp thụ các rủi ro ngoài dự tính Đối với một ngân hàng, chỉ tiêu về khả năng bù đắp rủi ro càng lớn thì càng an toàn trong kinh doanh; ở mức trung bình, chỉ tiêu này thường được đặt ở khoảng 10 lần.

- Tỷ trọng cho vay các lĩnh vực nhạy cảm: Trong kinh doanh tín dụng, các lĩnh vực nhạy cảm được xác định là cho vay kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản Để bảo đảm an toàn, các ngân hàng thường xác định khẩu vị rủi ro cho các lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm Ví dụ, dư nợ cho vay từng lĩnh vực nhạy cảm là không quá 20% vốn tự có, tổng dư nợ cho vay kịnh doanh chứng khoán và bất động sản không quá 30% vốn tự có

- Tỷ trọng cho vay một khách hàng: Không quá 15% vốn tự có

- Tổng dư nợ cho vay: và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng: Không được vượt quá 25% vốn tự có

- Tổng dư nợ cho vay một nhóm khách h hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có

- Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một nhóm khách hàng có liên quan: Không được vượt quá 60% vốn tự có

Phương pháp phân loại nợ định tính giúp ngân hàng nhìn nhận được tổng thể về chất lượng của danh mục tín đụng Trên cơ sở đó, ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro và có các biện pháp phù hợp để duy trì chất lượng danh mục tín dụng Để tiến hành phân loại nợ theo định tính ngân hàng phải có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, căn cứ mức xếp hạng của khách hàng để phân loại nợ vào các nhóm nợ thích hợp như sau

Nhóm 1 gồm các khoản nợ được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; các cam kết ngoại bảng được đánh giá cho thấy khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam kết.

Nhóm 2, các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Các cam kết ngoại bảng được đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết

Nhóm 3, các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đây đủ nghĩa vụ theo cam kết

Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Hải Dương

2.1 Khái quát chung về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Hải Dương

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là sự kế thừa của Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ Ban đầu, ngân hàng có chức năng cấp phát và quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách, phục vụ tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.

Năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã đổi tên ngân hàng Kiến thiết Việt Nam thành ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam và tách khỏi

Theo Quyết định số 259-CP ngày 24/6/1981, Bộ Tài Chính trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và chịu trách nhiệm về vốn đầu tư và xây dựng Nhiệm vụ cốt lõi của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát vốn, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.

Từ năm 1981-1990, ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đã từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện các cơ chế nghiệp vụ, tiếp tục khẳng định để đứng vững và phát triển

Ngày 26/11/1990 ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Đến năm 1994 với Quyết định số 654/QĐ-TTg ngày 08/11/1994 của Thủ tướng Chính Phủ về việc chuyển giao nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách và tín dụng theo kế hoạch nhà nước từ ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về NHNN Việt Nam cho phép ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được kinh doanh đa năng như một NHTM

Ngày 01/09/2011, Thống đốc NHNN ra quyết định số 1974/QĐ-NHNN chuyển đổi ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ doanh nghiệp nhà nước thành loại hình Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và tiến hành cổ phần hóa theo tiến trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngày 28/12/2011, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã phát hành thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2124/QĐ-TTG về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Ngày 01/05/2012, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chính thức chuyển đổi thành ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Đến nay, ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã trở thành một trong năm NHTM lớn nhất Việt Nam với quy mô không ngừng mở rộng và tăng trưởng bên vững, tạo ra tiền đề để bước vào giai đoạn mới với những đổi mới rất cơ bản và những kết quả quan trọng ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Nhà nước ghi nhận với danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Lao động hạng Nhất

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hải Dương (BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương) là chi nhánh cấp I trực thuộc BIDV Qua thời gian hình thành và phát triển, BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, đóng góp cho sự phát triển của địa phương và của đất nước

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương là một chi nhánh thuộc hệ thống BIDV, có đầy đủ chức năng của NHTM gồm chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền

Theo quy định của BIDV, tất cả các chi nhánh BIDV đều kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các dịch vụ ngân hàng với mọi thành phần kinh tế, đồng thời có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NHNN và BIDV

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương sử dụng các quy định, nội quy và các biện pháp, chính sách kinh doanh, các nghiệp vụ kỹ thuật cần thiết trong hoạt động kinh doanh tiền tệ để thực hiện các hoạt động ngân hàng, thực hiện hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và các hoạt động ngân hàng khác Đồng thời, BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương còn thực hiện việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp tác kinh doanh với các tổ chức tài chính, tín dụng theo quy định, chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo tồn và phát triển vốn, thu hồi gốc và lãi vay, đảm bảo sự tăng trưởng các hoạt động kinh doanh của chi nhánh, thực hiện việc kiểm tra về tình hình và kết quả sử dụng vốn vay, đình chỉ thu hồi trước hạn với các trường hợp khi chi nhánh kiểm tra thấy việc sử dụng vốn không đúng mục đích, vi phạm các quy định của nhà nước; chịu trách nhiệm kinh tế, dân sự và cam kết giữa chi nhánh với khách hàng, giữ bí mật về số liệu, tình hình hoạt động của khách hàng

* Cơ cấu bộ máy tổ chức của BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương đã xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức hợp lý gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo linh hoạt và nhanh chóng trong việc giải quyết công việc, phù hợp với nền kinh tế thị trường

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương

- Khối quản lý khách hàng gồm 02 Phòng: Phòng khách hàng doanh nghiệp và Phòng khách hàng cá nhân làm nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, giới thiệu và bán các sản phẩm, thực hiện việc kiểm tra các điều kiện và đề xuất tín dụng để cho vay với khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, hộ gia đình

- Khối quản lý rủi ro gồm 01 Phòng Quản lý rủi ro thực hiện việc thẩm định các dự án lớn, các dự án vượt quyền phán quyết của PGĐ quản lý khách hàng, quyết định phê duyệt cho vay đối với các khách hàng lớn hoặc trình Hội đồng tín dụng với những trường hợp vượt thẩm quyền Theo mô hình cũ đây chính là phòng thẩm định và quản lý tín dụng

- Khối tác nghiệp gồm 02 phòng: Phòng Quản trị tín dụng thực hiện việc quản lý hồ sơ khách hàng, khai báo cài đặt vào máy, trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định và quy trình nghiệp vụ, trình phê duyệt giải ngân các hợp đồng tín dụng sau khi đã qua các bước xét duyệt đề xuất tại các phòng quản lý khách hàng và quản lý rủi ro Phòng Giao dịch khách hàng trực tiếp thực hiện các dịch vụ như thanh toán, thanh toán quốc tế, mở tài khoản, nhận tiền gửi, giải ngân, chuyển tiền và các dịch vụ ngoài tín dụng khác

- Khối Quản lý nội bộ gồm 01 Phòng Quản lý nội bộ có chức năng quản lý nội bộ,bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật và các quy định, quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, và các chuẩn mực đạo đức do ngân hàng đặt ra

Chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam

2.1 Khái quát chung về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Hải Dương

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tiền thân là ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ với chức năng ban đầu là cấp phát và quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách phục vụ tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Vào năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã đổi tên ngân hàng Kiến thiết Việt Nam thành ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, đánh dấu sự thay đổi trong nhận diện và chức năng của đơn vị tài chính này Việc đổi tên nhằm tăng cường vai trò của ngân hàng trong các dự án đầu tư và xây dựng, đồng thời củng cố vị thế trong hệ thống tài chính quốc gia và thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng.

Bộ Tài Chính, trực thuộc NHNN Việt Nam theo Quyết định số 259 - CP ngày 24/6/1981, trong đó nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước

Trong giai đoạn 1981-1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn và đứng trước thách thức của quá trình đổi mới Ngân hàng đã dần hoàn thiện các cơ chế nghiệp vụ và củng cố hệ thống quản trị, từ đó khẳng định vị thế vững chắc để đứng vững và tiếp tục phát triển bền vững.

Ngày 26/11/1990 ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Đến năm 1994 với Quyết định số 654/QĐ-TTg ngày 08/11/1994 của Thủ tướng Chính Phủ về việc chuyển giao nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách và tín dụng theo kế hoạch nhà nước từ ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về NHNN Việt Nam cho phép ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được kinh doanh đa năng như một NHTM

Ngày 01/09/2011, Thống đốc NHNN ra quyết định số 1974/QĐ-NHNN chuyển đổi ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ doanh nghiệp nhà nước thành loại hình Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và tiến hành cổ phần hóa theo tiến trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngày 28/12/2011, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã phát hành thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2124/QĐ-TTG về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Ngày 01/05/2012, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chính thức chuyển đổi thành ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Đến nay, ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã trở thành một trong năm NHTM lớn nhất Việt Nam với quy mô không ngừng mở rộng và tăng trưởng bên vững, tạo ra tiền đề để bước vào giai đoạn mới với những đổi mới rất cơ bản và những kết quả quan trọng ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Nhà nước ghi nhận với danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Lao động hạng Nhất

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hải Dương (BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương) là chi nhánh cấp I trực thuộc BIDV Qua thời gian hình thành và phát triển, BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, đóng góp cho sự phát triển của địa phương và của đất nước

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương là một chi nhánh thuộc hệ thống BIDV, có đầy đủ chức năng của NHTM gồm chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền

Theo quy định của BIDV, toàn bộ chi nhánh trong hệ thống tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các dịch vụ ngân hàng với mọi thành phần kinh tế Đồng thời, mỗi chi nhánh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và BIDV, bảo đảm tuân thủ pháp lý và duy trì hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả.

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương vận dụng đầy đủ các quy định, nội quy và biện pháp kinh doanh cùng các nghiệp vụ kỹ thuật thiết yếu để thực hiện hoạt động ngân hàng, huy động vốn và cấp tín dụng, đồng thời ký kết hợp đồng tín dụng và hợp tác kinh doanh với các tổ chức tài chính theo quy định; chi nhánh chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo tồn và phát triển vốn, thu hồi gốc và lãi vay nhằm đảm bảo sự tăng trưởng của các hoạt động và thực hiện kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, đình chỉ thu hồi trước hạn khi phát hiện sử dụng vốn không đúng mục đích hoặc vi phạm quy định nhà nước; và chịu trách nhiệm kinh tế, dân sự, đồng thời cam kết giữ bí mật số liệu, tình hình hoạt động của khách hàng trong quá trình làm việc với khách hàng.

* Cơ cấu bộ máy tổ chức của BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương

BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương đã xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức hợp lý gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo linh hoạt và nhanh chóng trong việc giải quyết công việc, phù hợp với nền kinh tế thị trường

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BIDV chi nhánh Bắc Hải Dương

- Khối quản lý khách hàng gồm 02 Phòng: Phòng khách hàng doanh nghiệp và Phòng khách hàng cá nhân làm nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, giới thiệu và bán các sản phẩm, thực hiện việc kiểm tra các điều kiện và đề xuất tín dụng để cho vay với khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, hộ gia đình

- Khối quản lý rủi ro gồm 01 Phòng Quản lý rủi ro thực hiện việc thẩm định các dự án lớn, các dự án vượt quyền phán quyết của PGĐ quản lý khách hàng, quyết định phê duyệt cho vay đối với các khách hàng lớn hoặc trình Hội đồng tín dụng với những trường hợp vượt thẩm quyền Theo mô hình cũ đây chính là phòng thẩm định và quản lý tín dụng

- Khối tác nghiệp gồm 02 phòng: Phòng Quản trị tín dụng thực hiện việc quản lý hồ sơ khách hàng, khai báo cài đặt vào máy, trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định và quy trình nghiệp vụ, trình phê duyệt giải ngân các hợp đồng tín dụng sau khi đã qua các bước xét duyệt đề xuất tại các phòng quản lý khách hàng và quản lý rủi ro Phòng Giao dịch khách hàng trực tiếp thực hiện các dịch vụ như thanh toán, thanh toán quốc tế, mở tài khoản, nhận tiền gửi, giải ngân, chuyển tiền và các dịch vụ ngoài tín dụng khác

- Khối Quản lý nội bộ gồm 01 Phòng Quản lý nội bộ có chức năng quản lý nội bộ,bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật và các quy định, quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, và các chuẩn mực đạo đức do ngân hàng đặt ra

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG BIDV, CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG

Ngày đăng: 27/08/2021, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Allan H. Willett. The economic theory of risk and insurance. University of Pennsylvania Press, Philadelphia, 1951. URL:https://www.casact.org/pubs/forum/91wforum/91wf469.pdf Link
27. Frank H. Knight. Risk, Uncertainty and Profit. New York, 1964. URL: https://mises.org/sites/default/files/Risk,%20Uncertainty,%20and%20Profit_4.pdf Link
29. H.W. Henrich. The economic theory of domino. URL: http://www.hrdpidrm.in/e5783/e17327/e24075/e27357/ Link
30. Kloman, Haimes. Quản trị rủi ro toàn diện. URL: http://www.academia.edu/37118705/QU%E1%BA%A2N_TR%E1%BB%8A_R%E1%BB%A6I_RO Link
3. Quyết định 16/QĐ-NHNN ngày 16/05/2008 Về "cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.&#34 Khác
4. Thông tư số 33/2012/TT-NHNN ngày 21/12/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay Khác
8. Đinh Xuân Hạng, Nghiêm Văn Bảy (2014). Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Khác
9. Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc (2012). Giáo trình Quản trị tín dụng ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Khác
10. Nguyễn Lân. Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Lao đông-Xã hội, 1998, tr 1540 Khác
11. Nguyễn Minh Kiều (2010). Giáo trình Quản trị rủi ro Tài chính, NXB tài chính Khác
12. Nguyễn Văn Tiến (2012),Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê Khác
13. Nguyễn văn Tiến, Nguyễn Mạnh Hùng. Câm nang quản trị rủi ro trong Khác
14. Nguyễn Văn Tiến (2003), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê Khác
15. Lê Văn Tư (2005), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Khác
16. Thái VănĐại (2003), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ Khác
17. Nguyễn Anh Thư (2005), Mô hình định giá lại trong quản trị rủi ro lãi suất, Thị trường tài chính tiền tệ, Số 8, trang 12-14 Khác
18. Nguyễn Văn Tiến (2010), Giáo trình Quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê Khác
19. Nguyễn Thị Thanh Sơn. Quản trị tài sản và nguồn vốn của các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay. Tạp chí ngân hàng,Số 5, trang 15-16 Khác
20. Báo cáo tổng kết Ngân hàng TMCP Tiên Phong- CN Hà Nội (2014 – 2016) 21. Trần Huy Hoàng (2010). Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao động xã hội.Tài liệu tiếng anh Khác
23. Arthur C. William, Jr. Micheal, L. Smith, Risk management and insurance, 24. Edward W. Reed Ph.D. (2004), Ngân hàng Thương mại, NXB thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w