Mục đích nghiên cứu Dựa trên các mức độ nhận thức của học sinh để xây dựng hệ thống bài tậpchương “Nhóm nitơ” và chương “Nhóm cacbon” hóa học 11 nâng cao trườngTHPT vừa sức với từng đối
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
TUYÓN CHäN - X¢Y DùNG Vµ Sö DôNG HÖ THèNG BµI TËP THEO C¸C MøC §é NHËN THøC TRONG D¹Y HäC C¸C CH¦¥NG
“NHãM NIT¥” Vµ “NHãM CACBON” Hãa HäC 11 N¢NG CAO
TR¦êNG Trung häc phæ th«ng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
TUYÓN CHäN - X¢Y DùNG Vµ Sö DôNG HÖ THèNG BµI TËP THEO C¸C MøC §é NHËN THøC TRONG D¹Y HäC C¸C CH¦¥NG
“NHãM NIT¥” Vµ “NHãM CACBON” Hãa HäC 11 N¢NG CAO
TR¦êNG Trung häc phæ th«ng
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
VINH - 2011 LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn đều trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Chung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu tôi đã hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ với
sự giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Nguyễn Xuân Trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Xuân Trường
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa hóa trường Đại học Vinh, các bạn trong lớp LL&PPDH K17 Đại học Vinh, các thầy cô và các em học sinh trường THPT Cửa Lò, trường THPT Nghi Lộc 1 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Chung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
5 Giả thuyết khoa học 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của đề tài 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC SÁT VỚI TRÌNH ĐỘ HỌC SINH 9
1.1 Quá trình dạy học 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Phương pháp dạy học 10
1.1.3 Điểm mới trong đổi mới mục tiêu dạy học 11
1.2 Các mức độ nhận thức 12
1.2.1 Phân loại các mức độ nhận thức của Bloom 12
1.2.2 Vận dụng lý thuyết về các mức độ nhận thức 13
1.3 Bài tập hóa học 17
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học 17
1.3.2 Tác dụng của bài tập hóa học 17
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học 18
Trang 61.4 Dạy học phân hóa 20
1.4.1 Khái niệm 20
1.4.2 Sự phân hóa 22
1.4.3 Dạy học phân hóa 22
1.4.4 Các hình thức dạy học phân hóa 25
1.4.5 Thực trạng dạy học môn hóa học ở trường THPT 26
1.4.6 Sự phân hóa học sinh 30
1.4.7 Nhiệm vụ của GV và HS trong dạy học phân hóa 30
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC CÁC CHƯƠNG “NHÓM NITƠ” VÀ “NHÓM CACBON” HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 33
2.1 Sử dụng hệ thống bài tập trong việc nâng cao chất lượng dạy và học 33
2.2 Bài tập theo các mức độ nhận thức 34
2.2.1 Khái niệm 34
2.2.2 Cơ sở để xây dựng bài tập theo các mức độ nhận thức 35
2.2.3 Tác dụng của bài tập theo các mức độ nhận thức 36
2.3 Hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức chương “Nhóm nitơ” 37
2.3.1 Hệ thống lý thuyết chương “Nhóm nitơ” 37
2.3.2 Hệ thống bài tập chương: “Nhóm nitơ” 42
2.4 Hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức chương “Nhóm cacbon” 84
2.4.1 Hệ thống lý thuyết chương nhóm cacbon 84
2.4.2 Hệ thống bài tập chương nhóm cacbon 90
2.5 Một số biện pháp sử dụng bài tập trong dạy học theo các mức độ nhận thức 115
2.5.1 Sử dụng bài tập theo các mức độ nhận thức trong khi dạy học bài mới 115
Trang 72.5.2 Bài tập về nhà 116
2.5.3 Dạy luyện và ôn tập 117
2.5.4 Phụ đạo học sinh yếu kém 117
2.5.5 Bồi dưỡng học sinh khá giỏi 118
2.5.6 Sử dụng trong kiểm tra đánh giá 118
Tiểu kết chương 2 119
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 120
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 120
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 120
3.3 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 120
3.3.1 Đối tượng và địa bàn TN 120
3.2.2 Tiến hành TNSP 120
3.3.3 Nội dung TN 121
Tiểu kết chương 3 132
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133
1 Kết luận 133
2 Kiến nghị 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TNSP : Thực nghiệm sư phạm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Trang
B ng: ảng:
Bảng 3.1 Tỉ lệ % HS trả lời đúng câu hỏi 121
Bảng 3.2 Bảng điểm kiểm tra của HS 123
Bảng 3.3 Bảng điểm trung bình 124
Bảng 3.4 Bảng % HS đạt điểm yếu, kém, trung bình, khá, giỏi 124
Bảng 3.5 Bảng % HS đạt điểm từ X i trở xuống 125
Bảng 3.6 Giá trị của các tham số đặc trưng 130
Đồ thị: Đồ thị 3.1 Đường lũy tích so sánh kết quả kiểm tra (đề số 1) Trường THPT Cửa Lò 126
Đồ thị 3.2 Đường lũy tích so sánh kết quả kiểm tra (đề số 1) Trường THPT Nghi Lộc 1 126
Đồ thị 3.3 Đường lũy tích so sánh kết quả kiểm tra (đề số 2) Trường THPT Cửa Lò 127
Đồ thị 3.4 Đường lũy tích so sánh kết quả kiểm tra (đề số 2) Trường THPT Nghi Lộc 1 127
Biểu đồ: Biểu đồ 3.1: Đề 1- Trường THPT Cửa Lò 128
Biểu đồ 3.2: Đề 1 - Trường THPT Nghi Lộc 1 128
Biểu đồ 3.3: Đề 2 - Trường THPT Cửa Lò 129
Biểu đồ 3.4: Đề 2 - Trường THPT Nghi Lộc 1 129
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mục tiêu nền Giáo dục và Đào tạo của chúng ta hiện nay là: “Nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, các thầy giáo, cô giáo với bộ môn dạyhọc của mình luôn luôn bằng mọi phương pháp dạy học của mình cố gắng thực hiệntốt mục tiêu đó Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển, xã hội luôn đòi hỏinhững con người hoàn thiện về kiến thức, khả năng tư duy và hành động, biết địnhhướng một cách khoa học Chính vì vậy, ngành giáo dục luôn chỉ đạo sát sao việcthực hiện mục tiêu đào tạo để đáp ứng nhu cầu đó
Nhiệm vụ của người giáo viên trong nhà trường không chỉ là truyền đạt kiếnthức mà còn phải dạy cho học sinh phương pháp học tập, phát triển năng lực nhậnthức và tư duy của học sinh Dạy học đề cao vai trò chủ thể hoạt động của học sinhtrong học tập là yếu tố cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay và phù hợp với xuthế phát triển của thế giới Trong dạy học để phát huy vai trò chủ thể của tất cả cáchọc sinh trong lớp, chúng ta luôn đảm bảo nguyên tắc đó là sự thống nhất giữa đồngloạt và phân hóa, khi đó tất cả học sinh tiếp thu kiến thức phù hợp với khả năngbản thân gọi là tính vừa sức Nhiệm vụ đó được thực hiện theo nhiều cách thứckhác nhau, trong đó việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học hóa học được coi
là một phương thức hết sức quan trọng Trong khi đó hiện nay trong nhà trườngchúng ta đang tiến hành dạy học đồng loạt, các em cùng một lứa tuổi cùng ngồitrong một lớp, cùng được thầy giáo truyền đạt cùng một vấn đề và thời gian họccũng như nhau, điều này dẫn đến là cùng một vấn đề mà thầy giáo truyền đạt sẽ dễđối với học sinh thuộc diện khá giỏi, nhưng lại khó đối với học sinh thuộc diệnyếu kém, hậu quả là làm cho học sinh mất đi hứng thú học tập Để mang lại sựhứng thú trong học tập của học sinh thì trong quá trình giảng dạy người thầy giáocần đem lại cho học sinh của mình những kiến thức phù hợp với năng lực của các
em, những vấn đề mà học sinh tiếp thu không quá khó hoặc quá dễ Cọ xát vớithực tế tôi thấy trong từng khối học, từng lớp lớp học mức độ nhận thức của từnghọc sinh, từng khối học sinh và có khi từng khóa học có mức độ nhận thức từngđối tượng khác nhau Rút kinh nghiệm qua từng bài giảng chúng tôi đã tập trung
Trang 11chọn đề tài sau: “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo các
mức độ nhận thức trong dạy học các chương “Nhóm nitơ” và “Nhóm cacbon” hóa học 11 nâng cao trường Trung học phổ thông”.
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên các mức độ nhận thức của học sinh để xây dựng hệ thống bài tậpchương “Nhóm nitơ” và chương “Nhóm cacbon” hóa học 11 nâng cao trườngTHPT vừa sức với từng đối tượng học sinh và đề ra phương pháp sử dụng hệ thốngbài tập một cách hiệu quả nhất
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học sát với trình độ học sinh
Đánh giá tình hình tổng quan về các đối tượng học sinh, chúng tôi tiến hànhkhảo sát tình hình học tập của các em học sinh thuộc ở các trường THPT Cửa Lò vàTHPT Nghi Lộc 1 để biết được mức độ học tập môn hóa học của học sinh ở đây
Phương pháp giảng dạy bằng bài tập theo các mức độ nhận thức mang tínhvừa sức với từng đối tượng học sinh, chúng tôi đưa ra các biện pháp sử dụng hệthống bài tập theo các mức độ nhận thức trong quá trình dạy học môn hóa học
Xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập về chương “Nhóm nitơ” và chương
“Nhóm cacbon” phù hợp với các đối tượng học sinh
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả của đề tài
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học theo các mức độ nhận thức và
hệ thống bài tập hóa học chương Nhóm nitơ và chương Nhóm cacbon lớp 11 theocác mức độ nhận thức
5 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng có hiệu quả hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức chophù hợp với các đối tượng học sinh thì sẽ khắc phục được những lỗ hổng kiến thức
cơ bản, góp phần nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa học cho học sinh, tích cựcchủ động trong nhận thức cũng như trong học tập, phát triển năng lực tư duy, vận
Trang 12dụng được kiến thức khoa học vào đời sống, hình thành cho học sinh năng lực giảiquyết vấn đề, năng lực hoạt động sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóahọc ở trường THPT.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan để xây dựngnên cơ sở lý luận
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
6.3 Phương pháp xử lí thông tin
- Xử lí thông tin bằng phương pháp thống kê toán học
7 Đóng góp của đề tài
- Tổng quan vai trò, mục đích, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình
tiếp thu kiến thức của học sinh, tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa BTHH với việcphát triển năng lực nhận thức của học sinh
- Tuyển chọn, phân loại bài tập theo mức độ nhận thức, tư duy của học sinhnhằm đạt được mục đích yêu cầu của bài học
- Đề ra một số cách sử dụng bài tập hóa học theo các mức độ biết, hiểu vàvận dụng trong quá trình dạy học hóa học nhằm đổi mới phương pháp dạy học tạitrường THPT
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
hoạt động học của học sinh, hình thức tổ chức dạy học và kết quả của sự dạy học.
Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, quan hệ thống nhất và chi phối lẫn nhau
Quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học hóa học nói riêng đã là đốitượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục - lí luận dạy học, trong đó học là quá trình
tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm dưới sự điều khiển sư phạm của GV,
đó là mục đích của hoạt động học Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thànhcông sẽ đạt được 3 mục đích: trí dục, phát triển tư duy, giáo dục
Về cấu trúc hoạt động học có 2 chức năng thống nhất với nhau là sự tiếp thuthông tin dạy của GV và quá trình lĩnh hội, tự điều khiển mình trong quá trình họctập của HS
Để thực hiện mục đích chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác tíchcực thì người học cần có phương pháp lĩnh hội khoa học và chiếm lĩnh khái niệmkhoa học Các phương pháp đó là: mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học
Chức năng lĩnh hội của hoạt động học có liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởngtrực tiếp của hoạt động dạy của người GV Hoạt động dạy là sự điều khiển tối ưu quátrình HS chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong quá trình tổ chức và điều khiển đó màhình thành và phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS Để đạt được mục đíchnày, hoạt động dạy có hai chức năng liên hệ chặt chẽ, thâm nhập vào nhau, sinh thành
ra nhau đó là truyền đạt thông tin học và điều khiển hoạt động học Chức năng điềukhiển hoạt động học được thực hiện thông qua sự truyền đạt thông tin
Hoạt động dạy và học là cộng đồng - hợp tác giữa các chủ thể trong quátrình dạy học - yếu tố duy trì và phát triển chất lượng dạy học
Trang 14Như vậy quá trình dạy học tối ưu phải xuất phát từ logic của khái niệm khoahọc và logic lĩnh hội của HS, thiết kế công nghệ dạy học hợp lí, tổ chức tối ưu hoạtđộng dạy học cộng đồng - hợp tác, bảo đảm liên hệ nghịch để cuối cùng làm cho HS
tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, phát triển năng lực tư duysáng tạo và cùng với nét đặc thù của môn học sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượngdạy và học các môn học trong nhà trường phổ thông
Có thể nói khái niệm dạy học thay đổi theo sự vận động và phát triển của xãhội tuỳ theo tính chất của công việc dạy và học Trước đây, quá trình dạy học làthầy thuyết trình trò lắng nghe và ghi chép, thông tin mà trò nhận được chỉ từ mộtphía hay nói cách khác là trò tiếp thu kiến thức một cách thụ động Ngày nay khikhoa học kĩ thuật phát triển, đặc bệt là xuất hiện internet là một nguồn thông tinkhổng lồ cho mọi người khai thác, chính vì thế mà quan niệm về dạy học đã thayđổi, hoạt động học của HS không hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động dạy của GV,dạy là dạy cách học chứ không phải là mang kiến thức đầy đủ đến cho học sinh, tứcthầy giáo là người chỉ đường chứ không phải là người dẫn đường, học là sự tiếp thukiến thức, thông tin có chọn lọc tức là biến kiến thức, thông tin chung thành củariêng bản thân mình
Quá trình dạy học thành công sẽ đạt được ba mục đích đó là: trí dục, pháttriển tư duy và giáo dục
Như vậy dạy học là sự hợp tác làm việc giữa thầy và trò, trong đó vai trò làchủ thể của hoạt động còn người thầy là người hướng dẫn, cố vấn
1.1.2 Phương pháp dạy học
Như chúng ta đã biết, phương pháp nói chung là con đường, là cách thức đểđạt được mục đích nhất định Nếu vận dụng khái niệm chung này vào việc xác địnhkhái niệm phương pháp dạy học thì chúng ta còn phải tính đến một số vấn đề cụ thểnhư sau:
Phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào mộtquá trình cụ thể: quá trình dạy học Đây là quá trình được đặc trưng ở tính chất haimặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động, hoạt động của thầy và hoạt động của trò, haihoạt động này tồn tại trong mối quan hệ biện chứng Hoạt động dạy học đóng vaitrò chủ đạo(tổ chức điều khiển) và hoạt động học đóng vai trò tích cực chủ động (tự
Trang 15tổ chức, tự điều khiển) Vì vậy phương pháp dạy học phải là tổng hợp những cáchthức làm việc của thầy và trò Trong quá trình thực hiện cách thức đó, thầy phải giữvai trò chủ đạo và trò phải giữ vai trò tích cực chủ động.
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh được tiếnhành dưới tác động chủ đạo của thầy Như vậy phương pháp dạy học với tư cách làtổng hợp những cách thức hoạt động của thầy và trò, phải góp phần tích cực củamình, nhiều khi góp phần quyết định vào việc thực hiện quá trình nhận thức độc đáocủa HS
Phương pháp dạy học giúp cho việc thực hiện quá trình nhận thức độc đáocủa HS với yêu cầu là phải thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đó là:
- Trang bị cho HS hệ thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại,phù hợp với thực tiễn đất nước và hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
- Phát triển ở các em năng lực hoạt động trí tuệ, trên cơ sở đó hình thành ởcác em thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới
Từ những điều đã trình bày có thể nêu định nghĩa về phương pháp dạy học
như sau: Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò, trong
đó quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
1.1.3 Điểm mới trong đổi mới mục tiêu dạy học
Do yêu cầu phát triển xã hội hướng tới một xã hội tri thức nên mục tiêu dạyhọc cũng cần phải được thay đổi để đào tạo ra những con người đáp ứng đượcnhững đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống Có khảnăng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là có năng lực hành động, tính sángtạo, năng động, tính tự lực và trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải
quyết các vấn đề phức hợp và khả năng học tập suốt đời.
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành đổi mới giáo dục, mục tiêu của các cấphọc, bậc học có sự đổi mới tập trung vào việc hình thành năng lực nhận thức, nănglực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng cho học sinh
Mục tiêu của việc dạy và học Hóa học tập trung nhiều hơn tới việc hìnhthành năng lực hành động cho học sinh Năng lực hành động là khả năng thực hiện
có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc
Trang 16lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, có kĩ năng, kĩ xảo và
có kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Về cấu trúc năng lực hành động là
sự gặp nhau giữa các năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội,năng lực cá thể mà tạo thành
Ngoài những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được ta cần chú
ý nhiều hơn tới việc hình thành các kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiêncứu khoa học như:
- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận, kiểm tra kết quả và mô tả
- Phân loại, ghi chép thông tin, đề ra các giả thuyết khoa học, giải quyết vấn đề,hoàn thành nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu khoa học
- Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học từ đơn giản tới phức tạp theo hướng độclập và hoạt động theo nhóm
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống có liênquan tới hóa học
Trong các hoạt động, chú trọng tới việc động viên học sinh từ phát hiện vàgiải quyết một cách chủ động, sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hóa học
1.2 Các mức độ nhận thức
1.2.1 Phân loại các mức độ nhận thức của Bloom
Theo thang phân loại của Bloom, để đánh giá trình độ nhận thức của học sinh THPT gồm 6 mức độ:
a Nhận biết: là khả năng ghi nhớ hoặc nhận ra các khái niệm, định nghĩa, định lý,
hệ quả hoặc sự vật, hiện tượng dưới hình thức mà chúng đã được học
b Thông hiểu: là khả năng nắm bắt được tài liệu như chuyển dịch kiến thức từ mức
độ trừu tượng này sang mức độ trừu tượng khác, từ một dạng này sang một dạngkhác, từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từ câu chữsang công thức, kí hiệu, số liệu…), khả năng giải thích tài liệu(nêu ý nghĩa, tưtưởng, các mối quan hệ…) đây là hình thức nhận thức cao hơn việc ghi nhớ, nhận rakiến thức
Các động từ tương ứng với mức độ thông hiểu: tóm tắt, giải thích, mô tả, sosánh, chuyển đổi, ước lượng, diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại,lấy ví dụ
Trang 17c.Vận dụng: là khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào một tình huống mới.
Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên
lý, định luật, công thức…để giải quyết một vấn đề của học tập hoặc thực tiễn Mức
độ nhận thức này cao hơn mức độ thông hiểu ở trên
Các động từ tương ứng với mức độ tư duy vận dụng: minh hoạ, tính toán,diễn dịch, dự đoán, áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh
d Phân tích: là khả năng tách toàn thể các bộ phận cấu thành, xác định các mối
quan hệ giữa các bộ phận Đây là mức độ cao hơn mức vận dụng vì nó đòi hỏi sựthấu hiểu cả về nội dung lẫn kết cấu của tài liệu
Các động từ tương ứng với các mức tư duy phân tích: phân tích, suy luận, lựachọn, vẽ biểu đồ, phân biệt, đối chiếu, so sánh, phân loại, phác thảo, liên hệ
e Tổng hợp: là khả năng sắp xếp các bộ phận riêng rẽ lại với nhau để hình thành
một toàn thể mới Điều này có thể bao gồm việc tạo ra một chủ thể mới, một mạnglưới các quan hệ mới(sơ đồ phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực nàynhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các mô hìnhhoặc cấu trúc mới
Các động từ tương ứng với mức độ tư duy tổng hợp: thiết kế, giả thiết, hỗtrợ, viết ra, báo cáo, hợp nhất, tuân thủ, phát triển, thảo luận, lập kế hoạch, so sánh,tạo mới, xây dựng, sắp đặt, sáng tác, tổ chức
f Đánh giá: là khả năng xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng
được chúng để đánh giá tài liệu Đây là mức đọ cao nhất của nhận thức vì nó chứađựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức nêu trên, là khả năng phán xét giá trịhoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp
Để sử dụng đúng mức độ này, học sinh phải có khả năng giải thích tại saophải sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm.Những hoạt động liên quanđến mức độ đánh giá có thể là: biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận
Các động từ tương ứng với mức độ tư duy đánh giá: đánh giá, lựa chọn, ướctính, phán xét, bảo vệ, định giá, phê bình,…
1.2.2 Vận dụng lý thuyết về các mức độ nhận thức
Khi nghiên cứu thang phân loại trình độ nhận thức của cố Giáo sư NguyễnNgọc Quang, thang phân loại trình độ nhận thức của Bloom và trình độ nhận thức
Trang 18của học sinh THPT hiện nay của nước ta, có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: sựphân chia mức độ tư duy theo mức độ phân chia của thang Bloom rất khó thực hiện.
Vì thế, việc đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh hiện nay theo các mứcđộ: Biết, hiểu, vận dụng, vận dụng sáng tạo
Cụ thể:
a Nhận biết
Là nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây, có nghĩa là có thể nhận biếtthông tin, tái hiện, ghi nhớ lại, Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhậnthức thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựatrên thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, sự vật hiện tượng
b Thông hiểu
Là khả năng nắm được, hiểu được, giải thích và chứng minh được các sự vật
và hiện tượng Học sinh có khả năng diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu củamình, sử dụng được kiến thức và kĩ năng trong tình huống quen thuộc
Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, tính chất của sự vật hiện tượng
- Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng
- Lựa chọn, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đềnào đó
- Sắp xếp lại các ý trả lời theo cấu trúc logic Các động từ tương ứng với cấp
độ thông hiểu có thể được xác định là: phân tích, giải thích, chứng minh, mô tả,phân biệt, so sánh,…
c Vận dụng
Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới:vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòihỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ýtưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Có thể cụ thể bằng các yêu cầu sau đây:
- So sánh các phương án giải quyết vấn đề
- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
- Giải quyết được những tình huống mới bằng việc vận dụng các khái niệm,biểu tượng, đặc điểm đã biết,
Trang 19- Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẻsang tình huống mới, tình huống phức tạp hơn.
Các động từ tương ứng với cấp độ thông hiểu có thể được xác định là: minhhọa, sử dụng, áp dụng, chứng minh, so sánh,
d Vận dụng sáng tạo
Có thể hiểu là học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản, các kĩnăng, kiến thức để giải quyết một vấn đề mới chưa được học hay chưa trải nghiệmtrước đây (sáng tạo) Vận dụng các vấn đề đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễncuộc sống
Ở cấp độ này bao gồm 3 mức độ: phân tích, tổng hợp, đánh giá theo bảngphân loại các mức độ nhận thức của Bloom
- Phân tích khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phậncấu thành của thông tin hay tình huống
- Tổng hợp khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể, sựvật lớn
- Đánh giá là khả năng phán xét giá trị sử dụng thông tin theo tiêu chíthích hợp
Các hoạt động tương ứng ở vận dụng sáng tạo là: phân biệt, so sánh, chia nhỏcác thành phần, thiết kế, rút ra kết luận, tạo ra sản phẩm mới
Các động từ tương ứng với cấp độ thông hiểu có thể được xác định là: giảithích, trình bày mối quan hệ, so sánh,
Với các tiêu chí đánh giá trình độ nhận thức tư duy của học sinh như trên,trong quá trình dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng mỗi giáo viên cầnphải chú ý phối hợp nhiều hình thức dạy học cho phù hợp thực tế trong đó việc sửdụng hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học trong dạy học hóa học ở trường THPT làmột hướng quan trọng Do đó cần tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câuhỏi và bài tập hóa học như thế nào để nâng cao hiệu quả dạy và học Hóa học ởtrường THPT?
Căn cứ vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành xây dựng bàitập hóa học theo các quan điểm về việc phân loại mức độ nhận thức và tư duy của
GS Bloom và GS Nguyễn Ngọc Quang
Trang 20Từ quan điểm trên giúp cho việc phân loại sắp xếp các câu hỏi và bài tập hóahọc căn cứ vào các mức độ nhận thức và tư duy của quá trình lĩnh hội kiến thức kỹnăng chúng tôi thấy có thể sắp xếp thành 4 dạng sau:
Mức
Nhận
biết
Quan sát và nhớ lại thông tin, nhận
biết được thời gian, địa điểm và sự
kiện, nhận biết được các ý chính, nắm
được chủ đề nội dung
Liệt kê, định nghĩa, thuật lại, nhậndạng, chỉ ra, đặt tên, sưu tầm, tìmhiểu, lập bảng kê, trích dẫn, kể tên,
ai, khi nào, ở đâu v.v
Thông
hiểu
Thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý
nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng
này sang dạng khác, diễn giải các dữ
liệu, so sánh, đối chiếu tương phản,
ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các
dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã
học từ nhiều lĩnh vực khác nhau, dự
đoán, rút ra các kết luận So sánh và
phân biệt các kiến thức đã học, đánh
giá giá trị của các học thuyết, các luận
điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên
cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị
của chứng cứ, nhận ra tính chủ
quan.Có dấu hiệu của sự sáng tạo
Phân tích, xếp thứ tự, giải thích,kết nối, phân loại, chia nhỏ, sosánh, lựa chọn, giải thích, suy diễn.Kết hợp, hợp nhất, sửa đổi, sắp xếplại, thay thế, đặt kế hoạch, sángtạo, thiết kế, chế tạo, sáng tác, xâydựng, soạn lập, khái quát hóa, viếtlại theo cách khác Đánh giá, quyếtđịnh, xếp hạng, xếp loại, kiểm tra,
đo lường, khuyến nghị, thuyếtphục, lựa chọn, phán xét, giảithích, phân biệt, ủng hộ, kết luận,tóm tắt v.v
Trang 21Việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong dạy học là điều có tầm quan trọng đặcbiệt Đối với học sinh đây là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và không có gì
có thể thay thế được, giúp cho học sinh nắm vững những kiến thức hóa học, pháttriển tư duy, hình thành khái niệm, khả năng ứng dụng hóa học vào thực tiễn, làmgiảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối kiến thức và gây hứng thú cho học sinhtrong học tập
Tuy nhiên hiệu quả của việc sử dụng hệ thống câu hỏi và BTHH còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như: tính tự giác, tính vừa sức và hứng thú học tập của HS.Cũng như vấn đề học tập, câu hỏi và BT dễ quá hoặc khó quá đều không có sức lôicuốn HS Vì vậy trong quá trình DH, ở tất cả các kiểu bài lên lớp khác nhau, người
GV phải biết sử dụng câu hỏi và BTHH có sự phân hóa để phù hợp từng đối tượngtức là góp phần rèn luyện và phát triển tư duy cho HS
Tuỳ theo mục đích DH, tính phức tạp và quy mô của từng loại bài, GV có thể sửdụng hệ thống câu hỏi và bài tập theo các mức độ trên
1.3 Bài tập hóa học
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển tiếng Việt thì bài tập là: “Bài ra cho học sinh làm để vận dụngđiều đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học” Ởđây chúng ta hiểu BTHH là những bài được lựa chọn một cách phù hợp với nộidung rõ ràng cụ thể Muốn giải được những bài tập này người HS phải biết suy luậnlogic dựa vào những kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa học,những khái niệm, những định luật, học thuyết, những phép toán Người học phânloại bài tập để tìm ra hướng giải hợp lý và có hiệu quả
1.3.2 Tác dụng của bài tập hóa học
BTHH là một trong những nguồn để hình thành kiến thức và kỹ năng mớicho học sinh BTHH giúp họ đào sâu, mở rộng kiến thức một cách sinh động, phongphú và hấp dẫn Thông qua bài tập, học sinh phải tích cực suy nghĩ để tìm ra cáchgiải, từ đó hình thành được kỹ năng giải từng loại bài tập
Thông qua giải BTHH, học sinh hình thành, rèn luyện và củng cố các kiếnthức, kỹ năng Bài tập là phương tiện hiệu nghiệm để học sinh vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, biến kiến thức của nhân loại thành của chính mình
Trang 22BTHH là phương tiện hữu hiệu để rèn luyện và phát huy tư duy của họcsinh Khi giải BTHH, học sinh phải thực hiện các thao tác tư duy để tái hiện kiếnthức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng; phải phán đoán,suy luận để tìm ra lời giải.
BTHH là phương tiện để phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, tínhthông minh, sáng tạo của học sinh Học sinh tự tìm kiếm lời giải, tìm ra được cáccách giải khác nhau và cách giải nhanh nhất cho từng bài tập cụ thể
BTHH là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng củahọc sinh Việc giải bài tập của học sinh giúp giáo viên phát hiện được trình độ họcsinh, thấy được những khó khăn, sai lầm học sinh thường mắc phải; đồng thời cóbiện pháp giúp họ khắc phục những khó khăn, sai lầm đó
BTHH còn có tác dụng mở mang vốn hiểu biết thực tiễn cho học sinh; giáodục đạo đức, tư tưởng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, rèn luyện tác phong người laođộng mới: làm việc kiên trì, khoa học, đặc biệt là tính cẩn thận, trung thực, tiếtkiệm, độc lập, sáng tạo trong các bài tập thực nghiệm
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học
BTHH được phân chia làm nhiều loại được dựa trên những cơ sở khác nhau.Hiện nay được phân theo những loại cơ bản sau:
Dựa vào chủ đề
Dựa vào khối lượng kiến thức
Dựa vào tính chất của BT
Dựa vào đặc điểm của BT
Dựa vào nội dung
Dựa vào mục đích DH
Dựa vào phương pháp giải hoặc tiến trình giải
Dựa vào hoạt động nhận thức của HS
Dựa vào PP hình thành kỹ năng giải bài tập
Dựa vào mối liên hệ giữa kiến thức và thực tế
Tuy nhiên các cách phân loại trên chưa có ranh giới rõ rệt, có những BT vừa
có chứa nội dung phong phú, vừa có tính chất đặc trưng nổi bật, vừa có thuật toánriêng Với những BT như vậy có thể dùng để ôn luyện, củng cố sau khi đã phântừng dạng nhỏ Theo tác giả thì sự phân loại BTHH phải dựa trên 3 cơ sở chính sau:
Dựa vào nội dung cụ thể của bài tập đó
Trang 23Dựa trên cơ sở tính đặc thù của vấn đề cần nghiên cứu
Dựa vào mục đích dạy học
1.3.4 Những yêu cầu lý luận dạy học cơ bản đối với bài tập
BT có công dụng rộng rãi, có hiệu quả sâu sắc trong việc thực hiện mục tiêuđào tạo, trong việc hình thành PP chung của việc tự học hợp lý đặc biệt trong việcrèn luyện kỹ năng tự lực sáng tạo
Muốn khai thác được tối đa tiềm năng trí - đức dục của bài tập, người GV bộmôn cần giải quyết một loạt những vấn đề cơ bản sau đây có liên quan đến hệ thốngbài tập của bộ môn mình
a Phân loại hệ thống đa cấp bài tập hóa học
Phân hóa các bài tập, ở mỗi kiểu, tìm ra quy luật biến hoá từ cái sơ đẳng, cơbản, điển hình nhất (cái đơn giản nhất coi như xuất phát) đến những bài tập khácngày càng phức tạp hơn, tổng hợp hơn Đây là chuỗi bài tập theo logic dọc Đồngthời, lại tìm ra quy luật liên kết các bài toán giữa các kiểu với nhau Từ những bàitoán điển hình, đơn giản nhất của hai hay nhiều kiểu khác nhau “lắp ghép” thànhmột bài tập tổng hợp Đây là logic ngang của sự cấu tạo các bài tập từ nhiều kiểukhác nhau
Nắm được hai quy luật (dọc và ngang) của sự hình thành bài tập, ta có thểsắp xếp chúng theo thứ tự từ bài tập dễ đến bài tập khó Từ đó mà ta có thể tuỳ từngtrình độ của HS (giỏi, trung bình, yếu) mà chọn và đưa bài tập vừa sức cho HS giải.Dạy học theo tiếp cận này sẽ rất hiệu quả vì nó cho phép ta cá thể hoá cao độ việcdạy học cho một lớp có nhiều HS ở trình độ lĩnh hội khác nhau
b Biên soạn bài tập mới tùy theo yêu cầu sư phạm định trước
Nếu nắm được sự phân loại các kiểu điển hình và các quy luật biến hoá (dọc
và ngang) của bài tập, GV có thể biên soạn những bài tập mới bằng cách vận dụngnhững quy luật biến hóa nói trên Tuỳ theo yêu cầu sư phạm, ta có thể phức tạp hóahay đơn giản hóa bài tập, soạn những bài tập có độ khó tăng dần, có chứa đựngnhững yếu tố giúp rèn luyện những kỹ năng riêng biệt nào đó v.v Bài tập được xâydựng theo các mức độ nhận thức sẽ đáp ứng được những mục đích nói trên
c Bảo đảm các yêu cầu cơ bản trong việc dạy học bằng bài tập
Khi sử dụng bài tập như một PPDH, cần lưu ý những yêu cầu sau đây:
Trang 24Bảo đảm tính cơ bản gắn liền với tính tổng hợp.
Bảo đảm tính hệ thống và tính kế thừa
Bảo đảm tính kỹ thuật tổng hợp
Bảo đảm tính phân hóa của hệ thống các bài tập
Thường xuyên coi trọng việc dạy học sinh PP giải bài tập
1.4 Dạy học phân hóa
1.4.1 Khái niệm
Phương pháp dạy học theo các mức độ nhận thức hay dạy học phân hóa làmột giải pháp tốt cho những vấn đề còn hạn chế của giáo dục đồng loạt Sở dĩ nóinhư vậy là vì phương pháp dạy học theo các mức độ nhận thức dựa trên những quanđiểm sau đây:
- Sự tiếp cận để giảng dạy phù hợp
Dạy học theo các mức độ nhận thức không đơn thuần là phân loại HS theonăng lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượnghọc sinh trên cơ sở am hiểu từng cá thể, giáo viên tiếp cận học sinh ở nhiều phươngdiện khác nhau, như là về năng lực nhận thức, hoàn cảnh sống, tâm lí, năng khiếu,
về mơ ước trong cuộc sống,…có thể nói trong phương pháp dạy học theo các mức
độ nhận thức giáo viên phải: tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục
- Phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập
Trong quá trình học tập có những khái niệm, nguyên lí mà các em khônghiểu hoặc không rõ nhưng không được bổ sung kịp thời sẽ tạo ra các lỗ hổng kiếnthức Các lỗ hổng kiến thức là một cản trở lớn để tiếp thu kiến thức mới, trong việchình thành kĩ năng Lấp các lỗ hổng kiến thức có vai trò rất quan trọng, nó giốngnhư công việc tạo lại nền tảng học tập vững chắc cho học sinh Chỉ có tiếp cận HSmới giúp GV có thể biết được HS của mình đang hổng kiến thức gì để có kế hoạch
“lấp lỗ hổng” kịp thời, tạo ra nền tảng vững chắc để tiếp thu kiến thức mới Việc
GV quan tâm đến HS nó không chỉ giúp cho GV hiểu được các em mà còn là nguồnđộng lực lớn đối với các em, đó cũng là một lí do tạo ra động lực cho HS Nhưng có
lẽ chỉ có sự quan tâm thôi là chưa đủ, điều quan trọng là khi GV hiểu HS một cách
cụ thể để từ đó xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với từng đối tượng HS, đảmbảo tính vừa sức, dễ tiếp thu Khi tiếp thu và hiểu được vấn đề HS sẽ cảm thấy thích
Trang 25thú với môn học Ngoài ra việc áp dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể trongcuộc sống cũng tạo ra một động lực mạnh mẽ, ví dụ: đối với môn Hóa học ngoàinhững khái niệm, nguyên lí giáo viên có thể hướng dẫn HS vận dụng những kiếnthức lí thuyết vào thực tiễn bằng cách tăng cường làm thí nghiệm thực hành, thôngqua các hoạt động ngoại khóa, các bài tập thực tiễn, đặc biệt các hoạt động đó cóliên quan đến vấn đề môi trường, thực phẩm, y học, …Tuy nhiên trong các hoạtđộng như thế giáo viên cũng phải cần quan tâm đến tính vừa sức cho các đối tượng
HS, nghĩa là tuỳ vào khả năng của từng đối tượng học sinh để giao cho các em cácnhiệm vụ vừa sức thực hiện Có thể nói thông qua các hoạt động như thế sẽ tạo ramột chiếc cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn đồng thời tạo cho các em niềm vui,niềm tin vào khoa học và điều quan trọng là tạo ra được hứng thú học tập
- Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập
Trong cuộc sống mỗi con người đều có đam mê về một lĩnh vực nào đó, cóthể là về lĩnh vực thể thao, nghệ thuật hoặc lĩnh vực khoa học nào đó như vậy trongsuy nghĩ của các em luôn có những hình ảnh của những người thành công trên cáclĩnh vực đó, người mà các em gọi là thần tượng và các em có mơ ước “vươn tớinhững ngôi sao” Một khi giáo viên biết được niềm đam mê của các em, để trên cơ
sở đó có thể biến niềm đam mê thành động lực học tập Bằng cách nào để làm đượcđiều đó thì phụ thuộc vào khả năng của từng GV, công việc đó có vẻ khó khănnhưng với tình yêu và lòng nhiệt huyết đối với HS chúng ta tin các thầy, các cô cóthể làm được
- Dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy học đồng loạt
Giáo dục của chúng ta hiện nay đang thực hiện theo một khuôn khổ đã địnhsẵn về thời gian đào tạo, về kiến thức đạt được Yêu cầu chung đặt ra là các em cầnđạt được chuẩn kiến thức nhất định và trên cơ sở đó có thể phát triển lên Nhưng cómột điều mà chúng ta chưa quan tâm là xuất phát điểm của các em hoàn toàn khônggiống nhau, vậy thì bắt đầu từ đâu cho tất cả học sinh? Dạy học đồng loạt chỉ tạo ramột xuất phát điểm cho mọi học sinh trong khi mỗi học sinh có một điểm xuất phátriêng, sẽ quá cao hoặc quá thấp cho các em điều này sẽ làm mất đi hứng thú học tậpcủa học sinh Như vậy muốn cho mọi học sinh đạt được kiến thức “chuẩn” thật khó
Trang 26khi thực hiện dạy học đồng loạt Để cho tất cả học sinh đều đạt được chuẩn về kiếnthức thì mỗi học sinh phải có một xuất phát điểm ứng với trình độ hiện có của các
em Dạy học phân hóa luôn tạo ra môi trường học tập vừa sức cho mọi học sinh,những học sinh yếu kém được tạo điều kiện để đạt trình độ chuẩn, những em đã đạttrình độ chuẩn rồi thì có điều kiện để phát triển cao hơn
1.4.2 Sự phân hóa
Sự phân hóa ở mức độ vĩ mô:
Phân hóa trong giáo dục là đòi hỏi khách quan Tính khách quan đó đượcgiải thích dựa trên những điểm sau:
- Nhu cầu của xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực vừa có những điểmgiống nhau về nhân cách người lao động trong cùng một xã hội, lại có sự khác nhau
về trình độ phát triển, khuynh hướng và tài năng
- Học sinh có cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau, lại vừa có sự khác nhau vềkhả năng tư duy, nhân cách và hoàn cảnh gia đình, nề nếp gia đình, khả năng kinh
tế, nhận thức của cha mẹ về giáo dục
- Phân hóa được diễn ra dưới những hình thức về cấp độ khác nhau ở cấp độ
vĩ mô có thể kể ra: Phân ban, tự chọn, trường chuyên
Sự phân hóa ở mức độ vi mô:
Ở mức độ vi mô sự phân hóa diễn ra trong giờ học chính khóa, ngoại khóa,bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém
Trong luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến sự phân hóa ở mức độ vi mô cụthể như sau:
1.4.3 Dạy học phân hóa
1 Dạy học phân hóa trong giờ học chính khóa
Khi tiến hành dạy học phân hóa trong các giờ học chính khóa cần dựa trênnhững tư tưởng chủ đạo sau đây:
- Lấy trình độ phát triển chung của HS làm nền tảng
- Tìm cách đưa diện yếu kém lên trình độ chung
- Tìm cách đưa diện khá, giỏi đạt ngưỡng yêu cầu nâng cao trên cơ sở đạtđược những yêu cầu cơ bản
Trang 27- Trong giờ học chính khóa có thể sử dụng một số biện pháp phân hóanhư sau:
Đối xử cá biệt ngay trong từng giờ dạy học đồng loạt dựa trên trình độ pháttriển chung, ví dụ: Giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, khuyến khích họcsinh yếu kém khi các em tỏ ý muốn trả lời câu hỏi, phân hóa việc giúp đỡ, kiểm tra
2 Trong hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho dạy học nội khóa, gâyhứng thú học tập bộ môn đặc biệt là môn hóa học, bổ sung đào sâu, mở rộng kiếnthức Học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa dưới hình thức tự nguyện không bắtbuộc Các hình thức hoạt động ngoại khóa gồm có: nói chuyện ngoại khóa, sinhhoạt câu lạc bộ, viết báo, … trong hoạt động ngoại khóa tùy vào năng lực của họcsinh mà giáo viên giao cho các em nhiệm vụ phù hợp để tất cả mọi học sinh đều cóthể tham gia một cách tích cực
3 Bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong quá trình học tập bộ môn, với những học sinh có trình độ kiến thức, kỹnăng và tư duy vượt trội lên trên các học sinh khác, có khả năng hoàn thành nhiệm
vụ môn học một cách dễ dàng, đó là những học sinh giỏi bộ môn đó Việc bồidưỡng học sinh này đều tiến hành trong giờ học đồng loạt bằng những biện phápphân hóa, mặt khác được thực hiện bằng cách bồi dưỡng tách riêng diện này trênnguyên tắc tự nguyện
Nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi gồm có:
Trang 28- Nghe thuyết trình những tri thức bổ sung hệ thống lý thuyết dưới dạngnâng cao.
- Giải những bài tập nâng cao
- Học chuyên đề bổ sung kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết
- Thực hành ứng dụng môn học
- Làm nòng cốt cho những hoạt động ngoại khóa bộ môn
4 Giúp đỡ học sinh yếu kém
Đứng trước yêu cầu dạy học đồng loạt ở một bộ môn, một số học sinh gặpkhó khăn, kết quả kiểm tra thường xuyên dưới trung bình, đó là những học sinh yếukém bộ môn đó, nhưng nhìn chung lại thì có ba điểm cơ bản:
- Nhiều lỗ hổng về kiến thức và kỹ năng
- Tiếp thu chậm
- Phương pháp học tập bộ môn chưa tốt
Tương tự như việc bồi dưỡng học sinh giỏi, việc giúp đỡ học sinh yếu kémđược tiến hành bên cạnh những giờ học đồng loạt, bằng các biện pháp phân hóa, làcần tách riêng học sinh này để giúp đỡ Nội dung giúp đỡ học sinh yếu kém cầntheo hướng sau:
- Luyện tập vừa sức học sinh yếu kém, gia tăng số lượng cùng thể loại vàmức độ, sử dụng bài tập phân bậc mịn
- Lấp lỗ hổng về kiến thức và kỹ năng
- Đảm bảo những tiền đề về kiến thức, kỹ năng cho những tiết lên lớp
- Bồi dưỡng phương pháp học tập bộ môn
5 Phân hóa trong những hoạt động giáo dục khác
Trong khi tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh cần phải quán triệt quanđiểm phân hóa Nếu trong nhà trường có tập thể học sinh có khăn năng tốt về nhiềulĩnh vực, cần tạo điều kiện để các em thể hiện và phát huy những khả năng tiềmtàng của mình, những hướng cần tập trung là:
- Tổ chức nhiều hoạt động giáo dục đa dạng trong nhà trường
- Học sinh là chủ thể của hoạt động đó, nhà trường là người định hướng tạođiều kiện
Trang 29Mục đích cuối cùng của dạy học là tạo ra những thế hệ con người phát triểntoàn diện cho nên khi giảng dạy môn hóa học thì không nằm ngoài mục đích đó,người thầy giáo luôn tìm cách nào đó để cho học sinh của mình tiếp thu kiến thứcmột cách tốt nhất đó chính là phương pháp giảng dạy.
1.4.4 Các hình thức dạy học phân hóa
a Phân hóa theo hứng thú
- Căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của học sinh để tổ chức cho học sinhtìm hiểu khám phá nhận thức
- Biện pháp: Phân nhóm theo trình độ hứng thú mạnh, trung bình, thấp vàdựa vào cường độ này mà giáo viên có thể giao các nhiệm vụ cho nhóm Nhóm cócường độ mạnh thì có nhiệm vụ tìm tòi và độc lập sáng tạo, nhóm có cường độ thấpthì có nhiệm vụ làm theo mẫu
b Phân hóa theo sự nhận thức
Lấy sự phân biệt nhịp độ lĩnh hội làm căn cứ phân hóa Nhịp độ được tínhbằng lượng thời gian chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, từ nhiệm vụnày sang nhiệm vụ khác Lớp học có rất nhiều nhịp độ, nhưng chỉ có thể phân hóatheo một số nhóm điển hình Chẳng hạn, nhóm có nhịp độ nhận thức nhanh, nhóm
có nhịp độ nhận thức trung bình, nhóm có nhịp độ nhận thức chậm Tương ứngvới từng nhóm lại có các nhiệm vụ nhận thức, các phương pháp, các biện phápkhác nhau
c Phân hóa giờ học theo sức học
Căn cứ vào trình độ học lực có thực của học sinh để tổ chức những tác động
sư phạm phù hợp với học sinh tích cực học tập Dựa trên các trình độ khá, trungbình, yếu mà giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ tương ứng
d Phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của học sinh
Để chọn các động tác dạy học giúp học sinh thấy lợi ích của việc học mà chủđộng tích cực học tập Với học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác địnhnhiệm vụ học tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh
tự học Với nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hóa dạy họcphải chú ý đến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung những vấn đề thực tế giúp họcsinh hào hứng học tập
Trang 301.4.5 Thực trạng dạy học môn hóa học ở trường THPT
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết phục vụ sự nghiệp đổi mới GD & ĐT, từ năm
1994, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã tổ chức xây dựng chương trình “đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học”
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 8(diễn ra từ ngày 14/11 đến ngày 09/12/2000) đã thông qua nghị quyết về đổi mớichương trình giáo dục phổ thông Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dụcphổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáokhoa phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đápứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ phổ thôngcác nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Việc đổi mới chương trình phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu nộidung, phương pháp giáo dục, khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trìnhsách giáo khoa hiện nay; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tựhọc, tự bổ sung kiến thức; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đạiphù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh
Để thực hiện việc đổi mới chương trình, phương pháp dạy học của giáo viên
và phương pháp học của học sinh cũng đã thay đổi cho phù hợp với tình hình mới
Tình hình dạy và học môn hóa học hiện nay có một số đặc điểm như sau:
Về phương pháp, đa số giáo viên đều đã sử dụng nhiều phương tiện dạy học,biết cách lồng ghép ứng dụng công nghệ thông tin với thí nghiệm biểu diễn, sửdụng mô hình trực quan, … kết hợp các hình thức dạy học vấn đáp, nêu vấn đề, đàmthoại… học sinh được tham gia các hoạt động nhóm, qua đó phát huy năng lực hoạtđộng cá nhân và hoạt động tập thể
Nhiều giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạtđộng cho học sinh, qua đó rèn luyện cho học sinh hoạt động một cách tự giác, tíchcực và tự lực Đa số giáo viên đã được trang bị vốn kiến thức đầy đủ để hoàn thànhtốt trọng trách của mình ở nhiều trường trung học phổ thông đã phát triển mạnh mẽphong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, khuyến khích đăng ký giờ giáo viên dạy giỏi
và thực tế đã đạt được một số kết quả khả quan, chất lượng dạy học được nâng lên
Trang 31Thực tế những năm vừa qua cho thấy, bộ môn hóa học ở trường phổ thông đãđược chú trọng nhiều hơn về phương pháp dạy, phương pháp học và cả về cáchkiểm tra - đánh giá Hầu hết học sinh đều quen thuộc với phương pháp kiểm tra trắcnghiệm – hình thức kiểm tra đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức kết hợp với
kỹ năng tính toán nhanh nhạy, chính xác
Thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, học sinh còn được tự mình tiếnhành các thí nghiệm nhiều hơn, làm quen với các nghiên cứu khoa học
Tuy nhiên, tình hình dạy và học môn hóa học ở trường phổ thông vẫn còn một số tồn tại như sau:
Nhiều học sinh học tập trong tình trạng thụ động, chưa xây dựng được ý thức
tự học Giáo viên dành ít thời gian cho học sinh hoạt động trong tiết học Nhiều giáoviên cho rằng học sinh không có thời gian hoạt động, có thói quen thụ động, lườisuy nghĩ, hoặc trong trường hợp có tổ chức hoạt động thì đó là hình thức sử dụngkhông thường xuyên, giáo viên chỉ dùng khi có dự giờ, thao giảng hay thanh tra
Học sinh nghe, nhìn một cách thụ động để thu nhận thông tin do giáo viêntruyền thụ, ghi chép những điều giáo viên đọc hay ghi lên bảng Nhiều trường hợphoạt động của học sinh chỉ là trả lời câu hỏi kiểm tra miệng đầu tiết học, nhắc lạinhững kết luận, những công thức chính của bài học
Nhiều giáo viên không dùng thường xuyên các hình thức như trả lời nhữngcâu hỏi mở, dẫn dắt đơn giản để vào bài, để chuyển ý, … hay đọc một đoạn ở sáchgiáo khoa để tìm hiểu cách lập luận, giải thích, chứng minh một vấn đề sau đó nhắclại, đọc các số liệu thu được từ quan sát thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Một số hình thức có tác dụng rất tốt nhưng hiện học sinh ít dùng hoặckhông dùng:
- Đề xuất câu hỏi và vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất phương pháp, phương hướng giải quyết vấn đề
- Xử lý các số liệu từ quan sát thí nghiệm tự tiến hành, tự rút ra kết luận
- Tự khái quát để hình thành khái niệm
- Tranh luận với các bạn cùng lớp về kết luận thu được
- Tự đánh giá công việc của mình
Nguyên nhân khách quan và chủ quan những mặt còn hạn chế cần khắc phục:
Trang 32Phương pháp giảng dạy của giáo viên và phương pháp học tập của học sinhchưa phù hợp với phương pháp nhận thức khoa học bộ môn, đa số giáo viên đềuchưa thường xuyên sử dụng thí nghiệm biểu biễn, hoặc có sử dụng thì chưa khaithác hết ý nghĩa của thí nghiệm.
Về nguyên nhân, một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học như sau:
- Đời sống giáo viên còn khó khăn
- Việc tổ chức hoạt động cho học sinh trong giờ học đòi hỏi giáo viên phảitốn nhiều thời gian, công sức, trong khi việc dạy theo lối truyền thống: giáo viênthông báo, minh họa, giảng giải thì nhàn hơn mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của các
kỳ thi hiện nay
- Chương trình học chưa hợp lý, còn nặng về lý thuyết, số lượng học sinhvào phòng thí nghiệm một trong buổi thực hành quá đông nên kết quả bị hạn chế
- Điều kiện trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn thiếu thốn, nhiềutrường chưa có phòng bộ môn, các dụng cụ thí nghiệm, hóa chất không đảm bảochất lượng cho quá trình dạy học hiện nay
- Về phía học sinh, nhiều em chưa có ý thức học tập, học qua loa đại khái,chưa có kỹ năng cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ học tập, chưa biết phân bốthời gian cho các môn học một cách hợp lý, chưa biết cách sắp xếp kế hoạch họctập, nhất là việc tham gia học thêm tràn lan, nhiều học sinh không còn thời gian đểhọc bài và làm bài ở nhà, nên học quan loa, hời hợt
Một số phương hướng và biện pháp khắc phục:
Theo chủ trương của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, việc đổi mới chương trình vàsách giáo khoa để đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng; phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học; rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Muốn phát huy tính tích cực và bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinhthì giáo viên phải sử dụng phương pháp dạy học tích cực
Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là:
- Dạy học thông qua các hoạt động cho học sinh
- Chú trọng rèn phương pháp tự học
Trang 33- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp việc đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Bản chất của phương pháp dạy học tích cực là khai thác động lực học tập
trong bản thân người học để phát triển chính họ Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cánhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội
Điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực là:
- Trình độ, kinh nghiệm của giáo viên
- Phương pháp học phù hợp của học sinh
- Đổi mới chương trình và sách giáo khoa
- Bổ sung phương tiện, thiết bị dạy học
- Thay đổi cách thi cử, cách đánh giá học sinh và giáo viên
Trước đây, ở trên lớp giáo viên hoạt động là chính nhưng hiện nay học sinhhoạt động là chính Trước đây giáo viên thuyết trình, độc thoại, diễn giảng để họcsinh thụ động thu nhận kiến thức; còn hiện nay giáo viên phải tổ chức hoạt động,hướng dẫn học sinh phát hiện kiến thức
Như vậy, để đảm bảo việc đổi mới chương trình phổ thông nói chung và đểphát triển năng lực tự học của học sinh nói riêng, cần phải tiến hành một số biệnpháp sau:
- Nâng cao tiềm lực về hóa học cho giáo viên, trong đó có kiến thức, kỹ năngthí nghiệm, kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, trong đó có kỹ thuậtdạy học, đặc biệt là năng lực sử dụng các phương pháp dạy học mới, giáo viên phảibiết xác định yêu cầu trọng tâm của từng giờ học, biết phân phối thời gian hợp lý
- Tăng cường trang bị dụng cụ, hóa chất, máy móc và thiết bị dạy học phùhợp với chương trình hiện nay cho các trường phổ thông
- Có chính sách thỏa đáng đối với giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy giỏi,giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
- Tiến hành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóangười học, trước mắt cần hoàn thiện các phương pháp dạy học hiện có, đa dạnghóa phù hợp với các cấp học, các loại hình trường, sáng tạo ra những phươngpháp dạy học mới
Trang 34Thực tế cho thấy, tình trạng học tập thụ động của học sinh không chỉ đơnthuần là do phương pháp dạy học của giáo viên mà còn do tác động từ nhiều yếu tốbên trong và bên ngoài nhà trường Cần có những biện pháp đồng bộ nhằm khuyếnkhích những học sinh học tốt, những giáo viên dạy giỏi.
1.4.6 Sự phân hóa học sinh
Dạy học là một quá trình tổng hợp phức tạp đòi hỏi người giáo viên vừa phảiđáp ứng được mặt bằng chung (tính đồng loạt) của lớp vừa tạo điều kiện để mọi họcsinh phát triển theo khả năng của bản thân (tính phân hóa) vì vậy người giáo viêncần phân loại học sinh theo khả năng nhận thức của các em Cơ sở để phân loại họcsinh là dựa vào năng lực của các em thông qua việc kiểm tra - đánh giá, thông quaquan sát của giáo viên đối với mỗi học sinh Phân loại ở đây không có nghĩa là táchbiệt mà có thể là ngược lại, làm cho các em hòa nhập với nhau hơn trong quá trìnhhọc tập Giáo viên có thể lợi dụng quy luật lây lan về tâm lý để có thể lấy học sinhgiỏi làm động lực, làm gương cho học sinh học yếu hoặc là lấy học sinh giỏi để giúp
đỡ em yếu hơn “học thầy không tày học bạn” Trên cơ sở phân loại học sinh giáoviên sẽ xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp, dành sự quan tâm nhiều hơn cho nhómhọc sinh yếu kém và trung bình để đưa các em đạt trình độ chung, số lượng bài tậpnhiều hơn, mức độ yêu cầu vừa phải Đối với học sinh khá giỏi cần có kế hoạch bồidưỡng, bài tập phải yêu cầu cao hơn Như vậy có thể chia học sinh thành ba nhómtheo khả năng nhận thức như sau:
- Nhóm học sinh khá - giỏi
- Nhóm học sinh trung bình
- Nhóm học sinh yếu – kém
Cần lưu ý là sự chia nhóm này không nên cho học sinh phân biệt vì như thế
dễ gây ra tình trạng mặc cảm cho các em học sinh thuộc diện học tập yếu, kém
1.4.7 Nhiệm vụ của GV và HS trong dạy học phân hóa
Có thể nói dạy học phân hóa là phương pháp dạy học tổng hợp, có thể kếthợp được với nhiều phương pháp dạy học khác như dạy học dự án, dạy học theonhóm nhỏ, … Chính vì vậy mà trong quá trình thực hiện giáo viên cần đặt ra nhiệm
vụ rõ ràng cho học sinh và chính bản thân giáo viên
- Nhiệm vụ của giáo viên:
Trang 35Thường xuyên tiếp xúc với học sinh để nắm bắt tình hình của từng học sinhmột, kiểm tra - đánh giá năng lực của các em để thấy được mức độ tiến bộ.
Lập kế hoạch dạy học phù hợp
Xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh
- Nhiệm vụ của học sinh:
Thực hiện tốt nhiệm vụ mà thấy giáo giao cho, hợp tác với thầy giáo để hoànthành tốt nhiệm vụ
Phải biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, học sinh học giỏi có nhiệm vụ giúp đỡhọc sinh yếu kém, học sinh yếu kém phải có tinh thần học hỏi bạn bè, không tự ti,tách rời khỏi nhóm học tập
Học sinh trưởng nhóm phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trongnhóm có ý kiến đóng góp, phản hồi tới giáo viên có thể cùng với giáo viên xây dựng
kế hoạch học tập
Trang 36Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày các vấn đề sau:
- Quá trình dạy học gắn liền với mục tiêu dạy học, những nhu cầu, xu hướngđổi mới PPDH hóa học ở trường THPT hiện nay là phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động sáng tạo của HS
- Các mức độ nhận thức: Phân loại các mức độ nhận thức, vận dụng lý thuyết
về các mức độ nhận thức trong việc sử dụng hệ thống bài tập hóa học là phươngpháp học tập tích cực, hiệu quả
- Bài tập hóa học, tầm quan trọng của bài tập hóa học đến việc phát triển tưduy của HS, những yêu cầu lý luận dạy học cơ bản đối với bài tập
- Một số vấn đề lý luận về dạy học phân hóa, tác dụng của bài tập phân hóatrong quá trình dạy học như: giờ học chính khoá, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HSyếu kém,…
- HTBT là phương tiện để phát triển tư duy cho HS Thông qua HTBT, HS
có thể tạo cho mình tác phong làm việc sáng tạo, tạo một phương pháp tự học riêngđối với mỗi HS để phát huy tối đa các phẩm chất và năng lực Tuy nhiên muốn pháthuy được hết các tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học, mỗi GV khôngnhững cần thường xuyên học tập, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyênmôn mà còn cần tìm tòi, cập nhật những PPDH mới phù hợp với xu thế phát triểntrên thế giới, hoà nhịp với sự phát triển của xã hội
Trang 37Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC CÁC CHƯƠNG “NHÓM NITƠ”
VÀ “NHÓM CACBON” HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
2.1 Sử dụng hệ thống bài tập trong việc nâng cao chất lượng dạy và học
Việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập nhằm giúp học sinh nắm chắckiến thức hóa học, vận dụng linh hoạt các kiến thức vào tình huống thực tế, rènluyện kỹ năng, phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động nhận thức, từ
đó hình thành nên nhân cách của người lao động trong thời đại mới Trong giảngdạy, giáo viên phải đưa học sinh vào vai trò chủ thể, sử dụng phương pháp nêu vấn
đề để gây hứng thú nhận thức, thúc đẩy quá trình tìm tòi sáng tạo, tự lực giải quyếtnhiệm vụ đặt ra cho các em Do đó, giáo viên cần tiếp tục bổ sung, mở rộng và hoànchỉnh hệ thống bài tập để nâng dần mức độ nhận thức cho học sinh như sau:
1 Đi dần từ bài tập cơ bản nâng lên thành bài tập phân hóa: có thể ghépnhiều bài tập cơ bản thành bài nâng cao hoặc nâng dần độ khó Khi hướng dẫn họcsinh giải bài tập sau cần tìm mối liên hệ với bài tập trước để thấy được cách thứctháo gỡ các vấn đề, biết chuyển từ dạng bài đơn giản sang dạng bài phức tạp, biếtkết nối các lý thuyết đã học cũng như phương pháp giải bài tập
2 Từ hệ thống bài tập bảo đảm kiến thức cơ bản, giáo viên biến đổi để đượcnhững bài tập tương đương cho học sinh giải Từ bài tập đã giải, thay đổi, thêm, bớtcác dữ kiện thành bài tập mới Dần dần khuyến khích, yêu cầu học sinh tự biến đổithành bài tập mới Như vậy, học sinh vừa được làm quen với phương pháp giải bàitập, vừa biết được phương pháp đó áp dụng trong những tình huống nào
3 Thường xuyên cho học sinh biết sử dụng đúng ngôn từ trong bài tập đểxác định chính xác chất tham gia, chất tạo thành tuỳ thuộc điều kiện phản ứng, thờigian phản ứng,… Luôn chú ý giúp học sinh rút ra được những nhận xét có tính quyluật trong từng tình huống để vận dụng vào giải bài tập một cách linh hoạt: Ví dụ,
hệ số tỉ lượng các chất tham gia, điều kiện bảo toàn khối lượng các chất phản ứng…
để tìm ra “mấu chốt” của bài toán
4 Chọn những bài tập có tình huống học sinh thường mắc sai lầm để củng cốkhắc sâu kiến thức Thường xuyên gắn liền hóa học với thực tế, phát huy vai trò tíchcực, chủ động của học sinh, hướng học sinh nhìn nhận các sự vật, hiện tượng hóa họcsát đúng với thực tế, thường xuyên liên hệ với đời sống, sản xuất và vận dụng vào
Trang 38thực tế Từ đó, giúp các em hiểu sâu sắc quá trình hóa học và giải quyết được bài tập
dễ dàng và chính xác hơn, tránh được những sai lầm đáng tiếc
5 Giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh có thể giải bài tập một cách tốtnhất trong thời gian nhanh nhất Thường tiến hành giải theo quy trình 4 bước:
- Nghiên cứu đề bài: tìm hiểu nội dung bài tập, xác định điểm “mấu chốt” và
đưa ra grap định hướng
- Xác định hướng giải: đề ra các bước giải.
- Thực hiện các bước giải: trình bày các bước giải hoặc tính toán cụ thể.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả: bao gồm kết quả bài tập và cả cách giải.
Tôn trọng các cách giải của học sinh Yêu cầu các em tìm được nhiều cáchgiải khác nhau và cách tốt nhất trong các cách đó Rèn luyện được ý thức thườngxuyên chọn lựa cách giải tốt nhất cũng chính là giúp học sinh biết kiểm tra, đánh giákết quả bài làm của mình cũng như của người khác
6 Cần kết hợp bài tập tự luận với bài tập trắc nghiệm khách quan Bài tập tựluận đòi hỏi học sinh tư duy logic, chặt chẽ, tính cẩn thận, kiên trì chịu khó Bài tậptrắc nghiệm khách quan lại rèn cho học sinh khả năng tái hiện, óc liên tưởng, phântích, tính định hướng và cách giải quyết vấn đề nhanh nhạy Theo chúng tôi, nêngắn bài tập trắc nghiệm khách quan với bài tập tự luận trong các bài toán khi họcsinh đã nắm vững các phương pháp giải cơ bản
Trang 39Đối với học sinh yếu kém: Bài tập ở mức độ biết và áp dụng, có độ phân bậcmịn, có độ lặp lại cao nhằm mục đích luyện tập nhiều lần khiến cho học sinh thànhthạo và cảm thấy tự tin Học sinh tự tin thì hứng thú, hứng thú khi học thì sẽ tạo chocác em niềm tin, sự say mê trong học tập dẫn đến đạt hiệu quả Đồng thời thông quacách trả lời của học sinh giáo viên có thể biết được các em đang hổng kiến thức nào
để kịp thời bù đắp Sau đó giáo viên ra thêm những bài tập nhằm mục đích luyệntập lại
Đối với học sinh trung bình: Mức độ yêu cầu là biết và vận dụng.Thông qua
hệ thống bài tập giáo viên phát hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được màmôn học đề ra đối với HS, qua đó tìm ra những khó khăn và trở ngại trong quá trìnhhọc tập của HS Xác định được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạycũng như người học để đề ra phương án giải quyết
Đối với học sinh khá giỏi: Bài tập với mức độ vận dụng và vận dụng sángtạo Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng, xử lý các khái niệmcủa chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống
đã gặp trên lớp Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyếtmột vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trướcđây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độtương đương Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặpngoài môi trường lớp học
2.2.2 Cơ sở để xây dựng bài tập theo các mức độ nhận thức
Bài tập theo các mức độ nhận thức là loại bài tập vừa sức với mọi đối tượnghọc sinh, như vậy để xây dựng được một hệ thống bài tập theo các mức độ nhậnthức giáo viên cần căn cứ những cơ sở sau đây:
- Dựa trên tính chất và yêu cầu của từng loại bài tập
Loại bài tập định tính giúp học sinh củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹnăng biện luận, lí giải, phát triển tư duy
Loại bài tập định lượng giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tính toán, phát triển
tư duy logic…
- Dựa vào năng lực nhận thức của học sinh
Độ khó của các bài tập dựa vào trình độ nhận thức của từng học sinh, làm thếnào để khi ra bài tập các em có thể giải quyết được
Trang 402.2.3 Tác dụng của bài tập theo các mức độ nhận thức
2.2.3.1 Tác dụng của bài tập
Bài tập được xếp trong hệ thống giảng dạy, ví dụ phương pháp luyện tậpđược gọi là phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy mônhọc Mặt khác giải bài tập là một phương pháp học tập tích cực Một học sinh cókinh nghiệm là sau khi học xong, chưa vừa lòng với hiểu biết của mình và chỉ yêntâm sau khi đã tự mình giải được bài tập, vận dụng các kiến thức đã học để giảiđược các bài tập
Bài tập hóa học có tác dụng phát triển trí dục và đức dục của các em học sinh
1 Tác dụng trí dục
- Làm cho học sinh hiểu hơn các khái niệm đã học
- Mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng nềkhối lượng kiến thức của học sinh
- Củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiến thức
đã học
- Thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện kỹ năng kỹ xảo cần thiết về hóa học
- Tạo điều kiện để tư duy phát triển Khi giải một bài tập học sinh bắt buộcphải suy lý hoặc quy nạp hoặc diễn dịch hoặc loại suy
2 Tác dụng đức dục
Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục tư tưởng cho học sinh vì giải bài tập làrèn luyện cho học sinh tính kiên nhẫn, tính trung thực trong lao động học tập, tínhsáng tạo khi xử lí các vấn đề xảy ra Mặt khác rèn cho học sinh tính chính xác củakhoa học và nâng cao lòng yêu thích bộ môn
2.2.3.2 Tác dụng của bài tập theo các mức độ nhận thức
Bài tập đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức củahọc sinh, nó không chỉ là thước đo khả năng nhận thức, củng cố kiến thức của họcsinh mà còn là phương tiện để rèn cho học sinh các kỹ năng khác nhau Tuy nhiên
để phát huy tác dụng của bài tập thì chúng ta phải biết sử dụng bài tập như thế nàocho phù hợp với từng đối tượng học sinh, nếu bài tập quá khó hoặc quá dễ sẽ trởnên phản tác dụng của bài tập, làm cho học sinh mất hứng thú học tập, để tránh tìnhtrạng này chúng ta nên sử dụng bài tập theo các mức độ nhận thức vào trong quá