Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
LÊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN
HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Luận án tiến sĩ kinh tế
Hà Nội, Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
LÊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN
HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01 Luận án tiến sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS,TS Lê Thị Kim Nhung
2 TS Nguyễn Thế Hùng
Hà Nội, Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Nghiên cứu sinh xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trongluận án, các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê có nguồn trích dẫn đầy đủ và trungthực Các kết luận nghiên cứu sinh đưa ra trong Luận án chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Lê Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, cho phép nghiên cứu sinh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS,TS LêThị Kim Nhung và TS Nguyễn Thế Hùng, là những giáo viên hướng dẫn khoa học đãluôn hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ để nghiên cứu sinh có thể hoàn thành bản luận án này
Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn các chuyên gia trong lĩnh vực thực phẩmthuộc trường Đại học Công nghiệp, trường Đại học Kinh tế Kĩ thuật Công nghiệp vàĐại học Bách Khoa đã nhiệt tình cung cấp thông tin, tài liệu quý báu, có giá trị thựctiễn về ngành thực phẩm Nghiên cứu sinh chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trườngĐại học Thương Mại, Khoa Sau đại học, các đồng nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
và Bộ môn Tài chính công đã tạo mọi điều kiện tốt nhất trong qúa trình nghiên cứu sinhthực hiện luận án
Cuối cùng, nghiên cứu sinh xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên, hỗ trợ, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoànthành luận án này
Nghiên cứu sinh
Lê Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 8
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1.Các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 8
1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 10
1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến ngành thực phẩm và các doanh nghiệp ngành thực phẩm 13
1.1.4.Khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 14
1.2 Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 15
1.2.1.Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 15
1.2.2.Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 17
1.2.3.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 18
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 25
1.3.1.Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp 25
1.3.2.Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 29
Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 34
2.1 Mô hình nghiên cứu 35
2.1.1.Giả thuyết nghiên cứu 35 2.1.2.Xây dựng mô hình nghiên cứu 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu 49
2.3 Dữ liệu nghiên cứu 55
2.3.1.Thu thập dữ liệu 55 2.3.2.Xử lý dữ liệu 56 Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 58
3.1 Thực trạng ngành thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019 58
3.1.1.Doanh nghiệp thực phẩm ở Việt Nam 58
3.1.2 Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2014 - 2019 59
3.1.3 Những đóng góp của các doanh nghiệp ngành thực phẩm vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014 - 2019 64
Trang 63.1.4 Đánh giá chung về thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm giai đoạn 2014 – 2019 67
3.2.Thực trạng hiệu quả kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu 71
3.2.1.Đánh giá hiệu quả kinh doanh dựa vào số liệu kế toán 71
3.2.2.Đánh giá hiệu quả kinh doanh dựa trên giá trị thị trường 74
3.2.3.Thực trạng các yếu tố môi trường bên ngoài và yếu tố bên trong của các doanh nghiệp 76
Chương 4:Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2014
- 2019 89
4.1 Kết quả kiểm định t-test 89
4.2.Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm tại Việt Nam trong mô hình tĩnh 89
4.2.1.Phân tích tương quan 89
4.2.2.Kiểm định đa cộng tuyến 90
4.2.3 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khi hiệu quả kinh doanh được
đo lường bằng hệ số lợi nhuận trên VCSH 90
4.2.4 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khi hiệu quả kinh doanh được
đo lường bằng hệ số lợi nhuận trên vốn đầu tư 92
4.2.5 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khi hiệu quả kinh doanh được
đo lường bằng hệ số lợi nhuận doanh thu 98
4.2.6 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khi hiệu quả kinh doanh được
đo lường bằng tỷ suất Tobin’s Q 104
4.3.Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thực phẩm tại Việt Nam trong mô hình động 111
4.3.1.Phân tích tương quan 111
4.3.2.Kiểm tra đa cộng tuyến 111
4.3.3.Kết quả phân tích hồi quy GMM hệ thống cho toàn bộ mẫu 111
4.3.4.Kết quả phân tích hồi quy GMM hệ thống cho hai nhóm DN 114
4.4 Kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm 116
4.4.1 Kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm đối với toàn bộ mẫu 116
4.4.2 Kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 22000 118
Trang 74.4.3 Kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp không có giấy chứng nhận ISO 22000 119 Chương 5: Triển vọng phát triển của ngành thực phẩm ở Việt Nam và hàm ý, khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm 122
5.1 Triển vọng phát triển của ngành thực phẩm 122
5.2.1.Khuyến nghị đối với doanh nghiệp 137
5.2.2.Hàm ý chính sách đối với Nhà nước 158
Trang 8EBIT Earning before interest and tax Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
capital
Chi phí sử dụng vốn bình quân
lĩnh thị trường
Moments
Hồi quy GMM
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Vòng quay tài sản ngắn hạn, vòng quay tài sản dài hạn và
vòng quay tổng tài sản trung bình của ngành thực phẩm
Bảng 3.2 Sự thay đổi chỉ số giá nguyên vật liệu và hiệu quả sử dụng tài
sản giai đoạn 2014 – 2019Bảng 3.3 Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2014 -
2019Bảng 3.4 Quy mô vốn kinh doanh của ngành thực phẩm
Bảng 3.5 Tỷ trọng lao động và thu nhập ngành thực phẩm so với toàn
quốcBảng 3.6: Số liệu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của ngành thực phẩm
Bảng 3.9 Hệ số LN trên tổng tài sản trung bình của ngành thực phẩm
Bảng 3.10 Các chỉ số tài chính được tính theo trọng số
Bảng 3.13 Thống kê số DN có ROS lớn hơn ROS trung bình ngành
Bảng 3.14 Các chỉ số tài chính tính theo giá trị thị trường
Bảng 3.15 Thống kê số DN có Tobin’s Q lớn hơn 1
Bảng 3.16 Tỷ trọng chợ và siêu thị của một số thành phố so với toàn
quốcBảng 3.17 Thu nhập bình quân đầu người một tháng
Bảng 3.18 Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2014 -
2019Bảng 3.19 Lãi suất trung bình giai đoạn 2014 - 2019
Bảng 3.20 Chỉ số giá cước vận tải, kho bãi giai đoạn 2014 - 2019
Bảng 3.21 Chỉ số đo lường sức mạnh tài chính
Bảng 3.22 Tỷ trọng nợ ngắn hạn trung bình
Bảng 3.26 Lao động đã qua đào tạo của ngành chế biến chế tạo
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy phân vị cho DN đạt tiêu chuẩn ISO 22000
Trang 10Bảng 4.7 Kết quả hồi quy phân vị cho DN không có chứng nhận ISO
22000Bảng 4.8 Kết quả phân rã chi tiết Oxaca – Blinder
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững ClusterBảng 4.10 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững
Bảng 4.14 Kết quả phân rã chi tiết Oxaca – Blinder
Bảng 4.15 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững ClusterBảng 4.16 Kết quả hồi quy theo ước lượng sai số chuẩn vững
Bảng 4.20 Kết quả phân rã chi tiết Oxaca – Blinder
Bảng 4.21 Kết quả ước lượng theo GMM hệ thống
Bảng 4.22 Kết quả ước lượng theo GMM hệ thống
Bảng 4.23 Kết quả ước lượng theo GMM hệ thống
Bảng 4.24 Kết quả ước lượng theo GMM hệ thống
Bảng 5.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2020
Bảng 5.2 Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm
2020Bảng 5.4 Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm
2020
Trang 11DANH MỤC BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ,
Sơ đồ 2.1 Mô hình các yếu tố tác động đến HQKD của DN
Biểu đồ 3.1 Chỉ số giá sản xuất giai đoạn 2014 – 2019
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu DN theo số lượng nhân viên trong ngành thực phẩmBiểu đồ 3.3 Tỷ trọng DN thực phẩm có quy mô vốn từ 1 - 5 tỷ và từ 5 - 10 tỷBiểu đồ 3.4 Kết quả kinh doanh của DN ngành thực phẩm giai đoạn 2014 –
2019Biểu đồ 3.5 Tỷ suất LN trên vốn cố định giai đoạn 2014 – 2019
Biểu đồ 3.6 Tốc độ tăng trưởng doanh thu của DN ngành thực phẩm
Biểu đồ 3.7 Vòng quay tổng tài sản và tỷ suất LN doanh thu của các DNBiểu đồ 3.8 Tốc độ tăng vốn sản xuất kinh doanh của DN ngành thực phẩmBiểu đồ 3.9 Tăng trưởng GDP và CPI của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019Biểu đồ 3.10 Thu nhập và mức sống người Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019Biểu đồ 3.11 Khả năng sản xuất, xuất - nhập khẩu của ngành thực phẩm
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của luận án
Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh(HQKD) của doanh nghiệp (DN) luôn thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế Đểhoàn thành mục tiêu nghiên cứu này, có hai nhiệm vụ được các nhà khoa học đặt lênhàng đầu: thứ nhất là xác định đúng các chỉ tiêu để đánh giá HQKD, thứ hai là lựa chọncác yếu tố ảnh hưởng phù hợp Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có sựthống nhất về vấn đề này Liên quan đến công tác đánh giá HQKD của DN, đây chính
là cơ sở để xác định sự cần thiết của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới HQKD.Trong thực tế, một yếu tố không thể phản ánh mọi khía cạnh của HQKD của công ty
Do đó, việc sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu cho phép các nhà kinh tế học đánh giátốt hơn về khả năng phát triển của DN Tuy nhiên, công việc này không hề dễ dàng, bởi
vì mỗi ngành nghề có những đặc trưng riêng, dẫn tới sự khác biệt trong tiêu chuẩn đánhgiá HQKD Chính vì vậy, việc lựa chọn hệ thống các thước đo, tiêu chí phù hợp với đốitượng đo lường là một vấn đề quan trọng, cần được tiếp tục nghiên cứu Bên cạnh đó,việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến HQKD của DN cũng đang trở nên vô cùng cấpthiết trong giai đoạn hiện nay, khi mà các công ty phải đối diện với sự cạnh tranh gaygắt từ phía các đối thủ trong ngành và yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùngsản phẩm, dịch vụ Tuy nhiên, sự biến động kinh tế và những đặc trưng ngành nghề làrào cản khiến cho việc tìm ra và đánh giá mức ảnh hưởng của các yếu tố đến HQKD trởnên khó khăn hơn Nghiên cứu về vấn đề này, các nhà kinh tế học Hawawini,Subramanian và Verdin (2003) cho rằng các yếu tố bên ngoài đóng vai trò quan trọnghơn trong việc xác định ảnh hưởng của HQKD của công ty Mặt khác, các nghiên cứukhác (Opler và Titman, 1994) cho thấy các yếu tố cụ thể bên trong của công ty dườngnhư là yếu tố chính quyết định hiệu quả hoạt động và là động lực chính cho việc tạo lợithế cạnh tranh, điều này có vai trò quan trọng giúp DN tồn tại khi xảy ra suy thoái kinh
tế Tóm lại, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện, nhưng cho đến thời điểm hiện tại,vẫn chưa có sự thống nhất về các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của DN (Rumelt,1991), chính vì vậy, việc xây dựng các mô hình để xác định chính xác hơn mức độ ảnhhưởng của các yếu tố tới HQKD của các DN vẫn là một vấn đề cấp thiết trong giaiđoạn hiện nay
Ở Việt Nam, ngành thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chungcủa quốc gia, tuy nhiên, do những vấn đề khách quan và chủ quan, HQKD của các DNthực phẩm lại chưa tương xứng với tiềm năng của ngành, vì vậy, việc nghiên cứu sựảnh hưởng của các yếu tố đến HQKD là cần thiết, tạo cơ sở để đề xuất các giải pháphữu ích cho DN Trên thực tế, việc phát triển lĩnh vực thương mại thực phẩm ở ViệtNam có
Trang 13nhiều thuận lợi Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp Đây chính là tiền đềquan trọng, giúp cho các DN có cơ hội tìm kiếm nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vàovới chi phí hợp lý Thứ hai, khi mức thu nhập bình quân đầu người theo tháng đã tăng1.6 lần (từ 2,637,000 đồng lên 4,295,000 đồng) trong giai đoạn 2014 - 2019, khiến chonhu cầu của người dân về việc cải thiện chất lượng dinh dưỡng cũng thay đổi Thứ ba,dân số Việt Nam là dân số trẻ với tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên luôn nằm quanhmức 57%, điều này tạo nên thị trường lao động và tiêu thụ ngày càng rộng lớn Thư tư,hoạt động thương mại tự do được tạo điều kiện phát triển, và ngành du lịch ngày càng
mở rộng đã dẫn đến tổng mức chi tiêu của người dân trong nước cũng như nước ngoàivào thực phẩm tăng mạnh Chính nhờ những thuận lợi này nên ngành thực phẩm đóngvai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế ở Việt Nam Ngoài nhiệm vụ cung ứngthực phẩm để duy trì năng lượng cho con người, nó còn là một trong những ngành nghềtạo nên lượng việc làm lớn (số lượng lao động trong ngành luôn chiếm khoảng 4% sovới lao động toàn quốc), mức đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội khá cao (khoảng15%) và góp phần giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội (Tổng thu nhập của ngườilao động trong lĩnh vực thực phẩm luôn chiếm khoảng 3.9% tổng thu nhập lao độngtrong cả nước) Những kết quả trên đều có sự đóng góp rất lớn từ các DN thực phẩmniêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK), bởi đó là những công ty sản xuất, phânphối thực phẩm lớn nhất toàn quốc Tuy nhiên, thực tế cho thấy HQKD của các DNtrong ngành chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của nó Tỷ suất lợi nhuận của tổngtài sản ngành thực phẩm chỉ khoảng 6% và hệ số lợi nhuận doanh thu nằm dao độngquanh mức 4.5% Kết quả này đã phần nào cho thấy tiềm năng của ngành chưa đượckhai thác triệt để Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan,bao gồm: khó khăn trong quản lí nguyên vật liệu đầu vào, quy mô vốn bị hạn chế, cơcấu vốn chưa hợp lí, trình độ lao động chưa cao,… Bên cạnh đó, các doanh nghiệptrong ngành còn chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ra
sự biến động khó dự đoán về sản lượng hàng hóa tiêu thụ Ngoài ra, các công ty trongngành còn liên tục phải đối mặt với nhiều áp lực từ các diễn biến bất lợi liên quan đếnthị trường cung cứng hàng hóa đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm, như: hiệntượng sụp đổ dây chuyền trong ngành thủy sản diễn ra năm 2011- 2012, khủng hoảngtrong ngành chăn nuôi và chế biến thịt lợn năm 2017, biến động bất thường trong giágạo trong giai đoạn 2018 – 2019,… Những khó khăn này đã khiến cho HQKD của các
DN thực phẩm chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Việc không khai thác tốt cáclợi thế cạnh tranh có thể sẽ khiến cho ngành thực phẩm khó phát triển khi phải cạnhtranh với các DN nước ngoài trong bối cảnh thương mại quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ.Trong khi đó, ảnh hưởng của dịch bệnh, thiên tai diễn ra trong thời gian gần đây đã tạonên những thay đổi trong hoạt động ngành
Trang 14thực phẩm Vì vậy, việc xây dựng mô hình và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố đến HQKD của các công ty thực phẩm là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiệnnay Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình này không dễ dàng vì các công ty thực phẩm cónhững đặc điểm khác biệt so với các DN thuộc ngành kinh doanh khác như nhu cầuvốn, chi phí và kết quả kinh doanh phụ thuộc nhiều vào yếu tố nguyên vật liệu, hoạtđộng kinh doanh chịu sự chi phối của các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm Vìvậy, để giải quyết các vấn đề này một cách hiệu quả, nhiều nhà kinh tế cho rằng các
DN thực phẩm đã niêm yết trên TTCK nên được quan tâm đầu tiên Với nguồn vốn lớn
và khả năng đáp ứng các điều kiện chặt chẽ của việc niêm yết trên sàn giao dịch chứngkhoán, các DN này có nhiều tiềm lực để phát triển thành các DN đầu ngành, tạo tiền đềtốt cho các doanh nghiệp còn lại
Xuất phát từ những lí do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của
mình
2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng mô hình, đánh giá sự ảnh hưởngcủa các yếu tố đến HQKD của các công ty ngành thực phẩm niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam, qua đó đưa ra các khuyến nghị, hàm ý chính sách nhằm cảithiện HQKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm ở Việt Nam trong giai đoạn tiếptheo
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụthể như sau:
-Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về HQKD, các chỉ tiêu đánh giá và thước đoHQKD của DN
-Khảo sát thực trạng kết quả hoạt động kinh doanh của các DN ngành thựcphẩm giai đoạn 2014 – 2019 và các DN thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Namthuộc mẫu nghiên cứu, từ đó tìm ra các vấn đề mà các DN trong ngành đang phải đốidiện
- Tổng quan nghiên cứu, xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đếnHQKD của các DN thực phẩm ở Việt Nam
-Kiểm định mô hình để đảm bảo sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, qua đó,đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các yếu
tố tác động đến HQKD của các DN thực phẩm ở Việt Nam
- Thảo luận kết quả và đưa ra các kết luận về sự ảnh hưởng của các yếu tố tácđộng đến HQKD của các DN thực phẩm ở Việt Nam
Trang 15-Nhận diện các vấn đề đặt ra trong tương lai đối với của các DN ngành thựcphẩm ở Việt Nam, qua đó, đề xuất những khuyến nghị, hàm ý chính sách nhằm cảithiện hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm ở Việt Nam tronggiai đoạn tới.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự ảnh hưởng của các yếu tố đến HQKDcủa DN ngành thực phẩm nói chung và các DN ngành thực phẩm niêm yết trên TTCKnói riêng
4.Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa vào cơ sở của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề nhằm đảm bảo tính toàn diện, cụ thể, có hệthống và logic Với dữ liệu thứ cấp lấy từ báo cáo tài chính của các DN ngành thựcphẩm, niên giám của Tổng cục Thống kê quả các năm, các số liệu liên quan ở Bộ Tàichính, luận án kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu địnhlượng, trong đó, phương pháp định lượng sẽ được sử dụng chủ yếu để đánh giá mức độảnh hưởng của các yếu tố đến HQKD của DN ngành thực phẩm
4.1.Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để xác định các chỉ tiêu phù hợp
để đánh giá HQKD của các DN thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam và các yếu
tố ảnh hưởng Luận án sử dụng một số phương pháo nghiên cứu như:
-Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, hoạtđộng thu thập dữ liệu từ các tài nguyên sẵn có được tiến hành Dữ liệu được thu thập từcác nguồn: thư viện, các cơ quan Chính phủ, các hiệp hội, các viện nghiên cứu,…
-Trên cơ sở dử dụng các nguồn thông tin thu thập, luận án sử dụng phương phápthống kê mô tả, phân tích, so sánh để đạt được mục tiêu nghiên cứu
4.2.Phương pháp định lượng
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình đã công bố, luận án xây dựng mô hình phùhợp để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến HQKD của các DN ngành thựcphẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2014 - 2019 Phương pháp định lượng
sẽ được sử dụng chủ yếu để đạt được các mục tiêu nghiên cứu
+ Xử lý dữ liệu và kiểm định mô hình:
Trang 16Dữ liệu thứ cấp được xử lý và thống kê trên phần mềm Stata 14, sau đó đượcphân tích dựa trên các lý thuyết kinh tế lượng và tài chính DN Luận án sẽ sử dụng cáckiểm định (bao gồm: kiểm định Fisher, phương pháp nhân tử Lagrange (LM) với kiểmđịnh Breusch-Pagan, kiểm định Hausman) để lựa chọn phương pháp ước lượng phùhợp như: phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (ordinary least squares –OLS), phương pháp ước lượng theo mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model(FEM)), phương pháp ước lượng theo mô hình tác động ngẫu nhiên (Random EffectModel (REM)) Trong luận án, các kiểm định sẽ được thực hiện để phát hiện ra cáchiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và nội sinh Cácgiải pháp để giải quyết các khuyết tật cũng được thực hiện như sử dụng như ước lượngsai số chuẩn vững, ước lượng GMM nhằm mục đích đạt được kết quả ước lượng chínhxác nhất về tác động của các yếu tố đến HQKD của DN Bên cạnh phân tích hồi quytác động trung bình, luận án còn sử dụng kết quả hồi quy phân vị và phân tích phân rãOaxaca – Blinder để có nhận định toàn diện hơn về mức độ ảnh hưởng của các yếu tốtrong mô hình đến HQKD của DN.
+ Phân tích và thảo luận kết quả: Trong phân tích dữ liệu, luận án sử dụng các
phương pháp thống kê, mô tả, so sánh và suy luận Các kỹ thuật suy luận thống kê nhưphân tích hai chiều để đo sự liên kết, phân tích hai chiều để thử nghiệm sự khác biệt,phân tích yếu tố và phân tích hồi qui sẽ được áp dụng để kiểm tra giả thuyết nghiêncứu Dựa trên việc phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các kết luận về sự ảnhhưởng của các yếu tố đến HQKD của các DN thực phẩm sẽ được đưa ra
5.Những đóng góp mới của luận án.
HQKD và các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD là một vấn đề luôn được các nhànghiên cứu quan tâm, đặc biệt là đối với các DN chịu áp lực cạnh tranh lớn như DNthuộc ngành thực phẩm Để đánh giá tác động của các yếu tố đến HQKD, luận án đãxây dựng mô hình dựa trên ba yếu tố: thứ nhất là lựa chọn chỉ tiêu đo lường HQKDphù hợp Thứ hai là lựa chọn yếu tố tác động phù hợp Thứ ba là lựa chọn dạng môhình và các ước lượng hiệu quả
Thứ nhất, liên quan đến việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá HQKD, bên cạnh hai
chỉ số tài chính hệ số LN doanh thu (ROS) và chỉ số Tobin’s Q, luận án đã sử dụngnhóm hai chỉ số mức độ sinh lời của VCSH (ROE) và mức độ sinh lời của VĐT (ROC)
để tăng tính toàn diện của kết quả đánh giá HQKD của DN thực phẩm tại Việt Nam.Bên cạnh đó, luận án đã tiến hành đánh giá HQKD dựa trên sự so sánh với chi phí sửdụng vốn như chi phí sử dụng VCSH hay chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền để
có những kết luận chính xác hơn về tình hình kinh doanh thực sự của các DN Kết quảphân tích cho thấy, xét về TSSL của VCSH, khoảng 50% số lượng DN được khảo sát
có mức ROE
Trang 17tương đối tốt trong giai đoạn 2014 – 2019 Tuy nhiên, TSSL của VĐT và hệ số LNdoanh thu của các DN không cao, cho thấy tồn tại những vấn đề khiến cho HQKD của
DN không đạt như mong đợi Mặc dù vậy, kết quả phân tích hệ số Tobin’s Q lại chothấy sự đánh giá tích cực của các nhà đầu tư đối với các DN ngành thực phẩm, bằngchứng là cổ phiếu của DN được đánh giá cao hơn giá trị sổ sách Điều này cho thấynhiều nhà đầu tư đánh giá cao tiềm năng của ngành thực phẩm
Thứ hai, liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới HQKD của DN, ngoài các yếu
tố trong nhóm môi trường bên ngoài và yếu tố bên trong, luận án đã xem xét việc đápứng các tiêu chuẩn ISO 22000 để đánh giá mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm của DN,
và kiểm tra xem sự khác biệt về HQKD giữa DN có chứng nhận ISO 22000 và DNkhông có chứng chỉ này Kết quả phân tích cho thấy, có tồn tại sự khác biệt về TSSLcủa VĐT, hệ số LN doanh thu và tý số Tobin’s Q giữa DN đạt tiêu chuẩn ISO 22000
và các DN còn lại Kết quả cho thấy HQKD của các DN có chứng nhận ISO 22000 tốthơn với nhóm DN còn lại, chứng tỏ việc lựa chọn các tiêu chuẩn an toàn thực phẩmmang lại những ý nghĩa tích cực đối với hoạt động kinh doanh của DN ngành thựcphẩm Ngoài ra, luận án cũng đã đánh giá tác động của HQKD và mức độ sử dụng nợtrong quá khứ đến hiện tại Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố nợ trong quá khứ cóảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến HQKD của DN, nhưng thay vì ảnh hưởng tiêu cực,
nó lại có tác động tích cực Điều này là ngược lại với giả thuyết đặt ra ban đầu, và nógợi mở một phương án cho các DN khi xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn
Thứ ba, điểm mới của luận án là việc sử dụng phương pháp hồi quy phân vị và
phân tích phân rã Oaxaca trong việc đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đếnHQKD của DN và khai thác nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong HQKD của nhóm
DN đạt tiêu chuẩn ISO 22000 và các DN còn lại Phương pháp hồi quy phân vị đã chỉ
ra rằng các yếu tố trong mô hình đều có tác động đến HQKD của DN ngành thực phẩmniêm yết trên TTCK tại các phân vị khác nhau Hồi quy phân rã Oaxaca -Blinder đãcho thấy nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trong HQKD của hai nhóm DN Nguyênnhân của sự khác biệt này đều đến từ hiệu ứng cấu trúc và các yếu tố góp phân tạo nên
sự khác biệt của hai nhóm DN bao gồm: Khả năng thanh toán, Khả năng hoạt động,Quy mô DN, Thời gian kinh doanh và Chỉ số giá tiêu dùng
6.Kết cấu luận án
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận
án được kết cấu thành năm chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận về sự ảnh hưởng của các yếu
tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Trang 18Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thựcphẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố đếnhiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam
Chương 5: Triển vọng phát triển của ngành thực phẩm ở Việt Nam và các hàm
ý, khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thựcphẩm
Trang 19CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1.Các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
HQKD là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động đầu
tư tài chính và các hoạt động khác Trong quá trình hoạt động, đây luôn là vấn đề được
tổ chức kinh tế quan tâm hàng đầu, bởi vì dựa vào nó, DN có thể đánh giá được khảnăng hoàn thành các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn của mình, và đưa ra các quyết địnhphù hợp Dưới góc độ tài chính, các nhà kinh tế thường tiến hành phân tích HQKD của
DN dựa vào việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty với hệ thống cácchỉ tiêu tài chính được lựa chọn Theo nhiều nhà kinh tế học như Kim Clark vàFujimoto (1991), Suwignjo, Bititci và Carrie (2000), James và John (2005), Brigham(2010), việc đánh giá HQKD thường được thực hiện dựa trên việc phân tích các chỉ sốđược thiết kế để hiển thị mối quan hệ giữa các khoản mục trong báo cáo tài chính, qua
đó nhà nghiên cứu có thể đánh giá tình hình tài chính nói riêng và thực trạng kinhdoanh nói chung của DN trong sự so sánh ở nội bộ công ty và giữa các công ty vớinhau Các nhà kinh tế học cho rằng phép đo HQKD có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc vềcác biện pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề tồn đọng trong DN, chính vì vậy, đã
có nhiều công trình khoa học được tiến hành để hệ thống hóa các chỉ tiêu tài chính cóthể sử dụng để đánh giá HQKD của DN
Venkatraman và Ramanujam (1986) đã đặt nền tàng cho nghiên cứu HQKD
trong bài báo “Measurement of business performance in strategy research: A comparison of approaches” Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã đưa ra
hai hệ thống chỉ tiêu để đo lường HQKD bao gồm: chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu hoạtđộng Các tác giả cùng nhấn mạnh để đânhs giá HQKD, chỉ tiêu về tài chính phải baogồm các chỉ số tính trên giá trị sổ sách và các chỉ số dựa trên giá trị thị trường Bêncạnh đó, hai nhà kinh tế học cũng khuyễn nghị sử dụng các chỉ tiêu hoạt động trongviệc đánh giá HQKD của DN
Dựa trên nghiên cứu của của Venkatraman và Ramanujam (1986), Murphy vàcộng sự (1996) đã phân chia các tiêu chí đánh HQKD thành 8 nhóm: mức độ hiệu quả,mức độ tăng trưởng, tỷ suất sinh lợi, quy mô công ty, tính thanh khoản, mức độ thànhcông/ thất bại, thị phần và đòn bẩy tài chính Trong đó, các tác giả cũng nhấn mạnhmức độ hiệu quả, mức độ tăng trưởng và tỷ suất lợi nhuận là những chỉ tiêu đóng vaitrò quan trọng nhất khi đánh giá HQKD của một doanh nghiệp
Bên cạnh các chỉ tiêu cơ bản, Chen và Dodd (1997) đã đưa ra mô hình về giá trị
Trang 20gia tăng kinh tế (Economic value added- EVA) để đánh giá hiệu quả DN trong công
trình nghiên cứu “An empirical examination of a new corporate performance measure”
C Walsh (2008) đánh giá HQKD của DN dựa khả năng sinh lợi Thông quaviệc giải thích cụ thể các chỉ số tài chính, tác giả giúp cho các nhà quản lí DN nhận ranhững thay đổi quan trọng trong hoạt động của công ty và những tác động của nền kinh
tế mà họ cần phải chú ý tới Các chỉ số đã cho thấy mối quan hệ tồn tại giữa các phầnkhác nhau của một DN, và sự cần thiết của sự cân bằng tương đối giữa các bộ phậnnày Do đó, kết quả phân tích các chỉ số tài chính sẽ giúp các nhà quản lý phối hợp vớinhau hiệu quả hơn Ngoài ra, tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnHQKD của DN Có thể nói, đây là một cuốn cẩm nang về tài chính của các nhà quản trịnói chung và các giám đốc tài chính nói chung
Higgins (2007) cũng hệ thống hóa lý thuyết để đánh giá kết quả hoạt động của
DN dựa trên kết quả hoạt động tài chính Trong tác phẩm của mình, tác giả đã trình bàymột cách chi tiết các nguồn số liệu cần thiết để phục vụ cho hoạt động phân tích tàichính và những chỉ số quan trọng, thông qua đó có thể có được những nhận xét cơ bản
về tình hình tài chính của DN Các chỉ tiêu tài chính được hệ thống lại tương đối đầy đủbao gồm nhóm chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn, nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn,nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu rủi ro cơ cấu nợ, nhóm chỉ tiêu rủi ro cơcấu chi phí… Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ các mối liên hệ giữa các chỉ số và đàosâu phân tích các thuật ngữ tài chính nhằm giúp cho việc phân tích được chính xác hơn
Theo nghiên cứu của R.Simon (2000), kết quả hoạt động của DN không chỉđược đánh giá dựa trên các chỉ tiêu tài chính thông thường Tác giả đã hệ thống hóađược một số phương pháp phi tài chính thông qua đó có thể đưa ra được nhận định vềkết quả hoạt động của DN Tài liệu cũng đưa ra hướng dẫn cho các DN xây dựng hệthống kiểm soát và quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinhdoanh
Nguyễn Tấn Bình (2008) đã đưa ra được nhóm các hệ số tài chính cơ bản đểđánh giá HQKD của DN như các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụngtài sản, hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính…, kèm theo đó là các ví dụ cụ thể để minhhọa cho lý thuyết Tuy nhiên,hiện nay, các nhà phân tích tài chính đã phát triển thêmcác thước đo khác là MVA (Market value added) và EVA (Economic value added), tácgiả chưa đề cập đến hai giá trị này khi đánh giá HQKD của doanhh nghiệp
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống các chỉ tiêu để đo lường và đánh giáHQKD, nhưng vì chưa có sự thống nhất việc lựa chọn các chỉ tiêu để đưa vào mô hìnhnghiên cứu thực nghiệm Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, các khoa học có thể sửdụng rất nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau Trong khi Maryanee và Don (2006) dùng chỉ
số lợi nhuận (LN) trên tổng tài sản (ROA) làm thước đo hiệu quả sử dụng tài sảntrong DN,
Trang 21James và John (2005) sử dụng ROS làm thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của
DN Graham (2007) lại cho rằng tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu (VCSH) (ROE) là tỷ
lệ quan trọng nhất trong các chỉ số đo lường hiệu suất tài chính vì nó có thể thúc đẩygiá cổ phiếu tăng lên Tuy nhiên, trong các nghiên cứu gần đây, các học giả tin rằngkhông thể tìm thấy một biến đại diện duy nhất để xác định hiệu quả tài chính nói riêng
và HQKD nói chung (Crockett 1997, Houben và Kakes 2004 và Schinasi 2004).Almajali et al (2012) lập luận rằng có nhiều cách đo lường HQKD, và mỗi chỉ số lạiđưa tới những thông tin khác nhau Ví dụ, ROS cho thấy một công ty kiếm được baonhiêu LN so với doanh thu của nó, ROA giải thích khả năng sử dụng tài sản của công
ty và ROE cho thấy các nhà đầu tư kiếm được bao nhiêu từ khoản đầu tư của họ Mặc
dù vậy, trong các công trình khoa học tìm hiểu về HQKD của DN, tỷ số LN trên tổngtài sản (ROA), tỷ suất sinh lời (TSSL) của vốn chủ sở hữu (VCSH) (ROE), TSSL củavốn đầu tư (VĐT) (ROC) và hệ số LN trên doanh thu (ROS) và Tobin’s Q là các thước
đo được nhiều nhà kinh tế sử dụng, như nghiên cứu của Ross, Westerfield, & Jordan(2010), Walker (2001), Waddock và Graves (1997), Ruf và cộng sự (2001), Margarita(2004), James và John (2005), Gerwin, Hans và Arjen (2007), Haniffa và Hudaib(2006), Holdiness, Kroszner và Sheejan (1999), Cho (1998) và Morck, Shleifer vàVishny (1988)
(Bảng tóm tắt tổng quan nghiên cứu về các chỉ tiêu đo lường HQKD của DNđược trình bày chi tiết trong Phụ lục 1)
1.1.2.Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của DN, nhiều công trình khoa học
đã được thực hiện với những phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương phápđịnh tính, định lượng (dựa trên số liệu sơ cấp hoặc/và số liệu thứ cấp) hay có sự phốihợp cả phương pháp định tính và định lượng)
Luận án tiến sỹ " Financial and Operational Performance of Privatized Cement Industrial Units of Pakistan" được thực hiện bởi Yaseen Ghulam năm 2012 Tác giả đã
kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để đánh giá hiệu suất hoạtđộng và tài chính của các công ty được tư nhân hóa thuộc ngành công nghiệp xi măngtại Pakistan Thông qua nghiên cứu, tác giả kết luận rằng đã có sự thay đổi rất lớn vềhiệu quả tài chính ở các DN kể từ khi giai đoạn tư nhân hóa bắt đầu, và khả năng sinhlời chịu ảnh hưởng tương đối lớn từ điều kiện kinh tế, luật và các luật lệ khác Trongnội dung đánh giá hiệu quả kinh tế, tác giả đã sử dụng phương pháp bao dữ liệu phitham số (non – parametric Data Envelopment Analysis, viết tắt là DEA) trên cơ sởphân tích giới hạn, kết quả cho thấy hiệu quả kỹ thuật của các công ty tư nhân hóa đãkhông cải thiện trong giai đoạn 1993-2011 Tuy nhiên, nhờ vào hiệu quả chi phí tănglên, năng suất yếu
Trang 22tố tổng hợp được cải thiện Nghiên cứu này cũng đã kiểm tra mức độ cạnh tranh tronggiai đoạn hậu cải cách bằng cách sử dụng các chỉ số cạnh tranh phổ biến Nghiên cứukết luận rằng ngành công nghiệp đã chuyển từ giai đoạn cạnh tranh cao, không chịu sựchi phối của thị trường sang một giai đoạn chịu tác động từ sức mạnh thị trường và trởnên tương đối kém cạnh tranh Việc đánh giá HQKD và sự tác động của các yếu tố đếnHQKD được tác giả tiến hành rất công phu, nhưng HQKD ở trong luận án mới chỉđược đánh giá dựa trên số liệu kế toán mà chưa đề cập tới các chỉ số có tính tới giá trịthị trường Chính vì vậy, mục tiêu “tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu doanh nghiệp”chưa được đánh giá nhiều trong luận án.
Luận án tiến sỹ " The Contribution of Tangible and Intangible Resources, and Capabilities to A Firm’s Profitability and Market Performance: Empirical Evidence from Turkey " được thực hiện bởi Rifat Kamasak năm 2013 Tác giả cũng sử dụng cả
phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Tác giả đã tiến hành đánh giá mức
độ tác động các nguồn lực hữu hình và vô hình đến hiệu quả thị trường và khả năngsinh lời của DN dựa trên các thước đo thị phần, doanh thu và LN Bởi vì nghiên cứutập trung vào việc phát triển mô hình, vậy nên phương pháp hồi quy phân cấp đượckhai thác sử dụng Luận án được thiết kế tuần tự, bắt đầu từ các phương pháp định tínhnhư phỏng vấn sâu, nghiên cứu tài liệu, thực hiện khảo sát, sau đó là phương pháp địnhlượng bằng việc kiểm tra thực nghiệm một loạt các giả thuyết liên quan đến sự tácđộng của của các nguồn lực và khả năng vào HQKD của công ty Phân tích dữ liệuđịnh tính chỉ ra văn hóa tổ chức, tài sản, vốn nhân lực, quy trình kinh doanh và khảnăng kết nối mạng là những yếu tố quan trọng nhất quyết định tới HQKD của công ty.Kết quả khảo sát cho thấy tài nguyên vô hình có đóng góp lớn hơn cho hiệu quả hoạtđộng công ty so với tài nguyên hữu hình Trong luận án, HQKD đã dựa trên cả số liệu
kế toán và dữ liệu thị trường, tuy nhiên, do mục tiêu là tìm ra biến mới để phát triển môhình cũ, nên kết quả nghiên cứu của luận án chỉ tập trung vào các số liệu một năm tàichính (năm 2013), vì vậy, luận án đã không đưa ra được những tác động trong dài hạncủa các yếu tố đến HQKD của DN
Luận án tiến sỹ của tác giả Đỗ Huyền Trang (2012) với đề tài “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung Bộ” đã hệ thống hóa được các chỉ tiêu trong phân tích HQKD của các
DN nói chung và các DN chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ nói riêng, qua
đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động đánh giá HQKD dựa trên các chỉ tiêutài chính của các DN Trong luận án, tác giả đã thực hiện công tác đánh giá HQKD củamẫu nghiên cứu một cách bài bản và đầy đủ, nhưng tác giả không tìm hiểu các yếu tố
có thể làm tăng hay giảm mức độ hiệu quả này Bên cạnh đó, mẫu nghiên cứu củaluận án khá nhỏ (4
Trang 23DN sản xuất gỗ tại ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định), khiến cho các kếtluận khó mang tính đại diện cho toàn ngành.
Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Thị Thanh Hải (2013) “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc
Bộ Giao thông vận tải” đã nêu được lý thuyết về chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các
DN xây dựng công trình giao thông Dựa trên kết quả phân tích thực trạng về HQKD;tác giả đã chỉ ra những ưu điểm cũng như những mặt còn hạn chế của các DN và đềxuất các giải pháp hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá HQKD bằng cách áp dụng phươngpháp Thẻ điểm cân bằng Mặc dù, các giải pháp trong luận án có mối liên hệ chặt chẽ,nhưng chúng chỉ dừng lại ở góc độ nội bộ doanh nghiệp, trong khi đó, các yếu tố bêntrong và bên ngoài doanh nghiệp đều ảnh hưởng tới HQKD của doanh nghiệp
Luận án Tiến sỹ của Đoàn Ngọc Phúc (năm 2014), “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam”, tác giả
đã nêu khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkinhn doanh của DN nhà nước sau cổ phần hóa Mặc dù luận án đã nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN nhưng chỉ tập trung vào các yếu tố bêntrong DN mà chưa xem xét đến các yếu tố đến từ bên ngoài DN Bên cạnh đó, tác giảchỉ nghiên cứu HQKD của doanh nghiệp qua chỉ tiêu ROA, ROE nên luận án chưa kếtluận được mức độ thực hiện mục tiêu “tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu” củadoanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu
Luận án tiến sỹ của Hoàng Quốc Mậu (2017) với đề tài “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các DN vật liệu nổ công nghiệp ở Việt Nam” đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và các phương
pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh, trong đó, hiệu quả kinh doanh được đo lường bởisức sản xuất và suất hao phí của các yếu tố đầu vào Tác giả cũng phân tích sự ảnhhưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến hiệu quả kinh doanh cả các DN Luận
án sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đếnhiệu quả kinh doanh, tuy nhiên, tác giả không sử dụng các chỉ tiêu tài chính dựa trêngiá trị thị trường để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN Bên cạnh đó, luận án chỉdùng phương pháp hồi quy OLS để đo lường mức độ tác động của các yếu tố đếnHQKD của 63 quan sát, và không có những kiểm định về các khuyết tật của mô hình.Điều này khiến cho các kết luận của nghiên cứu có thể bị chệch, và thiếu tính đại diện
Mặc dù nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xác định các yếu tố ảnhhưởng đến HQKD của DN, nhưng dưới góc độ tài chính, phương pháp định lượng dựatrên số liệu thứ cấp vẫn được các nhà khoa học sử dụng nhiều hơn cả Có rất nhiều các
mô hình được xây dựng để tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của DN, tuynhiên,
Trang 24có sự khác nhau khá lớn giữa các yếu tố được lựa chọn và kết quả thực nghiệm ở các
quốc gia hay các ngành nghề (Bảng tóm tắt tổng quan nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến HQKD của DN được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1)
1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến ngành thực phẩm và các doanh nghiệp ngành thực phẩm.
Mặc dù ngành thực phẩm chiếm một vai trò quan trọng trong sự pháp triển củanền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, số lượng các công trìnhnghiên cứu về ngành này không nhiều, đặc biệt là chưa có luận án tiến sỹ nào đề cậpđến vấn đề đánh giá HQKD của các công ty thực phẩm niếm yết trên thị trường chứngkhoán
-Luận án tiến sỹ ngành kinh tế chính trị Xã hội chủ nghĩa của tác giả Vũ Anh
Tuấn (1998), “Xu hướng phát triển của ngành công nghiệp chế biến ở thành phố Hồ Chí Minh”, đã trình bày có hệ thống cơ sở khoa học của xu hướng phát triển công
nghiệp chế biến và vai trò của công nghiệp chế biến trong xu thế công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Tác giả đã làm rõ những quan điểm, yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành vàphát triển của công nghiệp chế biến Thông qua khảo sát, luận án đã đánh giá thựctrạng công nghiệp chế biến về thành tựu và tồn tại để tìm ra những mâu thuẫn, bất cậpcần được xử lý ở thành phố Hồ Chí Minh Tác giả cũng đưa ra những giải pháp chủ yếunhằm phát triển có hiệu quả công nghiệp chế biến trong thời gian tới ở thành phố HồChí Minh
-Luận án tiến sỹ ngành kinh tế của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2007), “Xây dựng chiến lược phát triển quốc tế cho các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm Việt Nam”, là luận án tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận liên
quan đến chiến lược phát triển quốc tế cho các doanh nghiệp thuộc ngành thực phẩmViệt Nam Công trình đã đánh giá thực trạng, đặc biệt là nêu bật được thuận lợi, hạnchế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng chiến lược phát triển quốc
tế của các công ty trong ngành Luận án cũng xây dựng các phương án phục vụ chochiến lược phát triển quốc tế cơ bản cho các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩmViệt Nam và đưa ra các giải pháp cụ thể để thúc đẩy cho việc xây dựng và thực hiệncác chiến lược phát triển quốc tế cho ngành
-Luận án tiến sĩ ngành kinh tế của tác giả Đỗ Hồng Nhung (2014), “Quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam”, đã hệ thống hóa lý
thuyết về hoạt động quản trị dòng tiền của các DN Dựa trên kết quả nghiên cứu líthuyết và kết quả đánh giá thực trạng của ngành từ năm 2007 đến năm 2012, tác giả đãxây dựng phương trình hồi quy nhằm xác định các dòng tiền dự báo của DN (theophương pháp dự báo của ARIMA) Trong mô hình nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các yếu
tố ảnh hưởng đến dòng tiền của DN ngành thực phẩm Nghiên cứu thực nghiệm đượctiến hành dựa trên số liệu thứ cấp thu thập từ 53 DN thực phẩm niêm yết trên TTCK.Dựa trên kết quả
Trang 25nghiên cứu định tính và định lượng, tác giả đã đề xuất những giải pháp có ý nghĩa đểgiúp các DN quản trị dòng tiền hiệu quả hơn.
-Luận án tiến sĩ ngành kinh tế của tác giả Tăng Thị Thanh Thủy (2020), “Nghiên cứu tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”,
hệ thống hóa được cơ sở lí luận về quản trị DN và HQKD của các DN và xây dựng môhình các yếu tố quản trị công ty: đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp chế biến thực phẩm HQKD của DNngành thực phẩm được đo lường bằng hai chỉ số ROA và Tobin’s Q Mẫu nghiên cứu
là 42 DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ nă,m 2013 đến năm 2018.Kết quả cho thấy quản trị công ty có tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của DN Dựa trên kết quả nghiên cứu định tínhvaf định lượng, tác gỉa
đã đề xuất những giải pháp phù hợp để cải thiện hiệu quả HĐKD của các DN ngànhthực phẩm trong tương lai
1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.1.4.1 Khoảng trống nghiên cứu
Để đánh giá đúng tác động của các yếu tố đến HQKD, việc xây dựng mô hình
có khả năng bao quát toàn diện đóng một vai trò quan trọng Khả năng bao quát của môhình được tạo nên từ ba yếu tố: thứ nhất là lựa chọn chỉ tiêu đo lường HQKD Thứ hai
là lựa chọn yếu tố tác động phù hợp Thứ ba là lựa chọn dạng mô hình và các ướclượng hiệu quả Dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học đã đượcthực hiện, nghiên cứu sinh nhận ra còn tồn tại khoảng trống nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, liên quan đến HQKD, nghiên cứu sinh nhận thấy chưa có nghiên cứunào đánh giá HQKD của DN ngành thực phẩm dựa trên sự so sánh với chi phí sử dụngvốn như chi phí sử dụng VCSH (re) hay chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền(WACC), dẫn tới những kết luận chưa chính xác về tình hình kinh doanh thực sự củacác DN Để giải quyết vấn đề nếu trên, trong luận án, việc phân tích ROE và ROC sẽđược đặt trong mối quan hệ với chi phí sử dụng vốn, qua đó có những nhận định chínhxác hơn về HQKD của các DN ngành thực phẩm
Thứ hai, liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới HQKD của DN, nghiên cứusinh nhận thấy các công trình trước đây vẫn chưa đề cập đến mức độ tác động của yếu
tố vệ sinh, an toàn thực phẩm tới HQKD của các DN, trong khi yếu tố này được xét làmột trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển củacác công ty thuộc ngành thực phẩm Để giải quyết khoảng trống này, luận án đã sửdụng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ISO 22000 để xem xét mức độ vệ sinh an toànthực phẩm của DN, và kiểm tra xem sự khác biệt về HQKD giữa DN có chứng nhậnISO 22000 và
Trang 26DN không có chứng này Ngoài ra, các nghiên cứu về ngành thực phẩm ở Việt Namchưa tính đến tác động của các yếu tố trong quá khứ đến hiện tại Trong khi đó, việcxem xét đến yếu tố tác động theo thời gian sẽ đưa tới nhiều kết luận có tính dài hạn và
có khả năng dự đoán hơn Nhận thấy khoảng trống này, luận án sẽ đánh giá tác độngcủa HQKD và mức độ sử dụng nợ trong quá khứ đến hiện tại
Thứ ba, về vấn đề lựa chọn dạng mô hình và các ước lượng hiệu quả, nghiêncứu sinh nhận thấy, các nghiên cứu về yếu tố tác động đến HQKD của các DN ở ViệtNam mới tập trung khai thác kết quả hồi quy tác động trung bình, chưa có nghiên cứunào sử dụng phương pháp hồi quy phân vị và phân tích phân rã Oaxaca trong việc đánhgiá mức độ tác động của các yếu tố đến HQKD của DN Đây cũng là một khoảng trốngnghiên cứu mà nghiên cứu sinh khai tác trong luận án, qua đó có thể đạt được các kếtquả nghiên cứu thực nghiệm chính xác, làm cơ sở để để xuất các giải pháp phù hợp đốivới các DN thực phẩm trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động phức tạp nhưhiện nay
1.1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố bên trong DN có ảnh hưởng như thế nào đến HQKD của các DNngành thực phẩm?
-Các yếu tố môi trường bên ngoài DN có ảnh hưởng như thế nào đến HQKDcủa các DN ngành thực phẩm?
- HQKD trong quá khứ ảnh hưởng như thế nào đến HQKD của các DN ngànhthực phẩm
-Có sự khác biệt nào về HQKD giữa DN đạt các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thựcphẩm ISO 22000 và các DN còn lại hay không? Nếu có sự khác biệt thì nguyên nhân
có thể xuất phát từ đâu?
1.2.Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp Việt Nam (2020) định nghĩa DN “là tổ chức có tên riêng, cótài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định củapháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Trong quá trình tồn tại, DN sẽ có nhiều mụctiêu khác nhau được quyết định bởi chủ sở hữu DN, dựa trên nhận định về tình hìnhkinh tế, chiến lược kinh doanh… Tuy nhiên, dưới góc độ tài chính, mục tiêu của DN làtối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu Để đạt được mục tiêu này, LN là yếu tố đượcquan tâm hàng đầu, bởi vì nó có thể phản ánh phần nào kết quả của quá trình đầu tư,sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại DN Tuy nhiên, nếunhư nhà phân tích tài chính chỉ tập trung vào tổng mức lợi nhuận, kết luận đưa ra sẽkhông phản ánh được mức độ hoàn thành mục tiêu hoạt động của DN Bởi vì có nhữngtrường hợp lợi nhuận tăng nhưng lại không tăng được giá trị cho chủ sở hữu Để giảiquyết vấn đề
Trang 27này, các nhà kinh tế phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lựckinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi cụthể Nói một cách khác, vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm đó là “hiệu quả kinhdoanh” chứ không phải là lợi nhuận đơn thuần (Nguyễn Thu Thủy, 2011).
Khi gắn "hiệu quả" vào hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, Paul A.Samuelson (1989) cho rằng: "Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất cácnguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người" Lebas(1995) nhận định "hiệu quả liên quan đến việc triển khai và quản lý tốt các nội dungcủa mô hình nhân quả, điều này có thể dẫn đến việc đạt được kịp thời các mục tiêu đãđịnh trong những ràng buộc cụ thể đối với công ty và ở các tình huống khác biệt” Xétdưới góc độ này, HQKD được hiểu là mức độ tận dụng các yếu tố đầu vào để tạo nênsản phẩm hay dịch vụ Nghiên cứu của Venkatraman và Ramanujam (1986), Murphy
và các cộng sự (1996), Kim và Takahiro (1991) cũng nhấn mạnh rằng HQKD hướngtới sự so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đề ra ban đầu, do đó, hoạt động này đượcthực hiện thông qua các số liệu liên quan được lấy từ báo cáo tài chính của tổ chức kinh
tế và một số những nguồn dữ liệu khác Chúng được thu thập, tính toán, so sánh và giảithích để chỉ ra tình trạng tài chính, khả năng sinh lời, và hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp (Suwignjo, Bititci and Carrie, 1997)
Bàn về vấn đề này, nhiều nhà kinh tế Việt Nam cũng đưa ra các quan điểmtương tự Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2002) xem xét HQKD thông qua việc phântích mối quan hệ giữa kết quả thu về như doanh thu, lợi nhuận, so với các yếu tố bỏ ranhư tài sản, vốn chủ sở hữu, sử dụng cho kinh doanh Tác giả Nguyễn Văn Công(2009) định nghĩa HQKD “là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn nhân, tài, vật, lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trìnhkinh doanh với tổng chi phí thấp nhất” Phát triển từ các khái niệm này, khi phân tíchHQKD, tác giả Nguyễn Văn Tạo (2004) không chỉ là sự so sánh giữa chi phí đầu vào
và kết quả nhận được ở đầu ra; mà còn đánh giá “việc hoàn thành mục tiêu, nếu khôngđạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sửdụng nguồn lực như thế nào” Tác giả Trần Thị Thu Phong (2012) cũng nhận định rằng
“HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vàokinh doanh sao cho hao phí nguồn lực là thấp nhất nhưng lợi ích mang lại là cao nhất.Lợi ích mang lại không chỉ cho bản thân DN mà còn cho cả xã hội” Tác giả NguyễnNăng Phúc định nghĩa “HQKD là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sửdụng nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất” Theoquan điểm của tác giả Vẫn Văn Linh và Đặng Ngọc Hùng, “HQKD là phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ và chất
Trang 28lượng sử dụng các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanhvới chi phí bỏ ra ít nhất để đạt được kết quả đó”.
Tóm lại, HQKD là một phạm trù kinh tế được biểu hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố nguồn lực đầu vào nhằm đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở giúp doanh nghiệp có phương hướng để hoàn thành các mục tiêu trong ngắn hạn và dài hạn.
Đây cũng chính là quan điểm xuyên suốt của luận án Dưới góc độ này, luận ántiến hành phân tích HQKD của các DN ngành thực phẩm, sử dụng kết quả này làm cơ
sở để xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của DN
1.2.2.Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích HQKD có thể định nghĩa là việc chia các kết quả hoạt động kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó, dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu (GS,TS Bùi Xuân Phong (1999)).
Dựa vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, hoạt động phân tích HQKD của DN
có thể được tiến hành theo nhiều hướng khác nhau Pierre và các cộng sự (2009) địnhnghĩa phân tích HQKD là quá trình thu thập, phân tích và hoặc báo cáo thông tin liênquan đến hiệu quả tài chính của một cá nhân, nhóm hoặc tổ chức kinh tế Trần Thị ThuPhong (2012) nhận định phân tích HQKD “là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánhgíá HQKD của DN thông qua các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại và quá khứ của DN,giữa hiệu quả của DN mình với các hiệu quả của DN khác trong cùng ngành, cùng lĩnhvực” Việc đánh giá HQKD bao gồm cả việc nghiên cứu quy trình so sánh kết quả kinhdoanh với kế hoạch ban đầu Như vậy, theo cách hiểu này, sự phân tích HQKD của DNcần phải được tiến hành một cách toàn diện cả về không gian và thời gian, cả về mặtđịnh tính và định lượng Các tác giả Venkatraman và Ramanujam (1986), Murphy vàcác cộng sự (1996) cho rằng, trước hết, sự phân tích HQKD (business performance)nên tập trung vào các chỉ số hiệu quả tài chính (financial performance), bởi vì nhữngchỉ số này có thể bước đầu phản ánh được khả năng đáp ứng các mục tiêu kinh tế củadoanh nghiệp Tiếp theo, sự phân tích này cần được mở rộng đến hiệu quả hoạt động(operational performance), tức là phân tích tới các số liệu về thị phần, chất lượng sảnphẩm, hiệu quả marketing, giá trị gia tăng, , chỉ như thế thì việc đánh giá về HQKDmới có thể toàn diện Theo Brigham (2010) việc đánh giá HQKD thường được thựchiện dựa trên việc phân tích các chỉ số được thiết kế để hiển thị mối quan hệ giữa cáckhoản mục trong báo cáo tài chính, qua đó nhà nghiên cứu có thể đánh giá tình hình tàichính nói riêng và thực trạng kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong sự so sánh
ở nội bộ công ty và giữa các công ty với nhau Rouf (2011) cho rằng những gì các công
ty cung cấp cho các nhà
Trang 29đầu tư là khả năng dễ dàng đánh giá được giá trị của một công ty và điều này mang lạicho họ rất nhiều lợi thế Đây là lý do tại sao HQKD của một công ty có thể được xácđịnh từ các báo cáo tài chính chi tiết của tổ chức Với mục tiêu đánh giá HQKD quaphân tích tài chính, các nhà nghiên cứu James và John (2005) đã chỉ ra rằng hoạt độngnày cần phải được thực hiện để phân tích tình trạng tài chính của DN ở nhiều mặt, vàcông cụ được sử dụng nhiều nhất để kiểm tra tài chính nội bộ doanh nghiệp chính làcác chỉ tiêu tài chính.
Mặc dù có những quan điểm khác nhau về việc phân tích HQKD, nhưng có thể
hiểu, phân tích HQKD của DN được hiểu là việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá HQKD của các DN.
Phân tích HQKD thường dựa vào thông tin trong các báo cáo tài chính và cácnhóm hệ số, qua đó đưa ra nhận định về mức độ hoàn thành mục tiêu của DN Trongquá trình tồn tại, DN sẽ có nhiều mục tiêu khác nhau được quyết định bởi chủ sở hữu
DN, dựa trên nhận định về tình hình kinh tế, chiến lược kinh doanh… Tuy nhiên, dướigóc độ tài chính DN, mục tiêu của DN là nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.Mục tiêu này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu như sau:
+ Tối đa hóa LN sau thuế: Đây là một chỉ tiêu được nhiều đối tượng quan tâmnhưng nó có hạn chế là không phản ánh được sự gia tăng của giá trị cho chủ sở hữu
+ Tối đa hóa LN trên cổ phần: Chỉ tiêu này có thể khắc phục được những hạnchế của chỉ tiêu trên Tuy nhiên, nó vẫn bị hạn chế ở một số điểm, bao gồm: chưa xétđến yếu tố thời gian của tiền và độ dài của LN kỳ vọng; chưa xem xét đến yếu tố rủi ro;không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường
+ Tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu: Đây là một mục tiêu đáp ứng yêucầu hợp lý của DN và chủ sở hữu DN Khi theo đuổi mục tiêu này, hiệu quả kinh doanh
đã được xem xét cả ở góc độ thời gian, rủi ro và một số yếu tố khác Nếu quy các loạihình doanh nghiệp khác theo góc độ của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán,các chủ sở hữu là các cổ đông thì tối đa hóa giá trị tài sản của các cổ đông cũng là tối
đa hóa giá trị thị trường cổ phần của doanh nghiệp Tối đa hóa giá trị thị trường củadoanh nghiệp cũng chính là tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đây là mục tiêu bao quátnhất
Trong luận án, HQKD sẽ được đánh giá dựa trên việc xem xét hai yếu tố về đầu
ra (bao gồm LN và doanh thu) và đầu vào (vốn) trong việc thực hiện mục tiêu “tối đahóa giá trị tài sản của chủ sở hữu”
1.2.3.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng hai hệ thống chỉ tiêu đánh giáHQKD là chỉ tiêu dựa trên số liệu kế toán, và chỉ tiêu dựa trên giá trị thị trường Các hệ
số dựa trên số liệu kế toán cho biết kết quả cuối cùng của hoạt động tài chính, hoạtđộng
Trang 30kinh doanh của DN Trong khi đó, nhóm hệ số tài chính dựa trên giá trị thị trường có
ưu điểm là có khả năng đo lường HQKD trong dài hạn, được đặc trưng bởi khía cạnhhướng tới tương lai và phản ánh kỳ vọng của các cổ đông liên quan đến hoạt động ởnhững kỳ hoạt động tiếp theo của công ty, chúng được tính toán và đánh giá dựa trênHQKD ở hiện tại hoặc trong quá khứ Ngay từ những năm 1980, có rất nhiều cácnghiên cứu đã được thực hiện để đo lường HQKD của các tổ chức kinh tế, và đa phầncác nghiên cứu này đều sử dụng các chỉ số thị trường và chỉ số kế toán Nhà nghiên cứuMcGuire và cộng sự (1988) sử dụng thước đo dựa trên số liệu thị trường và thước đodựa trên số liệu kế toán để đánh giá hiệu quả tài chính của công ty; thước đo dựa trên
số liệu thị trường bao gồm tổng LN thị trường và LN thị trường được điều chỉnh theorủi ro, v.v.; các tỷ lệ kế toán bao gồm LN trên tổng tài sản (ROA), tăng trưởng doanhthu, tăng trưởng tài sản và tăng trưởng LN hoạt động, v.v Mặc dù những chỉ số kế toánrất đa dạng và có cơ sở dữ liệu chắc chắn, McGuire, Schneeweis và Hill (1986) chorằng những con số này chỉ cho thấy được hiệu quả hoạt động trong quá khứ của DN, vàquá trình đánh giá chúng lại chịu sự tác động rất lớn từ quan điểm chủ quan của cácnhà quản lý cũng như sự khác biệt trong các quy trình đo lường các chỉ số kế toán(Branch, 1983; Brilloff, 1972) Chính vì vậy, việc kết hợp giữa thước đo dựa trên giá trị
sổ sách và thước đo tính bằng giá trị thị trường là cực kỳ cần thiết
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh dựa trên số liệu kế toán
Nhóm hệ số chính thường được sử dụng để đánh giá về kết quả hoạt động kinhdoanh của DN là:
+ Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity)
Lợi nhuận sau thuếROE =
Vốn chủ sở hữuĐây là hệ số sinh lợi được các cổ đông quan tâm nhất, và nó cần được xem xéttrong quá trình nghiên cứu HQKD của DN Các cổ đông kỳ vọng thu được LN từ tiềnđầu tư của mình và hệ số này thường được họ sử dụng làm thước đo hiệu quả hoạt độngcủa công ty trên phương diện kế toán Dựa vào ROE, các cổ đông có thể đưa ra nhữngbiểu quyết cho phương hướng tăng hay giảm tỷ trọng vốn góp chủ sở hữu trong chiếnlược phát triển ngắn hạn và dài hạn của DN Ngoài ra, bởi vì luôn tồn tại rủi ro đạo đứctrong mối quan hệ giữa chủ sở hữu và ban quản trị của công ty, nên ROE được xemnhư một công cụ hiệu quả giúp chủ sở hữu DN đánh giá mức độ phù hợp của các quyếtđịnh do ban quản trị đưa ra trong quá trình hoạt động Ở phương diện thu hút vốn, ROEđược các nhà đầu tư ưa chuộng vì nó kết hợp được thông tin của báo cáo thu nhập (LNsau thuế) và bảng cân đối kế toán (VCSH) Bên cạnh đó, nó còn giúp cho họ dự đoánđược
Trang 31tiềm năng khi đầu tư vào cổ phiếu DN Chính vì những nguyên nhân trên, đây mộttrong chỉ tiêu được được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá HQKD của DN (Rappaport,1986), điều này cũng được nhà khoa học Monteiro xác nhận lại vào năm 2006 Các nhàđầu tư ưa thích tỷ lệ ROE cao và ROE có mối tương quan dương với giá cổ phiếu Tuynhiên, nếu chỉ dùng mức cao – thấp của ROE để đánh giá HQKD thì có thể dẫn tớinhững kết luận không chính xác Ví dụ, ROE cao có thể là dấu hiệu của sự sử dụng nợquá mức Ngoài ra, ROE phụ thuộc rất nhiều vào HQKD của DN trong kỳ, quy mô vàmức độ rủi ro của DN Do đó, khi sử dụng ROE làm thước đo đánh giá HQKD của
DN, cần phải đặt nó trong mối quan hệ so sánh với chi phí sử dụng VCSH Điều này đãđược Brealey và Meyers (2006) nhấn mạnh Trong nghiên cứu của mình, hai tác khả đãchỉ ra rằng việc so sánh ROE với chi phí sử dụng VCSH sẽ đưa lại kết luận hợp lý vềHQKD của DN Trên thực tế, khi các chủ sở hữu góp tiền cho DN hoạt động, họ đang
từ bỏ cơ hội kiếm lời từ các danh mục đầu tư khác Trong trường hợp này, LN mà các
cổ đông đã từ bỏ gọi là chi phí cơ hội của VCSH Bởi vì mục tiêu cuối cùng của hoạtđộng của công ty là tạo nên giá trị cho chủ sở hữu, nên ROE nên được so sánh với chiphí sử dụng VCSH trong khi đánh giá về HQKD của công ty Theo Brealey và Meyers(2015), một công ty có ROE hơn chi phí sử dụng loại vốn này sẽ làm cho các cổ đôngcủa nó trở nên giàu có hơn, bởi vì nó đang mang lại cho họ khối tài sản lớn hơn cáchạng mục đầu tư khác mà họ đã từ bỏ Ngược lại, một công ty có ROE nhỏ hơn chi phíVCSH sẽ làm giảm tài sản của người góp vốn, bởi vì họ có thể kiếm được LN cao hơnchỉ đơn giản bằng cách tự đầu tư vào thị trường tài chính
Mặc dù chi phí sử dụng VCSH là thực sự quan trọng trong việc đánh giá ROE,nhưng việc xác định nó vẫn luôn là bài toán khó, bởi vì không có một cách nào có thểquan sát hay đo lường trực tiếp được loại chi phí này Có 3 phương pháp chủ yếu ướctính chi phí sử dụng VCSH (re):Phương pháp dựa vào mô hình chiết khấu cổ tức;Phương pháp theo lãi suất trái phiếu cộng thêm mức bù rủi ro; Phương pháp sử dụng
mô hình định giá tài sản (CAPM - Capital Asset Pricing Model) Phương pháp CAMP
sẽ được sử dụng trong luận án để tính toán chi phí sử dụng VCSH (Các phương pháp ước tính chi phí sử dụng VCSH được trình bày chi tiết trong phụ lục 2)
+ Tỉ suất sinh lời của vốn đầu tư ROC (return on capital)
Hệ số này còn được gọi là hệ số LN trên VĐT ROIC (Return on investedcapital) Có nhiều công thức tính ROC, tuy nhiên, luận án sẽ sử dụng công thức tính donhà kinh tế học Robert Higgin (2012) đề xuất
Nợ chịu lãi + Vốn chủ sở hữuTrong đó EBIT là LN trước thuế và lãi vay, T là tỷ suất thuế thu nhập DN
Trang 32Theo công thức tính toán này, ROC có thể phản ánh được tương đối chính xácmức độ sinh lời của những đồng vốn phải chịu chi phí (bao gồm chi phí lãi và chi phí
sử dụng VCSH) đã được đầu tư vào DN Đây là một chỉ số tài chính được nhiều đốitượng quan tâm và sử dụng khi đánh giá HQKD của DN Đối với chủ sở hữu DN, chỉ
số ROC có thể cho họ những kết luận ban đầu về hiệu quả sử dụng của những khoảnvốn đang phải chịu chi phí Đối với nhà đầu tư hay chủ nợ, đây là một trong các chỉ sốgiúp cho họ đánh giá chung về tình hình kinh doanh của DN, từ đó, họ có thể có quyếtđịnh về việc có nên cung cấp vốn vào DN đó hay không ROC hoàn toàn tập trung vàoviệc phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh doanh của DN, điều này tạo ra ưu thế củaROC so với các chỉ số tài chính khác Trong các nghiên cứu gần đây, ROC là chỉ số tàichính được các nhà phân tích ưa thích sử dụng để đánh giá HQKD của doanh nghệphơn chỉ số truyền thống TSSL của tổng tài sản (ROA), xuất phát từ nguyên nhân là
“ROA là một chỉ số đo lường hiệu quả của hoạt động kinh doanh không chính xác bằngROC” bởi vì mẫu số của nó “bao gồm cả những tài sản không tham gia vào hoạt độngkinh doanh” và ROA còn “bỏ qua lợi ích của các khoản nợ chịu lãi và các khoản phảitrả, phải nộp”, trong khi đó, những nguồn vốn này có khả năng làm giảm áp lực về vốnđối với chủ sở hữu DN (Tim Koller và các cộng sự, 2010)
Bởi vì ROC đo lường mức độ sinh lời của VĐT vào hoạt động kinh doanh của
DN, vì vậy, để đánh giá về mức độ “cao” hay “thấp” của ROC, cần phải đặt ROC trongmối quan hệ với chi phí sử dụng vốn của DN Nhiều nhà kinh tế học đã lựa chọn chiphí sử dụng vốn bình quân (WACC) để đánh giá mức độ sinh lời của VĐT của DN
(Cơ sở lí thuyết về WACC được trình bày chi tiết trong phụ lục 2)
+ Hệ số lợi nhuận doanh thu ROS (Return on sales)
ROS = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
ROS (còn được gọi là biên LN) là một hệ số được các cổ đông quan tâm, nó
phản ánh mối quan hệ giữa LN và doanh thu, và cho ta biết lãi ròng chiếm tỷ lệ phầmtrăm là bao nhiêu trên tổng doanh thu Về lý thuyết, hệ số ROS càng lớn thể hiện khảnăng quản lý chi phí của DN càng tốt, cắt giảm được nhiều chi phí trung gian Bêncạnh đó, ROS được nhiều nhà khoa học ưa thích vì nó còn có khả năng phản ánh phầnnào khả năng trả nợ, tiềm năng đầu tư và tiềm năng tăng/giảm cổ tức của doanh DN.Tuy nhiên, đây là một hệ số phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của ngành kinh doanh.Trong các ngành ăn uống, dịch vụ, du lịch… ROS thường rất cao, ngược lại ROS củacác DN thuộc ngành kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ,… thường tương đối thấp Chính vìvậy, khi sử dụng ROS là một trong số các thang đo hiệu quả hoạt động kinh doanh,việc so sánh với bình quân
Trang 33ngành hoặc sự so sánh giữa các DN quy mô tương tự nhau là một bước không thể bỏqua ROS được đánh giá là chỉ số để so sánh các công ty hoạt động trong cùng ngành
và lý tưởng nhất là những công ty có mô hình kinh doanh tương tự nhau Các công tytrong các ngành công nghiệp khác nhau với các mô hình kinh doanh khác nhau có biên
độ hoạt động rất khác nhau, do đó có thể dẫn đến những kết luận nhầm lẫn
Do ngành thực phẩm có những đặc trưng riêng biệt về nhu cầu vốn, quản lý chiphí và khả năng chiếm lĩnh thị trường, và mục tiêu của luận án là đánh giá mức độ hiệuquả của hoạt động kinh doanh dựa trên việc xem xét hai yếu tố về đầu ra (bao gồm LN
và doanh thu) và đầu vào (vốn) trong việc thực hiện mục tiêu “tối đa hóa giá trị tài sảncủa chủ sở hữu”, vì vậy, việc sử dụng nhóm ba chỉ số tài chính bao gồm ROE, ROC vàROS có thể đưa lại những thông tin phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án Tuynhiên, để có những đánh giá toàn diện hơn, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng thêmmột số chỉ tiêu tài chính khác để đo lường hiệu quả kinh doanh
+ Hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản ROA (return on total assets)
ROA = Tổng tài sản bình quânLợi nhuận sau thuế
Hệ số LN trên tổng tài sản còn được gọi là TSSL tổng tài sản Đây là hệ số tổngquát đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN, nó cho biết tỷ lệ sinh lợi trên việcđầu tư vào tài sản Tương tự như hệ số LN doanh thu, tỷ số này phụ thuộc rất nhiều vàoHQKD trong kỳ và đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh ROA của các DN thuộcngành dịch vụ, du lịch, tư vấn, thương mại,… thường rất cao, trong khi đó, các DNthuộc ngành chế tạo, ngành hàng không,… thường có ROA tương đối thấp
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định ROFA (Return on fixed asset)
Lợi nhuận sau thuếROFA =
Tài sản cố định bình quânMặc dù mục tiêu cuối cùng của DN là LN, nhưng để có sự đánh giá toàn diện vàchính xác, việc tính toán và phân tích tỷ suất LN trên tài sản cố định là rất cần thiết,qua đó người phân tích có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty.Thông thường, nhà quản trị mong muốn hệ số ROFA cao, vì nó thể hiện khả năng khaithác tiềm năng của vốn cố định Vì vậy, nếu DN không theo đuổi một chiến lược kinhdoanh đặc biệt thì ROFA được đánh giá là hợp lí khi lớn hơn hoặc bằng lãi suất chovay dài hạn trên thị trường trong kì hoặc tỉ suất LN đã cam kết trong dự án đầu tư tàisản dài hạn
+ Hệ số sức sức sinh lợi căn bản BEP (basic earning power)
Một hệ số khác là hệ số sức sinh lợi căn bản - BEP cũng được sử dụng để đánh
giá khả năng sinh lợi trên tổng tài sản:
Trang 34Tổng tài sản
Hệ số sức sinh lợi căn bản BEP đo lường LN trước khi trả lãi tiền vay và thuế(LN hoạt động ) sinh ra trên tổng tài sản Hệ số này được sử dụng khi so sánh khả năngsinh lợi của các công ty có thuế thu nhập DN và mức độ sử dụng nợ khác nhau
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh dựa trên giá trị thị trường
+ Tỷ suất Tobin’s Q
Nhà khoa học James Tobin của Đại học Yale là người đưa Tobin’s Q trở nênphổ biến, ông được coi là người đã tạo nên tỷ số quan trọng này Tuy nhiên, trên thực
tế, nó được đề xuất lần đầu tiên bởi nhà kinh tế Nicholas Kaldor vào năm 1966 Chính
vì vậy, một số học giả còn gọi tỷ lệ này là tỷ suất "Kaldor"
Tổng giá trị thị trường của công tyTobin’s Q =
Tổng giá trị tài sản của công ty
Về cơ bản, tỷ suất Tobin’s Q biểu hiện mối quan hệ giữa giá trị thị trường và giátrị sổ sách của DN Nói cách khác, đây là công cụ để xem xét giá trị thay thế của tài sảnhay giá trị thị trường của DN có bị định giá quá cao hay quá thấp hay không Tobin’s Qnhỏ hơn 1 khi giá trị thay thế của tổng tài sản của DN đang lớn hơn giá trị thị trườngcủa nó, chứng tỏ giá cổ phiếu của công ty đang bị đánh giá thấp, và ngược lại Đây làmột chỉ số có ảnh hưởng lớn đến quyết định rót vốn của các nhà đầu tư Theo Ross vàcác cộng sự (2010), các công ty có tỷ suất Tobin’s Q cao có nhiều lợi thế cạnh tranh sovới các DN khác Tuy nhiên, các công ty có chỉ số Tobin’s Q nhỏ hơn 1 lại có sức hútđối với các nhà đầu tư, bởi vì lợi nhuận của các công ty này đang thấp, do đó, việcthành lập một doanh nghiệp tương tự cùng ngành sẽ không hiệu quả Trong trường hợpnày, các nhà đầu tư có xu hướng mua lại cổ phần của các công ty đang hoạt động trênthị trường, làm cho giá cổ phiếu có tiềm năng tăng lên trong tương lai Ngược lại, việcmột công ty có hệ số Q lớn hơn một, cho thấy thu nhập của công ty khá tốt và giá trị thịtrường lớn hơn chi phí thay thế của công ty Tình hình này sẽ thúc đẩy các nhà đầu tưthành lập cùng một doanh nghiệp mới cùng ngành để thu được lợi nhuận cao Tìnhtrạng này dần dần làm giảm giá trị cổ phiếu của công ty và do đó, giá thị trường và hệ
số Q cũng sẽ giảm
Ngoài hệ số Tobin’s Q, các nhà kinh tế cũng quan tâm đến một số chỉ số khácnhư:
+ Hệ số giá-thu nhập PE (Price-Earnings Ratio)
Giá trị thị trường của cổ phiếu
PE =
Thu nhập trên một cổ phiếu
Hệ số PE cho ta biết nhà đầu tư mong muốn trả bao nhiêu tiền cho một đồng LNnhận được Giá trị PE cao thường được coi là công ty có tiềm năng phát triển trongtương lai Trong một số trường hợp, công ty có thể có LN sau thuế âm ( hay xảy ra vớicông ty
Trang 35mới thành lập) Do đó hệ số PE không có ý nghĩa Khi đó các nhà phân tích thường xem
xét hệ số giá-doanh thu, hệ số này được xác định bằng công thức:
Giá trị thị trường của cổ phiếu
Hệ số giá – doanh thu =
Doanh thu trên một cổ phiếu
+ Giá trị thị trường gia tăng MVA (Market value added)
Khái niệm MVA do Joel Stern và Bennet Steward (đồng sáng lập công ty SternSteward & Company) đưa ra và được ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá kết quảhoạt động của các nhà quản lý MVA và EVA cũng được một số công ty áp dụng vớinhững tên gọi khác nhau
MVA= Giá trị thị trường của vốn CSH – Giá trị ghi sổ của vốn CSHMVA thực chất là khoản chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị ghi sổ (giátrị sổ sách) của VCSH thể hiện trên bảng cân đối kế toán Hội đồng quản trị thường dựavào MVA để quyết định thưởng cho ban quản lý công ty MVA càng cao thì ban quản
lý đã làm cho các cổ đông của công ty giàu hơn lên Điều này phù hợp và đáp ứng mụctiêu tối đa hóa giá trị VCSH của nhà quản lý tài chính và quản lý công ty Cũng cần lưu
ý rằng khi thị trường chứng khoán ở trong giai đoạn đang đi lên thì giá cổ phiếu củaphần lớn các công ty cũng tăng lên, nên MVA dương chưa đánh giá được hoàn toànđầy đủ hoạt động của ban quản lý công ty
+ Giá trị kinh tế gia tăng EVA (Economic value added)
Đây là tiêu chí đánh giá kết quả thực sự của hoạt động quản lý DN Cách xácđịnh EVA khá đơn giản, nhưng việc đưa ra chỉ tiêu này là một cuộc cách mạng trongđánh giá kết quả hoạt động của DN Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mụcđầu tiên là doanh thu, sau khi trừ đi các loại chi phí, kết quả cuối cùng mà chúng taquan tâm là lãi ròng (LN sau thuế) Trong các loại chi phí trừ đi từ doanh thu để có lãiròng, trả lãi tiền vay là chi phí thích hợp được tính trong báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh Trả lãi tiền vay chính là chi phí vốn tính bằng tiền của nợ Nguồn vốn của
DN bao gồm nợ và VCSH, nhưng có một điểm hạn chế là chỉ có chi phí vốn của nợđược tính đến trong việc tính toán LN sau thuế và bỏ qua chi phí vốn của VCSH Vìvậy EVA được đưa ra nhằm bổ sung cho khiếm khuyết này
EVA được xác định theo công thức:
(1) EVA = LN sau thuế - Chi phí tính bằng tiền của VCSH
Hay EVA = LN sau thuế – re x VCSH
Với re – chi phí vốn của VCSH
Trang 36Để xác định được EVA, nhà phân tích cần biết chi phí vốn của VCSH ks Tuynhiên ks chỉ có thể ước tính bằng các phương pháp khác nhau và không thể tính chínhxác được như chi phí vốn của nợ nên không thể yêu cầu tất cả các DN đưa ra thông báo
về EVA, đặc biệt là đối với các DN chưa cổ phần hóa
Giá trị kinh tế gia tăng cũng có thể được xác định bằng hai công thức khác tươngđương:
(2) EVA = NOPAT – Chi phí tính bằng tiền của vốnTrong đó, NOPAT là LN hoạt động thuần sau thuế
(3) EVA = EBIT(1-T) – (Tổng vốn hoạt động do nhà đầu tư cung cấp x WACC)Với WACC là chi phí bình quân gia quyền của vốn
Nếu EVA dương thì LN sau thuế lớn hơn chi phí vốn cần thiết để tạo ra thunhập và hoạt động của ban quản lý đã tạo ra giá trị cho các cổ đông EVA dương sẽđảm bảo MVA cũng dương hàng năm Trong khi MVA được áp dụng cho cả công tythì EVA có thể áp dụng cho một bộ phận trong công ty cũng như toàn công ty Mặc dùcác hệ số về tỷ suất sinh lợi và các thước đo về giá trị gia tăng như MVA, EVA được
sử dụng rộng rãi để đánh giá về kết quả hoạt động của DN, cũng cần lưu ý một số vấn
đề liên quan đến các hệ số này:
-Trước hết, giá trị kinh tế gia tăng được tính cho từng kỳ hạn và dựa trên thôngtin tài chính của kỳ hiện tại Do đó, giống như các hệ số sinh lợi trên khoản đầu tư, LNkinh tế có đặc tính của một chỉ số ngắn hạn Có thể xảy ra trường hợp công ty hy sinhlợi ích dài hạn cho LN kinh tế của kỳ hiện tại
-Khi tính toán giá trị kinh tế gia tăng, các nhà kinh tế sử dụng chi phí vốn như
là một tỷ số giới hạn Nếu công ty thực hiện các hoạt động mang tính rủi ro hơn so vớicác hoạt động thông thường thì việc tính EVA sẽ không phản ánh được mức độ rủi rotăng lên và dẫn đến kết quả là phóng đại khả năng sinh lợi hiện tại
- NOPAT và chi phí vốn chỉ là giá trị được ước tính Do đó chỉ cần một sự thayđổi nhỏ trong các giả định sẽ dẫn đến kết quả thay đổi đáng kể
-Giá trị kinh tế gia tăng được tính theo đơn vị tiền là đô la hay đồng và dễ gặpphải sự sai lệch trong việc so sánh các công ty có qui mô khác nhau
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1.Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp
1.3.1.1 Tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô
DN không phải hoạt động trong môi trường chân không mà tồn tại trong mốiquan hệ tương tác qua lại với nhiều đối tượng trong nền kinh tế, vì vậy, những thông tincủa nền kinh tế cần phải được khai thác trong quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnhhưởng đến HQKD của DN Ở giai đoạn tăng trưởng, các cơ hội kinh doanh thuận lợithường được
Trang 37mở rộng Cụ thể, khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng, dẫn đến sựgia tăng trong sức tiêu thụ sản phẩm của các DN Ngoài ra, sự tăng trưởng kinh tế vĩ
mô cũng khiến cho các kênh huy động vốn trực tiếp và gián tiếp hoạt động hiệu quảhơn, tạo điều kiện cho các DN tiếp cận các nguồn vốn để tái sản xuất và mở rộng qui
mô kinh doanh, tăng doanh thu và LN Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay,
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước có thể sẽ thu hút nhiều công ty nướcngoài tham gia vào cung ứng sản phẩm, làm gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường.Trong khi đó, ở giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, các cơ hội kinh doanh thường bịthu hẹp do ảnh hưởng của sự thắt chặt chi tiêu và sự co hẹp trong VĐT do tích lũy củacác cá nhân, hộ gia đình và tổ chức kinh tế giảm Điều này khiến cho doanh thu và LNcủa các DN nói chung, và DN ngành thực phẩm nói riêng có xu hướng giảm sút nhanhchóng và tình hình tài chính của các DN thường trở nên khó khăn hơn Tuy nhiên, sựsuy thoái kinh tế lại có thể khiến cho giá cả nguyên vật liệu đầu vào và chi phí nhâncông rẻ hơn, sự cạnh tranh bớt gay gắt hơn, được Chính phủ hỗ trợ nhiều hơn, dẫn đếnnhững cải thiện tích cực cho HQKD Như vậy, sự tác động của yếu tố tăng trưởng kinh
tế vĩ mô cần được xem xét dưới nhiều góc độ, để từ đó, các DN có thể có những biệnpháp phù hợp để nâng cao HQKD của công ty
1.3.1.2 Lạm phát
Lạm phát là một biến số của kinh tế vĩ mô có khả năng làm thay đổi giá cả củatất cả các hàng hóa, dịch vụ, vì vậy, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến HQKD của mọi DN.Trong thực tế, tác động của lạm phát tới các DN có cả mặt tích cực và tiêu cực Mộtmặt, khi lạm phát được duy trì ở mức độ vừa phải (thường ở mức một con số), nó chính
là một yếu tố kích thích tái sản xuất và mở rộng Hai nhà kinh tế học Mundell(1963) vàTobin (1965) đã chỉ ra rằng, lạm phát khiến cho con người hạn chế giữ tiền mặt, thayvào đó, họ đổ tiền vào các tài sản sinh lợi Điều này làm gia tăng tích lũy vốn trong nềnkinh tế và thúc đẩy cho kinh tế phát triển Đây là một điều kiện giúp cho các DN có thểcải thiện HQKD
Tuy nhiên, khi lạm phát ở mức từ hai con số trở lên, tác động tích cực của nó sẽdần biến mất và bị thay thế bởi những ảnh hưởng tiêu cực Khi đó, sức mua của đồngtiền bị giảm sút nghiêm trọng, khiến cho chi phí sản xuất tăng, làm tăng giá cả hànghóa đầu vào dẫn đến sự suy giảm trong sức tiêu thụ của sản phẩm đầu ra Bên cạnh đó,
tỷ lệ lạm phát cao có thể kéo theo sự gia tăng trong lãi suất cho vay, khiến các công tykhông tiếp cận được nguồn vốn, hoặc phải chấp nhận một gánh nặng trả lãi lớn Đâythực sự là một khó khăn đối với các công ty phụ thuộc khá nhiều vào nguồn vay nợngắn hạn Nghiêm trọng hơn, tỷ lệ lạm phát cao có thể dẫn tới nguy cơ các công tykhông bảo toàn được vốn kinh doanh, gây ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triểncủa DN Trong
Trang 38bối cảnh đó, các DN thường phải cần phải có những chính sách phù hợp để chống đỡlại tác động tiêu cực của lạm phát.
Tóm lại, lạm phát là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều hoạt động củacác DN nói chung, và DN ngành thực phẩm nói riêng, vì vậy, việc đánh giá chiềuhướng và mức độ tác động của yếu tố này đến HQKD của DN là cần thiết Đây chính
là cơ sở để các nhà quản lý có thể lựa chọn các giải pháp phù hợp trong trường hợp lạmphát xảy ra, qua đó cải thiện tình hình kinh doanh của công ty
1.3.1.3 Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Đây là yếu tố liên quan đến lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp Trong quátrình hoạt động, khi các DN tạo được lợi thế cạnh tranh, HQKD của các DN có thểđược cải thiện nhanh chóng Lợi thế cạnh tranh có thể được tạo nên từ những quyếtđịnh đúng đắn, mà theo định nghĩa của các nhà khoa học, đây được xem như một trongcác nội dung của chiến lược cạnh tranh Porter’s (1985) định nghĩa chiến lược cạnhtranh là việc tìm kiếm một vị trí cạnh tranh thuận lợi trong một ngành, nhằm thiết lậpmột vị trí có lợi và bền vững trước các đối thủ kinh doanh, qua đó tạo nên lợi thế cạnhtranh cho DN Theo ông, có ba chiến lược chung khả thi dựa trên lợi thế cạnh tranh:khác biệt hóa sản phẩm với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh thông qua chất lượng sảnphẩm vượt trội; dịch vụ khách hàng hoặc hình ảnh; dẫn đầu về chi phí tổng thể trongngành; và tập trung vào một nhóm người mua, vị trí địa lý hoặc phân khúc thị trường
cụ thể
Đối với các DN ngành thực phẩm, việc lựa chọn tiêu chuẩn về vệ sinh an toànthực phẩm là một trong các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cho công ty Theo kháiniệm này, khi các DN chọn một trong các hệ thống tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm,
họ sẽ phải xét đến mức độ phù hợp của những tiêu chuẩn này với chiến lược kinhdoanh và khả năng đáp ứng của công ty, qua đó giúp cho công ty đạt hiệu quả kinh
doanh tốt nhất
Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề rất được quan tâm hiện nay, đặc biệt là khi
đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng và lâu dài đến sứckhỏe của người tiêu dùng và dễ mang đến những bệnh tật nguy hiểm về lâu dài Chính
vì vậy, đối với các DN thực phẩm, các quy định về an toàn thực phẩm có ảnh hưởng rấtlớn đến HQKD trong ngắn hạn và dài hạn của DN
Một mặt, các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm khiến cho các DN tốnnhiều chi phí hơn Mỗi loại chứng chỉ sẽ có những quy định về mức độ an toàn thựcphẩm khác nhau Như vậy, khi mức độ vệ sinh thực phẩm càng cao, chi phí đầu vào sẽcàng tốn kém, dẫn tới giá thành sản phẩm tăng lên Vì thu nhập của các DN trong lĩnhvực chế biến thực phẩm chịu sự ảnh hưởng lớn từ thu nhập của người mua hàng, nêntrong ngắn hạn, vấn đề này có thể làm giảm sức tiêu thụ sản phẩm, giảm khả năng cạnhtranh với các đơn vị sản xuất nhỏ lẻ, khó lòng chiếm lĩnh thị trường ở các vùng có thunhập thấp
Trang 39Tuy nhiên, việc tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm lạikhiến cho các DN có cơ hội phát triển lâu dài Vì doanh thu của các DN trong lĩnh vựcchế biến thực phẩm bị tác động bởi sở thích của người tiêu dùng, nên các chứng chỉ antoàn vệ sinh thực phẩm uy tín có thể giúp DN chiếm được niềm tin của người mua, qua
đó làm tăng khả năng cạnh tranh với các công ty khác Ngoài ra, với xu thế toàn cầuhóa, sự mở rộng thị phần sang các quốc gia phát triển là một hướng đi được nhiều DNlựa Khi đó, các chứng chỉ uy tín chính là điều kiện tiên quyết giúp cho DN có thể xuấtkhẩu hàng hóa một cách thuận lợi
Như vậy, các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm có cả ảnh hưởng tích cực
và tiêu cực đến HQKD của DN Chính vì thế, việc lựa chọn hệ thống tiêu chuẩn đánhgiá về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cần được quyết định dựa trên việc xem xét vấn
Thị trường tiêu thụ sản phẩm
HQKD của các DN nói chung và các DN ngành thực phẩm nói riêng chịu sự tácđộng lớn của thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và nước ngoài Khi thị trườngtiêu thụ sản phẩm được mở rộng, các DN có thể tăng doanh thu, từ đó cải thiện HQKDcủa công ty Bên cạnh đó, yếu tố này có thể hạn chế sự phụ thuộc của các DN vào thunhập và sở thích của người tiêu dùng bằng cách cung ứng sản phẩm cho các thị trườngkhác nhau
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế (hệ thống giao thông, hệ thống liên lạc, viễnthông, điện, nước…) có ảnh hưởng trực tiếp đến HQKD của DN nói chung và các DNngành thực phẩm nói riêng Bởi vì nhiều DN, đặc biệt là các DN ngành thực phẩm,thường được đặt tại các vùng ngoại ô, nông thôn, nên cơ sở hạ tầng giao thông, hệthống liên lạc, viễn thông phát triển thì lưu thông hàng hóa sẽ thuận tiện, là điều kiện
để tiết kiệm chi phí trong quá trình kinh doanh, và ngược lại
Lãi suất tín dụng
Lãi suất tín dụng là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động tài chính của các DNnói chung và các DN ngành thực phẩm nói riêng, bởi vì các DN phụ thuộc khá nhiềuvào
Trang 40nguồn vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy,trong công tác huy động vốn, DN luôn phải cân nhắc tới yếu tố lãi suất trước khi đưa raquyết định và xu hướng chung là khi lãi suất tăng sẽ tác động làm giảm cầu đầu tư của
DN và ngược lại Mặt khác, lãi suất tăng cao còn có tác động giảm cầu tiêu dùng của xãhội do xu hướng tăng tiết kiệm và giảm tiêu dùng trong phân bổ thu nhập cá nhân, từ
đó hoạt động kinh doanh của DN cũng bị ảnh hưởng
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với DN
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước như chính sách thuế, chính sáchkhuyến khích đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu, quy chế về quản lý và khấu hao tàisản cố định,… thể hiện sự định hướng của Nhà nước đối với DN Tài chính DN cầnxem xét đến yếu tố này để tận dụng được các lợi thế từ chính sách và luôn tuân thủpháp luật
Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Để đáp ứng nhu cầu về vớn nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh, hoạt động của
DN phải gắn liền với thị trường tài chính Khi thị trường tài chính phát triển, các kênhhuy động vốn sẽ đa dạng hơn DN sẽ có nhiều lựa chọn về công cụ và hình thức huyđộng vốn
1.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Ngoài các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, các yếu tố thuộc môi trường bêntrong DN như: các quy định trong nội bộ DN, trình độ công nghệ kinh doanh của DN,văn hóa DN, quan điểm, thái độ, phong cách lãnh đạo của cán bộ quản lý, ý thức tráchnhiệm của người lao động… cũng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính DN
1.3.2.1 Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp
Kennedy & McMullen (1973) mô tả sức mạnh tài chính là “khả năng một công
ty đáp ứng các yêu cầu của các chủ nợ không chỉ trong các điều kiện kinh tế và kinhdoanh hiện tại, mà còn trong các tình huống bất lợi có thể xảy ra trong tương lai” Vấn
đề sức mạnh tài chính (Financial Strength) hay sức khỏe tài chính (Financial Health)của DN được nhiều nhà nghiên cứu khái quát về một số vấn đề quan trọng sau đây:
-Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và nhu cầu tiêu dùng
-Khả năng hoạt động để đảm bảo khả năng tồn tại của DN khi xảy ra nhữngbiến cố bất lợi
-Khả năng đáp ứng các mục tiêu dài hạn, duy trì hoặc cải thiện mức độ giàu cócủa các chủ sở hữu
Ba yếu tố trên phản ánh các chức năng cốt lõi của tài chính trong việc huy động,phân phối và kiểm soát các nguồn lực theo thời gian, không gian và đối tượng sử dụng,qua đó hạn chế các rủi ro có thể xảy ra với DN như rủi ro thanh toán, rủi ro phá sản,…Sức mạnh tài chính được đánh giá là yếu tố quan trọng nhất để giúp cho hoạt động kinh