viết về phong trào chống Pháp trên đất Thanh Hóa, nhiều t liệu đã đợc su tầm khảocứu và công bố - Cùng với thời gian, tầm vóc và vị trí những chiến công Cần V- ơng đánh Pháp của nhân dân
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Mã số : 5.03.15
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS - TS - Nguyễn Trọng Văn
Vinh - 2001
lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, trớc hết tôi xin chân trọng cảm ơn PGS - TS
Nguyễn Trọng Văn, ngời trực tiếp hớng dẫn và PGS Hoàng Văn Lân đã tận tình chỉ dẫn, hiệu đính tài liệu, kể từ khi tôi xác định đề tài đến khi hoàn thành bản luận văn Xin chân thành cảm ơn cử nhân Hán nôm Nguyễn Văn Hải, cán bộ th
2
Trang 2viện tỉnh Thanh Hoá, ngời đã dịch gia phả dòng họ Nguyễn Ngọc và giúp đỡ tôi
về mặt t liệu, công tác điền dã
Tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của UBND xã Công Bình, xã Trờng Sơn, dòng họ Nguyễn Ngọc, UBND huyện Nông Cống, các ban ngành trong tỉnh, chi hội giáo dục lịch sử tỉnh Thanh Hoá, th viện khoa học tổng hợp tỉnh Thanh Hoá, Thạc sĩ văn học Lê Huy Trâm Xin chân thành cảm ơn các quý vị
và các cơ quan đoàn thể đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành bản luận văn này!
Tác giả
Vũ Quý Thu
3
Trang 3mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: Thanh Hóa trong phong trào yêu
nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895) 10
1 1 tình hình nớc đại nam trớc sự xâm lăng
của Pháp và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc (1858 - 1884) 10
1 2 Thanh Hóa hởng ứng chiếu Cần Vơng (1885 - 1895) 15
Chơng 2: Tú Phơng (nguyễn ngọc phơng) với căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng trong phong trào yêu nớc chống Pháp ở Thanh Hóa 36
2 1 Tú Phơng 36
2.2 Tú Phơng hởng ứng chiếu Cần Vơng 41
2.3 Hoạt động xây dựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng 45
Chơng 3: Tú Phơng (nguyễn ngọc phơng) lãnh đạo căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng đánh Pháp 54
3.1 Lực lợng vũ trang và việc bố trí chiến đấu
ở căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng 54
3.2 Các trận chủ động đánh Pháp 58
3.3 Những ngày cuối cùng của nghĩa quân 70
ổn Lâm - Kỳ Thợng 3.4 Phong trào ở Nông Cống sau khi căn cứ
ổn Lâm - Kỳ Thợng tan vỡ (1887 - 1890) 75
Kết luận: nhận xét về vai trò của Tú Phơng (nguyễn ngọc phơng) và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng 80
Phụ lục 91
Tài liệu tham khảo 145
4
Trang 4Mở đầu
1- Lý do chọn đề tài
Sau sự biến kinh thành Huế (7 - 1885) vua Hàm Nghi xuất bôn và ra hịchcứu nớc, cả một cao trào chống Pháp của nhân dân ta đã bùng lên mạnh mẽ.Trong cao trào đó, phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa đã có mặt ngay từ đầu,
đất Thanh Hóa trở thành chiến trờng chính chống thực dân Pháp Khắp nơi trên
đất Thanh Hóa: Căn cứ Ba Đình ( Nga Sơn, Hà Trung), Mã Cao ( Yên Định,Cẩm Thuỷ, Bá Thớc), cửa Đặt ( Thờng Xuân, Lang Chánh) Hùng Lĩnh ( ThọXuân, Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa), Bút Sơn ( Hoằng Hóa, Hậu Lộc) ổn Lâm - Kỳ Th-ợng (Quảng Xơng, Tĩnh Gia, Nông Cống) đều là những điểm nóng của phongtrào Cần Vơng chống Pháp
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, kể từ năm tháng hào hùng đánh Pháp của cácnghĩa sĩ Cần Vơng Thanh Hóa, đã có nhiều cuốn sách, luận văn, bài báo viết
về phong trào chống Pháp trên đất Thanh Hóa, nhiều t liệu đã đợc su tầm khảocứu và công bố - Cùng với thời gian, tầm vóc và vị trí những chiến công Cần V-
ơng đánh Pháp của nhân dân Thanh Hóa ngày càng đợc trình bày đậm nét vàsáng tỏ trên kết quả nghiên cứu của giới sử học, cũng nh trong tâm thức của nhândân Nhng đi sâu vào vai trò của Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng ởNông Cống ( Thanh Hóa) thì chỉ đợc đề cập một cách hạn chế
Trong phong trào Cần Vơng, Nông Cống là địa bàn hởng ứng tích cực
"Có mặt đầu tiên" liên kết Nông Cống - Quảng Xơng - Tĩnh Gia, cửa ngõ phíatây nam của tỉnh Thanh Hóa, hoà nhập, gắn bó, sôi nổi với phong trào của cảtỉnh
Điểm Nông Cống nổi lên nh một ý đồ chiến lợc, chiến thuật ở vùng tâynam của tỉnh - vùng Thanh - Nghệ; là điểm nối với phong trào Cần Vơng Trung
bộ, liền một mạch từ Huế trở ra, trực tiếp gắn hoạt động của nghĩa quân xứNghệ mà tiêu biểu là phong trào của Nguyễn Xuân ôn, Lang Văn Thiết
Đứng đầu phong trào ở ổn Lâm - Kỳ Thợng: Nguyễn Ngọc Phơng (Tú
Ph-ơng) Căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng là điểm sáng trên bản đồ của Thanh Hóachống Pháp, có đặc điểm chiến thuật, chiến lợc riêng, có thành tích góp vàophong trào Cần Vơng của cả tỉnh rất tích cực
Việc nghiên cứu Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng hiện nay cũngmới chỉ đợc " điểm qua" Muốn hiểu biết đầy đủ phong trào yêu nớc chống Pháp
ở địa bàn Thanh Hóa, thì việc tìm hiểu kỹ về Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - KỳThợng là rất cần thiết
5
Trang 52- Lịch sử vấn đề
Khi viết về phong trào Cần Vơng chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷXIX, các tác giả thực dân, trong đó có cả những ngời trực tiếp tham chiến đãthừa nhận phong trào kháng chiến ở Thanh Hóa có vị trí quan trọng, diễn ra trên
địa bàn có ý nghĩa chiến lợc, nối liền và ảnh hởng đến địa bàn Bắc bộ và miềnTrung Vào Tháng 10 - 1886, Pôn Be (Paucl Bert) lúc đó là tổng xứ Bắc kỳ vàTrung kỳ đã viết: " Tình hình các tỉnh phía Bắc Trung kỳ, đặc biệt là Thanh Hóa,
đã khiến chúng ta phải lo lắng, đặc biệt Tầm quan trọng của khởi nghĩa, cungcách tổ chức của họ, vùng giàu có phong phú, tầm quan trọng chính trị nh là quêhơng của hoàng tộc, những mối quan hệ các dòng sông lớn chảy qua Lào "[ 110] Tổng kết hoạt động quân sự của Pháp ở Đông Dơng, cuốn " Lịch sử quân
sự Đông Dơng" viết: " Trong chiến dịch thu - đông 1886 - 1887 cuộc công hãm
Ba Đình là cuộc chiến đấu quan trọng nhất."
Cùng với quan điểm thực dân, các sử gia của triều đình cũng nh bọn taysai trong khi hằn học phải nhắc đến phong trào yêu nớc của nhân dân Thanh Hóavới dụng ý xuyên tạc, bôi nhọ, trong một chừng mực nào đó cũng phải thừa nhậntầm vóc to lớn của các sự kiện đó Trần Lục (cha Sáu), tên thầy tu phản động đ -
ợc thực dân phong chức " khâm sai tuyên phủ sứ" sau khi kéo vào Thanh Hóaphối hợp với quân xâm lợc đánh dẹp phong trào, trong báo cáo gửi cho quan thầycũng phải nhận định rằng " các huyện nh Ngọc Sơn (Tĩnh Gia), Nông Cống,
Đông Sơn, Quảng Xơng giặc giã tứ tung, đờng chạy trận thì hiểm trở, tớng giặc
đồn tại làng Thạch Đồng, ổn Lâm thuộc huyện Nông Cống, giả dân cạo trọc
đầu, trắng răng chực toan lấn sang Yên Định, Thọ Xuân, Quảng Hóa quân giặcthế ngày thêm hống hách [62; 91] Sách " Đại Nam thực lục chính biên" chủ yếuchép về văn võ hào kiệt của các triều vua để lu truyền mãi mãi cũng phải dànhtới 11 lần nói về phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa [ 21; tập 37, 47, 82, 126,
141, 152, 170, 174, 243 - 244, 255, 271, 307]
Cho tới trớc cách mạng tháng 8 - 1945, dới ách thống trị của đế quốcPháp, việc nghiên cứu lịch sử các phong trào chống Pháp là điều cấm kỵ, hầu nhkhông có một công trình sử học nào về lịch sử cận đại Việt Nam đợc biên soạn.Tuy vậy, bộ " Việt Nam sử lợc" của Trần Trọng Kim trong các phần viết về " sự
đánh dẹp của các quân quan thực dân" gián tiếp nói đến phong trào vũ trangchống Pháp, nhng rất sơ lợc và có dụng ý hạ thấp ý nghĩa, giá trị lịch sử của nó.Nhắc đến phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa Trần Trọng Kim chỉ lớt qua vàidòng nói đến hoạt động của Hà Văn Mao, nhng lại nhấn mạnh đến các chi tiếtphản ánh hạn chế của phong trào nh việc nghĩa quân đốt phá làng đạo, còn cácphong trào khác không đả đụng tới
6
Trang 6Cũng dới thời Pháp thuộc, chúng ta biết đến một cuốn sách nói về khởinghĩa Ba Đình đó là sách " Ba Đình truyện ký" của Phan Trần Chúc Tuy nhiên,
đấy là cuốn sách đầy rẫy những h cấu văn học, căn cứ khoa học mỏng manh, vàphơng pháp khảo cứu ít đáng tin cậy
Theo dòng mạch này, một số cuốn sách khi viết lịch sử về giai đoạn cận
đại Việt Nam xuất bản ở miền Nam trớc ngày giải phóng (1975) có đề cập tớiphong trào chống Pháp ở Thanh Hóa, trong bối cảnh phong trào Cần Vơng cuốithế kỷ XIX Tuy nhiên do hạn chế về t liệu, do phía thực dân viết và đặc biệt dothiếu những phơng pháp nghiên cứu khoa học và bị hạn chế bởi những quan
điểm chính trị chống cộng nh: Việt Nam quân sử của Phạm Văn Sơn nhấn mạnh
đến phong trào vũ trang chống Pháp, nhng lại biện hộ tuyên truyền cho chủnghĩa thực dân mới Mỹ và " gắn liền cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của ôngcha với cuộc chiến tranh miền Bắc chống cộng sản xâm lợc" (?!) nên những
đóng góp về phơng diện khoa học lịch sử đối với các sự kiện này hầu nh khôngcó
Ngợc với quan điểm, sự đánh giá của bọn thực dân xâm lợc và tay sai, sự
đánh giá của nhân dân đối với những chiến tích oai hùng và tinh thần hy sinh caocả của các nghĩa sĩ chống Pháp đã đợc thể hiện trong các áng văn, thơ đậm đàtính cách dân gian, lu truyền qua các thế hệ
Trong sự nghiệp vận động giải phóng dân tộc, các nhà yêu nớc nh PhanBội Châu, Nguyễn Thợng Hiền và cả lãnh tụ Nguyễn ái Quốc cũng tỏ lòngngỡng mộ, khâm phục, ca ngợi đối với những chiến công của ông cha trong sựnghiệp đánh giặc cứu nớc, trong đó có sự nghiệp của nghĩa quân Ba Đình - HùngLĩnh, với các tấm gơng nh: Đinh Công Tráng, Tống DuyTân và luôn coi đó làsức mạnh truyền thống, cổ vũ các thế hệ tiếp nối sự nghiệp cứu nớc đến thắng lợi[ 104]
Chỉ từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 và đặc biệt là từ sau khi miền Bắc
đợc hoàn toàn giải phóng (1954), cùng với sự hình thành và phát triển của nền sửhọc Mác xít, truyền thống lịch sử dân tộc ta nói chung, trong đó có phong tràoCần Vơng Thanh Hóa mới thực sự đợc giới sử học nghiên cứu nh một đối tợngcủa khoa học lịch sử và nhờ đó đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, ngày cànglàm sáng tỏ sự đánh giá đối với các sự kiện, các nhân vật lịch sử một cách khoahọc
Nhiều trung tâm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở Trung ơng cũng nh địaphơng, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu lịch sử đã giành sự quan tâm đối với đềtài nghiên cứu phong trào vũ trang chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.Những thành tựu của nó đợc phản ánh trong các luận văn khoa học, các bài báo,báo cáo khoa học, các công trình thông sử và chuyên sử, các giáo trình giảng
7
Trang 7dạy, các su tập sử liệu, văn liệu, các báo cáo điền dã, trong đó có nhiều côngtrình đợc công bố dới hình thức xuất bản phần Trung ơng, phần địa phơng Trongkhối lợng rất phong phú ấy chúng ta có thể ghi nhận một số đóng góp tiêu biểugắn liền với tên tuổi một số nhà sử học, tiêu biểu nh: " Dự thảo lịch sử cận đạiViệt Nam", " Lịch sử 80 năm chống Pháp" của Trần Huy Liệu, bộ " Tài liệutham khảo lịch sử cận đại Việt Nam" của tập thể các tác giả Viện sử học, "Chống xâm lăng" của Trần Văn Giầu, bộ giáo trình " Lịch sử cận đại Việt Nam"của tập thể cán bộ giảng dạy trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, tập II " Lịch sửViệt Nam " [51 ], " Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay" [23] Ngoài ra cònnhiều luận văn khoa học, đợc đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, các tậpsan, nội san của khoa sử các trờng đại học: tổng hợp, s phạm, nhiều luận văn tốtnghiệp của sinh viên ngành sử, một số t liệu liên quan đợc công bố trong các hợptuyển, su tập và một số tác phẩm văn học khai thác sự kiện và các nhân vật lịch
sử liên quan đến phong trào Cần Vơng Thanh Hóa
Cần phải nói thêm rằng, những đóng góp rất thiết thực và có giá trị củagiới nghiên cứu lịch sử và văn hóa Thanh Hóa phối hợp nghiên cứu phản ánhtrên một số xuất bản phần địa phơng Vào năm 1985 có " Từ Ba Đình đến HùngLĩnh" [49], " Thành phố Thanh Hóa [50] " phong trào yêu nớc chống Pháp ởNông Cống cuối thế kỷ XIX ( 1885 - 1895 ) [82], "Địa chí Nông Cống" [26 ], "
Địa chí Thanh Hóa [27 ] đã phản ánh phong trào Cần Vơng ở Thanh Hóa Trongcuốn " Phong trào yêu nớc chống Pháp ở Nông Cống" [82], phản ánh rõ nét hơn
về phong trào chống Pháp ở Nông Cống, để một chơng về căn cứ ổn Lâm - KỳThợng và sự phát triển của căn cứ này, nhng vẫn cha làm rõ vai trò của Tú Phơng
và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng Gần đây tác giả Hoàng Anh Nhân - Lê HuyTrâm đã biên soạn " Địa chí Nông Cống" [26] có đề cập đến nhân vật Tú Ph ơng
và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng, nhng cha làm rõ thân thế, cống hiến của Tú
Ph-ơng và khảo tả dựng lại căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng ở Nông Cống
Chúng tôi rất đồng ý với ý kiến của Đỗ Thị Hảo khi nghiên cứu các cuộckhởi nghĩa và phong trào Cần Vơng - Thanh Hóa phải nhìn nhận trên một bìnhdiện chung của cả tỉnh " Nhìn Thanh Hóa là một hậu phơng vững chắc, có thểthấy tính nhân dân của cuộc khởi nghĩa Ba Đình mà chỉ có những t liệu kháctrong kho tàng văn nghệ dân gian mới minh họa đợc nhiều nét ở lĩnh vực nàychắc các nhà nghiên cứu Folklor lịch sử sẽ phát hiện đợc nhiều Còn nhìn vàokho tài liệu Hán Nôm nếu chỉ bằng sử liệu thì sẽ ít gặp những tài liệu trực tiếpghi chép nh vậy" [ 46; 64]
" Cũng theo hớng này chúng ta hãy tìm xem giữa Nguyễn Xuân Ôn Nghệ An và Nguyễn Phơng ở Thanh Hóa có quan hệ gì mà lời thơ của ông nghèDiễn Châu viếng Tú Tĩnh lại đề cao công này đến nh vậy:
-8
Trang 8Khoa hoạn nhân trung đệ nhất hào
Nghĩa thanh chán nhiếp quỷ phuơng tào
Nghĩa là : Trong đám văn thân đệ nhất ông.
Bọn giặc nghe danh phải hãi hùng "[46; 66].
Cũng cần phải nói thêm rằng, sự kiện phong trào chống Pháp ở ThanhHóa, cũng luôn đợc đề cập tới trong các công trình nghiên cứu lịch sử Việt Namcủa nhiều tác giả nớc ngoài, trong đó có nhiều sử gia phơng Tây ( nh Buttinger,Daviel Marr, Charles Fourniau ) và đặc biệt là trong luận án tiến sĩ quốc gia củanhà sử học cộng sản Pháp, Saslơ phuốcnio (Charles Fourniau), với nhiều đónggóp khai thác từ nguồn t liệu lu trữ tại Pháp
Rõ ràng nền sử học Mác xít của dân tộc đã góp phần to lớn trong việc khôiphục lại bức tranh lịch sử của những sự kiện anh hùng trong quá khứ, đồng thờikhẳng định ngày càng rõ tầm vóc cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dânThanh Hóa
Phong trào ổn Lâm - Kỳ Thợng nổi lên ở vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ, là
điểm nối liền một mạch từ Huế trở ra, đứng đầu phong trào này là Nguyễn NgọcPhơng (Tú Phơng) Tuy vậy, việc nghiên cứu Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - KỳThợng trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nông Cống tỉnh ThanhHóa chỉ mới " đợc điểm qua loa"
Nghiên cứu đề tài này với hy vọng làm sáng tỏ vai trò của Tú Phơng vàcăn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng, để tiếp tục nghiên cứu sâu và kỹ hơn" Thanh Hóatrong phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX những năm đầu thế kỷXX", đồng thời góp phần bổ sung nguồn t liệu mới cho lịch sử địa phơng, nhất là
địa phơng Thanh Hóa, góp phần nhỏ bé vào thành tựu nghiên cứu sử học thời kỳCần Vơng của cả nớc
Trên cơ sở kế thứa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trớc, đồng thờidựa vào nguồn t liệu lu trữ trong kho lu trữ quốc gia, th viện trung ơng, và địaphơng, th viện các trờng đại học, tỉnh Thanh Hóa và huyện Nông Cống Đặcbiệt là tài liệu su tầm địa phơng, tác giả luận án cố gắng giải quyết vấn đề khoahọc đặt ra
3 Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
3 1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian phong trào Cần Vơng Nông Cống chia làm 3 thời kỳ
- Thời kỳ từ năm 1885 đến đầu năm 1886
- Thời kỳ đầu năm 1886 đến nửa đầu 1887
- Thời kỳ nửa đầu 1887 đến 1890
9
Trang 9Phạm vi không gian: Luận án chủ yếu nghiên cứu làm rõ vai trò của TúPhơng và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng ở Nông Cống (Thanh Hóa), đồng thời có
đề cập đến mối liên hệ của căn cứ này với Ngàn Na, Đồng Mời, liên hệ với cácvùng miền trong tỉnh Thanh Hóa và cả Nghệ An- Hà Tĩnh
3 2 Những đóng góp của luận văn
- Luận án làm sáng tỏ vai trò của Tú Phơng, dựng lại toàn cảnh căn cứ ổnLâm - Kỳ Thợng (1885 - 1890) các hoạt động chống Pháp ở căn cứ này
- Góp phần bổ sung, đính chính t liệu, bớc đầu nếu mối quan hệ giữa căn
cứ này với căn cứ khác ở huyện, trong tỉnh và ngoài tỉnh
- làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứucho sinh viên khoa lịch sử các trờng đại học và cao đẳng
- Giúp giáo viên các trờng PTTH TPCS biên soạn giảng dạy các tiết họclịch sử địa phơng, góp phần giáo dục truyền thống địa phơng, đóng góp ít nhiều
về thành tựu sử học, nghiên cứu phong trào Cần Vơng của Thanh Hóa và cả nớc.Trên cơ sở đó, đề tài sẽ nâng cao nghiên cứu " Thanh Hóa trong phong trào yêunớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX những năm đầu thế kỷ XX"
4- Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4 1 Nguồn t liệu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã khai thác các nguồn t liệu sau:
4 1 1 Nguồn tài liệu chính thống:
- Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn
- Đại Nam thực lục chính biên các tập: 27, 36, 37, 38
- Đại Nam thực lục tiền biên
- Quốc triều hơng khoa lục
- Đại Nam nhất thống chí phần ghi về Thanh Hóa và các nguồn t liệu khác
mà chúng tôi đã liệt kê ở tài liệu tham khảo
4 1 2 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài: Chailly
-PauBerian To Kim, 1887, Buttunger, D.Marr, Sac lơ phuốc nô (CharlesPournlau)
4 1 3 Các tài liệu đã đợc công bố của giới sử học trong nớc (xem tài liệu tham khảo).
4 1 4 Đặc biệt nguồn tài liệu hết sức quan trọng là lời kể của các vị cao
niên ở địa phơng, các gia phả, bản phân chia điền thổ, các loại bằng sắc, văn tế,một số sách thơ văn ca ngợi đất nớc, con ngời Nông Cống xứ Thanh Chúng tôi
đã đi khảo sát điền dã, chụp ảnh các dấu tích có liên quan đến đề tài nh: Trại Ba
Đồn, Khe Tre, đồn Cấp Ké ( xem phần phụ lục) Trong tất cả các nguồn tài
10
Trang 10liệu thì tài liệu chủ yếu nhất là văn tự chữ Hán, chữ Pháp đặc biệt là tài liệu điềndã.
4 2 Phơng pháp nghiên cứu.
4 2 1 Cơ sở phơng pháp luận của luận văn: là lý luận của chủ nghĩa
Mác-lê nin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềcông tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu lịch sử địa phơng
4 2 2 Phơng pháp nghiên cứu: Ngoài phơng pháp lịch sử và phơng pháp
lô gíc là chủ yếu, tác giả sử dụng các phơng pháp hỗ trợ nh: mô tả, tờng thuật,thống kê, so sánh và đặc biệt là phơng pháp điền dã để rút ra nhận xét khoahọc
5- Bố cục của Luận văn
Với 163 trang, ngoài phần mở đầu (9 trang) kết luận (12 trang) tài liệu tham khảo (10 trang), trong đó có 108 tài liệu tiếng Việt, 2 tài liệu tiếng Pháp),Phụ lục ( 57 trang), Phần nội dung gồm 3 chơng
Chơng 1: Thanh Hóa trong phong trào yêu nớc chống pháp
Trang 11Đối với Việt Nam, t bản Pháp có âm mu xâm lợc từ rất sớm (Từ cuối thế
kỷ XVIII) Xâm lợc Việt Nam t bản Pháp có thuận lợi và đợc các giáo sĩ và
th-ơng nhân vào truyền đạo, buôn bán, trớc đó rất lâu, tiếp tay từ bên trong
Đúng vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang bị khủng hoảng trầmtrọng về chính trị, kinh tế, xã hội; Chính sách của nhà Nguyễn đã làm cho dân:
"sức mòn lực kiệt", nội bộ chia rẽ sâu sắc, thì thực dân Pháp ã nổ súng xâm lợcnớc ta
1 1 2 Tóm tắt quá trình xâm lợc của thực dân Pháp
Sáng sớm 1- 9 - 1858, Chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổsúng tiến công vào cửa biển Đà Nẵng với t tởng chiến lợc là "đánh nhanh thắngnhanh", dùng Đà Nẵng làm bàn đạp đánh chiếm kinh thành Huế, buộc triều đìnhnhà Nguyễn đầu hàng Nhng chúng vừa đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, quân Phápvấp phải sự kháng cự của quân đội triều đình do Nguyễn Tri Phơng chỉ huy Sau
5 tháng bị giam chân tại Đà Nẵng, khó khăn ngày thêm chồng chất, liên quânPháp - Tây Ban Nha phải rút phần lớn khỏi Đà Nẵng, xuống tàu đi Nam, mở mặttrận mới ở Gia Định (2 - 1859)
Từ 1859 - 1867, Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam kỳ rồi tiến quân ra Bắc(1873 - 1883), triều đình nhà Nguyễn đã ký liên tiếp hai Điều ớc 1862 và Điều -
ớc 1874, trên thực tế Pháp đã chiếm đợc lục tỉnh Nam kỳ nhng vẫn cha thực hiện
đợc âm mu là phải chiếm đợc toàn bộ Việt Nam
Sau khi đợc viện binh từ Pháp, chúng vạch kế hoạch tấn công mới Vàolúc đó, triều đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ lục đục trong vấn đề tôn vơng,chớp lấy thời cơ, thực dân Pháp quyết định đánh thẳng vào Huế buộc triều đình
đầu hàng hoàn toàn Triều đình Huế buộc phải liên tiếp ký điều ớc Hắc măng(1883) và Patơnốt (1884)
Với điều ớc 6 - 6 - 1884 Pháp đã xác lập quyền đô hộ lâu dài và chủ yếu ởViệt Nam
1 1 3 Phong trào kháng chiến của nhân dân ( 1858 - 1884)
Khi Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta (1 - 9 - 1858) tại mặt trận Đà Nẵng,ngay sau chiến sự xảy ra, đã có nhiều đội quân nông dân kéo tới phối hợp vớiquân triều đình đánh giặc
Từ 1859 - 1867, Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam kỳ, phong trào nhân dânchống Pháp không lúc nào ngớt Với lòng yêu nớc nồng nàn, nhân dân miềnNam luôn tìm cách đánh giặc thích hợp, tiêu biểu nhất là cách đánh pháo thuyền
- một phơng tiện chiến tranh thời bây giờ
12
Trang 12Cuối năm 1861, tiếp theo là trận đánh của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực
đốt cháy tàu Etpêrăng trên sông Nhật Tảo, nhiều cuộc khởi nghĩa bùng nổ, nhiềutrung tâm kháng chiến hình thành, tiêu biểu là căn cứ Gò Công ( huyện Tân Hoà
- Gia Định) của Trơng Định
Khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, phong trào chống Pháp đã sôi nổidiễn ra Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Tam - Phan Ngũ với trung tâm BaTri (Bến Tre), hoạt động mạnh theo sông Cửu Long cuối 1867; Cuộc khởi nghĩacủa Nguyễn Trung Trực - ngời anh hùng nông dân với chiến công Nhật Tảo (10 -
12 - 1861), có căn cứ ở Hòn Chông (Hà Tiên) hoạt động mạnh ở Hà Tiên, RạchGiá, Phú Quốc (1867 - 1868), cuộc khởi nghĩa Long Trì (Mỹ Tho) năm 1875 củaNguyễn Hữu Huân ( Thủ khoa Huân)
Phong trào chống Pháp của nhân dân miền Nam dấy lên từ miền Đông,sau đó lan rộng toàn miền, khiến cho kẻ thù khiếp sợ Cuối cùng, do triều đình
cố tình bỏ rơi, tìm cách ngăn cản, thậm chí tiếp tay cho Pháp đàn áp phong trào,các cuộc khởi nghĩa lần lợt thất bại Nhng phong trào chỉ tạm lắng xuống để đếnkhi có thời cơ thuận lợi sẽ bùng lên trở lại Đúng nh Nguyễn Trung Trực đã dõngdạc tuyên bố trớc kẻ thù " Bao giờ ngời Tây nhổ hết cỏ nớc Nam thì mới hết ngờiNam đánh Tây"
Trong thời gian Pháp đánh chiếm Bắc kỳ (1873 - 1883) quân dân Hà Nội
và khắp nơi trên miền Bắc đã nổi dậy phối hợp với quân triều đình làm nên cácchiến thắng tiêu biểu:
Chiến thắng ở trận Cầu Giấy (lần thứ 1) Gác niê và nhiều binh sĩ Pháp bịgiết tại trận, số còn lại tháo chạy về thành, thắng lợi đó đã làm cho quân Pháp ở
Hà Nội và các tỉnh hoảng sợ, muốn bỏ thành chạy Bọn thực dân Pháp hiếu chiến
ở Bắc Kỳ cũng hốt hoảng Còn quân và dân ta ở khắp nơi vô cùng phấn khởi, sẵnsàng xông lên quét sạch quân đich Nhng triều đình Huế hèn nhát bỏ lở thời cơ,
đã không dám hiệu triệu quân quan thừa thắng xông tới, lại ra lệnh cho lui binh tạo không khí thuận lợi để tiếp tục thơng thuyết với Pháp Kết quả là một điều ớc
đợc ký kết với Pháp ngày 15 - 3 - 1874 tại Sài Gòn, với những điều khoản có hạicho ta Điều ớc 1874 đánh dấu bớc mới trong quá trình thoả hiệp đầu hàng củatriều đình nhà Nguyễn, làm cho nhân dân cả nớc hết sức phẫn nộ
Trận Cầu Giấy lần thứ hai ( đầu năm 1883) làm cho quân dân cả nớc vôcùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên tiêu diệt giặc Còn bọn Pháp thì hết sức hoang
mang, lo sợ Trong khi đó triều đình Huế vẫn tiếp tục hãm mình trong thế
bị động thơng thuyết, nuôi ảo tởng sau trận này Pháp lại sẽ điều đình
13
Trang 13Nh vậy, trong khi triều đình Huế từng bớc đầu hàng và với điều ớc HácNăng (1883), Patơnốt (1884), Pháp xác lập quyền đô hộ trên đất nớc ta thì nhândân cả nớc đã nổi dậy kháng chiến chống Pháp.
1 1 4 Vua Hàm Nghi xuất bôn và ra chiếu Cần Vơng
Với bản điều ớc Hác Măng (1883), Patơnốt (1884), thực dân Pháp đã hoànthành cơ bản cuộc xâm lợc nớc ta, tăng cờng lực lợng quân sự, tiến hành cuộchành quân triệt hạ các căn cứ kháng chiến của nhân dân ta
Mặc dù vậy, trong triều đình Huế, phái chủ chiến đứng đầu là Tôn ThấtThuyết vẫn ngầm chuẩn bị chống Pháp, ấp ủ hy vọng khôi phục chủ quyền dântộc khi thời cơ tới Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, Tôn Thất Thuyết bímật cho ngời liên kết với các sĩ phu, văn thân, hào kiệt các tỉnh, bí mật cho xâydựng căn cứ Tân Sở trên miền rừng núi Quảng Trị, xây dựng một số đồn sơnphòng ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa , lập các đội quân " Đoànkiệt" " Phấn nghĩa " ngày đêm luyện tập chờ sống mái với kẻ thù
Công việc cần kíp nhất đối với Tôn Thất Thuyết là tìm cho đợc một ngời
có tinh thần chống Pháp để đặt lên ngôi vua, cô lập và gạt bỏ phải chủ hoà vàbọn phản bội đang ráo riết hoạt động trong triều với sự che chở của tớng Cuốc
xi Trong vòng hơn 1 năm, kể từ khi vua Tự Đức mất (7 - 1883) lần lợt 3 vua(Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc) bị phế truất, rồi bị trừ khử vì có quan hệ mờ
ám với thực dân Pháp Cuối cùng Tôn Thất Thuyết đa vua Ưng Lịch lên ngôi vuavới hiệu là Hàm Nghi (2-8-1884)
Khâm sứ Pháp ở Huế không đợc hỏi ý kiến về việc đa Ưng Lịch lên ngôivua, nên gửi th phản kháng triều đình Huế đã vi phạm điều ớc đã ký Đồng thời
đa một đội quân Pháp đợc điều từ Bắc Kỳ vào Huế thị uy và ngang nhiên đóng
đồn Mang Cá ở góc đông nam Hoàng thành nhằm kiểm soát mọi lực lợng chốngPháp bên trong thành
" Ngày 1 - 7- 1885 Cuốc xi đặt chân tới Huế đã tuyên bố" Đoạn chót củamọi việc là ở Huế, rồi trắng trợn đòi vua Hàm Nghi phải treo cờ Pháp trongthành nội, phải bắn đại bác chào mừng y và mở cửa Ngọ Môn cho quân lính của
y vào Cuốc xi còn đòi giải tán quân đội cơ động của lực lợng chủ chiến trongtriều đình " [ 21; 17 ]
Nắm chắc âm mu của Pháp, Tôn Thất Thuyết và lực lợng chủ chiến chủ
động ra tay trớc Đêm mồng 4 rạng 5 - 7 - 1885 (tức 22 tháng 5 năm ất Dậu),trong khi bọn Cuốc xi đang say sa yến tiệc tại toà Khâm sứ bên bờ sông Hơng,cuộc nổi dậy trong kinh thành Huế bắt đầu
14
Trang 14Khoảng 1 giờ sáng ngày mồng 5, đại bác của quân ta trên mặt thành nhấtloạt nã đạn về phía tòa Khâm sứ và đồn Mang cá Bị đánh bất ngờ và quyết liệt,bọn chỉ huy Pháp phải hạ lệnh cho quân lính cố thủ chờ sáng Nhng do trang bịkém, chuẩn bị vội vã, sức chiến đấu của quân ta giảm dần Đến khi trời vừa sáng
rõ, quân Pháp bắt đầu phản công đánh thẳng vào thành nội
Trong cảnh hỗn chiến, Tôn Thất Thuyết đã nhanh chóng, bí mật đa vuaHàm Nghi ra khỏi Hoàng Thành, Đoàn hộ tống xa giá nhà vua theo đờng bộchạy ra Tân Sở (Quảng Trị) bỏ lại sau lng kinh thành rực cháy, với nhiều xác chếtcủa quân lính và dân c bị sát hại
Tại Tân sở, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi xuống chiếuCần Vơng (ngày 13 - 7 - 1885), nêu lại sự biến kinh thành, vạch rõ tội ác củaThực dân Pháp và kêu gọi văn thân, sĩ phu cùng nhân dân cả nớc kiên quyết
đứng lên đánh Pháp đến cùng
1 2 Thanh Hóa hởng ứng chiếu Cần Vơng (1885 - 1895)
1 2 1 Phong trào văn thân, sĩ phu hởng ứng chiếu Cần Vơng
(1885 - 1896)
Chiếu Cần Vơng ban hành đã nhanh chóng thổi bùng một đợt mới ngọnlửa kháng Pháp Hởng ứng chiếu Cần Vơng, cả một lớp sĩ phu, văn thân yêu nớchăng hái đứng dậy chiêu mộ nghĩa sĩ, lập đồn trại kháng chiến, lãnh đạo phongtrào đấu tranh vũ trang với mục tiêu " Giúp vua cứu nớc" ( phong trào Cần V-
ơng)
Phong trào Cần Vơng kéo dài 12 năm (1885 - 1896), nổ ra trên phạm virộng lớn, từ cực Nam Trung bộ chạy dài tới biên giới Việt - Trung, lan rộng tớibiên giới Việt - Lào, phong trào rộng khắp và sôi nổi nhất là, từ giữa năm 1885
đến cuối 1888 Sau thời kỳ phát triển rầm rộ và rộng khắp, phong trào Cần Vơngthu hẹp dần, trung tâm phong trào chuyển lên vùng thợng du và trung du Nhữngcuộc khởi nghĩa còn lại là cuộc khởi nghĩa lớn, có trình độ tổ chức cao, có địabàn hoạt động rộng
Thành phần tham gia gồm bộ phận văn thân, sĩ phu yêu nớc, kể cả trí thứcphong kiến yêu nớc, các quan lại phong kiến yêu nớc đơng quyền hay đã nghỉ hu(hu quan) Họ không có đặc quyền đặc lợi ở triều đình, cũng không có gia t, điềnsản lớn ở nông thôn Trong quan niệm của họ, nớc phải gắn liền với vua, với chế
độ phong kiến Do vậy, yêu nớc là phải trung với vua " Trung quân ái quốc" duytrì chế độ cũ Nhng từ khi Pháp xâm lợc, trớc thái dộ hèn nhát, đầu hàng củatriều đình họ tỏ thái độ căm ghét uất hận
15
Trang 15Các văn thân, sĩ phu yêu nớc lại đợc sống gần gũi dân tiếp thu truyềnthống dân tộc, nên sớm đợc cuốn hút vào cuộc đấu tranh của nhân dân Khi triều
đình đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp (1884), họ không còn trung vua nữa, màchống lại lệnh vua đế cùng với nhân dân tiếp tục kháng chiến Nhất là sau cuộcnổi dậy ở kinh thành Huế thất bại (7 - 1885), rồi vua Hàm Nghi xuất bôn, rachiếu Cần Vơng (7 - 1885), các văn thân, sĩ phu yêu nớc mới thật sự tham gia
đông đảo và quyết liệt Họ là đối tợng kêu gọi ứng nghĩa trớc tiên và lúc này " áiquốc" mới thực sự gắn liền với " trung quân" điều mà trớc đó khó xảy ra đợc đốivới những ông vua phản phúc
Sau thời kỳ phát triển rầm rộ và rộng khắp (1885 - 1888) phong trào CầnVơng thu hẹp dần và đi vào chiều sâu Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là khởinghĩa Hơng Khê- Hà Tĩnh (1885 - 1896) của Phan Đình Phùng và Cao Thắng;khởi nghĩa Ba Đình- Thanh Hóa (1886 - 1887) của Phạn Bành và Đinh CôngTráng, khởi nghĩa Hùng Lĩnh - Thanh Hóa (1886 - 1892) của Tống Duy Tân vàCao Điển, khởi nghĩa Bãi Sậy - Hng Yên (1883 - 1892) của Nguyễn Thiện Thuậtngoài ra còn có phong trào Tây Bắc và hạ lu sông Đà
1 2 2 Hởng ứng chiếu Cần Vơng ở Thanh Hóa ( 1885 - 1895)
Thanh Hóa, một xứ sở có tầm quan trọng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào, đã
có mặt rất sớm trong phong trào chống Pháp này Lịch sử cận đại đã chọn mảnh
đất này để phát động, dung dỡng và phát triển thành một trong những trọng tâmcủa phong trào chống Pháp Một sự lựa chọn tự nhiên mà không phải là ngẫunhiên Lịch sử đã khẳng định vai trò lịch sử cuả Thanh Hóa
Thanh Hóa tỉnh chí đã ghi vị trí chiến lợc cuả Thanh Hóa " Thiệt là chỗlàm cuống họng cho các tỉnh Bắc kỳ hiện nay, Thanh Hóa lại là nơi hình mạch h-ớng vào, thế lớn nhóm lên vậy" [ 50; 11]
Tởng cũng nên nhắc thêm ở đây một t liệu lịch sử nói về vị thế Thanh Hóacủa Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895) nhà trí thức yêu nớc có t tởng cải cách củathế kỷ XIX nh sau:
" Thanh Hóa là vùng đất có đủ 3 điều lợi cơ bản cho việc giữ nớc chốnggiặc: địa diểm, binh lực và trí lực"
Tôn Thất Thuyết khi làm quan ở Thanh Hóa đã sớm chú ý tới miền đất
"thánh địa" này Năm 1879 ông đã từng bổ nhiệm Tống Duy Tân làm chánh sứsơn phòng Quảng Hóa ( Vĩnh Lộc) nh có ý đồ chuẩn bị trớc lực lợng chốngPháp, ngời mà sau này trở thành thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa Hùng Lĩnh.Khi phò xa gía Hàm Nghi xuất bôn, Tôn Thất Thuyết đã định xây dựng Thanh
16
Trang 16Hóa thành thủ đô kháng chiến Hàm Nghi trong tờ chiếu ngày 19 - 9 - 1885 cũngnói " Trẫm sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hóa Đây là một địa điểm quí "[ 50; 12].
Hởng ứng chiếu Cần Vơng, Thanh Hóa nhanh chóng trở thành một tỉnh
có phong trào chống Pháp mạnh mẽ do các sĩ phu yêu nớc lãnh đạo, một phongtrào trải dài từ miền núi, trung du tới đồng bằng miền biển
Chiếm xong kinh đô Huế (5 - 7 - 1885), bọn Pháp đem quân đổ bộ đánhchiếm Quảng Trị và đa tàu chiến từ Huế đánh chiếm Nghệ An Đồng thời một
đạo quân Pháp do tên thiếu tá Mignot chỉ huy xuất phát từ Ninh Bình ngày 22
-11 - 1885 đến ngày 25 - -11 tiến vào cửa Hới lên Hàm Rồng đánh chiếm thànhThanh Hóa Bố chánh Nguyễn Khoa Luật đợc sự hởng ứng của nghĩa quânHoàng Hóa do Nguyễn Đôn Tiết, Lê Trí Trực chỉ huy đã bố trí đánh địch dọc bờsông Mã và đoạn đờng từ sông vào tỉnh lỵ Khi chiếu Cần Vơng đến Thanh Hóathì phong trào càng rộng khắp và mạnh mẽ
Tôn Thất Hàm (em Tôn Thất Thuyết) đang là tri phủ Nông Cống cùngNguyễn Quý Yêm bỏ quan chức phối hợp với nghĩa quân Tĩnh Gia của NguyễnPhơng và nghĩa quân vùng núi Na của Lê Ngọc Toản hoạt động từ kỳ Thợng (địa
điểm giáp giới Nông Cống - Nghệ An), đóng căn cứ vùng Đồng Mời huyện NhXuân để đón vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
Vùng núi Hoàng, núi Vợng, Hồi Cù có Tuần Văn, tại huyện Đông Sơn có
Lê Khắc Tháo quê ở Bái Giao ( nay là xã Thiệu Giao - Thiệu Hóa) tổ chức nghĩabinh phối hợp với Nguyễn Hữu Liêm (tức Tú Mềm ngời làng Đại Bái), NguyễnHữu Hanh, La Văn Hạnh, La Đức Tứ, La Duy Hoành, Thiều Giá thành lập độinghĩa quân tại Bôn (nay là xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn)
Nghĩa quân Nguyễn Thế Sanh, Thiều Kim Nễ ở làng Viện Giàng, NguyễnTrọng Tần ở làng Phù Lu ( cầu Trầu) có căn cứ vùng núi Nhồi liên hệ với nghĩaquân Lê Khắc Thảo tại Quảng Xơng và nghĩa quân ở vùng Ghép, vùng Yên Thái,Nông Cống và Hoằng Hóa Dọc biển cửa Hới đến cửa sông Ghép vùng CựNham (Mom) có Hoàng Ngọc Đởn, Vũ Tuân Phiên, Phạm Ngọc Thuyên (gọi làquân Nham), Đinh Thiện Huy, Võ Văn Thiêng ( một nho sĩ giữ chức thủ bạ) đãlập ra một đội quân đến 300 ngời
Tại Hoằng Hóa có cử nhân Nguyễn Huy Vũ (Hoằng Lộc) cùng con traiNguyễn Huy Thiệp, cử nhân Võ Lê Quang cùng Nguyễn Hách, Nguyễn ThiệuThông, Lê Huy Bổng, Lê Huy Đạo, Lê Huy Chin, Quyền Thạc tập hợp nghĩabinh, rèn sắm vũ khí ở Hoằng Đạo có Mai Hàm, Mai Quán, hai anh em đều đậu
tú tài, tập hợp nghĩa binh phối hợp với nghĩa quân Nguyễn Đôn Tiết ở Hoằng
Đạt có Lê Văn ất, Nguyễn Văn Dân tập hợp nghĩa quân ở các làng Hạ Vũ, Đạt
17
Trang 17Tài, Trù Minh, Hà Thái phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Đạt ở Hậu Lộc vànghĩa quân Bút Sơn ở Phú Khê, Lê Trí Trực đậu cử nhân có làm tri huyện QuếDơng cùng Lê Bá Quang, Trịnh Tám, tập hợp nghĩa binh tập luyện phối hợp vớinghĩa quân Thanh Nga Hậu Lộc do Hoàng Văn Nha, Hoàng Văn Tài chỉ huy ởHoằng Giang có Cao Điển cùng Trần Xuân Soạn về Thanh Hóa, tập hợp nghĩabinh thành một lực lợng từ Ngã Ba Bông, Ngã Ba Ràng đến Hàm Rồng ởHoàng Lý có Nguyễn Xuân ở Tào Xuyên cùng Nguyễn Đôn Tiết ở Thọ Vực(Hoằng Đồng), Lê Trí Trực (Phú Khê) là lực lợng hậu thuẫn cho bố chánhNguyễn Khoa Luân dự định chống Pháp khi chúng đánh thành Thanh Hóa (11 -1885).
Nghĩa quân Đại Lộc, tổng Hành (xã Hoằng Vinh) do T Bờ chỉ huy cùng
cử nhân Lê Huy Ôn tập hợp nghĩa binh tại Hoàng Thành ở làng Liên Châu, tổngBái Trạch (xã Hoằng Châu) có Tú Quý, Tổng Dơng Thuỷ (xã Hoằng Cát) cóPhạm Văn Viên, Phạm Văn Kiên, Đặng Oanh, Đặng Tý
Huyện Hậu Lộc có án sát Phạm Bành, tri huyện Hoàng Bật Đạt đều bỏquan chức về quê tổ chức nghĩa quân
Huyện Hà Trung vùng xã Hà Ngọc (ngày nay) có Đốc Phong, Đốc Lan,
Đốc Quế, xã Hà Tân có Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Trung Chính, xã Hà Giang có
Đội Hiệp; xã Hà Long có Bùi Đình Cẩn, Nguyễn Hữu Cẩm, xã Hà Tiến có Mai
Đức Vụ, Bùi Văn Liên
Dọc theo núi Phi Lai (Hà Thái) có Đỗ Văn Quynh sau nhân dân gọi là ĐềPhi; tiếp núi Tam Quy lên Thạch Bằng, Thạch xá (Hà Lĩnh) có Đặng XuânTráng Nghĩa quân vùng này liên hệ chặt chẽ với cuộc chiến của Bang Khiêm(Bản Thuỷ - Vĩnh Lộc) Đầu năm 1886, Nguyễn Quang Toại quê làng Tri Cụ (HàPhú) từ Huế về tập hợp lực lợng lẻ tẻ và tham gia chiến đấu ở Ba Đình Tại làngHạ Long có Nguyễn Đình Cẩn, Quách Ngữ Họ Quách ở đây có liên hệ với họQuách ở Nh Xuân, và Quách Đáo tham gia nghĩa quân của Tôn Thất Hàm ởNông Cống
ở huyện Vĩnh Lộc, Tống Duy Tân cùng Nguyễn Sự Chí, Tống Nh Mai,Trịnh Văn Khiêm và các lãnh tụ nghĩa quân khác lặng lẽ xây dựng lực lợng, sắmsửa vũ khí, liên lạc với nghĩa quân các vùng, đặc biệt là cùng Hà Văn Mao tiếptục củng cố cứ điểm Mã Cao Cuối năm 1885 Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn
ra đến Thanh Hóa, đã gặp gỡ, bàn bạc công việc kháng chiến với các thủ lĩnh nh:Tôn Thất Hăm, Nguyễn Quý Yêm, Nguyễn Phơng, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Thớc,
Hà Văn Mao, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt Từ khi Tôn Thất
18
Trang 18Thuyết đến Thanh Hóa, phong trào ứng nghĩa Cần Vơng ở các địa phơng đợc qui
tụ lại, có chỉ đạo chung toàn tỉnh
Ngời thay mặt Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, phụ trách toàn tỉnh ThanhHóa là Trần Xuân soạn (1849 - 1923) quê làng Thọ Hạc ( nay là phờng ĐôngThọ, thành phố Thanh Hóa), Phạm Bành phụ trách vùng đồng bằng Thanh Hóa,
Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc tiếp tục xây dựng các cơ sở ở Trịnh Vạn, liên hệ vớinghĩa quân Hà Văn Mao mở rộng phạm vi hoạt động ra vùng Nh Xuân và nghĩaquân Lang Văn Thiết, Lang Văn Hạnh ở Nghệ An
Để phát động phong trào đấu tranh mạnh mẽ trong toàn tỉnh, nghĩa quân
tổ chức đánh thành Thanh Hóa vào đêm 11 rạng 12 tháng 3 năm 1886 ( mồng 7tháng 2 Bính Tuất), cuộc chiến đấu kéo dài đến gần sáng Pháp dựa vào công sựkiên cố, có u thế về vũ khí nên nghĩa quân không chiếm đợc thành, phải rút lui
Sau cuộc tập kích thành Thanh Hóa tháng 3 năm 1886 nghĩa quân có cuộchọp tại Bồng Trung (ngày 4 tháng 5 năm Bính Tuất) do Tôn Thất Thuyết chỉ đạo,nhằm thống nhất kế hoạch, mở rộng địa bàn hoạt động, phối hợp chiến đấu trongtoàn tỉnh Tại cuộc họp này có mặt đầy đủ các lãnh tụ chủ chốt của phong tràoCần Vơng Thanh Hóa, nh Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao, Phạm Bành, Tống DuyTân, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Thớc
Từ đây Trần Xuân Soạn đóng tại Mã Cao Nghĩa quân Cần Vơng tăng ờng đánh phá các huyện lỵ, nh Quảng Xơng, Hoằng Hóa, Nông Cống Nửa đầunăm 1886 thực dân Pháp dồn quân ra Bắc Thanh Hóa thiết lập vùng trắng, ánngữ phía đông bắc sông Mã, sông Chu nhằm ngăn chặn phong trào Cần VơngThanh- Nghệ với Bắc kỳ Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn trở thành vùng tranhchấp quyết liệt của 2 phía nghĩa quân và Pháp Nghĩa quân xây dựng Ba Đìnhtrong bình diện chung của các làng, các nơi có địa lợi, thành pháo đài khángchiến
c-Nh vậy, từ cuối năm 1885 đến khi Cầm Bá Thớc cùng vợ, em trai và 12nghĩa quân bị giặc bắt (13 - 5- 1895) phong trào yêu nớc chống Pháp ở ThanhHóa mới bị dập tắt Sau hơn 10 năm chiến đấu kiên cờng Đất Thanh Hóa trởthành chiến trờng chính đối với thực dân Pháp Các địa bàn hoạt động của nghĩaquân từ đồng bằng, rừng núi ngày càng phát triển sôi nổi và mạnh mẽ, đã tạo rathế trận ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung du và miền núi, đa Thanh Hóa lên vị tríhàng đầu trong phong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở nớc ta Mặtkhác ngay từ buổi đầu, phong trào đấu tranh ở thanh Hóa đã nằm trong hệ thốngchung của phong trào Cần Vơng cả nớc và sớm có tổ chức chỉ đạo; đây là nhân
19
Trang 19tố đảm bảo cho phong trào lan rộng nhanh chóng trong toàn tỉnh, và có ảnh hởnglớn tới phong trào cả nớc.
1 2 3 Một số cuộc đấu tranh tiêu biểu
đảo chơ vơ giữa biển nớc, đi lại phải bằng thuyền nan
Lợi dụng địa hình đó, nghĩa quân đã biến Ba Đình thành một căn cứ chốngPháp khá độc đáo Thành Ba Đình đợc dựng lên với những sọt tre đựng bùn nhồirơm rạ xếp cao, dày từ 8 đến 10 mét có lỗ châu mai Khu căn cứ đợc rào kínbằng lũy tre, sau đó là vòng hào rộng 4 mét, sâu 3 mét, có cắm chông, cuối cùng
là ròng cọc tre vót nhọn cắm quanh chân thành Cứ điểm Ba Đình nhìn từ xagiống nh một con nhím khổng lồ trên mặt nớc
Đứng đầu cứ điểm Ba Đình là Phạm Bành, một quan lại chủ chiến, bỏ ấn
từ quan về mu tính cứu nớc, trớc việc triều đình thoả hiệp đi đến đầu hàng thựcdân Pháp xâm lợc Ông là một trong số văn thân, sĩ phu yêu nớc của Thanh Hóahởng ứng chiếu Cần Vơng Cùng với Tống Duy Tân, Hoàng Bật Đạt, những vănthân, sĩ phu cùng chí hớng, Phạm Bành lo chuẩn bị quân nhu, vũ khí và việc vận
động các văn thân, sĩ phu trong tỉnh tham gia khởi nghĩa Ông đợc cử đứng đầucăn cứ Ba Đình Nhng ngời chỉ huy thật sự là Đinh Công Tráng, một dũng tớng
mu lợc, đã từng ở trong quân đội Hoàng Tá Viêm, từng chiến đấu bên cạnh LuVĩnh Phúc chống quân Pháp xâm lợc Bắc Kỳ Ngoài ra dựa vào sự ủng hộ của
đồng bào Mờng do thủ lĩnh Hà Văn Mao đứng đầu Phạm Bành còn cho xâydựng căn cứ ở Mã Cao, thuộc huyện Yên Định, về phía tây bắc Ba Đình làm hậuthuẫn khi căn cứ chính Ba Đình bị vây hãm
Khác với căn cứ Ba Đình, căn cứ Mã Cao đợc xây dựng ở rừng núi, hàoluỹ gần nh dựa vào thiên nhiên, nghĩa quân dựng một pháo đài chính với 6 pháo
đài phụ ngang ở khúc lợn của sông Cầu Chày Mã Cao bao gồm một hệ thống
đồn lũy đợc xây dựng kiên cố và đợc bố trí theo thế liên hoàn, có thể hỗ trợ đắclực cho nhau khi xảy ra chiến sự Đó là thành Mã Cao - cứ diểm Bãi Xa (giữ vị
20
Trang 20trí quan trọng nhất), đồn Đồng Tân, đồn Hồ Sen, cứ điểm Cửu Bao, cứ điểmThung Voi, Thung Khoai ( Thanh Khoái).
Nhờ sự che chở của nhân dân, căn cứ Ba Đình lúc đầu giữ đợc bí mật, lựclợng nghĩa quân có trong cứ khoảng 300 ngời, ngoài ngời Kinh còn có ngời Thái,ngời Mờng, nghĩa quân đợc trang bị bằng súng hoả mai, giáo mác, cung nỏ còn đợc trang bị cả một số đại bác bằng gang Lực lợng phục vụ trong căn cứcũng rất đáng kể Bà con địa phơng lập ra những đội vận chuyển lơng thực, độinuôi quân, đội tải thơng, có cả đội hát hò giúp vui cho nghĩa quân
Tháng 10- 1886, nghĩa quân bắt đầu phục kích các đoàn xe và các độiquân tuần tiễu của giặc Pháp trên đờng thiên lý nay là quốc lộ I Bị chặn đánhnhiều lần, giặc Pháp tổ chức hai cuộc tấn công thăm dò nghĩa quân Cả hai lầntấn công ấy đều bị nghĩa quân đánh bại
Đầu tháng 1 - 1887, thực dân Pháp tiếp tục mở cuộc tấn công với quy môlớn Lần này Pháp huy động tới 3.500 quân, có 25 đại bác, 4 pháo hỗ trợ, do đạitá Bờritxô chỉ huy, với quyết tâm phá tan căn cứ Ba Đình, một căn cứ lớn nhất ởBắc Kỳ lúc bấy giờ Thực dân Pháp còn huy động tới 500 dân binh phục vụ chiến
đấu do Trần Lục (cha Sáu), một linh mục phản động cầm đầu Nhng cuộc tấncông này (mở đầu 6 - 1- 1887) cũng không đem lại kết quả Hàng trăm binh lính,
sĩ quan Pháp phơi xác trớc Ba Đình đã làm chấn động d luận ở Paris
Bơritxô phải thay đổi kế hoạch, chuyển sang chiến thuật vây lấn, làm cạnlơng thực của nghĩa quân trớc khi ra đòn quyết định Chiến thuật ấy có gây cho
Ba Đình những khó khăn to lớn: lơng thực, đạn dợc cạn dần, khả năng phối hợpcủa nghĩa quân Trần Xuân Soạn từ ngoài đánh vào không thực hiện đợc Nhngquân Pháp cũng vấp phải những khó khăn không nhỏ: khí hậu nóng bức, bệnh tậthoành hành, xác chết của chúng không thu lợm đợc vì nằm trong tầm súng củanghĩa quân
Vào giữa và cuối tháng 1 - 1887, quân Pháp liên tiếp mở các cuộc tấncông quyết định Chúng dội xuống khu căn cứ 16.000 trái dạn pháo, dùng súngphun lửa đốt cháy lũy tre bao bọc và cả công sự của nghĩa quân Tình thế trở nênnguy khốn
Đêm 20 - 1- 1887, Đinh Công Tráng phối hợp với lực lợng của Trần XuânSoạn ở ngoài, mở đờng máu cho nghĩa quân rút khỏi Ba Đình, đi về hớng MãCao Sáng hôm sau quân Pháp tràn đợc vào thành thì thành trống không và sau
đó chúng san bằng Căm giận nhân dân địa phơng trong cuộc khởi nghĩa Ba
Đình Boritxô đã ra lệnh triệt hạ 3 làng: Thợng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê, chúngthẳng tay khủng bố nhân dân, lùng bắt các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Để giữ
21
Trang 21trọn khí tiết, Phạm Bành đã tự sát Đinh Công Tráng hi sinh anh dũng trong cuộcchiến đấu ngày 5 - 10 - 1887, trên đờng chạy vào Nghệ An để gây dựng phongtrào.
Đầu tháng 2 - 1887 quân Pháp truy kích tới Mã Cao Sau 10 ngày ácchiến, căn cứ này cũng bị phá vỡ Các thủ lĩnh nghĩa quân ngời thì hi sinh, ngời
bị bắt và bị sát hại
Tuy cuộc khởi nghĩa thất bại, nhng đã nếu lên một tấm gơng chiến đấuanh dũng sáng ngời, gây nhiều tổn thất cho Pháp, cổ vũ mạnh mẽ mọi tầng lớpnhân dânViệt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại độc lập cho
tổ quốc Tên Ba Đình không những không bị xoá mà còn đợc nêu bật trên bản đồlịch sử chống Pháp của dân tộc Việt Nam
Ngọn lửa Ba Đình vẫn không tắt Phong trào chống Pháp của nhân dânThanh Hóa lại bùng lên với cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh
+ Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 - 1892)
Sau cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, ở Thanh Hóa lại bùng lên mạnh mẽvới cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (tên một địa phơng thuộc huyện Vĩnh Lộc
- Thanh Hóa) dới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân, và kéo dài đến năm 1892
Tống Duy Tân quê ở làng Đông Biện, nay là Bồng Trung, xã Vĩnh Tân,Vĩnh Lộc Vốn là ngời họ Nguyễn ở Tống Sơn (nay là Hà Trung) nhng di c lên
đây đổi thành họ Tống
Tống Duy Tân là một nhà khoa bảng lớn, đã từng bỏ ấn quan về quê dạyhọc, mu tính việc cứu nớc, trớc thái độ hèn nhát, đầu hàng của vua quan nhàNguyễn Đến khi Tôn Thất Thuyết lên nắm binh quyền, mến tài đức của ông.Tôn Thất Thuyết đã đa ông trở lại tham gia chính sự trong phái chủ chiến Khivua Hàm Nghi xuất bôn, ông làm chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa, hởng úngchiếu Cần Vơng, Tống Duy Tân đứng ra lãnh đạo chống Pháp đến cùng
Ngay từ ngày đầu, sau khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng, cùng vớiCao Điển, một ngời cùng chí hớng, vốn chỉ là một xuất đội Tống Duy Tân ra sứcxây dựng lực lợng chuẩn bị khởi nghĩa ngay tại quê Bồng Trung, và mở đầu chohoạt động đánh Pháp của mình bằng trận đánh bại quân Pháp kéo đến định tiêudiệt lực lợng kháng chiến ở đó ( 8 - 11 đến 22 - 11 - 1885)
Trận Vân Đồn (Xuân Châu - Thọ Xuân) đợc xem là cuộc mở đầu cho cuộcchiến đấu của nghĩa quân Biết nghĩa quân đóng tại Vân Đồn, ngày 8 - 10 -
1889, thiếu ta Moóc Phông chỉ huy một toán quân kéo lên bao vây, nhng chúng
đã sa vào trận địa mai phục của Tống Duy Tân Moóc Phông và 4 lính Pháp, 6
22
Trang 22lính nguỵ bị bắn chết, số còn lại phải rút lui Đến ngày 11 - 10 chúng lại từ tỉnh
lỵ kéo lên, nghĩa quân đánh trả quyết liệt Bị thất bại, Pháp đã huy động 185lính, mở cuộc thứ 3 vào Vân Đồn Nghĩa quân rút về căn cứ Đa Bút Ngày 2 - 11,giặc Pháp đổ bộ lên Bồng Trung, chúng liều chết tiến vào căn cứ Đa Bút, dùngsúng đại bác bắn vào nghĩa quân, nhng quân ta rút vào rừng Thạch Thành để bảotoàn lực lợng
Từ Đa Bút, nghĩa quân vợt qua Thạch Thành, Vĩnh Lộc về Yên Định đếnVạn Lại (Xuân Châu- Thọ Xuân) lập căn cứ đánh giặc Đêm 30 - 11 - 1889,nghĩa quân đánh giặc Pháp ở Yên Lợc rồi rút về Vạn Lại Ngày 5 - 3 - 1890nghĩa quân bất ngờ đánh đồn giặc Pháp ở Cầu Quan (Nông Cống), chặn đánh
địch ở làng Yên Thái khi chúng rút về tỉnh lỵ
Các trận đánh của nghĩa quân đã gây cho Pháp nhiều thiệt hại, làm chochúng không "bình định" nổi Thanh Hóa theo ý muốn Nhng về sau nghĩa quânlâm vào thế thất thủ, bị bao vây Biết lực lợng của mình cha thể chiến thắng đợc,Tống Duy Tân và Cao Điển cho hội quân nói rõ tình hình và tuyên bố giải tánquân sĩ, khuyên mọi ngời về quê làm ăn, chờ thời, không cộng tác với giặc Sau
đó, ông cùng Cao Điển tìm nơi ẩn náu
Tống Duy Tân náu mình trong một hang núi ở Niên Kỷ Cao Điển cùngmột số nghĩa quân còn lại đóng trên một đồi gần đấy Ngày 3 - 10 - 1892, đợctên việt gian Cao Ngọc Lễ, vốn là học trò của Tống Duy Tân chỉ điểm, quânPháp lùng bắt Cao Điển và Tống Duy Tân Hai bên đánh nhau dữ dội Vị trí củaCao Điển bị giặc chiếm, 2 tớng nghĩa quân bị bắt, còn Cao Điển thoát đợc đếnhơn 3 năm sau mới bị bắt ở Bắc Giang (6 - 1- 1896) Tống Duy Tân bị đánh bấtngờ và bị bắt ngày 4 - 10 - 1892 Bị nhốt trong cũi giải về thị xã Thanh Hóa, ôngvẫn ung dung làm thơ Thất bại trong âm mu mua chuộc, thực dân Pháp đa ông
ra xử chém tại thị xã Thanh Hóa ngày 15 - 10 - 1892
Trong " Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" Trần DânTiên kể về tình cảm, lòng kính yêu của Nguyễn ái Quốc đối với Tống Duy Tân "
cụ Tống Duy Tân là một nhà đại trí thức, đấu tranh dũng cảm, chống bọn xâm l
-ợc Pháp Ngồi trong cũi, cụ vẫn làm thơ yêu nớc " [104; 30]
Khởi nghĩa Hùng Lĩnh tuy thất bại, nhng đã để lại tấm gơng hi sinh quảcảm của nghĩa quân, đặc biệt là thủ lĩnh Tống Duy Tân Cuộc khởi nghĩa đã đểlại bài học lớn về quân sự: nghĩa quân tuy ít về số lợng, trang vị thiếu thốn nhngvẫn tấn công địch kéo dài 6 năm liền, biết dựa vào rừng núi để xây dựng căn cứ,
và nhất là biết dựa vào dân, đợc nhân dân che chở bảo vệ
23
Trang 23" Ngọn cờ Hùng Lĩnh trở thành tiêu biểu nhất của phong trào Cần VơngThanh Hóa Từ Bồng Trung quê hơng của Tống Duy Tân, nơi khởi đầu, nơi có bộchỉ huy cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh lúc đó đã qui tụ đợc tâm huyết để một caotrào Cần Vơng - Thanh Hóa diễn ra mà đỉnh cao là chiến công Ba Đình (1886 -
1887 ) lịch sử Tiếp nối Ba Đình là Mã Cao, đến cuộc chiến đấu của nghĩa
quân Hùng Lĩnh tạo thành đợt sóng thứ hai của phong trào Cần Vơng ThanhHóa" [27; 743]
+ Cuộc đấu tranh chống Pháp do Hà Văn Mao lãnh đạo: Là cuộc đấu tranh ở vùng dân tộc ít ngời.
Hà Văn Mao là ngời dân tộc Mờng, quê ở Điền L, Bá Thớc Thanh Hóa
Ông từng giữ chức cai tổng nhng rất hào kiệt, thơng dân, quan tâm đến vận mệnh
đất nớc ông đã lấy Mờng Khê làm trung tâm cuộc khởi nghĩa, đợc nhân dântrong vùng hởng ứng
Nghĩa quân hoạt động mạnh ở Điền L, chặn đánh nhiều cuộc hành quâncủa Pháp (tháng 7 - 1885) và chủ động đem quân đánh đồn Bái Thợng ( tháng
11 - 1885 ) Sau trận này, vùng hoạt động mở rộng ra các huyện Thọ Xuân, CẩmThủy Điền L trở thành trung tâm chống Pháp ở trung và thợng du Thanh Hóa
Hoạt động và uy tín của Hà Văn Mao làm cho thực dân Pháp hoảng sợ.Vào cuối năm 1886, chúng vừa tấn công Ba Đình, vừa tiến đánh nghĩa quân, tìmcách bắt sống Hà Văn Mao Thực dân Pháp đã bắt mẹ và con trai của ông đem vềtỉnh lỵ Thanh Hóa, để làm con tin buộc ông ra hàng Hà Văn Mao đã không rahàng mà dùng âm mu của địch để đánh địch Ông đa tin ra hàng Đợc tin ấy,công sứ Pháp vội cử đồn trởng Pháp ở Điền L cùng 100 quân và tay sai đến đình
La Hán nghĩa quân đã mai phục kín đáo Khi quân Pháp đến đờng hẽm nghĩaquân đã xông ra tiêu diệt địch Bị bất ngờ, quân Pháp bỏ chạy tán loạn Âm muxảo quyệt của thực dân Pháp đã bị thất bại Hoạt động của nghĩa quân còn lanrộng xuống miền xuôi Nghĩa quân còn đánh trận phủ đầu ở đồn La Hán trớc khiquân Pháp mở cuộc hành quân qui mô lớn Sau trận này, nghĩa quân chuyển lênhoạt động ở Mờng Kỷ
Mờng Kỷ là vùng rừng núi hiểm trở, ở đây nghĩa quân đánh bất ngờ quânPháp nhiều lần Để tiêu diệt bằng đợc nghĩa quân, tháng 11 - 1887 thiếu táHenlơBoa, đại uý Patxcan kéo đại quân tấn công lần thứ hai, nghĩa quân phảnkích quyết liệt Nhng giặc có u thế hơn về quân số và vú khí nên nghĩa quân bịtổn thơng nặng nề về lực lợng, cuối cùng phải rút về căn cứ Điền L Tại đây ôngcho giải tán nghĩa quân Còn mình ông, để giữ trọn khí tiết của ngời thủ lĩnh,không chịu sa vào tay giăc, đã vào rừng tuẫn tiết
24
Trang 24+ Cuộc đấu tranh chống Pháp do Cầm Bá Thớc lãnh đạo:
Cũng nổ ra ở vùng rừng núi Thanh Hóa Đây là phong trào chống Pháp khá sôinổi của đồng bào Thái, do Cầm Bá Thớc lãnh đạo, làm cho quân Pháp ăn khôngngon ngủ không yên
Cầm Bá Thớc quê ở chòm Lùm Na, tổng Trịnh Vạn, huyện Thờng Xuân,Thanh Hóa ông sinh năm 1859 Năm 1885, lúc mới tròn 26 tuổi, ông đã lãnh
đạo nhân dân trong vùng khởi nghĩa Là thủ lĩnh của ngời thái, đã từng là tớngchỉ huy quân thứ Thanh Hóa, trong cuộc khởi nghĩa Hơng Khê
Ông chọn Trịnh Vạn, một thung lũng rộng khoảng 3 km2, , nằm sâu trongvùng rừng núi hiểm trở làm căn cứ chống Pháp Dới sự chỉ huy của Cầm Bá Th-
ớc, nghĩa quân đã xây dựng một hệ thống trại kiên cố, bố trí giàn đá, lao gỗ, bãichông Dọc theo núi cao, sông sâu để bảo vệ Trịnh Vạn và phục kích tiêu diệtgiặc Nghĩa quân của ông đã từng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân của TốngDuy Tân và Cao Điển Năm 1893 bị bức thế, ông phải ra hàng Nhng đến năm
1894 ông hoạt động trở lại Tháng 6 - 1894, ông chỉ huy 150 nghĩa quân tấncông đồn Thọ Sơn nhng địch phản công dữ dội, ông phải cho quân lui, sau đó
ông về hoạt động ở Trịnh Vạn, Cửa Đặt, Lũng Cúc và phục kích các cuộc cànquét của địch trong vùng
Để đối phó, địch huy động một lực lợng quân đội lớn, tấn công tất cả các
vị trí nghĩa quân, nhất là trong trận Trịnh Vạn, nhng vẫn không bắt đợc Cầm BáThớc Nhiều trận chiến đấu diễn ra gay go giữa hai bên suốt năm không phânthắng bại Nhng đến ngày 13 - 5 - 1895, sau một trận chiến đấu ngắn, trong vùngrng núi Thờng Xuân Cầm Bá Thớc cùng vợ, con trai và 12 nghĩa quân bị bắt tạiBản Cà Chúng đa ông về Trịnh Vạn tìm cách dụ dỗ, mua chuộc nhng không đ-
ợc Cuối cùng, chúng đa ông ra xử tử Khâm phục tinh thần bất khuất của ông,nhân dân đã tặng ông câu đối:
" Bất tử đại danh thuỳ vũ trụ
25
Trang 25Về địa hình, Nông Cống nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa miền núi và đồngbằng, cách biển không xa lắm.
Phía trớc cả 3 mặt bắc, đông, nam đều có sông ngòi bao bọc: Sông Hoàng,sông Yên, sông Thị Long, nh những chiến hào thiên nhiên ôm lấy miền đồngbằng của huyện Nông Cống tựa vào lng núi phía tây, núi đồi ngút ngàn mộtmàu xanh bất tận Dãy núi Na sừng sững nh bức tờng thành Rải rác khắp miền
đất Nông Cống, lại có những ngọn núi không cao qua 200m nhấp nhô giữa đồngbằng Vùng phía tây nam huyện là bán sơn địa nối liền với Nh Thanh và thông
đến Nghệ An Vùng giữa và phía đông huyện là miền đồng chiêm trũng, có nơimặt ruộng thấp hơn mặt nớc biển [xem phụ lục 3]
Hình sông thế núi của Nông Cống đã tạo ra vị trí quân sự thuận lợi, nên tổchức chiến đấu " đánh có chỗ tiến, lùi có chỗ giữ" Đồng thời đất đai NôngCống đồng ruộng phì nhiêu, có điều kiện vừa chiến đấu vừa sản xuất, tạo ranguồn cung cấp lơng thực dồi dào, giải quyết hậu cần tại chỗ Bởi vậy trong tiếntrình lịch sử dân tộc, trải qua nhiều thời đại, mỗi lần có giặc ngoại xâm, NôngCống thờng trở thành địa bàn chiến lợc quan trọng của nhiều căn cứ kháng chiếnlâu dài chống giặc
Trong quá trình lao động sản xuất, ngời dân Nông Cống đã phải tiến hànhcuộc đấu tranh chống thiên nhiên một cách kiên cờng, bền bỉ, liên tục, nhất làviệc chống lũ lụt, hạn hán Những truyền thống tốt đẹp, đợc hình thành trongquá trình lao động sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên, không những có ảnh h-ởng đến tâm lý, tính cách của ngời dân Nông Cống mà còn là cơ sở cho tinh thầnbất khuất trớc mọi kẻ thù ngoại xâm và tinh thần cách mạng kiên cờng
Bên cạnh truyền thống yêu nớc nổi bật ấy, truyền thống hiếu học cũng trởnên đậm nét Tuy điều kiện giao lu kinh tế, văn hoá đơng thời còn gặp nhiều khókhăn, nhng nhân dân trong huyện đã có nhiều ngời đỗ đạt cao, nhất là thời Lê
Những anh hùng hào kiệt, những nhà khoa bảng, những văn thơ trớc táccủa họ đợc ấp ủ trong các truyện cổ tích, hát ghẹo, hội đua thuyền, hội vật cù làm phong phú tinh thần bất khuất, tính cần cù trong sản xuất, cũng nh trong đấutranh chống áp bức bóc lột
Đến thế kỷ XIX, trong môi trờng cằn cỗi của triều đình nhà Nguyễn suytàn, Nông Cống vẫn có những trí thức tiêu biểu: Cử nhân Lê Ngọc Toản (Cổ
Định), cử nhân Trần Doãn Văn ( làng Cung Điền), tú tài Lê Ngọc Chơng (Cổ
Định), tú tài Lu Văn Khoan (Làng Đại Trần nay là xã Vạn Thiện) Riêng ở làngYên Lai, tổng Văn Trờng cũ của Tĩnh Gia (nay là xã Trờng Giang, huyện Nông
26
Trang 26Cống) thầy giáo Ngô Xuân Quỳnh đã góp phần đào tạo đợc những học trò cólòng yêu nớc mà tiêu biểu là tú tài Nguyễn Phơng ( Tú Phơng).
Tầng lớp sĩ phu tiến bộ này đã đứng lên cùng nhân dân ở cơ sở, chiến đấuquyết liệt với thực dân Pháp xâm lợc, bảo vệ quê hơng giành lại nền độc lập dântộc
Phong trào yêu nớc của nhân dân Nông Cống cuối thế kỷ XIX nảy sinh từcội rễ lâu bền, suối nguồn trong mát đó
+ Trong phong trào Cần Vơng Thanh Hóa, Nông Cống là một địa bàn ởng ứng tích cực " Có mặt đầu tiên", liên kết chặt chẽ Nông Cống - Quảng Xơng
h Tĩnh Gia, làm thành một mảng chống Pháp sôi nổi, gắn bó hoà nhập với phongtrào Cần Vơng cả tỉnh
Riêng ở Nông Cống, ta có thể chia hoạt động Cần Vơng làm 3 thời kỳ: Từcuối 1885 đến đầu 1886 là thời kỳ hoạt động xây dựng căn cứ, phong trào nổidậy Thời kỳ đầu 1886 đến nửa đầu 1887 xây dựng căn cứ ổn Lâm, tham gia
đánh thành Thanh Hóa, hoà trong khí thế Ba Đình; thời kỳ nửa sau 1887 đến
1890 là thời kỳ nhân dân tham gia vào các hoạt động của nghĩa quân Hùng Lĩnhtrên đất Nông Cống
Hởng ứng chiếu Cần Vơng, Tôn Thất Hàm liền từ bỏ tri huyện trở về Sơnphòng Quảng Trị bắt liên lạc với triều đình kháng chiến và sau đó đợc cử về
đánh giặc ở Nông Cống [xem phụ lục- căn cứ Đồng Mời] Bang Tá Đỗ Tuấn Dẫy,huấn đạo Nguyễn Quí Yêm, thông lại Lê Văn Trờng và Nguyễn Văn Quý cũnglần lợt bỏ huyện đờng, tổ chức lực lợng chống Pháp
Về phía đông bắc huyện cũ thuộc tổng Văn Xá, là nơi tiếp giáp với 2huyện Quảng Xơng và Đông Sơn, có sông Hoàng chảy qua, và 2 dãy núi Hoàng,núi Nghiêu (tức Hoàng Sơn - Nghiêu Sơn) nằm cạnh nhau tạo thành vùng rừngnúi khá hiểm trở, rất thuận lợi cho việc xây dựng một công trình quân sự phòngthủ Vào đầu thế kỷ XV, Nguyễn Chích từ căn cứ Vạn Lại đã tiến vào Nôngcống, xây dựng căn cứ ở vùng nam Thanh Hóa để tiêu diệt quân Minh Lợi dụng
địa hình và trận địa cũ của Nguyễn Chích, Cai Văn xây dựng căn cứ ở đây khálớn mạnh, với sự ra đời của những đội quân ban đầu ở các làng Ngọc Tháp, Hội
Cù, Bái Đao, Yên Mỗ
Cùng lúc đó, một số làng trong tổng Văn Xá cũng có đội quân của ChánhKhởi làng Hội Cù, Nguyễn Quang Đức làng Bái Đao, Phó Bua làng Yên Mỗ(nay thuộc xã Hoàng Sơn) và Hiệp Tá làng Gốm (nay thuộc xã Đồng Tiến, TriệuSơn), các đội nghĩa quân ngày đêm hăng hái luyện tập vũ trang và đợc tập hợp d-
27
Trang 27ới sự lãnh đạo của Bang Văn (tên thật là Nguyễn Tuấn Dẫy ông làm cai tổng nên
đợc gọi là Cai Văn)
Những hoạt động của nghĩa quân Bang Văn đã làm cho địch thờng xuyên
đối phó vất vả, gây khó khăn cho địch trong việc càn quét lúc bấy giờ
Vùng nam huyện cũ thuộc tổng La Miệt, Vạn Thiện, Lạc Thiện, Cao Xá,phong trào hởng ứng chiếu Cần Vơng cũng diễn ra sôi động
Tổng La Miệt là vùng có nhiều đồi núi hiểm trở và là cửa ngõ của NôngCống đi lên Nh Thanh ở phía Tây Đề Sơn đã xây dựng căn cứ tại núi Lùng Ôngbắt liên lạc với Tú Phơng ở Tĩnh Gia, Lĩnh Phiên ở Quảng Xơng, Tú Mật ( Lu
Đắc Khoan), Tú Quỷ (túc Phạm Kim Quỷ), ở Đại Trầu, ( nay thuộc xã VạnThiện), ra sức chiêu mộ nghĩa binh tập trung xây dựng căn cứ chống giặc tại quênhà
Lúc đầu nghĩa quân đóng tại làng Sơn Hậu, dần dần phong trào phát triểnrộng ra đông La Miệt, Vạn Thiện, có khoảng 70 - 80 ngời dới sự chỉ huy của TúMật, Tú Quỷ Xung quanh căn cứ là những hàng rào tre gai dày đặc, mỗi ngã lại
có tre rải trên mặt đờng làm vật cản địch Nằm sâu trong núi là luỹ Ba Bò, rấtrậm rạp, làm nơi luyện quân Ngoài ra Đề Sơn còn xây dựng ở làng Đán (thuộcxã Yên Thọ, Nh Thanh) hậu cứ của ông Cuối 1885, nghĩa quân ở đây cókhoảng 200 ngời, đã hoạt động kiểm soát các đờng giao thông từ Chuối vàoChuồng, Chuối ra Cầu Quan và Chuối ra Bến Sung ( Nh thanh)
Tổng lạc Thiện nằm ở vùng phía nam cuối cùng của Nông Cống là miềnbán sơn địa, khá hiểm trở, sông ngòi, khe suối từ Nh thanh đổ về với đồi núi sansát tạo thành hệ thống núi chen nhau, nh luỹ hào sâu thành cao chặn đứng cửangõ phía nam huyện Khi có chiếu Cần Vơng phong trào chống Pháp ở đây kịpthời khơi dậy dới sự chỉ huy của Ba Chấp (tức Lê Văn Chấp) làng Xa Lý và
Đoàn Sỹ Đáng ở làng Ngọc Xá (nay thuộc xã Thăng Bình) nghĩa quân cókhoảng 100 ngời làm nhiệm vụ quân lơng là chính Nghĩa quân làm kho dự trữlơng thực ở làng Hậu áng (nay là xã Công Liêm)
Về sau, khi lực lợng của nghĩa quân Tú Phơng mở rộng địa bàn hoạt động,vùng ổn Lâm đợc chọn làm căn cứ khởi nghĩa thì một số làng trong tổng LạcThiện đã tổ chức thành những cơ sở bảo vệ căn cứ ổn Lâm của nghĩa quân phíanam Thanh Hóa
Lúc bấy giờ nghĩa quân Tú Phơng ở tổng Văn Trờng - Tĩnh Gia (nay là ờng Sơn - Nông Cống) cũng đã phát triển hoạt động tới Nông Cống Các lực l -
Tr-28
Trang 28ợng nghĩa quân trong tổng Cao Xá đợc tổ chức phối hợp, sau đó trở thành cánhquân của Tú Phơng.
Bản thân các thủ lĩnh trên đã đa hết gia sản ủng hộ nghĩa quân
ở vùng tây bắc Nông Cống xa là địa bàn chiến đấu quan trọng của nghĩaquân Bà Triệu Nơi đây có Ngàn Na hiểm trở nh bức tờng thành dựng đứng saulng huyện và lúc này ở tổng Cổ Định có đội quân của Lê Văn Trờng (còn gọi làThông Dơng) bỏ huyện đờng về quê là làng Nhiễu thôn ( xã Tân Khang) tập hợplực lợng, xây dựng căn cứ chống Pháp ở núi Hoàng Nghiêu
Nguyễn Văn Quỳ (tức Thông Quỳ) bỏ huyện đờng, về làng Đông Cao (xãTrung Chính), tập hợp nghĩa quân khoảng 50 ngời huấn luyện tại Hón Gai, tổchức lực lợng kiểm soát đờng giao thông từ Cầu Quan đến núi Na
Một thời gian ngắn, hai đội nghĩa quân trên đã sát nhập vào căn cứ của LêNgọc Toản
Lê Ngọc Toản xã Cổ Định, tổng Cổ Định (nay là xã Tân Ninh, huyện TriệuSơn) thuộc gia đình nhà nho có thế lực trong vùng Sau khi đỗ cử nhân, ông đợc
bổ làm quan tri phủ ở Đoan Hùng (nay là Phú Thọ) Hởng ứng chiếu Cần Vơng,
ông bỏ quan về quê dấy nghĩa [xem phụ lục 4] xây dựng căn cứ Ngàn Na
Nh vậy từ cuối 1885 đến đầu 1886, nghĩa quân của Tôn Thất Hàm, BangVăn, Lê Ngọc Toản tích cực hoạt động ở vùng bắc và đông bắc huyện NôngCống, khống chế giặc Pháp và tay sai ở Đồn Mng và huyện Lỵ, đồng thời nối vớiphong trào Cần Vơng ở các huyện lân cận nh Thọ Xuân, Đông Sơn Trong khi
đó, ở miền đông và nam Nông Cống đồng thời nối với nghĩa quân các huyệnQuảng Xơng, Tĩnh Gia là hoạt động của nghĩa Quân Tú Phơng tổ chức và lãnh
đạo
Tại quê hơng Hơng Trì - tổng Văn Trờng (nay là Yên Minh- Trờng Sơn)
Tú Phơng đã xây dựng căn cứ Hơng Trì ngay sau khi có chiếu Cần Vơng Ông đã
đợc Tôn Thất Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi trao cho chức "Tham biện sơn hảiphòng quân vụ" " kiêm quản phủ Tĩnh gia" Cả làng Hơng Trì từ già trẻ, gái trai
đều tham gia hoạt động ủng hộ nghĩa quân
Phía đông Nông Cống, có các tổng La Miệt, Vạn Thiên, Lạc Thiên, CaoXá, phong trào đã nổi lên rầm rộ Trớc sự lớn mạnh của phong trào, Tú Phơngquyết định thành lập cứ điểm mới ở ổn Lâm - Kỳ Thơng (ổn Lâm hiện naythuộc xã Công Bình Nông Cống, Kỳ Thợng thuộc xã Thanh Kỳ - Nh Thanh) đểliên hệ chặt chẽ với phong trào Cần Vơng trên đất Nông Cống, Quảng Xơng,Tĩnh Gia, liên hệ với các vùng miền trong tỉnh và cả Nghệ An, Hà Tĩnh
29
Trang 29Xây dựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng có ý nghĩa quan trọng trong phongtrào Cần Vơng lúc này, nhằm thống nhất các lực lợng ở huyện, hình thành bộ chỉhuy nghĩa quân, đa phong trào tiến lên giai đoạn mới.
Căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng nổi lên ở 1 vùng nam Thanh Hóa, giáp Nghệ
An , là điểm nối phong trào Cần Vơng từ Trung bộ đến Huế, từ Huế trở ra Trựctiếp gắn với hoạt động của nghĩa quân xứ Nghệ mà tiêu biểu là phong tràoNguyễn Xuân Ôn, Lang Văn Thiết
Đứng đầu phong trào ổn Lâm - Kỳ Thợng là Nguyễn Ngọc Phơng (Tú
Ph-ơng) Rõ ràng căn cứ ổn Lâm là một điểm sáng trên bản đồ của Thanh Hóachống Pháp, có đặc điểm, chiến thuật, chiến lợc riêng có thành tích góp vàophong trào Cần Vơng cả tỉnh rất tích cực
Việc nghiên cứu Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - Kỷ Thợng lâu nay chỉ mới
đợc " điểm qua loa" Muốn hiểu biết đầy đủ phong trào yêu nớc chống Pháp ở
địa bàn Thanh Hóa thì việc tìm hiểu kỹ về Tú Phơng và căn cứ ổn Lâm - Kỳ ợng là rất cần thiết
Th-Tóm lại: Phong trào đấu tranh chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX
đã phát triển rộng khắp, có địa bàn chiến lợc từ đồng bằng, trung du, đến miềnnúi, thu hút sự tham gia của hầu hết các tầng lớp nhân dân yêu nớc Phong tràocòn liên kết và mở rộng địa bàn hoạt động sang các vùng, các tỉnh lân cận, tạothành một phong trào có qui mô rộng lớn Đó là đặc điểm nổi bật, một thực tếlịch sử rất đáng đợc chú ý khi nghiên cứu phong trào Cần Vơng chống Pháp ởThanh Hóa
" Về mặt thời gian, phong trào kháng chiến chống Pháp ở Thanh Hóabùng nổ vào loại sớm nhất, và cũng là phong trào kéo dài, liên tục và bền bỉ nhất.Trong khi tiếng súng Cần Vơng chống Pháp ở các tỉnh ngoài Bắc trong Nam, kểcả phong trào khởi nghĩa Hơng Khê ( Hà Tĩnh) đã dần dần lắng xuống thì ởThanh Hóa, cuộc kháng chiến vẫn phát triển mạnh, và càng đến giai đoạn cuối,phong trào càng diễn ra quyết liệt, biểu hiện bằng hàng loạt trận chiến đấu quimô lớn của nghĩa quân, nh các trận: Suối Tật, trận đánh đồn Thổ Sơn (gần BáiThợng)" [ 46; 81]
Dựa vào điều kiện cụ thể và phát huy u thé của địa bàn chiến lợc, phongtrào kháng chiến ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX đã sản sinh và sử dụng nhiều ph-
ơng thức tổ chức tác chiến, thể hiện nghệ thuật quân sự độc đáo và tính chấtnhân dân của phong trào
30
Trang 30Cũng giống nh cả nớc, ngời nắm quyền lãnh đạo phong trào kháng chiến ởThanh Hóa chủ yếu là các sĩ phu, văn thân yêu nớc, tiêu biểu nh tiến sĩ TốngDuy Tân, phó bảng Nguyễn Đôn Tiết, các cử nhân Hoàng Bật Đạt, Phạm Bành,
tú tài nguyễn Phơng hay các lãnh đạo miền núi nh: Cầm Bá Thớc, Hà VănMao Do hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, song trớc hết làtấm lòng yêu nớc mà họ đã đứng dậy dựa vào tinh thần độc lập dân tộc, cơ sởvăn hoá ngàn năm của dân tộc, mà gần gũi với quần chúng nhân dân do đó, họ
đã tổ chức động viên tập hợp nhân dân kháng chiến chống Pháp, đợc nhân dânhết lòng ủng hộ
Tuy thế, do hạn chế của giai cấp xuất thân, và thời đại lịch sử, nên họkhông đủ khả năng thu hút lực lợng kháng chiến vào một mối thống nhất, đấutranh theo đờng lối và phơng pháp cách mạng rõ ràng cụ thể, vừa chuẩn xác vừathích hợp Chính vì vậy, phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa cũng nh phạm vi cảnớc, tuy đã bùng lên sôi nổi, rầm rộ, phát triển rộng khắp và kéo dài bền bỉ, nhngcuối cùng không tránh khỏi thất bại
Mặc dù vậy, sự hy sinh của chiến sĩ Cần Vơng đã để lại cho các thế hệ saunhững bài học bổ ích và thiết thực " Cái chết của họ làm cho Tổ Quốc sống lại,lòng can đảm của họ bất diệt" [104; 30]
Muốn hiểu biết đầy đủ phong trào yêu nớc chống Pháp ở Thanh Hóa cuốithế kỷ XIX, không thể không nghiên cứu về Tú Phơng và căn c ổn Lâm- Kỳ Th-ợng?
Tú phơng (nguyễn ngọc phơng) với căn cứ ổn Lâm - Kỳ thợng Trong phong trào yêu nớc chống Pháp ở Thanh
Hóa 2.1 Tú Phơng
Tú Phơng tên là Nguyễn Ngọc Phơng (thờng gọi là Nguyễn Phơng) sinhnăm 1832 trong một gia đình vốn là dòng tộc có uy tín thôn Yên Tôn, xã H ơngTrì, tổng Văn Trờng, phủ Tĩnh Gia (nay là thôn Yên Minh, xã Trờng Sơn, huyệnNông Cống)
Theo Nguyễn tộc gia phả [xem phụ lục 2] do Tú Phơng soạn thảo ngày 7tháng 10 năm Tự Đức thứ 33 (tức là năm Canh Thìn 1880) là cháu kế tự, đỗ tú tàinăm Mậu Dần (1878) đến đời Tú Phơng là cháu thứ 21
31
Trang 31Phần Nguyễn tộc gia phả, ông giải thích " Nớc có sử để ghi đúng sự việc,nhà có phả để ghi rõ thế hệ con cháu mà truyền Tông đồ" [phụ lục 2] Theo giaphả truyền lại, nguồn gốc của Nguyễn tộc " có ngời nói là gốc họ Liêu, các vị tr-
ớc có công với nớc đợc phong họ Nguyễn, công việc bình phục họ Nguyễn còncha rõ thật là khó" Có ngời lại nói, ban đầu ở quê ở Biện Thợng (nay gọi là BồngThợng - Vĩnh Lộc), gặp lúc đất nớc lâm nạn nên di dời chạy về thôn Kinh" Giaphả còn viết trớc ở Biện Thợng, vì quốc sự di c bản xã thôn Yên Tôn - Hơng Trì.Gia phả khẳng định nay thôn Kinh vẫn theo tộc Nguyễn
Nguyễn tộc cũng ghi rõ năm điều cấm kỵ trong từ đờng [xem phụ lục 2],
điều đó cho thấy dòng họ Nguyễn Ngọc là một dòng họ lớn, phép tắc, lễ nghĩa,bậc thứ có khuôn phép Giải thích lý do viết gia phả Tú Phơng viết: "Nguồngốc của việc viết gia phả là tăng thêm lòng hiếu cho con cháu" [phụ lục 2]
Theo gia phả, Thuỷ tổ khảo (ông tổ 6 đời) tên là Nguyễn Quý Công, Tự
Đức Bình, vợ họ Nguyễn, hiệu Từ Thế (phả chính ghi lại ông là con thứ t ôngMinh Nghị và bà Dung) là con thứ phân chia làm một gốc thế hệ, trăm đời không
đổi ông Thuỷ Tổ- thờng ngày lấy việc nông làm nghiệp
Ông Chiêu Tổ: Tên huý là Huy, tự Đức Dục, vợ họ Nguyễn tên huý làTông, hiệu là Từ Khoan
Vào năm Cảnh Hng thứ 9 ( 1740) ông đi tòng binh, về sau nhận chức Bách
hộ, nhà cũng có chút lễ Vợ là ngời cùng xã, là con gái họ Nguyễn, thôn ThànhKhắc, huý là Tông Tên tuổi của bà đợc nêu là ngời cần kiệm, khởi nguồn bà tổ
có công đức
Ông Mục tổ : đợc bổ thụ bản huyện Huyện thừa ( tơng đơng với phó chủtịch huyện) kiêm tổng trởng chính tổng ở bản tổng Tên huý là Tới, tự là ĐứcTâm phủ quân Vợ họ Nguyễn, huý là Thụ, hiệu là Từ Thuận ông vào triều Lêgiữ chức Đinh bạ tức Nguyễn Huy Tâm Năm Cảnh Hng thứ 26 (1766) đợc nhậnchức Trị sự Năm Cảnh Hng 28 làm xã chính trong xã ( nay là lý trởng) NămCảnh Hng 41 (1780) đợc chỉ thụ huyện thừa trong huyện Năm 44 (1783) làm tr-ởng chính tổng trong tổng (nay là cai tổng), có tới 100 mẫu ruộng
Ông Chiêu tổ: Ông đợc chỉ thụ huyện thừa trong huyện, kiêm tổng trởngchính tổng trong bản tổng Tên huý là Phùng, tự là Đức Thiện Vợ họ Nguyễn,huý là Tòng, hiệu Từ Lơng
Vào năm Nhâm Ngọ, khi ấy đã lớn, có học thức giữ chức Đinh bạ gọi là
ông Nguyễn Huy Liễn Về nho, y lý số cũng biết chút ít Thi trúng Hiệu sinh (t
-ơng đ-ơng tú tài thời Nguyễn) Triều Lê đợc chỉ thụ chức huyện thừa trong huyện
32
Trang 32Đến năm Gia Long thứ 1 (1802) đợc thừa nhận Đốc trấn quan trên tỉnh Ông cónhiều công tích, vì chiêu tập các dân lu vong trong tổng, dân yêu mến kính trọng
ông Về sau về nhà dạy học Thọ 75 tuổi
Ông Mục tổ: Huý là Quang, lại có tên là Thai, tự Đức Trấn ông là NguyễnHuy Quang, sau đổi thành Nguyễn Huy Thai, hàng ngày thờng giữ phép
Bố của Tú Phơng huý là Nhuyễn, tự Đức Thể Mẹ họ Nguyễn, hiệu là TừChiêm, ngời cùng xã, thôn Thành Đông Khi giữ chức Đinh bạ đổi thành NguyễnNgọc Thể Năm 18 tuổi tòng binh, đến năm 22 tuổi quay về làm lý trởng trongxã Ông lý sự mọi ngời đều kính phục Lúc bình sinh y học đã tinh tờng vả lạicòn kiêm cả lý học, lễ học, tính tình lại thẳng thắn, không dung tha cho điều tàkhuất Mọi ngời gặp tai họa đến cứu trợ, giúp đỡ mà nh cha tởng mình là ngời có
đức Thọ 60 tuổi, đợc ban Quốc triều lão nhiên, khoá tự lão nhiên, ông mất ngày
"Phó về Tây Trúc, dữ dân thụ dịch" ( ý nói: Phật hãy về Tây Trúc để dân lo mọiviệc) [82; 39] Trong 5 điều cấm kỵ từ đờng ông đã nhạo báng các thầy địa lý lấy
đất: : " Đời thế nói điều thầy địa lý nói 10 điều không đợc một, chỉ làm nghề mutính cơm ăn thôi" [phụ lục 2]
Thầy Nguyễn Xuân Quỳnh đã góp phần đào tạo những ngời học trò cólòng yêu nớc, mà tiêu biểu là Tú Phơng
Sau khi đỗ tú tài (năm Mậu Dần) thờng gọi là Tú Phơng Ông ở nhà không
ra làm quan mà mở trờng dạy học Học trò của ông trớc sau có tới hàng trăm
ng-ời Tú Phơng đã bồi dỡng xây dựng một đội ngũ học trò, phần lớn là ngời có chí
33
Trang 33hớng cứu nớc, mà sau này một số học trò đã tham gia tích cực phong trào chốngPháp do ông khởi xớng ngay tại quê Hơng Trì
+ Tú Phơng cũng sinh ra và lớn lên ở một quê hơng có truyền thống yêu
n-ớc bất khuất kiên cờng, từ xa các tầng lớp nhân dân trong huyện Nông Cống đãgắn bó với các cuộc khởi nghĩa chống giặc diễn ra tại mảnh đất này Hình thếsông núi của Nông Cống đã tạo ra vị trí quân sự thuận lợi Đất đai Nông Cống
đồng ruộng phì nhiêu, có điều kiện vừa sản xuất, vừa chiến đấu tạo nguồn lơngthực dồi dào Bởi vậy trong tiến trình lịch sử chống xâm lăng của dân tộc, trảiqua nhiều thời đại, mỗi lần có giặc ngoại xâm Nông Cống thờng trở thành địabàn chiến lợc quan trọng của nhiều căn cứ kháng chiến lâu dài chống giặc
Vào những năm 40 của thế kỷ I, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng chống ách
đô hộ của nhà Hán diễn ra, làm lật nhào chính quyền địch, lúc bị vây hãm, t ớng
Đô Dơng đã mang một lực lợng nghĩa quân về Nông Cống thủ hiểm tại núiHoàng
Thế kỷ III (248), ngời nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh đã chọn Ngàn
Na thuộc vùng phía tây Nông Cống, làm căn cứ dấy binh chống quân xâm lợc
Đông Ngô Từ nơi đây, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đợc dâng lên thànhcao trào rộng lớn, làm cho bọn giặc phải kinh hoàng
Đến thế kỷ thứ XV vùng Hoàng Sơn lại đợc xây dựng nên căn cứ địa kiên
cố của nghĩa quân Nguyễn Chích chống giặc Minh
Những cuộc dấy binh tụ nghĩa ấy, sở dĩ đứng vững và phát triển mạnh,ngoài những yếu tố nh: Có địa bàn hiểm trở, có nguồn lơng thực cung cấp tạichỗ, còn có một yếu tố quyết định là truyền thống yêu nớc nồng nàn của nhândân Nông Cống Truyền thống của ngời dân Nông Cống là cần mẫn, chân thực
và quả cảm trong sản xuất cũng nh trong chiến đấu Những nét nổi bật về truyềnthống yêu nớc, chống giặc ngoại xâm mà sử sách và nhân dân đã ghi nhận, đợc l-
u truyền gìn giữ từ thế hệ này đến thế hệ khác
Bên cạnh truyền thống yêu nớc nổi bật ấy, truyền thống hiếu học cũng trởnên đậm nét: Trong điều kiện giao lu kinh tế, văn hóa, đơng thời còn gặp nhiềukhó khăn, nhng nhân dân trong huyện đã có nhiều ngời học giỏi, đỗ đạt cao nhất
là thời Lê Các bậc đại khoa ở Nông Cống cũng đã có tới 20 vị đậu Hoàng Giáptiến sĩ [xem phụ lục 3 Huyện Nông Cống], truyền thống hiếu học làm đẹp thêmtruyền thống đấu tranh chống xâm lợc, đấu tranh chống áp bức, chống thiênnhiên của ngời dân Nông Cống
34
Trang 34Đến thế kỷ XIX, Nông Cống vẫn có những trí thức tiêu biểu nh : Cử nhân
Lê Ngọc Toản (Cổ Định), cử nhân Trần Doãn Văn (làng Cung Điền) tú tài LêNgọc Chơng (Cổ Định), tú tài Lu Văn Khoan (làng Đại Trầu - nay là xã VạnThiện) Riêng làng Yên Lai, tổng Văn Trờng cũ của Tĩnh Gia (nay thuộc xã Tr-ờng Giang huyện Nông Cống), thầy giáo Ngô Xuân Quỳnh đã góp phần đào tạo
đợc những học trò có lòng yêu nớc mà tiêu biểu là tú tài Nguyễn Phơng
Chính các yếu tố trên đã thôi thúc Tú Phơng cùng nhân dân Nông Cốngchiến đấu quyết liệt với thực dân Pháp xâm lợc, bảo vệ quê hơng góp phần giành
độc lập cho dân tộc
+ Hởng ứng Cần Vơng phong trào đấu tranh yêu nớc do các văn thân, sĩphu đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ ở Nông Cống nói riêng phong trào dấy nghĩadiễn ra sôi động tại nhiều vùng rộng lớn và ngay từ đầu đã xây dựng nên nhữngcăn cứ nghĩa quân quan trọng làm chỗ dựa cho cuộc chiến đấu về sau
Trong thời kỳ này, phong trào nghĩa quân ở Nông Cống và Tĩnh Gia đãdiễn ra sớm và khá mạnh mẽ, với lực lợng tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.Nhân tố quan trọng là phong trào nơi đây đợc chuẩn bị t tởng từ lúc Tôn ThấtHàm còn làm tri huyện, có tinh thần chủ chiến và nhất là do Tú Phơng, khi cóchiếu Cần Vơng hai ông đã nhanh chóng bắt liên lạc với triều đình kháng chiến
và đã đợc Tôn Thất Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi phong cho Tú Phơng "Thambiện sơn hải phòng quân vụ", một nhiệm vụ trọng trách ở khu vực Tĩnh Gia (phủTĩnh Gia gồm: Huyện Ngọc Sơn, huyện Quảng Xơng, huyện Nông Cống)
Cũng qua phong trào giai đoạn này, Tú Phơng dần dần liên lạc bắt nối sợidây liên kết là xây dựng lực lợng " thông đồng cùng nhau để nổi dậy cùng mộtlúc" Qua việc vận động, tổ chức rèn luyện phối hợp, vai trò của Tú Phơng tơng
đối trội hơn Xét cách tổ chức, qui mô và cách thức chuyển hớng vận động của
ông thể hiện trong việc xây dựng căn cứ Hơng Trì tại quê hơng, sau này cả gia
đình ông đã xây dựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng
Nh vậy, quê hơng, gia đình, t tởng, tính cách và lòng yêu nớc đã hun đúcnên Tú Phơng, ông đã trở thành lãnh tụ của phong trào Cần Vơng nam ThanhHóa
2.2 Tú phơng hởng ứng chiếu Cần Vơng
Tháng 7 - 1885, khi có chiếu Cần Vơng của Hàm Nghi, Tú Phơng liền từgiã học trò ra đi cứu nớc " Theo tài liệu xác minh qua các cụ già ở các xã TrờngSơn, Trờng Trung, Trờng Giang ngày nay thì Tú Phơng lúc bấy giờ đã tới Sơnphòng Quảng Trị, bắt liên lạc đợc với Tôn Thất Thuyết và ông đã đợc phong
35
Trang 35chức " Tham biện sơn hải phòng quân vụ" "kiêm quản phủ Tĩnh Gia" ( Tĩnh Gialúc này gồm huyện Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xơng).
Mừng quan Đô Thống nên rồi Vua ban tham biện khéo tài dạy quân
Khắp ba sáu tỉnh xa gần Quan quân nổi dậy góp phần đánh Tây
Đánh cho Tây cút về Tây.
Nớc ta khôi phục dân nay thái hoà".
( vè quan Tham Phơng)Cũng từ lúc đó nhân dân thờng gọi ông là " Quan tham" hoặc " Tham Ph-
ơng"
" Trong thời gian này, ông đã gặp đợc vị thủ lĩnh Cần Vơng Nghệ An làtiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, quê huyện Diễn Châu đã bỏ quan về nhà dấy nghĩa tạilàng Quần Phơng, có hàng ngàn nghĩa quân tham gia" [ 82; 40 ]
Từ sơn phòng Quảng Trị trở về, Tôn Thất Hàm và Nguyễn Phơng đã nhanhchóng phát động phong trào Cần Vơng toàn phủ Tĩnh Gia (gồm 3 huyện NgọcSơn, Nông Cống và Quảng Xơng) Đợc sự khuyến khích của thầy học NguyễnXuân Quỳnh, sự cộng tác của ngời bạn là Ngô Xuân Khuê ( con trai ôngQuỳnh), Tú Phơng dốc sức ngày đêm chiêu mộ nghĩa quân và ông đã chọn HơngTrì, tổng Văn Trờng làm căn cứ đầu tiên chống giặc tại quê nhà Nơi đây thuộcvùng cuối hợp lu sông Yên và sông Thị Long nằm ở phía đông, xung quanh H-
ơng Trì là những cánh đồng lầy nhiều cỏ năn lác Phía nam làng có ngọn núi có
độ cao hơn 100 mét gọi là Phơng Lĩnh (Phụng Liên) nối liền với dãy NhuyễnSơn và Thái Tợng thông đến miền bán sơn địa Nông Cống
Từ Hơng Trì có 3 ngả đờng về các nơi nh: Phía đông qua đò Trạp tới chợChìa, chợ Kho và lỵ sở Tĩnh Gia Phía tây đi lỵ sở Cầu Quan - Nông Cống Phíanam đi Thị Long vào đến Bến Chuồng, phía bắc đi Đò Tuần tới Văn Trinh là lỵ
sở Quảng Xơng ra tỉnh lỵ Thanh Hóa
Với uy tín của Tú Phơng, lực lợng nghĩa quân ngày một phát triển, nhanhchóng thu hút nhiều tráng đinh trong tổng Văn Trờng tham gia, nhất là các làngTrung Liệt, Phợng La Đông, Phợng La Đoài, Tứ Bản, An Lăng( nay thuộc xã Tr-ờng Trung), Yên Lai ( thuộc xã Trờng Giang)
" Quân Lĩnh Bòng đã liên kết với nghĩa quân Cử Lỡng (Quảng Xơng) vớinghĩa quân Hơng Trì (Tú Phơng) để tấn công giặc Pháp ở Hòa Trờng (QuảngXơng) và phủ lỵ Tĩnh Gia Ông còn cho nghĩa quân vây và đột kích đồn ThịLong, phục kích bọn địch đi lùng sục trong vùng Đầu năm 1886, các dội nghĩa
36
Trang 36quân ở các tổng Văn Trờng, Yên Thái sát nhập với nghĩa quân Hơng Trì do TúPhơng lãnh đạo" [ 82; 179 ].
Hơng Trì trở thành căn cứ lớn, có gần chục đội nghĩa binh chốt giữ nhiềucơ sở quan trọng nh Đò Tuần (xã Trờng giang), Đò Yên Lãng (xã Trờng Giang),
Đò Trạp (xã Tợng Văn), Đò Thị Long (xã trờng Sơn), Đò Ghép (Tĩnh Gia Quảng Xơng) Trong đó có một bộ phận nghĩa quân ở 2 tổng Cao Xá và LạcThiện tham gia
-" Số nghĩa quân lên tới 300 - 400 ngời Một bộ chỉ huy đợc thành lập dới
sự chỉ huy thống nhất của Tú Phơng bao gồm: Đề Thiện ( tức Nguyễn Văn Thiệnngời xã Hơng Trì), Lĩnh Quỳnh, Lĩnh Bòng, Lĩnh giao, Đốc Phác, Đốc Đỡi,cùng một số ngời đốc vận quân lơng nh Ngô Xuân Mai (em ruột cụ án NgôXuân Quỳnh), Nguyễn Tiến và những ngời gíup việc là Ngô Xuân Khuê, NgôXuân Đỉnh (con trai cụ án Ngô Xuân Quỳnh) Ông Xuân Quỳnh (thầy dạy họccủa Tú Phơng) làm tổng tham mu cho Tú Phơng" [ 35; 11 ]
Căn cứ Hơng Trì bao gồm 2 khu vực hoạt động nh:
- Khu phía tây, là nơi luyện tập vũ trang, có trờng học võ, có đờng duyệtbinh, đến nay nhân dân gọi là Đồng Quần và đồng " Quan tham" [phụ lục ]
- Khu phía đông, tại xóm Thon, là cơ sở rèn đúc vũ khí , tích trữ lơng thực.Căn cứ Hơng Trì trên trục đờng theo hớng đông - tây từ xã Hơng Trì đếnvăn chỉ hàng tổng dài khoảng 4km, đầu có những trạm gác đặt tại các cồn mãkín đáo, nằm ở chân núi Phợng (Phụng), về sau căn cứ đợc mở rộng ra các vùnglân cận
Sách Đại Nam thực lục chính biên, tập 37 ghi " Nghĩa quân vừa ra sức xâydựng cơ sở lớn mạnh, vừa tiến hành các cuộc chiến đấu phục kích quanh vùng.Nổi lên là cuộc đánh úp phủ lỵ Tĩnh Gia ở Cung Hiền (nay thuộc xã Tân Dân)vào tháng giêng 1886, một lực lợng nghĩa quân do Đề Thiện, Lĩnh Cối, LĩnhQuýnh chỉ huy, đi tìm diệt bọn phản động khi đến Quán Mây (xã Thiệu Dơng -Thiệu Hóa ngay nay), đã bị đội lính của giặc chặn đờng, cuộc chiến đấu giáp lá
cà diễn ra tại chỗ Bọn địch thấy nghĩa quân đông và mạnh sợ không chống cựnổi phải chạy về cố thủ tại phủ lỵ Tĩnh Gia
Thừa thắng, nghĩa quân truy kích bao vây chặt phủ đờng Địch quyết giữ,sau Đề Thiện dùng loa kêu gọi hàng binh, đợc một số quân cũ của mình trớc đây,quay súng đầu hàng, tạo điều kiện cho nghĩa quân vào đợc sào huyệt địch Một
số tên ngoan cố bị chém, phủ lỵ bị đánh phá" [ 21; 142]
37
Trang 37Sau chiến thắng này, địa bàn hoạt động của nghĩa quân Tú Phơng mở rộng
ra vùng biển, thanh thế càng vang dội
Hoạt động của nghĩa quân Tú Phơng đã trải khắp huyện Tĩnh Gia và mộtphần thuộc đông nam huyện Nông Cống Cũng vào lúc này, thông qua thầy họcNgô Xuân Quỳnh và có sự liên lạc của nghĩa quân Lĩnh Bòng ở Lâm Đông, TúPhơng đã bắt liên lạc với Lang Văn Bôn, (một thủ lĩnh quân sự ngời Thái đangxây dựng cơ sở tại làng Kỳ Thợng (hiện nay là xã Thanh Kỳ- Nh Thanh ) nằmcạnh làng ổn Lâm- Nông Cống (nay là xã Công Bình)
Đáp ứng sự phát triển của Nghĩa quân, Tú Phơng đã khảo sát vùng ổnLâm - Kỳ Thợng và đem một số nghĩa quân về đây, mở lò rèn, vận động quân l-
ơng, xây dựng căn cứ khởi nghĩa to lớn sau này
Nh thế, chỉ không đầy nửa năm từ cuối năm 1885 đến đầu 1886, từ khi cóchiếu Cần Vơng, phong trào dấy nghĩa ở Nông Cống đã diễn ra sôi động ở nhiềuvùng rộng lớn và ngay từ đầu đã xây dựng nên những căn cứ nghĩa quân quantrọng, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần yêu nớc và ý chí quyết tâm chống giặc củacác tầng lớp nhân dân trong huyện
Đặc điểm giai đoạn này là các đội nghĩa quân thành lập tại cơ sở (làngxã), mang tính chất tự phát ban đầu và theo những nguồn liên lạc khác nhau,dần dần trong hoạt động thực tiễn, vì chung một mục tiêu đánh Pháp mà các hoạt
động ấy đã đợc liên kết xây dựng lên các trung tâm ở các vùng nh: Căn cứHoàng Sơn phía đông bắc, căn cứ núi Lùng phía nam, căn cứ Ngàn Na phía tâybắc ở mỗi căn cứ lại có liên kết với nhau trong tỉnh nh các căn cứ phía namhuyện liên kết chủ yếu với Tú Phơng (Tĩnh Gia) và một phần Quảng Xơng, NhThanh; còn căn cứ phía bắc do Lê Ngọc Toản chủ trì liên kết một bộ phận vớiCầm Bá Thớc (Thờng Xuân)
Mặt khác, trong thời gian này phong trào nghĩa quân Nông Cống, TĩnhGia đã diễn ra sớm và khá mạnh ngoài yếu tố đóng góp của nhân dân, còn cóyếu tố quan trọng là do phong trào nơi đây đã đợc chuẩn bị t tởng từ lúc TônThất Hàm còn làm tri huyện, có tinh thần chủ chiến và nhất là do Tú Phơng, khi
có chiếu Cần Vơng đã nhanh chóng bắt liên lạc với triều đình kháng chiến và
đ-ợc vua Hàm Nghi phong làm" Quân vụ Tĩnh Gia"
Việc Tú Phơng chọn quê hơng Hơng Trì xây dựng căn cứ để dấy nghĩa làviệc làm đúng đắn, nhạy bén thời cuộc Từ Hơng Trì mà đã qui tụ đợc các nghĩaquân ở các tổng khác, liên kết các phong trào phủ Tĩnh Gia ( Ngọc Sơn, NôngCống, Quảng Xơng) hình thành nên trung tâm nam Thanh Hóa thông qua xâydựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng
38
Trang 38Đầu năm 1886, khi Trần Xuân Soạn ra Thanh Hóa, trực tiếp chỉ đạo côngcuộc Cần Vơng ở tỉnh nhà, thì phong trào đấu tranh ở Nông Cống đã nhanhchóng qui tụ thành lực lợng thống nhất và căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng đợc ra đời
- Bộ chỉ huy chiến đấu ở nam Thanh Hóa cũng đợc thiết lập
2.3 Hoạt động xây dựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thơng
2.3 1 Tú Phơng chọn ổn Lâm - Kỳ Thợng làm căn cứ chống Pháp
Với chủ trơng xây dựng một căn cứ trung tâm kháng chiến của cả nớc, đầunăm 1886, sau khi phò tá vua Hàm Nghi đến Sơn phòng Hà Tĩnh, Tả quân đôthống Trần Xuân Soạn, một võ quan cấp cao của triều đình Hàm Nghi, đã đợcquan phụ chính Tôn Thất Thuyết cử về Thanh Hóa trực tiếp lãnh đạo phong tràokháng chiến của nhân dân địa phơng [82; 49 ]
"Vào cuối năm 1885 Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn ra đến Thanh Hóa,
đã gặp gỡ bàn bạc công việc kháng chiến với các thủ lĩnh nh: Tôn Thất Hàm,Nguyễn Quí Yêm, Nguyễn Phơng, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Thớc, Hà Văn Mao,Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt Từ khi Tôn Thất Thuyết đến ThanhHóa phong trào, ứng nghĩa Cần Vơng ở các địa phơng đợc qui tụ lại, có sự chỉ
đạo chung trong toàn tỉnh" [27; 736]
Lúc này ở miền Nam Thanh Hóa, thuộc các huyện Nông Cống, Tĩnh GiaQuảng Xơng, Trần Xuân Soạn và Tôn Thất Hàm đã liên hệ đợc với Lê NgọcToản (Nông Cống), Tú Phơng ( Tĩnh Gia), Đỗ Đức Mậu (Quảng Xơng) Trên cơ
sở phong trào hởng ứng chiếu Cần Vơng đang phát triển ở các huyện này, TrầnXuân Soạn đã phong chức cho Đỗ Đức Mậu làm tán trơng quân vụ Quảng Xơng,
Lê Ngọc Toản, làm tán trơng quân vụ Nông Cống, còn Tú Phơng "Tham biệnphủ Tĩnh Gia" phụ trách trực tiếp huyện Ngọc Sơn (tức Tĩnh Gia sau này) Bêncạnh đó, có một số thủ lĩnh nh Lu Văn Khoan (Nông Cống), Ngô Xuân Khuê( Tĩnh gia) làm ban biện quân vụ, Lý Văn Sơn (Nông Cống), Nguyễn Văn Thiện( Tĩnh Gia) làm đô đốc nghĩa binh, đốc binh khác Đồng thời bộ chỉ huy thốngnhất chỉ đạo các lực lợng nghĩa quân ở vùng tây nam tỉnh cũng đợc thành lậpgồm cử nhân Tôn Thất Hàm, cử nhân Lê Ngọc Toản, tú tài Nguyễn Phơng đặtdới quyền điều khiển của Trần Xuân Soạn
Trong thực tế, phong trào của nghĩa quân đã đợc liên kết trong vùng, việcphụ trách các cơ sở cũng đợc phân công nh: Tú Phơng chịu trách nhiệm phongtrào Ngọc Sơn (tức Tĩnh Gia ngày nay) và phía nam huyện Nông Cống cũ, LêNgọc Toản phụ trách phía bắc huyện, còn Tôn Thất Hàm phụ trách một đội quân
39
Trang 39phần lớn là nghĩa quân Nông Cống đóng ở Đồng Mời [xem phụ lục], vùng giápgiới Nh Thanh và Nông Cống nhằm xây dựng cơ sở bộ chỉ huy Qua đó, nhiềulực lợng nghĩa quân ở nam Thanh Hóa gồm Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xơng
và một phần Thờng Xuân (tức Nh Thanh ngày nay) đã liên hệ với Đồng Mời đểhoạt động Lê Ngọc Toản mở rộng căn cứ Ngàn Na đã có liên lạc với Cầm BáThớc ( Thờng Xuân) "Về sau khoảng 3 - 1886, Tôn Thất Thuyết trên đờng sangTrung Quốc cầu viện đã dừng lại kiểm tra phong trào Thanh Hóa Ông gặp đợcTrần Xuân Soạn, Tôn Thất Hàm, Lê Ngọc Toản tại Cổ Định" [ 82; 51] Từ đóTôn Thất Thuyết cùng Lê Ngọc Toản lên Bồng Trung ( Vĩnh Lộc) gặp Tống DuyTân nhằm chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới của nhân dân Thanh Hóa (12 - 3 -1886) của nhiều lực lợng nghĩa quân trong tỉnh, trong đó nghĩa quân Tú Phơng
đóng vai trò quan trọng Riêng Tú Phơng đi sâu vào việc dựng căn cứ ổn Lâm
-Kỳ Thợng nhằm biến vùng tây nam tỉnh thành căn cứ khởi nghĩa rộng lớn Đó là
lý do thứ nhất để ra đời căn cứ này
Với cơng vị " Tham biện phủ Tĩnh gia", Tú Phơng trực tiếp lãnh đạophong trào Cần Vơng của 3 huyện Tình hình phát triển mạnh mẽ và đều khắp,khí thế phong trào chống Pháp ngùn ngụt của nhân dân 3 huyện đã thôi thúc bộchỉ huy phải xây dựng căn cứ để chỉ đạo chiến đấu Căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng
ra đời trớc sự lớn mạnh của phong trào Cần Vơng của tỉnh Thanh
Chọn ổn Lâm - Kỳ Thợng xây dựng căn cứ kháng chiến chống Pháp cònvì: ổn Lâm (còn gọi là ẩn Lâm) thuộc tổng Lạc Thiện huyện Nông Cống, cách
đây 100 năm là rừng núi hiểm trở, chỉ có những con đờng độc đạo xuyên đến cáclàng, mảnh đất này con ngời có mặt khoảng 700 năm (hiện nay thuộc xã CôngBình) Đây là những dãy đồi rừng bán sơn địa cuối huyện Nông Cống, giáp vớicác huyện Tĩnh gia, Nh Thanh, có đờng đi tắt thông qua phía nam huyện Quảngxơng Cạnh ổn Lâm là làng Kỳ Thợng
Làng Kỳ Thợng thuộc châu Thờng Xuân lúc bấy giờ ( Hiện nay là xãThanh Kỳ - Nh Thanh), làng Kỳ Thợng là nơi sinh sống của 20 hộ dân tộc Tháithời đó, trong một thung lũng rậm rạp dới chân ngọn đồi Kỳ Thợng ở phía namlàng, có đồi cao nhất giáp với Nghệ An, khi đến sinh sống ở vùng này, họ đã cắm
cờ trên đồi này từ đó làng lấy tên là Kỳ Thợng
Dân tộc Thái sống ở Kỳ Thợng thuộc dòng họ Lang vốn ở châu LangChánh Vào đời Minh Mạng không chịu nổi ách đô hộ của thổ ty lang đạo, ông
cụ cháu 4 đời cụ Lang Văn Đắng (hiện nay hơn 60 tuổi phó chủ tịch Mặt trận tổquốc xã Thanh Kỳ, ủy viên hội đồng nhân dân xã Thanh Kỳ) kể lại các cụ đã
40
Trang 40xuôi bè về đây sinh sống Do sống ở một vùng rậm rạp, hoang vắng dân Kỳ ợng thuở ấy rất giỏi săn bắn cung tên, bẫy đá, ném lao nứa
Th-Trong cuộc đấu tranh của nhân dân ở những năm 70 của thế kỷ XIX, nhândân Kỳ Thợng đã đoàn kết đứng lên chống lại bọn thống trị ở châu Thờng Xuân
và các vùng lân cận
Đặc biệt là khi có chiếu Cần Vơng, lực lợng chống địa chủ phong kiến thổ
ty lang đạo trớc kia, đã nhanh chóng đoàn kết lại chống Pháp vì chính quyềnphản động Thủ lĩnh của địa phơng này là Lang Văn Bôn (tức Quản Bôn) Theo
cụ cháu 4 đời của Lang Văn Bôn ở Kỳ Thợng ngày nay kể lại thì trong gia phả
họ Lang có ghi Lang Văn Bôn lúc ấy đã xuống tận Tĩnh Gia gặp quan án YênLai Ngô Xuân Quỳnh để hỏi về việc thành lập lực lợng đánh Tây
Nghĩa quân Quản Bôn chủ yếu là đồng bào hai dân tộc Thái Mờng, và bắncung nỏ là sở trờng của họ Nghĩa quân có địa bàn rộng lớn, có những căn cứluyện tập nh Bái Đồn, Bái Tập Nơi đóng quân chủ yếu là dựa vào chân núi Lâm
Động, hoạt động của nghĩa quân cha có gì nổi bật, nó chỉ dấy lên khi nghĩa quân
Tú Phơng từ tổng Văn Trờng về đây hội tụ
Sau khi tế cờ ở quê nhà (tháng giêng năm Bính Tuất), Tú Phơng đã tiếnquân về ổn Lâm, qua một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, Lang Văn Bôn chấpnhận trở thành một lực lợng hợp nhất của Nguyễn Phơng Những căn cứ luyệntập, hậu cần trên cơ sở ấy cũng đợc thống nhất, về sau vùng Kỳ Thợng trở thành
đại bản doanh của nghĩa quân
Khi thống nhất với nghĩa quân của Lang Văn Bôn, từ đây căn cứ ổn Lâm
-Kỳ Thợng đợc xây dựng và phát triển Xây dựng căn cứ ổn Lâm - -Kỳ Thợngnghĩa quân chiếm giữ đợc địa bàn chiến lợc quan trọng, bởi từ đây có đờngthông vào Nghệ An và một vùng rộng lớn của Thờng Xuân lúc bấy giờ, và thông
đến tận Lào nối liền với miền tây Thanh Hóa
Vùng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng trải theo vành đai đông bắc - tây nam,
từ Ngã Ba Chuồng đến tận rừng núi, bao gồm đất ổn Lâm - Kỳ Thợng đến giápgiới xã Yên Thái - Nh Thanh ngày nay với chiều dài 20 km, chiều rộng có nơi 7
- 8 km
Xây dựng căn cứ ổn Lâm - Kỳ Thợng, nghĩa quân có thể kiểm soát đợcmột vùng rộng lớn, đờng giao thông chiến lợc là " Cổ họng", " điểm nút" để vàoNghệ An, cửa ngõ tây nam tỉnh Thanh ( Đây cũng là một trong những trọng
điểm đánh phá mà đế quốc Mỹ quyết ngăn chặn sự chi viện của hậu phơng miềnBắc đối với miền Nam về sau ) Tại ổn Lâm - Kỳ Thợng nghĩa quân có bàn đạp
41