BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ VÂN TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC
MÃ SỐ: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường – Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo PGS.TS Lê Văn Năm và PGS.TS Nguyễn Điểu đã dành nhiều
thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học trường ĐH Vinh và ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệu các trường THPT Bỉm Sơn, THPT Lê Hồng Phong và THPT Hà Trung, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tp Vinh, tháng 02 năm 2012
Nguyễn Thị Vân
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC ……… 1
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ……… 4
PHẦN I MỞ ĐẦU ………… 5
PHẦN II NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC 9
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Trên thế giới ……… 9
1.1.2 Trong nước ……… 10
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 11
1.2.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 12
Trang 41.2.2.2 Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học 12
1.2.2.3 Tiếp cận kiến tạo trong dạy học 13
1.3 Năng lực tự học ……… 13
1.3.1 Khái niệm về tự học ……… 13
1.3.2 Vai trò về việc tự học của HS ……….14
1.3.3 Khái niệm năng lực tự học ……… 14
1.3.4 Các mức độ của năng lực tự học ………15
1.3.5 Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng cho HS THPT ……… 16
1.3.6 Tự học có hướng dẫn ………… 16
1.3.6.1 Tự học có hướng dẫn ………… 16
1.3.6.2 Phương pháp dạy tự học có hướng dẫn ……… 18
1.4 Bài tập hoá học ……… 19
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học ……… 19
1.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học ……… 20
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học ……… 21
1.4.4 Tiến trình giải một bài tập hoá học ………….. 22
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay ………… 23
1.4.6 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH với tài liệu tự học có hướng dẫn ……… 23
1.4.6.1 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH 23
1.4.6.2 Ý nghĩa của tài liệu TH có hướng dẫn đối với việc học tập của HS …… 25
1.5 Tình hình sử dụng BTHH để phát triển NLTH cho HS THPT hiện nay 25
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra 25
1.5.2 Kết quả điều tra thực tiễn việc sử dụng BTHH để BD NLTH ở các trường THPT hiện nay 26
1.5.2.1 Việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh của GV 26
1.5.2.2 Việc tự học của học sinh qua bài tập hoá học 26
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29
2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới và tuyển chọn bài tập bồi dưỡng NLTH 29
2.1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới 29
2.1.2 Nguyên tắc tuyển chọn bài tập bồi dưỡng NLTH cho HS 29
2.2 Một số biện pháp sử dụng BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH 30 2.2.1 Sử dụng BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi nghiên cứu
Trang 5kiến thức mới 30
2.2.2 Sử dụng BTHH theo hướng BD NLTH cho HS khi vận dụng, củng cố 31
2.2.3 Sử dụng BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi tự học ở nhà 31
2.2.4 Sử dụng BTHH theo hướng BD NLTH cho HS khi kiểm tra đánh giá TH 32
2.3 Bài tập dùng để rèn một số năng lực trong việc BD NLTH cho HS 33
2.3.1 Bài tập bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập 33
2.3.2 Bài tập bồi dưỡng năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề ……… 37
2.3.3 Bài tập bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo 40
2.3.4 Dùng bài tập để rèn luyện năng lực suy luận và khái quát hoá 44
2.3.5 Dùng bài tập để rèn luyện năng lực tổng hợp kiến thức 47
2.4 Một số phương pháp giải bài tập về kim loại 52
2.4.1 Bài toán về xác định tên kim loại 52
2.4.2 Bài toán về KL tác dụng với nước, KL tác dụng với dung dịch kiềm 54
2.4.3 Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch axit ……… 56
2.4.4 Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch muối 62
2.4.5 Bài tập về kim loại tác dụng với oxit kim loại 66
2.4.6 Bài toán về điện phân 69
2.4.7 Bài toán giải bằng phương pháp kinh điển 74
2.5 Hệ thống BT phần kim loại dùng để bồi dưỡng NLTH cho HS THPT 75
2.5.1 Bài tập Đại cương về kim loại ……… 76
2.5.1.1 Bài tập hướng dẫn học sinh tự học lý thuyết ……….76
2.5.1.2 Bài tập có hướng dẫn 76
2.6.1.3 Bài tập không có hướng dẫn 80
2.5.1.4 Bài tập tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 82
2.6 Phương pháp sử dụng hệ thống BT phần KL để bồi dưỡng NLTH cho học sinh THPT 87
Tiểu kết chương 2 89
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……… 90
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ……… 90
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ……… 90
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm ……… 90
3.4 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm ……… 90
3.4.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ……… 90
3.4.2 Thời gian thực nghiệm ……… 91
Trang 6Tiểu kết chương 3 ……… 98
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 99
1 Kết luận ……… .99
2 Kiến nghị ……… .100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….101
PHỤ LỤC 1: HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI DÙNG ĐỂ BỒI DƯỠNG
NLTH CHO HỌC SINH THPT……… P1 PHỤ LỤC 2: TÓM TẮT LÍ THUYẾT PHẦN KIM LOẠI ……… P45
PHỤ LỤC 3: ĐÁP ÁN HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP BỒI DƯỠNG NLTH … P84
PHỤ LỤC 5: ĐIỀU TRA THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
8 đktc điều kiện tiêu chuẩn
Trang 8PHẦN I MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm gắn liền với tư tưởng dânchủ hoá giáo dục mà thực chất là phát huy mọi tiềm năng của người học, xoá bỏ tưtưởng giáo điều, áp đặt trong dạy học Vấn đề phát huy tích cực, tự lực chủ độngcủa học sinh, đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngànhgiáo dục từ những năm 1960 Khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó
Cùng với sự tiến bộ mạnh mẽ của các ngành khoa học cơ bản, khoa học côngnghệ, lí luận dạy học trong khoa học giáo dục cũng có những bước phát triển đáng
kể trong mấy thập kỷ trở lại đây Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước(2000 – 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu bằng cạnh tranh trí tuệ đòi hỏiđổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học
Luật giáo dục năm 2005 Chương I Điều 5 về phương pháp giáo dục nêu rõ: “
Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo củangười học, bồi dưỡng người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mêhọc tập và ý trí vươn lên” Ngoài ra, phải chú trọng các điều kiện chuẩn hoá nângcao chất lượng và hiệu quả giáo dục Để làm được điều đó cần thiết phải đổi mớiphương pháp dạy học và cách thức kiểm tra kết quả giáo dục đối với các môn học ởmỗi lớp, mỗi cấp học Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới họctập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, thường xuyên tự học ở mọi điềukiện
Trong xã hội hiện đại, khi khoa học phát triển mạnh mẽ, sự bùng nổ của cáchmạng thông tin đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung và quá trìnhdạy học nói riêng Trong hoàn cảnh như vậy, giáo dục ý thức tự lực, tự học mộtcách thường xuyên, có kế hoạch và phương pháp đúng đắn khoa học cho học sinh làmột nhiệm vụ bắt buộc và là trách nhiệm nặng nề của người thầy Chỉ có dạy cáchhọc, cách tự học, tự học sáng tạo, học một biết mười, học đi đôi với hành, … mớiđáp ứng được yêu cầu cao của sự phát triển xã hội đòi hỏi một nguồn nhân lực chấtlượng cao
Trang 9Trong quá trình dạy học, một trong những phương tiện tổ chức hoạt động tựlực học tập, phát huy tính tích cực của học sinh là sử dụng nguồn bài tập để giúphọc sinh có thể dễ dàng trong việc tự học, tự đọc, tự kiểm tra đánh giá kết quả họctập Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo được lưuhành cùng với sự phổ biến rộng của mạng Internet đã cung cấp cho học sinh nguồntài liệu đa dạng và phong phú Chính điều đó đã gây khó khăn cho học sinh khi phảilựa chọn, phân loại tài liệu để tham khảo, nghiên cứu và sử dụng Ngoài ra, một sốgiáo viên mới chỉ dạy học để giải bài tập mà chưa dạy học bằng giải bài tập hoáhọc
Do đó, muốn nâng cao hiệu quả dạy học, mỗi giáo viên cần phải xây dựng vàlựa chọn hệ thống bài tập hoá học, tìm ra phương pháp giải nhanh và sử dụng chúngsao cho phù hợp với đặc điểm của từng kiểu bài lên lớp để củng cố hoàn thiện, nângcao kiến thức nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất
lượng dạy học, chúng tôi chọn đề tài: “ TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng, lựa chọn các dạng bài tập phần kim loại nhằm bồi dưỡng nănglực tự học cho học sinh THPT và đề xuất cách sử dụng
III GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trong quá trình dạy học, nếu chúng ta tuyển chọn, xây dựng được hệ thốngbài tập phần kim loại với phương pháp sử dụng phù hợp, phối hợp chặt chẽ các hìnhthức tổ chức dạy học hoá học sẽ có tác dụng rèn luyện cho HS NLTH hiện tại vàsau này, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
IV KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
IV.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học nói chung và quá trình bồi dưỡng NLTH cho học sinh nóiriêng ở trường THPT
IV.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 10- Phương pháp sử dụng các bài tập trong việc bồi dưỡng NLTH môn hoáhọc.
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài
2 Nghiên cứu chương trình hoá học THPT nâng cao đi sâu vào nội dungphần kim loại
3 Tìm hiểu thực trạng NLTH của học sinh qua hệ thống bài tập phần kimloại
4 Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại nhằm bồi dưỡng nănglực tự học hoá học cho học sinh lớp 12 trường THPT
5 Thực nghiệm sư phạm nhằm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập vàphương pháp sử dụng đã đề xuất
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VI.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đàotạo có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình SGK hoá học 12 nâng cao,phần vô cơ hoá học lớp 10, 11 nâng cao, hệ thống các bài tập tham khảo có liênquan đến phần kim loại
VI.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn để:
- Thăm dò về thực trạng tổ chức hoạt động tự học của học sinh hiện nay
- Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp giảng dạy bộ môn hoá học về biệnpháp hướng dẫn HS tự học
- Tìm hiểu tình hình và khả năngtự học của học sinh thông qua bài tập
VI.3 Thực nghiệm sư phạm
Mục đích: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu
quả của các nội dung và phương pháp đã đề xuất
Phương pháp: Đưa vào áp dụng thử ở một số trường THPT
VI.4 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí kết quả thực nghiệm bằng thống kê toán học
Trang 11VII NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Tuyển chọn, xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp phần kim loại đểdùng cho việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh THPT
- Nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tácbồi dưỡng NLTH từ hệ thống bài tập đã đề xuất
- Xác định được năng lực tự học cần có ở học sinh và tiêu chí đánh giá
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu [32]
1.1.1 Trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như Khổng
Tử, Mạnh Tử đã có những tư tưởng trong dạy học là phải quan ta đến việc kíchthích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứ không nên nhắm mắtlàm theo sách
Thế kỷ thứ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà giáo dục nổi tiếng nhưComenski, J.J Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra biện pháp DHhướng học sinh tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức.Những quan điểm này chỉ rõ: Không nên cho học sinh kiến thức có sẵn mà cần chohọc sinh phải tự phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thần độc lập trong quan sát, đàmthoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc tổ chức cho học sinh học tập theohướng tích cực hoá đã hình thành và phát triển những quan điểm, công trình nghiêncứu có quy mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ Nhiều nhà giáo dục ở các nước trênthế giới đã thấy rằng việc dạy học phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi,phát huy sáng tạo của học sinh, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn
Tác giả V.P Xtơrozicozin trong tác phẩm: “Tổ chức quá trình DH trongtrường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai trò của họcsinh trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chức tự học,những nguyên tắc, điều kiện đảm bảo cho tự học có hiệu quả
Các thông tư chỉ thị của Bộ Giáo dục Pháp suốt những năm 1970 – 1980 đềukhuyến khích tăng cường vai trò chủ động tích cực của học sinh, chỉ đạo áp dụngphương pháp tích cực từ bậc sơ học, tiểu học đến trung học
Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hoá ra đời trong những năm 1970 đã đượcthử nghiệm tại gần 200 trường GV xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướngdẫn để học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực
Trang 13Từ năm 1990, ở Mỹ việc rèn luyện: “Kĩ năng đọc nghiên cứu” đã trở thànhmột trong những nhiệm vụ đào tạo cực kì quan trong trong nhà trường Trong các kìnghỉ hè và công tác hỗ trợ học tập, người ta thường thành lập rất nhiều trung tâm
“Kĩ năng đọc nghiên cứu” đã giúp học sinh được học tập nhiều cách thức đọc khácnhau, là nền tảng để phát triển việc đọc có tính nghiên cứu thông qua việc đọc đúng,đọc làm nổi bật từng cấp độ ý nghĩa
1.1.2 Trong nước
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (ngày 01 tháng 01năm 1979) đã viết: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phươngpháp tự học cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luậnchuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học”
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm: “Học và dạy cách học” đã đềcập đến vai trò của người học, người dạy, mô hình tự học Từ năm 1977 – 1987,dưới sự chủ trì của ông, tập thể các nhà khoa học đã nghiên cứu và triển khaichương trình: “Tự học có hướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổthông”
Tác giả Nguyễn Kì với: “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã
đề ra nguyên tắc và các bước tổ chức học sinh tự học
Ngoài ra có rất nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả gần đây cũngnghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập nhằm bồi dưỡng NLTH cho học sinhTHPT ở những môn học khác nhau
Trong tất cả các nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: Cần phảiđưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiệnquan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.Đồng thời đã đưa ra nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng bài tập nóichung và bài tập bồi dưỡng NLTH nói riêng Các thành công này của các tác giả sẽđược chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này
Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức sử dụng các dạng bài tập ởphần kim loại lớp 12 để rèn NLTH cho học chưa nghiên cứu nhiều Do đó, để đi sâuvào nghiên cứu lí luận và đưa ra các biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn luyện cho
Trang 14học sinh tự học môn hoá học là hết sức cần thiết, đặc biệt là phần dạy học sinh phầnkim loại hoá học lớp 12 hiện nay.
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học [1], [2], [8], [13], [14], [15], [19], [26]
1.2.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Chiến lược phát triển giáo dục (2001- 2020) đã chỉ rõ: Một trong những giảipháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục: “Đổi mới vàhiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động: thầygiảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận trithức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệthống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân,tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh…”
Như chúng ta đã biết: Sự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đờicủa mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau;
đó cũng là giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học,khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được
mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học Vì vậy cuộc vận động tích cực, có kếhoạch và phương pháp, kiên trì và khẩn trương, thường xuyên và rộng khắp nhằmtừng bước chuyển đổi từ lối "dạy học thụ động , truyền thụ một chiều, thầy dạy tròghi nhớ" phổ biến hiện nay thành " thầy dạy - trò tự học" tạo ra năng lực tự học chohọc sinh cùng phong trào toàn dân tự học, tự đào tạo mang lại chất lượng đích thực
và phát triển tài năng của mỗi con người
Để thực hiện các yêu cầu trên không có con đường nào khác là ngoài việctruyền đạt kiến thức, người thầy phải khơi dậy và phát triển tối đa năng lực tự học,
tự sáng tạo của học sinh
Hiện nay, trong dạy học việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thìngười học giữ vai trò chủ động tích cực trong học tập và không còn ở thế thụ độngnhư trước đây Hay nói cách khác “thầy giáo không còn là người truyền đạt kiếnthức sẵn có mà là người định hướng, tổ chức cho học sinh tự khám phá, tự tìm ra trithức” Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp dạy học coi trọngviệc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, học sinh tự chịu trách nhiệm vềkết quả học tập của mình, tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Trang 151.2.2 Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay
Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH chú trọng đến việcphát huy tính tích cực chủ động của HS coi HS là chủ thể của quá trình dạy học.Phát huy tính tích cực học tập của HS là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệuquả của quá trình dạy học Nguyên tắc được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trênthế giới và được xác định là một trong những phương pháp cải cách giáo dục phổthông Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyêntắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và đượccoi là phương pháp dạy học tích cực
1.2.2.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chútrọng đến người học để tìm ra những PPDH hiệu quả Dạy học lấy HS làm trungtâm, đặt vị trí của người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trìnhdạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học Do vậy, vai trò tíchcực chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy Người GV đóng vaitrò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thứccác tiềm năng của mỗi HS giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống
1.2.2.2 Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết vấn đềdạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người học, hình thànhcông nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệthông tin trong quá trình dạy học Trong dạy học hoá học cần sử dụng các biện pháphoạt động hoá người học như sau:
- Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo các hình thức hoạt động đa dạng, phongphú của HS trong giờ học:
+ Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan,phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học
+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HSnhư: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm,… giúp
Trang 16- Tăng cường hoạt động của HS trong giờ học Hoạt động của giáo viên chú trọngđến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và tư duy của HS khi giảiquyết các vấn đề học tập thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm GVcần động viên HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt độngnhận thức thụ động.
- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của HS thông qua việc lực chọn nộidung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận, vận dụng kiến thứcmột cách sáng tạo
1.2.2.3 Tiếp cận kiến tạo trong dạy học
Theo lí thuyết kiến tạo, một số nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã đưa ra cácchiến lược dạy học chính là cần tạo mọi điều kiện, hỗ trợ các điều kiện học tập đảmbảo cho người học: học được cách lập luận, suy luận phản hồi và cách giải quyếtvấn đề; có kĩ năng ghi nhớ, hiểu thấu vấn đề và biết cách sử dụng kiến thức đó; có
sự linh hoạt trong nhận thức; tự biết điều chỉnh hoạt động nhận thức để đạt hiệu quảtối đa, biết thể hiện, phản ánh sự quan tâm và linh hoạt trong nhận thức của mình
1.3 Năng lực tự học [3], [7], [30], [32]
1.3.1 Khái niệm về tự học
Có nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
+ Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp…) và có khi cả cơbắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trìu tượng, khách quan, có trí tiến thủ,không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnhmột lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu củamình”
+ Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công táchọc tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chấtlượng đào tạo”
Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong giáo dục ở nhà trường vàtrong cả cuộc sống của người học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện
Trang 17khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơhội cho họ học học tập suốt đời.
1.3.2 Vai trò về việc tự học của HS
Năng lực tự học của HS có 4 vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thứctrong tình huống học
+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhậnthức qua các tình huống học
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử líthông tin từ môi trường xung quanh mình
+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chínhmình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với bạn trong cộng đồng lớp họcdưới sự hướng dẫn của giáo viên – Xã hội hoá lớp học
1.3.3 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả năng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đểchiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sởhữu của mình
NLTH được hiểu là khả năng học sinh tự khám phá được kiến thức, kĩ năngtheo mục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Kết quả tự học là cao hay là thấp là phụ thuộc vào NLTH của mỗi cá nhân.Mỗi người đều có một cách học khác nhau Cách học ở đây là tác động của ngườihọc đến đối tượng học Có 2 cách học cơ bản:
+ Dựa theo mô hình của Pavlop: Cách học do người học áp đặt, có phần thụđộng
+ Dựa theo mô hình Skinner: Người học tự mò mẫm, tự lựa chọn cách học, tựmình tìm kiếm ra kiến thức, là cách học chủ động theo cách thử đúng, sai
Có thể nói học là cách học, học phương pháp học chính là học cách tự họcbằng NLTH của mình NLTH luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, là nội lực pháttriển bản thân của mỗi người học Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí
Trang 18thông tin và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khácnhau, nghĩa là nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học.
b) Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài haylàm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổthông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kếtquả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
c) Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảnggiải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, khôngnhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng khôngđánh giá được kết quả học tập của mình
d) Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cáchxây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫncách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềmtrên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn vàkhông biết hỏi ai
e) Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sửdụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vìthiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH
có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được nhữngnhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS giỏi hoá học
Trang 19chúng tôi đề xuất một hình thức tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trựctiếp một phần của GV có thể gọi là "tự học có hướng dẫn qua bài tập hoá học".
1.3.5 Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng cho HS THPT
Để học giỏi môn hoá học, học sinh THPT cần có kiến thức hoá học cơ bảnvững vàng, sâu sắc và hệ thống Bên cạnh đó không thể thiếu năng lực tư duy sángtạo, kĩ năng thực hành tốt và phương pháp nghiên cứu khoa học Tất cả những điểm
đó thể hiện ở một số năng lực sau:
a) Năng lực tiếp thu kiến thức: Đó là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, cóhứng thú nhất là trong những bài, vấn đề mới
b) Năng lực suy luận logic: Là khả năng phân tích sự vật hiện tượng, vấn đềqua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ các điều kiện
và còn biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới
c) Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các thao tác
để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả theo nhiều cách khác nhaunhằm tìm ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻonhững kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theođường mòn
d) Năng lực kiểm chứng: Biết suy xét đúng - sai từ một loạt sự kiện, tạo racác sự tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kết luậnsau kiểm nghiệm
e) Năng lực thực hành: Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm nên họcsinh giỏi hoá học cần có khả năng về thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm hoá học:Biết sử dụng thành thạo các hệ thống kí hiệu, quy ước, trật tự hoá học; biết thựchiện các thao tác trong khi làm thí nghiệm, kiên trì trong quá trình thí nghiệm nhằmlàm sáng tỏ vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm
1.3.6 Tự học có hướng dẫn
1.3.6.1 Tự học có hướng dẫn
- Học sinh muốn học tập có hiệu quả cần phải tự học Nhưng không thể để cho họcsinh tự mò mẫm để rút ra cách tự học mà cần phải nghiên cứu cách hướng dẫn chohọc sinh và tạo ra những điều kiện để học sinh có thể thực hiện thành công hoạt
Trang 20- Hướng dẫn việc tự học là chỉ cho người học cách thức để chiếm lĩnh tri thức mộtcách có hiệu quả, sáng tạo đồng thời hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng lực củabản thân Qua đó tự mỗi học sinh sẽ có những điều chỉnh phù hợp với việc học tậpcủa mình
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảmbảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhậnthức của HS
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài
và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự pháttriển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS.Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong tự học có hướngdẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: Từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ
- Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy địnhcủa Bộ Giáo dục - Đào tạo, môn hoá học trong các trường THPT có thời gian từ 2-3tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu để
HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thờigian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những
kĩ năng tự học cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụđộng, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu nhưkhông có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự
Trang 21tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung đểthực hiện một loại hoạt động nào đó, thí dụ: nghiên cứu một định luật hóa học phảilàm những gì? Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp vàluôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dànhthời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thôngqua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,
tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tớinhững mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạtđộng học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp,
bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện,phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kếtquả hoạt động tự học của chính mình
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS đểchiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chươngtrình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua cácphương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điệntử, HS có thể không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tựhọc Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phươngpháp học nội dung kiến thức đó
1.3.6.2 Phương pháp dạy tự học có hướng dẫn
- Hướng dẫn HS tại lớp (tự học từng phần của tài liệu tại lớp dưới sự hướng dẫncủa GV là giai đoạn trung gian sau đó tự học tại nhà)
- Hình thành ở HS kĩ năng tự học từ thấp lên cao, tự học từng phần cho đến tự họchoàn toàn
- GV thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học
và giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của HS khi cần thiết
- Sử dụng phương pháp "dạy tự học có hướng dẫn" để dạy học sinh tự học
Mục đích của phương pháp này là tạo điều kiện cho HS tự học được dễ dàng
và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV để tranh thủ sự hướng
Trang 22rèn luyện năng lực Như vậy, nội dung của phương pháp "dạy tự học có hướng dẫn"
sẽ bao gồm hoạt động của GV và HS:
- GV biên soạn "tài liệu tự học có hướng dẫn", hướng dẫn HS cách sử dụng tàiliệu HS theo hướng dẫn trong tài liệu mà tự lực hình thành kiến thức, kĩ năng,
- GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học, đánhgiá kết quả, điều chỉnh kế hoạch
Như vậy, trong cách dạy học này có hai kiểu hướng dẫn được phối hợp vớinhau:
- Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ dẫn về kế hoạch, vềphương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin nhằm định hướng cho HS
có thể tự lực thực hiện các hành động học một cách có ý thức, có phương hướng rõràng
- Hướng dẫn ngay tại lớp những loại hoạt động cụ thể để rèn luyện kĩ năng tự học
GV theo dõi giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh ngay tại lớp
1.4 Bài tập hoá học [24], [27], [29]
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học
- Theo từ điển tiếng Việt: Bài tập là yêu cầu của chương trình cho học sinh làm đểvận dụng những vấn đề đã học và cần giải quyết vấn đề bằng PP khoa học
- Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi lý thuyết
và bài toán mà trong khi hoàn thành chúng học sinh vừa nắm được vừa hoàn thiệntri thức hay kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo thựcnghiệm Ở nước ta, sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ "bài tập" đượcdùng theo quan điểm này
- Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hoá học trong quátrình dạy học, người giáo viên phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và
lý thuyết hoạt động Một học sinh lớp 1 không thể xem bài toán thuộc chương trìnhlớp 12 là "bài tập" và ngược lại, đối với học sinh lớp 12, bài tập thuộc chương trìnhlớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó trở thành đốitượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đốitượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một "người giải" Vì vậy, bài tập và người
Trang 23học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệchặt chẽ với nhau: Bài tập - đối tượng; Người giải - chủ thể
Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ,tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu Người giải baogồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách biến đổi, thao tác trí tuệ…)
Thông thường trong sách giáo khoa và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người
ta hiểu bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đíchchủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tưduy hoá học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập:
BÀI TẬP
Những yêu cầu
HỆ GIẢI
Phép giải
Phương tiện giải
1.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học
- Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạyhọc sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tậpnghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiếnthức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.AĐanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vậndụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vậndụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
Những điều kiện giải
Trang 24- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh như: Kĩ năng viết và cân bằng phươngtrình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ năngthực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,…
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh (học sinh có hiểusâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt ngoài cách giảithông thường còn có cách giải độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo Thôngthường nên yêu cầu học sinh giải bằng nhiều cách: có thể tìm ra cách giải ngắn nhất,hay nhất, đó là cách rèn luyện tư duy thông minh cho học sinh Khi giải bài toánbằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau, khả năng tư duy của học sinh tăng lêngấp nhiều lần so với việc học sinh giải nhiều bài toán bằng một cách và không phântích đến nơi đến chốn
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới(hình thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp học sinh tíchcực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõkhi học sinh làm bài tập thực nghiệm định lượng
- Bài tập hoá học phát huy tính tính cực, tự lực của học sinh và hình thành phươngpháp học tập hợp lý
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinhmột cách hiệu quả
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiên trì,trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổchức, kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khigiải bài tập thực nghiệm
Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả: Không phải một bài tậphoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sửdụng nó" Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt
để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tậphoá học thật sự có ý nghĩa
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau:
+ Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao)
Trang 25+ Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng)
+ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh (lý thuyết, thực nghiệm)
+ Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
+ Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận)
+ Dưạ vào kĩ năng, phương pháp giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổnghợp chất, xác định cấu trúc, )
+ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học,nhiệt hoá học, phản ứng ôxi hoá - khử,…)
+ Dựa vào năng lực của học sinh (năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề,năng lực vận dụng vào thực tiễn, năng lực sáng tạo…)
1.4.4 Tiến trình giải một bài tập hoá học
Tiến trình khái quát giải một BTHH gồm các giai đoạn và yêu cầu khi giải bất
kì bài tập nào, còn gọi là các bước chung hay là dàn ý gồm có 4 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu đề bài
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện đầu bài và yêu cầu của bài ra
- Tóm tắt đầu bài theo quy ước của bản thân theo kí hiệu quen dùng
- Quy đổi, thống nhất đơn vị theo cùng hệ thống
Bước 2: Xác lập mối quan hệ
- Mô tả hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán
- Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và cần tìm
- Xác lập các quy tắc và định luật cần áp dụng cần thiết cho bài toán
Bước 3: Thực hiện tiến trình giải
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể
- Từ các mối quan hệ trên xác lập bảng các phương trình tiếp tục luận giải,tính toán biểu diễn các đại lượng cần tìm qua các đại lượng đã cho
- Xác định kết quả với độ chính xác cho phép
Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả
Để xác nhận được kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại một số phương ánsau:
- Kiểm tra lại đã xét hết các trường hợp chưa, trả lời hết câu hỏi chưa
Trang 26- Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm không.
- Thử giải bằng phương án khác có đúng không
Trong quá trình giảng dạy cần tạo cho HS có thói quen giải các bài tập theoquá trình khái quát này sẽ giúp HS những phương hướng chung để giải bài tập, nógiúp học sinh định hướng giải bài tập tốt hơn, tuy nhiên với mỗi loại bài tập cần cóhành động và thao tác cụ thể, chúng chỉ giống nhau ở bốn bước cơ bản mà thôi
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay
Hiện nay xu hướng phát triển chung của BTHH cần đảm bảo các yêu cầu:
1 Nội dung BT phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà tậptrung vào rèn luyện và phát triển năng lực tư duy hoá học cho HS
2 Tăng cường các BTHH thực nghiệm để rèn luyện các thao tác, khả năng làmthí nghiệm cho HS nhằm giúp học sinh chủ động trong phương pháp tiến hành TN
3 Tăng cường các BTHH có tính thực tiễn Từ đó làm cho HS nhận ra hoá họckhông còn là những khái niệm và phản ứng khó hiểu, khó nhớ mà rất gần gũi, thiếtthực với cuộc sống Khai thác các yếu tố ảnh hưởng của hoá học với môi trường,kinh tế, đời sống sản xuất và các hiện tượng trong tự nhiên sẽ làm cho nội dung BTtrở nên hấp dẫn, kích thích sự tò mò, đam mê của HS đối với ngành HH
4 Tăng cường các BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm khôngphức tạp hoá bởi các thuật toán mà chú trọng đến các phép tính được sử dụng nhiềutrong thực hành HH
5 Tăng cường số lượng các bài tập có sử dụng hình vẽ, vẽ đồ thị, sơ đồ…
6 Chuyển hoá một số dạng BTHH tự luận sang dạng trắc nghiệm khách quan,gọi tắt là BT trắc nghiệm
Như vậy, xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay hướng để rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt:
Lý thuyết, thực hành và ứng dụng
1.4.6 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH với tài liệu tự học có hướng dẫn
1.4.6.1 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH
Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận thức,bao gồm: Một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và
Trang 27khái niệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòihỏi tương ứng
- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc phần lớn là có tích luỹ thêm
kĩ năng, kĩ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh
- Theo M.A Đanilov: "Kĩ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mụcđích và sáng tạo những kiến thức và kĩ xảo của mình trong quá trình hoạt động lýthuyết cũng như thực tiễn Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trênkiến thức Kĩ năng chính là kiến thức trong hành động, còn kĩ xảo là hành động mànhững hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kĩ xảo là ở mức độcao của sự nắm vững kĩ năng Nếu như kĩ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tựkiểm tra tự giác, tỉ mỉ thì kĩ xảo là hành động được tự động hoá, trong đó sự tự kiểmtra tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như mộttổng thể, dễ dàng và nhanh chóng
- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: biết, hiểu và vận dụngđược
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiếnthức khác, kể lại nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu màhọc sinh cần đạt trong giờ học
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được
nó vào trong hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân, nói cách khác, hiểu một kiếnthức là nêu đúng nội hàm và ngoại diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó
và hệ thống kiến thức, vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huốngquen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìmđược kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm cụ mới.Thông qua vận dụng những kiến thức đã nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơncàng làm chủ quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mốiquan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, càng gần gũi Mặt khác, trong khivận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kĩ năng, kĩ xảo đượchình thành và củng cố, hứng thú học tập của học sinh được nâng cao
Trang 28- Để đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức hóa học một cách vững chắc cầnphải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng kiến thức thông qua nhiều hìnhthức luyện tập khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễđến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩarộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức thực
sự được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự giác, tích cực vận dụng linh hoạt, tạothành kiến thức ấy để giải quyết những bài toán khác nhau Ở đây chúng ta thấy rõmối quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhậnthức của học sinh:
1.4.6.2 Ý nghĩa của tài liệu tự học có hướng dẫn đối với việc học tập của học sinh
Thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn, người học qua quá trình học tậpnghiên cứu tự trang bị cho mình không những tri thức mà còn cả cách tiếp cận vàcon đường để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Tri thức của loài người là vô tận vìvậy để việc học tập có hiệu quả cao thì người học phải biết mình cần học những gì,học như thế nào khi tiếp cận một yêu cầu học tập Người học muốn học có hiệu quảthì tự bản thân học phải biết cách đánh giá năng lực của mình Như vậy trong suốtquá trình tự học, bản thân người học sẽ chủ động thực hiện hoạt động nhận thức vàhoạt động kiểm tra đánh giá quá trình học tập của mình
1.5 Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT hiện nay
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra
Để năm rõ thực tế việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh qua bài tập hoá học,chúng tôi tiến hành việc điều tra việc dạy học hóa học của giáo viên và học sinh ởmột số trường trên địa bàn lân cận thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa bằng cácphương pháp sau:
- Phát phiếu điều tra cho 20 giáo viên dạy hoá học ở các trường THPT để tìmhiểu về vấn đề thầy cô giáo rèn luyện NLTH cho học sinh ở mức độ nào
- Trò truyện với giáo viên và học sinh để biết được cụ thể vấn đề bồi dưỡngNLTH cho HS thông qua việc sử dụng BTHH
Nắm vững kiến thức Vận dụng kiến thức
Trang 291.5.2 Kết quả điều tra thực tiễn việc sử dụng bài tập hoá học để bồi dưỡng năng lực tự học ở các trường THPT hiện nay
1.5.2.1 Việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh của GV
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy: Một số giáo viên đã rất nỗ lực với phươngpháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, có chú trọng khảnăng rèn luyện khả năng phát triển tư duy, bồi dưỡng NLTH thông qua dạy học hoáhọc nói chung và sử dụng bài tâp nói riêng
Về việc sử dụng BTHH, GV dùng trong giờ nghiên cứu tài liệu mới thườngvới mục đích dẫn dắt, gợi mở đến kiến thức mới Trong giờ luyện tập hệ thống hoákiến thức, GV sử dụng bài tập chủ yếu để tái hiện kiến thức cũ hoặc ra những bàitập khó, rồi dạy cho HS giải được những bài tập này để khắc sâu kiến thức Tronggiờ kiểm tra cũng như vậy, rất ít sử dụng các loại bài tập đòi hỏi khả năng tự họccủa học sinh
Một phần cũng do ảnh hưởng bởi lối dạy truyền thống, các giáo viên còn gặpkhó khăn trong trong việc thiết kế các bài tập, đặc biệt là loại bài tập phát triển tưduy, bồi dưỡng NLTH cho HS Họ còn lúng túng khi sử dụng vào các khâu của quátrình dạy học nên các phương pháp DH tích cực được dùng còn hạn chế hoặc mangtính hình thức, tính hiệu quả, tốn nhiều thời gian Vì vậy, yêu cầu giáo viên hiện nay
là cần phải nắm vững cơ sở lí luận, các nguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụngcác bài tập để bồi dưỡng NLTH cho HS
1.5.2.2 Việc tự học của học sinh qua bài tập hoá học
Thông qua phiếu thăm dò ý kiến và trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinhmột số trường THPT, chúng tôi có nhận xét như sau:
1 Về việc đọc tài liệu trước khi nghe giảng trên lớp: Đa số các em đều có ý thứcđọc bài mới trước khi đến lớp nhưng chỉ chú tâm vào những phần kiến thức có vẻhấp dẫn, thú vị, còn lại thì bỏ qua Như vậy dẫn tới việc chuẩn bị bài chưa đạt hiệuquả Nguyên nhân chính là vì các em chưa nắm được mục đích yêu cầu của bài học
2 Đối với học sinh khá giỏi môn hoá học, yêu cầu của bài học không chỉ dừng lại
ở mức độ biết mà chủ yếu ở mức độ hiểu và vận dụng các kiến thức được học.Ngoài ra còn cần rèn luyện những kĩ năng thông qua quá trình học tập
Trang 303 Qua thực tế, có một số học sinh rất ngại học lý thuyết, chỉ thích làm bài tập Các
em quên mất rằng lý thuyết chính là cơ sở quan trọng nhất để giúp các em giảiquyết được nhanh, đúng các bài tập Kiến thức cơ bản chính là những nội dung màcác em cần nắm vững, khắc sâu trong quá trình học tập của mình Các bài tập nhiềukhi chỉ là để giúp các em hiểu rõ, vận dụng và khắc sâu kiến thức
4 Việc trình bày một bài giải sao cho hiệu quả cũng là một vấn đề hay gặp Các
em học sinh giỏi có thể tìm ra hướng giải và đáp số của bài tập một cách nhanhchóng, nhưng trình bày ra sao thì không phải em nào cũng làm được Trong quátrình trao đổi, rất nhiều em muốn giáo viên giảng và trình bày kĩ hơn trong quá trìnhchữa bài tập
5 Trong một số trường THPT, nhiều học sinh chưa biết cách học và tự học, việchọc hoàn toàn phụ thuộc vào những buổi đi học trên lớp hoặc chỉ làm bài tập khi
GV giao Một số học sinh vẫn còn thụ động trong việc làm bài tập, chờ giải đáp từcác bạn tích cực hơn là chờ câu trả lời từ giáo viên Như vậy, có thể nói hệ thốngbài tập của giáo viên đưa ra để sử dụng chưa thực sự kích thích hứng thú học tập vàkhả năng tìm tòi sáng tạo của HS
Tóm lại, hiện nay nhiều HS chưa biết cách học, chỉ quen học thuộc lòng, thụđộng, chưa tích cực sáng tạo trong việc tìm kiếm bài tập mới Điều này do các em ítđầu tư công sức, thời gian vào việc học, học tập chỉ mang tính đối phó Với các em
có ý thức tự giác, yêu thích môn học thì lại không có phương pháp học đúng cáchnên chưa khai thác triệt để được những kiến thức trong quá trình làm bài tập
Xuất phát từ thực tế như vậy, trong quá trình biên soạn hệ thống các bài tập
về kim loại lớp 12 nâng cao, chúng tôi đã cố gắng chọn những bài tập để các em HS
có thể hoàn thiện kiến thức của mình qua quá trình tự học
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận chủ yếu về vấn đề bồidưỡng NLTH cho học sinh THPT, bài tập hoá học và các vấn đề có liên quan Saukhi nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng NLTH cho học sinhthông qua BTHH, chúng tôi nhận thấy việc tuyển chọn, xây dựng và sử hệ thốngBTHH ở trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong quá trình DH hoá học Tính
Trang 31tích cực của BTHH được nâng cao hơn khi BTHH được sử dụng như là nguồn kiếnthức để học sinh tìm tòi chứ không phải là tái hiện kiến thức
Muốn vậy, GV phải biết cách tổ chức tình huống học tập phù hợp, giao bàitập cho HS trong quá trình tự học, hướng dẫn cho HS khi các em gặp khó khăntrong việc giải quyết các bài tập, đồng thời HS phải tự giác hoạt động, chủ độngtrong việc tìm tòi giải quyết các vấn đề đặt phát triển tư duy độc lập, tư duy sáng tạo
có đủ sức làm chủ bản thân, có khả năng hội nhập và tự thích ứng cao với hoàncảnh khi ra trường
Trang 32Chương 2 TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI THUỘC HÓA HỌC 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ
HỌC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới và tuyển chọn bài tập bồi dưỡng NLTH [27], [29]
2.1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới
Dựa vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học hoá học, cơ sở tâm lýcủa học sinh, nội dung chương trình và đặc điểm của bộ môn hoá học có thể thiết kếcác bài tập hoá học mới xuất phát từ bài tập mẫu (gốc) theo các nguyên tắc sau:
1 Nghịch đảo điều kiện và yêu cầu
2 Phức tạp hoá điều kiện
3 Phức tạp hoá yêu cầu
4 Phức tạp hoá cả điều kiện và yêu cầu
5 Ghép nội dung nhiều bài toán với nhau
6 Chuyển BT dạng tự luận sang các dạng TNKQ và ngược lại
Ngoài 6 nguyên tắc trên ta còn cần phải chú ý các yêu cầu sau:
- Hệ thống bài tập thiết kế phải giúp học sinh tiếp thu được kiến thức mới, mởrộng kiến thức đã học, phát huy được tính tích cực chủ động của người học
- Hệ thống BT phải phát triển các thao tác tư duy và rèn luyện các kỹ năng TH
- Nội dung bài tập phù hợp với đối tượng học sinh, thời gian học tập
- Thiết kế bài tập hoá học theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp, nhưng nội dung các bài tập phải phản ánh được đầy đủ chương trình hoá học,củng cố ôn tập các khái niệm, các định luật cơ bản của hoá học
Những nguyên tắc trên giúp ta nắm được cơ chế biến hoá nội dung bài tậptheo hướng có mức độ phức tạp, độ khó khác nhau tuỳ vào mục đích dạy học
2.1.2 Nguyên tắc tuyển chọn bài tập bồi dưỡng NLTH cho học sinh
Để hệ thống bài tập có tác dụng bồi dưỡng NLTH cho HS thì ngoài việc đảmbảo các nguyên tắc chung đã nêu trên cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
- Hệ thống bài tập phải hướng vào những suy nghĩ độc lập, giúp các em bộc lộnhững kiến thức tự tìm tòi phát hiện
Trang 33Khi xây dựng hệ thống BTHH, giáo viên cần lựa chọn những bài tập đặt HSvào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét, suy luận, … thì mới có thể trả lờichính xác Cần hạn chế các bài tập không cần suy nghĩ, xem xét … chỉ cần thay số
là có thể trả lời được mà không hiểu ý nghĩa, bản chất của vấn đề Vì trong khi suynghĩ, cân nhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của BT, học sinh sẽ bộc lộ nhữngkiến thức tìm tòi, phát hiện trong quá trình tự học của mình
- Hệ thống bài tập phải phát huy tính sáng tạo của học sinh: Khi xây dựng hệthống BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS cần chú trọng những BT ở mứcsáng tạo Những bài tập ở mức sáng tạo sẽ phát huy được khả năng vận dụng kiếnthức của HS trong những tình huống mới
Ngoài ra cần chú trọng những bài tập có tính cập nhật, vì những BT đó yêucầu HS phải thường xuyên cập nhật thông tin, từ đó rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí
và vận dụng các thông tin vào trong những điều kiện cụ thể của BT
2.2 Một số biện pháp sử dụng BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH [9], [27] 2.2.1 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi nghiên cứu kiến thức mới
Kiến thức thức mới được hình thành chủ yếu là sự kế thừa và phát triển kiếnthức mà HS sinh đã học ở bậc Trung học cơ sở hoặc dựa vào các quan niệm đượchình thành từ kinh nghiệm cuộc sống Để tổ chức, điều khiển quá trình nghiên cứumới, đồng thời tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, GV có thể sử dụng
hệ bài tập phù hợp với các bước khác nhau của quá trình nghiên cứu kiến thức thứcmới Cụ thể:
Ở phần mở bài, giáo viên nên chọn những bài tập được trình bày dưới dạngtình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú, nhu cầu cần phải nghiên cứu, giảiquyết Yêu cầu của các bài tập ở bước này là phải ngắn gọn, mang yếu tố tìnhhuống và hướng vào nội dung kiến thức cơ bản của bài
Có thể sử dụng các biện pháp sau để tạo tình huống có vấn đề:
Lựa chọn những bài tập có nội dung nó chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữacái đã biết, mâu thuẫn đó phải vừa sức, tạo ra được cho HS hứng thú nhận thức vàniềm tin có thể nhận thức được Tuỳ theo đối tượng HS và nội dung từng bài học cụ
Trang 34Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống bất ngờ Đó là những sựkiện, hiện tượng mà ta không ngờ nó xảy ra như thế Nhiệm vụ cần giải quyết là làmsáng tỏ nguyên nhân khoa học của hiện tượng.
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống không phù hợp Đó lànhững sự kiện, hiện tượng trái ngược với quan niệm thông thường của học sinh.Nhiệm vụ cần giải quyết là phân tích những chỗ sai trong cách hiểu thông thường từ
đó tìm ra cách hiểu khoa học, phù hợp
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống xung đột Đó là những
sự kiện, hiện tượng chứa những quan điểm trái ngược nhau Nhiệm vụ cần giảiquyết là tìm hiểu, phân tích, phê phán những quan điểm sai để tìm ra chân lí
Lựa chọn các bài tập mà nội dung có tình huống bác bỏ Đó là những sựkiện, hiện tượng dễ dẫn đến những kết luận sai lầm Nhiệm vụ cần giải quyết là đưa
ra những căn cứ khoa học để những kết luận thiếu khoa học hay kết luận sai lầm
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó có tình huống lựa chọn trong nhiềuphương án được đưa ra Nhiệm vụ cần quyết là lựa chọn một phương án hợp lítrong điều kiện cụ thể nhất định
2.2.2 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi vận dụng, củng cố
Khi kết thúc bài học, GV có thể sử dụng một số bài tập để học sinh củng cốvận dụng kiến thức đã học Để HS nắm vững được kiến thức của bài đồng thời rènluyện cho các em các kĩ năng vận dụng cụ thể, GV có thể sử dụng các biện phápsau:
- Sử dụng các bài tập nhằm giải quyết các tình huống đặt ra ở đầu bài học
- Từ những kiến thức cơ bản của bài, GV dùng các bài tập có tính sáng tạo để HSvận dụng các kiến thức đã học để giải quyết Tuỳ theo đối tượng HS, GV có thể:
+ Hướng dẫn, gợi ý tài liệu cũng như cách giải để HS có thể tự lực vận dụngkiến thức để giải quyết các yêu cầu của bài tập
+ Để học sinh tự lực giải quyết các yêu cầu của bài tập
2.2.3 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi tự học
ở nhà
Trang 35Tự học ở nhà là hình thức tự học chủ yếu của người học So với tự học trênlớp, tự học ở nhà có thuận lợi về mặt thời gian và nguồn tài liệu tham khảo, nhưng
có khó khăn là không được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Bài tập ở khâu nàynhằm vào hai mục đích: một là giúp học sinh củng cố hệ thống hoá những kiến thức
đã học đồng thời rèn luyện các kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; hai là giúphọc sinh chuẩn bị tiếp cận kiến thức của bài học mới
Để đảm bảo các bài tập hoá học trong khâu tự học ở nhà có hiệu quả, giáoviên có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Đối với các bài tập dùng để củng cố kiến thức, rèn luyện các kĩ năng vận dụng,
GV cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp giao cho học sinh Các bài tậpnày được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cơ bản đến sáng tạo và đảm bảo các yêu cầu:
+ Vừa phải cả về số lượng và mức độ
+ Hướng vào các phần kiến thức cơ bản đã học
+ Bao gồm những bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng cơ bản và những kĩnăng vận dụng sáng tạo
+ Cần tăng cường các bài tập có nội dung tổng hợp, yêu cầu học sinh phảivận dụng kiến thức của nhiều phần khác nhau để giải quyết
- Hướng dẫn học sinh các tài liệu cần đọc để giải quyết các yêu cầu đặt ra trong hệthống bài tập giáo viên giao cho học sinh, chú ý đến các tài liệu dễ tìm, sát với đốitượng học sinh cũng như chuẩn kiến thức, kĩ năng theo qui định của chương trình
- Đối với những bài tập khó giáo viên có thể hướng dẫn học sinh biết cách giải,đối với những: “ lỗ hổng” về kiến thức, GV có thể hướng dẫn bổ sung cho các em
- Tổ chức thành các nhóm học tập ở nhà để các em trao đổi thông tin, giúp đỡnhau trong học tập, cử nhóm trưởng phụ trách và chịu trách nhiệm về việc học tậpcủa nhóm trước GV
2.2.4 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS khi kiểm tra đánh giá tự học
Kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình tự học của ngườihọc Ở khâu này, học sinh coi như thực hiện xong các nhiệm vụ do GV giao, ngườihọc cần được kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc tự học của mình Để việc kiểm tra,
Trang 36- Xác định và phổ biến với học sinh các tiêu chí đánh giá cụ thể về thái độ, kiếnthức, kĩ năng và năng lực vận dụng tri thức độc lập, sáng tạo.
- Phối hợp giữa việc kiểm tra đánh giá của giáo viên với việc tự kiểm tra, đánh giácủa học sinh trong đó chú trọng đến việc kiểm, tra đánh giá của học sinh Để giúp
HS tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của mình, GV có thể:
+ Lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giao cho họcsinh, ra cho HS lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giaocho học sinh, ra cho HS và yêu cầu cho HS làm ngay tại lớp hoặc ở nhà sau đó nộplại bài cho giáo viên Nếu có thời gian, GV có thể cho HS hoặc đại diện nhóm HStrình bày các bài làm trước lớp, cả lớp và giáo viên cùng hoàn thiện các bài giải,từng cá nhân học sinh tự đánh giá kết quả tự học của mình; nếu không có thời gian,
GV có thể nhận xét, hướng dẫn giải các bài tập đã giao cho HS, từng cá nhân họcsinh tự đánh giá kết quả tự học của mình
+ Hướng dẫn cho HS chọn ở các BT ở các tài liệu tham khảo, những bài tập
cơ bản, tương tự những bài tập giáo viên đã giao cho, tự giải và đối chiếu với kếtquả ở các tài liệu tham khảo hoặc trao đổi với bạn bè, thầy cô và tự đánh giá mức độnắm kiến thức của mình qua quá trình tự học Hình thức này đòi hỏi tính tự giác caocủa người học và người học phải được bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn những bài tập cơbản để vừa hướng vào các nội dung cơ bản của chương trình vừa đảm bảo được thờigian tự học ở nhà của người học Cụ thể là GV phải định hướng cho HS lựa chọnbao nhiêu bài tập, những dạng nào, ở tài liệu nào?
- Hạn chế sử dụng những bài tập có mức độ tái hiện, tăng cường sử dụng các bàitập ở mức độ sáng tạo để giúp học sinh tự đánh giá được NLTH của bản thân
- Động viên, khuyến khích HS tự nhận ra những hạn chế, thiếu sót của mình và tựhoàn thiện kiến thức qua quá trình tự học của mình
2.3 Bài tập dùng để rèn một số năng lực trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS [9],[22], [26]
2.3.1 Bài tập bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập
Trong quá trình dạy học cần phải rèn cho học sinh thói quen suy nghĩ độc lập, từ
đó mới có tư duy logic, tư duy hình tượng, rồi mới đến tư duy phê phán Có tư duy
Trang 37phê phán mới có tư duy sáng tạo Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạo trong quátrình tự lực học tập
Các bài tập bồi dưỡng NLTH phải hướng HS vào những suy nghĩ độc lập, giúpcác em tìm tòi, phát hiện ra kiến thức
Ví dụ 1: Khử hoàn toàn 8 gam một ôxit kim loại M cần vừa đủ 3,36 lít khí CO (ở
đktc) Muốn hoà tan lượng kim loại thu được cần 200 ml dung dịch HCl 1M Tìmcông thức oxit kim loại?
Phân tích: Để làm được ví dụ này học sinh phải biết cách lập công thức ôxitcủa kim loại M Nếu không suy nghĩ kĩ, các em sẽ đặt công thức là M2On Vấn đềđặt ra là: Công thức M2On chỉ phù hợp với các kim loại có hoá trị không đổi Vậyvới các kim loại có nhiều mức ôxi hoá thì công thức trên có còn phù hợp haykhông? Khi đó học sinh phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết Từ đó tìm công thứctổng quát phù hợp là MxOy
Một trong các phương pháp giải nhanh bài tập này là có thể áp dụng hệ quảcủa định luật bảo toàn khối lượng:
nO (của ôxit) = nCO = 0,15 mol
mM = 8 – 0,15 16 = 5,6 (gam) nM =
M
5,6 M
( 1)
Đề bài chưa rõ là hoá trị của kim loại M không đổi hay thay đổi, vậy thì phảigọi công thức của muối clorua kim loại M như thế nào?
Đến đây học sinh phải định hướng bài toán sang 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu hoá trị của M không đổi thì
Trang 38Trường hợp 2: Nếu M có hoá trị thay đổi
Ví dụ 2: Hoà tan hết 4,431 gam hh X gồm Al, Mg trong HNO3 loãng, thu được dd
A và 1,586 lít (đktc) hh khí B gồm NO và N2O Hãy xác định % mỗi kim loại trong
Trang 39Cách 2: + Gọi số mol Al, Mg là x, y ta có:
x = nAl
= 0,021 mol; y =nMg
0,161 mol+ Xác định được: %mMg = 87,2% và %mAl =12,8%
Trang 4027x + 24y = 4,431 x = nAl= 0,021 mol; y =nMg = 0,161 mol.
+ Xác định được: %mMg = 87,2% và %mAl =12,8%
2.3.2 Bài tập bồi dưỡng năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
Đây là một trong những năng lực cần thiết phải rèn luyện cho học sinh vì nó cótác dụng rất lớn kích thích hoạt động tư duy sáng tạo của học sinh Khi giải quyếtvấn đề đòi hỏi học sinh phải huy động các kiến thức, tài liệu thu thập, xem xét đánhgiá thông tin một cách chính xác, khoa học qua đó giúp học sinh nắm chắc kiếnthức Đồng thời hình thành cho HS là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứngthú nhất là trong những vấn đề mới
Khi xây dựng hệ thống bài tập hoá học, giáo viên cần chọn những bài tập đặthọc sinh vào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét suy luận thì mới có thể trảlời chính xác Cần hạn chế những bài tập không cần suy nghĩ xem xét mà vẫn trả lờiđược trong khi không hiểu ý nghĩa, bản chất hoá học Vì trong khi suy nghĩ, cânnhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của bài tập, học sinh sẽ bộc lộ những kiếnthức tìm tòi, phát hiện trong quá trình tự học của mình
Ví dụ 1: Ở 250C, người ta thực hiện một pin gồm 2 nửa sau: Ag nhúng vào dungdịch AgNO3 0,1M và Zn nhúng vào dung dịch Zn(NO3)2 0,1M
a) Thiết lập sơ đồ pin
b) Viết PTHH của các phản ứng tại các điện cực và phản ứng xảy ra khi pin làmviệc Tính suất điện động của pin
c) Tính nồng độ các ion khi pin không có khả năng phát điện
Cho E0(Ag+/Ag) = +0,8V; E0(Zn2+/Zn) = - 0,76V
Giải
Với bài tập này HS sẽ phát hiện ngay có một số vấn đề cần phải tìm đọc, họchỏi mới có thể giải quyết được Giáo viên sẽ là nguồn sẵn sàng cung cấp kiến thứccần thiết hoặc hướng dẫn để giúp HS đáp ứng yêu cầu giải bài tập
a) Cực (-) Zn Zn(NO3)2 0,1M - AgNO3 0,1M Ag Cực (+)
b) Anot (-) Zn Zn2+ + 2e
Catot (+) Ag+ + 1e Ag
Phản ứng: Zn + 2Ag+ Zn 2+ + 2Ag