1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự sự và trữ tình trong thuợng kinh kí sự của lê hữu trác

90 2,7K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự sự và trữ tình trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác
Tác giả Đoàn Thị Hằng
Người hướng dẫn ThS. Thạch Thị Kim Hương
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 405,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài nghiên cứu Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức trong cơn phong ba nửa cuối thế kỷ XVIII trên tạp chí văn học số 6/1970 của GS Nguyễn Huệ Chi cũng đã đề cập đến yếu tố hi

Trang 1

Lời cảm ơn

Để thực hiện đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn ThS.Thạch Thị Kim Hương, sự góp ý chân thành của các thầy cô trong tổ văn học Trung đại Việt Nam cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh và sự ủng hộ nhiệt tình của gia đình và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn, các thầy - cô giáo cùng các bạn đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Vinh , tháng 5/2010

SV thực hiện :

Đoàn Thị Hằng

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu: 1

1. Lý do chọn đề tài………1

2. Mục đích nghiên cứu……… 2

3. Lịch sử vấn đề………2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4

5. Phương pháp nghiên cứu………4

6. Cấu trúc khóa luận ……….4

Nội dung: 5

Chương 1: Những vấn đề chung……… 5

1.1 Tự sự và trữ tình………5

1.2 Kí và kí sự ………6

1.3 Lê Hữu Trác và tác phẩm Thượng kinh kí sự……….9

Chương 2: Tự sự trong Thượng kinh kí sự 18

2.1 Nội dung tự sự……… 18

2.1.1 Bối cảnh xã hội thời kì Lê – Trịnh……….18

2.1.2 Hiện thực trong Thượng kinh kí sự ………24

2.2 Nghệ thuật tự sự ………38

Chương3 : Trữ tình trong Thượng kinh kí sự ……… 44

3.1 Nội dung trữ tình ……….44

3.1.1 Thái độ, suy nghĩ của Lê Hữu Trác đối với triều đình Lê – Trịnh……… 44

3.1.2 Tình cảm của Lê Hữu Trác đối với những vấn đề đời tư 60 3.2 Nghệ thuật trữ tình……… 71

Kết luận………77

Tài liệu tham khảo……… 78

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Bên cạnh những tác gia lớn mà trong chương trình phổ thông và cả trong quá trình học tập tại trường đại học, chúng tôi đã nghiên cứu khá sâu sắc, có những tác giả và sáng tác của họ chưa được nghiên cứu hoặc mới chỉ nghiên cứu ở một vài khía cạnh nào đó Một trong những tác giả đó là Lê

Hữu Trác với tác phẩm Thượng kinh kí sự Tác phẩm này đã được tiếp xúc

trong chương trình Ngữ văn 9 – tập 2 ( chưa cải cách ) hay trong chương trình Ngữ văn 11 – tập 1 ( đã cải cách ) qua đoạn trích “Vào Trịnh phủ” Có thể nói đây là tác phẩm du kí xuất sắc nhất cuối thế kỷ VXIII Cũng do nhiềunguyên nhân mà trong quá trình học tập chúng tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu sâu sắc về tác phẩm Hơn nữa tác giả Lê Hữu Trác là bậc danh y nổi tiếng, được mệnh danh là ông tổ của ngành y Việt Nam mà không chỉ bản thân tôi, còn rất nhiều người kính phục, yêu mến Do vậy được tìm hiểu,

nghiên cứu về vị danh y đại tài này cũng như tác phẩm Thượng kinh kí sự

của ông là điều vô cùng hứng thú đối với tôi

1.2 Đây là vấn đề có ý nghĩa khoa học cao nhưng chưa được tìm hiểu một cách toàn diện Mặc dù có những hạn chế và thiếu sót vì những nguyên nhânchủ quan và khách quan, nhưng đề tài này cũng góp phần thiết thực vào việckhai thác tác phẩm theo một xu hướng riêng, góp thêm tiếng nói của mình vào công trình nghiên cứu của những người đi trước

1.3 Đoạn trích “ Vào Trịnh phủ ” đã được đưa vào chương trình Ngữ văn

11 – tập 1 giúp học sinh tiếp xúc, tìm hiều và phần nào có được những kiến thức cơ bản về giá trị của tác phẩm Có thể nói đây là đoạn trích thể hiện linh hồn của tác phẩm, trong đó tác giả gửi gắm sâu sắc tư tưởng, tình cảm của mình Bởi vậy công trình nghiên cứu này của chúng tôi có thể phục vụ

Trang 4

cho việc nghiên cứu và giảng dạy ở phổ thông, giúp người nghiên cứu đi sâuhơn các vấn đề nổi bật của tác phẩm, giúp giáo viên và học sinh giảng dạy

- Thấy được ý nghĩa và bài học rút ra từ cuộc đời, nhân cách và sự nghiệp của vị danh y nổi tiếng này

3 Lịch sử vấn đề

Có thể nói Thượng kinh kí sự là tác phẩm không được nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm, không phải vì tác phẩm không có giá trị; trái lại đây là tác phẩm

du kí đạt thành tựu xuất sắc nhất cuối thế kỷ XVIII Nó không chỉ có giá trị văn học mà còn có giá trị lịch sử sâu sắc, ghi chép sự thật, việc thật của lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII Tác phẩm chỉ thực sự được quan tâm, chú ý

từ giữa thế kỷ XX trở lại đây Đặc biệt yếu tố tự sự và trữ tình tuy là hai phươngthức phản ánh chủ đạo trong tác phẩm nhưng vẫn chưa được nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, có hệ thống

3.1 Công trình nghiên cứu Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác trên tạp chí

văn học số 9/1964, GS Nguyễn Huệ Chi đã đề cập đến “Nỗi lòng hay là sự băn

khoăn thế sự của Lê Hữu Trác trong Thượng kinh kí sự ” Đây là công trình đã

trực tiếp đề cập đến yếu tố tự sự và trữ tình trong tác phẩm nhưng mới chỉ khai

Trang 5

thác trên một vài khía cạnh, phạm vi nhỏ hẹp, chưa bao quát được toàn tác phẩm; do đó tính hệ thống chưa cao

Trong bài nghiên cứu Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức trong cơn

phong ba nửa cuối thế kỷ XVIII trên tạp chí văn học số 6/1970 của GS Nguyễn

Huệ Chi cũng đã đề cập đến yếu tố hiện thực thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh với những biến động dữ dội, gay gắt, đồng thời cũng thể hiện khá chi tiết đến thân thế và sự nghiệp của Lê Hữu Trác Việc định vị những tác giả như Lê Hữu Trác

và nhiều tác gia khác thể hiện như là những nhân cách lịch sử tiêu biểu cho từnggiai đoạn, vừa bộc lộ bản lĩnh sáng tạo riêng của nhà văn vừa phản ánh những đặc điểm chung của đời sống xã hội đương thời

Bên cạnh những bài công trình nêu trên, còn có thể nhắc tới những bài viết ítnhiều đề cập đến giá trị nghệ thuật làm nổi bật rõ chất tự sự và trữ tình trong tác

phẩm như bài nghiên cứu về thể truyện kí dài với tác phẩm Thượng kinh kí sự của Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Nhà

xuất bản Đồng Tháp,1996) …Có thể nói, những vấn đề trọng yếu của việc nghiên cứu yếu tố tự sự và trữ tình trong tác phẩm đã được một số nhà nghiên cứu đề cập tới Chính vì vậy, những phần nghiên cứu này trở thành một tài liệu hết sức quan trọng với chúng tôi Tuy nhiên những bài viết, công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến yếu tố tự sự và trữ tình của tác phẩm trên một vài nét

sơ lược, hoặc mới chỉ được bàn tới một cách rải rác, lướt qua chứ chưa có một cái nhìn tổng quát, sâu rộng

3.2 Như vậy có thể nói, tất cả những công trình nghiên cứu hay bài viết nêu trên dù trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể hay khái quát những khía cạnh khác nhau

của cảm thức thế sự trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác đều gợi cho

chúng tôi những suy nghĩ quý báu, là chìa khóa để chúng tôi thực hiện khóa luận của mình được tốt hơn

Trang 6

3.3 Tự sự và trữ tình trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác nhìn

chung còn là vấn đề mới mẻ, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập mộtcách hệ thống và khoa học Nhiều biểu hiện của yếu tố tự sự và trữ tình trong

Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác chưa được đề cập tới hoặc chưa được giải

quyết thỏa đáng

Khóa luận của chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về yếu tố tự sự

và trữ tình trong tác phẩm như một vấn đề chuyên biệt để đưa ra cách đánh giá, kiến giải, hệ thống về chất tự sự và trữ tình trong tác phẩm với các biểu hiện cụ thể, sâu sắc, khoa học trên cả phương diện nội dung, thể loại, giọng điệu và nghệ thuật sử dụng ngôn từ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng :

Tập truyện kí Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác do Phan Võ dịch, Bùi

Kỷ duyệt lại, Nhà xuất bản Thông tin, 1989

4.2 Phạm vi :

Trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về yếu tố

tự sự và trữ tình trong tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu :

Trong đề tài này chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp so sánh, đối chiếu, tích hợp với những tác phẩm cùng thể loại hay cùng thời kỳ, phương pháp phân tích, đánh giá, hệ thống để tìm ra bản chất của vấn đề cần nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận :

Đề tài của chúng tôi bao gồm ba phần : mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung được trình bày bởi 3 chương :

Chương 1 : Những vấn đề chung

Chương 2 : Tự sự trong Thượng kinh kí sự.

Trang 7

Chương 3 : Trữ tình trong Thượng kinh kí sự.

Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tự sự và trữ tình

1.1.1 Khái niệm tự sự

Khi bàn về tự sự, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa:

- Theo Từ điển thuật ngữ Văn học, (Lê Bá Hán ( chủ biên ), nhà xuất

bản Giáo dục , 2004), thì tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là “trữ tình” và “kịch” được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học ( tr.385 )

- Theo Giáo trình Lí luận văn học, (Lê Tiến Dũng, nhà xuất bản Đại

học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003); khái niệm tự sự được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tự sự là một trong ba phương thức miêu tả trong văn học; thứ hai, tự sự là một loại văn học bên cạnh các loại trữ tình và kịch

Với nghĩa thứ nhất, khái niệm tự sự dùng để chỉ phương thức miêu tả của văn học, mà ở đó thiên về miêu tả sự kiện, kể chuyện Phương thức này chủ yếu được dùng trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, truyện thơ, kí sự, phóng sự

Trong nhiều tác phẩm trữ tình cũng có thể có những yếu tố tự sự xen vào

Với nghĩa thứ hai, khái niệm tự sự chỉ một loại tác phẩm văn học mà

ở những loại tác phẩm văn học này chủ yếu dùng phương thức tự sự để miêu

tả Các tác phẩm loại này được gọi là tác phẩm tự sự

Trang 9

Như vậy theo cả hai cách hiểu trên thì tự sự chính là phương thức tái hiện đời sống, một phương thức phản ánh hiện thực quan trọng nhất của tác phẩm tự sự Các thể loại văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, phóng

sự, truyện thơ đều dùng phương thức này để miêu tả cuộc sống

1.1.2 Khái niệm trữ tình

Theo Giáo trình lí luận văn học , Lê Tiến Dũng định nghĩa : “Khái

niệm trữ tình được hiểu theo hai nghĩa : thứ nhất, trữ tình là một trong ba phương thức miêu tả trong văn học; thứ hai, trữ tình là một loại văn học bên cạnh các loại tự sự và kịch”

Ở nghĩa thứ nhất, khái niệm trữ tình để chỉ phương thức miêu tả của văn học, đó là phương thức thiên về diễn tả, bộc lộ cảm xúc Nguyên nghĩa

từ Hán Việt “trữ tình” cũng có ý nghĩa như vậy : “trữ” là thổ lộ , “tình” là tình cảm , cảm xúc Phương thức này chủ yếu được dùng trong các tác phẩmtrữ tình như thơ trữ tình, kí trữ tình … Một số đoạn trong tác phẩm tự sự haykịch cũng có thể sử dụng phương thức này Do đó đôi khi người ta dùng cách nói như “chất trữ tình” , “tính trữ tình” để diễn tả đặc điểm này

Tùy bút, bút kí là những thể loại của kí cũng thể hiện rất rõ tính chất này Kí sự tuy là thể loại tác phẩm tự sự nhưng yếu tố trữ tình cũng khá đậm

nét Đặc biệt trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, yếu tố trữ tình đã kết

hợp chặt chẽ với yếu tố tự sự làm thành sức hấp dẫn của tác phẩm này

Trong Giáo trình Lí luận văn học của Lê Tiến Dũng đã nhận xét : “Ở

Thượng kinh kí sự, Lê Hữu Trác đã kể lại một cách tường tận chuyến lên

kinh chữa bệnh cho triều đình do chính mình tham gia chứng kiến Ở đây tácgiả đã miêu tả chính xác những việc thật , người thật của sinh hoạt cung đìnhtạo nên những trang kí sự đặc sắc và hấp dẫn” ( Tính chất này chúng tôi sẽ tìm hiểu rõ hơn trong thể kí ở phần sau của luận văn )

Trang 10

1.2 Kí và kí sự

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thể kí

- Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kí là “một loại hình văn học trung

gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút …”

- Theo Giáo trình lí luận văn học – phần tác phẩm văn học của Lê Tiến

Dũng có định nghĩa : “kí là một thể loại văn học dùng để ghi lại sự việc, cảmxúc ý nghĩ, thái độ của người viết”

Theo định nghĩa này chúng ta có thể thấy đặc điểm nổi bật của kí là ghi chép sự việc và thể hiện cảm xúc, ý nghĩ, thái độ của người viết Như vậy

“tính xác thực là đặc trưng quan trọng nhất và có tính nguyên tắc của kí” Kí tái hiện những con người thật, những sự việc thật trong đời sống Nói như B.Polevoi : “kí có địa chỉ chính xác của nó” Sự hấp dẫn của kí là ở việc thông tin một cách nghệ thuật những sự kiện có thật Tìm đọc kí, người đọc không chỉ tìm đến sự thật của bản chất mà là sự thật của hiện tượng Về mặt nào đó kí có giá trị của những tư liệu lịch sử quý giá mà nhà văn được chứngkiến hoặc nghe kể lại, ghi chép lại đưa đến cho người đọc những sự kiện, hiện tượng có thật Do đó tính hư cấu ở thể kí rất hạn chế Đây là điểm khác

so với truyện và tiểu thuyết Nhưng cũng chính đặc điểm này làm cho tác phẩm kí trở nên khô khan, ít có giá trị nghệ thuật Cũng bởi vậy, ở thể kí, tácgiả thường gửi gắm những tình cảm, thái độ của mình về hiện thực đó Chính tình cảm, cảm xúc của tác giả đã làm nên linh hồn cho tác phẩm Phầncảm xúc, ý nghĩ của tác giả có một vai trò quan trọng

So với nhiều thể loại văn học khác, kí là một thể loại nhanh nhạy, linh hoạt, kịp thời, do đó nó mang tính chiến đấu và tính thời sự cao

Kí không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các

cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh Đối tượng nhận thức thẩm mĩ của

Trang 11

kí thường là một trạng thái đạo đức – phong hóa xã hội (thể hiện qua những

cá nhân riêng lẻ ), một trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xãhội nóng bỏng

Người ta có thể chia kí ra thành các thể loại chủ yếu như kí tự sự, kí trữ tình, kí chính luận Kí tự sự nghiêng về miêu tả sự kiện và con người trong đời sống một cách khách quan như phóng sự, kí sự, truyện kí, biến cố của đời sống, xã hội, con người Kí trữ tình có các thể tùy bút, bút kí, một số dạng của nhật kí Kí chính luận kết hợp giữa tư duy hình tượng và tư duy chính luận … Tuy đa dạng như vậy nhưng về cơ bản người ta vẫn xếp kí vào

loại tự sự Có người xem “kí là một biến thể của loại tự sự ” (Gulaiev – Lí

luận văn học – Sđd, tr 263 ).

Trong công trình nghiên cứu về Thể loại văn học Việt Nam trung đại,

TS Phạm Tuấn Vũ cũng xếp “kí là một bộ phận của văn xuôi Trong văn họctrung đại Việt Nam, tên gọi của thể kí không thuần nhất nên căn cứ vào nội dung để xác định tác phẩm ấy có thuộc thể loại này hay không”.Bởi vậy không nên căn cứ vào cách gọi của nhà văn đối với tác phẩm để xác định thểloại của tác phẩm ấy Chẳng hạn “Tây sương kí” của Vương Thực Phủ thực

ra là một vở kịch, “Tây du kí” của Ngô Thừa Ân là tiểu thuyết, “Nhật kí người điên” của Lỗ Tấn là truyện ngắn

Kí ra đời rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại Nhưng phải đến thế kỷ VXIII, đặc biệt từ thế kỷ XIX mới thực sự phát triển mạnh mẽ Có thể

kể đến Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành trùng kí của Lê

Quýnh, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyên Án, Vũ trung

tùy bút của Phạm Đình Hổ …

Theo TS Phạm Tuấn Vũ, “Lịch sử thể kí phản ánh lịch sử của văn học trung đại Việt Nam” và “những thành tựu lớn của thể loại này đạt được cũngnằm trong thời kì hoàng kim của văn học trung đại dân tộc” Do đó giai đoạn

Trang 12

văn học cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX là giai đoạn thể kí phát triển rực

rỡ nhất

1.2.2 Khái niệm kí sự

Trong Từ điển thuật ngữ văn học ( NXB Giáo dục, 2004), nhóm tác giả

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa : “Kí sự là một thể thuộc loại hình kí nhằm ghi chép lại một câu chuyện, một sự kiện tương đối hoàn chỉnh”

Kí sự có quy mô tương ứng với truyện ngắn và truyện vừa

Kí sự có những đặc điểm chung với bút kí như viết về người thật, việc thật mà tác giả trực tiếp chứng kiến; cốt truyện không chặt chẽ như trong truyện; sử dụng nhiều biện pháp và phương tiện biểu đạt nghệ thuật…

Song ở kí sự, phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng, nghị luận thường ít hơn ở bút kí, tùy bút

Có thể nói trong các thể loại của kí thì kí sự gần với truyện hơn cả

Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Thượng kinh kí sự của Lê Hữu

Trác là những kí sự tiêu biểu

Giáo trình Lí luận văn học của Lê Tiến Dũng định nghĩa : “Kí sự là

một thể kí tự sự, chủ yếu dùng để ghi chép một sự việc, một sự kiện hay mộtcâu chuyện tương đối hoàn chỉnh”

Kí nặng về ghi chép, có thể ghi một cách tỉ mỉ nhưng cũng có thể ghi những nét lớn Ở kí sự tác giả ít bàn luận trực tiếp mà chủ yếu để cho sự việc

tự toát lên tư tưởng cần thể hiện

Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Họ đã sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Kí sự miền đất lửa của

Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân là những kí sự thành công, có giá trị

Trang 13

Theo cách phân chia của Lê Tiến Dũng thì thể kí có thể chia ra các thể loại khác như kí sự, phóng sự, truyện kí nhưng đều thống nhất ở đặc điểm của thể kí đó là tính xác thực, tính chiến đấu và tính thời sự cao.

Cách định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học, đặc điểm của thể loại

này đó là bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng, nghị luận thường ít hơn bút kí, tùy bút Do đó trong kí sự, yếu tố tự sự và trữ tình có ý nghĩa quan trọng

1.3 Lê Hữu Trác và tác phẩm Thượng kinh kí sự

1.3.1 Tác giả Lê Hữu Trác

Đại danh y Lê Hữu Trác (1720-1791) còn có tên khác là Lê Hữu Huân, Hiệu là Hải Thượng Lãn Ông - tức “Ông già lười Hải Thượng” Hai chữ

“Hải Thượng”, theo nhiều tài liệu có ghi đó là hai chữ ghép đầu của quê cha

và quê mẹ mà thành

1.3.1.1 Thân thế và chí hướng lập thân

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (1720) tại thôn Văn

Xá, làng Liêu Xá, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên) Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với quê mẹ ở thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) Ông là con ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thường Là con thứ bảy nên ông được gọi là cậu Chiêu Bảy

Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng ; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều ), anh và em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to dưới triều Lê – Trịnh Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ, làm Thị lang bộ công triều Lê Dụ Tông, được gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng hàm thượng thư (năm Kỷ Mùi 1739) Khi ấy Lê Hữu Trác mới hai

Trang 14

mươi tuổi Ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân.

Nhưng xã hội rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi Chỉ một năm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu binh thư võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí

nghiệm sức học của mình” (Tựa Tâm lĩnh).

Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá

và mang bao đau thương làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từ chối sự đề bạt Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởi giáp” theo đuổi chí hướng mới

1.3.1.2 Theo đuổi nghề thuốc

Lê Hữu Trác bị bệnh từ trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả “trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu” (Lời tựa

Tâm lĩnh), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, ông mắc cảm nặng

, chạy chữa tới hai năm không khỏi Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ

An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc,nhiệt tình chữa khỏi

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường

đọc Phùng thị cẩm nang và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc, ông được

Trần Độc truyền y thuật Nhận ra nghề y không chỉ có lợi ích cho mình mà

có thể giúp người, giúp đời, nên quyết chí học thuốc, lấy hiệu là “Hải

Thượng Lãn Ông”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học,thực hiện chí hướng mà mình yêu thích, gắn bó

Trang 15

Mùa thu năm 1754 (Bính Tý), Lê Hữu Trác ra kinh đô, mong tìmthầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầygiỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương

Sơn “khước từ sự giao du, đóng cửa để đọc sách” (Tựa Tâm lĩnh), vừa học

tập vừa chữa bệnh Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi khắp vùng Hoan

Châu Sau hơn chục năm viết nên bộ Y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển

bao gồm đủ các mặt y học : y đức, y lý, y thuật, dược, di dưỡng Phần quantrọng nữa của bộ sách phản ánh sự nghiệp văn học và tư tưởng của HảiThượng Lãn Ông Cống hiến vĩ đại nhất của Lê Hữu Trác đối với lịch sửphát triển của nền y học dân tộc cả về mặt lý luận và thực tiễn là bộ sách nổi

tiếng : Hải Thượng y tông tâm lĩnh này

Đây là một công trình kế thừa đầy sáng tạo những thành tựu y học củanhiều thế hệ y gia trong và ngoài nước, đã được Lãn Ông thể ngiệm và biênsoạn công phu trong suốt 40 năm

Hải Thượng y tông tâm lĩnh là một bộ sách lớn bàn về y – dược học

một sách toàn diện, từ đạo đức của người thầy thuốc đến phòng bệnh chữabệnh, từ lý luận đến thực hành, từ y đến dược, đầy đủ các bệnh lý nội - ngoạikhoa, phụ sản khoa, đậu, sởi… phương pháp dưỡng sinh và vệ sinh phòngbệnh…

Trong công trình đồ sộ này, Hải Thượng Lãn Ông đã dành một phần

tư khối lượng tác phẩm của mình (7 trong số 28 tập) để biên soạn giới thiệu4.000 phương thuốc tích lũy trong kho tàng kinh ngiệm của nhân dân Trong

đó hai tập Dược phẩm vận yếu và Lĩnh Nam bản thảo chuyên về các vị thuốc

và năm tập Tâm đắc thần phương, Hiệu phỏng tân phương, Y phương hải

hội, Bách gia trân tàng và Hành giản trân nhu chuyên về đơn thuốc

Có thể nói rằng : “Hải Thượng Lãn Ông là người đầu tiên biên soạnmột số sách thuốc rất hoàn diện, nhất là phần bào chế, sao phẩm, trước đây

Trang 16

chưa từng thấy ở nước ta…” (Đỗ Tất Lợi, Những vị thuốc và đơn thuốc

trong tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông, Tạp chí Đông y – số 110 – 111)

Trên cơ sở kết hợp những tinh y khoa học truyền thống với nhữngkinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, Hải ThượngLãn Ông đã xây dựng thành một hệ thống lý pháp phương dược của nền yhọc dân tộc thích hợp với con người, khí hậu và môi trường Việt Nam

Hải Thượng y tông tâm lĩnh từ lâu đã được y giới Việt Nam xem là bộ

bách khoa toàn thư về y học thế kỷ XVIII và cũng là bộ sách y học lớn nhấtcủa nền Đông y Việt Nam

Các nhà khoa học hiện đại đã hết lời ca ngợi công trình giá trị này:

“Những trước tác đồ sộ của Lê Hữu Trác để lại, qua nhiều đời đãđược nhiều ngự y thuộc các y viện dưới mấy triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn và

cả “chính phủ Nam Triều” thuộc Pháp, xem là “cẩm nang” Một số nhà yhọc thực nghiệm phương Tây, một số bác sĩ người Việt trước kia và bây giờcũng tìm thấy ở những trước tác đó “những kiến thức uyên bác” và một

“phương pháp lập luận đặc sắc” mà ở “các nhà bác học Châu Âu cũng không

mong đợi có hơn được” (Nguyễn Huệ Chi – Lê Hữu Trác và con đường của

một trí thức, trong cơn phong ba nửa cuối thế kỷ XVIII, - Dẫn theo Mấy vẻ mặt thi ca thời kỳ cổ - cận đại, Nxb Tác phẩm mới, 1983, tr.93).

1.3.1.3 Sự nghiệp cuối đời

Ngày 12/1/1782, ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh Lúc này ông

đã 62 tuổi Ra kinh, ông vào phủ chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, được giao

du với các công hầu khanh tướng, trở về thăm quê nhà, gặp lại người tình cũ

… rồi cũng sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi Ngày 2/11/1782 Lãn Ông về đến Hương Sơn

Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều; chữa bệnh, dạy học nhưng Lãn

Ông vẫn tiếp tục chỉnh lí, bổ sung, viết thêm (tập Văn khí bí điển, năm 1786)

Trang 17

để hoàn thành bộ Tâm lĩnh Hải Thượng Lãn Ông không chỉ là danh y có

cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng – Hà Tĩnh, thọ 71 tuổi Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn tại chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung – Hương Sơn

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh

thiền sư Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh

chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất

sắc nhất thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng

kinh kí sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử,

triết học…

1.3.1.4 Tấm lòng và nhân cách của danh y Lê Hữu Trác

Hải Thượng Lãn Ông, người thầy thuốc vĩ đại và nhà giáo huấn nhântâm học nổi tiếng của dân tộc còn để lại cho đời một tấm gương sống caođẹp và những lời di huấn bất hủ về đạo đức, lương tâm, trách nhiệm vàphương châm hành động của người thầy thuốc mà ngày nay mỗi lần đọc lại

ta thấy vẫn còn nóng hổi tính thời sự và giá trị nhân bản đích thực của nó

Sinh thời Hải Thượng Lãn Ông thường dạy môn đệ của mình rằng:

“Đạo làm thuốc là nhân thuật, chuyên bảo vệ sinh mạng của conngười, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, lấy việc cứu sốngmạng người làm nhiệm vụ thiêng liêng của mình, không nên cầu lợi kểcông… thầy thuốc là nghề thanh cao phải giữ đức cho trong, giữ lòng chosạch, làm ơn không mong đền đáp, thấy lợi đừng nhúng tay vào… Phải cẩn

thận giữ gìn phẩm chất của mình, đừng để bị người đời khinh rẻ” (Y huấn

Trang 18

cách ngôn) Lãn Ông rất phẫn nộ trước những kẻ “đem nhân thuật làm

chước dối lừa, đem lòng nhân làm chuyện mua bán”…

Trọn đời mình Hải Thượng Lãn Ông không hề quản ngại mọi khókhăn, cực nhọc trước những nỗi đau khổ của con người Ở đâu bệnh nhâncần, dù xa xôi cách trở đến mấy, ông cũng lận lội tìm đến cứu giúp Nơi nàobệnh nhân gặp khốn khó, túng thiếu ông lại càng hết lòng giúp đỡ, chăm sóc.Đối với những bệnh nhân nghèo khổ không nơi nương tựa, ông thường lấytiền của riêng để chu cấp, chữa trị, nuôi dưỡng và từ chối mọi khoản bồihoàn

Với tấm lòng thương yêu bệnh nhân như mẹ hiền thương con, LãnÔng thường căn dặn học trò: “Được mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh để sắpxếp đi thăm trước hay sau Chớ nên vì giàu sang ngèo hèn mà nơi tới trướcchỗ tới sau, hoặc khi bốc thuốc lại phân biệt hơn kém Khi lòng mình có chỗkhông thành thật thì khó mong được bệnh nhân thông cảm và sẽ kém phần

hiệu quả” (Y huấn cách ngôn)

Khi thấy học trò mình có người ngại vì phải thăm và khám bệnh chonhững bệnh nhân bần cùng lam lũ, ông thường tỏ ý không hài lòng và ân cầnkhuyên nhủ: “Đã làm nghề thuốc thì không được ngại khó, ngại khổ, khôngđược coi khinh người bệnh”

Lời nói của Hải Thượng Lãn Ông luôn luôn đi đôi với việc làm Họctrò của ông không chỉ nghe lời thầy dạy mà còn phấn đấu học tập, làm theonhững việc mà thầy đã làm

Ở bệnh án thứ 8 trong tập Y dương án (1 trong 28 tập của bộ Y tông

tâm lĩnh), Lãn Ông kể rằng:

Có một gia đình thuyền chài tên là Thuộc có cháu gái 13 tuổi bị bệnhđậu mùa rất nặng Nhà quá nghèo nên không có điều kiện mời thầy và cũng

Trang 19

không có đủ tiền để mua thuốc chữa trị cho con Khi hay tin, Lãn Ông đã vội

vã đến thăm và khám bệnh, giúp đỡ thuốc men rất chu đáo

Giữa mùa hè nóng bức, cháu bé ốm nằm trong chiếc thuyền nan nhỏhẹp, người đầy mụn mủ Mỗi lần ông xuống thăm bệnh đều phải cởi bỏ hết

để ở trên bờ, mũi phải nút bông và nín hơi không dám thở nhiều vì mùi hôitanh bốc lên nồng nặc không thể nào chịu nổi Khi khám bệnh xong đầu ócông choáng váng, mồ hôi đổ ra như tắm

Nhưng Lãn Ông vẫn không ngại khổ, ông đã tận tình chăm sóc, chữatrị cháu bé suốt một tháng trời liên tục mới khỏi bệnh Khi chia tay với giađình bệnh nhân, chẳng những ông không nhận tiền thù lao – kể cả tiền thuốc– mà còn giúp đỡ thêm gạo, củi, dầu đèn

Thật đúng là tấm lòng lương y như từ mẫu!

Hải Thượng Lãn Ông là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn hóa ViệtNam Ông không chỉ là đại danh y lỗi lạc mà còn là một nhà tư tưởng lớn,

nhà thơ, nhà văn xuất sắc trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XVIII Bộ Y tông

tâm lĩnh – ngoài giá trị khoa học rất đáng kể, không riêng gì những phần văn

thơ trong đó mà ngay cả những phần tác giả ghi chép khoa học thuần túy vẫn

có sức rung cảm đối với người đọc như những tác phẩm văn chương

Thơ văn Hải Thượng Lãn Ông mang tinh thần nhân đạo cao cả củamột nhà hiền triết phương Đông vốn xem thường phú quý, ghét hư danh:

Công danh trước mắt trôi như nước Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương

Đã vượt lên trên nhưng danh lợi tầm thường mà người đời lắm kẻ đuachen:

Bái biệt long lâu cửu bệ hàn Mang huề cầm kiếm xuất đô quan (Bái biệt lầu rồng kinh nguyệt lạnh

Trang 20

Gươm đàn vội vã bước chân ra).

Để trở về hành đạo cứu đời với tâm hồn của người thầy thuốc – nghệ sĩ:

Thời hứa sơn nhân lai vấn được

Dạ huề hải nguyệt cộng minh cầm.

(Ngày ngày xem bệnh vừa xong Đêm đêm tựa bóng trăng trong gẩy đàn)

Và chẳng bao giờ mưu chính một điều gì cho riêng mình:

Thiện tâm cốt ở cứu người

Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu Biết vui nghèo cũng hơn giàu Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn !

Cuộc đời hoạt động y học không mệt mỏi với tấm lòng nhân ái củaHải Thượng Lãn Ông đối với bệnh nhân là một tấm gương sáng ngời về tinhthần trách nhiệm và đạo đức cao thượng của người thầy thuốc chân chính,mãi mãi xứng đáng cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam noi theo

1.3.2 Tác phẩm Thượng kinh kí sự

Năm 1783, Lê Hữu Trác viết xong tập Thượng kinh kí sự bằng chữ

Hán – một tác phẩm văn học vô cùng quý giá, miêu tả quang cảnh ở kinh đô,cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà Chúa Ông đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn

ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm

Tác phẩm được ông xếp vào cuối bộ (quyển 65) Hải Thượng y tông

tâm lĩnh (Những lĩnh hội tâm huyết về ngành y của Hải Thượng), như một

phụ lục và được khắc in năm 1885 Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất ở thế kỷ XVIII thuộc loại hình kí (ghi việc, kể chuyện)

Trang 21

Năm 1924, Nguyễn Trọng Thuật dịch Thượng kinh kí sự và cho đăng

trên “Nam phong” tạp chí

Năm 1983, nhà xuất bản văn học (Hà Nội) cho in Thượng kinh kí sự

do Ứng Nhạc Vũ Văn Đình dịch

Năm 1989, nhà xuất bản thông tin cho in Thượng kinh kí sự do Phan

Võ dịch , Bùi Kỷ duyệt lại

Tập Thượng kinh kí sự được viết vào thập niên 80 của thế kỷ XVIII –

đó là một thời kỳ rối ren của triều đình phong kiến Lê – Trịnh, giai đoạn chính trị khủng hoảng trầm trọng trước khi vua Quang Trung tiến quân ra Bắc Tập kí kể lại cuộc hành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của ông về kinh thành Thăng Long để chữa bệnh cho chúa Trịnh

Thượng kinh kí sự mở đầu là lúc Lê Hữu Trác đang sống ở quê mẹ

Hương Sơn thì bỗng có chỉ triệu ra kinh chữa bệnh cho thế tử Khi ấy, ông

đã 62 tuổi Trên từng chặng đường, tác giả vừa mô tả phong cảnh vừa bộc lộtâm trạng của mình Đến kinh, tác giả tiếp tục mô tả quang cảnh ở đó, nhất

là trong phủ chúa Trịnh, nơi lắm xa hoa, quyền uy Ngoài ra, ông còn kể việctiếp xúc của mình với các nho sĩ, quan lại và những người thân quen xưa Tác phẩm kết thúc với việc ông về lại quê nhà trong tâm trạng vui mừng vì

đã thoát khỏi sự trói buộc của danh lợi

Trang 22

CHƯƠNG 2

TỰ SỰ TRONG THƯỢNG KINH KÍ SỰ

2.1 Nội dung tự sự

2.1.1 Bối cảnh xã hội thời kỳ Lê – Trịnh

Đầu thế kỷ XVI, nhất là sau khi Lê Hiển Tông mất, xã hội Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị Kinh tế sa sút, nhân dân đói khổ, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau mở đầu cho một giai đoạn mới của chế độ phong kiến Đó là sự suy sụp của nhà Lê và tình trạng chia cắt đất nước Một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ Tình trạng Nam triều – Bắc triều chấm dứt chưađược bao lâu thì xảy ra sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài Cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn chấm dứt Sông Gianh được lấy làm giới hạn chia cắt giữa hai miền Đàng ngoài, mọi quyền hành đều nằm trong tay họ Trịnh Tình trạng này còn kéo dài đến mấy thế kỉ sau nữa

Trong bối cảnh của Đại Việt đương thời, họ Trịnh muốn nắm toàn bộ quyền hành, không thể có cách làm nào khác Nhằm hạn chế hơn nữa uy quyền của vua Lê; một mặt Trịnh Tùng và các chúa tiếp theo, tước hết thực quyền của vua Lê, quy định chặt chẽ chế độ bổng lộc của nhà vua… hình thành chế độ gọi là “vua Lê – chúa Trịnh ” mà thực quyền nằm trong tay phủchúa Có thể nói đây là thời kì khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến đương thời

Quan lại được tuyển chọn chủ yếu bằng khoa cử, nhưng không chặt chẽ như ở thế kỉ XV Ngoài ra hình thức bảo cử được chúa Trịnh nhiều lần

sử dụng Thêm vào đó, chúa Trịnh cũng thực hiện việc cho dân nộp thóc haytiền để được bổ dụng tri phủ hay tri huyện Sử cũ có lúc đã nhận định: “Bấy giờ quan chức nhũng lạm, phức tạp, một lúc cắt nhấc bổ dụng đến hơn 1000 người, làm quan cầu may, viên chức thừa thãi, không còn phân biệt gì cả ”

Trang 23

Ruộng đất nằm trong tay các quan chức cao cấp Bộ máy nhà nước thời Lê –Trịnh ở Đàng Ngoài chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội bộ giữa hai dòng họ cũng như giữa quan lại và nhân dân.

Về luật pháp, một mặt chúa Trịnh giữ nguyên bộ luật Hồng Đức, bổ sung thêm một số điều về kiện tụng, xét xử, mặt khác ban hành nhiều chiếu lệnh nhằm giải quyết những vấn đề mới do thực tế Đàng Ngoài đặt ra

Sự sụp đổ của nhà Lê và cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến đã làm thay đổi khá nhiều tình hình kinh tế và đời sống nhân dân Sự phát triển của chế độ tư hữu lớn về ruộng đất ở đầu thế kỉ XVI đã dẫn đến sự phá sản của chính sách quân điền, sự thu hẹp ruộng đất công làng xã và sự suy sụp của nông nghiệp Các vua Lê cuối cùng không còn quan tâm đến đời sống nhân dân nữa và ngày càng tỏ ra bất lực, đã dẫn đến sự sa sút nghiêm trọng của nền kinh tế Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp đã chứng

tỏ điều đó Với các chính sách ruộng lính, ruộng ban thưởng, chiến tranh liênmiên, ruộng đất lại bị bỏ hoang hóa, nông nghiệp bị tàn phá, nhất là ở các miền xảy ra chiến sự

Sau khi ổn định tình hình chính trị, nhà nước Lê – Trịnh cố gắng chăm

lo đến tình hình nông nghiệp Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh và sự phát triển của chế độ tư hữu về ruộng đất, sự quan tâm của nhà nước không còn đạt được những kết quả như ở thế kỉ XV Lụt lội, hạn hán thường xuyên

đe dọa Nhân dân hết sức đói khổ do chiến tranh, thiên tai hoặc chịu chế độ bóc lột, nhũng nhiễu của địa chủ, quan lại hà khắc Nhân dân phải rời làng điphiêu tán, “tha phương cầu thực” Chế độ tô thuế là một phần gánh nặng trong đời sống nông dân ở Đàng Ngoài Ta có thể hiểu qua lời điều trần của Bùi Sĩ Tiêm năm 1730: “Người cày ruộng ấy (tư, tạm chia lại cho nông dân không đất) chiếm số thóc thu được, lấy ra 1/10 để nộp thuế, còn bao nhiêu chia đôi, một nửa đem nộp cho người chủ cũ…” Như vậy người dân tá điền

Trang 24

chẳng còn lại là bao Chính vì vậy mà năm 1731 phủ chúa đã nhận xét: “Dânnghèo ngày một xiêu giạt dần, cùng khốn quá lắm, thuế thiếu tích lũy lâu năm… chính hộ khốn đốn không chi tài nổi ”.

Thuế khóa, lao dịch nặng nề Thêm vào đó là cảnh:

Lính vua, lính chúa, lính làng Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra.

(Ca dao)

Cảnh tham quan, ô lại, nhũng nhiễu nhân dân, tham tụng Nguyễn Thế

Bá đã phải kêu lên: “Việc kiện tụng thì nào đòi hỏi, nào dẫn người đương sự

về nha hầu xét, bọn lai dịch tính hành trình bắt dân cung đốn, làm cho dân phải phí tổn nặng nề ”, hoặc như nhận định của Thượng thư bộ binh Nguyễn Quán Nho: bọn họ “chỉ tránh việc nặng, tìm việc nhẹ, ăn hiếp người nghèo, che chở người giàu ” Năm 1718 chúa Trịnh buộc phải kêu lên: “kiện cáo rốibeng, không bao giờ hết … phí tổn ngày một thêm, oán giận ngày càng nặng

” Đúng là cái cảnh bắt gặp trong ca dao:

Con ơi! Mẹ bảo con này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Nhưng, như vậy cũng chưa hết Sự suy yếu của nhà nước trung ương, chiến tranh phong kiến đã tạo điều kiện cho bọn địa chủ, cường hào địa phương thả sức hoành hành, nào là đặt trạm thu thuế riêng, nào là tự tiện tổ chức xét kiện Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay bọn địa chủ, quan lại

và cường hào, nông dân không còn “miếng đất cắm dùi ” (lời Trịnh Cương,

năm 1728, theo : Lê Cao Lãng – Lịch triều tạp kỷ, quyển 3b ( bản chữ Hán ),

Nxb khoa học xã hội Hà Nội, 1975) Tô thuế rất nặng, rồi mất mùa đói kém xảy ra liên tiếp “Dân phiêu tán dắt díu nhau đi ăn xin đầy đường Giá gạo cao vọt, một trăm đồng tiền không được một bữa no Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên

Trang 25

nhau, số dân còn lại mười phần không được một Làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ năm ba hộ mà thôi” ( Quốc Sử Quán triều Nguyễn –

Việt sử thông giám cương mục (bản dịch), NXB Văn – Sử - Địa Hà Nội,

1960, tập XVIII, quyển 39, tr.1756)

Theo Ngô Thì Sĩ, nửa cuối thế kỷ XVIII, bốn trấn ở đồng bằng Bắc bộngày nay có 9668 làng xã thì có đến 1076 làng xã bị điêu tàn Trấn Thanh Hóa có 1393 làng xã thì có 297 làng xã bị điêu tàn Trấn Nghệ An có 706 làng xã thì có 115 làng xã bị điêu tàn…

Về chính trị, bộ máy chính quyền phong kiến giai đoạn này vừa

chuyên chế lại vừa sâu mọt, thối nát Từ quan lại địa phương đến các quan chức triều đình, các vua chúa đều chuyên quyền, độc đoán, ra sức bắt phu bắt lính, chiến tranh phi nghĩa nổ ra liên miên Câu hỏi da diết của người chinh phụ trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn ám ảnh từ đầu đến cuối tác phẩm, đã phản ánh rõ nét về cuộc chiến tranh ấy : “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?” Câu hỏi ấy cứ lơ lửng, ám ảnh đến đau xót như chưa bao giờ được giải quyết Khúc ngâm thực sự gieo vào lòng người đọc một nỗi chán ghét, oán giận đối với những cuộc chiến tranh phi nghĩa, trái lòng người, những cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỉ của một thiểu số thốngtrị, và suy rộng ra là chán ghét cái xã hội áp bức bất công, nguồn gốc đẻ ra những cuộc chiến tranh này Qua khúc ngâm của người chinh phụ, Đặng Trần Côn cũng đã dựng sống lại một thực tế lịch sử, một thời đại mà quan lại, vua chúa chỉ biết ăn chơi sa đọa, gây bè kết cánh, làm loạn triều đình, gây chiến tranh phi nghĩa khiến nhân dân đói khổ điêu linh Bọn quan lại, vua chúa ngày đêm chỉ biết bóc lột sức dân, của dân, thu tiền, thu thóc của dân ăn chơi thỏa thích

Trong Thông sức của Ngự sử đài năm 1719 có đoạn viết : “Bọn hào

cường gian hoạt trong làng mạc, giảo quyệt đủ ngón, dối trá trăm khoanh,

Trang 26

chúng lấy thế lực mà xử sự, dùng cách xâm chiếm để lợi mình, bóp nặn kẻ nghèo nàn, khinh rẻ người ngu tối, hơi có ai trái ý là chúng vu oan giá họa…Đáng ghét hơn nữa, những kẻ bất đẳng gian giảo còn hãm hại dân lành, như thấy xác người bên đường đã trải năm tháng không rõ tung tích, thì nhận ngay mình là người thân… , đem một người lương thiện có của mà mình

ghét bỏ xưa nay, vu cáo thành án giết người…” (Phan Huy Chú, Lịch triều

hiến chương loại chí, NXB Giáo dục , 1962, sđd, tr.103-104).

Quan lại hết sức tham ô, nhũng nhiễu dân lành Kinh tế suy thoái, đời

sống nhân dân hết sức cực khổ Tờ Thông sức của Ngự sử đài còn viết bọn

cường hào, quan lại là “lũ sâu mọt”, “kết đảng”, “tự tiện bán ngôi thứ trong làng và cầm đợ ruộng công lấy tiền” , “xúi giục kiện tụng”, “hãm hại dân lành…bằng vu cáo giết người…” Chúa Trịnh đã có lúc cho phép dân yết bảng “ca tụng hoặc chê bai” các quan lại địa phương nhưng không có kết quả

Trong tình cảnh chung đó, bản thân các chúa cũng góp thêm phần làm khổ nhân dân bằng xây dựng:

Sử cũ ghi: “Khi tuổi đã về già, Trịnh Cương đi tuần du không có tiết độ” Các hoạn quan được lệnh chia nhau đi sửa dựng các chùa ở núi Độc Tôn và Tây Thiên (vùng Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ngày nay), xây dựng phủ

đệ ở Cổ Bi (Gia Lâm)…Năm 1729, mặc dầu đê sông Hồng vỡ, mùa màng ngập lụt, Trịnh Cương vẫn huy động dân phu, quân lính sửa gấp hành cung

Cổ Bi

Trịnh Giang lên thay Trịnh Cương, sai phá hành cung Cổ Bi để lấy vậtliệu sửa hai chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm, bắt hàng vạn nhân dân các huyện miền đông lao dịch cực khổ Trịnh Giang lại cho xây dựng chùa Hồ Thiên (Bắc Ninh), Hương Hải (Hải Dương), Hoa Long (Hà Tây)… Mãi đến năm 1740, Trịnh Doanh mới buộc phải bãi bỏ Trịnh Giang lại nghe theo lời

Trang 27

bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ cách chức, giết hại những đại thần như Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, Trương Nhưng…, đặt chế độ bán quan chức, hoang dâm vô độ Một hôm bị sét đánh gần chết, bọn hoạn quan

khuyên nên đào đất làm nhà ở dưới đó để tránh sấm sét Giang bèn dựng cung Thưởng Trì để ở, không dám ra ngoài nữa Bọn hoạn quan nhân đó tự

do hoành hành Đời sống nhân dân vì thế hết sức sa sút Bọn quan lại địa phương tha hồ nhũng nhiễu, hạch sách nhân dân, tham ô, vơ vét tiền của Lụtlội, mất mùa,đói kém xảy ra liên miên Dân phải ăn vỏ cây, rau cỏ, lá cây, thây chết đầy đường, thôn xóm tiêu điều Làng xóm điêu tàn, kinh tế suy sụp, sức sản xuất bị ngừng trệ Người nông dân lưu tán hoặc chết đói, chết bệnh trên đường, hoặc cố gắng dùng sức lao động còn lại, hợp quần khai pháđất hoang, ruộng bỏ hóa của các làng lân cận Cuối cùng khi không còn cáchnào tự cứu nữa, “tức nước vỡ bờ”, họ đành nổi dậy cầm giáo mác, gậy gộc chống lại nhà nước phong kiến, giai cấp địa chủ cường hào Phong trào nôngdân bùng lên rầm rộ Đó là các cuộc khởi nghĩa của anh em Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ phối hợp với Vũ Trác Oánh và bè đảng vùng Thất quận (bảy huyện ở đông Hải Dương), của nghĩa quân Hoàng Công Chất (1739-1769) ở vùng Sơn Nam, của thổ tù phiên trấn Lạng Sơn là Toàn Cơ, của Nguyễn Danh Phương (1740-1751), của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751), của Lê Duy Mật (1738-1770)… Đó là hồi chuông báo động cuộc khủng hoảng của chế

độ phong kiến Đàng Ngoài, là sự đổ vỡ nghiêm trọng của nhà nước Lê – Trịnh

Cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục kéo dài ở Đàng Ngoài Triều đình Lê – Trịnh tăng cường đàn áp phong trào nông dân Mất mùa, đói kém xảy ra khắp nơi Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét :

Năm 1759, “Thanh Hóa, Nghệ An bị nạn đói”

Trang 28

Năm 1766, “các hạt Kinh Bắc vỡ đê, nhà cửa, ruộng nương bị ngập lụt”.

Năm 1768, “Nghệ An và các trấn Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, giá gạo cao vọt, nhân dân đói khổ, 100 đồng tiền không đủ một bữa no”

Tình trạng đói kém càng thường xuyên hơn ở thập kỷ 70, 80, đặc biệt là năm1786

Trong tình hình khó khăn nói trên, nội bộ chính quyền Lê – Trịnh ngàycàng mâu thuẫn Năm 1767, Trịnh Doanh chết Con là Trịnh Sâm lên thay, chuyên quyền và tàn bạo, không xem trọng dòng họ vua Lê nữa Thái tử Duy Vĩ bị vu oan và bị giết Em Trịnh Sâm là Trịnh Lệ mưu giết anh để cướp ngôi ; đã bị bắt bỏ ngục Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ, bỏ bễ việc triều chính Y truất thế tử Trịnh Khải (con trai trưởng đã lớn) để đưa con củaThị Huệ là Trịnh Cán còn ít tuổi lên thay Phe phái của Đặng Thị Huệ là nhóm quận công Hoàng Đình Bảo Đặng Thị Huệ được dịp nắm hết quyền hành Em trai của Thị Huệ cũng nhân đó cậy thế làm càn, khiến kinh thành náo động

Năm 1782, Trịnh Sâm chết Phe Trịnh Khải nổi dậy đánh giết nhóm Hoàng Đình Bảo – Đặng Thị Huệ, phế Trịnh Cán Quân Tam phủ - chỗ dựa chính của Trịnh Khải, được thế cậy công, thả sức tung hoành Kiêu binh nổi dậy lật đổ triều đình, rồi kéo nhau đi cướp bóc, phá phách phố phường, không ai chế ngự nổi

“Loạn kiêu binh” đánh dấu sự tan rã của thế lực họ Trịnh, gây nên một

sự đối lập lớn giữa nhân dân và quân sĩ Quân và dân coi nhau như kẻ thù.Mặc dầu từ năm 1774, nhân cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, chúa Trịnh

đã cử quân vào chiếm đất Thuận Hóa, sự suy sụp về chính trị, kinh tế - xã hội của Đàng Ngoài vẫn ngày càng trầm trọng

Trang 29

Nền kinh tế, xã hội nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX suy sụp một cách toàn diện cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, đặc biệt là dưới thời

Lê – Trịnh

2.1.2 Hiện thực trong Thượng kinh kí sự

Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử

xã hội như thế Tác phẩm kí sự này đã dựng lên bộ mặt của cả tầng lớp quan lại, vua chúa dưới thời chúa Trịnh Sâm Nếu các chúa Trịnh trước đó thực hiện chính sách tăng cường thuế khóa, phục dịch để xây dựng đền đài, ăn chơi hưởng lạc thì chúa Trịnh Sâm không thấy nói đến xây dựng, nhưng lại

ăn chơi theo kiểu khác

Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Tang thương ngẫu lục của

phạm Đình Hổ và Nguyên Án ghi lại một vài cảnh ăn chơi của Trịnh Sâm như mỗi tháng ba, bốn lần ngự chơi cung Thụy Liên trên hồ Tây Binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt bờ hồ Kẻ nội thần đầu bịt khăn, mặc áo đàn

bà, dàn bày bách hóa để bán…Hay vào dịp tết Trung thu thì phát gấm trong cung ra làm hàng trăm, hàng nghìn cái đèn lồng để treo xung quanh bờ hồ…

Về cuối đời, Trịnh Sâm lại mê Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra bè đảng tranh giành nhau trong phủ chúa… Có thể nói chính quyền phong kiến giai đoạn này từ trung ương đến địa phương là bộ máy quan liêu nặng nề, nạn tham ô, hối lộ tha hồ phát triển

Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn phái đã viết về những sự

kiện lịch sử giai đoạn này Có thể gọi nó là một tác phẩm kí sự đã phản ánh trung thực bản chất của lịch sử với những biến cố và quá trình phát triển khách quan của nó Nhưng đó là những sự kiện vừa mới xảy ra chứ không phải là những sự kiện lịch sử xa xưa Tất cả con người, sự kiện, năm tháng ởđây đều có thực, chính xác Tác giả cố ý ghi chép một cách trung thành mà

Trang 30

không bịa đặt một điều gì Phạm Đình Hổ nhận xét : “Trong Hoàng Lê nhất

thống chí những việc trong cung phủ thì chép được tường lắm” ( Vũ trung tùy bút, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1960, tr.155) đã nói lên đặc trưng kí

sự của tác phẩm này Chính hoàn cảnh xã hội nước ta những năm nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu XIX có nhiều biến động sâu sắc đã thích ứng với một đối tượng phản ánh đa dạng như vậy Bởi thế trong văn xuôi chữ Hán giai đoạn này xuất hiện một thể loại mới là kí sự Hàng loạt các tác phẩm

như Thượng kinh kí sự, Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Công dư

tiệp kí, Hoàng Lê nhất thống chí… đều thuộc loại này.

Chúng ta hãy cùng điểm qua một vài sự kiện mà nhóm tác gia Ngô Gia Văn phái nói tới:

Hoàng Lê nhất thống chí dựng lên một bức tranh rộng lớn, phức tạp và

chân thực về xã hội nước ta khoảng trên ba mươi năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX Đây là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, giai đoạn đen tối, bế tắc nhất của xã hội phong kiến Việt Nam, đồng thời cũng là giai đoạn có nhiều biền động lớn lao, nhiều đổi thay long trời lở đất

Mở đầu tác phẩm, tác giả viết về sự lục đục trong phủ chúa Trịnh Sâm

mê Đặng Thị Huệ Tiếp theo là việc Trịnh Tông dựa thế kiêu binh giết chết Hoàng Đình Bảo, tiêu diệt phe đối lập, truất ngôi Trịnh Cán Rồi kiêu binh lộng hành, Nguyễn Huệ trong Nam kéo quân ra Bắc dưới danh nghĩa “phù

Lê diệt Trinh” đánh tan kiêu binh…

Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm lại mở đầu bằng câu chuyện TrịnhSâm mê Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng lập con thứ để gây ra bè đảng trong phủ chúa, rồi sau đó mâu thuẫn mới lan dần ra thành mâu thuẫn trong triều đình : mâu thuẫn giữa vua Lê và chúa Trịnh, mâu thuẫn trong hàng ngũ quanlại và cuốn hút theo nó là mọi mặt sinh hoạt của xã hội, để cuối cùng cơn bão táp dữ dội nhất của thời đại là cuộc khởi nghĩa Tây sơn quét đi tất cả

Trang 31

Chúa Trịnh Sâm được tác giả giới thiệu là người thông minh, có tài, xem khắp kinh sử và biết làm thơ văn, thực tế chỉ là một kẻ “chuyên quyền cậy thế, làm oai làm phúc” Trong tác phẩm, tài cán của Trịnh Sâm chẳng thấy đâu, chỉ thấy lúc nào y cũng ăn chơi trác táng Cung điện đầy ắp cung nữ để mặc y vui chơi thỏa thích Trịnh Sâm dâm đãng quá mức đến nỗi mắc bệnh chữa không được, và y đã chết vì kiệt sức vào cái tuổi mà ở người đang còn

là cường tráng Vua Lê Hiển Tông suốt thời gian trị vì không làm được một tích sự gì, chỉ “khoanh tay rũ áo”, quẩn quanh trong xó hoàng cung, tiêu phí thì giờ bằng cách sai cung nữ mặc áo trận, cầm giáo mác, chia thế ba nước Ngụy – Thục – Ngô rồi dạy cho họ cách ngồi, đứng, đâm, đỡ để mua vui… Lúc về già bị Trịnh Sâm chèn ép đủ đường, ông ta cũng không lấy đó làm điều, vẫn vui vẻ như thường Triết lí sống của ông ta là : “Trời sai nhà chúa phò ta, chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui, mất chúa tức là cái lo lại về ta, ta còn vui gì” Thật khác một trời một vực với những ông vua sáng nghiệp của dòng họ này, đã từng đem hết tài năng và nghị lực của mình ra chống giặc ngoại xâm làm cho nước giàu dân mạnh

Vua, chúa đã như thế, quan lại cũng chỉ là bọn cơ hội chủ nghĩa hết sức

bỉ ổi Bộ máy quan liêu thối nát đủ điều, tranh giành quyền lực, kết bè kết cánh gây loạn kiêu binh khiến nhân dân đói khổ lầm than Một xã hội vua chúa, quan lại như thế nên cương thường đảo lộn, con người đối với nhau không còn tình nghĩa, chỉ có thù hằn, sẵn sàng có dịp là chém, giết, là sát phạt, tàn hại lẫn nhau, quân thần thì lừa đảo phản bội

Lê Hữu Trác sống trong khung cảnh đặc biệt của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong lúc bấy giờ đều đang trong những chuyển biến quằn quại Đã xa lắm rồi cái thời kỳ hoàng kim củamột quốc gia phong kiến thịnh trị Sau bao nhiêu cuộc chém giết và xâu xé trong nội bộ, giai cấp phong kiến suy đốn rõ rệt, chế độ phong kiến đi vào bế

Trang 32

tắc Đời sống xã hội ngày càng bần cùng Ở trấn Hải Dương, quê hương của

Lê Hữu Trác, nơi vựa thóc của xứ Đàng Ngoài – tỉnh Đông, nạn đói diễn ra thật trầm trọng

Và một nhà văn, người cùng tỉnh với ông, kém ông chừng vài mươi tuổi - Phạm Đình Hổ đã bình tĩnh để thu thập lại mớ tài liệu sống về những

năm tháng kinh khủng ấy Trong cuốn Vũ trung tùy bút, ông đã cực tả cái

hình ảnh “hồi loạn Canh Thân, Tân Dậu (1740 – 1741)” : khắp một vùng rộng lớn “ruộng đất hầu thành ra rừng rậm”, người chết vạ vật đầy đường,

“những người dân còn sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn”,

có khi ăn thịt lẫn nhau; và số phận của nhiều loại người trong xã hội đều bị đảo lộn Ngay cả những bà góa “tiền của chất như núi” cũng ôm lấy tiền mà chết… Đó chính là câu chuyện của những năm Lê Hữu Trác vừa mới trên dưới hai mươi tuổi

Nhưng cũng vào khoảng thời gian đó, chàng thư sinh họ Lê còn được tắm trong một biến cố khác hết sức quan trọng : phong trào khởi nghĩa nông dân lan tràn từ Bắc chí Nam Chỉ kể từ 1735 – 1745, vẻn vẹn mười năm, khắp một vùng từ Nghệ An đến Hải Dương đã có ngót hai mươi thủ lĩnh nông dân nổi dậy kế tiếp

Thời đại Lê Hữu Trác rõ ràng là thời đại của những con người vẫy vùng hiên ngang “ngoài vòng cương tỏa” Thời đại mà số phận của những ông chúa quyền nghiêng thiên hạ, bỗng dưng một sớm bị tung lên, hất xuống trong tay một đám kiêu binh, không khác gì một trò đùa

Đáng kể hơn nữa là thời đại mà nhân dân đòi quyền sống và thấy rõ sứcmạnh của mình : “Lúc ấy, về mạn Hải Dương có bọn Nguyễn Tuyển,

Nguyễn Cừ ở Ninh Xá, Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch, về mạn Sơn Nam có Hoàng Công Chất Đảng lớn phe nhỏ hết chỗ này đến chỗ khác giục nhau phiến động, chỗ nào cũng tự dấy quân, tự xưng danh hiệu…Dân ở vùng

Trang 33

Đông, vùng Nam, người đeo bừa, người vác gậy đi theo, chỗ nhiều có đến hơn vạn, chỗ nhỏ cũng hàng ngàn, hàng trăm…., triều đình không thể nào

ngăn cấm được” (Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của Viện sử học,

tập XVIII, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1960, tr.40)

Năm 1782, Hải Thượng Lãn Ông được quan Chính đường (Huy quận công Hoàng Đình Bảo) tiến cử lên kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán Tuy việc chữa bệnh không thành, ông đã phải ở kinh đô trong khoảng một năm, cũng may là ông về nhà kịp trước khi xảy ra loạn kiêu binh, mở đầu cho một thời kỳ đại loạn trong lịch sử Việt Nam, kéo dài đến năm 1802 mới chấm dứt Sau khi về, ông ghi lại những điều mắt thấy tai nghe tại kinh đô

trong cuốn Thượng kinh kí sự Trong văn học lịch triều, đây là một thiên tùy bút hiếm có Tập Thượng kinh kí sự được viết vào một năm sau khi trở về,

kể lại cuộc hành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của ông về kinh thành Thăng Long để chữa bệnh cho chúa Trịnh, vì chúa đã biết tiếng tăm lừng lẫy của một đại danh y Trong thời gian đó, tác giả dược mắt thấy tai nghe những việc, những sự kiện ở kinh thành, đặc biệt là trong phủ chúa Trịnh Đó là những trang viết giàu yếu tố hiện thực

Tập kí kể lại thời gian tác giả sống ở kinh thành Thăng Long với biết bao biến động, kể lại sự giao du của ông với các công hầu khanh tướng thời

Lê mạt và tâm sự của mình lúc nào cũng mong thoát khỏi vòng danh lợi để quay về núi cũ non xưa Với thiên kí sự tài hoa và trung thực này, Hải

Thượng Lãn Ông xứng đáng là người tiên phong trên lĩnh vực kí báo chí Cuộc hành trình vất vả từ quê nhà lên kinh thành kéo dài gần nửa tháng Đến ngày 30 về đến kinh thành – mảnh đất mà thuở nhỏ từng in dấu bao kỷ niệm của cậu bé Lê Hữu Trác Chứng kiến những đổi thay rõ rệt, Lê Hữu Trác kể lại : “Nguyên tại đất này thưở nhỏ tôi từng du học và trú ngụ Tôi mới chống gậy, thủ bộ tứ phía du ngoạn nơi đất cũ Tuy hồ sơn vẫn như

Trang 34

trước mà phật điện, đình đài, quán xá, quân cư, nhất nhất không còn hình dạng thuở xưa” Bài thơ ông làm nói lên một hiện thực :

Phiêu bạt giang hồ mấy chục niên Chiếu vời một sớm đến Trường Yên Lâu đài đình quán bên trời ngất Văn vật y quan giữa cõi truyền Sơn dã buông tuồng quen tĩnh tục Ngọc đường lui tới thẹn cung tiên Đất này thuở nhỏ từng du hí Khác lạ ngày nay đã hiển nhiên!

Cảnh vật kinh thành đã hoàn toàn đổi khác Lâu đài, đình quán ngấttrời mọc lên, thôn xóm mất đi vẻ yên bình, tĩnh lạc Nhà thơ đi đến ngọcđường mà thấy “thẹn cung tiên” vì cảnh vật nơi đây chẳng khác gì cõi tiên.Một con người dòng dõi quý tộc, đã từng sống ở kinh thành mà vẫn ngạcnhiên trước sự thay đổi của cảnh nơi đây; điều đó cho thấy một hiện thực –triều đình họ Trịnh đã biến kinh thành thành tiên cảnh với những đền, chùa,miếu, mạo để phục vụ cho việc ăn chơi, hưởng lạc

Hiện thực trong Thượng kinh kí sự tiếp tục được phơi bày khi tác giả

được triệu vào cung chẩn bệnh cho thế tử Trịnh Cán Đoạn trích “Vào Trịnhphủ” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của nhàchúa Đó là một bức tranh hiện thực toàn vẹn về quang cảnh và cung cáchsinh hoạt nơi phủ chúa Ở đây cảnh đền đài, lầu gác tuy nguy nga, mĩ lệ songkhông giấu được vẻ âm u, tăm tối; người tuy quý phái, vương giả, đầy quyền

uy, song không che lấp được vẻ ốm o, tật bệnh

Trang 35

Lê Hữu Trác đã đi vào phủ chúa từ lối cửa sau và có dịp được quan sátquang cảnh nơi phủ chúa “Tôi ngẩng đầu lên coi thì bốn phương tám mặtnơi nào cũng cây cối um tùm, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương đưa.Những hành lang, những bao lơn, bước bước đều liên lu, nơi nơi đều cânđối ” Cảnh phủ chúa ở đây chẳng khác một vườn thượng uyển Đẹp thì cóđẹp nhưng thật âm u, chồng chất, dễ gây cảm giác ớn lạnh, thiếu ánh sángcho những người sinh sống nơi đây Quan sát cảnh những dãy hành langquanh co nối tiếp nhau, những cửa rồi lại cửa, mà mỗi cửa đều có ngườitruyền giữ, rồi những lâu đài lầu gác vẽ rồng, vẽ phượng, cột và bao lơnlượn vòng kiểu cách mới thấy nhà chúa quả thật đã thâu tóm giang sơn củathiên hạ để phục vụ riêng mình Ở đây có những “đồ đạc chẳng thường thấy

ở nhân gian” như : hai cái kiệu để vua chúa đi, đồ nghi trượng đều sơn sonthiếp vàng, trên sập mắc một cái võng điều đỏ Rồi thì trướng gấm : “nơi kiamàn gấm mở ra, vào bên trong thấy đen tối, không biết đâu là cửa ra, màntrướng thì hết lớp này đến lớp khác, mỗi lớp đều có thắp một ngọn nến đểdẫn đường Đi qua chừng bốn năm lớp trướng gấm thì đến căn nhà rộng, …ngang sân trước có treo một trướng gấm…” Giữa phòng là một cây nến tocắm trên một cái giá bằng đồng Bên sập đặt một cái ghế rồng sơn son thiếpvàng, trên ghế bày nệm gấm… Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.Ngay bữa ăn sáng ở điếm Hậu Mã của quan Chính đường Huy quận côngHoàng Đình Bảo cũng có những “chén bạc mâm vàng, các món ăn đều quýlạ” Mặc dù Lê Hữu Trác từng là con một nhà đại gia (cha ông là một bậcthượng thư) mà khi được nếm những thứ của ngon vật lạ này cũng phải thốtlên : “mới hay phong vị của đại gia là thế!” Tất cả đều là vàng son lấp lánh,lầu gác nguy nga, trướng gấm lụa là vây bọc bịt kín các ngả, các phía Ở đây

có “những cây và những hòn đá kì lạ”, khiến cho Lê Hữu Trác – một ngườitừng “sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành cũng đã biết”

Trang 36

bước chân đến đây mới hay các cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳnngười thường” Bài thơ ứng khẩu là một minh chứng cho cảm giác có thậtcủa ông lúc ấy :

Qua vàng ngàn cửa lính canh đền Đây chính trời Nam chốn chí tôn Nguy ngật lâu đài sông Hán khuất Lung linh liêm mạc ánh vàng xuân.

Cung hoa không dứt mùi hương thoảng, Ngự uyển đưa kêu tiếng vẹt dồn Quê kệch chưa tường nơi vũ nhạc Tưởng mình đâu lạc tới đào nguyên.

Rõ ràng phủ chúa hồi ấy “sang nhất trời Nam”, tức là còn sang hơn cả cung vua Theo lịch sử thì tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) Trịnh Tùng tự lập làm Đô nguyên soái, tổng quốc chính thượng phụ Bình yên vương Họ Trịnh

từ đó mở phủ chúa, đặt quan chức, nắm quyền binh, tập phong tước vương Phủ chúa lập từ cuối thế kỷ XVI , đầu thế kỷ XVII, đến đời chúa Trịnh Sâm trải gần hai trăm năm, thì làm gì mà chẳng nguy nga tráng lệ, giàu sang nhất cõi trời Nam Đây là một cụm công trình kiến trúc có cảnh quan hài hòa quy

mô to lớn Cứ theo địa đồ cũ thì đó là vùng đất dọc theo phố Quang Trung (từ phố Tràng Thi đến phố Nguyễn Du, hồ Tuyên Quang bây giờ) Khi Quang Trung – Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất (1786) từng đóng đại bản doanh “trại quân Nam” ở phủ chúa Phủ chúa Trịnh chỉ bị tiêu hủy thànhtro bụi vào ngày 8 tháng chạp năm Bính Ngọ, tức đầu năm dương lịch 1787, khi Lê Chiêu Thống nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh đánh tan được thế lực của chúaTrịnh Bồng Nhân cơ hội đó, Lê Chiêu Thống cho đốt phủ chúa “khói lửa

lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt” (Hoàng Lê nhất thống chí) Thế là cơ

Trang 37

nghiệp của nhà chúa gần hai trăm năm đã biến thành tro bụi hết sạch cả những đền đài lầu gác nguy nga tráng lệ, hết sạch cả vườn thượng uyển với những cây kì lạ và những hòn đá kì lạ Cho nên chỉ riêng việc ghi lại bức tranh hiện thực sống động về phủ chúa – một công trình kiến trúc có quy môlớn nhất ở kinh đô thế kỷ XVIII, trong một tập kí sự cũng đã là một cống hiến vô hồ.

Trên đây là chuyện gặp cảnh, vậy còn chuyện gặp người thì thế nào?

Lê Hữu Trác tiếp tục mở rộng bức tranh về cuộc sống và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa Tác giả chưa gặp chúa Trịnh nhưng đã gặp những người hầu cận quanh chúa, và qua họ vị danh y thấy chúa Trịnh có một uy quyền thật vô biên, khiến cho bản thân ông cũng nhiều lúc cảm thấy run sợ đến mức “khúm núm”, “nín thở” Lãn Ông gặp trong phủ chúa nhiều hạng

người Cao nhất thì có cha con nhà chúa (chủ yếu là ấu chúa Trịnh Cán, còn chúa Trịnh Sâm chỉ thấp thoáng sau màn) ; trung gian thì có các quan truyềnchỉ, hầu cận : các quan ngự y, vệ sĩ, các cung nhân mĩ nữ, tiểu hoàng môn, lính và người nhà quan Chính đường Mỗi loại người đều được Lê Hữu Tráckhắc họa bằng vài nét đặc trưng, song thật sinh động Chẳng hạn : “Tên đầy

tớ chạy đằng trước hét đường Cáng chạy như ngựa lồng…”, “các vị lương ycủa sáu cung hai viện … ngày đêm chầu chực ở đấy (phòng chè tức phòng thuốc), thấy tôi họ đều nhìn nhau Có người cúi xuống hỏi nhỏ…”, “có mấy người đứng hầu hai bên…”, “cung nhân đang đứng xúm xít”, “một viên quan nội thần đứng chầu đến bên sập xin phép thế tử…” … Họ vây quanh chúa rất đông nhưng im lặng, chờ đợi, quanh quất như những bóng ma Họ

là những con người nhưng đã bị nhà chúa bắt mất hồn trở nên hèn hạ, xu mị,bởi họ là những cái máy chỉ biết làm theo ý chúa Lê Hữu Trác tập trung bút lực xây dựng nên một không khí khẩn trương nhộn nhịp Chúa là người quyền uy vô biên Một lệnh nhà chúa truyền ra, kể cả từ quận công Hoàng

Trang 38

Đình Bảo đến tên phu cáng đều răm rắp thi hành Không khí khiếp sợ, quyền

uy bao trùm khắp phủ chúa, bao trùm cả nước Nam hồi ấy, khiến Hải

Thượng Lãn Ông ẩn cư tận Hương sơn, nhận lệnh chỉ của chúa phải vội vã theo cáng ra kinh đô ngay, rồi lại chờ đợi, chầu chực để vào thăm bệnh, kê đơn chữa trị theo yêu cầu nhà chúa Tất cả cung cách sinh hoạt với những lễ nghi, khuôn phép ấy chứng tỏ sự cao sang, xa hoa hưởng lạc, sự lộng quyền

và uy thế nghiêng trời, lấn lướt cả cung vua của phủ chúa Trịnh Cái tài của tác giả là ở chỗ : ông đã để cho sự việc tự nói lên tất cả ý nghĩa của mình.Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là người hòa nhã, kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp Sự đối lập về vị thế so với các lương y của sáu cung hai viện không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé , trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của ông

Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình phơi bày hết sự thực ở phủ chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám, xu nịnh…Phủ chúa quá

xa hoa lộng lẫy Tất cả đều thừa thãi Đám đại y cũng là đám người thừa, vô dụng

Nhưng chuyện hay nhất chính là chuyện Lê Hữu Trác gặp thế tử Trịnh Cán và khám bệnh cho thế tử - một vị ấu chúa được tước phong Đông cung thế tử mới chưa đầy sáu tuổi mà ốm o sài đẹn Trịnh Cán xuất hiện trong khung cảnh vương giả thâm nghiêm, được vây bọc giữa vàng son gấm là Nơi ở là một phòng rộng song không có ánh sáng mặt trời Giữa ban ngày phải thắp những ngọn nến lớn Cán mới “độ năm sáu tuổi, mặc áo lụa đỏ” ngồi lọt thỏm trên sập sơn son thiếp vàng, bên cạnh lại có chiếc ghế rồng bọc nệm gấm của chính Tĩnh vương Trịnh Sâm Tuy vậy Cán rất có uy Những người hầu chỉ “đứng hai bên”, ai vào cũng phải lạy bốn lạy, khi ra lạilạy tiếp bốn lạy nữa Danh y như Lê Hữu Trác cũng phải lạy rồi mới được phép “khúm núm” hầu mạch, rồi lại còn được Cán khen “Người này lạy

Trang 39

khéo” Đây là cái cười bộc phát thể hiện bản chất hồn nhiên, trẻ con khá

hóm hỉnh, thông minh của Cán, song cũng lại rất bề trên Hoàng Lê nhất

thống chí từng nhận xét về Cán : “Lúc vương tử Cán đầy tuổi, cốt cách

tướng mạo khôi ngô, đẫy đà, khác hẳn người thường Đến khi biết nói, vương tử Cán đối đáp gãy gọn, cử chỉ không khác gì người lớn Mỗi khi các quan văn võ vào thăm vương tử tiếp đón với dáng bộ nghiêm chỉnh Có người cách hàng năm mới gặp, vương tử vẫn nhớ rõ họ, tên, kể lại chuyện cũvanh vách Chúa sai quan từ hàn làm bài tụng 16 chữ để viên a bảo dạy truyền miệng cho vương tử, vương tử chỉ nghe qua một lượt là đọc thuộc liền Thấy vậy chúa càng quý vương tử bội phần.” Rõ ràng vương tử Cán là một đứa trẻ thông minh, vẻ mặt khôi ngô, hình thể đẫy đà Vậy tại sao mà Cán lại bị bệnh hiểm nghèo đến nỗi “phủ tạng mềm yếu, lại thêm mang bệnh đã lâu thì tinh huyết hao kiệt, khô khan, mặt không nhuận sắc, bụng lớn gân xanh, chân tay khẳng khiu…mạch chạy mau, âm dương sút kém…”

Cứ nhỏ nhẹ vừa thuật vừa tả, vừa nhận xét khách quan, khoa học, chính xác,

vị danh y chẩn bệnh cho thế tử, đồng thời cũng miêu tả chân dung một dòng

họ đến kì mạt vận Đó toàn là những nét chết : tinh khí khô, da mặt khô; toànnhững hình khối kì dị : rốn lồi to, chân tay gầy gò, gân xanh, bụng ỏng, cổ trướng…Còn về nguyên nhân vì sao một vương tử Cán đẫy đà, khôi ngô

“khác hẳn người thường” lại đến mức èo ọt như thế này thì Lê Hữu Trác đã chẩn rất đúng là : “vì ở chỗ màn trướng vây bọc, ăn no mặc ấm, phủ tạng mềm yếu…” Chỉ một lời chẩn bệnh nhà danh y có trái tim nhân bản đã chỉ đúng nguyên nhân sâu xa của căn bệnh : một lối sống trái lẽ tự nhiên Ở phủ chúa cái gì cũng quá : quá nhiều cây cối um tùm, quá nhiều hành lang, quá nhiều lầu gác, quá nhiều giàu sang và vàng son lấp lánh, quá nhiều màn che trướng phủ, quá nhiều xúm xít vây bọc, quá no, quá ấm, quá thừa thãi… Cănnguyên bệnh cũng là căn nguyên của một chế độ, một vương triều “bề ngoài

Trang 40

thì phù, bên trong thì trống” Và muốn chữa cái bệnh nan y ấy thì “cần phải bồi bổ hai thứ tỳ , thận để củng cố cái căn bản của tiên thiên, bồi bổ cái hóa nguyên của hậu thiên, khiến cái chính khí được đầy đủ ở trong, bệnh tự tiêu ngầm ở ngoài, chẳng trị bệnh mà bệnh khắc hết vậy”….

Có thể nói đoạn trích đã phản ánh khá sinh động một phần bộ mặt giai cấp thống trị đương thời khi đất nước đang trải qua những cơn biến động dữ dội Đó là một cuộc sống nhung lụa nhưng uể oải, biếng trễ, buồn tẻ Thầy thuốc, thầy lang là đám ăn không ngồi rồi Cả phủ chúa không ai làm chính

sự Từ quận huy đến bọn quan lại, lính tráng, kẻ hầu người hạ …, chỉ mỗi chuyện xăng xăng với thuốc thang, tìm thầy cho cha con chúa Trịnh Thêm vào đó là bọn hoạn quan cơ hội, nịnh hót, gian giảo, độc ác tác oai tác quái làm loạn triều đình : “…trong phủ chúa có đến bốn, năm trăm hoạn quan,

ngạo mạn hách dịch…, cả nước căm ghét, ghê tởm chúng…” (Thông sức

của Ngự sử đài - 1719) Tác giả cũng đưa lại cho chúng ta hình ảnh hoàn hảonhất về nhân vật Trịnh Sâm, Trịnh Cán trước phút họ chấm dứt cuộc sống

Cả hai cha con đều suy kiệt vì mắc bệnh nan y

Một lần khác vào chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm, Lê Hữu Trác cũng cónhững trang viết giàu chất hiện thực “Đi qua dãy nhà ngang mười bước thì trèo lên một cái nhà cao, phía sau nhà này là một căn nhà rộng rãi, tức ngự tẩm ở đó Quan nội sai cầm tay áo tôi mà dắt, mở trướng gấm, qua vài ba lầntrướng màn nữa thì thấy ở giữa nhà, thánh thượng nằm trên cái võng mắc nơi ngự tọa dát vàng Ngự tọa có đệm gấm Bên hữu là giường ngài ngự, trên giường gấm vóc sắc vàng mấy lượt bỏ rủ xuống, lại có màn che muỗi… Sau lưng có bức vách phấn, bức vách chỉ cách ngự tọa có hơn hai thước,…”

Lê Hữu Trác coi bệnh, nghĩ “… Thân thể gày gò, da thịt khô khan, nước tiểuvàng đục, đại tiện táo bón, bụng đầy, thời thường thở dốc, lại toát khí nhiệt,

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huệ Chi – Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác, Tạp chí văn học, Hà Nội, …, số 9, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác
2. Nguyễn Huệ Chi – Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức trong cơn phong ba nửa cuối thế kỷ XVIII, Tạp chí văn học, Hà Nội,…, số 6, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức trong cơnphong ba nửa cuối thế kỷ XVIII
3. Nguyễn Huệ Chi – Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam (Thời kì cổ - cận đại), Nxb Tác phẩm mới, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam (Thời kì cổ - cận đại
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
4. Nguyễn Huệ Chi – Trần Hữu Tá – Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Nhà XB: Nxb Thế giới
5. Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Lê Tiến Dũng – Giáo trình Lí luận văn học – phần tác phẩm văn học, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học – phần tác phẩm văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
7. GS Đinh Gia Khánh (chủ biên) – Tổng tập văn học Việt Nam (thời cổ- cận đại), tập 6, Nxb Khoa học xã hội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam (thời cổ- cận đại)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
8. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Lê Cao Lãng – Lịch triều tạp kỷ, (quyển 3b) Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều tạp kỷ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
10.Nguyễn Lộc – Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11.Nguyễn Lộc - Từ điển văn học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
12.Đỗ Tất Lợi – Những vị thuốc và đơn thuốc trong tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông, Tạp chí Đông y, số 110 – 111, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vị thuốc và đơn thuốc trong tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông
13. Tạ Ngọc Liễn – Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
14. Huỳnh Lý (chủ biên), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), Nxb Văn học, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3)
Nhà XB: Nxb Văn học
15. Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Thế Bá – Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. Phạm Tuấn Vũ – Thể loại văn học Việt Nam trung đại, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại văn học Việt Nam trung đại
17. Phạm Tuấn Vũ – Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Phạm Tuấn Vũ – Tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
19. Nhiều tác giả - Hải Thượng Lãn Ông, chuyên san của Tạp chí Đông y, H…, số 110 – 111, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Thượng Lãn Ông
20. Quốc Sử Quán triều Nguyễn – Việt sử thông giám cương mục (bản dịch), Nxb Văn – Sử - Địa Hà Nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử thông giám cương mục
Nhà XB: Nxb Văn – Sử - Địa Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w