Hoàng Trọng Canh 1996, Văn hoá người Nghệ qua vốn từ chỉ nghề cá, Tạp chí Đông Nam Á, số 1; Lương Vĩnh An 1998, Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉngQuảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3Để hoàn thành đề tài Khảo sát từ chỉ nghề biển ở Hậu Lộc - Thanh Hóa,
tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫnkhoa học: PGS TS Hoàng Trọng Canh Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắcđến thầy
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáotrong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, khoa đào tạo Sau Đại học - Trường Đạihọc Vinh
Xin trân trọng cảm ơn trường THPT Hậu Lộc II, Sở Giáo dục & Đào tạotỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi yên tâm học tập
và hoàn thành luận văn
Cảm ơn gia đình anh Huấn, UBND xã Ngư Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc,
Đa Lộc, Hưng Lộc và toàn thể bạn bè, gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhđiền dã, khảo sát đề tài này
Do thời gian có hạn và năng lực bản thân nên luận văn có những hạnchế nhất định Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo vànhững người quan tâm đến đề tài
Xin trân trọng cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Duyên
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Ngôn ngữ dân tộc và phương ngữ 7
1.2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phương ngữ 11
1.2.1 Từ và vốn từ 11
1.2.1.1 Từ là gì? 11
1.2.1.2.Vốn từ tiếng Việt 13
1.2.2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phương ngữ 15
1.3 Vốn từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dân .17
1.3.1 Từ chỉ nghề và khái niệm từ nghề nghiệp 17
1.3.2 Vốn từ chỉ nghề và vốn từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dân 20
1.4 Nghề biển và vốn từ nghề biển của cư dân Hậu Lộc - Thanh Hóa .23
Trang 51.4.1 Vài nét về nghề biển ở Hậu Lộc 23 1.4.2 Vấn đề khảo sát từ nghề biển ở Hậu Lộc 28
Trang 6HUYỆN HẬU LỘC 33
2.1 Vốn từ nghề biển của cư dân huyện Hậu Lộc - xét về phương diện phản ánh 33
2.2 Vốn từ nghề biển của ngư dân huyện Hậu Lộc - xét về cấu tạo 36
2.2.1 Từ đơn 37
2.2.2 Từ ghép 39
2.3 Nguồn gốc, thành phần các loại từ nghề biển của ngư dân huyện Hậu Lộc 47
2.3.1 Từ nghề biển vừa được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ toàn dân vừa được dùng trong nghề 48
2.3.2 Từ nghề biển có nguồn gốc từ từ vay mượn 50
2.3.3 Từ nghề biển được dùng trong phương ngữ 51
2.3.4 Từ riêng của nghề 52
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH VÀ SẮC THÁI VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG THỂ HIỆN QUA TÊN GỌI CỦA TỪ NGHỀ BIỂN HẬU LỘC 57
3.1 Sơ lược về định danh và chức năng định danh của từ 57
3.2 Đặc điểm cách định danh của lớp từ nghề biển ở Hậu Lộc 63
3.3 Những sắc thái văn hóa địa phương thể hiện qua tên gọi và cách gọi tên của từ nghề biển ở Hậu Lộc 68
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc thống nhất của cộng đồng các dântộc Việt Nam Tiếng Việt có lịch sử lâu đời, gắn với các chặng đường pháttriển của lịch sử dân tộc Ngôn ngữ dân tộc thống nhất trong sự đa dạng Tính
đa dạng của ngôn ngữ dân tộc được thể hiện ở sự khác nhau trên các vùng địa
lí dân cư, giữ các tầng lớp người sử dụng trong xã hội Do đó, tìm hiểuphương ngữ chính là góp phần tìm hiểu sự phong phú, đa dạng của bức tranhtiếng Việt
1.2 Vốn từ toàn dân là lớp từ có số lượng lớn nhất, được sử dụng phổbiến, rộng rãi nhất trong số các lớp từ vựng của vốn từ tiếng Việt Bên cạnh
đó, các lớp từ như từ địa phương, từ nghề nghiệp còn ít được chú ý sưu tầm
và nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về phương ngữ còn rất ít, đặc biệtmảng nghiên cứu từ nghề nghiệp hiện nay còn rất thưa thớt Do đó, việc tìmhiểu vốn từ chỉ nghề nghiệp là công việc hữu ích trong việc tìm hiểu vốn từtiếng Việt
1.3 Văn hoá truyền thống là vốn quý mà mỗi dân tộc đều cố gắng lưugiữ và phát triển Trước xu thế công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã có nhiềunghề thủ công truyền thống mất đi Cùng với sự mất đi của ngành nghề thủcông, lớp từ nghề nghiệp cũng có nguy cơ biến mất Hiện nay chúng ta đang
ra sức bảo tồn gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, trong đó việc lưugiữ và phục hồi các ngành nghề truyền thống là một công việc vừa có ý nghĩađối với kinh tế xã hội vừa có ý nghĩa về ngôn ngữ - văn hoá Nghề biển (nghềđánh cá, làm nước mắm và làm muối) là một trong những nghề truyền thốngcủa cư dân Hậu Lộc, khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân địa phương đểphần nào thu thập được vốn từ của một nghành nghề thủ công truyền thống
Trang 8mang đậm nét đặc trưng của cư dân vùng sông nước Mặt khác, còn góp phầnbảo tồn, phát huy sự đa dạng của văn hoá dân tôc, thấy được nét đậm đà bảnsắc văn hoá dân tộc qua tên gọi và cách gọi tên Như vậy, ngôn ngữ nóichung, từ nghề nghiệp nói riêng là nơi lưu giữ những dấu ấn văn hoá của cộngđồng Nên việc nghiên cứu vốn từ nghề biển cư dân huyện Hậu Lộc là gópphần làm rõ bản sắc văn hoá của địa phương.
Các tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm từ nghề nghiệp trong cácgiáo trình như:
Đỗ Hữu Châu (1989), Từ vựng ngữ tiếng Việt, Nxb KHXH, HN; Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH và THCN, HN; Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb KHXH, HN; Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học và
trung học chuyên nghiệp, HN
Một số các tác giả đi vào nghiên cứu đặc điểm từ nghề nghiệp và vốn
từ nghề nghiệp đối với các nghành cụ thể như sau:
Trần Thị Ngọc Lang (1982), Nhóm từ liên quan đến sông nước trong
phương ngữ Nam Bộ - phụ trương Ngôn ngữ, số 2, HN; Phạm Hùng Việt
(1989), Về từ ngữ nghề gốm, Viện Ngôn ngữ học, HN; Nguyễn Nhã Bản,
Trang 9Hoàng Trọng Canh (1996), Văn hoá người Nghệ qua vốn từ chỉ nghề cá, Tạp chí Đông Nam Á, số 1; Lương Vĩnh An (1998), Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉng
Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh; Võ Chí
Quế (2000), Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ Thanh Hóa, Ngữ học trẻ, Nxb Nghệ An; Nguyễn Viết Nhị (2002), Vốn từ vựng chỉ nghề
trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh;
Phan Thị Mai Hoa (2002), Thế giới thực tại trong con mắt người Nghệ Tĩnh
qua tên gọi một số nhóm từ cụ thể, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh;
Nguyễn Thị Quỳnh Trang 92004), Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phương
ngữ Nghệ Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Nguyễn Thị Như Quỳnh
(2004), Đặc điểm lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh; Trần Thị Phương Thảo (2005), Vốn từ
chỉ nghề nước mắm Vạn Phần, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Trần Thị
Ngọc Hoa (2005), Vốn từ chỉ nghề mộc ở làng Yên Thái, Đức Thọ, Hà Tĩnh,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh
Ngoài ra, còn có một số bài viết của PGS - TS Hoàng Trọng Canh, như:
Phương thức định danh một số nhóm từ chỉ nghề cá và nghề trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Hội thảo, Ngữ học trẻ, 2004; Thực tế nghề cá được
“phân cắt”, “chọn lựa” qua tên gọi và cách gọi trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, 2004 v.v
Các bài viết đã đi vào khảo sát tên gọi, nghiên cứu sự phản ánh thựctại của các từ, chỉ ra nét độc đáo của lớp từ nghề nghiệp trên từng địaphương cụ thể
Một số công trình nghiên cứu và bài viết về từ chỉ nghề cá trongphương ngữ, tuy nhiên chỉ mới khảo sát ở một số phương diện nào đó màchưa đi khảo sát nghiên cứu đặc điểm vốn từ của địa phương Hậu Lộc.Nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phương ngữ Thanh Hóa và trong tiếng Hậu
Trang 10Lộc còn rất ít ỏi Do đó, “Khảo sát từ chỉ nghề biển ở Hậu Lộc - Thanh
Hóa” là vấn đề có tính chất mới mẻ và độc lập.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng điều tra nghiên cứu của đề tài là từ ngữ nghề biển bao gồm
từ ngữ nghề cá, làm muối và làm nước mắm của cư dân biển huyện Hậu Lộc Thanh Hóa
-+ Phạm vi tư liệu điều tra và nghiên cứu là từ ngữ chỉ nghề biển của cưdân các xã Hưng Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc
Ngoài ra, để so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên và tên gọi của từđịa phương chỉ nghề nghiệp, chúng tôi còn điều tra điền dã, thu thập từ ngữmột số nơi khác như Nga Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia.Và một số tài liệu của
các tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh (1996), Văn hoá người
Nghệ qua vốn từ chỉ nghề cá, Tạp chí Đông Nam Á, số 1; Lương Vĩnh An
(1998), Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉng Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Và cuốn “Từ điển tiếng Việt” Hoàng Phê (chủ
biên) để so sánh đối chiếu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Vấn đề mà đề tài nói tới đó là chỉ ra được vốn từ chỉ nghề đánh cá,nghề làm nước mắm, nghề làm muối ở Hậu Lộc - Thanh Hóa và nêu ra nhữngđặc điểm riêng của lớp từ này về mặt nguồn gốc, cấu tạo, định danh cũng nhưphương diện phản ánh
Cụ thể luận văn hướng tới thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Thu thập vốn từ nghề biển của cư dân Hậu Lộc - Thanh Hóa
+ Phân tích, miêu tả chỉ ra đặc điểm từ nghề biển về phương diện phảnánh cấu tạo, định danh
+ Chỉ ra những sắc thái văn hóa địa phương thể hiện qua cách địnhdanh của từ nghề biển
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính chất phổbiến, do tính chất và nhiệm vụ của đề tài này, nên chúng tôi sử dụng kết hợpmột số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
+ Phương pháp điều tra, điền dã
Chúng tôi tiến hành trực tiếp điều tra điền dã ở một số địa phượng cónghề đánh cá, nghề làm nước mắm và nghề làm muối lâu đời ở huyện HậuLộc và chọn đối tượng là những gia đình có truyền thống làm nghề, nhữngngười cao tuổi có kinh nghiệm trong nghề Tiếp cận những cơ sở sản xuất cácsản phẩm về cá, nước mắm, làm muối nổi tiếng để tìm hiểu về tên gọi công
cụ, sản phẩm, cách thức, quy trình làm nghề
+ Phương pháp thống kê, phân loại
Qua thực tế điều tra, ghi chép, chúng tôi tiến hành thống kê, tập hợpvốn từ chỉ nghề nghiệp và phân loại chúng theo các tiêu chí khác nhau
+ Phương pháp so sánh đối chiếu
Đối chiếu từ nghề nghiệp địa phương và từ toàn dân, so sánh từ nghềnghiệp giữa vùng này với vùng khác
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi thực hiện phương pháp phân loại, so sánh đối chiếu, chúng tôithực hiện việc phân tích về hình thức cấu tạo, định danh của từ
6 Những đóng góp của đề tài
Địa phương Hậu Lộc - Thanh Hóa là một vùng đất truyền thống lịch
sử, đồng thời còn lưu giữ được nghề nghiệp truyền thống từ lâu đời với vốn từnghề nghiệp cổ xưa Với khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đã thu thập vốn từ,miêu tả đặc điểm của chúng trên các phương diện chủ yếu (cấu tạo, nguồngốc, ngữ nghĩa, định danh); đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu từ nghề nghiệpcủa cư dân Hậu Lộc, nên kết qủa của luận văn sẽ có đóng góp mới cả về ngônngữ và văn hoá
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được triển khaithành ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tàiChương 2 Đặc điểm vốn từ nghề biển của cư dân huyện Hậu LộcChương 3 Đặc điểm định danh và sắc thái văn hóa địa phương thể
hiện qua tên gọi của từ nghề biển Hậu Lộc
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Ngôn ngữ dân tộc và phương ngữ
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, chế độ, hình thái xã hội cóthể thay đổi nhưng ngôn ngữ vẫn vận động theo quy luật riêng của nó Cùngvới sự vận động và phát triển của đời sống xã hội, ngôn ngữ cũng chuyển biến
Do vị trí địa lí và những điều kiện lịch sử đặc biệt, Việt Nam là mộtnước có bờ biển dài từ Bắc tới Nam Bên cạnh sự phát triển của văn hoá núi,văn hoá đồng bằng thì văn hoá biển cũng song song tồn tại và phát triển Đấtnước chúng ta có 54 dân tộc anh em, với 54 tiếng nói khác nhau Tuy ngônngữ mỗi dân tộc là khác nhau nhưng các ngôn ngữ này cùng lấy tiếng Việtlàm ngôn ngữ quốc gia thống nhất
Trải qua bao sự thăng trầm của lịch sử, ngôn ngữ tồn tại, vận động vàphát triển cho tới ngày nay Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ của quốc gia, làcông cụ giao tiếp chính, phổ biến của toàn thể dân tộc Việt Nam Tiếng Việtđược hội tụ các đặc điểm chung thống nhất của những phương ngữ khác nhau.Cho nên, người Việt dù sống ở vùng phương ngữ nào trên đất nước thì khigiao tiếp bằng tiếng Việt cũng vẫn hiểu nhau Do đó, mối quan hệ giữa ngôn
Trang 14ngữ văn hoá với phương ngữ là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữacái trừu tượng và cái cụ thể Sự khác biệt giữa phương ngữ Thanh Hóa so vớingôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác thể hiện trên bình diện ngữ âm, từvựng, ngữ nghĩa và ngữ pháp, trong đó sự khác biệt giữa ngữ âm - từ vựng là
rõ nhất
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, của xã hội, làphương tiện giao tiếp giữa người với người trong xã hội và xã hội không tồntại nếu thiếu ngôn ngữ Ngôn ngữ hình thành từ thế kỉ này sang thế kỉ khác,được tích luỹ, tàng trữ hàng ngàn năm chính là điều kiện cho xã hội pháttriển Con đường hình thành ngôn ngữ dân tộc gắn với sự phát triển của dântộc Đối với dân tộc Việt thì việc hình thành ngôn ngữ dân tộc gắn với sự pháttriển của dân tộc Đối với dân tộc Việt thì việc hình thành và thống nhất ngônngữ gắn liền với sự hình thành và thống nhất dân tộc Do đó, ngôn ngữ củangười Việt thể hiện sự thống nhất ở chỗ dù ở thế kỉ nào, dù người miền xuôihay miền ngược, dù Nam hay Bắc nếu là người Việt Nam thì ngôn ngữ đó làngôn ngữ Việt Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ dân tộc là sản phẩm của mộtthời đại lịch sử nhất định, thời đại hình thành thống nhất dân tộc Nhưngkhông phải khi ngôn ngữ dân tộc được hình thành và thống nhất thì khôngcòn phương ngữ Tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng Tuy nhiên, donhững điều kiện kinh tế, địa lí, văn hoá xã hội khác nhau và do sự phát triểnbiến đổi liên tục không đều của ngôn ngữ, cho nên, ngoài cái mã chung ngônngữ còn tồn tại những cái riêng Bên cạnh cái chung thì cái riêng ấy thể hiện ởphương ngữ mà đặc biệt là ở thổ ngữ
Ngôn ngữ địa phương hay phương ngữ được tạo ra do sự phát triểnbiến đổi liên tục của ngôn ngữ, cho nên nó tồn tại trong lòng ngôn ngữ dântộc Chính sự đa dạng của phương ngữ mà ta xem đó như là những bức tranhmuôn màu, muôn vẻ để tạo nên một bức tranh chung của ngôn ngữ dân tộc đamàu sắc
Trang 15Xét về bình diện dân cư, ta thấy rằng nếu không có sự phân bố táchbiệt nhau về mặt địa lí dân cư thì không có phương ngữ Chính sự ngăn cách
về không gian địa lí cư dân giữa các vùng đã tạo ra sự giao tiếp trở nên khókhăn, không thường xuyên, liên tục, vì vậy đã tạo ra những thói quen sửdụng ngôn ngữ không giống nhau Việc sử dụng ngôn ngữ khác nhau chính
là do quy luật phát triển, biến đổi của ngôn ngữ, điều đó đã tạo nên phươngngữ Ngoài cái mã chung của ngôn ngữ mà ta gọi là ngôn ngữ toàn dân thì
do sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ đã tạo nên những khác biệt giữacác vùng dân cư Nơi thì sử dụng dạng mới của ngôn ngữ, nơi lại duy trìcách dùng cũ, đồng thời ta lại thấy ở mỗi vùng như vậy có những giọng nóikhác nhau, cách gọi tên khác nhau Chính vì vậy mà tạo nên sự khác nhau,
sự đa dạng giữa các vùng ngôn ngữ Nói cách khác, nếu ngôn ngữ là một tậphợp những thói quen, tập quán nói năng, thì sự tác động từ bên trong cấutrúc hệ thồng ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ liên tục biến đổi, và sự biến đổi
đó được thể hiện ra ở mặt hành chức, ở hoạt động giao tiếp Điều đó đã thayđổi thói quen ngôn ngữ, tạo ra sự khác biệt giữa các vùng, giữa các tầng lớptrong xã hội
Như vậy, phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ dân tộc trên một vùngđịa lí dân cư hay tầng lớp xã hội nào đó Nhưng cũng phải nói thêm rằng,những biến thể hay những khác biệt ấy lại được người địa phương đó quendùng Cho nên, tập hợp những từ ngữ có sự khác biệt ít nhiều so với ngôn ngữtoàn dân về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp được người địa phương quendùng thì gọi là phương ngữ
Khi nói đến tính thống nhất và đa dạng của ngôn ngữ toàn dân (ở đây làtiếng Việt) cũng có nghĩa chúng ta thừa nhận sự tồn tại của phương ngữ tronglòng ngôn ngữ dân tộc Do quy luật phát triển không đều trên các vùng lãnhthổ, do những điều kiện địa lí, văn hoá - xã hội khác nhau, do những biến đổi
Trang 16liên tục của ngôn ngữ cho nên phương ngữ vẫn nằm trong lòng ngôn ngữ dântộc Nếu không có sự phân bố tách biệt về mặt địa lí dân cư thì sẽ không cóphương ngữ, bởi sự ngăn cách về không gian địa lí làm cho giao tiếp giữa cácvùng diễn ra khó khăn, không thường xuyên, không liên tục, vì thế đã tạo ranhững thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau.
Nguyên nhân sâu xa tạo nên phương ngữ chính là do quy luật pháttriển, biến đổi của ngôn ngữ Sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sựkhác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ các vùng địa lí dân cư Nơi thì sử dụngdạng thức mới của ngôn ngữ, nơi thì vẫn duy trì cách sử dụng cũ Dần dần đãtạo nên độ chênh trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng, vì thế mà tạonên sự khác nhau ít nhiều về ngôn ngữ giữa các vùng
Như vậy, phương ngữ là một biến thể của ngôn ngữ dân tộc trên mộtvùng địa lí dân cư hay tầng lớp xã hội nào đấy Những biến thể, hay nhữngkhác biệt ấy lại được người ở địa phương đó quen dùng Bởi vậy, tập hợpnhững từ ngữ có ít nhiều khác biệt với ngôn ngữ toàn dân trên các phươngdiện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) lại được người địa phương đó quen dùngthì đó là phương ngữ
Có thể nói, ngôn ngữ văn hoá (ngôn ngữ chung) và các biến thể địaphương vừa có tính thống nhất vừa có sự khác biệt, trong đó tính thống nhấtđóng vai trò chủ đạo, là cơ sở tạo nên tính thống nhất của ngôn ngữ quốc gia
Vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ là mối quan hệgiữa cái chung và cái riêng, giữa cái bất biến thể và cái biến thể, giữa cái trừutượng và cái cụ thể.Trên bình diện khu vực dân cư, tiếng Việt có nhiều vùngphương ngữ khác nhau và phương ngữ Thanh Hóa là phương ngữ còn tồn tại
và bảo lưu những yếu tố cổ của người Việt Trong một vùng phương ngữ, cáctầng lớp người có thể làm các nghành nghề khác nhau điều đó cũng tạo nênnhững sự khác nhau ít nhiều về ngữ âm, từ vựng, sự khác biệt đó người ta gọi
Trang 17là thổ ngữ Cho nên, ngôn ngữ nghề nghiệp tuy nằm trong một phương ngữ,mang tính phương ngữ nhưng cũng có nét riêng nhất định Sự khác biệt vềngữ âm, ngữ nghĩa giữa các vốn từ của các thổ ngữ, các phương ngữ xã hộitrong phương ngữ Thanh Hóa, so với các phương ngữ khác và so với vốn từtoàn dân là khá rõ nét
Phương ngữ là kết quả của sự tác động bên trong và bên ngoài ngônngữ, nhưng trước hết chủ yếu là từ nguyên nhân bên trong Từ cấu trúc ngônngữ, mặt biến đổi của nó được thể hiện trên từng phương ngữ về ngữ âm, từvựng, ngữ pháp Tuy nhiên, sự sự biến đổi của phương ngữ là không đồngđều trên từng bình diện ngôn ngữ cũng như trên khắp các vùng miền dân cư
Vì thế mà tạo nên đặc trưng riêng của từng phương ngữ và làm nên tính đadạng của ngôn ngữ trong sự thể hiện.Việc tìm hiểu, nghiên cứu phương ngữThanh Hóa nói chung, từ nghề biển trong phương ngữ nói riêng có thể đónggóp phần cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử và vốn từ tiếng Việt
1.2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phương ngữ
1.2.1 Từ và vốn từ
1.2.1.1 Từ là gì?
Đây là một khái niệm tưởng như dễ dàng trả lời, nhưng để có một câutrả lời thoả mãn cho mọi người thì thật không dễ Theo từ điển của Giáo sưHoàng Phê thì ông đã định nghĩa như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa ổn định và có cấu tạo hoàn chỉnh dùng để đặt câu” [32]
Thế nhưng lại có rất nhiều định nghĩa khác về từ Vậy từ là gì? Tại saolại có nhiều định nghĩa về từ như vậy? Từ là một đơn vị tồn tại hiển nhiên, cósẵn của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên có sẵn của từ mà ngôn ngữ của loàingười bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Tính chất hiển nhiên cơbản của các từ là vật liệu mà thiếu nó không thể nào hình dung ra được mộtngôn ngữ Chính các từ đã biến đổi và kết hợp ở trong câu theo quy luật ngữ
Trang 18pháp của ngôn ngữ F de Saussure đã viết: “ Từ là một đơn vị luôn luôn ámảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngônngữ [37, tr.111].
Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về định hình,
về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khácnhau cũng như trong một ngôn ngữ: Có từ mang chức năng định danh và có
từ thì không (số từ, thán từ, phụ từ), có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ dấuhiệu của những cảm xúc nào đó như (thán từ), có từ liên hệ với những sựvật, hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ), có từ lại biểu thị những quan hệtrong ngôn ngữ mà thôi (hư từ), có từ có kết cấu nội bộ, có từ chỉ tồn tạitrong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, nhưng có từ chỉ tồn tại trong mộtdạng thức mà thôi
Chính vì vậy, việc định nghĩa từ thường thiếu đi sự thống nhất Hiệnnay, có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Có những định nghĩa thiên vềmặt ngữ âm như định nghĩa của K.Bukher: “Các từ là những kí hiệu âm thanhcủa một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường” Cóđịnh nghĩa lại thiên về mặt ngữ nghĩa, như định nghĩa của E.Sapir: “Từ là mộtđoạn nhỏ nhất có nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân nó có thể làm thànhmột đơn vị tối giản ”
Có một số định nghĩa sau này lại khá chung chung không cụ thể như:
“Từ là bất kỳ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ, từ là một ý nghĩa khác với ýnghĩa của những âm cũng là từ khác” (F.Ffortunatov)
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về từnhư: “Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang ýnghĩa từ vựng ngữ pháp” [47]
“Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý
nghĩa” (Nguyễn Thiện Giáp, 1995, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo
dục, HN, tr.61)
Trang 19Nhìn chung, các định nghĩa trên đây và còn nhiều các định nghĩa khácnữa về từ không làm mọi người thoả mãn Để có sự nhất quán trong quá trìnhlàm luận văn, chúng tôi thống nhất lấy định nghĩa của Đỗ Hữu Châu: “Từ củatiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mang những đặc điểmngữ pháp nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu ” [10].
Đây là định nghĩa được nhiều người chấp nhận Sở dĩ chúng ta lấy địnhnghĩa này bởi vì nó đã hàm chứa được hai vấn đề cơ bản đó là:
- Vấn đề khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ)
- Vấn đề tính hoàn chỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, cónội dung)
Tính hoàn chỉnh và tính tách biệt về ý nghĩa của từ là bắt buộc đối vớimỗi từ, là cơ sở của tính hoàn chỉnh và tính tách biệt về mặt hình thức, như:Những đặc trưng về ngữ âm, những đặc trưng về ngữ pháp Trong tiếng Vệt,đơn vị ngôn ngữ độc lập hoàn chỉnh về ngữ âm và ngữ nghĩa được vận dụnglinh hoạt tự do trong lời nói đó chính là từ và toàn bộ từ và ngữ cố định tậphợp lại thành vốn từ vựng tiếng Việt Do vậy, từ là đơn vị hết sức quan trọng,giống như viên gạch để xây dựng nên toà lâu đài ngôn ngữ
1.2.1.2.Vốn từ tiếng Việt
Khi nói đến ngôn ngữ dân tộc hay một phương ngữ nào đó thì khôngthể không nói đến một bình diện quan trọng đó là “vốn từ” Vốn từ của mộtngôn ngữ là một khối thống nhất của toàn bộ từ và ngữ cố định được tổ chứctheo quy luật nhất định, nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
Nguyễn Văn Tu (1978), trong Từ và vốn từ tiếng Việt, (Nxb Đại học và
trung học chuyên nghiệp, HN), cho rằng: Vốn từ làm thành hệ thống tập hợpnhững yếu tố khác nhau, phân biệt lẫn nhau thành một tổ chức hệ thống, vốn từđược xác định bằng những yếu tố được liệt kê theo một trật tự nào đó hoặc bởiđặc điểm nào đó của những yếu tố Chẳng hạn: Trong tiếng Việt, hệ thống
Trang 20những từ chỉ loại có số lượng hạn chế nhất định, còn hệ thống từ ghép lại vôhạn, vì chúng được cấu tạo theo những kiểu đã có sẵn song song với nhữngkiểu cụm từ tự do Hàng chục vạn đơn vị từ vựng làm thành vốn từ của tiếngViệt, chúng có những tiêu chí riêng biệt làm cho từ này khác với từ kia, từ nàytồn tại được nhờ sự đối lập, tồn tại của từ kia và ngược lại Người ta có thể dựavào những nét khác biệt của từ về mặt hình thức (vỏ ngữ âm), hay về mặt nộidung (ý nghĩa) của từ cùng loại khác nhau hay là biến thể của bản thân nó
Vốn từ tiếng Việt được các nhà ngôn ngữ học chia ra thành các lớp từkhác nhau dựa vào sự đối lập đó Tiếng Việt của chúng ta có một vốn từ vănhoá (vốn từ toàn dân) phong phú thống nhất, đồng thời lại có các từ khác nhaunhư từ địa phương, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học và tiếng lóng Đó làcác lớp từ được phân chia theo tiêu chí phạm vi sử dụng Lớp từ của ngôn ngữvăn hoá là lớp từ được sử dụng rộng rãi, phổ thông, còn các lớp từ khác cóphạm vi sử dụng hẹp hơn (các lớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng) Tuy nhiên,các lớp từ này lại có khả năng tạo nên những nét đặc thù của một địa phương,hay một nghề nghiệp Điều này sẽ được phân tích trong nội dung của đề tài
Có một vấn đề chúng ta đều thấy và cần nhấn mạnh, đó là tất cả các lớp từ sửdụng hạn chế về phạm vi trong tiếng Việt (có thể là lãnh thổ, có thể là trongmột cộng đồng người cùng chung một nghề nghiệp hoặc một nhóm ngườitrong xã hội) đã tạo nên bức tranh đa dạng trong sự thống nhất của tiếng Việt
Tính thống nhất đó trước hết được biểu hiện trong thực tế giao tiếp củangười Việt Tức là khi vận dụng tiếng Việt, người Việt Nam dù ở miền Bắchay Miền Nam, hễ nói tiếng Việt là có thể hiểu nhau dễ dàng, mặc dù khi nóingười nói có thể phát âm theo giọng của mỗi miền khác nhau Từ địa phương,thậm chí là thổ ngữ dù có phong phú đa dạng và mang đậm chất địa phươngđến đâu, nhất là khi nói viết đều tự giác tuân thủ các quy tắc ngữ pháp, quytác chính tả thống nhất Tính thống nhất của tiếng Việt còn được biểu hiện
Trang 21ngay trong cơ chế nội tại của nó Về mặt này, chúng ta thấy rằng vốn từ ngữ
cơ bản giữa ba vùng phương ngữ Bắc, Trung, Nam đã được các nhà ngôn ngữhọc Việt Nam so sánh và đưa ra kết luận: có khoảng hơn 90% từ ngữ là đồngnhất và ngay cả những từ (tiếng) không giống cả ba vùng phương ngữ thì khi
dùng, người của cả ba vùng này đều có thể hiểu được Chẳng hạn: Hoa/bông;
lợn/heo; quả /trái; cá tràu/cá quả; trái dứa/trái thơm Sở dĩ mọi người có
thể hiểu được là vì những từ của tiếng địa phương nằm trong sự đối lập về âm
và nghĩa với lớp từ của ngôn ngữ văn hoá (ngôn ngữ toàn dân)
Sự phong phú và đa dạng trong sự thống nhất của từ tiếng Việt là yếu
tố làm cho vốn từ tiếng Việt phát triển, ngày càng hoàn thiện đầy đủ Nếutiếng Việt không có tính thống nhất cao, không có tính toàn dân thì mọi ngườisống trên mọi miền đất nước sẽ không sử dụng được cộng cụ này để thực hiệngiao tiếp một cách có hiệu quả nhất Lớp từ của ngôn ngữ văn hoá là lớp từ cơbản, lớp từ chủ yếu tạo nên kho từ vựng tiếng Việt Lớp từ này có phạm vi sửdụng rộng rãi toàn quốc cho mọi tầng lớp nhân dân, từ nhà khoa học cho đếnnhững người nông dân, công nhân Cho nên lớp từ này gọi là lớp từ toàn dânhay lớp từ phổ thông Lớp từ vựng của ngôn ngữ văn hoá không chối bỏ sự cómặt, sự đồng thời tồn tại của các lớp từ khác và phạm vi sử dụng của nó hạnchế hơn lớp từ ngôn ngữ văn hoá Ngược lại, các lớp từ hạn chế về mặt phạm
vi, mức độ sử dụng này lại là nguồn bổ sung cho lớp từ toàn dân ngày mộtđầy đủ và ngày càng hoàn thiện, góp phần vào việc phát triển tiếng nói củangười Việt Nam
1.2.2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phương ngữ
Từ toàn dân (lớp từ vựng văn hoá) là những từ toàn dân hiểu và sửdụng, đó là vốn từ chung cho tất cả những người nói ngôn ngữ nào đó, thuộccác địa phương khác nhau Đây chính là lớp từ vựng chung nền tảng của mộtngôn ngữ Do vậy, khi nói đến ngôn ngữ dân tộc, hay nói đến một phương
Trang 22ngữ nào đó không thể không nói đến một bình diện vô cùng quan trọng củangôn ngữ, đó là “vốn từ” Việc nghiên cứu từ nói riêng và vốn từ nói chunggặp nhiều khó khăn, bởi từ trong phương ngữ có nhiều quan hệ đan xen chồngchéo và những từ ấy có thể nằm trong vốn từ toàn dân, lại có thể nằm trongvốn từ phương ngữ Vì vậy, có những từ và nhóm từ ta có thể xếp chúng vào
nhóm này và có thể xếp chúng vào nhóm kia Ví dụ: Cá bò, cá căng (các từ
chỉ các loại cá này vừa dùng trong phương ngữ nhưng cũng vừa được thu nạpvào từ điển phổ thông nên trong ngôn ngữ toàn dân nó có thể được dùng)
Chúng ta biết rằng, nghĩa của mỗi từ là cụ thể, nhưng trong từng ngữcảnh cụ thể lại khác nhau ít nhiều (nó có thể biến đổi, thêm bớt các sắc tháinghĩa) Do vậy, khi nghiên cứu nghĩa của từ, ngữ nghĩa của vốn từ ta sẽ thấyrất phức tạp Và nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phương ngữ nói chung thìngười ta phải tiến hành đối chiếu từ trong vốn từ toàn dân và cả trong vốn từphương ngữ, vì vậy lại càng phức tạp Do nhiều nguyên nhân mà ta thấy sựtương ứng về nghĩa của từ trong phương ngữ nói chung và từ chỉ nghề nóiriêng với từ trong ngôn ngữ toàn dân theo từng cặp ít có sự sóng đôi trọn vẹn,mức độ đồng nhất và đối lập là khá phức tạp Vì vậy, việc xem xét và nghiêncứu vốn từ chỉ nghề cá, làm nước mắm, làm muối của một phương ngữ là việc
vô cùng khó khăn, bởi từ nghề nghiệp trong phương ngữ không chỉ là biến thểcủa ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể, mà còn có thể là biến thể của
từ trong phương ngữ đó
Sự biến đổi của ngôn ngữ có tính lịch sử và các biến thể của ngôn ngữchồng lớp lên theo thời gian Như chúng ta đã nói, từ nghề nghiệp nói riêng,phương ngữ nói chung, ngoài cái mã chung cơ bản mang tính thống nhất vớingôn ngữ toàn dân còn có nét khác biệt và chính những nét khác biệt khôngtrùng khớp ấy đã giúp chúng ta tìm hiểu tốt hơn mối quan hệ giữa từ nghềnghiệp với vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương Khi đối sánh ngôn ngữ toàndân với phương ngữ, trong đó có lớp từ nghề nghiệp, ta thấy sự khác biệt đầu
Trang 23tiên chính là ngữ âm, sự khác biệt thứ hai chính là ngữ nghĩa Vốn từ củaphương ngữ trong đó có vốn từ chỉ nghề với vốn từ của ngôn ngữ toàn dânkhác biệt nhau chính là do sự phát triển của lịch sử ngữ âm, từ vựng, ngữnghĩa nói riêng, ngôn ngữ nói chung của tiếng Việt.
Trong phương ngữ có lớp từ chỉ nghề khác nhau và rất đa dạng vớinhững mức độ phương diện khác nhau, có thể đó là sự khác nhau hoàn toàn(không có quan hệ về âm và nghĩa) vì chúng có nguồn gốc, sự vay mượn tiếpxúc và giao thoa ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau Và sự khác nhau này có thểchỉ là ở dung lượng rộng hay hẹp, số lượng nhiều hay ít
Về việc nghiên cứu, để chỉ ra mối quan hệ toàn dân với vốn từphương ngữ trong đó có lớp từ chỉ nghề giúp chúng ta hiểu được phần nào
sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ Chính những đặc điểm giống nhau vàkhác nhau giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ, điều đó đã thể hiện bảnsắc văn hóa của cư dân vùng phương ngữ Vốn từ vựng phương ngữ nóichung, từ chỉ nghề nói riêng góp phần vun đắp, xây dựng ngôn ngữ văn hoángày một phát triển
1.3 Vốn từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dân
1.3.1 Từ chỉ nghề và khái niệm từ nghề nghiệp
Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sửdụng nhằm biểu thị những tên gọi, sự vật, hiện tượng, công cụ, sản phẩm, quátrình hoạt động, sản xuất trong phạm vi của những người cùng làm nghề nào
đó trong xã hội
Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm nhữngđơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ cho các hoạt động sản xuất và hànhnghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và ngành laođộng trí óc (ngành thuốc, ngành văn thơ )” [10, tr.234] Từ nghề nghiệp chỉsinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của nghề Trong quá trình hoạt
Trang 24động, từ nghề nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất củanghề quy định Nói cách khác, từ nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa trong môitrường của nó So với từ địa phương, tiếng lóng, thuật ngữ khoa học thì từnghề nghiệp cũng có những đặc điểm riêng Tuy nhiên, từ nghề nghiệp kháctiếng lóng ở chỗ: Từ nghề nghiệp là tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tếnhưng không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân (nó không song songtồn tại với từ của ngôn ngữ toàn dân) Cũng chính vì vậy mà từ nghề nghiệp
dễ dàng trở thành vốn từ toàn dân khi khái niệm riêng của nghề nào đó đã trở
thành phổ biến rộng rãi trong xã hội Ví dụ: Cưa, đục, xẻ, bào (nghề mộc);
quăng chài, thả lưới (nghề cá); ướp chượp, chượp (nghề làm nước mắm); văng cát, nạo muối (nghề làm muối).
Như vậy, từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuấtcủa nghề Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp được tạo ra và sử dụngphụ thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề quy định Nói cáchkhác, từ nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa trong môi trường của nó
Nguyễn Văn Tu, trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại”cũng đã so sánh “Những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyêndùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghềnghiệp còn khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có sắc thái vuiđùa [47, tr.126]
Khi so sánh từ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học thì Nguyễn Văn
Tu đã nhấn mạnh phương thức truyền miệng của từ nghề nghiệp và cũngchính phương thức truyền miệng này làm từ nghề nghiệp mang tính khẩungữ rõ nét Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến tính chất gợi hình, tính gợicảm của từ nghề nghiệp Mặt khác, từ nghề nghiệp sản sinh là do yêu cầucủa nghề và nó sẽ mất đi khi nghề đó không còn tồn tại Đó chính là tính lâmthời của từ nghề nghiệp
Trang 25Ta biết rằng, khi một nghề nào đó ra đời thì cần phải có từ ngữ để đặttên cho những công cụ, quy trình, sản phẩm trong nghề, vốn từ đó nguời talấy ngay trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương để lâm thời gọi tên chocác đối tượng trong nghề (đó là xét trên bình diện ngôn ngữ học) Do vậy, ýnghĩa của từ nghề nghiệp chỉ tồn tại trong bối cảnh của nghề nghiệp mà thôi.
Vì từ nghề nghiệp không có vốn từ ngôn ngữ riêng Từ nghề nghiệp chỉ ra đờikhi có một nghề nghiệp mới ra đời, do nghề thủ công tồn tại và phát triểntrong một phạm vi hẹp nên tính xã hội của từ nghề nghiệp bị hạn chế, nó gầnnhư biệt lập trong phạm vi hoạt động của nghề
Chúng ta biết rằng, từ nghề nghiệp được lấy trong vốn từ toàn dân vàvốn từ địa phương, nên tiếng địa phương thể hiện rất rõ trên hình thức ngữ
âm của từ, sau đó là ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa Như vậy, “từ nghềnghiệp là các từ ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộccùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” (Hoàng
Trọng Canh (2004), Thực tế nghề cá được “phân cắt”, “chọn lựa” qua tên
gọi và cách gọi tên trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, Tạp chí Khoa học, Trường
Đại học Vinh)
Ở trên chúng tôi đã trình bày hiểu biết chung về vốn từ Vốn từ là toàn
bộ những từ ngữ cố định của một ngôn ngữ, được tổ chức theo những quan hệnhất định, nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
Vậy có thể suy ra, vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ ngữ củanhững người làm một nghề nào đấy trong xã hội, phục vụ cho hoạt động sảnxuất hành nghề của nghề nào đó Nói như vậy, chúng ta sẽ hiểu rằng vốn từnghề nghiệp có phạm vi sử dụng hẹp và thường được dùng trong khẩu ngữcủa người cùng nghề, nó cũng được sử dụng trong vốn từ chung của ngôn ngữdân tộc khi cần và khi phạm vi sử dụng của nó được mở rộng
Như vậy, trong vốn từ của một nghề có những từ vừa được dùng trongnghề lại vừa được dùng trong ngôn ngữ toàn dân Nhưng có những từ lại chỉ
Trang 26dùng riêng trong cư dân làm nghề đó mà thôi Từ đó, cũng có thể nói, vốn từcủa một nghề nào đó, như vốn từ nghề nông, vốn từ nghề đánh cá có sựphân biệt ít nhiều với từ nghề nghiệp Khi nói vốn từ nghề nào đó là nói đếntoàn bộ từ ngữ mà nghề đó dùng để chỉ công cụ, hoạt động, sản phẩm củanghề Tập hợp các từ ngữ như vậy là sự tập hợp các từ theo trường nghĩa.Trong vốn từ của một nghề, có một bộ phận chủ yếu là từ nghề nghiệp Trongvốn từ của một nghề, trừ lớp từ cũng được dùng chung trong ngôn ngữ toàndân, những từ còn lại có thể xem là từ nghề nghiệp.
Tóm lại, từ nghề nghiệp có quan hệ với từ toàn dân, là nơi cung cấp,làm giàu vốn từ toàn dân
1.3.2 Vốn từ chỉ nghề và vốn từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dân
Từ toàn dân thuộc lớp từ vựng tích cực, là những từ toàn dân biết,hiểu và sử dụng Từ nghề nghiệp khác từ toàn dân ở chỗ: Phạm vi sử dụng bịhạn chế về mặt xã hội, chỉ những người nội bộ ngành nghề mới hiểu rõ và sửdụng được
Qua hệ từ nghề ngiệp với từ toàn dân là mối quan hệ giao thoa, đanxen trong quy luật phát triển của ngôn ngữ Trong một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh, theo một nhát cắt thời gian nào đó từ nghề nghiệp không có từ đồngnghĩa trong ngôn ngữ toàn dân, nó là tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế
Chúng ta biết rằng, từ toàn dân là lớp từ cơ bản nhất, quan trọng nhấtcủa mỗi ngôn ngữ, từ vựng toàn dân là cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ dântộc, là bộ phận nòng cốt của từ vựng học Từ vựng toàn dân biểu thị những sựvật, hiện tượng, những khái niệm quan trọng và cần thiết trong cuộc sống,đồng thời vốn từ toàn dân là những từ trung hoà về mặt phong cách Bên cạnh
đó, từ nghề nghiệp lại có phạm vi sử dụng hẹp hơn mà chỉ người trong nghềmới hiểu
Trang 27Ví dụ: Khi nói đến từ “cào bả”, “đúc trạt” (chạt), “đổ ô” không phải
ai cũng hiểu được nghĩa của từ nếu người đó không sống trong làng nghề làm
muối Cào bả là dồn cát ở mặt ruộng lại thành đống; Đúc trạt (chạt) có thể
hiểu đây là một hoạt động lấy cát đã ngấm nước biển đổ lên cái hố hình chữ
nhật; Đổ ô là đổ nước mặn vào các ô, nước mặn sau quá trình được lọc, người
ta dùng bầu đổ nước lên các ô để phơi nắng (lượng nước mỗi ô dựa vào nhiệt
độ trong ngày để điểu chỉnh lượng nước vừa phải) sẽ tạo ra muối
Như chúng ta đã biết, từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩa trongngôn ngữ toàn dân, nhưng có một bộ phận từ nghề nghiệp có thể dễ dàng trởthành ngôn ngữ toàn dân Đó là khi những công cụ sản xuất, những khái niệmriêng của nghề đã trở nên phổ biến rộng rãi Trong xã hội Việt Nam có nhữngnghề đặc biệt, có tính chất hạn chế về phạm vi hoạt động, thì từ nghề nghiệpthuộc các nghề này có phạm vi hoạt động rất hạn chế Ví dụ: Nghề làm giấy,nghề làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề làm muối Lớp từ nghề nghiệp củanhững nghề này chỉ có những người trong nghề mới hiểu
Bên cạnh đó, đối với những nghề có tính chất lâu đời, mức độ phổ biếnrộng rãi như nghề trồng lúa, nghề cá thì một bộ phận lớn từ nghề nghiệp đã trởthành ngôn ngữ toàn dân Sở dĩ, nhiều từ chỉ nghề trồng lúa đã trở thành quenthuộc với mọi người và trở thành lớp từ toàn dân là vì Việt Nam được xem cónền văn minh lúa nước bởi tỷ lệ cư dân trồng lúa chiếm số đông, địa bàn cư dânlàm nghề lại phân bố rộng rãi từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược
Do vậy, có một số lớp từ đã trở thành từ toàn dân như: Bừa, cày, cuốc, mạ, lúa,
gặt Những từ này không hề xa lạ với những người làm nghề khác trong xã
hội, chúng được dùng một cách tự nhiên Đây là một biểu hiện nói lên mốiquan hệ khăng khít giữa vốn từ toàn dân và vốn từ nghề nghiệp Nhưng khôngphải từ nào trong lớp từ nghề nghiệp cũng có tính chất phổ biến rộng rãi nhưvậy, vì nghề nào cũng có lớp từ nghề nghiệp riêng nhưng mức độ phổ biến của
Trang 28nó lại không giống nhau, tuỳ thuộc vào mức độ phạm vi của từng nghề nên cónhững từ ngữ chỉ riêng nghề mới hiểu và dùng, có từ nghề nghiệp được hiểutrong vùng phương ngữ, có từ dùng chung trong toàn dân tộc.
Ví dụ: Trong nghề đánh cá, ngoài những từ khá quen thuộc với mọi
người như: Thuyền, thúng, lưới mang tính chất toàn dân thì có những từ rất
xa lạ với mọi người như: rẻo, sẻo, te reo,te lội, vọi có những từ mang tính chất phương ngữ cả vùng như: Giả, gõ, vây
Đất nước Việt Nam trả dài từ địa đầu Móng Cái đến đất mũi Cà Mau
và hình thành nên nền văn minh lúa nước do ba nền văn hoá hội lại (văn hoánúi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển) Mỗi nền văn hoá có những đặc điểmriêng và người của cư dân vùng biển cũng như nghề trồng lúa có tính chất ổnđịnh Vì vậy, mà hình thành nên những nét văn hoá riêng biệt của cư dân chàilưới Từ nghề nghiệp trong mối quan hệ đó thường gắn với đặc điểm địaphương, gắn với những biến thể ngôn ngữ, phương ngữ nơi cư dân làng nghề
cư trú, tổ chức sản xuất
Từ nghề nghiệp còn có những đặc điểm riêng gắn với từng vùng thổngữ Bởi vì, mỗi vùng dân cư, mỗi làng nghề do đặc điểm canh tác, đặc điểmkhí hậu môi trường, phong tục tập quán không giống nhau nên ngôn ngữ phảnánh nghề nghiệp cũng có thể khác nhau trong một ngôn ngữ Đó chính là cơ
sở làm nên tính đa dạng của từ nghề nghiệp
Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từ phương ngữ diễn ra tựnhiên trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, khi đối sánh ta thấy từ nghềnghiệp không trùng khít hoàn toàn với ngôn ngữ và bản thân từ nghề nghiệpcũng không tách khỏi vùng phương ngữ nơi sinh sống của cư dân làng nghề.Quan hệ giữa từ ngữ trong phương ngữ là quan hệ tác động qua lại đan xenphức tạp Có những từ nghề nghiệp trùng khít với phương ngữ, nhưng cónhững từ lại chịu ảnh hưởng thói quen dùng ngôn ngữ của cư dân sống trên
Trang 29vùng phương ngữ đó nên có thể có những từ riêng, như để chỉ phương tiện,công cụ đánh bắt hay công cụ làm nước mắm, làm muối của làng nghề đó.Ngoài việc dùng chung một số từ ngữ toàn dân, họ còn sử dụng những từ vừa
là từ nghề nghiệp nhưng lại mạng đặc điểm của phương ngữ về âm và nghĩa
Ví dụ: từ ngữ khác nhau được tạo ra do thói quen khác nhau giữa các
vùng nhưng đều cùng gọi một đối tượng: Làng chài, làng vạn, dân vạn, kẻ
vạn Lại có những từ nghề nghiệp mà phạm vi sử dụng của nó rất hẹp, chỉ
người trong nghề mới hiểu, thậm chí chỉ có một vùng, một làng nào đó mới
có Ví dụ: Chặn ô, nước cái, dận trạt, khoả trạt (nghề làm muối); xã mắm,
nước cốt, (nghề làm nước mắm).
Trước khi đi vào khảo sát lớp từ chỉ nghề của cư dân vùng biển, cụ thể
là nghề đánh cá, làm nước mắm và làm muối, chúng tôi sẽ khái quát về vốn từvựng chỉ nghề của cư dân nơi đây, để thấy được mối quan hệ từ vựng chỉnghề trong phương ngữ Thanh Hóa về đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa, cáchthức định danh, gọi tên các từ này
Việc nghiên cứu ngôn ngữ, dù dưới góc độ nào cũng phải liên quanđến từ Tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng, sự đa dạng đó thể hiện trêncác phương ngữ Việc tìm hiểu từ chỉ nghề cá trong ngôn ngữ văn hoá sẽ giúpchúng ta hiểu được những nét nào đó về đặc trưng tâm lí, bản sắc văn hoángười Việt Nam làm nghề biển nói chung và người Việt làm nghề này sốngtrên vùng phương ngữ đó nói riêng
1.4 Nghề biển và vốn từ nghề biển của cư dân Hậu Lộc - Thanh Hóa
1.4.1 Vài nét về nghề biển ở Hậu Lộc
Hậu Lộc là một trong sáu huyện thị của đồng bằng ven biển phía đôngbắc của xứ Thanh Diện tích xếp thứ 19 trong tổng số 27 huyện thị ThanhHóa, nhưng có cảnh quan đa dạng, đó là nơi hội tụ đầy đủ những dạng địahình tương phản dồn nén trên một diện tích không lớn: có đồi núi, đồng bằng,
Trang 30sông biển và hải đảo Ở vào vị trí cửa ngõ trên con đường thông thương BắcNam (đường bộ và đường thuỷ), Hậu Lộc là địa bàn có tầm quan trọng đặcbiệt về an ninh quốc phòng đối với cả nước
Nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thanh Hóa, Hậu Lộc là huyện đồng bằngven biển Lấy nông nghiệp và ngư nghiệp làm nền tảng phát triển kinh tế xãhội Đất ít, người đông với 142,6 km vuông đất tự nhiên trong đó có 12 ha đấttrồng lúa nước, cây công nghiệp ở vùng đồi Nhưng lại có tới 16 vạn dân Dođịa hình tự nhiên, do nhu cầu sinh tồn của cộng đồng dân cư ở đây mà HậuLộc hình thành 3 vùng kinh tế là: vùng đồi, vùng đồng mầu và vùng biển
Hậu Lộc thuộc vùng biển xứ Thanh Nằm ở vị trí bãi ngang Hậu Lộc cóphần biển thuộc vùng biển Lạch Trường bao gồm 5 cửa sông (sông LạchTrường, Lạch Sung - Thanh Hóa, sông Lạch Càn, sông Đáy, sông Linh Cơ -
Hà Nam Ninh) châu tuần bồi thải hằng năm một lượng phù sa tương đối lớn rabiển mang theo nguồn thức ăn dồi dào cho tôm cá Chính vì vậy mà ngư trường
ở đây tương đối nhiều tôm cá các loại như: cá thu, cá nụ, cá chim, cá nhám, cá
dưa, cá khoai, tôm bột, tôm sắt, tôm he, tôm hùm Con moi cũng là đặc sản
quý của Hậu Lộc thường dùng để làm mắm Ngoài ra, mực, cua, ghẹ, ốc, sò,
ngao, phi, hầu cũng là đặc sản có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao
Hằng năm, Hậu Lộc có thể khai thác một trữ lượng lớn hải sản, chiếm
vị trí số một của nghề đánh bắt hải sản ở Thanh Hóa, là đơn vị đứng đầu tỉnh
về chế biến tôm xuất khẩu
Không những vậy, Hậu Lộc do nằm ở phía đông kênh Đe phải hứngchịu nhiều trận bão lớn nhất cũng như thiệt hại nặng nhất trong tỉnh
Về phương diện kinh tế, giá trị sản phẩm kinh tế biển chỉ chiếm 30 40% giá trị sản phẩm xã hội toàn huyện, nhưng dân số có tới gần 50% tổngnhân khẩu toàn huyện (có 65.288 nhân khẩu) Xưa kia vùng biển có 14 làng là:Yên Giáo, Yên Nhân, Yên Thành, làng Vích, Phú Nhi, Phú Lương, Yên
Trang 31-Phương, Kiến Long, Mĩ Khúc, Hanh Cù, Hanh Cát, Hoa Điều, Diêm Phố, cưtrú dọc theo chiều dài 12km bờ biển Đến nay đã phát triển thành 56 làng, phân
bố thành 6 xã: Ngư Lộc, Hưng Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc và Hoà Lộc
Mặc dù biển Hậu Lộc là một ngư trường rộng lớn, hằng năm có thểkhai thác hàng ngàn tấn hải sản Song để lấy được con cá từ biển lên khôngphải dễ dàng Biển ở đây thuộc diện sình lầy có nhiều cồn bãi ngầm lởmchởm và vụng xoáy nguy hiểm đối với người dân đi biển như: Gầm Bò, GầmNgay, Gầm Sụp, hoặc các cồn: Nắng Vụng, Nắng Đuôi Cồn Đối với dân đibiển thì tên các ngầm và tên cồn trên biển cần phải thuộc lòng như đường chỉtrên lòng bàn tay của mình Đó là cách có thể hạn chế được những rủi ro tốtnhất trên mênh mông sóng gió của biển cả
Cồn bãi ngầm tuy có cản trở lớn đối với nghề đi biển, đặc biệt là đi
lưới Tuy nhiên nó lại có tác dụng đối với một số nghề khác như câu cá mực,
cá dưa, cá nhám và nạo ngao
Trước sức ép của biển, để sinh tồn người dân Hậu Lộc đã phải vươn rachinh phục biển cả, lấy biển cả nuôi sống con người Do vậy nghề biển dầndần trở thành nghề chính của ngư dân ở đây
Ở vào khu vực năm cửa sông châu tuần bồi thải hằng năm một lượngphù sa lớn và phù du sinh vật, tạo nên một ngư trường lớn cho các loài tôm cásinh sống Mặt khác vùng biển Hậu Lộc thuộc diện biển nông, nên yếu tốnhiệt độ trong nước ít diễn biến phức tạp giữa tầng đáy và tầng nước mặt,giữa vùng khơi và trong lộng Theo mùa vụ, độ mặn trong nước biển cũng có
sự thay đổi đã tác động không nhỏ tới sự thích nghi của các đàn cá xuất hiện.Bên cạnh đó việc thuận lợi về thời tiết nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình
230C, thuỷ triều và hải lưu không ảnh hưởng mấy đến mùa vụ, đã tạo chonghề khơi ở Hậu Lộc phát triển mạnh Không những vậy cách bờ biển DiêmPhố về phía Đông 5km là Hòn Nẹ (dài 900m, rộng 4km) là nơi cư trú an toàn
Trang 32cho ngư dân và phương tiện đánh bắt, tạo điều kiện cho công việc đánh bắthải sản các mùa Vài năm trở lại đây, nhờ có trang thiết bị tàu thuyền hiện đại,
ngư dân đã vượt ra khỏi phạm vi “khơi và lộng” tiến ra ngoài lãnh hải của
nước ta tiếp cận với đại dương để đánh bắt hải sản Hằng năm Hậu Lộc đãkhai thác với số lượng tôm cá lớn, chiếm vị trí số một của nghề đánh cá biển
ở Thanh Hóa
Gọi là vùng biển nhưng chỉ riêng làng Diêm Phố (xã Ngư Lộc) làthuần nghề đánh bắt hải sản, còn 5 xã khác cũng làm nghề đánh bắt và nuôitrồng hải sản và làm muối, nhưng cũng có một bộ phận cư dân làm ruộng,trồng lúa, trồng mầu Việc làm ruộng ở đây nhằm tạo ra nguồn dự trữ quantrọng cho ngư nghiệp, là chỗ dựa vững chắc khi thời tiết biến động, gió bão
bất kì Câu ca xưa “Biển nghề, quê ruộng” là vậy
Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, nghề đánh cá không chỉdành riêng cho những người làm nghề cá (ngư nghiệp) mà cả người làm nghềkhác cũng tham gia vào việc đánh cá (như nông nghiệp, lâm nghiệp ) Cũngtheo xu hướng của thời đại, xã hội ngày càng phát triển thì mọi hoạt động của
xã hội cũng thay đổi Trong hoạt động đánh bắt cá cũng vậy, phương tiệncông cụ thay đổi theo thời gian, từ đánh bắt bằng tay đến các công cụ thô sơ,thì nay có thể đánh bắt bằng các công cụ rất hiện đại, từ đánh bắt được nhữngcon cá nhỏ gần bờ đến những loại cá to đánh bắt xa bờ Và từ từ đánh bắtngắn ngày nay có thể dài ngày Sản phẩm thu được là hàng trăm loài hải sảnvới nhiều tên gọi và nhiều cách chế biến thành các món ăn khác nhau
Trong các cách chế biến từ sản phẩm được bắt lên từ biển thì ta phảinhắc tới quy trình làm nước mắm, một sản phẩm được làm từ tôm tép, cábiển Đã từ lâu, các gia đình Việt Nam đã quen dùng hương vị nước mắm đểchế biến thức ăn, hay làm nước mắm để chế biến thức ăn trong gia đình Vìvậy, chén nước mắm ngày càng đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trongbữa cơm thân mật, ấm cúng của gia đình
Trang 33Cũng giống như nghề đánh cá, người làm nghề nước mắm cũng dầnsáng tạo ra cho mình những công cụ muối mắm hiện đại hơn và quy trình làm
ra nước mắm cũng nhanh hơn Nghề chế biến và sản xuất nước mắm gắn liềnvới nghề đánh bắt cá biển, nghề đánh bắt cá biển cung cấp nguyên liệu chonghề sản xuất, chế biến nước mắm, còn nghề làm nước mắm lại cung cấp bữa
ăn hàng ngày thêm một gia vị thơm ngon
Cũng giống như hai nghề trên, nghề làm muối đã có từ bao đời nay vàmuối là nguyên liệu không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của mỗi con người.Chúng ta chế biến thức ăn rất cần đến muối Muối có vai trò quan trọng giốngnhư con người không thể thiếu nước vậy
Nghề làm muối đã có từ rất lâu, không ai còn nhớ đến nguồn gốc,trước đây người ta gọi là nấu muối, đó là một nghề rất thô sơ, đơn giản chỉgồm hai bước lóng nước mặn và nấu muối, thế nhưng do cuộc sống ngàycàng hiện đại nên người ta đã từng bước cải tiến dần các công cụ và quytrình làm muối sao cho có năng xuất nhiều hơn Và từ công cụ thô sơ đó,người ta đã tiến lên bước hiện đại hơn, đó là từ hoạt động nấu muối đến sửdụng ánh nắng mặt trời để làm ra muối Đó chính là bước chuyển đáng kểcủa người dân làm muối
Ba ngành nghề có tên gọi chung là vốn từ chỉ nghề biển, chúng ta thấygiữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau và vốn từ của ba nghề trở thànhvốn từ chung - nghề biển Tuy vậy, mỗi nghề có lớp từ riêng, chính sự đadạng ấy nên đi tìm kiếm một cách đầy đủ các từ có liên quan là rất khó nếukhông nói là không thể Đó là chưa nói tới việc có nhiều tên gọi khác nhau ởcùng một đối tượng
Ví dụ: Cùng là một con tôm tít có xã gọi là con hợi; nhưng có nơi lại gọi là con chải Có thể do cách định danh khác nhau nên một sự vật lại có
các tên gọi khác nhau, đây cũng là điều lí thú khi đi tìm hiểu vấn đề này
Trang 34Như vậy, do đặc điểm xưa kia vừa có đất canh tác vừa có biển nên ngưdân Hậu Lộc làm cả nghề nông lẫn nghề đánh bắt hải sản Nhưng tác độngcủa thiên nhiên, gió bão, sóng biển, đất cát ven bờ bị sạt lở, làm cho địa bànHậu Lộc bị thu hẹp không còn điều kiện canh tác, họ đã lấy khai thác biển,đánh bắt hải sản làm nghề chính.
Với sự ưu đãi của tự nhiên, các cửa biển ở Hậu Lộc đã tạo nên môitrường sinh sống của nhiều loại tôm cá, khiến cho những hoạt động mưu sinhđánh bắt hải sản của ngư dân càng trở nên thuận lợi Do đó, Hậu Lộc trởthành địa phương làm nghề đánh bắt hải sản tập trung và lớn nhất của tỉnhThanh Hóa
1.4.2 Vấn đề khảo sát từ nghề biển ở Hậu Lộc
Hậu Lộc là một vùng đất hội tụ đủ ba yếu tố: rừng núi, đồng bằng vàbiển Ba yếu tố này hoà hợp lẫn nhau, bổ sung cho nhau, tạo điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, trong đó biển là một trong những thếmạnh quan trọng Với hơn 12 km bờ biển và một ngư trường đánh bắt rộnglớn thì biển là một tiềm năng tự nhiên to lớn cho sự phát triển của mảnh đấtnày Hàng năm ngư dân khai thác được hàng trăm tấn tôm cá và các loại hảisản khác Cư dân làm nghề biển tập trung đông nhất ở các xã ven biển, vencửa sông Tư liệu trong luận văn này là do chúng tôi đã tiến hành khảo sát ở 5huyện, những nơi có truyến thống và nổi tiếng về nghề cá ở Thanh Hóa Đó làcác huyện: Nga Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc Ngoài rachúng tôi còn điền dã tìm hiểu từ ngữ chỉ nghề cá của cư dân đánh cá nướcngọt ở các làng nghề
Nghề cá, một nghề đánh bắt thuỷ, hải sản bao gồm cá, tôm, cua, nghêu,
sò, ốc, hến phát triển khá sớm ở Thanh Hóa Cũng như nhiều địa phươngkhác trong cả nước, nghề đánh bắt tôm cá không chỉ dành riêng cho nhữngngười làm nghề cá mà cả những người làm nghề khác như làm nông nghiệp,lâm nghiệp cũng tham gia vào việc đánh bắt Cách đánh bắt cá tôm cũng vô
Trang 35cùng phong phú và đa dạng Từ đánh bắt bằng các phương tiện máy móc hiệnđại đến đánh bắt bằng phương pháp thủ công nhất, sơ khai nhất: đánh bắtbằng tay, người ta có thể tát cạn nước trong ao, trong vũng, dùng tay bắt cátrong các hang hốc của ghềnh đá; cũng có thể đánh bắt ở cá ở đại dương rộnglớn Có thể đánh bắt các loại nhỏ li ti, như con tép, con moi, song cũng có thểđánh bắt cả những con ngừ, con mập nặng hàng tạ Địa bàn đánh bắt củangười làm nghề hết sức rộng lớn, ở đâu có nước thì ở đó có cá: Cá sông, cá
hồ, cá biển, cá khe, cá suối Hàng trăm loại cá tôm với hàng trăm tên gọi,hàng trăm cách chế biến, hàng trăm món ăn khác nhau Nên việc tìm kiếmmột cách đầy đủ các từ có liên quan là việc vô cùng khó khăn, nếu khôngmuốn nói là không thể Đó là chưa kể đến việc dù ở trong cùng một phươngngữ nhưng một đối tượng lại có rất nhiều tên gọi khác nhau Ví dụ: Cùng là
cái lưới đánh cá, có vùng gọi là lưới rênh, có vùng gọi là lưới khoai nhưng có vùng lại gọi là lưới hà
Điều đó chứng tỏ, việc tìm kiếm và khảo sát tất cả những từ liên quanđến nghề cá là điều không dễ; chúng tôi chỉ cố gắng tìm kiếm và khảo sátnhững từ mang tính thông dụng thuộc tiếng Hậu Lộc
Phương pháp chủ yếu của chúng tôi là “tai nghe, mắt thấy”, tuy vậy, cónhiều đối tượng lại được tiếp cận từ gián tiếp qua sự miêu tả của nhân dân nênrất khó để xác định dộ chính xác Vì vậy, đây chỉ là những kết quả bước đầu,cần phải có thời gian và sự hỗ trợ nhiều hơn nữa hi vọng mới tập hợp, miêu tả
từ chỉ nghề cá ở Hậu Lộc chính xác và đầy đủ
Có thể nói, nghề cá, nghề làm muối và nghề làm nước mắm, ba nghềnày có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời, gắn bó với nhau, tuy ba mà một.Tuy nhiên, mỗi nghề có một đặc điểm khác nhau về công cụ, quá trình hoạtđộng và sản phẩm được tạo ra Tiến hành khảo sát vốn từ chỉ nghề biển của
cư dân biển huyện Hậu Lộc, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé của
Trang 36mình vào việc gìn giữ những giá trị mà cha ông để lại, nơi mảnh đất màkhông mấy được thiên nhiên ưu đãi này.
Sau đây là kết quả khảo sát bước đầu về vốn từ vựng chỉ nghề biểntrong tiếng Hậu Lộc
Tổng từ điều tra thống kê được là 658 từ (bao gồm nghề cá, nghề làmmuối và nghề làm nước mắm)
Có thể nói, số lượng những từ chỉ nghề qua khảo sát, thống kê đượcchưa nhiều như trên thực tế, tuy nhiên, số lượng từ mà chúng tôi điều tra được
đã phản ánh khá đầy đủ các loại hải sản có giá trị kinh tế, phục vụ đời sốnghàng ngày cũng như xuất khẩu thu ngoại tệ
Việc tìm hiểu, nghiên cứu vốn từ vựng chỉ nghề cá trong phương ngữgiúp chúng ta hiểu thêm về vốn ngôn ngữ toàn dân, đồng thời hiểu thêm vềđặc trưng tâm lí, bản sắc văn hoá của người Việt Những từ chỉ nghề cá trongngôn ngữ không chỉ là những kí hiệu ngôn ngữ, cấu trúc ngôn ngữ đơn thuầnnữa mà khi các đơn vị từ vựng ấy trở thành một thành tố trong ngôn ngữ đểbiểu hiện văn hoá thì nó là nơi lưu giữ những yếu tố đặc trưng nhất của vănhoá dân tộc Từ việc nhìn khái quát chung về vốn từ vựng chỉ nghề biển trongphương ngữ, chúng ta có cơ sở để định hướng nghiên cứu về vốn từ vựng chỉnghề cá, thấy được mối quan hệ giữa vốn từ vựng chỉ nghề biển trong phươngngữ với vốn từ chỉ nghề biển trong ngôn ngữ toàn dân, về cấu tạo ngữ nghĩa,
về cách thức định danh, tên gọi của lớp từ này
1.5 Tiểu kết chương 1
Tuy còn hết sức sơ lược nhưng chúng tôi đã trình bày những vấn đề cơbản của hai lớp từ: lớp từ vựng toàn dân và lớp từ hạn chế về phạm vi sửdụng Giữa các lớp từ này có những điểm tương đồng, đồng thời lại có nhiềuđiểm dị biệt
Trang 37Trước hết, tất cả các lớp từ nói trên đều thuộc vốn từ tiếng Việt Chúngchịu sự chi phối của các quy luật về ngữ âm, quy tắc cấu tạo từ, quy tắc ngữpháp của tiếng Việt Các lớp từ đó tạo cho vốn từ vựng tiếng Việt sự phongphú đa dạng, làm cho vốn từ tiếng Việt ngày một giàu thêm.
Tuy nhiên, giữa lớp từ toàn dân và lớp từ phương ngữ lại đồng thời cónhững nét, những đặc điểm khác nhau Sự khác nhau giữa chúng là bởi phạm
vi sử dụng, chức năng sử dụng của từng lớp từ Từ vựng ngôn ngữ văn hoá
là lớp từ toàn dân cho nên nó được sử dụng một cách rộng rãi cho mọi người,mọi thành viên trong cộng đồng người Việt sống trên lãnh thổ Việt Nam Cáclớp từ hạn chế chỉ được sử dụng ở một địa phương, một nhóm người hay mộtcộng đồng người cùng làm một nghề nhất định
Như vậy, từ toàn dân là lớp từ cơ bản để hình thành lớp từ chuẩn - lớp
từ văn hoá của tiếng Việt Nó là hạt nhân để tạo nên lớp từ văn học - nghệthuật, đồng thời nó cũng là cơ sở để cấu tạo từ mới, sáng tạo từ mới cho tiếngViệt Hầu hết các lớp từ trong lớp từ của ngôn ngữ toàn dân là những từ cóđặc tính trung hoà về mặt phong cách khác nhau Các lớp từ hạn chế về phạm
vi sử dụng như: từ địa phương, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học, từ tiếnglóng không thể làm nòng cốt cho từ vựng văn học Nó chỉ bổ sung, làm phongphú thêm vốn từ của ngôn ngữ toàn dân Về mặt chức năng, các lớp từ hạnchế về phạm vi sử dụng được sử dụng vào các chức năng, lĩnh vức khác nhaucủa đời sống xã hội
Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp là ba bộ phận, ba cấp độ cấu thành tiếngViệt, trong đó từ vựng đóng vai trò quan trọng Tiếng Việt hiện đại có mộtvốn từ vô cùng phong phú, đa dạng, có khả năng biểu đạt, diễn tả đầy đủ,chính xác các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, cũng như diễn đạtđược những tư tưởng, tình cảm, tư duy của người Việt Nam Bên cạnh vốn từvăn hoá được sử dụng một cách rộng rãi cho toàn dân, chúng ta lại có các lớp
Trang 38từ hạn chế về phạm vi sử dụng nhưng lại hết sức phong phú, đa dạng, biểuhiện hết sức khác nhau ở từng vùng, từng địa phương, từng nhóm người Điều
đó nói lên tính biện chứng của tiếng Việt: trước hết là tính bất biến, là cáichung cho mọi người trong cộng đồng Việt Nam, sau nữa là mặt khả biến - độ
xê dịch của từng yếu tố, từng cấu trúc Chính điều này đã tạo nên sự phongphú cho từng vùng, từng địa phương, từng nhóm người tuỳ theo trình độ vănhoá, phong tục, tập quán, thói quen sử dụng của họ Đây chính là tính xã hộicủa ngôn ngữ tiếng Việt
Tính chuẩn mực, phổ cập của vốn từ vựng văn hoá làm hạt nhân cho
sự thống nhất ngày càng cao của hệ thống từ vựng tiếng Việt Tính đa dạngphong phú của các lớp từ khác luôn là nguồn để bổ sung cho kho từ vựng ViệtNam ngày càng phong phú Từ nghề nghiệp là một trong các vốn từ bổ sungthường xuyên liên tục vào sự phát triển của vốn từ vựng của ngôn ngữ dântộc, góp phần làm cho từ tiếng Việt ngày càng giàu đẹp, ngày càng tinh tế,chính xác, xứng đáng là công cụ tư duy, là phương tiện giao tiếp của ngườiViệt Nam hiện đại
Trang 39Số còn lại thuộc các mảng hiện thực khác
Dưới đây là kết quả khảo sát bước đầu về vốn từ vựng nghề biển của cưdân vùng biển huyện Hậu Lộc:
- Về đánh bắt cá:
Tổng số từ ngữ mà chúng tôi điều tra, thống kê được là 491 đơn vị,trong đó:
+ Từ chỉ dụng cụ, phương tiện là 153 từ (chiếm 25,8%).
+ Từ chỉ quy trình, hoạt động đánh bắt là 31 từ (chiếm 5,24%).
Trang 40+ Từ chỉ quy trình hoạt động, sản xuất là 16 từ (chiếm 26,7%).
Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ các loại từ chỉ công cụ, phương tiện, từ
chỉ quy trình hoạt động sản xuất, từ chỉ sản phẩm tính theo từng nghề và giữa các nghề biển của cư dân Hậu Lộc
Tên nghề Tổng
số từ
Từ chỉ công
cụ, phươngtiện
(Tỉ lệ %)
Từ chỉ quytrình hoạtđộng, sản xuất
(Tỉ lệ %)
Từ chỉ sản phẩm
Làm muối 60 27
(45%)
16(26,7%)
16(14,95%)
Qua kết quả khảo sát, thống kê có thể thấy vốn từ vựng về nghề làmmuối và nghề làm nước mắm là không nhiều: Từ của nghề làm nước mắm là
107 từ (chiếm 16,26%); Từ của nghề làm muối là 60 từ (chiếm 9,11%); Từ của nghề cá là 591 từ (chiếm 74,62%) trên tổng số từ của ba nghề Như vậy,
qua đó ta thấy, vốn từ vựng của nghề cá nhiều hơn so với nghề làm muối vànước mắm Chính vốn từ vựng này là công cụ giao tiếp thường xuyên của cư