Có thể khẳng định sau những cuốn tiểu thuyết để lại nhiều dấu ấn như Mùa lá rụng trong vườn hay Đám cưới không giấy giá thú thì truyện ngắn Ma Văn Kháng thực sự là một thương hiệu gây đư
Trang 1LÊ THỊ MINH TÂM
TỪ NGỮ VÀ BIỆN PHÁP SO SÁNH TU TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ là đơn vị cơ bản cấu tạo nên các đơn vị dùng giao tiếp trong các
loại phong cách chức năng khác nhau Khi đi vào tìm hiểu một tác phẩm nghệthuật ngôn từ, đơn vị đầu tiên để ta tri nhận nó là từ ngữ Trong lao động nghệthuật mỗi nhà văn có cách tích luỹ ngôn từ và tiến hành sáng tác không giốngnhau Việc sử dụng từ ngữ trong sáng tác của nhà văn vừa là yếu tố quantrọng hàng đầu tạo nên thành công cho tác phẩm vừa là yếu tố bộc lộ phongcách sáng tác riêng của nhà văn Vì vậy hướng nghiên cứu tác phẩm văn học
từ phương diện từ ngữ là một hướng đi quan trọng, cần thiết
1.2 Ma Văn Kháng là một nhà văn có sức sáng tạo dẻo dai và bền bỉ,
gần 50 năm trụ vững với nghề cầm bút ông đã cho ra đời một khối lượng tácphẩm đồ sộ gồm hàng chục cuốn tiểu thuyết, trên 200 truyện ngắn, và mới
đây là một cuốn hồi kí gây được nhiều tiếng vang - Năm tháng nhọc nhằn,
năm tháng nhớ thương Trong đó, truyện ngắn của ông là bức tranh toàn cảnh
về cuộc đời với nhiều tầng mảng khác nhau của hiện thực Có thể khẳng định
sau những cuốn tiểu thuyết để lại nhiều dấu ấn như Mùa lá rụng trong vườn hay Đám cưới không giấy giá thú thì truyện ngắn Ma Văn Kháng thực sự là
một thương hiệu gây được nhiều chú ý, nó thể hiện sự đều tay hơn cả trongsáng tác của nhà văn Cho nên nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn của ông làgóp phần nghiên cứu phong cách tác giả Ma Văn Kháng
1.3 Nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng là một đề tài thú vị, thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu quantâm tới vấn đề này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu rời rạcchưa thành hệ thống và hầu hết là từ phương diện văn học, còn địa hạt ngônngữ chưa thực sự được chú ý Gần đây đã có một số đề tài tìm hiểu về ngôn
Trang 3ngữ truyện ngắn Ma Văn Kháng nhưng là ở bình diện dụng học Tìm hiểutruyện ngắn Ma Văn Kháng dưới góc độ ngôn ngữ nói chung và trên phươngdiện từ ngữ nói riêng là một việc làm cần thiết Với những lý do trên chúng
tôi chọn đề tài: Từ ngữ và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng với hi vọng góp thêm một cái nhìn khái quát và toàn diện hơn
đối với những đóng góp đặc sắc của ông về ngôn ngữ truyện ngắn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng bắt đầu từ trước 1975, với
các truyện ngắn trong các tập Xa phủ, Người con trai họ Hạng, Bài ca trăng
sáng, Mùa mận hậu,…Đây là những tác phẩm viết về những năm tháng “ba
cùng” với đồng bào dân tộc miền núi Nhưng như chính tác giả tâm sự: “Hơn
hai mươi năm, khoảng thời gian viết Xa phủ chỉ là thải loại, không cần kể,
non nớt, ấu trĩ, ngây ngô, nhầm lẫn, kém cỏi, có thể nói tất cả đều là nhữngnguyên nhân của những thứ phẩm đó” Năm 1976, Ma Văn Kháng từ Lào Caichuyển về Hà Nội và phải đến năm 1982 tiểu thuyết miền xuôi đầu tiên là
Mưa mùa hạ ra đời thì tên tuổi Ma Văn Kháng mới bắt đầu được khẳng định.
Tác phẩm đã gây ra ít nhiều tranh cãi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu, phê bình Từ đây xuất hiện nhiều bài viết và công trình nghiêncứu về Ma Văn Kháng dưới nhiều góc độ
2.2 Nghiên cứu Ma Văn Kháng từ góc độ lý luận phê bình văn học
Ngày 29/1/1993, Viện văn học và Nhà xuất bản Lao động tổ chức một
cuộc thảo luận về Mưa mùa hạ với sự tham gia trao đổi, nhận xét của nhiều
nhà văn, nhà phê bình Một số bài viết tiêu biểu như:
- Thiếu Mai Chỗ mạnh và chỗ yếu trong Mưa mùa hạ (Văn nghệ
Trang 4Năm 1985 Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện Tiểu thuyết này được
độc giả bàn luận sôi nổi Những nhân vật như chị Lý, chị Phượng, ông Đôngđược bạn đọc công nhận là có trong đời sống tác phẩm và trong cuộc đời Một
nữ độc giả ở Hà Nội viết: “Tuy đang mệt mà tôi đã thức đến hai giờ sáng đểđọc cho đến cuối truyện Sau đó tôi lại đọc lại từng đoạn để được cảm thụ vàhiểu sâu hơn Càng đọc càng hay, Những nhân vật phụ nữ vô cùng hấp dẫn
Mà sao anh hiểu tâm lý phụ nữ đến thế…” Mùa lá rụng trong vườn một thời
là đề tài để các nhà phê bình thường xuyên khai thác Có những bài viết tiêubiểu về tác phẩm này như:
- Trần Cương: Mùa lá rụng trong vườn - Một đóng góp mới của Ma
Văn Kháng (Nhân dân, 1985).
- Hoàng Sơn: Trò chuyện với tác giả Mùa lá rụng trong vườn (Tiền
phong, số 46)
- Trần Bảo Hưng: Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của cuộc
sống gia đình hôm nay (Phụ nữ Việt Nam, 1986).
- Nguyễn Văn Lưu: Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn (Văn Nghệ,
dành cho Ma Văn Kháng với tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn.
Đến năm 1986 tác giả cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết Đám cưới không
giấy giá thú và Côi cút giữa cảnh đời Đám cưới không giấy giá thú ra đời tạo
ra một cuộc tranh luận khá dài trên báo chí và trên bàn hội thảo
Trang 5Ngày 11/1/1990 tuần báo văn nghệ tổ chức một cuộc hội thảo về cuốnsách này với sự tham gia của các nhà phê bình: Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,Huy Phương, Nguyễn Kiên… Các báo, tạp chí: Lao động, Văn nghệ, Ngườigiáo viên nhân dân, Tiền phong, Hà Nội mới, Văn nghệ quân đội… đều đăngbài giới thiệu về cuốn sách
Năm 1996, tuyển chọn các truyện ngắn trong khoảng thời gian từ 1980
-1992, Ma Văn Kháng cho in Truyện ngắn Ma Văn Kháng gồm 26 tác phẩm tiêu
biểu Truyện ngắn là thể loại đánh dấu sự đóng góp quan trọng của Ma VănKháng cho nền văn học Việt Nam sau 1975 Tác giả tâm sự: “Tôi rất mê truyệnngắn, tôi hết lòng với nó, tôi cặm cụi với nó, tôi yêu âm điệu trữ tình và độ sâuthẳm của nó Có lẽ tôi đã có được chút duyên riêng ở thể loại tự sự cỡ nhỏ này”.Những phần thưởng quý giá ông đã gặt hái được ở thể loại truyện ngắn như:Tặng thưởng hội đồng văn xuôi hội nhà văn Việt Nam 1995 cho tập truyện ngắn
Trăng soi sân nhỏ; giải thưởng cây bút vàng trong cuộc thi truyện ngắn 1998.
Tuyển tập Truyện ngắn Ma Văn Kháng ra đời đã xuất hiện một số bài phê
bình, nghiên cứu về tập truyện này Tiêu biểu là bài viết của PGS TS Lã
Nguyên: Khi nhà văn đào bởi bản thể ở chiều sâu tâm hồn, năm 1999, in ở trang
đầu tiên của tuyển tập truyện này Tác giả đã đề cập đến một số vấn đề khái quát
về đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng như nội dung đề tài, kết cấu, một sốđóng góp về thể loại như: đưa truyện ngắn xích lại gần tiểu thuyết, tính côngkhai bộc lộ chủ đề cố ý tô đậm chân dung tính cách nhân vật… Bài viết có tácdụng rất lớn, góp phần định hướng gợi mở nhiều vấn đề cho độc giả suy ngẫm,tìm hiểu Tuy nhiên đây chỉ là bài viết có tính chất giới thiệu chung
2.3 Nghiên cứu Ma Văn Kháng từ góc độ ngôn ngữ học
Những bài nghiên cứu trên hầu hết mới chỉ xem xét truyện ngắn MaVăn Kháng dưới góc độ lý luận phê bình văn học chứ chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu tác phẩm của ông ở bình diện ngôn ngữ học Gần đây cũng
Trang 6đã có một số công trình nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng dưới góc
độ ngôn ngữ như:
- Ngô Trí Cương: Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong
truyện ngắn Ma Văn Kháng (Luận văn thạc sĩ, ĐhV, 2004).
- Nguyễn Thị Quý Lân: Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện
ngắn Ma Văn Kháng (Luận văn thạc sĩ, ĐhV, 2005).
- Hoàng Thị Hồng Vân: Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác
phẩm của Ma Văn Kháng (Luận văn thạc sĩ, ĐhV, 2008).
Những công trình này đều xem xét truyện ngắn Ma Văn Kháng trên bìnhdiện dụng học, đây là một hướng đi mới mẻ Tuy nhiên việc nghiên cứu ngônngữ truyện ngắn Ma Văn Kháng trong phạm vi dụng học chưa bao quát hếtđược các đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng Vì vậy, vớiluận văn này chúng tôi mong muốn góp một cái nhìn về ngôn ngữ truyện ngắn
Ma Văn Kháng từ phương diện đầu tiên của nó là từ ngữ
Như vậy, đề tài Từ ngừ và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng là công trình độc lập đầu tiên nghiên cứu về truyện ngắn Ma
Văn Kháng từ góc độ từ ngữ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ma Văn Kháng có một số lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 200 truyệnngắn, nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi không có điều kiện khảo sáttoàn bộ truyện ngắn của ông mà chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu một số đặcđiểm từ ngữ nổi bật qua 35 truyện ngắn tiêu biểu trong gần hết chặng đường
sáng tác của ông từ sau 1975 cho đến nay được in trong tập: Truyện ngắn
chọn lọc Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Hội nhà Văn tuyển chọn và giới
thiệu năm 2008 Đó là những truyện:
1 Vệ sĩ của quan châu
2 Móng vuốt thời gian
Trang 73 Giàng Tả, kẻ lang thang
4 Người thợ bạc ở phố cũ
5 Trung du chiều mưa buồn
6 Trái chín mùa thu
7 Ngẫu sự
8 Heo may gió lộng
9 Bồ nông ở biển
10 Trăng soi sân nhỏ
11 Thanh minh trời trong sáng
Trang 830 Cuộc đấu của gà chọi
31 Chim di trú vừa bay vừa ngủ
32 Bệnh nhân tâm thần
33 Lũ tiểu mãn ngập bờ
34 Lênh đênh sông nước miền Tây
35 Bức tranh người đàn bà chơi vĩ cầm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có hai nhiệm vụ chính:
- Chỉ ra các lớp từ ngữ có giá trị biểu đạt cao và một số biện pháp tu từnổi bật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thể hiện sự lựa chọn của tác giả
- Phân tích, miêu tả đặc điểm các lớp từ ngữ và biện pháp tu từ nổi bậtqua cách dùng của tác giả và hiệu quả của cách dùng đó
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng đồng thời nhiều phương pháp và thủpháp trong đó có một số phương pháp chính sau:
5.1 Thủ pháp thống kê
Các ngữ liệu cần thiết theo yêu cầu cụ thể của từng chương, từng mụctrong luận văn sẽ được tập hợp bằng sự khảo sát kĩ lưỡng và thống kê đầy đủ
Đó là cơ sở để làm rõ các vấn đề trọng tâm
5.2 Phương pháp phân tích miêu tả
Trên cơ sở kết quả thống kê, chúng tôi lựa chọn phương pháp phântích miêu tả dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm đã nêu, từ đó rút ra kết luậnnhất định
5.3 phương pháp so sánh
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để tiến hành so sánh về ngữ liệu
và kết quả phân tích, tổng hợp giữa đối tượng nghiên cứu với một số tác giả
Trang 9khác có liên quan nhằm khẳng định nét riêng của phong cách ngôn ngữ tácgiả trong việc sử dụng từ ngữ.
6 Cái mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên tìm hiểu tương đối đầy đủ đặc điểm từ ngữ vàbiện pháp tu từ nổi bật trong truyện ngắn Ma Văn kháng, chỉ ra sự lựa chọn,dụng ý nghệ thuật của nhà văn và hiệu quả của việc sử dụng đó đối với tácphẩm Do đó một số nét dấu ấn về phong cách ngôn ngữ tác giả trong truyệnngắn cũng được thể hiện rõ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm ba chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Các lớp từ nổi bật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Chương 3: Các trường từ vựng ngữ nghĩa nổi bật và biện pháp so sánh tu từtrong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Trang 10
Chương 1
MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm truyện ngắn và đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Bàn về truyện ngắn, giáo sư văn học người Pháp D Grônôpki viết:
“Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn cùng Nó là mộtvật biến hoá như quả chanh của lọ lem Biến hoá về khuôn khổ: ba dòng hoặc bamươi trang Biến hoá về kiểu loại tính chất: trào phúng, kì ảo, hướng về biến cốthật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hoá về nội dung: thay đổi
vô cùng vô tận Muốn có chất liệu để kể, cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó chỉ
là một sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thế giớitruyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễnbiến cũng gây hiệu quả vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt” [39; 11]
Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về khái niệm truyện ngắn nhưsau:
“Trước hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn thế nào là truyện dài Loạitruyện viết theo nghệ thuật Tây Âu là loại mới có trong văn học Việt Nam, từngày ta chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Ngày xưa ta chỉ có truyện kí bằng
miệng hoặc văn vần Những truyện Muỗi nhà, muỗi đồng; Hai ông phật cãi
nhau trong Thánh Tông di cảo là viết theo nghệ thuật Á đông Hoàng Lê nhất thống chí là lịch sử kí sự chứ không phải lịch sử tiểu thuyết Cho nên loại
truyện viết theo nghệ thuật Tây Âu ta theo Trung Quốc mà gọi là tiểu thuyết,
và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên, cái nào viết trong hàng ngàntrang gọi là trường thiên tiểu thuyết Năm 1932 báo Phong Hoá dịch đoảnthiên truyện ngắn ra tiếng ta là truyện ngắn rồi từ đó trường thiên tiểu thuyếtgọi là truyện dài và trung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa” [23; 165]
Trang 11Trong Từ điển văn học, truyện ngắn được định nghĩa là: “Hình thức tự
sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tậptrung mô tả một mảng cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ratrong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật biểu hiện một mặt nào đócủa tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốttruyện ngắn thường xảy ra trong một không gian thời gian hạn chế Kết cấucủa truyện cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đượcviết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi liền một mạch, đọc một hơikhông nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổibật tư tưởng, chủ đề, khắc hoạ tính cách nhân vật, viết truyện ngắn phải cótrình độ điêu luyện, biết mạnh dạn tỉa gọt và dồn nén Do đó trong khuôn khổngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề
xã hội có tầm khái quát rộng lớn” [24; 197]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được coi là: “Tác phẩm
tự sự cỡ nhỏ Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện củađời sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyệnngắn được viết ra để tiếp thu một mạch đọc một hơi không nghỉ” [13; 314]
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệttruyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại, có nhiều tácphẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắnthời trung đại ngắn nhưng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện
kể dân gian rất ngắn gọn nhưng không phải là các truyện ngắn như cổ tích,truyện cười, giai thoại…
Truyện ngắn hiện đại là môt kiểu tư duy mới về cách nhìn vấn đề, cáchnắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại cho nên truyện ngắn đích thựcxuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
Trang 12Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầyđặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiệntượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâmhồn con người Vì thế, truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
Nếu mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật trongtruyện ngắn là một mảng nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn không nhằm tớiviệc khắc hoạ những tính cách điển hình, đầy đặn, nhiều mặt trong tươngquan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho mộtquan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái phụ thuộc của con người
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian thờigian hạn chế Chức năng chung của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc vềtình đời, tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầngnhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liêntưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá
Yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn thường là các chi tiết cô đúc,
có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm nhiềuchiều sâu chưa nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng là những yếu tốtạo thành cái hay của thể loại này Truyện ngắn rất gần gũi với đời thường
Trong 150 thuật ngữ văn học, mục truyện ngắn, tác giả Lại Nguyên Ân
viết: “Truyện ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường đượcviết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và
xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩmtruyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận - độc giả - đọc nó liền một mạchkhông nghỉ” [1; 345]
Những nét riêng của truyện ngắn vốn đã có ở những tác phẩm thời kìtrung đại qua hình thức truyện kể dân gian (truyện cười, giai thoại, cổ tích…)
Trang 13nhưng chỉ thực sự trở thành một đặc điểm riêng biệt của thể tài ở thời kì hiệnđại Nó gắn liền với sự xuất hiện của báo chí.
Với tư cách là thể tài tự sự, truyện ngắn cũng như truyện vừa, truyệnhiện đại đều ít nhiều mang đặc tính của tư duy tiểu thuyết (Sự tiếp nhận cáithực tại đương thành vai trò của hư cấu tự do) Tuy vậy, khác với truyện vừa,truyện dài - vốn là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sốngtrong sự toàn vẹn đầy đặn của nó, truyện ngắn thường nhằm khắc hoạ mộthiện tượng, một đặc tính trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn conngười Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện chồng chéo Nhân vậttruyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn
mà thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặctrạng thái phụ thuộc của con người
Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, khônggian; nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con người.Kết cấu truyện ngắn thường không nhiều tầng, nhiều tuyến mà được dựngtheo kiểu tương phản hoặc liên tưởng Chi tiết và lời văn là những yếu tố quantrọng cho nghệ thuật viết truyện ngắn Lối kể và cách kể là những điều màngười viết truyện ngắn đặc biệt chú ý khai thác và xử lý nhằm đạt hiệu quảmong muốn
Qua phân tích, có thể rút ra đặc điểm chính của thể loại truyện ngắnnhư sau:
- Truyện ngắn là thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ có nghĩa là từ vài trang đếnvài chục trang Một câu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phépdài dòng Chính cái khuôn khổ ngắn làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi vớicác hình thức truyện kể đơn giản Truyện phải tạo được ấn tượng mạnh mẽ vàtạo ra được sự liên tưởng ở người đọc
Trang 14- Truyện ngắn có tính quy định về dung lượng nội dung, thường tậptrung vào một biến cố, một sự kiện, một đoạn đời, một mảnh tình nào đó củađời sống Tất cả được tập trung trong một không gian, thời gian nhất định.
- Truyện ngắn không nhằm khắc hoạ những tính cách điển hình có cátính đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh
- Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ
xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Nhân vật trongtruyện ngắn thường rất đa dạng Đó là sự đa dạng về nghề nghiệp, xuất thân,gia cảnh, quan hệ bạn bè…
- Bút pháp truyện ngắn thường là chấm phá Cái quan trọng bậc nhấttrong truyện ngắn là chi tiết mang ẩn ý lớn lao tạo thêm một chiều sâu chưanói hết Đó là những đặc điểm cơ bản làm cho truyện ngắn có tiếng nói riêng,
có sức thu hút người đọc, người nghe và mang đến một ý nghĩa lớn lao chothể tài này
1.1.2 Ngôn ngữ trong truyện ngắn
Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ mô tả và đối thoại (nội tại) Ngônngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói, những phongcách xen lẫn nhau, hoà hợp tranh luận, cãi vã, và đối chọi ti tiện như “một đứacon lai”, nó khoẻ đẹp và đầy sức sống Đặc biệt trong ngôn ngữ truyện ngắn hiệnđại đã tỏ rõ “chất tiềm thức lấn át chất ý thức” (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu)
Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp.Ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác là ngôn ngữ lưỡng lựnước đôi, khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của những khả năng
Mỗi truyện ngắn hay thường không tự nó đem đến cho người ta một kếtcục khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ra trước ngôn ngữ sự lựachọn hay nói như M Bakhtin là trước sự “liên minh của lưỡng lự”
Trang 15Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ truyện ngắn đã phát biểu:Truyện ngắn nào của Tsekhov cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vìchúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn “giác ngộ” về sự viết phân vân,đắn đo hoặc nói như các nhà hiền triết phương Đông - biết tìm cái có trong cáikhông, cái không trong cái có.
Khi Bảo Ninh viết Nỗi buồn được sống sót thì tôi cho là anh đem đến
cho ta một bài học, không phải bài học đạo đức đơn giản về sự biết ơn nhữngngười đã hi sinh trong chiến tranh mà là bài học sâu hơn nhiều: trong từngngày hôm nay phải luôn trăn trở mà tìm cho mình cách sống xứng đáng Đócũng là một sự liên minh
Hàn Vũ trong truyện Khách thương hồ viết: “…chân gỗ sợ gì mưa
ướt…” thì đã là câu nói của người đàn bà liều lĩnh, lao vào một hạnh phúc sayđắm song còn đầy bất trắc; cũng có thể là câu nói của người đàn ông mà tachưa hề biết quá khứ, còn chị đàn bà kia thì ngập ngừng mãi để cuối cùng thôithì liều cũng không tìm biết quá khứ làm gì! Mà cũng có thể là do lời xúi giụccủa cuộc đời, của sự sống, sự sống mà không biết liều lĩnh đôi chút trong mộthoàn cảnh nào đó thì sao gọi là sự sống “…chân gỗ sợ gì mưa ướt…” Mấy từthôi mà sự tranh cãi… và có lẽ… tranh cãi cuối cùng cũng không có kết thúc…
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn khiến cho truyện ngắn là mộttrong những hình thức nghệ thuật có khả năng mở rất lớn
Nhà văn Nga M Goorki nói: muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắnbởi khi viết truyện ngắn, tác giả sẽ biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết côđọng Nhà văn Ma Văn Kháng từng bộc bạch: câu chữ tiêu dùng cho truyệnngắn là cả một nỗ lực to lớn và … như nó là yếu tố quyết định cho sự thànhbại của một truyện ngắn Truyện ngắn hay ở văn Ai đó đã nói mà tôi nhận ra
là đúng như vậy Vì có những truyện ngắn, nội dung câu chuyện hình nhưkhông có gì là quá ư đặc sắc mà sao đọc xong cứ mê li là thế Câu chữ đã hút
Trang 16hồn ta đấy Nguyễn Đình Thi nói: câu chữ trong văn xuôi cần có men tôi thấykhông có cách nào nói hay hơn Câu chữ trong truyện ngắn nói riêng là men,
nó toả hương, nó rủ rê, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câu chuyện
1.1.3 Từ ngữ trong truyện ngắn
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, đây là điều hiển nhiên không cần bàncãi Tuy nhiên, “tiền đề” ấy vẫn còn rất rộng, chưa có giá trị thao tác Muốnhiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ bản chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩmvăn học cũng như phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn nóvới thể loại, bởi mỗi thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ củathể loại ấy Có thể áp dụng quan niệm này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữtrong tác phẩm văn học, trước hết ở cấp độ từ ngữ
Do quy định của thể loại, từ ngữ trong văn bản tự sự có những đặctrưng riêng, và những đặc trưng này dễ thấy nhất khi ta đối sánh từ ngữ trongtruyện với từ ngữ trong thơ
Từ ngữ trong thơ - xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần tuý - không phải
là những thứ sản phẩm gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ của cuộc sống, đượclấy ra từ cái vốn từ ngữ toàn dân Những từ ngữ ấy chưa xác định, và đó là
“tấm giấy thông hành” để chúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khácnhau Nhà thơ không sản sinh ra từ mới trước đó không hề có mà chỉ sử dụngnhững từ ngữ quen thuộc trong vốn từ toàn dân bằng năng lực sáng tạo củamình Có những trường hợp nhà thơ không hề dùng một từ nào lạ mà câu thơ,bài thơ vẫn bị xem là “hũ nút” khó hiểu Cái khó hiểu không phải nằm ởnghĩa tự vị độc lập của mỗi từ mà ở cấu trúc ngôn từ của văn bản - một kiểucấu trúc tạo nên nhiều mã, tạo cho người đọc nhiều chiều liên tưởng mới.Xuất phát từ điều này mà nhiều người nhất trí rằng: nghĩa của từ trong thơ làmột thứ nghĩa được tạo sinh bởi quan hệ chứ không còn là nghĩa tròn trặn nhưtrong từ điển
Trang 17Khác với thơ, văn xuôi tự sự có tham vọng tái hiện bộ mặt đời sống tâm
lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó Ngôn ngữ tự sự chính
là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường Nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biếnthái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phô tạp đến cực độ Không phảivăn xuôi không cần chau chuốt, nhưng sự trau chuốt từ ngữ của một cây bútvăn xuôi rất khác với sự trau chuốt từ ngữ của một nhà thơ Đối với ngườiviết văn xuôi tự sự, áp lực rõ nhất là làm sao từ ngữ phải lột tả đối tượng mộtcách chính xác nhất qua cái nhìn của anh ta
Đào Thản viết: trong văn xuôi ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một
độ chính xác lí tưởng về mặt miêu tả Điều này trước hết và chủ yếu được quyđịnh bởi tài nghệ của nhà văn, song cũng phải kể đến sức mạnh và tiềm năngcủa phương tiện biểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng phongcách ngôn ngữ Nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tốphương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng tiếng nói dân tộc đến mức caonhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đốixử” đối với các phương tiện thể hiện Ở đây không có biện pháp nào được đánhgiá là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể ưa dùng, quendùng hơn trong những thời kì hoặc xu hướng hoặc tác giả nhất định [19; 12]
Ý kiến này của Đào Thản đã chỉ rõ đặc điểm từ ngữ trong văn xuôi tự
sự hiện đại Do cách tổ chức khá phóng túng, ngôn ngữ tự sự sẵn sàng dungchứa mọi lớp từ ngữ, mọi cách nói: không phân biệt sang hèn, thanh tục, caothấp, miễn sao chúng thể hiện tốt nhất dụng ý của người viết
Do sự phong phú của nó, từ ngữ trong tác phẩm văn xuôi vẫy gọi nhiềucách tiếp cận Người nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật xem từ ngữ là mộttrong những yếu tố quan trọng tạo nên giọng điệu của tác giả
Nhà từ vựng học thống kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tươngquan với vốn từ của toàn dân ở một nhát cắt đồng đại để đưa ra nhận xét Nhà
Trang 18ngữ pháp học thì quan tâm đến vấn đề từ loại, cách tạo từ trong tác phẩm vàđối chiếu với đặc điểm từ loại, đặc điểm cấu tạo từ trong ngôn ngữ chung.Nhà ngữ dụng quan sát từ ngữ trong tác phẩm ở sự quan sát từ ngữ trong tácphẩm của nhà văn ở sự hành chức của nó, và cắt nghĩa sự hành chức ấy dướiánh sáng của lí thuyết, của tìm kiếm những ngữ liệu sống động nhằm củng cốthêm một số vấn đề lí thuyết…
Với người nghiên cứu phong cách tác giả, mọi cấp độ của ngôn ngữ tácphẩm dĩ nhiên đều phải nằm trong tầm bao quát, bởi phong cách của nhà vănkhông chỉ biểu hiện qua một yếu tố, một cấp độ riêng lẻ nào Khảo sát từ ngữ
để nhận ra những dấu ấn riêng của một cây bút là khâu không thể bỏ quatrong việc khái quát những đặc điểm phong cách của một nhà văn Vấn đề là
ở chỗ: cái riêng ấy thể hiện qua những bình diện nào của từ ngữ? Đây là câuhỏi không thể lẫn tránh Đáng tiếc là trong nhiều công trình lý thuyết phongcách học cũng như những công trình nghiên cứu phong cách tác giả cụ thể,câu hỏi này chưa được trả lời thoả đáng
Qua thống kê, người ta có thể đưa ra số liệu chính xác về vốn từ củamột cây bút Sự giàu nghèo trong vốn từ của các nhà văn là hoàn toàn khácnhau, tuỳ thuộc vào học vấn, trình độ văn hoá, sự am hiểu thực tế đời sống,khả năng tích luỹ ngôn ngữ của từng người Từ vựng là vốn chung của mộtngôn ngữ Cái gọi là vốn từ của một nhà văn thực chất là ở chỗ: Anh ta sửdụng được bao nhiêu từ được lấy ra từ cái vốn từ ngữ toàn dân Sử dụng chứkhông phải “độc chiếm”, bởi vì những từ ngữ mà anh ta dùng, thực chất cũng
đã qua tay vô số người và chúng sẽ còn tiếp tục xuất hiện trong vô số ngữcảnh khác nhau Cho nên, xét thuần tuý về số lượng, vốn từ của các nhà vănkhông giống nhau, dù vậy, đó vẫn chưa phải là dấu hiệu của phong cách Mộtnhà văn giàu có về từ ngữ, chưa chắc hiệu quả sử dụng đã có thể so sánh đượcvới một tác giả có vốn từ khiêm tốn hơn
Trang 19Thực tế đó đặt cho người nghiên cứu phong cách tác giả một hướngtiếp cận riêng, được cụ thể hoá bằng một số thao tác Thứ nhất phải xét sâutrong vốn từ ngữ của đối tượng được tìm hiểu để thấy những lớp từ ngữ nàođược ưa dùng, xuất hiện nhiều trong tác phẩm như những yếu tố nổi bật, đạthiệu quả nghệ thuật cao, có sự khác biệt rõ rệt về chất so với những cây bútcùng thời Thứ hai phải nắm được những trường diễn ngôn và tương ứng vớichúng là những trường từ vựng chiếm ưu thế trong tác phẩm của nhà văn ấy.Thứ ba phải thấy được trong vốn từ ngữ của nhà văn được khảo sát có nhữngđặc điểm nổi bật gì về cấu tạo, về từ loại, cuối cùng cần đánh giá một cáchthoả đáng những sáng tạo độc đáo của nhà văn trong cách dùng từ ngữ.Những điều cơ bản trên đây sẽ được chúng tôi quán triệt khi tìm hiểu hệ thống
từ ngữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
1.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm Ma Văn Kháng
1.2.1 Tác giả Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1 tháng 12 năm
1936 Quê gốc: phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, hiện ởquận Ba Đình, Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viênhội nhà văn Việt Nam (1974)
Từ tuổi thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được đi học ởkhu học xá Trung Quốc Năm 1960, vào Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 1963tốt nghiệp Đại học Sư phạm, lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, từng là hiệu trưởngtrường trung học Về sau được tỉnh uỷ điều về làm thư kí cho Bí thư tỉnh uỷ, rồilàm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Sau khi đất nướcthống nhất, từ năm 1976 đến nay ông về công tác tại Hà Nội, từng làm Tổngbiên tập, phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3 - 1995 là uỷ viên banchấp hành, uỷ viên Đảng đoàn Hội nhà văn khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Vănhọc nước ngoài
Trang 20Bí danh Ma Văn Kháng được dùng làm bút danh đã nói lên sự gắn bó
và tình yêu của tác giả với miền đất từng hoạt động trên 20 năm, nơi quêhương thứ hai của mình Phải có ý chí mạnh mẽ lắm mới khiến chàng trai trẻ
Hà thành rời bỏ chốn phồn hoa với tổ ấm quen thuộc để lên sinh sống ởnhững nơi heo hút, hoang vắng, đầy trắc trở Ma Văn Kháng tâm sự: “Có sựtương hợp giữa thành nhân và đắc đạo văn chương” Chặng đường đời dàimấy chục năm qua của nhà văn đã chứng minh cho sự tương hợp ấy Tự rènmình để viết văn Viết văn để rèn luyện mình Chu kỳ chuyển đổi đó khôngngừng vận hành trong cuộc sống hàng ngày của nhà văn
Từ cậu học trò Đinh Trọng Đoàn ngơ ngác trở thành nhà văn Ma VănKháng được bạn đọc mến mộ là cả một quá trình lao động miệt mài, khôngngừng nghỉ của một cây bút tài năng tâm huyết với nghề Kết quả của quátrình lao động bền bỉ ấy là sự ghi nhận, mến mộ của độc giả Ma Văn Khángđược xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của thế hệ chống Mĩ, là mộtcây bút văn xuôi tài năng của nền văn học Việt Nam hiện đại
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là một nhà văn có sức sáng tạo dẻo dai và bền bỉ Hơnnửa thế kỉ cầm bút ông đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn
200 truyện ngắn và hàng chục cuốn tiểu thuyết Bắt đầu cầm bút viết văn
bằng một truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo Văn nghệ mang tên Phố cụt đăng năm 1961, nhưng phải mãi đến năm 1982 khi tiểu thuyết văn xuôi Mưa
mùa hạ ra đời thì tên tuổi Ma Văn Kháng mới được chú ý Và đến năm 1989,
khi tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn ra đời thì cái tên Ma Văn Kháng đã
thực sự được khẳng định
Ông đã đạt giải thưởng loại B của hội nhà văn Vệt Nam năm 1986 (tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn); Tặng thưởng của hội đồng văn xuôi Hội nhà
Trang 21văn Việt Nam năm 1995 (tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ); Cây bút vàng
trong cuộc thi truyện ngắn năm 1998; Giải thưởng văn học Đông Nam Á 1998
Sáng tác của Ma Văn Kháng tập trung vào mảng văn xuôi với hai thểloại chính là tiểu thuyết và truyện ngắn, và gần đây là thể loại hồi kí với sự ra
đời của cuốn hồi ký gây được tiếng vang: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng
7 Côi cút giữa cảnh đời, 1989
8 Đám cưới không giấy giá thú, 1989
9 Chó Bi, đời lưu lạc, 1992
Trong các sáng tác của Ma Văn Kháng, tuy tiểu thuyết đạt được thành
công vang dội ở hai cuốn tiểu thuyết là: Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới
không giấy giá thú, nhưng sáng tác của nhà văn ở thể loại này là không đều
tay Thể loại đều tay hơn cả, thể hiện rõ nét phong cách và tài năng của nhàvăn là truyện ngắn, truyện ngắn Ma văn Kháng đã tạo được dấu ấn ngôn ngữriêng làm nên một phong cách riêng cho Ma Văn Kháng Sáng tác của nhà
Trang 22văn ở thể loại này là rất lớn với hơn 200 truyện ngắn được in trong các tậptruyện ngắn sau:
1 Ngày đẹp trời, 1986
2 Vệ sĩ của Quan Châu, 1988
3 Trái chín mùa thu, 1988
4 Heo May gió lộng, 1992
5 Trăng soi sân nhỏ, 1994
6 Ngoại thành, 1996
7 Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập), 1996
8 Vòng quay cổ điển, 1997
9 Đầm sen, 1997
10 Một chiều giông gió, 1998
Có thể chia đội quân đông đảo trong truyện ngắn Ma Văn Kháng ra làm
ba mảng chính sau:
Mảng 1: Là những truyện ngắn thể hiện cái nhức nhối, xót xa, giận màthương cho sự hoang dã mông muội của những kẻ chưa thành người và nhữngngười không được làm người
Hầu hết những truyện ngắn trong mảng này những tác phẩm viết về đềtài miền núi, đây là một mảng quen thuộc của nhà văn, ông được mệnh danh
là “nhà văn của núi rừng” Ma Văn Kháng viết về đề tài miền núi xuất sắc đếnnỗi nhiều người vẫn cho rằng nhà văn là người miền núi mới có thể hiểu rõ vềmiền núi đến thế
Những truyện ngắn tiêu biểu cho mảng này có thể kể đến như: Vệ sĩ
của Quan Châu; Móng vuốt thời gian; Giàng Tả, kẻ lang thang; Người thợ bạc ở phố cũ; Hoa gạo đỏ; Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang; Thím Hóng…
Trang 23Mảng 2: Là những truyện ngắn cất tiếng nói cảm khái, thâm trầm trướcthế sự hôm nay.
Mảng này chiếm một số lượng lớn trong sáng tác của Ma Văn Kháng,
những truyện ngắn tiêu biểu cho mảng này như: Trung du chiều mưa buồn;
Trái chín mùa thu; Bồ nông ở biển; Trăng soi sân nhỏ; Chọn Chồng; Mất điện; Một chốn nương thân; Nhà nhiều tầng; Cái Bống…
Mảng 3: Là những truyện ngắn thể hiện cảm hứng trào lộng trangnghiêm (thuật ngữ của M Baktin) trước vẻ đẹp của cuộc đời sinh hoá hồnnhiên
Những truyện ngắn tiêu biểu cho mảng này là: Anh thợ chữa khoá;
Thanh minh, trời trong sáng; Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường; Ngẫu sự; Những người đàn bà; Thầy Khiển; Một mối tình si…
1.2.3 Từ ngữ và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Như đã nói, phong cách ngôn ngữ nhà văn được thể hiện trên nhiềukhía cạnh Mỗi nhà văn thường có thói quen sử dụng từ ngữ, tài năng sửdụng ngôn ngữ riêng Truyện ngắn Ma Văn Kháng không thu hút người đọc
ở kết cấu độc đáo, ở những bố cục lạ, ở sự phá cách mà cái làm nên sức hútmãnh liệt ấy chính là sự mô tả, khắc hoạ nhân vật bằng thứ ngôn ngữ điêuluyện, tài hoa
Đọc truyện ngắn của Ma Văn Kháng chúng tôi thấy ấn tượng về ngônngữ truyện ngắn của ông, cái làm nên phong cách ngôn ngữ của tác giả, dấuhiệu cho thấy sự lựa chọn ngôn ngữ của tác giả là ở chỗ sự lựa chọn, ưa dùngcác lớp từ láy, từ ngữ mang tính khẩu ngữ Trong các biện pháp tu từ mà tácgiả sử dụng, so sánh tu từ là biện pháp được ông dùng nhiều tạo nên ấn tượngrất đậm nét
Rất nhiều nhà văn, nhà phê bình đều phải thừa nhận Ma Văn Kháng lànhà văn có “của ăn của để” với cả một “kho chữ rủng rỉnh để tiêu dùng” Và
Trang 24do có cả một kho nên chữ nghĩa trong truyện ngắn Ma Văn Kháng luôn ánhlên cái nội lực bên trong của nó Ma Văn Kháng rất sắc sảo về ngôn ngữ, vàrất thành thạo khắc hoạ hình tượng, ông dùng từ, chọn từ khá “đắt” thế nênông cứ nhẩn nha miêu tả điệu bộ, hình thức bên ngoài mà người đọc lại cảmnhận được cả thế giới nội tâm bên trong của nhân vật
Truyện ngắn Ma Văn Kháng được kiến tạo bởi nhiều sự lựa chọn từ ngữriêng rất độc đáo, ngôn ngữ của Ma Văn Kháng có tính khẩu ngữ cao, mang dángdấp ngôn ngữ đời thường, đó là một thứ ngôn ngữ động Ma Văn Kháng rất tinh tếkhi nắm bắt những ý thức, những tiếng nói khác nhau của đối tượng miêu tả Vớicách sử dụng từ láy, từ ngữ mang tính khẩu ngữ, và biện pháp so sánh được lồngghép, đan kết với nhau tạo nên những trường từ vựng có khả năng đắc địa trongviệc miêu tả hình tượng và tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, vẽ nên một bức tranhthiên nhiên sinh động vừa thực vừa hư nhưng vẫn rất gần gũi với con người
Với sự tài hoa, khả năng cảm nhận ngôn ngữ tinh tế, Ma Văn Kháng đãnhào nặn lại thứ ngôn ngữ có sẵn, vốn đã quen thuộc trở thành thứ ngôn ngữnghệ thuật, mang màu sắc phong cách riêng, màu sắc phong cách gắn liền vớitên tuổi của Ma Văn Kháng Do vậy, trong luận văn này chúng tôi chọn khảo sátnghiên cứu từ ngữ và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 này chúng tôi đã trình bày một số vấn đề về lý thuyết
có liên quan chặt chẽ tới những vấn đề mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương 2
và chương 3 Đây chính là những tiền đề cơ sở giúp chúng tôi tìm hiểu kĩnhững đặc điểm cụ thể về từ ngữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Trang 25từ láy đã không ngừng phát huy khả năng, hiệu quả biểu đạt đặc biệt của nótrong ngôn ngữ văn chương Nếu như đặc trưng đầu tiên của lời văn trong tácphẩm văn học là tính hình tượng thì từ láy là lớp từ có khả năng tái hiện thế giớihình tượng, tạo cho người đọc ấn tượng sâu sắc về đối tượng được miêu tả.
Như vậy, trong các lớp từ của tiếng Việt, từ láy có vai trò rất lớn đốivới sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Ngoài những nét nghĩa cụ thể, từ láycòn có thêm những nét nghĩa trừu tượng, tạo nên liên tưởng về sự vật, hiệntượng làm cho trí tưởng tượng vốn rất phong phú của con người cất cánh, thănghoa Tuy nhiên, việc lựa chọn lớp ngôn từ phù hợp (vừa phù hợp với đối tượngvừa phù hợp với ý tưởng, cá tính sáng tạo, vừa phù hợp với thể loại vănchương) để tạo ra những câu văn chính xác, sinh động không phải là việc dễdàng với bất kì người cầm bút nào Công việc ấy đòi hỏi sự nhạy bén, linh hoạt,tài hoa của nhà văn về mặt sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ góp phần không nhỏvào sự thành công và sức sống của tác phẩm Trong ngôn ngữ nghệ thuật, từláy đã đảm nhiệm những vai trò khó có thể thay thế ở một số ngữ cảnh
Trang 26Tuy nhiên từ láy không phải là một hiện tượng giản đơn mà đầy phức tạp.Nghiên cứu hiện tượng này quả là khó khăn nhưng cũng đầy thú vị Từ láy tiếngViệt là đơn vị ngày càng thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều người Nókhông những được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm mà còn được nhiềunhà ngôn ngữ trên thế giới bàn đến và đi sâu nghiên cứu trong một thời gian rất dài
Xung quanh khái niệm và tên gọi từ láy, trước đây có nhiều quan niệmkhác nhau Về tên gọi: từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ ngữ kép phânthức Còn về cơ chế cấu tạo có ba hướng quan niệm chính về từ láy:
a Coi láy là phụ tố
Tiêu biểu cho quan niệm này là L Bloomfield trong công trình mang
tên languege (1983), tác giả coi láy là phụ tố biểu hiện ở hình thái cơ sở được
lặp lại trong từ láy
Ở Việt Nam, Lê Văn Lý (1972) cũng theo quan niệm này, ông gọi từ láy
là “từ ngữ kép phân thức” Trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam ông viết:
“Láy là từ ngữ được lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chúng”
b Coi láy là ghép
Nguyễn Tài Cẩn (1975) cho rằng: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đócác yếu tố thành tố trực tiếp kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữâm” Cùng quan niệm còn có các tác giả khác như: Trương Văn Chình,Nguyễn Hiến Lê (1963), Nguyễn Văn Tu (1976) cũng gọi chung những từ láy
âm là từ ghép vì thực chất chúng được tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó
c Coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá
Các nhà nghiên cứu: Trần Trọng Kim (1953), Đinh Trọng Lạc (1964)đều cho rằng: “láy là sự hoà phối ngữ âm”, trong hiện tượng láy có sự chiphối của “luật hài âm” và “hài thanh”
Hoàng Tuệ (1978) cũng quan niệm: “Nếu hiểu láy là phương thức cấu tạonhững từ mà trong đó có sự tương quan âm nghĩa nhất định Tương quan ấy có
Trang 27tính chất tự nhiên, trực tiếp nhưng tương quan ấy tinh tế hơn nhiều và có thể nói
là đã được cách điệu hoá Sự cách điệu ấy chính là sự biểu trưng hoá ngữ âm, giátrị của từ láy” Đồng tình với quan niệm này của Hoàng Tuệ, giáo sư Hoàng VănHành đã nghiên cứu từ láy một cách toàn diện theo hướng này xem: láy là sựhoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá Đây cũng là xu hướng chung phổ biếnhiện nay của giới Việt ngữ khi nghiên cứu hiện tượng láy của tiếng Việt
Khi thừa nhận láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá nhưvậy cũng có nghĩa chúng ta coi láy là một cơ chế Theo giáo sư Hoàng VănHành thì “quá trình cấu tạo từ láy tiếng Việt chịu sự chi phối của xu hướnghoà phối ngữ âm trong láy biểu hiện ở quy tắc điệp và đối Quy trình cấu tạo
từ láy bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định sao choquan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hoà với nhau về âm, vềnghĩa, lại có giá trị biểu trưng hoá” [15; 27]
Cũng theo Hoàng Văn Hành, “hình vị cơ sở để nhân đôi gọi là tiếnggốc, còn tiếng được tạo ra trong quá trình láy gọi là tiếng láy Hệ quả của quátrình nhân đôi là tạo ra thế điệp giữa hai tiếng Đồng thời với quá trình nhânđôi khi tạo ra tiếng láy cũng diễn ra quá trình biến đổi và tiếp hợp ở những bộphận nhất định trong tiếng láy, nhờ đó mà có thế đối bên cạnh thế điệp” Vớiquan niệm như vậy giáo sư Hoàng Văn Hành đã kết luận: “Với tư cách là mộtphương thức cấu tạo từ, cơ chế láy là một quá trình diễn ra những sự hoạtđộng của một hệ những quy tắc ngữ âm, ngữ nghĩa chi phối việc tạo ra những
từ mà các tiếng của chúng vừa nằm trong thế điệp, vừa nằm trong thế đối, nằmtrong sự hoà phối ngữ âm và ngữ nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” [15; 26]
Đi theo quan niệm thứ ba, chúng tôi rút ra các kiểu từ láy xét về cấu tạo
và tính chất biểu trưng như sau:
(1) Các kiểu từ láy xét về cấu tạo
(1a) Từ láy bậc một (từ láy đơn)
Trang 28Từ láy bậc một chính là từ láy đôi Đó là những từ mà khi cấu tạo, tiếnggốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng gốc và tiếng láy có được sựhoà phối ngữ âm thể hiện ở quy tắc điệp và đối Nếu trong quá trình nhân đôi
ấy, tiếng láy lặp lại hoàn toàn tiếng gốc dưới một hình thái nào đó, kiểu như
lăm > lăm lăm, xanh > xanh xanh…thì chúng ta sẽ có từ láy hoàn toàn Còn
nếu như trong quá trình nhân đôi, tiếng láy chỉ lặp lại một phần tiếng gốc, như
đỏ > đỏ đắn, bềnh > bập bềnh… thì chúng ta sẽ có từ láy bộ phận.
- Từ láy hoàn toàn: có hai loại từ láy hoàn toàn điệp vần và từ láy hoàntoàn đối vần
+ Từ láy hoàn toàn điệp vần: có 2 kiểu sau:
Kiểu 1: Đăm đăm, đùng đùng, rề rề, lâng lâng, khăng khăng…
Đặc trưng của những từ láy này là điệp phụ âm đầu, khuôn vần vàthanh Trong trường hợp đó trọng âm trở thành nét dị biệt trong quan hệ giữatiếng gốc và tiếng láy và là yếu tố tạo nên thế đối trong từ
Kiểu 2: Đo đỏ, ra rả, ha hả, ri rỉ,đau đáu, phơi phới…
Đặc trưng của loại này là điệp phụ âm đầu và khuôn vần, thanh điệu
+ Từ láy hoàn toàn đối vần: cũng có 2 kiểu:
Kiểu 1: chúm chím, tung tăng, khề khà, móm mém, thủng thẳng…
Đặc trưng của từ láy thuộc loại này là điệp phụ âm đầu và thanh, đốikhuôn vần (âm chính)
Kiểu 2: cầm cập, nơm nớp, phăng phắc, anh ách, dằng dặc, san sát…
Đặc trưng của từ láy này là điệp phụ âm đầu, đối khuôn vần (âm cuối
và thanh đệu)
- Từ láy bộ phận
+ Từ láy bộ phận điệp vần (còn gọi là láy vần)
Đặc trưng của từ láy loại này là điệp khuôn vần và thanh, đối phụ âm đầu
Ví dụ: bùi ngùi, lòng thòng, khúm núm, khéo léo, bảng lảng…
Trang 29+ Từ láy bộ phận đối vần (còn gọi là láy phụ âm đầu)
Đây là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc, vừa bảo tồn phụ âm đầuvừa kết hợp một khuôn vần mới từ ngoài vào tiếng láy để tạo thế vừa điệp vừa đối
Ví dụ: thật thà, long lanh, lập loè, bập bềnh, chí choé, tha thẩn…
(1b) Từ láy bậc hai (từ láy kép): từ láy bậc hai bao gồm từ láy ba và láy tư.Các từ này đều là kết quả của hai bước nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc điệp và đối
- Từ láy ba: Sát sàn sạt, lờ tờ mờ, khít khìn khịt, xốp xồm xộp, dửng
dừng dưng, đứ đừ đừ, tẻo tèo teo…
- Từ láy tư: vội vội vàng vàng, bập bà bập bềnh, hấp ta hấp tấp, bổi hổi
bồi hồi, lúc la lúc lỉu…
(2) Các kiểu từ láy xét về tính chất biểu trưng
Từ láy là sự hoà phối ngữ âm, có giá trị biểu trưng hoá ngữ nghĩa Xét kếthợp âm và nghĩa, hình vị chia từ láy thành ba cấp độ biểu trưng hoá ngữ âm:
(2a) Từ láy biểu trưng hoá ngữ âm giản đơn:
Đó là những từ trực tiếp mô phỏng âm thanh tự nhiên
Ví dụ: róc rách, bộp bộp, ầm ầm, ào ào, bình bịch, đì đùng …
(2b) Từ láy biểu trưng hoá ngữ âm cách điệu:
Đây là những từ mà nghĩa của yếu tố gốc thường đã mờ nghĩa, nghĩacủa từ không chỉ thể hiện đặc điểm tính chất sự vật mà còn thể hiện trạng tháitâm lí con người
Ví dụ: Tần ngần, thướt tha, đủng đỉnh, lác đác, bâng khuâng…
(2c) Từ láy vừa biểu trưng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa:Đây là những từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được qua nghĩa củayếu tố gốc và cấu tạo của khuôn vần (quen gọi là từ láy biểu thái)
Ví dụ: Tròn trặn, vuông vắn, vừa vặn, náo nức, mê man…
Trang 30Dựa vào những kiến thức lý thuyết trên, chúng tôi áp dụng vào việc tìmhiểu từ láy trong truyện ngắn Ma Văn Kháng để thấy được sự lựa chọn ngôn
từ tài tình của nhà văn
2.1.1.2 Từ láy trong truyện ngắn Ma Văn Kháng xét về cấu tạo
Trong truyện ngắn Ma Văn Kháng chúng tôi thấy tác giả đã sử dụng từláy như một phương tiện quan trọng, có vị trí đặc biệt làm cho thế giới hìnhtượng trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thêm phong phú và sinh động Qua
khảo sát 35 truyện ngắn in trong Truyện ngắn Ma Văn Kháng do nhà xuất bản
Hội nhà văn ấn hành năm 2008, chúng tôi thống kê được 5259 lần xuất hiện
từ láy, trong đó có 1047 lần xuất hiện từ láy hoàn toàn, 3373 lần xuất hiện từláy phụ âm đầu và 839 lần xuất hiện từ láy vần Ta có bảng 2.1 sau:
đó từ láy là loại phương tiện được ông ưa dùng Nếu so sánh truyện ngắn
Ma Văn Kháng với truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi mà
Nguyễn Thị Nga Khảo sát trong khoá luận Đặc điểm ngôn ngữ truyện
Trang 31ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi [39; 41] Ta thấy trong truyện ngắn
của Nguyễn Thi tác giả đã sử dụng khá nhiều từ láy, nhưng cũng chỉ có
1860 lượt lần từ láy xuất hiện trong 18 truyện ngắn, trung bình mỗi trang
có 4 từ láy thì ta thấy trong truyện ngắn Ma Văn Kháng tần số 7 từ trên 1trang truyện ngắn là một tần số rất cao Điều đó chứng tỏ từ láy trongtruyện ngắn Ma Văn Kháng là lớp từ được tác giả ưa dùng, tiêu biểu cho
sự lựa chọn ngôn từ của tác giả
Số lượng cụ thể lần xuất hiện các loại từ láy trong từng truyện biểuhiện qua bảng 2.2 như sau:
STT
Loại láy
Tên truyện
Láyhoàntoàn
Láy phụ
âm đầu
Láyvần
Tổngsố
Tầnsố
1 Vệ sĩ của Quan Châu 34 54 14 102 5,7
2 Móng vuốt thời gian 17 47 11 70 3,3
3 Giàng Tả, kẻ lang thang 30 56 28 114 5,0
4 Người thợ bạc ở phố cũ 38 64 24 126 7,4
5 Trung du chiều mưa buồn 33 91 22 136 7,5
6 Trái chín mùa thu 57 72 25 154 7,7
8 Heo may gió lộng 34 146 31 211 8,4
9 Bồ nông ở biển 33 116 26 149 7,1
10 Trăng soi sân nhỏ 35 105 28 168 8,0
11 Thanh minh trời sáng 25 69 26 120 6,7
Trang 3218 Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường 18 86 14 118 4,9
30 Cuộc đấu của gà chọi 29 81 19 129 6,5
31 Chim di trú vừa bay vừa ngủ 24 84 20 128 6,7
32 Bệnh nhân tâm thần 40 95 32 167 7,0
33 Lũ tiểu mãn ngập bờ 37 117 35 189 9,9
34 Lênh đênh sông nước miền Tây 61 107 44 213 9,3
35 Bức tranh người đàn bà chơi vĩ cầm 25 163 30 218 6,1
Bảng 2.2 Số lượng và tần số các loại từ láy xét về cấu tạo trong từng
truyện ngắn
Nhận xét: Nhìn vào 2 bảng số liệu thống kê trên ta thấy có sự chênh
lệch khá lớn trong cách sử dụng từ láy nói chung và sự lựa chọn từng loại từláy ở từng truyện ngắn của tác giả Truyện ngắn sử dụng nhiều từ láy với
tần số cao tính theo trung bình trang là truyện: Suối mơ, và Lũ tiểu mãn
ngập bờ với 9,9 từ/trang Truyện ngắn sử dụng ít từ láy nhất là truyện: Móng vuốt thời gian với trung bình 3,3 từ/trang Sự chọn lựa từ láy như
vậy thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả trong từng truyện ngắn
Xét về cấu tạo các kiểu láy xuất hiện trong truyện ngắn Ma VănKháng, chúng tôi nhận thấy láy ba, láy tư xuất hiện rất ít, chỉ có 3 từ láy
Trang 33ba xuất hiện trong hai truyện ngắn: Suối mơ là trần trùng trục [7,tr 436]
và truyện ngắn Chim di trú vừa đi vừa ngủ là: tạch tạch tạch…cọt cọt
cọt [19,tr 652] dùng để mô phỏng âm thanh chiếc máy đánh chữ và 34
từ láy 4 xuất hiện rải rác trong các truyện ngắn chiếm 0,65%, trong đó
nhiều nhất là truyện ngắn Bức tranh người đàn bà chơi vĩ cầm với bốn
từ láy 4:
- Cương từ trại cai nghiện về, sống vất va vất vưởng như người bên
âm, rất hay bỏ nhà đi qua đêm, một lần biệt tích ba ngày liền [21, tr 745].
- Hay là tẩm ngẩm tầm ngầm mà đánh chết voi, định mở một triển
lãm riêng tận bên Mĩ, bên Pháp đấy? [13, tr 749].
- Hôm nào giờ thể dục phải môn tập chạy cứ lúc la lúc lỉu đến khổ.
[14, tr 750]
- Chỉ vài lá cao dán vào chỗ đấy thôi, là các cơ thịt lại trương căng,
hai bắp vế lại núc ních nình nịch, máu huyết và sinh lực lại dồn về chan
chứa, em à [12, tr764].
Những từ láy loại này dùng vào miêu tả vừa làm tăng sức gợi của hình
tượng, vừa tạo được sự mượt mà uyển chuyển trong câu nói
Từ láy đôi trong truyện ngắn Ma Văn Kháng chiếm đa số với đầy đủcác kiểu cấu tạo: láy hoàn toàn, láy bộ phận
a Láy hoàn toàn
Qua khảo sát 5259 lượt lần từ láy xuất hiện trong truyện ngắn MaVăn Kháng, chúng tôi thu được kết quả có 1047 lượt từ láy hoàn toàn đượctác giả sử dụng, trong đó có thể chia làm hai dạng:
+ Láy hoàn toàn điệp vần: Có 748 từ láy loại này xuất hiện trong tác
phẩm chiếm 14,2%
Ví dụ: khì khì, tê tê, ào ào, mờ mờ, khìn khịt, mơn mởn, húi húi, thịch
thịch, lồng lộng, heo heo, bè bè…
Trang 34Ta có thể gặp không ít những từ láy như thế trong trang viết của ông.Chẳng hạn:
- Chỉ đến khi Thụy dắt cái xe xuống dốc đê, vào làng chiều thu mới
vương vương một hơi sương mờ [2, tr 112].
(Trái chín mùa thu)
Chỉ với từ láy vương vương hiện hữu, câu văn đã trở nên ngập chất
thơ Khung cảnh chiều muộn mùa thu được khắc hoạ nên thơ và đầy tâm
trạng, đó không chỉ là sự vương vương của cảnh mà còn là cảm nhận vương
vương của lòng người đang dăng mắc trong buổi chiều thu ấy
- Cái mũi nhọn cùng bộ ngực trội lên khỏi khối người béo chảy, tạo
nên những hình khối quyết liệt và ngồn ngộn nhục cảm [6, tr 136].
(Ngẫu sự)
Ngồn ngộn là quá nhiều đến mức dư thừa, tràn trề Ma Văn Kháng là
nhà văn có lối viết rất bạo tay, với cách sử dụng từ láy để miêu tả, biểuhiện, những chuyện riêng tư thầm kín của con người được phơi bày trêntrang viết một cách tự nhiên, sinh động
- Vợ Đoan từ nãy mặt vẫn nằng nặng, nghe con gái hỏi liền đập mạnh đôi đũa cả vào rìa nồi, đứng phắt dậy quàu quạu [1, tr 153]
(Heo may, gió lộng)Câu văn sử dụng liên tiếp hai từ láy hoàn toàn điệp vần để miêu tả nétmặt và ngôn ngữ qua đó lột tả thái độ khó chịu, bực tức, từ nằng nặng đếnbực tức là một bước tiến của tâm trạng, là sự phản đối bằng thái độ ngấmngầm đến bộc lộ ra bằng ngôn ngữ
+ Láy hoàn toàn đối vần: Có 299 từ láy loại này xuất hiện, chiếm
4,35 % tổng số từ láy xuất hiện trong tác phẩm
Ví dụ: quần quật, hầm hập, ngằn ngặt, khinh khích, hoăn hoắt, tủm
tỉm, vùn vụt, biền biệt, ràn rạt, mập mạp…
Trang 35- Múi bưởi dài mọng, man mát, nhàn nhạt [20, tr 113].
(Trái chín mùa thu)Dùng hai từ láy sắc thái hoá cạnh nhau để miêu tả, man mát và nhàtnhạt đã bổ sung nghĩa cho nhau làm nổi lên đặc điểm về vị giác
- Còn lúc này, từ ngày có chồng, chưa bao giờ nàng thấy ngực mình
trắng lôm lốp đến thế giữa bốn bề trống tuênh, trên sườn đồi ngầm ngập
là sự bức bối của ham muốn trong lòng người đàn bà đang khao khát dục tình
Dự đang trong cảm giác ngất ngây vì sự tấn công bạo dạn của anh chàng khítượng xa vợ lâu ngày Song chính cái cảm giác làm nàng thoả mãn đó lạikhiến nàng kinh sợ, vì đó không phải chồng nàng Ở trong bối cảnh như vậy
ngầm ngập là một từ láy được sử dụng rất tài hoa, nó vừa ẩn vừa hiện, từ dùng
để miêu tả cảnh nhưng chính trong cái cảnh ngầm ngập ánh trăng ấy, bên
cạnh khuôn ngực phồn thực ấy tâm tình của Dự được bộc lộ rất trần trụi, songcũng chính vì cái cảm giác rất thực ấy mà ta như càng đồng cảm và mến phục
Dự hơn khi cô dứt áo ra về, thoát khỏi đam mê nhất thời trỗi dậy
- Nganh ngánh lắng nghe lại thấy mưa như sợi roi trời quật đèn đẹt trên mui, nghe rõ mồn một mà âm vang hoang vắng quá [8, tr 723].
(Lênh đênh sông nước miền Tây)
Trang 36Ở đây từ láy có tác dụng nhấn mạnh đối tượng miêu tả, hai từ láy đèn
- Lương chưa hiểu đầu cuối, vừa kịp dừng lại, đã thấy vẳng ra từ
trong bếp cái giọng xong xóc đối đáp quen thuộc của vợ [10, tr 175].
(Bồ nông ở biển)
Giọng xong xóc là một giọng nghe rất chối, nó chì chiết, mai mỉa vì
vậy đây là giọng có ý gây sự, chỉ được dùng trong chuyện cãi vã, chỉ cầnnghe giọng nói ta đã biết được trạng thái tâm lí và hoàn cảnh ở nhà Lươnglúc này, đó là đương trong cuộc cãi nhau giữa mẹ và vợ Lương, khi mà cảhai người đàn bà trong nhà đương trong cơn nộ khí xung thiên, sẵn sàng lăn
xả vào nhau
b Láy bộ phận
Qua khảo sát truyện ngắn chúng tôi thu được 4212 lần xuất hiện từ láy
bộ phận xuất hiện với hai dạng là láy âm đầu và láy vần
+ Láy phụ âm đầu: Trong truyện ngắn Ma Văn Kháng chúng tôi
thống kê được kết quả có 3373 từ láy phụ âm đầu, loại láy này xuất hiệndày đặc trong tác phẩm
Ví dụ: đậm đà, dư dả, véo von,tức tưởi, lừa lọc, ngơ ngác, hóm hỉnh,
lạ lùng, dễ dàng, nuột nà, phập phồng, gay gắt, nao núng…
- Réo rắt giữa thinh không , tiếng đàn một mình một âm điệu vừa náo
động da diết, vừa lẻ loi, đơn độc, thấm nhiễm vào mênh mông xa vắng, lọt thăm thẳm vào tâm khảm bộn bề của Biên [1, tr 701].
Trang 37(Lũ tiểu mãn ngập bờ) Chỉ một câu văn mà tác giả sử dụng tới 6 từ láy, trong đó có tới 5
từ láy phụ âm đầu Sử dụng từ láy dày đặc như vậy đã lột tả được khôngnhững cái âm điệu dồn dập, da diết của tiếng đàn mà còn cả những tình cảmsâu nặng trăn trở, day dứt ở sâu thẳm lòng người nghe trong đêm khuyathanh vắng, câu văn nhờ sử dụng từ láy mà có được những sắc thái nghĩamới mẻ, lời văn uyển chuyển, đậm chất thơ
- Nhờ nàng, đàn ông bỗng dồi dào năng lực yêu đương và đàn bà bỗng diêm dúa, tơ tuốt và phong tình hơn [23, tr 382].
(Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường)
Ba từ láy liên tiếp được dùng để khẳng định một sự thật, nhưng nhờ
dùng những từ láy dồi dào, diêm dúa và tơ tuốt mà ta cảm nhận một giọng
điệu mai mỉa, một nụ cười ý nhị của người viết Vẻ đẹp phồn thực của Seo
Ly đã đánh thức cuộc sống lặng lẽ, buồn tẻ nơi phố huyện Nàng đã mangmột luồng sinh khí mới, đã tạo nên một cuộc lột xác, hoá thân chưa từng có.Nàng đã khiến cho những con người nơi đây sống một cuộc sống thực sự,đúng với cái bản chất lâu nay ngủ yên trong họ, đánh thức cái năng lực yêuđương tiềm ẩn trong họ Đi vào vấn đề tính dục Ma Văn Kháng nhìn từ góc
độ nhân tính, văn hoá rất mềm dẻo linh hoạt, pha chút hóm hỉnh, hài hướckhiến cho vấn đề tính dục trở nên hết sức tự nhiên
- Thuốc lang lá lẩu xằng xịt, săn sóc sơ sài vậy thôi mà anh không
Trang 38năng mãnh liệt được rèn rũa trong nghèo nàn, đói khát, khốn khổ cùng cựccủa anh Rư
+ Láy vần: Trong truyện ngắn Ma Văn Kháng chúng tôi thống
kê được 839 lượt dùng từ láy vần, đó là những từ như: linh tinh, thiêng
liêng, lóc bóc, lởm nhởm, lòng thòng, lúc nhúc, láu táu, lờm xờm, âm thầm, uyển chuyển, bâng khuâng…
- Và tôi đã thật sự kinh hoàng, vì từ sâu thẳm tâm tưởng đã vỡ ra một nhận
biết đau đáu cùng những xúc cảm trùng phức vừa bồi hồi, vừa tiếc nuối bâng
khuâng, khi một trưa mùa đông bằng lặng đến thót tim ấy bỗng nhận ra một
tiếng rao “khoá ơ” như từ xa xăm vọng về, vẳng trong thính giác [3, tr 284].
(Anh thợ chữa khoá)Xúc cảm được miêu tả với nhiều cung bậc tinh tế, từ cảm giác xúcđộng, hồi hộp tới cái trạng thái tâm lí phức tạp pha trộn của nhiều cảm giác
như luyến tiếc, nhớ thương, lo lắng Từ láy bâng khuâng chứa đầy tâm
trạng, nó nao nao nhưng da diết, tâm trạng ấy như càng nổi hơn trong mộtkhông gian bằng lặng Ở đây từ láy đã phát huy tối đa sức biểu đạt làm chođối tượng miêu tả có được cái chiều sâu nội tại mà những lớp từ kháckhông làm được
- Chỉ có điều hơi khó chịu là Bân ồn ào quá, thậm chí hơi lăng xăng
và buông tuồng [7, tr 202].
(Trăng soi sân nhỏ)
Lăng xăng và buông tuồng là những từ láy đặc tả hành động không
chín chắn, việc gì cũng nhúng tay vào nhưng lại không làm được việc gì, vàlối sống dễ dãi, buông thả đến bừa bãi, quá trớn Một con người mà sở hữu
đủ những đặc tính như vậy thì rõ ràng không thể là một con người nghiêmtúc đứng đắn Đây là một nhận xét rất sát về tính cách con người được cụthể qua những từ láy giàu sức gợi
Trang 39- Lại vẫn lă những dòng chữ gần đđy bỗng líu ríu nĩt nọ lẫn nĩt kia, viết trín mảnh giấy rìa lờm xờm vết xĩ từ vở học trò [2, tr 539].
(Cđy bồ kết lâ văng)
Với líu ríu, lờm xờm thì ta có thể nhận thấy rõ bức thư được viết
không chỉnh chu Nó không thể lă bức thư của một trí thức quanh năm ngồibăn giấy, mă đó lă bức thư như chính người nhận thư đê hình dung đó lẵng bạn Phúng đi lă ruộng về khoât tay bảo thằng con xĩ cho tờ giấy để viếtthư, nó tuy qua loa về hình thức nhưng không hề qua loa về tình cảm Đó lăcâch sống mộc mạc, bình dị của những người nông dđn chđn chất thật thăkhông quen mău mỉ, khuôn sâo Cđu văn bỗng chốc sinh động hơn trong trítưởng tượng của người đọc
- Trong ânh sâng hồng mịn của ngọn đỉn ngủ, năng nhận một ânh cười
lạnh tanh của Phùng vă thấy tiếng y nói cũng lạnh tanh như thế [9, tr 569].
(Đất mău)
Trong một cđu văn mă từ lây lạnh tanh xuất hiện đến hai lần, lạnh
tanh lă không tỏ một chút tình cảm năo Nó thường khiến người ta rờn rợn,
đđy được xem như đỉnh cao của sự lạnh lùng Cđu văn vì dùng nhiều từ
lạnh tanh mă như cũng trở nín lạnh với cả người đọc, nó ngầm bâo một dự
cảm chẳng lănh, một sự khinh miệt, một sự bùng nổ sau đó Vă quả thật sau
đó lă măn đânh ghen, chì chiết của Phùng với Dự
- Vì lúc năy, trăng thượng tuần một mảnh bơ vơ trắng bệch vừa nhô
lín sau hăng cđy măng tang thưa lâ ở mấy quả đồi bín bờ [1, tr 697].
(Lũ tiểu mên ngập bờ)
Chỉ với một từ bơ vơ mă ta như cảm được câi trơ trọi, lạnh lẽo của
không gian giữa mính mang hoang vắng của sông nước lúc sđm sẩm tối.Trăng bơ vơ, cảnh bơ vơ vă lòng người như cũng thím trơ trọi
2.1.1.3 Từ lây trong truyện ngắn Ma Văn Khâng xĩt về tính chất biểu trưng
Trang 40Khảo sát ngữ nghĩa của từ láy trong truyện ngắn Ma Văn Khángchúng tôi thu được kết quả sau:
a Từ láy biểu trưng hoá ngữ âm giản đơn
Từ láy biểu trưng hoá ngữ âm giản đơn là lớp từ chiếm tỉ lệ ít nhất
trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, gồm 982 lượt dùng Ví dụ: khằng khặc,
hí hí, ào ào, hề hề…
Điều đặc biệt trong việc sử dụng lớp từ này trong truyện ngắn Ma VănKháng là nhà văn chủ yếu mô tả âm thanh của tiếng cười Theo thống kê,chúng tôi thấy có tới 34 âm thanh khác nhau của tiếng cười xuất hiện với
lượt dùng dày dặc như: Khành khạch, hềnh hệch, khằng khặc, hơ hớ, khanh
khách, khì khì, khề khề, hằng hặc, khúc khích, hì hì, hí hí, he he…Nếu
không có quan sát, miêu tả tinh tế và nếu không có vốn từ láy phong phú thìlàm sao tác giả lại có thể miêu tả sinh động 34 giọng cười với nhiều cungbậc khác nhau như thế Việc miêu tả âm thanh tiếng cười như vậy khôngchỉ đơn thuần là nói về âm thanh mà qua đó nó còn có khả năng lột tả cảmxúc con người một cách đắc địa nhất khi vui cười là một lẽ hiển nhiênnhưng khi khóc, khi buồn, khi điên, khi ức chế… con người đều dùng tiếngcười làm phương tiện thể hiện cảm xúc Tiếng cười có khả năng lột tả nỗiđau cùng cực đắc địa hơn tiếng khóc, cũng vì vậy có rất nhiều người coitiếng cười là nước mắt khô Trong mọi loại cảm xúc đó tiếng cười lại cónhiều cung bậc riêng có tiếng cười sảng khoái, có tiếng cười gượng gạo, cótiếng cười chua chát, có tiếng cười man dại…Tất cả đã làm nên bức tranhđời sống nội tâm với nhiều cung bậc phong phú và đa dạng
- Người đàn bà giẫy đạp, la hét, Khun thọc những ngón tay cứng như
sắt vào miệng nạn nhân, cười khặc khặc [25, tr 15].
(Vệ sĩ của Quan Châu)