Do tầm quan trọng của nó, giai cấp thống trị đã thấy đợc rằng đây chính là cuốn cẩm nang để thâu tóm, tập trung quyền lực nhà nớc vào tay mình.Chính vì vậy, các đế vơng, các nhà chính tr
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
Trơng văn lành
Khóa luận tốt nghiệp đại học
t tởng pháp trị của hàn phi trong lịch sử cổ –
trung đại trung quốc
Trang 2ởng Trung Hoa nổi tiếng có giá trị rất lớn trong nền văn minh nhân loại với sự
đua chảy của trăm dòng sông Đó là sự ra đời của nhiều trờng phái t tởng lớn,mỗi trờng phái lại có những đóng góp nhất định cho nền triết học Trung Hoa.Trong đó phải kể đến sự đóng góp lớn lao của trờng phái Pháp gia mà đại biểulớn nhất là Hàn Phi - tập đại thành của Pháp gia
Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực lý luận mà Hàn Phi đã chứng tỏ đợc rằnghọc thuyết Pháp trị của mình hoàn toàn có thể áp dụng rất tốt vào đời sốngchính trị, giúp việc cải tạo xã hội một cách tốt hơn Thực tiễn lịch sử cho thấy,nhờ tác dụng của học thuyết này mà xã hội Trung Quốc đã từ hỗn loạn, phânquyền dần đi đến thống nhất, tập quyền cao độ Đó là bớc tiến lớn của lịch sửTrung Quốc
Do tầm quan trọng của nó, giai cấp thống trị đã thấy đợc rằng đây chính
là cuốn cẩm nang để thâu tóm, tập trung quyền lực nhà nớc vào tay mình.Chính vì vậy, các đế vơng, các nhà chính trị Trung Hoa đã mạnh dạn áp dụngnhững t tởng này vào trong đời sống chính trị - xã hội Ngay cả đến khi họcthuyết này tởng chừng bị đổ vỡ hoàn toàn sau 15 năm Tần Thủy Hoàng bằng
“Bàn tay sắt” của mình xây dựng giang sơn thống nhất bị sụp đổ thì t tởng ấyvẫn ăn sâu vào đời sống chính trị của các triều đại phong kiến sau đó Mặc dùtôn Nho làm quốc giáo nhng thực tế Pháp gia vẫn ngầm đợc trọng dụng theomô thức “dơng Nho - âm Pháp”, đủ thấy rằng t tởng Pháp trị có vị trí lớn lao
nh thế nào trong lịch sử Trung Quốc
Không chỉ dừng lại ở đời sống chính trị - xã hội Trung Hoa mà nhữnggiá trị của trờng phái Pháp trị còn ảnh hởng mạnh mẽ tới các nớc trong khuvực mà nớc ta không nằm ngoài con đờng đó Nếu nh muốn tìm hiểu về nềnpháp lý của chế độ phong kiến Đại Việt mà không tìm tận gốc của nó thì quả
là một thiếu sót
Ngày nay, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng xây dựng mô hình nhà nớcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, mỗi công dân đều phải “sống và làm việc theohiến pháp và pháp luật” Nhng do quen sống theo kiểu Đức trị của Nho giáo
và tập tục địa phơng “Phép vua thua lệ làng” nên đó là một trở ngại lớn choviệc giáo dục và thi hành pháp luật Vì thế, việc nghiên cứu t tởng Pháp trị lạicàng trở nên có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Dới ánh sáng của luận thuyết khoa học tiên tiến là chủ nghĩa Mác Lênin thì luật pháp không còn là những phơng tiện nô dịch của giai cấp thống
Trang 3-trị mà đã trở thành những điều kiện giúp nhân dân Cho nên việc giáo dụcpháp luật là vô cùng cần thiết trong đẩy mạnh sản xuất, hạn chế mặt trái củacơ chế thị trờng Đó là những xu hớng ích kỷ, chăm lo lợi ích cá nhân, coi
đồng tiền là giá trị cao nhất, sự suy thoái đạo đức, sự gia tăng tội phạm đang
đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục và thi hành công bằng, nghiêmminh luật pháp
Với những lý do ấy, chúng tôi thấy rằng việc tìm hiểu t tởng Pháp trịcủa Hàn Phi là công việc rất có ý nghĩa, vì vậy chúng tôi quyết định chọn vấn
đề: T “ tởng Pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử cổ - trung đại Trung Quốc”
làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
sự thật lịch sử Đây là tác phẩm đợc đánh giá là công trình sử học vĩ đại nhấttrong nền sử học phơng Đông cổ - trung đại, là nguồn t liệu gốc tin cậy chomọi công trình khoa học lịch sử thời kỳ cổ - trung đại Trung Quốc Nhng tácphẩm chỉ trình bày một số nét tiêu biểu mà không đi sâu vào phân tích
Tác giả Lu Hớng (79 - 8 TCN), sống vào thời nhà Hán tập hợp những ttởng của các học giả thời Chiến Quốc chép việc của những nớc trong thời kỳlịch sử này (453 – 221 TCN) viết thành bộ “Chiến quốc sách” Mặc dù cónhiều phần chép không hợp lý nhng chắt lọc những giá trị lịch sử, chúng tathấy đợc xã hội Trung Quốc sôi động bởi sự đảo lộn về địa vị xã hội của cáctầng lớp, giai cấp trong xã hội Trung Quốc trong thời kỳ quá độ lên chế độphong kiến Bối cảnh ra đời của hàng trăm học thuyết trong đó có t tởng Pháptrị
Ngày nay, có nhiều công trình nghiên cứu về “Bách gia” dới nhiều góc
độ khác nhau: Triết học, chính trị - xã hội, lịch sử Điểm qua các học giả
Trang 4Trung Quốc chúng ta thấy trong đó tác phẩm “Bách gia ch tử giản thuật” củatác giả Phạm Quýnh Ông không quên liệt Hàn Phi là một trong những nhânvật quan trọng của “Pháp gia”, ông đánh giá : “Tần Vơng Doanh Chính làmtheo phơng lợc trị quốc của Hàn Phi đã thống nhất đợc 6 nớc, đa thiên hạ từloạn lạc đến bình trị ” “Bách gia ch tử giản thuật” là tác phẩm nghiên cứu có
hệ thống về các triết gia, nhà t tởng thời Xuân thu - Chiến Quốc
Với tác phẩm “ Bách gia ch tử trong cách đối nhân xử thế” tác giả Thu
Tử lại khai thác khía cạnh khác đó là việc áp dụng t tởng của Hàn Phi trongcách ứng xử xã hội giữa con ngời với con ngời, phơng lợc kinh doanh
Tác phẩm “Lịch sử t tởng chính trị Trung Quốc” của Lã Chấn Vũ, đã đềcập tới t tởng chính trị chủ trơng cai trị xã hội bằng pháp quyền của Hàn Phi,tác giả đã thấy đợc bản chất của nó thực chất là “Để che dấu bản chất bóc lộtcủa họ” - Giai cấp địa chủ, phong kiến [38, 300] Lã Chấn Vũ có nêu lên banguyên lý của Hàn Phi đó là “Pháp”, “Thuật”, “Thế” Tác giả còn cho rằng:
“Học thuyết của Hàn Phi thống nhất các học phái của giai cấp phong kiến [38,276] Lý luận chính trị đó của Hàn Phi đã có tác dụng chỉ đạo cả một thời giandài trong các chế độ chính trị chuyên chế về sau”[38, 298]
Các học giả Việt Nam cũng đã nghiên cứu rất nhiều về t tởng của HànPhi Tác giả PGS.TS Trịnh Doãn Chính với cuốn “Triết lý phơng Đông - giátrị và bài học lịch sử” có nêu lên một cách khái quát t tởng Pháp trị của HànPhi và ý nghĩa lịch sử của nó Ông không chỉ nêu lên t tởng Pháp trị mà cònthấy đợc những bài học rút ra sau sự thất bại của nó khi áp dụng vào nhà Tần
Trong cuốn “Đại cơng lịch sử t tởng Trung Quốc” của tác giả Lê VănQuán cũng khái quát sự ra đời của trờng phái Pháp trị thời Xuân Thu - ChiếnQuốc và t tởng triết học - chính trị của Hàn Phi một cách khái lợc Cũng vớinội dung ấy, GS Cao Xuân Huy trong tập t liệu về “Pháp gia” cũng đã trìnhbày một cách sơ thảo vấn đề trên
GS Vũ Khiêu trong tác phẩm của mình “Đức trị và Pháp trị trong Nhogiáo” Thực chất ông đã coi t tởng Pháp trị của Hàn Phi và Pháp gia là một bộphận của Nho giáo, nên tác phẩm chủ yếu tập trung vào việc thống kê, so sánhhai t tởng: Pháp trị và Đức trị trong Nho giáo Tuy nhiên, tác phẩm chỉ dừnglại ở việc hệ thống và trích dẫn t tởng ấy chứ không đi sâu phân tích, đánh giámột cách rạch ròi t tởng Pháp trị
Trang 5Bên cạnh đó, có nhiều tác giả nh Trí Tuệ với “Hàn Phi Tử - T tởng vàsách lợc” đề cập đến góc độ t tởng đã giới hiệu về t tởng Pháp trị, những chủtrơng, đờng lối trị quốc của Hàn Phi, đồng thời nói về cách đối nhân xử thế,
đạo làm ngời Nhng tác phẩm chủ yếu trình bày về t tởng trong tác phẩm “HànPhi Tử” dới dạng liệt kê chứ cha đi sâu phân tích
Ngoài ra, vấn đề còn đợc đề cập lẻ tẻ trong các chuyên khảo về lịch sử
t tởng Phơng Đông, lịch sử t tởng Trung Quốc và một số tạp chí nghiên cứulịch sử, tạp chí triết học
Từ tình hình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề mà đề tài
đặt ra mặc dù đợc đề cập tơng đối nhiều trong các công trình nghiên cứu
Nh-ng cha có côNh-ng trình nào trình bày một cách lôgíc, hệ thốNh-ng Vì thế chúNh-ng tôi
chọn vấn đề: T “ tởng Pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử cổ - trung đại
Trung Quốc ” làm đề tài khoá luận tôt nghiệp
3 Phạm vi - giới hạn đề tài
Thời gian: Có thể nói học thuyết Pháp trị xuất hiện từ thời Xuân Thu
đến thời Chiến Quốc thì phát triển đỉnh cao với tập đại thành của Pháp gia làHàn Phi Nó còn tiếp tục phát triển và ảnh hởng dới thời phong kiến TrungQuốc Tuy nhiên, phạm vi đề tài chủ yếu tìm hiểu về t tởng của Hàn Phi thôngqua tác phẩm của ông là “Hàn Phi Tử” cuối thời kỳ Chiến Quốc Tiếp đó,
điểm qua ảnh hởng của nó trong lịch sử cổ - trung đại Trung Quốc
Không gian: Chỉ nghiên cứu t tởng Hàn Phi trong phạm vi Trung Quốc,trong đó nhấn mạnh đến bối cảnh ra đời của t tởng này là nớc Tần
4 Phơng pháp nghiên cứu
Do đề tài nghiên cứu về lĩnh vực lịch sử t tởng vì thế phơng pháp quantrọng không thể thiếu đợc đó là phơng pháp xem xét sự ra đời, phát triển, tiêuvong với mọi tính chất cụ thể của t tởng thuộc trờng phái Pháp trị Đó là ph-
ơng pháp lịch sử đợc áp dụng trong nghiên cứu đề tài
Nhng đặc biệt quan trọng phải kể đến phơng pháp lôgic, giúp tác giảnghiên cứu t tởng Pháp trị một cách tổng quát, vạch ra bản chất, khuynh hớngphát triển, ảnh hởng của t tởng này đối với xã hội Trung Quốc thời kỳ ChiếnQuốc và lịch sử phong kiến Trung Quốc
Tuy nhiên, để đạt đợc hiệu quả cao trong công tác nghiên cứu của mình,tác giả đã cố gắng sử dụng kết hợp hai phơng pháp nêu trên một cách chặt
Trang 6là phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phê phán từ nhiều nguồn sử liệu
để trình bày một cách hệ thống công trình khoa học của mình
Trang 7B Nội dung Chơng 1 Những Tiền đề cho sự hình thành t tởng Pháp trị
của Hàn Phi
1.1 Tiền đề kinh tế cho sự hình thành t tởng Pháp trị của Hàn Phi
Từ Xuân Thu trở về sau, đặc biệt cuối thời kỳ này và ở thời kỳ ChiếnQuốc, những công cụ bằng sắt sắc bén đã thay thế những công cụ bằng gỗ,bằng đá, đồng trớc kia Đồng thời, sức lao động của con ngời đã đợc thay thếmột phần bởi sức kéo của trâu, bò vào trong sản xuất Điều ấy đã khiến chosức sản xuất có những bớc phát triển vợt bậc
Nhờ có nông cụ bằng sắt rắn chắc ngời ta đã khai phá nhiều đất hoanghóa Trong nông nghiệp còn có những bớc tiến bộ về phơng thức canh tác:Ngời ta đã biết bỏ phân làm hai mùa, đào kênh dẫn nớc, đắp đê điều để tớitiêu cho đồng ruộng Nhờ đó mà năng suất lao động đã tăng lên đáng kể
Về chế độ ruộng đất: Ruộng đất là tài nguyên quan trọng, là t liệu sảnxuất chủ yếu của các quốc gia cổ đại phơng Đông nói chung và Trung Quốckhông nằm ngoài quy luật ấy Ngay từ thời nhà Chu, chế độ ruộng đất đợc ápdụng đó là chế độ Tỉnh điền (chia khoảnh đất làm tám phần, cho các hộ nôngdân xung quanh rồi phần còn lại nông dân phải cày cấy chung nộp cho nhà n-ớc) và Thiên tử nhà Chu là kẻ sử hữu tối cao ruộng đất ấy Đến khi sức sảnxuất có những bớc phát triển vợt bậc xem ra chế độ ấy không còn phù hợpnữa, bởi nó cản trở việc mở mang đất đai, phát triển sản xuất nông nghiệp.Chính nhờ công cụ bằng sắt và sức kéo đợc áp dụng vào sản xuất nông nghiệpcho nên t điền (ruộng t) dần dần tăng lên khiến cho chế độ Tỉnh điền của nhàChu bị phá vỡ, đồng nghĩa với cơ sở kinh tế của xã hội có giai cấp và Nhà n ớc
đầu tiên không còn nữa
Trên cơ sở sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế công thơng nghiệp cũng có những bớc phát triển không kém phần sôi động và cónhiều khởi sắc Bằng chứng là những thành thị thơng nghiệp buôn bán đã hìnhthành ở các nớc ch hầu (Hàn, Tề, Tần, Sở ) dẫn đến nền kinh tế hàng hóamang tính chất giản đơn phát triển nhanh chóng nhờ vào sự tự do mua bán
-Đặc biệt, tiền tệ đã xuất hiện cùng với tầng lớp đại thơng nhân ngày càng có
Trang 8loại, thờng đúc bằng đồng, có loại bằng vàng đã rất thịnh hành Từ đó dần dầnxác lập một phơng thức sản xuất mới - phơng thức sản xuất phong kiến ra đờitrong lòng xã hội có giai cấp và Nhà nớc đầu tiên ở Trung Quốc.
1.2 Tiền đề chính trị - xã hội cho sự hình thành t tởng Pháp trị của Hàn Phi
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất đã kéo theo quan hệ giaicấp thay đổi lớn lao dẫn tới sự đảo lộn về địa vị trong xã hội ở thời kỳ ChiếnQuốc Nếu nh đầu thời Xuân Thu, xã hội Trung Quốc có ba giai cấp: Giai cấpthống trị nắm hết quyền lực cai trị nhân dân, chỉ có giai cấp này mới đợc học
và có phơng tiện để học Trong xã hội có giai cấp và Nhà nớc đầu tiên ấy,giàu và sang gắn bó với nhau chặt chẽ: Quý tộc đã giàu lại đợc coi trọng Nếu
họ có tội thì không bị hình phạt nh những giai cấp dới: “Hình không đến đạiphu, thởng không đến thứ dân” Bộ phận thờng dân hầu hết là nông dân vớithân phận lệ thuộc cả về kinh tế và chính trị chẳng hơn gì nông nô ở châu Âuthời kỳ trung cổ Thế nhng, đó cha phải là giai cấp khổ cực nhất mà dới đáycủa xã hội là tầng lớp nô lệ bao gồm thờng dân bị hình phạt nặng và tù binh,dân chúng các nớc bại trận hợp thành
Cuối thời Xuân Thu và đặc biệt Chiến Quốc do ruộng t ngày càng xuấthiện nhiều cùng với sức sản xuất phát triển nhanh chóng đã hình thành nên lựclợng xã hội mới đó là giai cấp địa chủ phong kiến nổi lên Do áp dụng phơngthức sản xuất mới tiến bộ nên tài sản của họ ngày càng nhiều, họ thống trị vềmặt kinh tế Nhng về mặt chính trị thì lại trái ngợc, họ không có chút quyềnlực nào cả Vì thế, cuộc đấu tranh gay gắt đã diễn ra giữa giai cấp địa chủmuốn vơn lên nắm quyền hành về kinh tế - chính trị với bọn quý tộc cũ Đểkhẳng định sự thắng lợi cuối cùng, chỉ có năng suất lao động và sản phẩmquyết định Vì thế, muốn bảo vệ tài sản của mình, không gặp phải bọn quý tộctớc đoạt hoặc ngời khác xâm chiếm, cho nên họ chủ trơng canh tân những quychế của chế độ cũ, thay vào đó là những quy định mới về pháp luật đủ sức bảo
vệ và phát triển quan hệ sản xuất phong kiến
Rõ ràng, khi mà Trung Hoa đang ở thời kỳ xã hội có giai cấp và Nhà
n-ớc đầu tiên, phạm vi của một nn-ớc ch hầu rất là chật hẹp mà mỗi nn-ớc lại còn cóthể chia ra làm nhiều “gia” thì bọn quý tộc ở trong một nớc chỉ theo truyềnthống cũ: Lấy chữ “Lễ”, “Nhân” mà trị quốc (Nho gia), còn bọn nông dân, nô
lệ thì chỉ biết phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của chủ nhân Cho nên, quý tộc
Trang 9với quý tộc; Quý tộc đối với nông dân, nô lệ chỉ cần có uy và nghi thì đất nớc
có thể ổn định Đến lúc nền chính trị của tầng lớp quý tộc dần sụp đổ thì ng ời
đứng đầu mỗi nớc đều thu vén chính quyền về trung ơng Cùng với nó là xuthế các nớc ch hầu thành một quốc gia thống nhất theo lối trung ơng tập quyền
đã diễn ra mạnh mẽ
Nếu nh vào đầu thời nhà Chu, đất đai và thần dân đều thuộc về nhà vuathì nay quyền sở hữu tối cao đã bị chia sẻ bởi bọn điạ chủ mới lên, chúng lậpthành hàng trăm nớc ch hầu Lúc đầu, nhà Chu có tất cả 1800 nớc, đến thờiXuân Thu có trên 140 nớc vì nhiều nớc nhỏ đã bị nớc lớn thôn tính Trong số
ấy chỉ có 15 nớc đáng kể đó là Tấn, Tề, Tần, Ngô, Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào,Tống, Trần, Thái, Trịnh nhng chỉ có 5 nớc là hùng cờng hơn cả, tạo nên cụcdiện “Ngũ bá” kế tiếp nhau làm minh chủ (Tề, Tấn, Tống, Sở, Tần)
Qua thời Chiến Quốc, số ch hầu giảm trên một chục nhng chỉ có 7 nớclớn tranh chấp địa vị bá chủ với nhau tạo nên cục diện “Thất hùng” (Tần, Tề,
Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên) Trong số ấy mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì có đất
đai rộng lớn, tài nguyên giàu có Mặc dù vua ch hầu lúc này ngày càng suyyếu nhng vẫn còn h danh nên các nớc ch hầu lớn mạnh thờng tự nhận là mìnhphục mệnh Thiên tử để thực hiện mu đồ thu phục, thôn tính bắt nớc khác phảithuần phục mình Nhng tuyệt nhiên không phải bằng con đờng hòa hiếu, lễnghi mà bằng con đờng chiến tranh: “Đánh nhau để tranh thành trì, giết ngời,thây đầy thành; đánh nhau để tranh đất thì giết ngời thây đầy đất” - Câu nóicủa Mạnh Tử phần nào đã phản ánh đợc tình hình chính trị hỗn loạn, rối rentrên bớc đờng chuyển từ hình thái xã hội cũ suy tàn sang hình thái xã hộiphong kiến tập quyền Chiến tranh liên miên và tàn khốc thời Chiến Quốc đãphá hoại nghiêm trọng nền sản xuất xã hội thời đó Nhân dân phải gánh chịunhiều tai họa nặng nề nên khao khát sống hòa bình, yên ổn Trong khi đó bênngoài, các bộ lạc du mục phía Bắc gốc Hung Nô đã lớn mạnh, thờng xuyênvào biên giới phía Bắc quấy phá, nguy cơ ngoại xâm luôn luôn rình rập
Tình hình trên đây nói lên yêu cầu của lịch sử lúc này là thống nhất xãhội Trung Quốc, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, càng trở nên cấp thiếthơn bao giờ hết
Khi phạm vi quốc gia ngày càng mở rộng tiến tới thống nhất các nớc
ch hầu về một mối khiến cho tổ chức ngày càng phức tạp thì mối quan hệ giữangời và ngời trở thành xa cách cho nên, phơng pháp “Lễ trị”, “Nhân trị” của
Trang 10Nho gia trớc đây có tác dụng, đến thời Chiến Quốc gặp phải rất nhiều khókhăn Vì thế, một số nhà t tởng đã có thay đổi cách nhìn nhận về sự phát triểncủa xã hội Mỗi nhà t tởng, mỗi trờng phái chính trị do sự khác nhau về quan
điểm triết lý và địa vị xã hội đã đa ra những cách lý giải và biện pháp khácnhau để cải biến xã hội ấy Cho nên, Lão gia chủ trơng “vô vi nhi trị” Mặc gia
đề cao “kiêm ái, thợng đồng, thợng hiền” thì Pháp gia lại chủ trơng dùng phápluật để cai trị đất nớc Đây hoàn toàn không phải xuất phát từ ý muốn chủquan mà xuất phát từ những tiền đề kinh tế - xã hội
Phái Pháp gia ra đời là sự phản ánh chủ trơng chính trị và ý chí của giaicấp địa chủ mới lên, họ thấy rằng đờng lối cai trị cũ không còn phù hợp nữa
mà cần phải có một học thuyết mới để thống nhất giang sơn, để bảo vệ giaicấp thống trị mới là giai cấp địa chủ và để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội của con ngời, củng cố, xác lập trật tự xã hội Vì thế, phápluật mang tính giai cấp và tính xã hội sâu sắc Do đó, ngay trong trờng pháiPháp trị đã xuất hiện những nhân vật kiệt xuất đóng góp cho lý luận và thựctiễn cai trị đất nớc của các đế vơng
1.3 Tiền đề t tởng cho sự hình thành t tởng Pháp trị của Hàn Phi
1.3.1 Kế thừa và phát triển t tởng Pháp trị của các bậc tiền bối Pháp gia
Trớc Hàn Phi mấy trăm năm đã xuất hiện những đại biểu của trờng phái
sử dụng pháp luật mà sau này gọi là “Pháp gia” Thời Xuân thu là thời kỳ khởinguyên của t tởng Pháp trị, ngời đi tiên phong trong dòng phái ấy là QuảnTrọng
1.3.1.1.Quản Trọng (?- 645 TCN) tên là Di Ngô, ngời nớc Tề “là ngời
tiên phong của Pháp gia thời kỳ Xuân Thu”, ông từng làm tớng quốc của nớc
Tề dới thời Tề Hoàn Công
Chính sách của ông là thởng, phạt phân minh, đa toàn dân vào cuộcsống có quy củ theo pháp luật, nó đặt ra những quan hệ sòng phẳng không che
đậy và giấu giếm giữa nhà nớc và dân chúng, giữa vua và bề tôi Theo đó, ôngcho rằng mọi ngời phải tôn trọng nhà vua và vua phải là ngời đặt ra luật pháp
Nh vậy, ta thấy rằng ông bắt đầu xuất hiện t tởng “Thế” Nhng t tởng thực sựnổi bật của Quản Trọng đó là việc ông đề cao “Pháp”, đờng lối “Pháp trị” của
ông đòi hỏi phải rành rọt về luật, về lệnh, về hình, về chính “Luật” là để mọingời cùng hiểu biết và nhận rõ vị trí của mình để điều tiết các mối quan hệ xã
Trang 11hội vua - tôi - dân, “lệnh” là để nhân dân biết bổn phận của mình phải làm gìvới vua, “hình” là để trừng trị những kẻ phạm pháp Việc trừng trị ấy phảicông minh thì kẻ có tội mới không oán, kẻ vô tội mới không lo sợ Nh vậy,
ông đặc biệt coi trọng vấn đề thi hành luật pháp phải minh bạch, hợp với lợiích của nhân dân theo nguyên tắc “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” “Thiên thời”
là không ra lệnh trái thời, “địa lợi” là phải căn cứ theo địa thế từng miền khácnhau mà ban hành những luật lệ thích hợp, “nhân hòa” là đừng ban bố nhữngmệnh lệnh trái ngợc với tình hình và khả năng thực tế của nhân dân
Muốn pháp luật đợc thi hành thì phải cho nhân dân hiểu biết pháp luậtrồi mới áp dụng, nếu không dạy trớc mà giết dân là bạo ngợc; Luật pháp phải
đợc cân nhắc kỹ càng, đã ban ra rồi thì không đợc nay sửa, mai đổi Nếu nay
ra luật này mai sửa lại thì dù thởng có lớn dân cũng không ham, phạt có nặngdân cũng không sợ, nhất là dân không biết xử trí ra sao cả Theo ông: “Khôngvì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh cần đợc tôn trọng hơn cả vua” (Bất vịquân, dục biến kỳ lệnh, lệnh tôn cơ quân)
Luật phải thật sự công bằng, không đợc riêng t, khoan dung với ngờimình yêu mà nghiêm khắc với ngời mình ghét “Trời không vì một vật nào màthay đổi bốn mùa; minh quân; thánh nhân cũng không vì một vật nào mà bẻcong queo pháp luật”[3, 584] Theo Quản Trọng, phép trị nớc không có gìkhác là danh chính mà phép đủ, đợc vậy thì trong nớc vô sự mà bậc vua chúa
có thể “vô vi nhi trị”
Mặc dù vậy t tởng Pháp trị của Quản Trọng có những điểm hạn chế nh:Quy định luật pháp đã ban ra không đợc bàn tán, đó là t tởng chuyên chế độc
đoán Nhng điểm tiến bộ là rất rõ nét với những quy định có tính nguyên tắc
mà ông nêu ra đó là: Yêu dân, “muốn tranh thiên hạ thì trớc hết phải tranhthủ nhân tâm” Pháp trị đòi hỏi phải rành ròi về luật, lệnh, hình, chính, phảiminh bạch hợp với nhân dân, phải giáo dục pháp luật cho dân, đặc biệt luậtpháp phải chí công vô t, áp dụng nhất loạt với mọi ngời Ông là ngời đầu tiênnêu ra và đề cao “Pháp” cũng là ngời đặt nền móng cho t tởng Pháp trị của tr-ờng pháp “Pháp gia” sau này
Không chỉ đề ra t tởng Pháp trị mà ông đã áp dụng nó vào thực tế đất
n-ớc (nn-ớc Tề) khiến cho quốc gia nhỏ bé này dới thời Tề Hoàn Công trở nênhùng cờng
Trang 121.3.1.2 Lý Khôi (455 - 305 TCN) ngời nớc Ngụy, là nhà chính trị nổi
tiếng đầu thời Chiến Quốc Giữa thế kỷ V TCN ba họ đại phu nớc Tấn làNgụy, Triệu, Hàn đã phân chia nớc Tấn vốn do bọn quý tộc suy tàn thống trị,lập nên ba quốc gia Ngụy, Triệu, Hàn Lúc bấy giờ ở nớc Ngụy tàn d chế độ
cũ còn rất nặng nề, tầng lớp quý tộc suy tàn vẫn còn có thế lực tơng đối lớn,không ngừng tiến hành hoạt động phá hoại chính quyền của giai cấp địa chủmới vừa đợc xác lập ở ba nớc này
Cuộc đấu tranh phục hồi chế độ cũ và chống phục hồi chế độ cũ diễn rahết sức quyết liệt Nhằm củng cố nền thống trị của giai cấp địa chủ mới trỗidậy, đập tan thế lực phục cổ của bọn quý tộc cũ Vua nớc Ngụy là Ngụy VơngHầu đã bổ nhiệm Lý Khôi làm Thừa tớng, tiến hành cải cách đất nớc về kinh
tế - chính trị
Về mặt chính trị, ông xóa bỏ tàn d của bọn quý tộc cũ theo lối chatruyền con nối làm quan và hởng lộc (chế độ “thế khanh, thế tộc”) mà xét theocông lao và năng lực để tuyển dụng, cân nhắc quan lại, từ đó xây dựng từng b-
ớc chế độ quan liêu phong kiến Do đó, ông chủ trơng dùng “Pháp” để phủ
định “Lễ” và dùng nó để thay thế “Lễ”
Song song với cải cách chính trị, ông đã ban hành các chính sách kinh
tế nh “tận dụng khả năng ruộng đất và ổn định giá cả thóc gạo” cũng nhkhuyến khích sản xuất nông nghiệp Thi hành những biện pháp này nhằm mục
đích chống lại bọn quý tộc cũ và những ngời buôn bán đầu cơ trục lợi, để pháttriển nền kinh tế phong kiến và củng cố địa vị thống trị của giai cấp này Đểthích ứng với yêu cầu kinh tế phong kiến nớc Ngụy ngày càng phát triển, đểbảo vệ đặc quyền kinh tế, chính trị của giai cấp địa chủ mới giành đợc, LýKhôi đã viết sách “Pháp kinh” Nội dung tác phẩm thể hiện ý chí của giai cấp
địa chủ mà mũi nhọn đả kích vào tầng lớp quý tộc cũ Đây là bộ pháp điểnphong kiến tơng đối có hệ thống đầu tiên ở Trung Quốc, tác phẩm này có ảnhhởng tới các Pháp gia về sau “nó đặt cơ sở cho sự phát triển pháp chế phongkiến Đông Hán sau này” [24, 80]
1.3.1.3 Thân Bất Hại (Khoảng 385 - 337 TCN), là ngời đất Kinh, vốn
là một viên quan nhỏ ở nớc Trịnh, sau đó làm tớng quốc nớc Hàn Tác phẩmcủa ông là bộ “Thân tử” đã bị thất truyền chỉ còn lại thiên “Đại thế”
Ông là ngời lấy pháp thuật hình danh làm chính (nhấn mạnh tác dụngcủa “Pháp” và “Thuật”, dùng “Pháp” để phủ định “Lễ” của Nho gia, dùng
Trang 13“Thuật” để bổ trợ cho việc thi hành “Pháp” Ông nói: “Pháp” là nguyên tắc vàtiêu chuẩn để trị nớc, cũng nh cái cân là tiêu chuẩn đo lờng nặng nhẹ vậy, ôngcũng đa ra chủ trơng “xét công mà ban thởng, xét tài mà bổ nhiệm quan lại”.
Thân Bất Hại đặc biệt coi trọng “Thuật”, ông cho rằng vua chúa cầnphải nắm vững các biện pháp bổ nhiệm và bãi miễn, sát hạch kiểm tra và th-ởng phạt quan lại các cấp, vua chúa phải nắm quyền điều khiển quần thầnnhằm phát triển chế độ quân chủ tập quyền “Thân Bất Hại bên trong loi sửa
đổi lễ giáo, bên ngoài lo đối phó với ch hầu Suốt trong mời lăm năm cho đếnkhi Thân tử mất, đất nớc đợc bình yên, binh mạnh, không nớc nào xâm lấn n-
ớc Hàn”[32, 335] T tởng Pháp trị của ông có ảnh hởng mạnh mẽ tới đờng lốiPháp trị của Hàn Phi sau này
Nói đến trờng phái Pháp trị thời Chiến Quốc, ngời ta không thể quên
đ-ợc những đóng góp của Thơng Ưởng về mặt lý luận cũng nh thực tiễn thi hành
đờng lối trị quốc
đất nớc nếu không thì dân chúng sẽ không thể tuân theo Ông cho rằng, pháplệnh không thống nhất, xã hội sẽ hỗn loạn; pháp luật thống nhất, quan lại dựavào pháp luật mà thi hành không nhất thiết theo lệnh vua; dân chúng làm theopháp luật, không cần nghe ý chí của quan cầm đầu Cuộc “Biến pháp” của ông
ở nớc Tần có tính chất toàn diện trên nhiều phơng diện và đã đạt đợc nhữngkết quả:
Về kinh tế: Đặc biệt coi trọng và khuyến khích sản xuất nông nghiệp cơ sở của chế độ mới “Ai sản xuất đợc nhiều thì miễn su dịch, phát triển lực l-ợng sản xuất, mở rộng diện tích gieo trồng Đó là việc thừa nhận và hợp pháp
Trang 14-hóa chế độ sở hữu ruộng đất t, đồng thời tạo đợc điều kiện cho chế độ nàyphát triển mạnh mẽ, phá vỡ cơ sở kinh tế của chế độ cũ - chế độ “Tỉnh điền”của công xã nông thôn Mặt tích cực của chính sách này là phát hiện ra xu thếmới đang phát triển của nền kinh tế, tôn trọng và tạo mọi điều kiện thúc đẩynền kinh tế này phát triển nhanh hơn phù hợp với yêu cầu mới của thời đại Do
đó tăng cờng thêm thế lực kinh tế, chính trị của giai cấp địa chủ và hạn chếdần đi đến phá hoại chính sách kinh tế - chính trị của giai cấp thống trị cũ làviệc cấp thiết cần làm ngay Nh vậy, đơng nhiên biện pháp này đã đặt cơ sở,nền tảng cho sự ra đời một quan hệ bóc lột mới địa chủ - nông dân Đây lànhân tố cho sự hình thành và xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới là chế
độ phong kiến tiến tới thống nhất chế độ đo lờng, thị trờng, thúc đẩy kinh tếphát triển
Về chính trị - xã hội: Chủ trơng của Thơng Ưởng là xây dựng chế độquân chủ chuyên chế trung ơng tập quyền cao độ: Với nhân dân là dùng phápluật, mệnh lệnh của vua để cai trị bằng biện pháp tăng cờng quản lý cấphuyện, tập hợp làng xã và cắt cử quan lại đến trông coi, dẫn tới việc thắt chặthơn mối quan hệ giữa nhà nớc với các địa phơng, tăng cờng sức mạnh củachính quyền trung ơng, là biểu hiện cho sức mạnh của quốc gia dân tộc trongquá trình thống nhất lãnh thổ, tập trung quyền lực về một mối Tập quyền sẽ
dễ dàng cho việc thống nhất ý chí, sức mạnh cả quốc gia dân tộc, thuận lợicho việc huy động tiềm lực nhân dân trong chiến tranh hay công cuộc dựng n-
Điểm đặc biệt là ông chủ trơng kẻ nào làm loạn, phạm pháp ắt phải chịu tội.Tội nặng hay tội nhẹ đều không đợc bỏ qua, nhng cần đặc biệt chú ý: Trừngtrị nặng tội nhẹ nh vậy chẳng những tội nhẹ bị ngăn trừ mà tội nặng càng khóxẩy ra Đó là cách “dùng hình phạt để loại trừ hình phạt”
Để giữ gìn phép nớc và bình định trật tự xã hội, ông đặt lệ: Năm nhàthành một ngũ, mời nhà thành một thập, trong đó mọi ngời phải tự giám sát và
tố cáo lẫn nhau Ai thấy kẻ gian mà không tố cáo thì bị tội chém, ai tố cáo thì
Trang 15đợc thởng công nh đã giết đợc kẻ thù Bằng cách áp dụng triệt để đờng lối
“Pháp trị”, thởng phạt phân minh đã biến xã hội rối ren, loạn lạc dần đi vào ổn
định, trật tự theo khuôn phép
Về quân sự, với chủ trơng “lấy chiến tranh để từ bỏ chiến tranh” và coichiến tranh là một yếu tố không thể thiếu đợc trong quá trình thống nhất quốcgia, tập trung quyền lực Vì thế, ông ra sức khuyến khích ngời ra trận lậpcông, không phân biệt đó là dân thờng hay quý tộc Chính sách này đã có tácdụng mạnh mẽ làm cho quân đội Tần hùng mạnh hơn bao giờ hết, ai ra trậncũng chiến đấu hết mình Cuộc Biến pháp của Thơng Ưởng “tiến hành đợc 10năm, dân nớc Tần cả mừng”, “thôn ấp đại trị”, ngay cả đàn bà con trẻ khôngbiết chữ cũng có thể “nói về pháp chế của thơng Quân”
Trong Pháp gia có ba nhóm thì Thơng Ưởng chính là ngời chuyên dùnghình pháp để cai trị Vì thế, ông đợc coi là ngời đứng đầu nhóm dùng “Pháp”trong Pháp gia Tuy nhiên nếu quá coi trọng dùng Pháp, mệnh lệnh, pháp luật
hà khắc, khắt khe “một nhà có lỗi thì chín nhà phải cáo, nếu không tố cáo thìmời nhà cũng phải chịu tội chém ngang lng…” mang tính chất áp đặt, c” mang tính chất áp đặt, cỡngchế, phần nào quá tàn khốc, lại là tai hoạ vì “Ai cạy vào đức thì sẽ hng thịnh,
ai cạy vào sức thì sẽ mất”[32, 74]
Tóm lại, dùng “Pháp trị” nặng nề bởi lẽ xuất phát từ lợi ích, mu đồ phục
vụ cho mục tiêu chính trị của giai cấp địa chủ mà không phải xuất phát từ lợiích của nhân dân cho nên nó chỉ có tác dụng tức thời ngay trong hoàn cảnhbinh đao mà thôi chứ không phải là đờng lối chính trị lâu dài cho nền tháibình thịnh trị
Tuy nhiên, sau này đờng lối trọng “Pháp” đợc Hàn Phi đánh giá rất cao
và ông đã kế thừa và phát triển t tởng này của Thơng Ưởng
1.3.1.5 Thận Đáo, (? - ?) là đại biểu tiêu biểu cho nhóm trọng “Thế”
trong Pháp gia Ông ngời nớc Triệu theo học thuật của đạo Hoàng Lão đợc TềTuyên Vơng cho làm Thợng đại phu Tác phẩm của ông để lại có bộ “Thậntử” (42 thiên) “ông lấy học thuyết Hoàng Lão làm nền tảng cho lý luận Phápgia, chủ trơng: Tôn quân, tôn pháp, trọng thuật, cờng điệu tính trọng yếu của
“Thế trị”, khi ông cho rằng: “Rồng bay cỡi mây, rắn lợn trong sơng mù Tôikhông cho rằng rồng và rắn không dựa vào cái thế của mây và mù Tuy vậy,
bỏ ngời hiền mà chỉ độc dựa vào cái thế mà thôi thì có đủ để trị nớc haykhông? Tôi cha hề thấy điều đó”[21, 468]
Trang 16Với ông, “con rồng bay cỡi mây, con rắn lợn bay trong sơng mù Mâytan, mù tạnh thì con rồng con rắn cũng chẳng khác gì con kiến vì đã mất chỗdựa vào Ngời hiền mà phải chịu khuất phục trớc kẻ h hỏng, đó là vì quyềnmình nhẹ, địa vị mình thấp…” mang tính chất áp đặt, c Ta căn cứ vào đó thì biết cái thế và địa vị là đểnhờ vậy, còn sự khôn ngoan, sáng suốt không đủ cho ta hâm mộ”[21,467]
Có thể thấy vị trí của ngôi vua vô cùng quan trọng Do đó, ông cho rằngcần phải yêu cầu vua hoàn toàn hiền trí, nắm vững quyền thế thì lệnh sẽ đợcthi hành Theo ông, pháp luật tuy là nguyên tắc cao nhất của chính trị nhngnếu không có quyền thế để thi hành thì cũng mất hết ý nghĩa Ông tích cựcchủ trơng quyền lớn của nhà nớc đều tập trung vào tay vua Lý luận này có lợicho giai cấp địa chủ mới nổi lên để xây dựng chính quyền phong kiến chuyênchế trung ơng tập quyền, lấy chữ “Thế” làm trọng yếu, làm động lực chính trị
Mặt khác, ông cũng thấy đợc vai trò lớn của “pháp luật”: Khi nêu ra sựtất yếu phải xây dựng pháp luật về chính trị mà còn đặt ra chế độ đo lờng vềkinh tế “có quả cân và cán cân thì không thể bị ai lừa dối về sự nặng nhẹ; cóthớc tấc thì không thể lầm lẫn về chuyện ngắn dài; có pháp độ thì không ai cóthể lấy sự khéo léo mà lừa dối đợc”[39, 182]
Ông còn có quan điểm tiến bộ là luận thuyết tập quyền nhà nớc Theo
đó, trong nhà nớc thống nhất tập quyền ấy “chính trị phải theo ngời trên, mệnhlệnh phải do nhà vua ban ra” tất cả mọi ngời đều bình đẳng trớc pháp luật.Tuy nhiên, đó là t tởng chuyên chế độc tài tuyệt đối phục vụ xã hội của tầnglớp địa chủ phong kiến mới lên mà không xuất phát từ lợi ích của nhân dân
1.3.2 Kế thừa những t tởng của Bách gia
Không chỉ kế thừa những t tởng của các bậc tiền bối Pháp gia, mà HànPhi còn tiếp thu những nhân tố triết học của Bách gia làm bệ đỡ cho họcthuyết chính trị, xã hội của mình Tiêu biểu là học thuyết Lão - Trang và họcthuyết Nho giáo
Hàn Phi hấp thụ một vài nhân tố triết học Lão - Trang, đại biểu cho bọnquý tộc suy vong, và hỗn hợp các nhân tố đó vào học thuyết của mình Mộtmặt hấp thụ các học thuyết đó và đồng thời cũng phủ định chúng: Kế thừa
“tính ác” của thầy mình là Tuân Tử, phát triển thuyết “kinh nghiệm” của thầymình thành ra thuyết “tham nghiệm” và chủ nghĩa lợi kỷ; phát triển “lễnghĩa”, “pháp độ” thành thuyết “Pháp trị” Đồng thời Hàn Phi cũng kế thừa
Trang 17cái “thế” và chủ trơng thống trị t tởng và ngôn luận của Tuân Tử mà phát huythành cái thuật cai trị của vua chúa.
Mặt khác, lại kế thừa thuyết “vô vi” của Lão Trang và ứng dụng nó vàoviệc giải thích thuật cai trị của các bậc đế vơng Đồng thời lại lợi dụng t tởngcủa Lão - Trang mà đi tới nhận thức luận theo chủ nghĩa “tham nghiệm” Mộtmặt, lại phủ định “chủ nghĩa h vô” và “thuyết tơng đối” của Lão - Trang Tuynhiên, trong học thuyết của Hàn Phi không phải đã trộn lẫn các trờng phái t t-ởng một cách giản đơn mà chính là ông đã sáng lập ra hệ thống t tởng củamình trong điều kiện lịch sử thời bấy giờ “vì thế học thuyết của Hàn Phi, tronglịch sử học thuật xã hội phong kiến Trung Quốc, đã mang nhiệm vụ “kế thừaquá khứ, mở đờng cho tơng lai” [39, 278 - 279]
Có thể nói trớc Hàn Phi, học thuyết Pháp trị đã đợc hình thành nhng ảnhhởng lớn nhất đối với ông là Thơng Ưởng với t tởng “Pháp”, Thân Bất Hại với
t tởng về “Thuật”, Thận Đáo với t tởng về “Thế” Đó là những t tởng và cơ sở
lý luận để Hàn Phi xây dựng học thuyết Pháp trị của mình Nếu nh Lý Khôi,Ngô Khởi, Quản Trọng, Thơng Ưởng chỉ thấy đợc cái quan trọng của phéptắc, Thân Bất Hại thấy thêm đợc cái Thuật, Thận Đáo thấy đợc vai trò củaThế thì với Hàn Phi, đạo trị nớc phải trở thành một luận thuyết hoàn chỉnhgồm đầy đủ ba yếu tố: Pháp, Thuật, Thế để ngời cai trị dễ dàng sử dụng mà
điều hành đất nớc Đối với t tởng của ba phái trọng Pháp, trọng Thuật, trọngThế Hàn Phi đều có khẳng định kế thừa những nhân tố hợp lý và phủ địnhnhững nhân tố không phù hợp cho học thuyết của mình Điều ấy cũng tơng tựtrong khi ông hấp thu t tởng của Bách gia
Trang 18Chơng 2
T tởng Pháp trị của Hàn Phi
2.1 Thân thế, sự nghiệp và tác phẩm của Hàn Phi
2.1.1 Vài nét về thân thế và sự nghiệp
Trong lịch sử Trung Quốc, xuất hiện vô số những ngời tự cho mình là
“thầy của vua chúa” hoặc trên thực tế đã giữ vai trò ấy Nếu dựa vào ảnh h ởngsâu xa, to tát của những nhân vật đó đối với các đế vơng, cũng nh đối với lịch
sử phong kiến để xem thứ tự những “bậc thầy” ấy thì chiếc ghế số một có lẽthuộc về Hàn Phi chứ không phải ai khác
Tiểu sử của Hàn Phi đợc T Mã Thiên kể lại trong bộ “Sử ký”: Phi làcông tử nớc Hàn, chào đời khoảng 280 TCN, sinh ra và lớn lên trong điều kiệnthuận lợi, đợc nuôi dạy chu đáo Phi nổi tiếng là một ngời thông minh hamhọc và học rất giỏi, lại có năng khiếu về môn Văn Do có tật nói ngọng, diễn
đạt rất khó khăn nên ông không thể dùng lời nói để bàn luận, thuyết phục ngờinghe đợc, bù lại Hàn Phi lại có trí thông minh và suy nghĩ rất nhạy bén, giỏichọn lọc Hàn Phi nổi tiếng là ngời học rộng, giai đoạn tuổi trẻ ông đã cùngvới Lý T đến học với Tuân Tử thuộc phái Nho gia nhng lại say mê loại họcvấn kiểu hình danh và pháp thuật Niềm say mê thời trẻ đó đã để lại một dấu
ấn rất lớn trong t tỏng của ông sau này
Do xuất thân từ từng lớp danh gia, vọng tộc nên từ bé Hàn Phi đã nhìnthấy rõ các mối quan hệ giữa vua - tôi và nảy sinh ra chí hớng “trị quốc andân” Điều trăn trở lớn nhất của Hàn Phi là tìm cách khôi phục nớc Hàn, làmsao cho nớc mạnh lên để thống nhất thiên hạ
Sau khi học xong, ông rời nớc Sở trở về quê hơng của mình Hàn Phithừa biết rằng nớc Hàn đang trong thế yếu, nhng ông vẫn muốn đem tài năng
và trí tuệ của mình để phục vụ đất nớc Vốn sẵn có học vấn vô cùng uyên bác,Hàn Phi nghiệm lại tình hình chính trị của các thời đại, lý giải thực tiễn vàthấy rằng: Sở dĩ nớc Hàn yếu thế, chính trị rối ren là do các vua chúa không lo
Trang 19soi sáng pháp chế, chẳng lo kế sách cho nớc giàu dân mạnh, tin dùng nhữngngời giỏi Trái lại chỉ nghe theo bọn sâu mọt làm hại nớc Ông nhiều lần kiếnnghị với vua Hàn áp dụng pháp luật để đa đất nớc trở nên cờng thịnh, nhngvua Hàn tăm tối đã không đếm xỉa tới đề nghị của Hàn Phi Nhìn thế nớc đangnghiêng ngả mà không giúp gì đợc Ông đã quyết tâm dùng hết trí lực vào việcviết sách với hy vọng lúc nào đó vua Hàn sẽ tỉnh ngộ, thi hành Pháp trị, giúpnớc Hàn giàu mạnh lên
Nguyện vọng đó của Hàn Phi cha đợc thực hiện ở nớc Hàn thì ở nớcTần, Lý T lại vận dụng quan điểm của Hàn Phi để xử lý chính sự tại đây Lúcbấy giờ Tần vơng Doanh Chính đang chuẩn bị hoàn thành sự nghiệp thốngnhất to lớn của mình, đang cấp thiết cần đến một lý luận hoàn chỉnh thích hợp
để thống trị thì bắt gặp t tởng của Hàn Phi, vì quá cảm xúc nên ông đã buộtmiệng nói: “Than ôi! quả nhân mà đợc chơi bời với con ngời này thì có chếtcũng không ăn năn”[32, 342]
Lý T tâu với vua Tần đó là Hàn Phi, hiện đang sống tại nớc Hàn Tần
v-ơng bèn ra lệnh cử binh đánh Hàn, yêu cầu Hàn Phi tới nớc Tần Vốn chẳngtrọng thị Hàn Phi, thấy vua Tần huy động cả quân đội kéo tới chỉ vì một gã thsinh cho nên vua Hàn lập tức bảo Hàn Phi tới nớc Tần - Phi đợc giao nhiệm vụphải cứu nớc Hàn khỏi bị nớc Tần diệt Mà thực tế lúc này tình hình nớc Hàn
2.1.2 Tác phẩm Hàn Phi Tử“ ”
Trang 20Tác phẩm để lại của ông là bộ “Hàn Phi Tử”, toàn bộ nhằm xây dựngmột thể chế chính trị chuyên chế trung ơng tập quyền, thuật trị quốc dụngnhân, tôn quân quyền …” mang tính chất áp đặt, c đều đợc tổng hợp trong tác phẩm kiệt xuất này.
Với văn phong chặt chẽ, khúc triết, phân tích kết quả tỷ mỷ, là mộtphong cách rất độc đáo trong nền văn học cổ đại Đối với văn hóa thế giới HànPhi Tử là một tác phẩm hết sức độc đáo Về mặt chính trị, nó là công trìnhquan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa và một trong những tác phẩm
đầu tiên của chính trị học thế giới [21, 5]
Theo T Mã Thiên, tác phẩm này gồm trên một vạn chữ Khoảng 300năm sau khi ông mất, Lu Hớng đời Hán thu thập các tác phẩm của ông đợc 55thiên, trong đó mặc dù có một phần bị ngời đời sau lầm lẫn đa một số sáng táccủa ngời khác vào, nhng những chơng chủ yếu trong đó nh Hiển học, Ngũ đố,
Định pháp, Nạn thế, Ngụy sử, Lục phản, Vấn biện, An nguy, Nạn nhất đều tin
đợc là sáng tác của Hàn Phi” [21, 157]
“Đọc lại t tởng Pháp trị của ông trong tác phẩm này, chúng ta khôngkhỏi giật mình khi biết rằng con ngời ấy sống cách chúng ta ngày nay hơn2.300 năm Ta có cảm tởng rằng tác giả là ngời hiện nay, nói bằng ngôn ngữ
và cách lý luận hôm nay về các quan hệ giữa ngời với ngời ngày hôm nay,không chỉ ở Trung Hoa mà ở cả thế giới, trong đó có Việt Nam” [21, 5]
Với tác phẩm kiệt xuất này ông đã kết hợp cả ba yếu tố “Pháp”, “Thuật”
“Thế” là ba nhóm phái của Pháp gia, đa ông trở thành tập đại thành của trờngphái này Về sau, nó đợc coi là quyển sách gối đầu giờng của các bậc đế vơng,các chính trị gia phong kiến Trung Hoa
Do ngời ta cha biết hết công dụng của việc phổ biến pháp luật nên vuachúa, quan lại nghĩ rằng hình pháp đợc giữ bí mật càng có giá trị cho việc cai
Trang 21trị của chúng Đến năm 513 TCN tại nớc Tần ngời ta mới đem “Hình th” củaPhạm Tuyên Tử khắc lên đỉnh đồng thì Khổng Tử đã kịch liệt phản đối, vì ôngcho rằng làm nh thế dân biết hình pháp sẽ không còn tôn trọng tầng lớp quýtộc nữa
Kế tục sự nghiệp của các vị tiền bối Pháp gia, Hàn Phi cho rằng con
ng-ời vốn có tính t lợi, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, bao giờ con ngng-ời cũng
mu mô tính toán để kiếm cái lợi cho riêng mình, cái lợi ở đâu thì ng ời ta theo
đó mà làm Không còn cách nào khác, muốn bắt ngời ta phục tùng thì “Nhân”,
“Nghĩa” của Nho gia chẳng thể giúp ích gì đợc cho xã hội lúc bấy giờ, chỉ cópháp luật với sức mạnh của nó mới đủ sức làm cho cái t lợi kia chịu phục tùnggiai cấp thống trị: “Nay có đứa con h hỏng, cha mẹ giận nó, nhng không thểlàm cho nó sửa đổi; những ngời trong làng chê bai nó nhng không thể làm cho
nó lay chuyển Thầy giáo dạy nó mãi nhng cũng không làm cho nó laychuyển Lấy tình yêu của cha mẹ, lấy đức hạnh của ngời trong làng, lấy cáikhôn ngoan của ông thầy học, cả ba cái tốt đều thi hành, nhng rốt cục nó vẫnkhông lay chuyển, không thay đổi một sợi tóc Quan lại trong Châu sai binhlính thi hành phép công tìm bắt kẻ gian, lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tínhnết, thay đổi tính hạnh của mình Cho nên, cha mẹ yêu con không đủ để dạycon, thế nào cũng phải nhờ cậy hình phạt nghiêm khắc của Châu, Quận mới đ-
ợc Dân chúng nếu đợc thơng yêu thì sinh kiêu căng nhng nghe theo uy lực”[21, 547]
Do mất lòng tin vào việc có thể dùng đạo đức, nhân nghĩa để cảm hóadẫn dắt con ngời, Hàn Phi đã tìm đến pháp luật nh một phơng thức duy nhấthữu hiệu để trị bệnh t lợi, gian ác của loài ngời Đó là cơ sở để bình ổn xã hội
đang xáo trộn, rối ren Nhng pháp luật không phải là thứ mà ai cũng có thểlàm ra, ông cho rằng pháp luật phải là một thứ do nhà nớc ban hành và công
bố rộng rãi trong nhân dân Để nó trở thành thứ tiêu chuẩn cho đạo đức của xãhội nh những dụng cụ cái quy, cái củ, cái thớc, cái tấc vậy
Lý thuyết Pháp trị của Hàn Phi cho rằng pháp luật là điều kiện chủ yếu,con ngời chỉ là thứ yếu Cho nên nếu duy trì đợc hiệu lực của pháp luật thì sẽgiữ đợc trạng thái ổn định của xã hội Hàn Phi nói tiếp: “Bỏ pháp luật mà lấycái tâm để cai trị thì Nghiêu không thể chỉnh đốn đợc một nớc Bỏ cái quy, cái
củ mà lấy ý mà đo đạc Hề Trọng không thể làm một bánh xe Bỏ thớc tấc để
so sánh cái ngắn dài thì Vơng Nhĩ không thể nêu đợc chỗ giữa Nhng nếu một
Trang 22ông vua trung bình nắm lấy pháp luật và thuật trị nớc, một ngời thơ vụng giữcái quy, cái củ, cái thớc, cái tấc thì vạn điều không sai một điều” [21, 252]
Bằng một loạt chứng cứ, lập luận để bác bỏ luận thuyết của Nho giatrong việc “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, ông đi đến khẳng định: Sửdụng Nhân, Nghĩa trong trị quốc chính là dấu hiệu tất yếu cho sự bại vong củamột quốc gia
Nh thế, có thể nói rằng điểm khác biệt căn bản giữa Pháp gia và Nhogia là ở chỗ cùng vơn lên nắm quyền, bình ổn xã hội nhng mỗi trờng phái lạilựa chọn cho mình một thứ công cụ để làm đợc việc ấy Nếu nh Nho gia nêu
ra tiêu chuẩn dựa vào ý chí chủ quan của con ngời (nghĩa là dùng tình cảm đểxem xét, đánh giá sự vật khách quan) thì Pháp gia lại chọn cách lấy tiêu chuẩnkhách quan (ở đây là pháp luật để làm đợc điều ấy) Muốn pháp luật thực sựtrở thành công cụ hữu hiệu để cai trị xã hội đòi hỏi nó cũng phải tuân theonhững nguyên tắc nhất định có tính chất định hớng, soi đờng cho việc khẳng
định quyền lực tuyệt đối của nhà nớc
Khi đa ra lý luận để xây dựng pháp luật, Hàn Phi đã chú ý tới các vấn
đề cơ bản và đợc ông sắp đặt nh sau: Trớc tiên phải chú ý tới vấn đề địnhpháp, giáo dục pháp luật cho dân rồi mới thi hành
2.2.1 Vấn đề định pháp
2.2.1.1 Pháp luật phải khách quan, kịp thời
Hàn Phi cho rằng: Để bảo vệ sự tôn nghiêm của nhà vua thì pháp luậtban ra phải đợc thi hành với tất cả mọi ngời Muốn làm đợc điều này thì phápluật “…” mang tính chất áp đặt, ckhông tránh ngời thân, ngời sang, pháp luật thi hành với những ngờimình yêu” [21, 389]
Tính khách quan còn thể hiện ở chỗ: Pháp luật cần phải thay đổi chophù hợp với từng thời kỳ, với thực tiễn khách quan, với sự phát triển của xãhội chứ không phải là cái gì bất biến Mục đích Hàn Phi nêu ra nguyên tắc nàynhằm phá vỡ thế độc quyền của bọn quý tộc phế tập Vì trớc kia, pháp luật đợcgiữ kín, có tính chất bí mật để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của những kẻ thốngtrị cũ muốn duy trì sự tồn tại của chế độ đã không còn hợp với thời thế vớimột thứ quan hệ sản xuất vốn đã quá chật hẹp, ngột ngạt Trong khi đó, tronglòng của nó nền kinh tế của giai cấp địa chủ mới nảy nở và phát triển mạnh
mẽ cần có “không gian” để tồn tại Vì vậy, chỉ có nắm trong tay quyền lựcchính trị thì giai cấp địa chủ phong kiến mới lên sẽ có điều kiện để phát triển
Trang 23nền kinh tế của mình Muốn vậy cần phải công bố luật pháp một cách này Do
đó, ngời phát ngôn lớn nhất của giai cấp địa chủ mới là Hàn Phi chủ trơng nêucao nguyên tắc khách quan nhằm trừ bỏ đặc quyền, đặc lợi của bọn quý tộc cũmuốn níu kéo quan hệ sản xuất vốn đã lỗi thời, phản động Chính vì vậy, sựphù hợp của pháp luật với hiện thực khách quan là đòn giáng đầu tiên xuống
đầu bọn quý tộc cũ để giai cấp địa chủ phong kiến có thể nắm lấy quyền lựcnhà nớc vào tay mình
Cho dù không đứng trên lập trờng giai cấp, đấu tranh giai cấp thì cũngphải thấy đợc rằng: Pháp luật là sự phản ánh đời sống xã hội trên phơng diệnhình luật Bởi thế, khi xã hội không còn nh cũ nữa thì pháp luật cũng phải thay
đổi theo là một lẽ tất yếu Vì rằng, lịch sử xã hội loài ngời không phải bất biến
mà luôn biến đổi, vận động, đời sau không giống nh đời trớc Xuất phát từquan điểm duy vật chất phác, thô sơ Hàn Phi cho rằng xã hội loài ngời pháttriển từ thấp tới cao nên cần thay đổi pháp chế cho kịp với sự phát triển đó.Phải nói rằng, t tởng ấy xuất hiện cách ngày nay hơn 2.300 năm, quả là một b-
ớc tiến bộ vợt bậc của thời đại bấy giờ
Vậy cái mà Hàn Phi gọi là “pháp luật” là gì? ông nói: “Phép trị nớc làcái đợc chép trong sách vở, bày ra nơi công đờng và công bố cho trăm họ”[21, 457] Do đó, Hàn Phi chủ trơng một thứ pháp luật tiêu chuẩn, thành văn
đợc công bố rộng rãi
Toàn bộ pháp luật mà Hàn Phi và những vị tiền bối của Pháp gia nêucao không ngoài một ý nghĩa chính trị là phủ định cái “pháp luật” xa nay theochế độ địa vị, đẳng cấp của con ngời không ngoài quý tộc mà cố định đời đờiHàn Phi thấy rằng: “Việc trị dân không có cái nguyên tắc bất biến, chỉ cópháp luật làm cho dân trị an Pháp luật thay đổi theo thời thì trị, việc cai trịthích hợp theo thời thì có công lao, cho nên nếu dân chất phác mà lấy cái danh
để ngăn cấm thì trị an, còn đời khôn ngoan chỉ dùng hình phạt dân mới theo cho nên bậc thánh nhân trị thì pháp luật theo thời mà thay đổi và sự ngăn
…” mang tính chất áp đặt, c
cấm theo khả năng mà thay đổi [21, 588]
Ông cho rằng, thời kỳ Xuân Thu khi chế độ nhà Chu đang lung lay thìpháp luật cần phải phổ biến để ổn định xã hội Đó là lý do mà nớc Tần đúcvạc, nớc Trịnh có T Sản đúc “Hình th”, Đặng Tích chế “Trúc hình”, nớc Ngụy
có Lý khôi soạn “Pháp kinh” Tất cả đều thuận theo thời thế mà đa ra nhữngbiện pháp khác nhau Kế tục tinh thần ấy, Hàn Phi đặc biệt coi trọng nguyên
Trang 24tắc này Coi đó là nguyên tắc để chỉ đạo toàn bộ nội dung pháp luật mà ông
đặt ra
2.2.1.2 Pháp luật phải minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thi hành
Ông cho rằng pháp luật là để áp dụng cho dân nên phải soạn thảo saocho dân dễ hiểu, vì không phải ai cũng có đầu óc tinh tế Chính vì vậy, nhữngnhà định pháp luật phải lu ý cần soạn thảo một cách tờng tận, rõ ràng, dễ hiểu
để đại đa số dân chúng có thể hiểu và tuân theo một cách thống nhất: “Phápluật rõ ràng thì ngời hiền không cớp của kẻ kém, ngời mạnh không thể hiếp kẻyếu, ngời đông không thể hung bạo với kẻ ít” [21, 249]
Nhng không vì thế mà pháp luật quá tỉnh lợc, quá sơ sài khiến cho nó
dễ bị bẻ cong hoặc giả dân chúng khó hiểu nên thờng xuyên tranh tụng “Phápluật rõ ràng thì ngời trên đợc tôn trọng mà không bị xâm lấn thì vua mạnh vànắm cái chủ yếu …” mang tính chất áp đặt, c Kẻ làm vua chúa bỏ pháp luật mà theo ý riêng thì trên dớikhông phân biệt” [21, 63]
ở thiên “Ngoại trừ thuyết hữu hạ”, Hàn Phi viết: “Nớc trị binh cờng là
do pháp luật sinh ra Nớc loạn là và yếu là do pháp luật quanh co sinh ra, bậcvua sáng thấy rõ điều đó thì làm cho sự thởng phạt đúng đắn chứ không dùnglòng nhân đối với những ngời dới” [21, 393]
Ông thấy đợc rằng: “Sách nói tóm tắt thì bọn học trò hay biện luận,pháp luật gọn thì việc kiện tụng của dân ít đi Vì vậy, cho nên sách của thánhnhân thứ nào cũng lý luận rõ ràng, pháp luật của vị chúa sáng thế nào cũng xét
sự việc rõ ràng” [21, 522] Có làm đợc điều này thì vua chúa mới nắm đợcnhững công việc quan trọng và ngời dân thờng cũng biết đợc luật pháp, lúc ấyvua không cần bận tâm nhiều đến mọi việc mà đất nớc vẫn cai quản tốt
Mục đích của việc ban hành pháp luật một cách minh bạch, rõ ràng, dễhiểu chính là tránh sự tùy tiện thi hành phép công, tránh việc có ngời lợi dụng
kẽ hở của pháp luật ấy mà làm lợi cho bản thân mình, làm mất đi ý nghĩa, tínhnghiêm minh của hình pháp
2.2.1.3 Pháp luật phải thống nhất, ổn định, chắc chắn
Khi đa ra nguyên tắc này tởng chừng nó đối lập với nguyên tắc: “phápluật phải phù hợp với thực tiễn khách quan”, với sự phát triển của xã hội Nh -
ng thống nhất, ổn định và chắc chắn mà ông nêu ra ở đây nghĩa là khi banhành pháp luật mới thì không thể vẫn giữ kh kh những nội dung pháp luật cũ,làm nh thế thì quan lại, dân chúng không biết nên dựa vào đâu để thực thi
Trang 25mệnh lệnh Muốn vậy, khi pháp luật mới đợc ban hành phải bỏ pháp luật cũ
đi Nếu không nó sẽ là cơ hội cho kẻ gian lợi dụng kẽ hở, mu lợi cá nhân gâynên sự hoang mang trong dân chúng Nhng mục đích sâu xa của Hàn Phichính là đánh đổ cái pháp luật của kẻ thống trị cũ, xác lập sự thống trị của giaicấp địa chủ - phong kiến
Tính ổn định của pháp luật cần phải đợc xác định dựa trên một văn bản
rõ ràng Bởi lẽ, nếu nh định pháp mà dựa vào sự chủ quan của cá nhân để sửa
đổi phép công theo tình cảm riêng t sẽ làm mất đi tính nghiêm minh, chặt chẽcủa pháp luật Do đó, hiệu lực thi hành của pháp luật bị xâm phạm nghiêmtrọng khi mà những kẻ “thích dùng trí khôn để bẻ cong pháp luật, thờng thay
đổi phép công, pháp luật, cấm đoán thay đổi luôn, mệnh lệnh đa xuống nhiềuthì có thể mất nớc” [21, 142]
Nh vậy, Hàn Phi xác định rằng pháp luật phải là mệnh đợc nhà vua ban
bố ra Khi đã thống nhất ban bố thì không thể vô cớ thay đổi Nó phải đợc ổn
định cho dân chúng tin tởng mà tuân theo Do tầm quan trọng của vấn đề nên
ông đặc biệt nhấn mạnh: Pháp luật không gì bằng thống nhất và chắc chắn,khiến cho dân biết nó Vì vậy cho nên nhà vua đã ban thởng thì không đổi, đãtrừng trị thì không tha, cái đạo của nhà vua sáng là ở chỗ phải thống nhất phápluật, làm cho pháp luật mệnh lệnh ổn định mới có đủ uy lực trị vì đất nớc rộnglớn
Khi pháp luật đã đợc xác định theo thực tiễn khách quan, đợc thốngnhất và ổn định rồi thì lúc ấy mới đem ra phổ biến cho thần dân của mình từtúy tộc, quan lại cho đến thứ dân Vì vậy, ông đa ra nguyên tắc tiếp theo lànguyên tắc pháp luật phải có tính phổ biến
2.2.1.4 Pháp luật phải có tính phổ biến
Cách thức để phổ biến pháp luật trong nhân dân đợc Hàn Phi tiếp thu từnhững vị tiền bối của Pháp gia: T Sản đúc “Hình th”, Đặng Tích chế “Trúchình”, Lý Khôi có “Pháp kinh”, Thơng Ưởng ban bố Biến pháp …” mang tính chất áp đặt, c Từ đó ông
đề cập đến việc viết lên thẻ tre treo ở nơi công cộng, dùng quan lại để dạy vàphổ biến luật pháp cho dân chúng “Phép trị nớc là cái đợc chép trong sách vở,bày ra nơi công đờng và công bố cho trăm họ …” mang tính chất áp đặt, c cho nên pháp luật không gìbằng bày ra rõ ràng …” mang tính chất áp đặt, c Vì vậy bậc vua sáng nói đến pháp luật thì ngời thấphèn trong thiên hạ không ai không nghe, không biết chứ không phải chỉ là bầy
ở công đờng mà thôi”[21, 457- 458]
Trang 26Đó chính chủ trơng lấy pháp luật làm sách giáo khoa “Dĩ pháp vi giáo”,lấy quan lại làm thầy “Dĩ lại vi s” Ông không chỉ chú ý đến đối tợng biết chữnghĩa trong thiên hạ mà ngay cả những kẻ không biết đến nó cũng phải biết vàthi hành đúng phép công Điều này Thơng Ưởng đã từng làm đợc dới thời TầnHiếu Công, đến nỗi trẻ con cũng thuộc làu pháp luật mà ông ban bố
Rõ ràng, quan niệm về tính phổ biến của pháp luật mà Hàn Phi nêu rakhông chỉ kế thừa sự nghiệp của các vị tiền bối Pháp gia trớc đó mà nó còn cótính chất tiến bộ so với thời đại bấy giờ khi mà bọn quý tộc thế tập, khanh đạiphu chỉ muốn ôm kh kh pháp luật cho riêng mình, thích làm ma làm gió gì thìlàm đối với dân chúng, nhằm bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị
cũ Còn Hàn Phi cho rằng, pháp luật trong nhà nớc Pháp trị mang tính phổbiến chứ không phải là “Lễ” trong nhà nớc Nhân trị mang tính chất hạn hẹp,chỉ lu hành trong nội bộ giới cầm quyền mà thôi
Nhận thức đợc sự phản kháng quyết liệt của tầng lớp quý tộc phongkiến cát cứ, thế tập luôn phản đối việc thay đổi luật lệ, muốn giấu kín phápluật Hàn Phi tiếp tục giáng thêm một đòn mạnh mẽ vào chế độ cũ bằng sựphổ biến luật pháp của giai cấp địa chủ phong kiến mới lên
Tất cả những nguyên tắc lập pháp mà Hàn Phi nêu lên không ngoài mục
đích phá vỡ những đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc cũ, tạo cơ hội chogiai cấp địa chủ có thể vơn lên nắm quyền mà lâu nay họ không thể nắm đợc
do sự hiện diện của chế độ phản phong, thế tập Nhng mặt khác, nó cũng tạo
ra cho nhân dân có đợc sự “bình đẳng” nhất định trớc pháp luật mà trớc kiachỉ dành riêng cho bọn thống trị theo nguyên tắc bất biến: “Hình không đếnbậc đại phu, lễ không đến hạng thứ dân” Điều này đã vi phạm nghiêm trọnglợi ích của bọn quý tộc cũ đã rất ngoan cố, quyết liệt phản kháng đã gây chogiai cấp địa chủ mới những thiệt hại đáng kể Mặc dù gặp phải sự phản khángquyết liệt thậm chí phải trả bằng mạng sống của mình nhng Pháp gia vẫn kiênquyết thực hiện con đờng “minh Pháp”
Đứng trên lập trờng t tởng của giai cấp địa chủ, Hàn Phi đã loại bỏ hoàntoàn t tởng của tầng lớp quý tộc cát cứ cũ, ông ra sức vào một cơ sở pháp lýchắc chắn khẳng định sự tiến bộ của chế độ mới - chế độ phong kiến chuyênchế trung ơng tập quyền
2.2.2 Về việc thi hành pháp luật
Trang 27Khi pháp luật đã đợc soạn thảo xong, vấn đề tiếp theo là phải thi hànhluật lệnh ấy sao cho nghiêm minh, cân bằng, làm cho pháp luật sáng tỏ trong
đời sống chính trị - xã hội Khi đó pháp luật có đợc bảo vệ hay không lạithuộc về những ngời đợc coi là “cầm cân nảy mực” cho cái đúng sai để giữ gìnquy củ, phép tắc của quốc gia Khi pháp luật đã đợc thống nhất rồi thì cứ thế
mà thực thi cho đúng, còn thi hành pháp luật cũng không thể tùy tiện theo ýmuốn riêng của mỗi ngời mà cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
2.2.2.1 Pháp luật đợc áp dụng phải chuyên, không đợc bàn ra vào
Để cho mệnh lệnh, pháp luật ban ra đợc quyết đoán và nghiêm minh.Theo Hàn Phi nên cấm những học thuyết không còn phù hợp với tình hìnhmới, tức là bãi bỏ t tởng của những học giả đề cao nhân nghĩa, không nghetheo những kẻ du thuyết Đó là những kẻ chỉ giỏi biện luận, hào nhoáng bênngoài chứ thực chất những học thuyết ấy không hề có tác dụng gì đối với xãhội hiện tại Mà ngợc lại, khiến cho việc cai trị của vua chúa thêm rối loạn doquá nhiều lời bàn tán ra vào Đó là điều làm cho quốc gia loạn lạc, không thểcai trị đợc Trên tinh thần ấy, Hàn Phi kêu gọi “Chấm dứt văn học để nêu rõpháp luật và quy tắc, chăn cái tiên riêng để làm cho cái công lao thống nhấtlại Đó là cái lợi chung Lập pháp để hớng dẫn dân mà lại còn quý văn học thìdân tuy theo pháp luật nhng vẫn còn ngờ vực Thởng công để khuyến khíchdân nhng lại đề cao trau dồi đức hạnh thì dân sẽ lời biếng trong việc làm ra cáilợi Quý chuộng văn học để cho dân nghi ngờ pháp luật, đề cao việc trau dồi
đức hạnh cho nó ngang với công lao mà lại muốn nớc mạnh, dân giàu thìkhông thể đợc” [21, 517-518]
Trong Thiên “Sức lệnh” Hàn Phi viết: “Trau dồi mệnh lệnh thì pháp luậtkhông thiên lệch, pháp luật công bằng thì quan lại không làm điều gian Mộtkhi pháp luật xác định rồi thì không vì lời nói hay mà làm hại đến pháp luật.Dùng ngời có công thì dân ít bàn tán, dùng ngời mình thân thì dân hay nói.Thi hành pháp luật là do chỗ quyết đoán” [21, 583- 584]
Chủ kiến của Hàn Phi là xây dựng một thứ pháp luật chắc chắn, quyết
đoán để phục vụ cho sự tôn nghiêm của chế độ quân chủ chuyên chế trung
-ơng tập quyền mà ông muốn xây dựng Hay nói cách khác, đó là chế độ cựcquyền lấy pháp luật làm công cụ bảo vệ chế độ Mặc dầu vậy, ông vẫn khôngquên nêu ra nguyên tắc thi hành pháp luật là phải công bằng
2.2.2.2 Thi hành pháp luật phải công bằng
Trang 28Do con ngời sinh ra vốn đã có tính t t, t lợi cho nên thế nào khi áp dụngpháp luật phải là khuôn phép, chuẩn mực Để hớng cái t lợi ấy dần dần theocon đờng triệt tiêu, chỉ còn lại là lợi ích chung của đất nớc, của nhà vua Nhngthi hành phép công chính là quan lại, quần thần Mà theo Phi, giữa vua vàquần thần ở những vị trí khác nhau, không cùng chung lòng dạ nên lợi ích củabầy tôi và lợi ích của vua chúa là đối lập nhau Vua thì muốn dùng bầy tôi đểlàm lợi cho đất nớc, còn bầy tôi thì tôn thờ nhà vua để mu cầu lợi ích riêngcho mình Từ đó, cái lợi cho bầy tôi lại là cái hại cho đất nớc, cái lợi cho đấtnớc thì có hại cho bầy tôi Vì thế, việc phân định rạch ròi ranh giới giữa công
và t đối với Hàn Phi là điểm mấu chốt để thực thi pháp luật thiết diện vô t Cònkhi đã phân định công - t rõ ràng thì việc thi hành pháp luật phải công bằng
Có thực thi pháp luật công bằng, gạt bỏ những hành động thiên vị thì phépcông mới đợc tôn trọng, lúc ấy lo gì binh không cờng, nớc không thịnh, thiênhạ không thái bình
Công bằng ở đâu? Phi nêu ra là: Bất kể ngời sang, hèn, dân chúng hayquý tộc kể cả hoàng thân, quốc thích đều phải lấy pháp luật làm tiêu chuẩn đểxét xem công - tội chứ không phải dùng “Lễ” là những quy tắc, đặc quyềnriêng cho tầng lớp trên mà lại dùng “Hình” đối với tầng lớp dới ở thời XuânThu Khi pháp luật đợc công bố thì cần phải theo đó mà thi hành, lấy đó làmtiêu chuẩn của xã hội: “Pháp luật không hùa theo ngời sang, sợi dây dọi khônguốn mình theo cây gỗ cong Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng khôngthể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đạithần, thởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” [21, 62]
Đó là một quan niệm mang tính chất tiến bộ vợt bậc, nó bác bỏ hoàntoàn quan niệm “Hình bất hớng đại phu” của Nho gia Còn để phép công đợctôn trọng đòi hỏi những nhà cầm quyền phải thực sự “chí công vô t”, gạt bỏnhững điều riêng để phục vụ lợi ích chung của đất nớc: “Đạo của bậc vua chúa
là phải phân biệt rõ việc chung với việc riêng, nêu cao pháp chế, gạt bỏ cái ơnriêng Phàm mệnh lệnh thì phải thi hành, đã cấm thì phải thôi Đó là cái nghĩachung của nhà vua quyết tâm là việc riêng giữ chữ tín với bạn bè, không đểcho việc thởng khuyến khích, không để cho việc phạt cản trở Đó là cái nghĩariêng của bầy tôi Cái nghĩa riêng đợc thi hành thì sinh loạn, cái nghĩa công đ-
ợc thi hành thì trị an, cho nên việc công và việc riêng phải phân biệt” [21,167]
Trang 29Chính vì vậy, bậc minh quân phải làm sao gạt bỏ cái bụng riêng t củabầy tôi nhằm mục đích thi hành cho toàn thể đất nớc đợc trị an Nhợc bằng,nhà vua không làm đợc điều ấy thì đất nớc sẽ sinh loạn ở điểm này t tởng củaHàn Phi có điểm giống với Mạnh Tử khi ông thấy rằng con ngời thấy cái lợi
nh nớc chảy xuống chỗ trũng Mọi ngời ai cũng nghĩ đến cái lợi thì quốc giatất sẽ loạn Nhng cách giải quyết vấn đề thì hoàn toàn đối lập nhau: Hàn Phi
sử dụng pháp luật để kìm hãm, thủ tiêu cái t lợi Còn Mạnh Tử lại sử dụngNhân, Nghĩa để làm điều ấy
2.2.2.3 Thởng - phạt nghiêm minh
Tính công bằng của pháp luật thể hiện rõ nhất ở việc nêu cao hainguyên tắc thởng - phạt mà Hàn Phi cho rằng đó chính là “Hai cái cán” của
đạo trị nớc
Đây là biện pháp đã từng đợc các đại biểu đầu tiên của Pháp gia đề xuất
và sử dụng Đến Hàn Phi, nguyên tắc này càng đợc đề cao trong việc thực thipháp luật Muốn cho cái t lợi của con ngời không còn nữa để phục vụ cho cáichung thì không còn gì bằng thởng để khuyến khích việc làm đúng, phạt đểngăn chặn, răn đe và triệt tiêu những hành động đi ngơc với văn hoá, với lợiích của ông vua, của đất nớc Có thởng phạt thì những bề tôi mới dốc hết sứcmình phục vụ cho nhà vua: “ Bậc thánh vơng làm pháp luật thì cái thởng của
ông ta đủ khuyến khích điều thiện, cái uy của ông ta đủ để thắng điều hungbạo Sự chuẩn bị của ông ta đủ để làm cho công việc xong xuôi” [21, 247]
Mục đích hớng tới của Hàn Phi chính là tạo cho xã hội những con ngời
có bản tính ngay thẳng, dốc hết sức, trung thành tuyệt đối với nhà vua chuyênchế
Trong thiên “ Nhị bính”, Hàn Phi cho rằng vị vua muốn trị nớc an dânkhông gì bằng dùng hai cái cán: “ Bậc vua sáng suốt sỡ dĩ lãnh đạo và chế ngựbầy tôi chẳng qua là nhờ hai cái cán mà thôi, hai cái cán ấy là hình và đức …” mang tính chất áp đặt, c,giết chóc gọi là hình phạt, khen thởng gọi là ân đức” [21, 63]
Chủ trơng của Pháp gia không phải là dùng hình phạt để trị quốc Chữ
“Pháp” mà họ nói là một thứ pháp luật tiêu chuẩn, có tính cách khách quan, bátính căn cứ theo tiêu chuẩn đó mà hành động, vua chúa - quan lại theo tiêuchuẩn đó để thởng, phạt Hình phạt chẳng qua là một thứ phơng tiện thi hànhcái pháp luật tiêu chuẩn mà thôi Hình phạt trở thành một bộ phận của “Luậtpháp”, tức là hình phạt của “Luật pháp” Vì thế, khi tiến hành khen thởng thì
Trang 30tốt nh trận ma đúng lúc, trăm họ đều đợc hởng ân huệ Khi thi hành trừng phạtthì nghiêm nh sấm sét, thánh thần cũng không thể cứu đợc Đó mới là đạo trịquốc của bậc minh quân Thế nhng, Hàn Phi nói riêng và Pháp gia nói chunglại quá đề cao nguyên tắc này mà lạm sát vô số, khiến cho mâu thuẫn giai cấptrở nên gay gắt Từ một xã hội vốn yên bình đã trở nên khó kiểm soát nổi khi
mà tội nhân và nhà tù đâu đâu cũng gặp Một không khí chính trị hết sức căngthẳng, ngột ngạt lúc nào cũng thờng trực trong xã hội “Pháp trị”
Nếu nh điểm tích cực của Nho gia và đóng góp nhiều nhất của họ đó làlĩnh vực giáo dục, uốn nắn nhân cách con ngời Trong khi đó, Pháp gia cũngquan tâm đến giáo dục nhng không phải dùng giáo dục với ý nghĩa đó Mà ở
đây họ chủ trơng giáo dục mọi ngời bằng pháp luật để cho thần dân của mìnhvào trong khuôn phép
2.2.3 Giáo dục pháp luật
Gia đình là cái gốc của xã hội, là môi trờng giáo dục đầu tiên của mỗicon ngời Xuất phát từ đó, Hàn Phi muốn dùng gia đình là điểm tựa nêu lênquan điểm giáo dục của mình Vì mẹ thơng con nhiều hơn cha nhng lệnh củacha đa ra lại đợc đứa con thi hành gấp mời lần lệnh của mẹ Từ đó ông chorằng giáo dục con ngời không nên dùng Nhân, Nghĩa bởi lẽ, bản tính con ngờivốn ác Cho nên “Bậc vua sáng trị nớc thì dùng nhiều ngời, giữ và trị tội nặng,sai khiến dân bằng pháp luật và sự cấm đoán chứ không phải bằng liêm sỉ”[21, 507]
Ông tiếp tục khẳng định cái uy để giáo dục con ngời: “Cho nên mẹ
th-ơng yêu nhiều thì con thờng h, vì dùng yêu thth-ơng, cha yêu ít, dạy bằng roi vọtthì con thờng ngoan, vì dùng uy nghiêm” Từ đó Hàn Phi cho rằng việc trịquốc bằng tình thơng không phải là quốc sách lâu dài mà nó chỉ là biện phápnhất thời mà thôi “cho nên nếu dùng pháp luật làm cái đạo trị nớc, thì nớc khổ
sở nhng cái lợi lâu dài, nếu dùng chữ Nhân làm cái đạo trị nớc thì vui chơi tạmthời nhng sau đó nguy khốn Bậc thánh nhân cân nhắc điều nặng nhẹ, đa ra cáilợi lớn cho nên dùng cái tàn nhẫn của pháp luật mà bỏ sự thơng xót nhau củachữ Nhân Những lời của các học giả đều bảo phải nhẹ hình phạt, đó là cáithuật làm dân loạn, mất nớc” [21, 508]
Theo ông, những mối quan hệ vua - tôi, cha - con, anh - em, bạn bè haynhững quan hệ tình cảm giữa ngời với ngời đều đợc xây dựng trên cơ sở tínhtoán lợi hại cá nhân Từ đó Hàn Phi đã công kích kịch liệt việc giáo dục bằng
Trang 31“Nhân trị”, “Đức trị”, không chỉ đả phá học thuyết Nho gia mà Hàn Phi cònkịch liệt công kích thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử khi cho rằng: “Bà mẹ hiền
đối với đứa con cng, yêu con không ai hơn đợc Thế nhng đứa con nuôngchiều có tính hạnh kém thì cho nó đi theo thầy học, nó có bệnh nặng thì cho
nó đến thầy thuốc Nếu nó không theo thầy học thì nó sẽ bị trừng phạt, nếu nókhông theo thầy thuốc thì không khéo nó sẽ chết Bà mẹ hiền tuy yêu con nh -
ng không ích gì trong việc tránh hình phạt và cứu con khỏi chết Nh thế tức làcái bảo tồn đợc đứa con không phải là tình yêu vậy” [21, 520]
Học thuyết của Hàn Phi đợc xây dựng trên nền tảng là thuyết “tính ác”của thầy mình là Tuân Tử Cho nên, ông nhìn con ngời chỉ toàn là xấu xa, vụlợi mà không xét đến yếu tố tình cảm Từ đó có thể nói rằng chủ trơng giáodục của Phi thực sự là phiến diện Nhng Hàn Phi đã thấy đợc rằng hiệu quảcủa việc giáo dục pháp luật còn lớn hơn so với các mặt giáo dục khác Ôngcho rằng, chỉ có pháp luật mới có thể răn đe làm cho con ngời tốt đẹp, mới cóthể sửa những tật xấu, mới thay đổi đợc tính nết của họ Điều này ta thấy, vấn
đề giáp dục đối với con ngời để thành ngời hữu ích, có tài thì không thể dùngtình thơng mà phải dựa vào pháp luật Hàn Phi tin tởng rằng việc giáo dụcpháp luật cho nhân dân để dân tôn trọng có thể đạt đợc hiệu quả
Ông đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc thởng, phạt trong giáo dụcnhân cách con ngời để ngăn cấm họ làm chuyện xằng bậy Thởng phạt đúngcách, đúng ngời, đúng tội thì ngời dân có thể yên tâm sản xuất, chiến đấu Còn
bố thí của cải cho dân, ban phát bổng lộc một cách bừa bãi chỉ là việc tạo đàcho sự cầu may Muốn làm cho dân giàu, nớc mạnh thì phải tạo ra khung pháp
lý tiêu chuẩn để dân căn cứ vào đó mà thực hiện Có thể coi ông là một nhàchính trị thực tế với chủ trơng giáo dục đạo đức cho con ngời bằng Pháp trị
Triết lý Pháp trị của Hàn Phi đã đề cập đến những vấn đề khá tiến bộtrong định pháp, hành pháp và giáo dục pháp luật Chính vì vậy mà đã cónhững quan điểm cho rằng đây chính là cội nguồn t tởng về nhà nớc và phápquyền ở phơng Đông Tuy vậy, thực chất triết lý Pháp trị của Hàn Phi so với lýluận về nhà nớc và pháp quyền là khác xa nhau Bởi vì cho dù Pháp gia có đềcao pháp luật đến dâu nhng cũng chỉ coi pháp luật nh công cụ cai trị của nhànớc, của vua chúa chứ không có t tởng coi pháp luật nh là một công cụ để giớihạn chính quyền, kiểm soát chính quyền để bảo vệ con ngời, cũng cha thể coipháp luật là công cụ nằm trong tay ngời dân để bảo vệ mình và cha thể tiến
Trang 322.3 Triết lý về Thuật “ ”
Một khi đã lập ra pháp luật rồi, song những quan lại giữ gìn phép công
mà làm rối loạn hoặc tô vẽ nó thành sai trái thì có gì để bảo đảm tính nghiêmminh của luật pháp chăng? ở đây, Hàn Phi đã chuyển sang cái mà ông gọi là
“Thuật” Cho nên, Hàn Phi đã phê bình Thơng Ưởng rằng: Chỉ có pháp luậtnhng không có “Thuật” để biết rõ kẻ ngay gian Dẫu pháp luật có tô vẽ, giảithích cho mời phần mời thì kẻ làm bề tôi vẫn dùng nó để mu lợi riêng Do đó,phải có “Thuật” mới có thể trị nớc Theo ông, “Thuật” là phơng pháp thủthuật, cách thức, mu lợc điều khiển công việc và dùng ngời, khiến bề tôi phảidụng tâm thực hiện hiến lệnh của nhà vua mà không hiểu vua dùng họ nh thếnào[4, 204]
Quan điểm của Hàn Phi về nghệ thuật dùng ngời có cơ sở triết lý làthuyết “Danh - Thực” vốn thoát thai từ thuyết “Chính danh” cũ của Nho gia.Khi vận dụng vào học thuyết Pháp trị của mình về thực chất “Thuật” là nhữngnghệ thuật tuyển trạch và sử dụng quan lại trong việc cai trị Phải dùng đến
“Thuật” bởi lẽ vua phải quản lý đất nớc, không thể đích thân làm hết mọi việc
mà phải có một bộ máy quan lại trong từng lĩnh vực, từng địa phơng để giúpmình trong việc cai trị Nhng để cho quyền lực của nhà vua đợc bảo đảm sựtập trung và không bị cắt xén hay bị lợi dụng bởi các quan lại, vua phải cónghệ thuật chọn lựa và sử dụng đội ngũ quan lại: “Cho nên nớc là cái xe củanhà vua, thế là cái con ngựa của nhà vua Nếu không có cái thuật trị nớc để
điều khiển thì thân mình dù có vất vả vẫn không khỏi nớc loạn, còn nếu có cáithuật trị nớc để điều khiển thì thân mình ở vào nơi rỗi rãi, vui vẻ mà lại làm đ-
ợc cái công lao của bậc đế vơng” [21, 408]
Nh vậy, Phi đã kế thừa t tởng “Thuật” trong đạo trị nớc của Thân BấtHại Đồng thời còn đề xuất hàng loạt các biện pháp nhằm hoàn thiện phơngPháp trị quốc của Pháp gia Vì thế, Hàn Phi đã đa ra rất nhiều quyền thuật
2.3.1 Thuật trị quan lại, thần phục bề tôi
Mục tiêu hớng tới của các học phái thời Xuân Thu - Chiến Quốc đều là
“Trị quốc - Bình thiên hạ” và học thuyết của Pháp gia cũng không nằm ngoài
ý định đó Khi mà các quốc gia nhỏ đợc xác lập thành các quốc gia lớn hơn thìmột ông vua liệu có cai trị đợc thần dân của mình hay không? Việc ấy cầnphải có hệ thống trung gian giúp việc cho vua đó là hệ thống quan lại Hàn Phi
ví ông vua cai quản đất nớc thần dân của mình cũng giống nh ngời rung cây,
Trang 33nếu rung từng lá cây thì mệt mà không thể hết đợc, nếu nắm lấy cái gốc màlay thì lá đều lay động Từ đó ông cho rằng vị vua sáng là vị vua không phảicai trị thần dân của mình mà phải biết quản lý quan lại của mình: “Cho nênthánh nhân trừng trị quan lại mà không trừng trị dân, câu chuyện lấy gốc cây
và kéo dây lới nói lên điều đó” [21, 394]
Khi trị quan lại tốt, quan lại trị dân, nh thế nhà vua cũng gián tiếp cai trịthần dân của mình rồi
Không chỉ có vậy, quan lại luôn luôn gần gũi với nhà vua, chỉ tìm kẽ hởcủa nhà vua để kiếm bổng lộc Vì thế, phải trị quan lại để lợi ích quốc giakhông bị xâm phạm Vì “vua và tôi bụng dạ khác nhau Nhà vua dùng mu kế
để nuôi bầy tôi, bầy tôi dùng mu kế để thờ nhà vua Quan hệ giữa vua và tôi là
mu kế cả Làm hại đến thân mình mà có lợi cho nớc bầy tôi không làm, làmhại cho nớc mà có lợi cho bầy tôi không làm …” mang tính chất áp đặt, c Nh vậy, vua và tôi là lấy sựtính toán để hợp tác với nhau” [21, 167]
Muốn trị đợc quan lại, thần phục bầy tôi nhà vua cần có những thủthuật, tức là nghệ thuật nghe các quan lại nói Khi nghe họ nói thì vua phảitrầm mặc, không tỏ thái độ khen chê, không để lộ ý nghĩ cũng nh tình cảmcủa mình “Cái đạo nghe ngời ta nói là làm ra vẻ ngây ngây ngất nh ngời say r-
ợu Răng ta, môi ta, ta không hé trớc Răng ta, môi ta càng giữ yên Nh thế thì
ta để cho họ tự nói trớc Ta nhân đó mà biết ý muốn của họ, những lời phải,những lời trái đến dồn dập, nhng nhà vua không hùa theo” [21, 71]
Khi nghe quan lại trình bày, nếu là vị vua sáng thì cần phải tiếp thu tấtcả những ý kiến mà bầy tôi cung cấp, kể cả những lời nói thẳng thắn, nghịchtai vì “phàm thuốc tốt thì đắng miệng, nhng những ngời khôn thì lại thích vàuống vì biết uống vào chữa đợc bệnh Lời nói ngay nghe trái tai nhng vị vuasáng vẫn nghe vì nó có thể đem đến kết quả” [21, 320]
Còn những lời nói trau chuốt, biện luận chẳng qua cũng chỉ là những lờinói suông mà không thể dùng vào việc trị quốc Bậc vua chúa khi nghe cầnphải căn cứ vào công dụng giữa lời nói và việc làm có phù hợp nhau haykhông Nếu chỉ nghe những lời nói lọt tai mà không biết suy xét thì sẽ bị bầytôi lừa dối, bng bít Chính vua Trụ vì không nghe những trung thần, để đến nỗiQuan Long Bàng bị chặt chân tay, Vơng Tỷ Can bị moi tim, Tử T trung thànhvới Phù Sai thì bị giết Đó là vì nhà vua chỉ a xu nịnh, hậu quả thật thảm hại,
Trang 34đất nớc cứ loạn lạc mãi Cuối cùng, vua Trụ bị nhà Chu thay, Phù Sai khôngtránh khỏi thảm bại trớc quân Việt để đến nỗi nớc mất, thân chết
Khi những lời nói phải trái, ngợc xuôi dồn dập đến tai vua thì nhà vuakhông thể thu lợm hết cả mà cần phải sàng lọc những gì mình thấy đúng Đểlàm đợc điều ấy, Hàn Phi đã đa ra lý thuyết “tham nghiệm”
2.3.1.1 Thuật tham nghiệm“ ”
Để trị đợc quan lại nhà vua phải nắm đợc lòng dạ của họ Muốn vậy,Hàn Phi cho rằng nhà vua phải có nghệ thuật tham nghiệm Lý thuyết này chorằng: Bất cứ sự vật, hiện tợng cũng nh quan điểm nào cũng phải trải qua kinhnghiệm hoạt động thực tiễn, và thí nghiệm khách quan mới chính xác đ-ợc.Việc khảo sát nhiều mặt còn để biết lòng dạ của bầy tôi và xem lời nói của
họ có giá trị hay không, có phù hợp với việc làm không? Phi chỉ ra rằng muốnbiết đợc lòng của bầy tôi thì phải “nhìn những chuyện đã qua để biết tất cảnhững tình hình trớc mắt Đến những ngời thân để biết nội tình của họ, khôngthân với những viên quan mình đặt ở bên ngoài của họ Nắm những điều mình
rõ để hỏi những điều mình cha rõ Giả vờ sai để chấm dứt sự khinh nhờn Đảongợc lời nói để thử kẻ mình nghi Dùng lý luận trái ngợc lại để biết đợc kẻgian giấu mặt”[21, 531]
Cái thuật xét đoán tình hình còn phải tham khảo ý kiến của nhiều ngời
để biết đợc thực tình Bởi chỉ có nghe tin một ngời thì sẽ bị bầy tôi che lấp.Bọn gian thần luôn muốn lợi dụng nhà vua, chúng lợi dụng vào số đông vàdùng lời nói hùng biện, văn vẻ Nếu vua không chịu kiên nhẫn chỉ chờ thamkhảo, thì cái thế của mình sẽ làm lợi cho kẻ dới, khi nghe nhà vua phải bắt bầytôi trình bày ý kiến, nghe hết ý kiến của từng ngời một để biết đợc thực sự khảnăng của mỗi ngời “Cho nên, nếu nghe lời nói mà không tham khảo những lờikhác thì cái quyền bị bọn gian thần chia mất Nếu không dùng cái trí khônngoan của mình thì thế nào cũng bị bầy tôi làm cho khốn cùng”[21, 525]
Vậy khi nghe nhiều ý kiến trái ngợc nhau thì nhà vua phải làm thế nào?Lúc ấy cần phải căn cứ vào bốn dấu hiệu: “Phải căn cứ theo địa vị mỗi ngời
mà xét, phải căn cứ vào thiên thời mà tính, căn cứ vào sự việc mà trắc nghiệm,căn cứ vào lòng ngời mà so sánh Nếu bốn dấu hiệu này phù hợp với nhau thì
có thể xem là đợc”[21, 531]
Đã khảo hạch xong rồi thì cứ theo năng lực mà trao cho chức vụ phùhợp, cho những ngời có tài năng thực sự phụ trách công việc của nhà nớc
Trang 35Tất cả những điều này tuy Hàn Phi hiến kế để cho vua chúa dùng vớimục đích điều khiển bầy tôi, thực hành nền thống trị cụ thể Nhng lại trở thànhquyền mu độc nhất vô nhị cho bọn quan lại đấu tranh với nhau, để bọn quanlại các cấp lấy đó làm cẩm nang thống trị nhân dân Vì thế, trên vũ đài chínhtrị truyền thống Trung Quốc, việc vận dụng quyền mu để bảo vệ và mở rộnglợi ích của mình, củng cố và đề cao địa vị của mình, cả đến hoàn thành một sứmạng lịch sử nào đó, thực hiện một mục đích chính trị nào đó trở thành nhữnghành động thờng thấy có hiệu quả nhất
Muốn trị đợc gian thì nhà vua không đợc lộ mu kế của mình, không đểcho họ mu tính việc nếu nh không hỏi ý kiến của mình Đây là thủ đoạn cầnthiết của nhà vua Tiếp đó, Hàn Phi đa ra những biện pháp cụ thể để trừ gian.Vì bầy tôi có hai chỗ dựa là cái ở bên trong và cái ở bên ngoài Cái ở bênngoài là sự sở hữu (tài sản), cái ở bên trong là lòng thơng yêu (gia đình) Do
đó theo Phi, những ngời có chức vụ cao và có trách nhiệm lớn, nhà vua phảidùng ba cách để ràng buộc họ: Một là nắm con tin, hai là nắm tinh thần, ba lànắm tính mạng Đối với những ngời hiền thì bắt vợ con thân thích họ làm contin, còn kẻ tham lam thì cảm hóa họ bằng cách nắm tinh thần, ban tớc lộc hậuhĩnh nh đã hứa để tự quản chế nhau
Với Phi, khi mọi ngời đều khả nghi thì cả thế giới đều đầy rẫy những sựgian tà, cho nên phải bố trí ngời tâm phúc một cách rộng rãi, phải tạo tai mắt ởkhắp mọi nơi Nhng điều đó cũng cha phải là biện pháp tốt nhất Mà theo ông,biện pháp hữu hiệu nhất là để cho mọi ngời trong thiên hạ giám sát lẫn nhau,
tố giác lẫn nhau Đây là cách mà Thơng Ưởng đã đề cao trong hiến pháp của