Không đếm xỉa đến những biến đổi chính trị to lớn của Đông Dơng, nhất là của Việt Nam lúc bấy giờ, Philip Đờvile có lý khi viết rằng điều mà Đờ Gôn quan tâm lúc này chỉ là vấn đề thái độ
Trang 1lời cảm ơn
Để hoàn thành tốt luận văn này, trớc hết tôi xin trân trọng cảm ơn PGS-TS Nguyễn Trọng Văn, ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi rất tận tình, chu đáo kể từ khi tôi nhận đề tài đến khi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ trong quá trình tôi hoàn thành bản luận văn này
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn t liệu, thời gian nên bản luận văn này không khỏi có những sai sót Kính mong sự giúp đỡ, chỉ dẫn của các thầy cô để bản luận văn đợc hoàn chỉnh hơn
Trang 2mục lục
Trang
mở đầu 1
chơng I: t tởng ngoại giao Hồ chí Minh trong giai đoạn 1941-1945 5
I.1 việt nam - đối tợng tranh chấp của nhiều thế lực trong chiến tranh thế giới thứ II 5
I.2 T tởng ngoại giao hồ chí minh trớc khi dành chính quyền 14
I.2.1 Nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng 14
I.2.2 Nắm bắt thời cơ 18
I.2.3 Thêm bạn bớt thù, mở rộng hoà hiếu 23
chơng II: t tởng ngoại giao hồ chí minh trong những năm 45 - 46 27
II.1 Đặc điểm, tình hình việt nam trong giai đoạn 45 - 46 27
II.2 : t tởng ngoại giao hồ chí minh trong những năm đầu tiên của nớc việt nam dân chủ cộng hoà (2/9/1945 - 19/12/1946) 30
II.2.1 t tởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” 31
II.2.2 triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hoá và cô lập chúng đến cao độ 37
II.2.3 T tởng ngoại giao hoà bình chống chiến tranh phi nghĩa 44
kết luận 50
tài liệu tham khảo 53
Trang 3mở đầu
1 lý do chọn đề tài
Trong lịch sủ dân tộc, trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã sử dụng ngoại giao nh một phơng sách đắc dụng Từ những đặc thù về địa lý và chính trị, ngành ngoại giao đã trở thành một binh chủng không thể thiếu đợc cả khi vận nớc thịnh lẫn lúc suy Ông cha ta luôn chủ trơng bang giao hữu hảo với ngoại bang để có hoà bình, hoà hoãn mà chấn h-
ng đất nớc Theo thời gian, ngoại giao Việt Nam đã có đợc bề dày truyền thống
và truyền thống ngoại giao đã trở thành một phần của truyền thống lịch sử dân tộc
Khi nghiên cứu ngoại giao Việt Nam, không thể không nhắc đến một nhà ngoại giao lỗi lạc, thiên tài: Chủ tịch Hồ Chí Minh Cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách, luận văn, bài báo viết về t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Cùng với thời gian, tầm vóc và vị trí của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh ngày càng đợc trình bày đậm nét và sáng tỏ trên kết quả nghiên cứu của giới sử học cũng nh trong tâm thức của nhân dân Tuy nhiên, việc nghiên cứu t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ Việt Nam là đối tợng tranh chấp của nhiều thế lực đế quốc (1941 - 1946) vẫn còn rất hạn chế
Có thể nói, trong hệ thống t tởng cách mạng Hồ Chí Minh thì t tởng ngoại giao đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ngoại giao trong thời kỳ 41 - 46 càng
có ý nghĩa đối với tiến trình phát triển của lịch sử Vì thế, nghiên cứu t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ 41 - 46 là điều hết sức cần thiết T tởng ngoại giao của Ngời trong thời kỳ này không những có vai trò tích cực ở một thời
điểm lịch sử nhất định mà nó còn góp phần quan trọng trong ngoại giao Việt Nam ở những thời kỳ sau này, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay
Trang 42 lịch sử vấn đề.
T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ trong t tởng chung
Hồ Chí Minh Và hiện tại đã có một số công trình nghiên cứu về t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Vũ Khoan trong bài viết của mình đã đề cập nhấn mạnh bốn khía cạnh:
Nội dung t tởng ngoại giao Hồ chí Minh cũng đã đợc cố Thủ tởng Phạm Văn Đồng khái quát: “Toàn bộ những t tởng của Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao, nh biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lợng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lợc, biết thắng từng bớc để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc [1;161]
Nh vậy, t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong lịch sử đã đợc nghiên cứu Mới đây nhất, Lê Kim Hải trong luận án Tiến sỹ của mình cũng đã nghiên cứu về
Trang 5t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nhng ở một góc độ khác: “Hồ Chí Minh với quan
hệ ngoại giao Việt - Pháp thời kỳ 1945 - 1946) Rõ ràng, việc nghiên cứu t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ Việt Nam là đối tợng tranh chấp của nhiều thế lực đế quốc - 1941-1946 đang là việc cần thiết Bởi lẽ rằng, thời kỳ 41 - 46 là thời kỳ đánh dấu một bớc chuyển biến mới trong lịch sử dân tộc Đất nớc ta từ chỗ cha có tên trên bản đồ thế giới đã dần tự khẳng định đợc mình Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhân dân ta bớc vào kỷ nguyên độc lập, bảo vệ và xây dựng đất nớc Thời kỳ 1941 - 1946 chia làm hai giai đoạn: 1941 -
1945 và 1945 - 1946, tuy nhiên hai giai đoạn này lại có một đặc điểm chung nhất: đất nớc ta bị bao vây tứ phía, luôn phải đối chọi với mọi đối tợng đế quốc thù địch: Pháp - Nhật - Tởng - Mỹ Vấn đề đặt ra ở đây là, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sức mạnh ngoại giao của mình đã khéo léo đa con thuyền cách mạng Việt Nam thoát ra khỏi những thách thức thù địch ấy nh thế nào ?
Nghiên cứu đề tài này với hy vọng làm sáng tỏ hơn t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ 1941 - 1946, tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé vào thành tựu nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung và t tởng ngoại giao của Ngời nói riêng
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trớc, đồng thời dựa vào các nguồn t liệu khác tác giả cố gắng giải quyết vấn đề khoa học đặt ra
3 phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi thời gian của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1942 -
1946 chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn từ 1941 đến trớc khi dành chính quyền 2/9/1945
- Giai đoạn từ 2/9/1945 đến 19/12/1946
Phạm vi không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu làm rõ t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ Việt Nam là đối tợng tranh chấp của các thế lực
Trang 6đế quốc, đồng thời khẳng định vai trò và giá trị lịch sử của t tuởng đó đối với tiến trình phát triển cuả cách mạng.
4 phơng pháp nghiên cứu.
- Cơ sở phơng pháp luận của luận văn: Là lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê nin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác nghiên cứu khoa học
- Phơng pháp nghiên cứu: Ngoài phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gích
là chủ yếu, tác giả sử dụng phơng pháp hỗ trợ nh: mô tả, tờng thuật, giải thích
để rút ra nhận xét khoa học
5 bố cục của luận văn.
Với 53 trang, ngoài phần Mở đầu (4 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (1 trang), phần Nội dung gồm có:
- Chơng I: t tởng ngoại giao hồ chí minh trong giai đoạn 1941 - 1945.
Chơng II: t tởng ngoạ giao hồ chí minh trong những năm 1945 - 1946.
Chơng I
t tởng ngoại giao
hồ chí minh trong giai đoạn 1941 - 1945
Trang 7I.1 Việt nam - đối tợng tranh chấp của nhiều thế lực trong chiến
tranh thế giới thứ II.
Trớc cách mạng tháng Tám, Việt nam không có tên trên bản đồ thế giới Lúc đó chỉ có Bắc Kỳ, Nam Kỳ cùng với Lào và Campuchia nằm trong liên bang
Đông Dơng thuộc Pháp
Là địa bàn có một vị thế chiến lợc quan trọng ở khu vực Đông Nam á, trong chiến tranh thế giới thứ II, khu vực Đông Dơng này trở thành đối tợng tranh chấp của nhiều thế lực bên ngoài
Ngày 1/9/1939, thế chiến II bùng nổ, phát xít Đức tung hoành trên chiến trờng Đông Âu ở Châu á, phát xít Nhật cũng thi hành cái gọi là “Đại Đông á”, bành trớng thế lực sang khắp Viễn Đông
Ngay từ 1927, Thủ tớng Nhật Tanaca đã trình lên Nhật hoàng một kế hoạch chiến tranh quy mô lớn Bản kế hoạch dự kiến quá trình bành trớng của Đế quốc Nhật tiến hành qua 4 bớc:
đòn phủ đầu lên hệ thống thuộc địa của Anh, Pháp, Mỹ ở Châu á
Sự thắng lợi bớc đầu của Đức quốc xã ở chiến trờng Châu Âu đã thúc giục Nhật Bản thực hiện âm mu bá chủ hơn nữa Kế hoạch Tanaca đợc cụ thể hơn bằng những chính sách xâm lợc mới, đó là: chuẩn bị lực lợng hải quân lớn ở Biển
Đông để sẵn sàng đổ bộ vào Đông Dơng; Chiếm toàn bộ Đông Dơng và cuối
Trang 8cùng là dồn toàn lực tấn công vào các thuộc địa của Anh, Mỹ, Hà Lan ở Đông Nam á và Thái Bình Dơng.
Nh vậy, cho đến lúc này, mọi chính sách xâm lợc của Nhật đã tập trung vào một điểm chốt: Châu á và đối tợng cụ thể của nó là Trung Quốc và Đông D-
ơng Điều này có nghĩa rằng Việt nam là tầm ngắm của đại bác Nhật
Cho đến 1938, bớc thứ 2 trong kế hoạch Tanaca đề xớng về cơ bản đã đợc thực hiện Quân đội Nhật tiến xuống Nam Trung Hoa sát với biên giới Trung - Việt và chuẩn bị thực hiện bớc thứ 3 Để thực hiện bớc thứ 3 này, đầu tiên Nhật tiến sang khu vực Đông Nan á, Việt nam cũng đợc xếp vị trí quan trọng trong âm
mu này: “Nếu quyền lợi của Mông Mãn thuộc về tay chúng ta, chúng ta sẽ lấy Mông Mãn làm căn cứ, dùng hình thức buôn bán mà phong toả toàn bộ bán đảo China Phải lấy quyền lợi của Mông Mãn làm nơi chỉ huy mà cớp đoạt những quyền lợi của toàn Đông Dơng, lấy tài nguyên giàu có của Đông Dơng mà chinh phục ấn Độ, các đảo Nam Dơng cũng nh Trung Tiểu á, Tế á và Châu úc”
Ba bớc đầu tiên Nhật đã áp dụng song song với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngợc lại Rõ ràng là đến lúc này, Nhật không hề che dấu âm mu muốn nhảy vào Việt nam thay Pháp nắm quyền thống trị Nhật đã ráo riết cử các nhà ngoại giao, tình báo Nhật sang Việt nam để tranh thủ móc nối với tầng lớp quan lại Phong kiến, nhân sĩ, tổ chức đảng phái ở các xứ Mục đích của chúng là tạo ra một tầng lớp thân Nhật trong xã hội Việt nam, và chúng muốn dựa vào tầng lớp này để thu nhập những tin tức cần thiết về hoạt động của Pháp ở Đông Dơng, dò xét những vị trí quan trọng và móc nối với các đảng phái quốc gia đang
ẩn náu ở biên giới Trung - Việt để chuẩn bị tiếp ứng cho cuộc xâm nhập vào Việt nam bằng con đờng ngoại giao, tình báo gián điệp Phát xít Nhật còn dùng biện pháp quân sự để đe doạ chính quyền Pháp ở Việt nam Tháng 3/1939, Nhật chiếm đảo Hoàng Sa, hành động quan sự này đã “báo hiệu nớc Nhật bắt đầu nhuốm đỏ chân trời màu sắc máu lửa” (J.Decoux: Lịch sử chính phủ toàn quyền của tôi, phần I, t liệu khoa lịch sử, ĐHTHHN, 1964) đẩy Việt nam thuộc Pháp dần dần vào thế cô lập
Trang 9Năm 1940, Nhật liên tiếp gửi các yêu sách, các tối hậu th buộc Pháp phải chấp nhận sự có mặt của mình ở Việt nam, đồng thời đa ra những quyền lợi mà Nhật “bắt buộc phải có” trên lãnh thổ Việt nam - chúng buộc Pháp phải đồng ý nếu không sẽ dùng đến biện pháp “cứng” nh thế sẽ rất bất lợi cho chính quyền Pháp ở Đông Dơng cũng nh đối với Chính phủ Pháp.
Cũng năm 1940, Nhật gửi công hàm cho tớng Catroux đòi đình chỉ việc vận chuyển xăng dầu, hàng hoá trên tuyến đờng sắt Hải Phòng - Vân Nam và quân
đội Nhật đợc tự do đi lại trên Đông Dơng Kèm theo yêu sách là những lời tuyên
bố đe doạ sẽ đa quân sang Việtn nam nếu Pháp không thực hiện Mặc dù cha nhận đợc chỉ thị từ chính quốc nhng trớc tình hình đó Catroux vẫn chấp nhận yêu sách của Nhật và đề nghị Nhật kéo dài thời gian để chờ ý kiến từ chính quốc
Không chỉ dừng lại ở những yêu sách đơn thuần về kinh tế, Nhật còn tìm mọi cách buộc chính phủ Pháp và chính quyền Pháp ở Việt nam đóng cửa biên giới Việt - Trung nhằm ngăn chặn sự dòm ngó của Trung Hoa quốc dân đảng sang Việt nam Mặt khác, đóng của biên giới Việt - Trung là cắt đứt tuyến giao thông quan trọng trong sự “giao lu” giữa Tởng Giới Thạch và Mỹ, điều này đã hạn chế đợc sự lớn mạnh của quốc dân đảng Một điều đặc biệt hơn trong âm mu này là Nhật muốn Pháp hoàn toàn bị cô lập và tìm mọi cách chế ngự Pháp thì sẽ không một lực lợng nào từ bên ngoài nhảy vào can thiệp, nhất là Mỹ và Quốc dân
đảng Tởng Giới Thạch
Ngày 1/8/1940, Matsuoka gửi cho đại sứ Pháp ở Tokyô bức thông điệp đòi Pháp phải cho Nhật đóng đồn trú và tạo điều kiện cho quân đội Nhật đi lại đợc dễ dàng ở Đông Dơng, nếu Pháp không chấp nhận thì Nhật sẽ dùng áp lực để chiếm
Phía Pháp đã chấp nhận các yêu sách của Nhật chỉ vì: “Tránh một cuộc xung đột toàn diệc ở Đông Dơng chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi “ của họ Nhng
sự nhân nhợng của Pháp vẫn không thể loại trừ đợc nguy cơ xung đột, vì vẫn cha thoả mãn tham vọng của Nhật: Đông Dơng cha là của Nhật hoàn toàn Cho nên,
Trang 10phía Nhật đã tiếp tục đi một nớc cờ cao hơn để bắt Pháp phải dâng trọn Đông
Trớc những thắng lợi mau lẹ của Nhật, Pháp thấy không còn con đờng nào khác là phải ký với Nhật tại Hà Nội ngày ngày hôm sau (23/9) hiệp định chịu để cho Nhật chiếm đóng Đông Dơng
Nh vậy, từ “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dơng thì thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nớc ta rớc Nhật Từ đó, nhân dân ta chịu 2 tầng xiềng xích Pháp - Nhật” [8;tập 4;555].
Trong suốt thời gian Nhật từng bớc xâm chiếm Đông Dơng thuộc Pháp, các đối thủ của Nhật thuộc phe đồng minh đã luôn luôn nuôi ý đồ dành giật
Đông Dơng với Nhật Ngay trong nội bộ phe đồng minh, Đông Dơng cũng là đối tợng tranh chấp giữa các thế lực Mỹ - Tởng và Anh - Pháp
Anh rất quan tâm đến vấn đề Việt nam, bởi các nhà cầm quyền Anh hiểu rằng, thuộc địa của Anh ở khu vực Đông Nam á (Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai)
và ngay cả ấn Độ cũng sẽ bị đe doạ nếu Việt nam rơi vào tay Nhật Nguồn sáng của nền công nghiệp Anh khi đó sẽ bị mất Cho nên để cứu cho Việt nam đang suy yếu, các nhà ngoại giao Anh đã cố gắng thuyết phục Mỹ ủng hộ việc thiết lập khối cộng đồng phòng thủ Đông Nam á (Trong Hội nghị Singapo
ngày 12/6/1940) Trong khi đó nớc Anh cũng đang bị phi cơ của Đức đe doạ Bởi vậy, chính phủ Luân Đôn không thể giúp gì đợc cho cả chính phủ Petain lẫn chính quyền thuộc địa của Catruox
Còn đối với Mỹ, Mỹ ít quan tâm đến tình hình Việt nam trong thời gian
tr-ớc chiến tranh Thế giới II Khi cuộc chiến tranh mới bùng nổ ở Châu Âu, Anh,
Trang 11phiệt Nhật bắt đầu bành trớng thực hiện mu đồ “Đại Đông á” phối hợp hành
động với các nớc trong “khối trục”, Mỹ vẫn tiếp tục thi hành chính sách “không khiêu khích” đối với chính phủ Nhật và từ chối không chịu hành động chung với các nớc để ngăn chặn chiến tranh do Nhật Bản khởi xởng Thậm chí, năm 1940
Mỹ vẫn tiếp tục giúp Nhật tăng cờng tiềm lực kinh tế và quân sự của mình Gang, thép, xăng dầu, động cơ máy bay, ôtô của Mỹ vẫn đợc nhập vào Nhật với số lợng ngày càng nhiều Mặc dù, để phản kháng hành động “Nam tiến” của quân Nhật, chính phủ Mỹ có tuyên bố trừng phạt kinh tế bằng cách thi hành chính sách cấm vận một số mặt hàng xuất khẩu sang Nhật, nhng trong thực tế lệnh cấm vận không có hiệu lực
Tuy nhiên, năm 1941 khi Nhật nhảy vào Việt nam, thì chính phủ Mỹ đã kiên quyết cắt đứt mối quan hệ với Nhật “Năm 1941, Tổng thống Roosevelt xem việc Nhật nhảy vào Đông Dơng là mối đe doạ quyền lợi sống còn của mỹ, vì việc chiếm Việt nam sẽ tạo cho Nhật một căn cứ mở rộng xâm lợc ra khắp Đông Nam
á và cũng là để vơ vét nguồn cao su thiên nhiên mà công nghiệp Mỹ đang cần”
Rõ ràng lúc này, Mỹ rất quan tâm đến việc Nhật bành trớng xuống khu vực phía Nam, nhất là các hoạt động lấn át của Nhật đối với Pháp Quyền lợi của
Mỹ ở Đông Nam á còn hay mất một phần phụ thuộc vào những biến động trong quan hệ giữa Nhật và Pháp ở Việt nam Nhật không chỉ chiếm thuộc địa của Anh khi cánh cửa Đông Dơng bật mở mà còn xông thẳng vào tiền tiêu quân sự và kinh tế của Mỹ ở Philippin và cớp nguồn dầu hoả lớn của Mỹ ở Inđônêxia Bởi vậy, Bộ trởng ngoại giao Mỹ Gordell Hull, Thứ trởng ngoại giao Mỹ Summer Welless và Đại sứ Mỹ Gren theo dõi chặt chẽ mọi tình hình hoạt động của quân
đội Nhật, thái độ của Chính phủ Pháp và Toàn quyền Đông Dơng về Việt nam Mặc dù rất muốn đặt chân vào Việt nam nhng vì vốn không muốn giao hảo với Pháp cũng nh không a gì sự có mặt của Pháp ở xứ này nên Mỹ tỏ ra lãnh đạm tr-
ớc yêu cầu của Catroux Mỹ từ chối lời đề nghị của Toàn quyền Pháp ở Đông
D-ơng cho phép mua 120 máy bay và một số súng đạn chở sang Đông DD-ơng ý đồ của Mỹ là gạt bỏ sự thống trị của Pháp ở Đông Dơng Song Mỹ không ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở bán đảo này Trớc một số thông tin về tình hình
Trang 12phong trào chống Nhật của nhân dân Việt nam, Rudơven chỉ thị cho Bộ trởng ngoại giao Mỹ: “ Không làm gì với tổ chức kháng chiến này, nói cách khác là đối với quân Đông Dơng” Chính phủ Mỹ cha bao giờ quan tâm tới việc ủng hộ nhân dân Đông Dơng dành độc lập Thực chất, Mỹ muốn qua hình thức “Thác quản quốc tế” để gạt Pháp ra và tạo điều kiện gây ảnh hởng của Mỹ ở khu vực này Trong khi cha có điều kiện trực tiếp để can thiệp, Mỹ sẽ nắm Đông Dơng thông qua lực lợng của Tởng Giới Thạch, ch hầu của Mỹ Trên thực tế, từ Hội nghị Têhêran, Mỹ đã chính thức giao chiến trờng Đông Dơng cho Tởng
Đối với Tởng, thôn tính Việt nam là một âm mu đã có từ lâu Trong lịch sử Trung Quốc, không có một triều đại Phong kiến nào bỏ qua cơ hội thôn tính Việt nam, nếu có điều kiện Ngay từ cuối năm 1940, đợc Mỹ hứa hẹn cho thay Pháp ở
Đông Dơng, Tởng đã chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”
Mặt khác, việc Pháp - Nhật thoả thuận về vấn đề Đông Dơng cũng đã làm cho mối quan hệ vốn đã rất lõng lẽo giữa Pháp và Trung Hoa dân quốc càng trở nên lạnh nhạt Chính phủ Tởng đã lên tiếng phản đối sự nhân nhợng của Catruox, tuyên bố bãi bỏ mọi mối quan hệ giữa 2 nớc từ trớc đến nay Và gay gắt hơn, nếu Pháp đem quân vào Việt nam thì họ cũng sẽ đa quân đội vào để chiến đấu với quân Nhật Lý do của những đối sách trên xuất phát từ phơng pháp “Phòng thủ lãnh thổ từ xa”, coi đó là phơng pháp “tự vệ cần thiết” của chính phủ Trùng Khánh Nhng trên thực tế, Tởng Giới Thạch cũng rất muốn quân đội của mình có mặt ở khu vực Bắc Đông Dơng (Miền Bắc Việt nam) Việc viện cớ quân Nhật vào Đông Dơng chỉ là sự khởi đầu cho kế hoạch trên Tất cả những ý đồ trên cũng nh việc xúc tiến thành lập các tổ chức “Việt Quốc,Việt Cách” là cơ sở để tháng 8 năm 1945, Tởng Giới Thạch đa quân vào Việt Nam trên danh nghĩa làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
ý đồ của Mỹ và tham vọng của Tởng đối với Đông Dơng là mối đe doạ
mà Pháp dễ dàng nhận thấy Và Pháp đã cố gắng tìm mọi biện pháp để cứu vãn tình hình của Pháp ở Đông Dơng lúc này
Với Đế quốc Pháp, Đông Dơng có một vị trí đặc biệt, vị trí đó đợc nhà sử học Pháp Philíp Đơvile khái quát trong nhận xét: “Đông Dơng là bộ phận giàu có
Trang 13nhất, đẹp đẽ nhất và đông dân c nhất của Đế quốc thuộc địa Pháp” Chính vì vậy, Chính phủ Pháp rất quan tâm đến khu vực này Năm 1940, sau khi trở thành ngời lãnh đạo của lực lợng kháng chiến Pháp ở hải ngoại, Tớng Đờ Gôn luôn chú trọng việc bảo vệ “chủ quyền” của nớc Pháp ở Đông Dơng trớc sự xâm nhập và lấn át ngày càng rõ rệt của Nhật Tuy nhiên, do điều kiện và lực lợng còn hạn chế, thời gian này Đờ Gôn cha có hoạt động gì đáng kể cho mục tiêu ấy Năm
1943, từ sau thất bại của quân Đức trớc Hồng quân Liên Xô tại Xtalingrat và sau khi Liên quân Anh - Mỹ dành thắng lợi lớn ở Bắc Phi, Đờ Gôn mới có điều kiện
đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tăng cờng việc chuẩn bị “giải phóng Đông Dơng”
và xếp việc này vào diện u tiên
Khi phát xít Nhật tiến hành xâm chiếm Việt nam, thực dân Pháp đã có chống đỡ, nhng đó chỉ là sự chống đỡ hình thức Bởi nh Lê nin đã nói: Chủ nghĩa
Đế quốc về thực chất mâu thuẫn nhau về tranh chấp thuộc địa nhng lại sẵn sàng cấu kết cộng tác với nhau trong vấn đề đàn áp phong trào cộng sản Với đế quốc Pháp, thà để cho Việt nam rơi vào tay Nhật còn hơn là để Việt nam hoàn toàn
độc lập dới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản Điều rõ ràng là những ngời đứng đầu nớc Pháp, đến khi chiến tranh kết thúc, không hề chú ý đến nguyện vọng chính trị của nhân dân Đông Dơng Không bảo vệ đợc Đông Dơng trớc sự xâm lợc của phát xít Nhật, nhng giới lãnh đạo Pháp cha bao giờ nghĩ đến việc tổ chức lực lợng cùng với các dân tộc Đông Dơng chống Nhật Trớc nhuẽng lời kêu gọi đầy thiện chí mà Mặt trận Việt minh đa ra về việc hợp tác chống Nhật, phía Pháp luôn tỏ thái độ lng chừng, cả những đại diện của chính phủ Đờ Gôn tại Côn Minh (Trung Quốc) cũng nh những ngời Pháp thuộc phái Đờ Gôn trên đất Đông Dơng đều nh vậy
Không đếm xỉa đến những biến đổi chính trị to lớn của Đông Dơng, nhất
là của Việt Nam lúc bấy giờ, Philip Đờvile có lý khi viết rằng điều mà Đờ Gôn quan tâm lúc này chỉ là vấn đề thái độ của các nớc Đồng minh và Liên Hợp Quốc
đối với chủ quyền Pháp ở Đông Dơng và đối với các dân tộc Châu á Ông cũng cho rằng những suy nghĩ đó của Đờ Gôn diễn ra “trong một tình trạng hầu nh hoàn toàn không biết một chút gì thực tế đang diễn ra tại chỗ, ở Đông Dơng”
Trang 14Để thực hiện ý đồ chiếm lại Đông Dơng, nhiều hoạt động đã đợc triển khai, nhiều biện pháp đã đợc thực hiện Các phái đoàn quân sự đã đợc thành lập.
Sau 9.3.1945, bị mất hoàn toàn Đông Dơng vào tay Nhật, Pháp thực sự hối hả trong việc bám vào sự giúp đỡ của Đồng minh để trở lại khu vực này Pháp yêu cầu Mỹ và Trung Quốc giúp đỡ những quân đội Pháp tháo chạy từ Đông D-
ơng qua biên giới Trung Quốc, nhờ trang bị lại lực lợng để sẵn sàng trở lại Đông Dơng khi cần thiết Sabatchiên đợc cử phụ trách các đội quân quyền hạn rất lớn Tớng Lơcơlec đợc giao lập một quân đoàn viễn chinh gồm hai s đoàn, đặt dới sự
điều khiển của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dơng, có nhiệm vụ sẵn sàng tham gia quân Đồng minh tiến vào Đông Dơng chống Nhật
Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Đồng minh đối với Pháp lúc này cũng rất hạn chế, chủ yếu là từ phía Anh Còn Mỹ không còn chống lại quyết liệt việc Pháp khôi phục quyền ở Đông Dơng song cũng không tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp Mỹ vẫn cha thay đổi hẳn ý định nắm Đông Dơng qua Tởng Vì vậy, Pháp vừa chuẩn bị ráo riết, vừa phải tiếp tục vận động Tởng nhợng bộ thêm
Nh vậy, cho đến trớc khi chiến tranh thế giới II kết thúc, Việt Nam đã trở thành
đất nớc bị xâu xé bởi nhiều lực lợng đế quốc Anh, Pháp, Mỹ-Tởng và phát xít Nhật chạy đua trong việc chiếm trọn vùng đất giàu có này Thực chất trong thời
điểm này, nhân dân Đông Dơng nói chung và Việt Nam nói riêng, bị kìm hãm chà đạp dới sự thống trị của hai kẻ thù chính, đó là thực dân Pháp và phát xít Nhật
Sự sụp đổ của phát xít Nhật vào tháng 8.1945, cách mạng tháng tám của nhân dân Việt Nam thắng lợi, Chính quyền cách mạng đợc thành lập trong toàn quốc một cách nhanh chóng, ngày 2.9.1945, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Tuyên ngôn độc lập, Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch ra mắt quốc dân đồng bào, tất cả những sự kiện ấy đã làm đảo lộn mọi mu toan, mọi sự xếp đặt của các thế lực đế quốc và phản động Trong cuộc chạy đua về Đông D-
ơng, tất cả các thế lực ấyđã thất bại trớc lực lợng cách mạng của nhân dân Việt Nam
Trang 15Sự ra đời của Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà không những ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của Tởng và Pháp mà còn ảnh hởng tới hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, trớc hết là ở khu vực Đông Nam á Không chỉ riêng T-ởng và Pháp, mà tất cả các thế lực đế quốc phản động đều muốn xoá đi cái thực
tế ngoài ý muốn ấy Cả hai tập đoàn Mỹ- Tởng và Anh-Pháp dù âm mu và thủ
đoạn có khác nhau, lại mâu thuẩn với nhau trong vấn đề quyền lợi cụ thể ở Việt Nam, nhng thống nhất cao độ trong ý đồ tiêu diệt cách mạng Việt Nam Do đó, các thế lực ấy nhanh chóng thoả hiệp với nhau trong mu toan bóp chết Nhà nớc dân chủ nhân dân mới ra đời ở Việt Nam, đảo ngợc tình thế trớc mắt
Rõ ràng, trong giai đoạn 1941-1945, để tránh chi Việt Nam cùng một lúc phải đối chọi với hai kẻ thù Pháp-Nhật, lại tiến hành tổng khởi nghĩa dành đợc thắng lợi, đòi hỏi Việt Nam phải có một tổ chức lãnh đạovững mạnh và tiên tiến,
đủ sức lái con tàu cách mạng đi đến bến bờ cuối cùng ở đây, đã nổi lên vai trò
vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, mà một trong những cống hiến to lớn của Ngời trong giai đoạn này chính là những dự đoán thiên tài, những đối sách đúng
đắn cũng nh sự chỉ đạo sáng suố mà ngời ta hay gọi chúng nó trong cụm từ: t ởng ngoại giao Hồ Chí Minh
t-I.2 T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trớc khi giành chính quyền
“ Hồ Chí Minh thuộc về tơng lai, vì Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra tơng lai vĩ
đại ấy Ngời là một ngời làm nên lịch sử hiện đại Ngời đã trở thành một nhà kiến trúc và tạo hình của quá trình cách mạng thế giới trong thời kỳ có tính chất bùng
nổ nhất Ngời đã trở thành ngọn đèn biển soi sáng đờng đi cho tất cả các dân tộc
bị đàn áp trên toàn thế giới Có lẽ hơn bất kỳ ngời nào khác của thế kỷ này, đói với dân tộc mình và đói với cả thế giới, Hồ Chí Minh là hiện thân của cách mạng”
Sự nghiệp cách mạng của Hồ chí Minh luôn gắn liền với dân tộc hay nói một cách chính xác hơn, “ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nớc ta đã sinh ra
Hồ Chủ Tịch và chính là Ngời đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông
đất nớc ta” ( Điếu văn do đồng chí Lê Duẩn đọc tại đám tang Bác) Có thể nói
Trang 16rằng, lịch sử là lịch sử của quần chúng song cá nhân, đặc biệt là những nhân vật nổi tiếng (chính diện hay phản diện) có vai trò nhất định đối với lịch sử (thúc đẩy hay cản trở) Sự xuất hiện của những cá nhân có khả năng, mức độ nhất định để giải quyết những nhiệm vụ của lịch sử đặt ra cho mỗi thời đại là điều hợp quy luật Tính tất yếu của lịch sử này hoàn toàn không phủ nhận khả năng trình độ t duy và hoạt động của cá nhân trong việc nhận thức yêu cầu của thời đại, hành
động phù hợp với quy luật lịch sử, nguyện vọng của nhân dân Sự xuất hiện của
Hồ Chí Minh và những t tởng, hoạt động của Ngời trong những năm 1941-1945 phù hợp với nguyện vọng và quy luật lịch sử ấy Những quan điểm, sự chỉ đạo sáng suốt cũng nh t tởng ngoại giao của Ngời gắn liền với cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì tự do và tiến bộ xã hội
Huy Cận có lý khi cho rằng “ t tởng ngoại giao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ t tởng cách mạng quán triệt của Ngời: giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội” [12;267]
I.2 1 Nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng
Vấn đề nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng không phải đến những năm
40 mới xuất hiện trong t tởng của Hồ Chí Minh mà nó đã sớm đợc sản sinh ngay khi Ngời đang đi tìm con đờng cứu nớc và trong quá trình vận động để thành lập
ra Đảng cộng sản Việt Nam
Xuất phát từ mục đích duy nhất: giải phóng dân tộc, Nguyễn ái Quốc và sau này là Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn hớng tâm huyết của mình đi theo tiếng gọi của mục đích ấy Ngời luôn luôn nắm bắt một cách nhanh nhạy, chính xác nhất những diễn biến, những thay đổi của thời cuộc Trong quá trình hoạt động thực tiễn, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã coi việc quan sát, phân tích và nhận thức đúng những diễn biến quốc tế, khu vực Thái Bình Dơng nh là một trong những nhân tố quyết định để đề ra chiến lợc cách mạng nớc ta trong thời kỳ nhất định
Với Châu á - Thái Bình Duơng, Ngời đã sớm chỉ ra sự bùng nổ tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc Tháng 5/1921, trong bài thứ hai về Đông Dơng, Ngời
đa ra một kết luận quan trọng: “ hàng trăm triệu nhân dân Châu á bị tàn sát và
Trang 17áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy” và “họ sẽ hình thành một lực lợng khổng lồ” [8;tập 1;36].
Với Việt nam và Đông Dơng, từ những năm 20, Ngời đã tìm thấy khả năng bùng nổ cách mạng “ ngời Đông Dơng dấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến” [8;tập 1;28].
Cho đến những năm 40, khi cuộc chiến tranh thế giới sắp nổ ra và những diễn biến của cuộc chiến tranh ấy, Ngời đã sớm có những nhận định đúng đắn kịp thời, chèo lái con thuyền cách mạng Việt nam vợt qua đợc những giờ phút cam go nhất Đồng thời, vừa lợi dụng đợc những diễn biến của tình hình quốc tế
để có đợc đối sách kịp thời cho tình hình cách mạng Việt nam Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là ngời đã nắm bắt đợc tinh thần của lịch sử quốc tế và hoàn cảnh Việt nam Ngời đã dự báo đúng nhiều sự kiện Ngay từ 1924, trong bài Đông Dơng và Thái Bình Dơng Ngời đã tiên đoán: “Thế nào rồi cũng có ngày nớc Nga cách mạng phải đọ sức với CNTB” [8,tập 1;243] Hoàn toàn chính xác vì đúng 17 năm
sau ngày 22/6/1941, phát xít Đức đã tấn
công Liên Xô Đồng thời trong bài viết đó Ngời cũng dự đoán: “Thái Bình Dơng, tơng lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới” [8,tập 1;214] Cũng đúng 17 năm sau ngày 7/12/1941, quân phiệt Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ quân sự Mỹ, mở đầu chiến tranh Thái Bình Dơng Đồng thời, Bác cũng đã dự đoán sớm muộn Nhật Bản cũng sẽ vào Đông Dơng hất cẳng Pháp Hồ Chí Minh viết: trong lúc Nhật và Pháp đang hợp tác chặt chẽ, Việt minh đoán tr-
ớc rằng chúng sẽ phản nhau, mà Nhật sẽ phản Pháp trớc đó Lịch sử đó chứng minh nhận định đó là hoàn toàn chính xác
Quân Nhật đã nhảy vào Đông Dơng, lần lợt dùng mọi hình thức ngoại giao, quân sự để buộc Pháp phải từng b… ớc nhợng bộ và cuối cùng là dâng trọng
Đông Dơng cho Nhật Rõ ràng là Hồ Chí Minh đã nắm bắt đợc một cách tài tình nhất mọi vấn đề thời cuộc Vởy thì tại sao Bác lại có thể dự báo tài tình chính xác
đến nh vậy? Lý giải là ở chỗ: Bác nắm chắc phơng pháp luận biện chứng Mác - Lênin, có kiến thức sâu rộngg uyên thái về thế giới và cách mạng nớc ta, nắm đ-
ợc quy luật vận động của sự vật và vì Ngời có sự nhạy bén chính trị Ngời thờng
Trang 18phê phán kiểu áp đặt theo ý định có sẵn đối với nhận thức thời cuộc Ngời dặn:
“Chớ đem chủ quan của mình thay thế cho thực tế “ Có thể khẳng định rằng, Hồ Chí Minh là ngời Việt nam đầu tiên và là một trong số ít những nhà cách mạng của các dân tộc thuộc địa sớm thấy đợc tác động tơng hỗ của những biến động ở chính quốc với tình hình thuộc địa và ngợc lại Bởi lẽ rằng, Ngời luôn đặt các sự kiện và những vấn đề nảy sinh trong từng quốc gia dân tộc và trong quan hệ quốc
tế vào giữa dòng chảy của thời cuộc và làm rõ mối quan hệ biện chứng và sự tác
động qua lại giữa các sự kiện và những diễn biến khác nhau của thời cuộc Khi Pháp thua trận, từ Pác Bó (6/1941) Ngời đã đa ra nhận định: “Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở nớc ta” [8,tập 3;197]
Nh vậy, xuất phát từ việc nắm chắc phơng pháp luận biện chứng Lênin, có tầm quan sát và hiểu biết sâu rộng, Hồ Chí Minh từ chổ nhận thức đợc thời cuộc, thấy rõ đợc tiền đồ của cách mạng, đã đề ra đợc những sách lợc và chiến lợc đúng đắn Từ hội nghị TW Đảng lần VI (11/39) đến hội nghị VIII (5/41) Đảng ta mà đứng đầu là Hồ Chí Minh đã có sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc, hay nói một cách chính xác hơn, Hội nghị TW VIII đã hoàn chỉnh việc chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc Hội nghị đã dự đoán, sau khi Pháp bại trận nhanh chóng, Mỹ phải nhảy vào cuộc chiến, thúc đẩy Đức quay sang đánh Liên Xô
Mac-Đức, ý một mặt xâm chiếm các nớc yếu hèn ở Trung Âu và vùng Ban Căng, một mặt sẽ chuẩn bị lực lợng để đánh Liên Xô và tiến hành cuộc ngoại giao để bắt buộc các nớc cha phản trục đi theo mình để tiến đánh các nớc XHCN; Cuộc cjién tranh này gây ra nhiều tai hoạ cho nhân loại song nó “ sẽ đẻ ra nhiều nớc XHCN,
sẽ do đó mà cách mạng nhiều nớc thành công” [8,tập 3;411] Đây là một dự đoán
chính xác 100% hàng loạt các nớc dân chủ nhân dân ra đời ở Châu Âu, Châu á , làm cho CNXH vợt ra khỏi phạm vi một nớc thành hệ thống thế giới
Hội nghị VIII cũng đã vạch ra đợc những chính sách cu thể, sát hợp nhằm giải quyết mục tiêu cao nhất của cách mạng lúc này là “ độc lập dân tộc nhng vẫn nhấn mạnh vấn đề giai cấp đấu tranh tồn tại mãi mãi Đây chính là việc trở
về với sự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp,
Trang 19kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đợc Nguyễn ái Quốc khởi thảo từ 1930.
Có thể khẳng định, t tởng ngoại giao Hồ chí Minh trong giai đoạn 1941-
1945 thể hiện một nhãn quan chính trị sắc bén, một sự phân tích khoa học, chính xác bối cảnh cụ thể và xu thế phát triển của tình hình thế giới, trong nớc Dự kiến
về thời cuộc nói chung, đồng thời Ngời cũng dự kiến về những đột biến có thể xuất hiện, mà lịch sử đã chứng minh rằng, đó là những dự kiến đúng Ngời kịp thời phát hiện mâu thuẩn nội bộ đồng minh trong mối quan hệ khá phức tạp giữa
Đồng minh với Pháp về vấn đề Đông Dơng, Việt Nam;khai thác quan hệ đó có lợi cho cách mạng Việt Nam Cách nhìn trên thể hiện Ngời đã nhận thức, vận dụng mâu thuẩn t tởng Lê nin, biết lợi dụng cuộc chiến tranh đế quốc để tiến hành “ nội chiến cách mạng” hoặc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân
Đỉnh cao nhất của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng là tháng 2.1942, Hồ Chí Minh viết diến ca “lịch
sử nớc ta”, Ngời đã dự báo một cách thần kỳ “năm 45 Việt Nam độc lập” Và quả thật, năm 45, cách mạng tháng tám đã nổ ra rầm rộ, lôi cuốn toàn nhân dân tham gia, Việt Nam dành đợc độc lập sau hơn 80 năm làm thân trâu ngựa Sự kiện này đã làm biến động d luận thế giới, khiến cho bọn đế quốc Anh, Pháp, Mỹ-Tởng “choáng váng”- chúng không thể ngờ đợc một dân tộc nhỏ yếu nh Việt Nam, hơn 80 năm bị bóc lột cùng kiệt bởi thực dân Pháp, 4 năm bị đàn áp, khủng
bố bởi phát xít Nhật, đã không những không bị qụy kiệt mà ngợc lại, còn mạnh
mẽ và có tinh thần quật khởi nh vậy
Sau một quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, từ việc xâm nhập vào tình hình cách mạng thế giới đến việc sống trong phong trào đấu tranh, phong trào khởi nghĩa của nhân dân, Hồ Chí Minh đã có đợcnhững nhận định sáng suốt về thời cuộc và tiến đồ cách mạng, làm cơ sở, tiền đề trong việc nắm bắt thời cơ đa cách mạng tháng Tám đi đến thành công
I.2 2 Nắm bắt thời cơ.
Trong bài thơ “Học đánh cờ” trong “Nhật ký trong tù”, Hồ Chủ tịch viết:
Trang 20“Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tiến công
1945, Hồ chí Minh đã có những nhận định về thời cơ rất kịp thời Trong diễn ca lịch sử nớc ta, Ngời cũng nêu ý tởng đã đến thời cơ dành độc lập của nớc ta Ngời viết:
“Bây giờ Pháp mất nớc rồi
Không đủ sức, không đủ ngời trị ta
Giặc Nhật Bản thì mới qua
Cái nền thống trị cha ra mối mành
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà
ấy là dịp tốt cho ta
Nổi lên khôi phục nớc nhà tổ tông”
[8,tập 3;228]
Từ sự nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng đến việc nắm bắt thời cơ
là một quá trình logíc biện chứng, nó có sự tác động tơng hỗ lẫn nhau Rõ ràng,
Hồ Chí Minh từ việc nhận định rằng: “Ngời Đông Dơng giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê ghớm khi thời cơ đã đến” đến việc phát động một cuộc tổng khởi nghĩa trong tháng 8.1945 là cả một quá trình chọn lọc, phân tích và đón bắt thời cơ một cách chính xác nhất
Sinh thời, Sta-lin có nói rằng: trong mỗi trận đánh, thời cơ chỉ đến duy nhất một lần trận đánh ấy sẽ thắng hay thua, điếu đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc ngời cầm đầu có nắm bắt đúng thời cơ hay không Tháng 8.1945, Việt Nam toàn thắng, điều đó chứng tỏ rằng, Hồ Chí Minh trong vai trò là Chủ Tịch lâm
Trang 21thời và là ngời đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dơng đã nhanh chóng đón lấy thời cơ và giành đợc thời cơ.
Tháng 10.1944, khi thời cơ giành chính quyền đã đến, Hồ Chủ Tịch kêu gọi đồng bào toàn quốc phải kịp thời đón thời cơ, không đợc chậm trễ Ngời viết: Phe xâm lợc gần đến ngày bị tiêu diệt Các đồng minh quốc tế sắp tranh đợc sự thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rỡi nữa Thời gian rất gấp ta phải làm nhanh- Do nắm bắt chắc chắn các diễn biến của tình hình thế giới, tình hình trong nớc, đánh giá đúng so sánh lực lợng, phân tích chính xác diễn biến của cuộc đấu tranh, Hồ Chí Minh với tầm t duy biện chứng, khoa học, với sự nhạy bén về chính trị đã đa ra những tiên đoán, dự báo chính xác về tình hình và cả thời cơ để từ đó đa ra những biện pháp chuẩn bị cho thời cơ
Nắm bắt đúng thời cơ là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong dành thắng lợi
Phải biết dừng khi thời cơ cha đến, song phải nhanh chóng vợt lên để nắm bắt kịp thời cơ khi thời cơ đã tới Khi chính quyền Pháp- Nhật còn mạnh, Nhật-Pháp cha bắn nhau, mà thời cơ cha đến, tình hình cha chín muồi, nếu ta tổng khởi nghĩa sớm sẽ thất bại
Và đúng nh dự đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay đêm 9/3/1945 Nhật quật ngã Pháp và nắm quyền thống trị ở Đông Dơng Hội nghị TW mở rộng của
Đảng cộng sản Đông Dơng đã nhận xét tình hình và định sách lợc mới Chỉ thị
“Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thờng vụ đề ngày 12/3/45 đã đợc coi nh một chỉ thị lịch sử Theo nhận xét của Hội nghị thì Nhật - Pháp bắn nhau là một điều đã tính đợc từ trớc Một trong những nguyên nhân Pháp bị thất bại vì đã không thống nhất hành động với lực lợng chống Nhật của nhân dân Đông Dơng
Cuộc đảo chính diễn ra đã làm cho tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc
và vấn đề đặt ra với ta lúc bấy giờ là điều kiện khởi nghĩa đã thật chín muồi cha ?
Sự nhạy bén và chính xác của Đảng ta lúc này là rất cần thiết, sự phân tích, đánh
Trang 22giá tình hình một cách đúng đắn trong thời điểm quyết định mang tầm quan trọng lớn.
Theo sự nhận xét của chỉ thị thì mặc dầu tình hình chính trị đã bất ổn
nh-ng thời cơ vẫn cha đến Thời cơ duy nhất theo quan niệm của các nhà lãnh đạo
Đảng ta là lúc quân đồng minh kéo vào Đông Dơng đánh Nhật Bản chỉ thị còn nhấn mạnh rằng không phải lúc quân đồng minh vừa đổ bộ đã phát động khởi nghĩa ngay mà còn phải đợi khi quân đồng minh đã bám chắc đợc và tiến lên, Nhật phải kéo ra mặt trận ngăn cản quân đồng minh để mặt sau tơng đối sơ hở thì lúc đó mới phát động tổng khởi nghĩa Lệnh phát động tổng khởi nghĩa một khi truyền ra thì các nơi đều nổi dậy: phá hoại các đờng giao thông vận tải của Nhật,
đánh chiếm các kho tàng, đồn trại của Nhật làm cho chiến tranh du kích lan ra khắp cả nớc
Những lời tiên đoán trên đây đều dựa theo quan điểm duy vật biện chứng, thế nhng tình hình lại không phải đi theo đờng lối ấy Quân đồng minh cha đổ bộ cũng nh trong nớc Nhật cha nổ ra cách mạng nội chiến thì quân Nhật đã phải đầu hàng (8/5/45) Đứng trớc tình thế biến chuyển đột ngột ấy, cố nhiên là cuộc tổng khởi nghĩa phải nổ ra nếu không phải bỏ lỡ thời cơ, nhng còn việc chuẩn bị khởi nghĩa thì sao ?
Bàn về những điều kiện chín muồi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng tấm theo quan điểm Lê nin, chúng ta nhận thấy rằng: quân xâm lợc đã chia rẽ, hoang mang đến cực độ, thậm chí đến tan rã; Về quân ta, đội tiền phong đã kiên quyết cầm khí giới chiến đấu và kéo theo cả đông đảo hậu bị quân Cao trào tiền khởi nghĩa đã huy động hàng triệu ngời xuống đờng tranh đấu thờng xuyên, đã thu hẹp địa bàn của địch vào một số thành thị và lực lợng cách mạng đã làm chủ nông thôn miền Bắc Tất cả đều nói lên cuộc tổng khởi nghĩa đã nh đứa hài nhi nằm trong lòng mẹ đủ ngày, đủ tháng và đủ cả giờ khắc để chào đời
Hội nghị toàn quốc của Đảng cộng sản Đồng Dơng do Hồ Chí Minh chủ trì đã họp từ ngày 13 - 15/8 tại Tân Trào đã ra nghị quyết: Cơ hội rất tốt để cho ta dành chính quyền đã tới Tình thế vô cùng khẩn cấp Tất cả mọi việc đều phải nhằm 3 nguyên tắc: Tập trung lực lợng vào những việc chính; Thống nhất về mọi
Trang 23phơng diện chính trị, quân sự, hành động và chỉ huy; Kịp thời hành động, không
bỏ lỡ cơ hội
Liền sau Hội nghị toàn quốc của Đảng cộng sản Đông Dơng là Quốc dân
đại hội của Mặt trận Việt minh họp từ ngày 16 - 17/8/1945 Quốc dân đại hội quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt nam để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc cho thắng lợi Uỷ ban do Hồ Chí Minh là Chủ tịch và nó đợc xem
nh một Chính phủ lâm thời của nớc Việt nam trớc khi thành lập một chính phủ chính thức
Với t cách là một Chủ tịch lâm thời, Hồ Chí Minh đã gửi th cho đồng bào toàn quốc, phát động tổng khởi nghĩa
“ giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
“Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đơng ganh nhau tiến bớc dành quyền độc lập Chúng ta không thể chậm trễ”
“Tiến lên ! Tiến lên ! Dới lá cờ Việt minh đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”
Ngời cũng nhận định: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trờng Sơn cũng phải kiên quyết dành cho đợc độc lập
Từ ngày 15 - 30/8, cuộc tổng khởi nghĩa đã diễn ra rầm rộ khắp nơi Cách mạng tháng Tám thành công - đó là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt nam Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám là thắng lợi của những chiến lớc, sách lợc tài tình của Đảng cộng sản Đông Dơng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Có thể khẳng định, t tởng ngoại giao về nắm bắt thời cơ của Ngời đã đợc
sử dụng một cách linh hoạt trong cuộc tổng khởi nghĩa
Nhờ kịp nắm thời cơ và chuẩn bị tốt thực lực cách mạng, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã phát động tổng khởi nghĩa tháng Tám dầnh chính quyền trong cả nớc Khi lực lợng các nớc lớn Đồng minh vào Việt nam giải giáp quân đội Nhật theo
Trang 24thoả ớc quốctế thì chính quyền cách mạng đã đứng ở vị trí chủ nhân để đón tiếp
và giao thiệp với họ
Có nhiều ngời đặt câu hỏi: Vì sao lại chọn ngày 2/9 là ngày tuyên bố độc lập ? Rõ ràng là lúc này, cách mạng mới thành công, chính phủ lâm thời vừa mới thành lập cha đợc nớc nào trên thế giới công nhận lại cùng một lúc phải đối phó với giặc ngoài thù trong rồi nạn đói và lũ lụt hoành hành Quân Tởng - Pháp đã tiến gần đến lãnh thổ nớc ta Vấn đề đặt ra là phải cử hành lễ tuyên bố độc lập tr-
ớc khi quân Tởng và Pháp đến Hà Nội Và ngày 2/9/1945, ta đã tổ chức lễ tuyên
bố độc lập - rất đúng thời cơ - ngày 2/9 quân Tởng cha thể đến Hà Nội đợc
Nh vậy, từ việc nhận thức thời cuộc đến việc nắm bắt thời cơ là cả một quá trình dài tìm hiểu t duy và nắm bắt đúng quy luật phát triển của lịch sử Hồ Chí Minh từ chổ nhận thức đúng tình hình cách mạng trong nớc và thế giới, kết hợp với t duy biện chứng của Chủ nghĩa Mác đã phát huy đợc sức mạnh trí tuệ của mình trong cuộc lãnh đạo và chỉ đạo sáng suốt tiến trình cách mạng Việt nam lúc bấy giờ
Nhận thức thời cuộc và tiền đồ cách mạng và nắm bắt đợc thời cơ, đồng thời phải có chính sách mở rộng hoà hiếu, thêm bạn bớt thù, phân biệt rõ đâu là lực l-ợng ủng hộ mình đâu là kẻ cần phải đánh thắng - đó là con đờng nhận thức đúng
đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó còn là nét nổi bật trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời điểm lịch sử này
I.2 3 Thêm bạn bớt thù, mở rộng hoà hiếu.
Đây là một nét đặc trng trong t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh trên cơ sở phân tích đúng mâu thuẩn cơ bản, mâu thuẩn chủ yếu, xác định đúng bạn- thù, phân biệt rõ kẻ thù chủ yếu, đâu là đồng minh quan trọng, đâu là đồng minh tạm thời để đề ra những sách lợc, chiến lợc linh hoạt
Về nớc đúng thời điểm mà cơn lốc của cuộc chiến tranhthế giới ảnh hởng sâu sắc đến vận mệnh dân tộc, Hồ Chí Minh đã trực tiếp cùng TW Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo t tởng của Ngời Và “thêm bạn bớt thù, mở rộng hoà hiếu” là t tởng đợc nhấn mạnh tính cấp thiết trong thời điểm này Những quan
Trang 25điểm t tởng của Ngời về vấn đề này đợc thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị TW
Đảng tháng 5/41, cụ thể:
- Cách mạng Đông Dơng là một bộ phận của mặt trận dân chủ cống phát xít,
đồng thời có quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh chống phát xít của Liên Xô
và cuộc kháng Nhật của Trung Quốc
Chơng trình của Mặt trận Việt Minh cũng nêu:
- Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức gìn giữ hoà bình
- Mật thiết liên lạc với cac dân tộc bị áp bức, giai cấp vô sản trên thế giới
Từ những quan điểm chủ trơng chung đã đề ra, Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng đã
cụ thể hoá quan hệ với mỗi nớc, nhóm nớc cụ thể
Đối với các nớc Đồng minh, hàng loạt các văn kiện nh: Thông cáo của TW gửu các cấp bộ Đảng (31.12.41), Nghị quyết của Ban thờng vụ TW Đảng cộng sản Đông Dơng (3.43), Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12.3.45) đều đề cập đến quan hệ với Đồng minh Đảng chủ trơng “lợi dụng sự mâu thuẩn của Trung Quốc-Mỹ và Anh-Pháp Đờ Gôn để tranh thủ ngoại viện, ký hiệp ớc với các nớc Đồng minh, và để họ thừa nhận nền độc lập của dân tộc ta” [10;534].
Hồ Chí Minh từ chổ hiểu sâu sắc về bản chất và thực trạng của quân Tởng, Ngời đã không chút ảo tởng trớc những tuyên bố của Đảng, song Tởng lại đứng trong hàng ngũ Đồng minh, do vậy, ngay từ những năm chiến tranh cha kết thúc, trong quan hệ với Tởng, từ chủ trơng đến hoạt động cụ thể, Hồ Chí Minh và
Đảng ta luôn tỏ thái độ thân thiện, hợp tác Ngời chú ý khai thác những lời tuyên
bố của Tởng ở những khía cạnh ủng hộ các dân tộc nhợc tiều dành độc lập Đồng thời, Ngời cũng có gắng để Mặt trận Việt Minh không những không ở thế đối lập với Tởng mà còn tranh thủ đợc ít nhiều thiện cảm và sự ủng hộ của Tởng, lại vẫn giữ đợc đờng lối độc lập của mình
Thông qua mối quan hệ với các nhân vật có tên tuổi trong chính quyền ởng, Hồ Chí Minh đã chủ động mở rộng cho quan hệ của ách mạng Việt Nam với các nớc Đồng minh, trớc hết là Mỹ, lúc này đang có vai trò quan trọng trong qua
T-hệ quốc tế
Trang 26Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với một số nhóm sĩ quan Mỹ nh A.Patti, S.Phen, A.Tômat, và đã có một số thoả thuận thể hiện mối quan hệ bớc đầu giữa Mỹ và Việt Nam, chẳng hạn nh: phía Mỹ giúp Việt Minh một số thuốc men, vũ khí và giúp huấn luyện kỷ thuật quân sự, điện đài,Việt Minh giúp
Đồng minh cứu các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi và thông báo về tình hình các hoạt động quân sự của Nhật ở Đông Dơng
Đặt quan hệ với Mỹ, mục đích của Hồ Chí Minh lúc này là tranh thủ sự ủng hộ của Đồng minh đối với nền đọc lập của dân tộc Việt Nam, hợp tác trong điều kiện có thể, để đánh Nhật ở Đông Dơng Đồng thời, qua Mỹ nói lên tiếng nói của dân tộc Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, giành cho Việt Nam vị trí trong quan hệ quốc tế
Trong khi tỏ thái độ thiện chí, sẵn sàng hợp tác vì cuộc đấu tranh chống phát xít, Hồ Chí Minh vẫn luôn căn cứ vào hành động thực tế của phía Mỹ để nhìn nhận thực chất chính sách Mỹ sau những lời tuyên bố Chính vì vậy, Ngời nhanh chóng phát hiện ra thái độ hai mặt của Mỹ đối với Pháp và vấn đề Đông Dơng
Trong mối quan hệ với Mỹ, với Đồng minh, quan điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn nhất quán trớc sau, Ngời vẫn nhằm mục tiêu độc lập dân tộc Trong khả năng cho phép, Ngời tranh thủ tối đa những điều kiện thuận lợi và sự hỗ trợ bên ngoài Song bao giờ Ngời cũng cho rằng yếu tố quyết định vẫn là lực lợng của nhân dân ta
Còn đối với Pháp, từ sau khi Nhật vào Đông Dơng đến hết 1942, Pháp cấu kết với Nhật để cùng thống trị Đông Dơng, chủ trơng của Đảng ta là Pháp cùng với Nhật là kẻ thù của cách mạng
Tuy nhiên, khi mâu thuẫn Pháp - Nhật ngày càng căng thẳng, trong hàng ngũ Pháp ở Đông Dơng có sự phân hoá, bên cạnh xu hớng đầu hàng Nhật đã xuất hiện “xu hớng Đờ Gôn” chống Nhật thì chủ trơng của ta có sự thay đổi Nghị quyết của Thờng vụ TW Đảng cộng sản Đông Dơng tháng 2/1943 đã không đặt
Trang 27ngang hàng hai kẻ thù Pháp - Nhật mà coi Nhật là kẻ thù chủ yếu, bọn Pháp là tay sai của phát xít Nhật Hội nghị đã đề ra chủ trơng vận động thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dơng bao gồm cả ngời Pháp và Hoa kiều.
Tháng 12/1944, Việt minh gửi một bức th với đầu đề “Hỡi những ngời Pháp ở Đông Dơng” bức th có đoạn: “chúng ta hãy đoàn kết để giải phóng Đông Dơng khỏi ách phát xít Nhật Chúng ta hãy bắt tay cùng nhau chiến đấu đến cùng
để làm cho xứ Đông Dơng này trỏ thành một nớc, trong đó có quyền lợi chính
đáng của nớc Pháp”
Và theo đúng nh dự đoán của TW Đảng và Hồ Chí Minh, việc Nhật - Pháp
đánh nhau đã diễn ra Cuộc đảo chính kết thúc bằng sự thất bại nhanh chóng của Pháp Sau sự kiện này, trong “Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/45) Đảng đã không coi Pháp là kẻ thù trớc mắt của cách mạng song vấn xác định cần đề phòng cuộc vận động của Đờ Gôn định khôi phục quyền thống trị ở Đông Dơng Từ tháng 7 - 8/45 Hồ Chí Minh liên tiếp gửi yêu cầu, gửi th cho chính phủ Pháp, kêu gọi tinh thần đoàn kết chống phát xít Nhật của nhân dân Pháp và nhân dân Đông Dơng nói chung, Việt nam nói riêng
Có thể nói rằng, trong mối quan hệ với Pháp, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phân biệt rõ những ngời Pháp theo phát xít với những ngời Pháp chống phát xít
để có thái độ thích hợp Khi mâu thuẫn Nhật - Pháp ngày càng gay gắt và bùng
nổ “nớc Pháp mới” đứng về phía Đồng minh chống Nhật, thực dân Pháp không còn vai trò thống trị ở Đông Dơng, Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ động đặt vấn đề hợp tác với Pháp chống Nhật và giải quyết mối quan hệ giữa hai bên bằng trao
đổi, thơng lợng Bản yêu cầu 5 điểm mà Ngời gửi phía Pháp tháng 7/45 và thông
điệp tháng 8/45 là những phác thảo của giải pháp hoà bình trên cơ sở nhân ợng, thoả hiệp giữa hai bên trong điều kiện ta cha nắm đợc chính quyền trong toàn quốc Vì những lý do thuộc Pháp cũng nh do dã tâm muốn quay lại xâm lợc thống trị Đông Đơng của bọn thực dân mà những chủ trơng đó cha thực hiện đợc Tuy nhiên, nó đã tạo ra những cơ sở nhất định cho mối quan hệ Việt - Pháp ở giai
nh-đoạn sau, trong một hoàn cảnh khác